Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 13456 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #15 vào: 19/04/2017, 13:03:14 »
Trọng Thủy – Mỵ Châu và bài học cảnh giác xâm lược

“Tôi kể người nghe chuyện Mỵ Châu”, xin mượn câu thơ nổi tiếng này của nhà thơ Tố Hữu để bắt đầu một câu chuyện mang đẫm màu sắc huyền thoại của lịch sử Việt Nam trong buổi đầu dựng nước: Chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu. Cũng như tất cả các dân tộc trên thế giới, lịch sử Việt Nam thường có những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại.

Chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu

ĐÓ CHÍNH LÀ một trong những phần tinh túy và thiêng liêng nhất, nó góp phần tạo nên một sợi dây vô hình buộc chặt tâm hồn con người vào đất nước quê hương mình. Thế nhưng, giá trị lớn nhất của lịch sử là “ôn cố tri tân”, tức để cho hậu thế xem xét mà rút ra những bài học kinh nghiệm cho cuộc sống. Trong chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu, gấp sách lại, xin đừng tự hỏi rằng có những chỗ đáng tin hay không đáng tin, mà điều quan trọng là nên tự hỏi rằng: Câu chuyện đó muốn kí thác điều gì cho hậu thế?
            Chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu gắn liền với lịch sử ngàn năm Bắc Thuộc của nước Việt Nam thuở trước, bởi sự kiện An Dương Vương mất nước đã bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc của lịch sử Việt Nam. Câu chuyện này được sách sử ghi lại như thế nào?

Đại Việt sử ký toàn thư thời Hậu Lê
            Đầu tiên đến với bộ Đại Việt sử ký toàn thư, là bộ quốc sử bằng chữ Hán viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời Kinh Dương Vương năm 2879 trước Công nguyên (TCN) đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê (1428-1879). Bộ sử này được khắc in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18, triều vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697, được xem là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều đời sử quan trong Sử quán triều Hậu Lê biên soạn.
            Về chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu, Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau:

            “Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành (Nay còn di tích ở huyện Đông Anh, Hà Nội), lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn – Côn Lôn: Tên dãy núi Trung Quốc ở miền Tân Cương-Tây Tạng, vì thành rất cao). Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.
            Bính Ngọ, năm thứ 3 (255 TCN), mùa xuân, tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ vào thành, cười mà nói rằng: “Đắp đến bao giờ cho xong!” Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả lời: “Cứ đợi giang sứ đến”. Rồi cáo từ đi ngay.
            Sáng hôm sau, vua ra cửa thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên sông từ phía đông đến, xưng là giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi về nguyên nhân thành sụp, rùa vàng đáp: “Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của tinh, phàm người qua lại, ngủ đêm ở đấy, đều phải chết vì bị quỷ làm hại. Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Nếu giết con gà trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành tự nhiên được bền vững”. Vua đem rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: “Ngài là quý nhân, xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa”. Vua cười nói: “Sống chết có mệnh, ma quỷ làm gì nổi?
            Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đến gọi mở cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin vua đuổi theo. Tới núi Thất Diệu thì tinh khí biến mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn. Thấy vua vẫn vui vẻ cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói: “Ngài làm sao được như thế, tất phải là thánh nhân!” Vua xin con gà trắng giết để tế. Gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ và xương người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khí mới mất hẳn.
            Từ đấy, đắp thành không quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua cảm tạ, hỏi rằng: “Đội ơn ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy gì mà chống giữ?” Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói: “Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo gì”. Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao Thông) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ”.

Các bộ sử sau Đại Việt sử ký toàn thư
            Đại Việt Sử ký toàn thư đã ghi lại câu chuyện như vậy, và các thế hệ sử gia đời sau cũng tiếp nối, ghi lại câu chuyện nhuốm màu thần thoại này một cách tương tự.
            Một bộ sử đồ sộ khác của Việt Nam ra đời hồi thế kỷ 19 là Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương mục do Quốc sử quán Triều Nguyễn (1802-1945) biên soạn chép rằng: “Tháng ba, Năm Bính Ngọ 255 TCN, Thục An Dương Vương năm thứ 3, đắp xong Loa thành. Vua Thục đắp thành ở Phong Khê, rộng đến nghìn trượng, xoáy tròn như hình trôn ốc, nên gọi là Loa thành, lại gọi là thành Tư Long”.
            Đi vào chi tiết, chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu được ghi lại trong bộ sử này không có gì khác biệt so với bộ Đại Việt Sử ký toàn thư ra đời cách đó hai thế kỷ. Thế nhưng, có một nét đáng chú ý là các sử gia triều Nguyễn, khi kể lại câu chuyện này, đã ghi rất rõ: Chép theo sử cũ, mà sử cũ cụ thể là sử nào thì họ không nói rõ. Điều đó muốn nói rằng, dù câu chuyện có nhiều chi tiết hư cấu, nhưng các sử gia này xin chép lại “theo sử cũ” để cho hậu thế được biết.
            Đến bộ Việt Sử Tiêu Án ra đời năm 1775 của Ngọ Phong Ngô Thì Sĩ, chuyên bàn luận về những câu chuyện lịch sử còn nhiều nghi vấn, thì câu chuyện xây thành Cổ Loa và nỏ thần được ghi lại giống y như chuyện của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nhưng cũng dẫn chuyện bằng ba chữ: “Sử cũ chép…”, và còn thể hiện quan điểm rõ ràng về những chi tiết không có thật: “Việc ma làm đổ thành, có thể tin được không? Phàm vật gì trái thường thì gọi là yêu, yêu khí thắng thì tất phải có nương tựa vào cái gì đó, nhưng mà nương tựa vào con gà và người con gái mà làm đổ được thành, thì không có lẽ nào”.
            Năm 1919, Lệ Thần Trần Trọng Kim làm quyển Việt Nam Sử Lược, dành một chương cho Nhà Thục của Thục Phán An Dương Vương, trong đó cũng ghi lại câu chuyện Thục Phán An Dương Vương xây thành Cổ Loa, rồi đến chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu, với nội dung cũng không có gì khác so với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Tuy nhiên, sử gia Trần Trọng Kim cũng ghi rõ: “Tục truyền rằng…”, đã cho thấy quá rõ ý của ông.

Còn nhiều chi tiết cần khảo cứu thêm
            Không chỉ chuyện xây dựng Loa Thành và chuyện Nỏ Thần mang nhiều chi tiết khó tin, mà đến một số chi tiết trong chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu cũng còn cần phải khảo cứu thêm. Chẳng hạn như chi tiết quan trọng nhất thể hiện sự chung thủy trong mối tình này là việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng chết để tạ tình của Mỵ Châu, cũng còn nhiều bàn cãi.
            Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trọng Thủy có người con trai là Triệu Hồ, sau này trở thành người nối ngôi Triệu Đà vào năm 137 TCN và qua đời năm 124 TCN ở tuổi 52. Căn cứ vào năm mất và số tuổi thọ được ghi, ta thấy Triệu Hồ sinh năm 175 TCN. Ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư về cuộc đời Trọng Thủy có chỗ không lô-gich: Một mặt Trọng Thủy được xác định chết khi diệt xong Âu Lạc vào năm 208 TCN, thế mà con trai ông lại sinh vào năm 175 TCN, tức sau khi ông mất đến 33 năm. Liệu ông có còn người con nào khác chăng? Theo khảo cứu của tác giả bài viết này, thì sách sử chỉ thấy nói đến người con trai mang tên là Triệu Hồ nói trên của Trọng Thủy.
            Sử ký của Tư Mã Thiên đời nhà Hán được viết từ năm 109 TCN đến 91 TCN cho biết, Nam Việt của Triệu Đà đánh bại Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương vào khoảng năm 179 TCN. Tuy vậy, nếu Trọng Thủy chết theo Mỵ Châu lúc này thì ông cũng không thể là cha của Triệu Hồ, vì khoảng cách từ khi ông qua đời tới khi Triệu Hồ ra đời là 4 năm. Còn nếu như giả thiết năm sinh của Triệu Hồ là 175 TCN là đúng, thì ta có thể xác định Trọng Thủy còn sống ít nhất tới năm 175 TCN chứ không tự sát vì Mỵ Châu vào năm 208 TCN.
            Mặt khác, qua kết quả khảo cổ mộ Triệu Văn Vương (cháu nội của Triệu Đà, là vua thứ hai của Nam Việt) được khai quật ở Quảng Châu thuộc Quảng Đông Trung Quốc, Triệu Hồ được xác định là người qua đời ở tuổi khoảng từ 35-40 tuổi, không phải là người ngoài 50 tuổi như ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư. Nếu Triệu Hồ mất năm 124 TCN và chỉ sống có 35-40 năm, thì Trọng Thủy còn sống ít nhất tới năm 164 TCN-159 TCN và mất trước năm 137 TCN (năm mất của Triệu Đà), chứ không phải mất vào cái năm đánh bại Âu Lạc 208 TCN, tức cũng không thể nhảy xuống giếng tạ tình Mỵ Châu cho được.
            Một chi tiết khác đáng chú ý nữa là, Khâm định Việt sử thông giám cương mục nhà Nguyễn chỉ nhắc tới việc Trọng Thủy lừa Mỵ Châu để phá nỏ thần, rồi theo dấu lông ngỗng mà truy sát cha con An Dương Vương, chứ không nói tới việc Trọng Thủy tự vẫn chết theo Mỵ Châu và cũng không nói tới tuổi thọ của Triệu Hồ.

Bài học mất nước thời dựng nước
            Đến đây ta có thể thấy rằng, dù có bỏ qua những chi tiết huyền thoại không thể chứng minh, thì chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu vẫn còn nhiều chi tiết chưa thống nhất. Vậy thì các sử gia đời trước đã trang trọng chép lại chuyện tình đầy nét huyền thoại này với mục đích là để cho hậu thế có thể “ôn cố tri tân”, ngẫm nghĩ việc xưa mà rút ra bài học cho cuộc sống hiện tại.
            Cũng cần nói thêm, hẳn không khỏi có những mối nghi ngại khi sử dụng tài liệu truyền thuyết. Thực ra, giới nghiên cứu đã nhiều lần có những phân tích đầy tính thuyết phục về giá trị sử liệu của truyền thuyết dân gian, đặc biệt đối với những giai đoạn lịch sử người Việt chưa có chữ viết như thời Hùng Vương – An Dương Vương. Như vậy, trong các truyền thuyết lịch sử, bao giờ bên trong vỏ bọc hoang đường thần thoại cũng chứa đựng cái cốt lõi chân thực của những sự kiện, những vấn đề lịch sử có thực.
            Vậy thì, khi bỏ qua những chi tiết phép màu, chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu chứa đựng những cốt lõi lịch sử nào? Ở đây, có hai sự thực lịch sử được phơi bày: Chuyện cái nỏ của người Âu Lạc và chuyện An Dương Vương mất nước.
            Bàn về “nỏ thần” của người Việt, có lẽ vì người Việt khi ấy sử dụng rất hiệu quả vũ khí tên là “nỏ”, bởi thế mà kẻ thù phương Bắc có phần khiếp sợ chăng?
            Về vấn đề này, sử gia Trần Thị Mai, Phó giáo sư, Tiến sỹ lịch sử Việt Nam, trưởng Phòng sau đại học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng:

            “Nỏ là vũ khí để săn bắn thú rừng làm nguồn thức ăn. Nỏ là vũ khí để tự vệ khi đi nương, đi rẫy, đi rừng. Nỏ là vũ khí để tự vệ chống xâm lăng. Trong cuộc kháng chiến chống lại đội quân xâm lược nhà Tần (214-208 TCN) và trong cuộc kháng chiến chống lại đội quân xâm lược của Triệu Đà (206-179 TCN), nỏ là ưu thế quân sự của người Việt. Để chống lại đội quân xâm lược của Triệu Đà, tướng sĩ Âu Lạc đã sử dụng nỏ liên châu, một loại nỏ đã được cải tiến có thể bắn được nhiều mũi tên cùng lúc. Nhờ đó, thành Cổ Loa đã được bảo vệ vững chắc trong hơn 20 năm trước sức tấn công của quân đội nhà Triệu. Kết quả khai quật khảo cổ học tại Cổ Loa bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam vào năm 1959 đã tìm thấy lẫy nỏ và hơn 10.000 mũi tên đồng, minh chứng cho kỹ thuật chế tác nỏ và khả năng sử dụng nỏ cùng mũi tên đồng của quân dân Âu Lạc thuở ấy”.

            Như vậy, câu chuyện cái nỏ là có thật, “nỏ thần” trong truyền thuyết Trọng Thủy – Mỵ Châu là để chỉ tài dùng nỏ “thần kỳ” của người Âu Lạc. Đó là một thế mạnh quân sự của người Âu Lạc làm khiếp sợ kẻ thù. Và bí quyết của sức mạnh quân sự đó đã bị kẻ thù nắm được, dẫn đến họa mất nước.
            Sử gia Trần Thị Mai tổng kết bài học lịch sử đắt giá này như sau:

            “Nỏ liên châu và mũi tên đồng là có thật. Trọng Thủy là nhân vật có thật, đã từng tham chiến cùng cha của ông là Triệu Đà trên chiến trường Âu Lạc. Tuy nhiên, câu chuyện Nỏ thần và chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thủy lại mang đậm chất hư cấu, huyền sử. Người xưa sáng tạo nên những câu chuyện này là muốn nhắc nhở chính mình và hậu thế không bao giờ được quên bài học cảnh giác, nhất là cảnh giác trước những âm mưu xảo quyệt của các thế lực ngoại xâm. Bài học về nàng Mỵ Châu “nỏ thần sơ ý trao tay giặc”, về vua An Dương Vương mất cảnh giác nhận giặc làm con rể để đến nỗi “cơ đồ đắm biển sâu” thời nào cũng còn nguyên giá trị của nó”.

            Đến đây ta có thể tóm lại rằng, câu chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu để lại cho hậu thế một bài học vô cùng quí giá, đó là “bài học cảnh giác trước kẻ thù xâm lược”. Và như sử gia Trần Thị Mai khẳng định, bài học này thời nào cũng còn nguyên giá trị của nó. Bởi thế, bao thế hệ sử gia Việt Nam đã trang trọng chép lại, để cho hậu thế nhìn vào mà “ôn cố tri tân”.
            Để thay lời kết, sau đây xin mượn bài thơ của thi sĩ Tố Hữu, những lời thơ mà mỗi người Việt Nam luôn phải xem là “câu kinh nhật niệm” để tự nhắc nhở mình: Đừng bao giờ chủ quan để mất cảnh giác trước kẻ thù xâm lược.


                      “Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu,
                        Trái tim lầm chỗ để trên đầu.
                        Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
                        Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 9/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120914-trong-thuy-my-chau-va-bai-hoc-canh-giac-truoc-ke-thu-xam-luoc

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #16 vào: 25/04/2017, 11:43:52 »
Ca khúc và giai thoại: 40 năm “Bài Thánh Ca Buồn”

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.

Nhạc sĩ Nguyễn Vũ

Đã 40 NĂM TRÔI QUA, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, vẫn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.
            Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp xử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.
            Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.
            Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.
            Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Saigon.
            Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích: “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.
            Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó, “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.
            Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe. “Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.
            Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.
            Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.


ĐỨC BÌNH
Tháng 12/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121222-bai-thanh-ca-buon-mot-dinh-menh-xuyen-nua-the-ky

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #17 vào: 27/04/2017, 10:06:42 »
Albert Camus: Đam mê viết báo và “4 phẩm chất của một nhà báo tự do”

Giả như Albert Camus vẫn còn sống, thì hôm 07 tháng Mười Một vừa qua, ông có lẽ đã tròn 100 tuổi. Từng đoạt giải Nobel Văn học năm 1957, thế mà sinh nhật năm nay của đại văn hào diễn ra trong bầu không khí tĩnh lặng, “không trống, không kèn” như nhiều nhà văn lớn khác của Pháp. Kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Albert Camus chỉ gói trọn trong một cuộc triển lãm nhỏ với chủ đề “Albert Camus, công dân thế giới” tại Aix-en-Provence, một thành phố thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône, miền nam nước Pháp. Triển lãm kéo dài từ ngày 05/10/2013 cho đến hết ngày 04/01/2014.

Albert Camus

THẾ NHƯNG, ít ai biết được rằng ngoài thiên phú văn chương và triết học, Albert Camus còn có một biệt tài khác đó là viết báo. Đối với giới chuyên môn, nghệ thuật viết báo của Camus có thể được xếp vào hàng thượng thặng. Trong suốt ba giai đoạn 1938-1939, 1944-1947 và 1955-1956, Albert Camus lần lượt trải nghiệm tài năng của mình tại nhiều tòa soạn với nhiều bài viết và bài xã luận nổi tiếng. Ngay từ những ngày đầu mới bước chân vào nghề, Albert Camus đã tự đặt ra cho mình những tiêu chí “tâm” và “đức” của một nhà báo tự do.
            Báo Le Monde số ra ngày 18/03/2012 đã cho đăng một bản tuyên ngôn do chính Albert Camus soạn thảo, ba tháng sau khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Lúc ấy, ông chỉ mới 26 tuổi. Camus viết rằng: “Mọi sự ràng buộc của thế giới sẽ không buộc được một người khiêm nhường chấp nhận làm một kẻ bất lương”. Nghĩa là, “không nên đồng lõa với sự dối trá”. Ông còn nói thêm rằng: “Một tờ báo tự do biết cân nhắc cả về những gì mình nói lẫn những gì mình không nói”.
            Bản tuyên ngôn này của Camus đáng lẽ ra phải được phát hành vào ngày 25 tháng Mười Một năm 1939 trên tờ Le Soir Républicain, một tờ tin tức hàng ngày chỉ có bán tại thành phố Alger, nước Algeri. Lúc ấy, Albert Camus vừa là tổng biên tập vừa là cộng tác viên duy nhất của Pascal Pia, chủ bút tờ nhật báo. Thế nhưng, bài viết này đã bị kiểm duyệt và không bao giờ xuất hiện. Mãi cho đến gần đây các phóng viên của nhật báo Le Monde lục tìm thấy được bản thảo này trong Kho lưu trữ hải ngoại tại Aix-en-Provence và cho công bố chính thức trong ấn bản ngày 18/03/2012.
            Thật ra việc Albert Camus đến với nghề báo cũng rất tình cờ. Trước khi đến với công việc này, Albert Camus dấn thân như là một nhà đấu tranh chống bất bình đẳng. Năm 1935, ông tham gia Đảng Cộng sản Algeri để đòi hỏi quyền bình đẳng giữa người Ả Rập và người châu Âu, trước khi chấp nhận bị khai trừ Đảng vào mùa thu năm 1936. Tên tuổi của ông cũng đã được biết như là một nhà văn và kịch tác gia. Trong quãng thời gian tham gia đảng cộng sản, Albert Camus thành lập nhà hát kịch Lao Động (Théâtre du Travail) và cho dựng vở Le Temps du Mépris (1935), do nhà văn André Malraux sáng tác. Năm 1936, Albert dựng vở kịch đầu tiên do ông biên soạn chung cùng với mấy người bạn “Révolte dans les Asturies”. Thế nhưng, vở kịch đã bị Augustin Rozis, đô trưởng thuộc phe hữu cực đoan tại Alger cấm diễn. Một năm sau tức năm 1937, Albert Camus ra mắt tiểu luận L’Envers et l’Endroit (Mặt trái và Mặt phải).
            Năm 1938, Albert Camus được một người bạn cũ của văn hào André Malraux, Pascal Pia, tuyển về làm phóng viên phóng sự cho tờ Alger Républicain. Tờ nhật báo này có lập trường tách biệt với nhiều tờ báo đương thời, vốn đa phần ủng hộ chính quyền thực dân. Tờ nhật báo Alger Républicain muốn bảo vệ các giá trị của Mặt trận nhân dân. Lúc đầu Albert Camus nghĩ rằng chỉ nhận làm vì “miếng cơm, manh áo” và ông có một cái nhìn không mấy thiện cảm với công việc này. Albert Camus từng thổ lộ với Jean Grenier – giáo sư đại học và cũng là bạn – rằng “nghề này thật là nhàm chán”.

Bốn phẩm chất quan trọng của một nhà báo tự do
            Nhưng nhà văn cũng dần nhanh chóng thay đổi quan điểm sau mỗi thành công của những loạt bài viết phóng sự và xã luận. Khi quan sát phản ứng của độc giả, Albert Camus hiểu rằng các bài viết của ông có thể tác động lên công luận. Cũng từ đó ông rút ra một hướng đi, một niềm hy vọng, một giá trị đạo đức. Theo quan điểm của Camus, một nhà báo tự do cần hội đủ bốn phẩm chất: “Sáng suốt, kháng cự, châm biếm và bướng bỉnh”. Bốn giá trị này đã được Camus trình bày rất cặn kẽ trong bản tuyên ngôn và cho đến giờ vẫn còn giữ nguyên giá trị, trở thành một “cẩm nang” cho nghề báo chí tại Pháp.

            “Sự sáng suốt đòi hỏi khả năng kháng cự lại những lôi kéo của sự hận thù và tôn sùng số mệnh […] Thấu đáo sự việc giúp gạt bỏ sự thù hằn mù quáng và để nỗi tuyệt vọng choán chỗ. Một nhà báo tự do, vào năm 1939, không thất vọng và chiến đấu cho những gì anh ta tin là đúng cũng như hành động của mình có thể ảnh hưởng đến quá trình sự kiện. Anh ta không đăng tải bất cứ điều gì có thể kích thích sự thù hận hoặc gây thất vọng. Tất cả điều này là trong tay của nhà báo”.

            Về phẩm chất thứ hai, Albert Camus cho rằng một nhà báo tự do cũng phải biết “kháng cự”. Ngoài việc phải đảm bảo tính chính đáng của nguồn tin, nhà báo phải biết cân nhắc giữa những gì có thể nói và những gì không thể nói. Một nhà báo tự do phải biết kháng cự, tức là đầu tiên hết không được đồng lõa với sự dối trá.
            Từ đó, đi đến phẩm chất thứ ba, phải có khiếu “mỉa mai”. Albert Camus cho rằng, “mỉa mai” là một “vũ khí vô song chống lại những cường hào ác bá”. “Óc ‘châm chọc’ hỗ trợ cho sự khước từ trong một chiều hướng mà nó cho phép, không những gạt bỏ những gì sai trái, mà thường nói lên được những gì là đúng. Một nhà báo tự do năm 1939, nhất thiết phải biết mỉa mai, mặc dù nó thường là trái với ý muốn của mình”. Albert Camus còm hóm hỉnh cho rằng: “Sự thật và tự do như là những cô tình nhân đỏng đảnh dù là có rất ít người yêu họ”.
            Dĩ nhiên, tất cả những đức tính đó phải được sự bướng bỉnh “hỗ trợ”. Trên thực tế có rất nhiều cản trở cho tự do ngôn luận. Ở đây, tính bướng bỉnh là một đức tính quan trọng. Bởi có một nghịch lý kỳ khôi nhưng rất rõ ràng, nó giúp mang lại tính khách quan và sự độ lượng.

Tính chính xác sự việc là tiêu chí hàng đầu
            Suốt quãng thời gian làm nghề viết báo, Albert Camus xem đấy như là một cuộc đấu tranh cho sự thật và cho sự độc lập. Khi mới bước chân vào nghề nhà báo, Camus đã đặt vấn đề “nguồn tin” lên hàng đầu. Các cuộc điều tra ngay tại địa bàn cho phép một cách tiếp cận thực tế các sự kiện. Ông nói: “Đi đến xem là việc đầu tiên cần phải làm. Tiếp đến, nhất thiết phải thẩm định các hướng đi khác nhau có thể bằng cách trao lời cho tất cả mọi người. Không cần thiết cứ phải làm sáng tỏ quan điểm của đối thủ, nhưng ngược lại phải biết lắng nghe và phân tích chúng. Nhà báo trẻ cần phải có một sự công minh không thể nào xâm hại được”.
            Ông Jeanyves Guerin, tác giả của quyển “Dictionnaire Albert Camus” (tạm dịch là Tự điển về Albert Camus), giải thích rõ “Khi nói đến bài diễn văn, tính ‘trung thực’ và ‘lương tri’ đòi hỏi rằng những lời nói đó không được cắt ngắn, rằng các câu dẫn không được tách rời ngữ cảnh”. Đối với Albert Camus, sự thật phải là tâm điểm của cuộc tranh luận và để đạt được điều đó, nhà báo phải cố gắng “đặt tính chính xác và tìm hiểu các sắc thái lên hàng đầu”. Những trải nghiệm này được thể hiện rõ nét trong loạt bài phóng sự điều tra “Misère de la Kabylie” (Sự khốn cùng tại Kabylie), đăng trên tờ Alger Républicain vào năm 1939. Trong 11 loạt bài điều tra, ông miêu tả không chút khoan nhượng nạn đói mà vùng này đã gánh chịu. Một sự kiện mà không một tờ báo thân chính quyền thực dân lúc bấy giờ đề cập đến.
            Nhận định về tư cách nghề báo của Albert Camus, ông Jean Daniel, nhà sáng lập tuần san Le Nouvel Observateur nói như sau: “Camus rất yêu thích công việc đó (viết báo), một công việc ông rất am tường và có những công thức riêng cho mình. Nhưng trước tiên hết, Camus là một người theo chủ nghĩa thuần túy. Ông rất ghét việc khai thác các tin vặt vãnh gây ồn ào và ghét cay ghét đắng lối sử dụng thì điều kiện (đó là điểm khởi nguồn của một sự dối trá). Ông có một ý tưởng cực kỳ hiếm hoi trong nghề này: Ta có là người đầu tiên hay không điều đó không quan trọng, nhưng cần phải là người (đưa tin) tốt nhất”.
            Cũng trong thời gian này, Albert Camus phụ trách mục thời luận pháp lý trên tờ Le Soir Républicain, do ông mở ra cùng với Pascal Pia vào ngày 15/09/1939. Chính công việc này đã cung cấp cho nhà văn những kinh nghiệm mà sau này ông có dịp sử dụng để dựng lại phiên xử nhân vật Mersault trong tác phẩm L’Étranger (Kẻ xa lạ) (1942). Trên tờ báo này, Albert Camus để lại nhiều bài bình luận pháp lý nổi tiếng như vụ án Hodent. Albert Camus đã tìm cách chứng minh sự trong sạch của một người quản lý trang trại bị một tên thực dân giàu có vu khống tội ăn cắp. Nhất là, trong vụ án một người Ả Rập bị buộc tội giết người, Albert Camus đã chứng minh được rằng chính quyền lúc bấy giờ kết tội ông ta chỉ vì mục đích chính trị.

Albert Camus: Một nhà báo dấn thân
            Lẽ đương nhiên là những bài viết trên của Albert Camus đã không làm hài lòng chính quyền thực dân lúc bấy giờ. Kết quả là cả hai tờ Alger Républicain và Le Soir Républicain đều có cùng số phận với các tờ báo đến từ Pháp, bị đặt dưới sự kiểm duyệt. Nhưng không vì vậy mà Albert Camus tỏ ra chùn bước. Kiên định với chính kiến của mình, Camus kiên quyết từ chối thông báo trước nội dung các bài viết trước khi lên trang. Nhóm làm báo của ông thà để nhìn thấy những khoảng trắng, những đoạn văn bị cắt xén. Đến mức mà có một số ngày, tờ Alger Républicain và Le Soir Républicain được phát hành với những cột trắng xóa.
            Báo Le Monde số ra ngày 18/03/2012, trong một bài viết có tựa đề “Các bổn phận của nhà báo theo quan điểm Albert Camus” có nhắc lại một sự việc khá khôi hài lúc bấy giờ. Đại úy Lorit, trưởng ban kiểm duyệt báo chí đã có những nhận xét khá gay gắt về cấp dưới của mình khi để lọt những lời bàn bị cho là khó có thể chấp nhận. Trong bài viết đề tựa “Hitler và Staline” đăng ngày 18/10/1939 ký tên Albert Camus, viên đại úy này đã nhận xét như sau: “Rất đáng tiếc tác giả thiếu sự sáng suốt”. Ba ngày sau đó, trên đài phát thanh Radio-London (phát bằng tiếng Pháp), thính giả có thể nghe những lời như sau: “Việc gạt bỏ sự thật, trên tất cả các báo chí Đức, là nét đặc trưng của chế độ Đức quốc xã”.
            Hay như vào ngày 24/11 cùng năm, Camus có ghi những dòng sau đây, và đã bị cắt xén: “Chúng ta thấy rõ là một nhà báo Anh, ngày nay, vẫn cảm thấy tự hào về công việc của mình. Một phóng viên Pháp, dù là độc lập, không thể không cảm thấy xấu hổ nơi mà người ta khư khư ôm chặt lấy giới báo chí Pháp. Đến khi nào mới có cuộc chiến thông tin tại Pháp?
            Khi chiến tranh bùng nổ, do không thể cầm súng ra trận vì căn bệnh lao phổi, Albert Camus đã dùng ngòi bút đả kích mạnh mẽ vào giới cầm quyền và những kẻ trục lợi nhờ chiến tranh. Trong bài viết khác có tựa đề “Những kẻ buôn tử thần”, ông quy trách nhiệm cho các nhà sản xuất vũ khí. Ông cho rằng “việc quốc hữu hóa hoàn toàn ngành công nghiệp vũ khí, sẽ giải thoát chính phủ khỏi tầm ảnh hưởng của giới tư bản đặc biệt vô trách nhiệm, chỉ bận tâm đến việc tạo ra những khoản lợi nhuận lớn” (bài viết đăng ngày 29/11/1939).
            Albert Camus cũng không quên thân phận bọt bèo của những người dân bản xứ dưới chế độ thực dân trong thời kỳ chiến tranh. Ông tố cáo cách “đối xử tàn nhẫn” của một nhóm thiểu số và chính phủ, những kẻ “cố chấp tìm cách đàn áp những đối tượng không may có cái mũi chẳng nên có, hay nói thứ ngôn ngữ chẳng nên dùng”.
            Đối với Albert Camus, nghề nhà báo là tiếng nói của nhân loại. Trong công cuộc tìm kiếm này, tự do ngôn luận là điều chính yếu. Các áp lực tài chính hay chính trị không nên can dự vào việc phát hành. Ông luôn chiến đấu chống lại kiểm duyệt, như là những gì Camus đã làm tại Le Soir Républicain vào năm 1939. Trong suốt thời kỳ chiến tranh, cuộc chiến này mỗi lúc mỗi mạnh mẽ. Nhà báo Camus có một thái độ cứng rắn không gì lay chuyển: “Chúng ta tình nguyện chấp nhận kiểm duyệt quân sự về những tin tức có thể có lợi cho kẻ thù. Nhưng chúng ta không chấp nhận ở bất cứ lúc nào sự kiểm duyệt chính trị”.
            Mặc dù có nhiều lời đe dọa đóng cửa tòa soạn, nhưng cặp bài trùng Albert Camus – Pascal Pia vẫn không chùn bước. Sự cứng đầu cứng cổ của họ đã gây bực tức cho chính quyền sở tại. Kết quả là sau 117 số phát hành, tờ Le Soir Républicain đã bị đóng cửa vào ngày 10/01/1940, theo lệnh của thống đốc Alger.

Albert Camus: Báo chí phải độc lập với quyền lực và tiền bạc
            Thất nghiệp, dưới áp lực của chính quyền sở tại, Albert Camus không được một tòa soạn nào dám tuyển dụng. Sau đó, ông còn bị chính quyền thực dân trục xuất khỏi Alger. Thế là nhà báo quyết định đến Paris. Tại đây, nhờ Pascal Pia, ông tìm được một chân thư ký cho tòa soạn báo Paris Soir. Thế nhưng, tài năng của nhà báo Albert Camus thật sự nở rộ khi ông đến làm việc cho tờ Combat (Chiến đấu). Một tờ báo hoạt động bí mật của quân Kháng chiến. Số báo miễn phí đầu tiên phát hành vào ngày 24/08/1944. Và chính trên tờ báo này tài viết báo của Albert Camus đã phát triển tốt nhất. Ông đầu tư triệt để cho thể loại “cao cấp” nhất là “xã luận”. Để làm được điều này, Camus đề xuất ba chiêu thức: “một ý tưởng, hai ví dụ, ba tờ giấy” (une idée, deux exemples, trois feuillets).
            Vào ngày 08/08/1945, khi quả bom nguyên tử được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản, Albert Camus là người đầu tiên tại Pháp đã có phản ứng, quan ngại cho “những triển vọng khủng khiếp đang mở ra cho nhân loại”. Nhà báo viết: “Nền văn minh cơ khí vừa chạm đến cực điểm của sự dã man. Trong một tương lai xa hay gần, cần phải biết lựa chọn, giữa sự tự sát tập thể hay việc sử dụng khôn ngoan các hiểu biết khoa học”.
            Với 48 ấn bản bí mật tại tờ Combat, Albert Camus trở thành một nhà báo tiếng tăm. Tuy nhiên, yêu nghề viết báo đến chừng nào thì Camus lại ghét giới báo chí đến ngần ấy. Cuộc phiêu lưu tại Combat thể hiện rõ chữ “tâm” và “đức” của Albert Camus, muốn nhìn thấy một nghề viết báo trung thực, chính xác và độc lập với các thế lực của tiền bạc cũng như là quyền lực chính trị. Chính vì thế, Albert Camus thường xuyên lên án mặt trái của giới báo chí. Nhất là trong bài xã luận đăng ngày 31/08/1944 trên tờ Combat. Qua việc chỉ trích “thói ham tiền và thái độ thờ ơ của bọn quyền thế”, Albert Camus chỉ ra rằng bọn họ chỉ tìm cách “làm hài lòng hơn là soi sáng”. Ông đã kêu gọi các đồng nghiệp hãy cắt đứt mối liên hệ mà ông cho là “loạn luân” giữa nghề nghiệp với sự cám dỗ của đồng tiền.
            Nếu như đối với độc giả Algeri, đầu tiên hết Albert Camus giải thích rõ bổn phận làm sáng tỏ và cẩn trọng là thuộc phận sự của một nhà báo, chống lại sự tuyên truyền và sự “nhồi sọ”, thì tại Combat, Camus tiếp tục đưa ra một hiến chương về thông tin, đảm bảo cho nền dân chủ, sao cho những thông tin đó được giải thoát khỏi vấn đề tiền bạc. Camus viết: “Thông tin chính xác thay vì thông tin nhanh, nói rõ ý nghĩa của mỗi tin tức bằng một bình phẩm tương thích, xây dựng một ngành báo chí chỉ trích và, hơn cả mọi thứ, không nên chấp nhận đặt chính trị lên trên cả đạo đức cũng như là để đạo đức rơi vào chủ nghĩa giáo điều”.
            Nhà báo Laurent Joffrin đã tóm lược lại như sau: “Albert Camus đã xây dựng một mô hình mà tất cả các nhà báo đúng với tên gọi này sẽ phải đi theo. Ông đã thể hiện và hình thành lý thuyết đạo đức nghề nghiệp. Nhà báo phải tham chiếu vào những giá trị đạo đức chứ không phải là giá trị chính trị. Đó là những gì Camus đã làm. Đó cũng là lý do vì sao ông thường đi ngược lại với trào lưu. Cần phải có sự can đảm để bất đồng với xã hội, để nói không với một chủ nghĩa theo thời nào đó. Hơn nữa, Albert Camus cũng như Jean Daniel đã đưa ra ý tưởng: Dù có một chính kiến hợp lý và có sắc thái riêng về một sự kiện cũng không gạt bỏ được một lập trường”.
            Tóm lại, đối với Albert Camus, ngành báo chí từng là một cộng đồng người ở đó ông cảm thấy được nuôi dưỡng. Đó giống như là một trường đời và đạo đức. Ở đó, ông thấy được sự cao cả. Có thể nói Albert Camus là một trong những tiếng nói hay nhất trong lãnh vực này, góp phần hình thành nên cái khung của một quy chế nghiêm ngặt cho ngành báo chí.


MINH ANH
Tháng 1/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20131231-albert-camus-niem-dam-me-viet-bao-va-%E2%80%9Cbon-pham-chat-cua-mot-nha-bao-tu-do%E2%80%9D

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #18 vào: 02/05/2017, 11:50:38 »
Nhà văn Mai Thảo và tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý. Sinh năm 1927 tại Nam Định, di cư vào Nam năm 1954. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Giòng Việt từ năm 1954. Chủ trương các tạp chí Sáng Tạo, Nghệ Thuật, Văn. Tị nạn tại Hoa Kỳ từ 1978. Mất tại California năm 1998.

Nhà văn Mai Thảo, nhà văn Vũ Khắc Khoan, nhà văn Nguyễn Sỹ Tế,
nhạc sỹ Phạm Đình Chương và họa sỹ Tạ Tỵ trong một buổi chiêu đãi


Thành lập nhóm Sáng Tạo
            Mai Thảo nổi tiếng với tác phẩm đầu tiên mang tên “Đêm giã từ Hà Nội” và sau đó hơn 50 tác phẩm vừa tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn ra mắt độc giả. Năm 1956 cùng với Thanh Tâm Tuyền và một nhóm nhỏ bạn hữu, Mai Thảo đã thành lập tạp chí Sáng Tạo và sau đó tạp chí này trở thành nơi tập họp các văn thi họa sĩ sáng tác dưới cái tên nhóm Sáng Tạo. Những công trình của các nghệ sĩ trong nhóm sau nhiều thập niên đã có một số ảnh hưởng đến giai đoạn sáng tác của giới cầm bút, và tên tuổi của nhóm Sáng Tạo vẫn được giới phê bình văn học đánh giá cao qua các lĩnh vực sáng tác cũng như lý luận phê bình.
            Tập thơ duy nhất của Mai Thảo được xuất bản trước khi ông mất ít lâu mang tên: “Ta thấy hình ta những miếu đền” sau nhiều chục năm sáng tác với thể loại văn xuôi. Hôm nay chúng tôi mời quý thính giả lần giở lại tập thơ này, tĩnh lặng trong giây lát để sống cùng với ông qua những nỗi niềm mà ông lặng lẽ viết và đọc một mình trong một thời gian rất lâu trước khi tập thơ xuất hiện.
            “Ta thấy hình ta những miếu đền” với phụ bản của ba họa sĩ Ngọc Dũng, Thái Tuấn, và Nguyên Khai. Hình bìa của tác giả Trần Cao Lĩnh chụp chân dung của tác giả. Văn Khoa xuất bản 1989. Tập thơ có 44 bài thơ Mai Thảo đã viết trong nhiều năm và một thân hữu đã thay ông tập trung lại in thành sách.
            Mai Thảo từ nhiều thập niên trước khi sang Mỹ đã được giới phê bình đánh giá là ngòi bút văn xuôi đậm chất thơ nhất nước. Văn chương của ông ngoài phần kỹ thuật viết, bàng bạc trên các trang chữ là không khí lung linh của thi tứ, của chắt lọc tinh tế chỉ có trong thơ và hơn hết, Mai Thảo chứng tỏ rất sành sõi khi lựa những cặp chữ đậm dấu ấn thi ca vào truyện của ông.
            Nhiều nhà phê bình cho rằng văn của Mai Thảo chỉ hay khi ông có hứng thú thật sự và biến sự hứng khởi này thành chất lửa rồi đưa chúng vào tác phẩm. Nếu thiếu yếu tố này mà vẫn phải viết thì Mai Thảo sử dụng kỹ thuật để che bớt khiếm khuyết của chất lửa. Chất lửa trong sáng tác là phần cốt lõi làm nên bản sắc Mai Thảo.


Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn-Xuân Hoàng;
trước tòa soạn báo Văn, 38 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn 1972

Ngạo mạn
            Thế nhưng khi làm thơ, hầu như Mai Thảo chưng cất chữ nghĩa cẩn thận hơn trong tất cả các bài thơ ông có. Trong tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”, nhiều bài chỉ bốn câu ngắn viết lên những suy tưởng khác nhau của Mai Thảo. Ngắn nhưng được ông gọt giũa, chưng cất nên thơ ông trở thành chuẩn mực của một kinh nghiệm có được sau khi sống trọn đời cho văn xuôi. Bài thơ Cục Đất vừa hóm hỉnh lại vừa thâm trầm, ít nhiều nói lên được cá tính của ông:

                        Biển một đường khơi xa thẳm xa
                        Núi vươn trượng trượng tới mây nhòa
                        Thì treo cục đất tòng teng giữa
                        cho cái vô cùng vẫn nở hoa


            Từ trên phi cơ, núi non ngất ngưỡng và mây trắng bồng bềnh, Mai Thảo nhìn thấy cái vô cùng vừa bát ngát vừa đe dọa cho mầm sống cũng đang lơ lửng trên không là ông. Mai Thảo “Con người” chợt nảy ra ý tưởng cân bằng cái bao la của vạn vật chỉ bằng một cục đất treo tòng teng chính giữa. Và ông nhận ra rằng cái vô cùng cũng hiền hòa, cũng bình an như cục đất vậy thôi. Triết lý biến sự vật nhỏ lại bằng ý muốn, tức cái vô cùng của con người đã được Mai Thảo nhiều lần áp dụng vào sáng tác của ông. Có người bảo rằng ông tự kiêu, có người nặng nề hơn cho là ngông cuồng. Có nhẹ lắm thì cũng là ngạo mạn. Nhà phê bình Thụy Khuê có nhận xét về sự ngạo mạn dễ thương này của ông như sau:

            “Mai Thảo tự coi mình là trung tâm của vũ trụ, ông viết Ta thấy hình ta những miếu đền, cái trung tâm này phát xuất từ câu đầu khi ông viết truyện ngắn đầu tiên Đêm giã từ Hà Nội”.

            Trong bài thơ “Em đã hoang đường từ cổ đại”, mặc dù vẫn còn cái lung linh hào sảng của một người tự nhận mình và người mình yêu hội tụ những đặc sắc mà trời đất đã ban tặng, Mai Thảo chỉ lặng lẽ thở dài cho những ân sủng ấy, bởi ông biết dù tài tử giai nhân thế nào chăng nữa cuối cùng thì cũng chỉ còn lại một nhánh hương cúng Phật.

                        Em đã hoang đường từ cổ đại
                        Anh cũng thần tiên tự xuống đời
                        Đôi ta một lứa đôi tài tử
                        Ngự mỗi thiên thần ở mỗi ngôi
                        Đừng khóc dẫu mưa là nước mắt
                        Đừng đau dẫu đá cũng đau buồn
                        Tâm em là Bụt tâm anh Phật
                        Trên mỗi tâm ngời một nhánh hương





Phù du
            Càng gần với trời đất, Mai Thảo càng nhận chân được cái hão huyền của đời sống. Như một người tù của nhân thế, ông vạch từng ngày còn sống sót lên trên bức tường đời bao chung quanh, và ông tự hỏi phải chăng những vết gạch này chính là chiếc lá trôi trong không gian vô tận đưa ông đến vô biên, đến nghìn năm trước mặt?

                        Mỗi ngày một gạch một ngày giam
                        Lên bức tường câm lạnh chỗ nằm
                        Gạch miết tới không còn chỗ gạch
                        Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm


            Mai Thảo đặt bút xuống bài thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền” chừng như để tự trả lời cho chính mình một câu hỏi mà từ rất lâu khi bước chân vào ngôi đền thờ văn chương đã phát sinh: Phải chăng văn chương cuối cùng thì cũng chỉ là một cuộc bể dâu, tên tuổi, đền thờ miếu mạo rồi cũng không nói lên được gì cả ngoài cái lãng quên, cái bạc đãi cùng những đớn hèn ích kỷ của con người dành cho văn chương chữ nghĩa? Nếu nhìn bài thơ qua lăng kính này người đọc sẽ thấy Mai Thảo xuất hiện ở một tâm thế khác, đáng thương và quỵ ngã như một con sư tử già chịu thua số phận. Ở đoạn đầu bài thơ, những câu hỏi liên tiếp đặt ra với thủ pháp gần với thậm xưng, tự trào thường thấy ở nhiều bài thơ cổ.

                        Ta thấy tên ta những bảng đường
                        Đời ta, sử chép cả ngàn chương
                        Sao không, hạt cát sông Hằng ấy
                        Còn chứa trong lòng cả đại dương
                        Ta thấy hình ta những miếu đền
                        Tượng thờ nghìn bệ những công viên
                        Sao không, khói với hương sùng kính
                        Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên


            Từ những hình ảnh mang dáng dấp giữa cuộc đời, Mai Thảo đẩy chúng lên tận trời đất.

                        Ta thấy muôn sao đứng kín trời
                        Chờ ta, Bắc Đẩu trở về ngôi
                        Sao không, một điểm lân tinh vẫn
                        Cháy được lên từ đáy thẳm khơi


            Không ngừng ở đó, Mai Thảo tìm tới cả Chúa và Phật để chia sẻ sự vinh quang này của ông, một vinh quang ảo không hề có.

                        Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
                        Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
                        Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
                        Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi!
                        Ta thấy nơi ta trục đất ngừng
                        Và cùng một lúc trục trời ngưng
                        Sao không, hạt bụi trong lòng trục
                        Cũng đủ vòng quay phải dửng dưng


            Khi người đọc còn đang chông chênh giữa những điều huyễn hoặc mà Mai Thảo đưa ra, người đọc chợt nhận ra mình bị lừa khi tới những câu cuối:

                        Ta thấy rèm nhung khép lại rồi
                        Hạ màn. Thế kỷ hết trò chơi
                        Sao không, quay gót tên hề đã
                        Chán một trò điên diễn với người
                        Ta thấy ta treo cổ dưới cành
                        Rất hiền giấc ngủ giữa rừng xanh
                        Sao không, sao chẳng không là vậy
                        Khi chẳng còn chi ở khúc quanh.


            Rèm nhung đã khép, tấn tuồng văn chương, nghệ thuật cũng khép theo. Giai nhân tài tử lẫn các vai hề lặng lẽ trở về với vai trò thật của mình. Mai Thảo từ ẩn dụ ham muốn phù vân của thế sự, muốn tìm kiếm hư danh qua các bảng đường đầy những tên của mình trên đó, đột ngột khép lại bằng tiếng than muôn thuở của nhân sinh: Mọi sự ở đời chẳng qua là phù phiếm. Mai Thảo lấy mình ra như một cái bia, vừa chế giễu vừa thương xót lại cũng vừa chua chát qua những câu cuối của bài thơ.


Nhà văn Mai Thảo

Cô độc
            Mai Thảo trong những năm cuối đời đã uống rượu thay cơm và hầu như ông ăn rất ít. Rất hiếm khi người ta thấy ông say cái say sinh lý, nhưng ông lại say liên miên theo cung cách của một nhà thơ. Bốn câu thơ nói về rượu của ông trong bài “Một mình” là bốn câu hay trong tập thơ, ông viết:

                        Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
                        Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
                        Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
                        Và một bình đêm rót rất đầy


            Chữ “Ngồi tượng hình” vừa quen vừa lạ. Tượng hình khiến người ta liên tưởng đến một pho tượng hơn là một con người. Pho tượng một mình trong một góc lại dẫn người đọc đến một liên tưởng khác, vừa cô đơn lại vừa hiện hữu trong đám đông. Trong câu “Tiếng người: kia, uống cái chi đây?” Mai Thảo không cụ thể ai hỏi, người hỏi đứng ở vị trí nào và vai trò của y ra sao? Một bartender hay một người nào khác? Tiếng người Mai Thảo sử dụng ở đây vừa mênh mang rộng lại vừa lay lắc buồn. Buồn và rộng là hai yếu tố làm bài thơ tuy ngắn nhưng đầy ứ nỗi niềm.
            Mai Thảo cũng dùng kỹ thuật biền ngẫu quen thuộc để đưa ra từng cặp chữ đối xứng hết sức hoàn chỉnh. Kỹ thuật xưa cũ này qua tay Mai Thảo đã thành mới và hết sức day dứt. “Một ngụm chiều” đối với “một bình đêm” chỉ thật sự thành thơ khi rơi lệ đối với rót đầy. Động tác “rót rất đầy” của “chiếc bình đêm” chỉ cốt làm cho chiều rơi lệ qua một “ngụm” vừa cay đắng, vừa chịu đựng như một định mệnh khiến bốn câu thơ này trở thành ám ảnh.
            Trong bài Thơ say trên máy bay Mai Thảo diễn tả tâm trạng của mình khi đặt chân xuống đất. Tâm trạng của một người suốt đời không vợ không con, không một mái ấm đúng nghĩa. Mai Thảo thẩn thờ viết lên sự thật của những lần ông đi đó đi đây:

                        Máy bay đáp xuống chuyến bay đáp
                        Hồn bỗng thương tâm một cảnh mình
                        Điều chi nên vẫn là chẳng tới
                        Nghĩ vậy trong lòng bỗng nín thinh


            Mai Thảo nhấn mạnh ở cụm từ “máy bay đáp xuống” và rồi “chuyến bay đáp” nghe có vẻ choáng váng của một người chưa quen với tình trạng thay đổi trọng lực. Hai cụm từ gần như giống nhau này lại rất khác nhau. Máy bay là một thực thể không thay đổi nhưng chuyến bay thì có thể thay đổi. Hàm ý của Mai Thảo trong câu này chứng tỏ rất chi tiết trong cách diễn tả. Máy bay đáp xuống là điều hiển nhiên, không có sự cố kỹ thuật nào trục trặc và vì vậy chiếc máy bay mà ông đi đã đáp. Vậy ông còn chờ đợi một điều gì? Một trục trặc khác cho chuyến bay mà ông miêu tả? Chuyến bay bị trì hoãn hay đã bị hủy bỏ? Phải chăng khi viết câu này ông đưa ra một tâm lý rất hoang mang, rằng ông mong chuyến bay không đúng giờ, thậm chí bị hủy bỏ, vì chuyến đi này của ông cũng như bao chuyến bay khác đều ngoài ý muốn, đều phù phiếm và đầy những bâng khuâng.
            Ra đời muộn màng nhưng tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền” chứa rất nhiều ưu tư của Mai Thảo. Ông làm thơ không dễ dàng như viết văn. Làm thơ đối với ông như một cách viết nhật ký. Và viết chỉ cho ông đọc khi một mình. Có phải vì vậy mà ông chắt chiu đến từng ý từng lời để đời có tập thơ tuy nhỏ nhưng lại ẩn chứa nhiều điều đáng nói như vậy?


MẶC LÂM
Tháng 10/2009


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Book-review-mai-thao-and-his-poems-collection-mlam-10312009105029.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #19 vào: 04/05/2017, 11:32:33 »
Sáng mãi tinh thần Vua Quang Trung: “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”

Suốt mấy ngàn năm qua kể từ ngày dựng nước, người Việt Nam ít khi được yên ổn bởi tham vọng xâm lấn của anh bạn láng giềng khổng lồ phương Bắc. Cũng trong mấy ngàn năm giữ nước đó, tinh thần hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền quốc gia của người Việt Nam luôn được thể hiện một cách mạnh mẽ. Đến thế kỷ thứ 18, tinh thần đó lại thêm một lần nữa được khẳng định với anh hùng áo vải – hoàng đế Quang Trung trong chiến thắng đập tan 29 vạn quân Thanh mượn cớ giúp nhà Lê để thực hiện mưu đồ xâm lược.

Tượng Nguyễn Huệ – Quang Trung trong “Tây Sơn Tam Kiệt” – bộ ba tượng anh em Tây Sơn ở Bảo tàng Quang Trung (tỉnh Bình Định)

Lưỡng đầu thọ địch
            Vào thế kỷ thứ 18, xã hội Việt Nam lâm vào một tình thế vô cùng bi đát: Đất nước đã bị chia cắt hơn 200 năm, ở miền Bắc nhà Lê thì vẫn còn tồn tại nhưng chỉ là bù nhìn, mọi quyền hạn nằm trong tay chúa Trịnh, còn tại miền Nam thì do chúa Nguyễn cai trị. Trong bối cảnh đó, vào năm 1771, tại Bình Định-Quy Nhơn, phong trào nông dân Tây Sơn đã nổi lên dưới sự lãnh đạo của ba anh em nhà họ Nguyễn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.
            Nguyễn Nhạc có đầu óc cục bộ, Nguyễn Lữ thì không có chí lớn lại thiếu năng lực, còn Nguyễn Huệ lại là một người đủ đầy hùng tài thao lược, có chí muốn thống nhất non sông, có tài kinh bang tế thế. Hầu như tất cả các trận đánh lớn và mang tính quyết định của quân Tây Sơn đều do Nguyễn Huệ chỉ huy. Chính Nguyễn Huệ đã ra quân dẹp chúa Nguyễn trong Nam và tề chúa Trịnh Ngoài Bắc.
            Phong trào Tây Sơn đến năm 1787 coi như đã lẫy lừng thanh thế, có thể tiến tới làm chủ vận mệnh non sông. Thế nhưng, cũng chính năm ấy, anh em nhà Tây Sơn lại xảy ra mâu thuẫn: Nguyễn Huệ muốn tiếp túc chiến đấu để thống nhất quốc gia, còn Nguyễn Nhạc thì e ngại Nguyễn Huệ vượt tầm kiểm soát của mình. Lãnh thổ của nhà Tây Sơn khi ấy được Nguyễn Nhạc chia làm ba:
            – Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Qui Nhơn.
            – Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định.
            – Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất Thuận Hóa trở ra đèo Hải Vân.
            Mâu thuẫn đi đến mức Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ phải ra quân đánh nhau. Rồi quân Nguyễn Huệ bao vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc buộc phải chít khăn tang đứng trên mặt thành khóc than kể lể. Nể tình anh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ mới thu binh.
            Nhân cơ hội nội bộ Tây Sơn chia rẽ, các thế lực chống Tây Sơn bèn trỗi dậy. Ở phía nam, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của người Pháp, toan trở về đánh chiếm Gia Định. Đông Định vương Nguyễn Lữ bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn. Còn ở phía Bắc, mẹ con Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây Sơn. Vua nhà Thanh lúc bấy giờ là Càn Long bèn nhân cơ hội đó hạ chiếu phong cho Tôn Sỹ Nghị làm Chinh Man Đại tướng quân, điều động quân lực của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu bao gồm 29 vạn người (kể cả quân lính tác chiến và dân phu phục dịch hậu cần). Quân Thanh chia làm ba đạo tiến vào Đại Việt dưới danh nghĩa “Phù Lê diệt Tây Sơn”. Càn Long còn đặc cử Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Phúc Khang An cho thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Phúc Khang An cho thiết lập 18 kho quân lương để phục vụ cho đội quân Nam tiến.
            Như vậy, Quân đội Tây Sơn đang đứng trước cái cảnh lưỡng đầu thọ địch: cái họa Nguyễn Ánh ở miền Nam, và đặc biệt là cái họa ngoại xâm ở miền Bắc. Vận nước như chỉ mành treo chuông, gánh nặng đè lên vai Nguyễn Huệ quả thật quá lớn, và nếu không phải một thiên tài quân sự như Nguyễn Huệ thì khó lòng mà lo liệu vuông tròn cho được.

Tiến quân thần tốc
            Nguyễn Huệ đứng trước hai lựa chọn: Nam tiến hoặc Bắc tiến. Cả hai mặt trận đều nước sôi lửa bỏng và cần đến ông, tuy nhiên, nếu ông quá sa vào một mặt trận thì mặt trận kia sẽ vỡ. Tuy nhiên cái họa xâm lăng ở phương Bắc là cần kíp hơn. Nguyễn Huệ bèn sắp đặt người cố thủ tại Gia Định, đồng thời chuẩn bị xuất quân Bắc tiến cự quân Thanh. Mặc dù nhận thức được quân Mãn Thanh phía Bắc là nguy cơ lớn hơn và cấp bách hơn nhưng Nguyễn Huệ không thể đánh địch theo chiến thuật trường kỳ như triều đại nhà Lý, nhà Trần trước đó đã làm để chống quân phương Bắc. Vì vậy ông quyết định chọn cách đánh thần tốc để sớm giải quyết chiến trường miền Bắc.
            Ngày 17/2/1788 quân Tây Sơn trấn giữ Thăng Long đã theo kế sách của Ngô Thì Nhậm làm kế không thành, rút toàn bộ quân thủy bộ về đóng ở Biện Sơn và Tam Điệp (phía nam tỉnh Ninh Bình). Vì thế quân Thanh vào chiếm thành Thăng Long một cách dễ dàng, không mất một mũi tên. Do quá dễ dàng nên quân Thanh bắt đầu kiêu ngạo, Tôn Sỹ Nghị còn chẳng buồn truy kích Tây Sơn.
            Tuy nhiên, trước những cảnh báo của vua tôi Lê Chiêu Thống, Tôn Sỹ Nghị cũng bắt đầu thấy sợ nên sau khi tiến binh vào Thăng Long đã cho chia quân ra đóng ở nhiều điểm để tiện bề hỗ trợ nhau khi tác chiến. Đạo quân Lưỡng Quảng đóng tại những khu bãi rộng hai bên bờ sông Hồng, bắc cầu phao qua sông. Quân của Sầm Nghi Đống đóng tại gò Khương Thượng (Đống Đa). Đại bản doanh của Tôn Sỹ Nghị đóng ở cung Tây Long, quân “Cần Vương” của Lê Chiêu Thống đóng ở nội thành. Đạo quân Vân Nam đồn trú tại Sơn Tây. Tôn Sỹ Nghị hạ lệnh sẽ tấn công Tây Sơn vào ngày mùng 6 tết.
            Ngày 29/11/1788 (âm lịch), đại quân của vua Quang Trung ra tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân cùng với 200 voi chiến. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ tinh thần và ý chí quyết chiến quyết thắng của ba quân. Ngay sau lễ duyệt binh, quân Tây Sơn trực chỉ Bắc Hà, và ngày 20/12/1788 âm lịch thì đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, vua Quang Trung hẹn ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, vào ăn tết tại Thăng Long.
            Đêm 30 tết, quân Tây Sơn chính thức tấn công và lần lượt hạ các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó một cánh quân khác của Tây Sơn bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng (Đống Đa) khiến quân Thanh không kịp trở tay. Tướng chỉ huy đồn là Sầm Nghi Đống phải tự vẫn. Sáng mồng 5, vua Quang Trung mới tấn công và hạ đồn Ngọc Hồi. Trước đó, Tôn Sỹ Nghị cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây Sơn đuổi theo, Tôn Sỹ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều đến nỗi mà sử sách ghi lại là: làm nghẽn cả dòng chảy của con sông.
            Như vậy, chỉ trong vòng 40 ngày kể từ khi hay tin cấp báo từ phía Bắc, vua Quang Trung đã đập tan 29 vạn quân Thanh, cứu non sông khỏi cái họa ngoại xâm phương Bắc.

Một chiến thắng của chính nghĩa, được lòng người thuận ý trời
            Quân Tây Sơn chỉ có 10 vạn phải chiến đấu với gần 30 vạn quân Thanh, tức là lấy một chọi ba. Thế nhưng, vua Quang Trung đã dành chiến thắng vang dội, đánh tan tác quân xâm lược, khiến Tô Sỹ Nghị phải chạy trối chết. Xác của quân thù ngổn ngang, đến mức mà tương truyền sau chiến thắng, các xác này được gom lại thành nhiều gò đống lớn, sau đó có đa mọc um tùm nên mới gọi là Gò Đống Đa. Nhà thơ Ngô Ngọc Du thời đó đã phải thốt lên thán phục:

                        Thành nam xác giặc mười hai đống
                        Ngời sáng anh hùng đại võ công


            Nguyên nhân nào đã dẫn đến chiến thắng vĩ đại này? Ta có thể tóm lược mấy ý như sau:

1) Thần tốc và bí mật
            Quân Thanh tiến vào Thăng Long vào ngày 17/11/1788, đến ngày 21/11 thì tin tức mới về đến Phú Xuân. Ngày 25/11, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế. Trong khi đó Tôn Sỹ Nghị quyết định ngày mùng 6 tiến binh đánh Tây Sơn. Như vậy, vua Quang Trung chỉ còn trên dưới 40 ngày đề ra để điều binh ra tới Thăng Long tấn công quân Thanh. Phòng Tuyến đầu tiên của quân Thanh là Gián Khẩu tại Ninh Bình cách Hà Nội độ khoảng 90 cây số (180 dặm Trung Quốc). Từ Phú Xuân (Huế) ra đến Hà Nội có khoảng trên 600 km (1200 dặm). Như vậy, để ra đến được Ninh Bình tấn công đồn Gián Khẩu vào ngày 30 tháng Chạp, quân đội của vua Quang Trung có trên dưới 35 ngày đường. Trừ 10 ngày tuyển binh ở Nghệ An, thì quân Tây Sơn chỉ còn có 25 ngày đường cho khoảng hơn 1000 dặm (trên 500 km). Còn nếu lấy Thăng Long làm đích, thì tính đến ngày mùng 5 tết, quân Tây Sơn phải vượt trên 600 km đường bộ trong 40 ngày, tức phải đi liên tục bình quân 15 km (30 dặm)/ngày.
            Ta thấy, điều động một đội quân 10 vạn người và hơn 200 thớt voi mà phải đi liên tục và nhanh chóng như vậy thật là điều hi hữu. Nhưng vua Quang Trung đã làm được cái điều hi hữu ấy. Trong khi hành quân, yếu tố bí mật của quân đội Tây Sơn là tuyệt đối, nó kín đến mức mà các nhà sử học ngày nay vẫn còn tranh cãi về cách thức hành quân thần tốc của vua Quang Trung. Thế nhưng cơ bản có hai giả thuyết. Một là cho rằng quân lính đã chia thành nhiều tốp, mỗi tốp có ba người, ba người này thay phiên khiêng nhau để một người được nghỉ, và như thế có thể đi liên tục. Một số người khác lại cho rằng, vào thời điểm đó, từ Huế ra Thăng Long chỉ có hai tuyến đường chính: Đó là đường dịch trạm hay đường thiên lý (gần trùng với Quốc lộ 1A ngày nay) và tuyến Thượng đạo, men theo đồi núi trung du phía Tây, giãn cách với Quốc lộ 1A từ 30-40km đến 70-80km, và vua Quang Trung đã chọn đường Thượng Đạo để tránh tay mắt kẻ thù.
            Cuộc tranh cãi vẫn chưa ngã ngũ. Thế nhưng, sự thật càng khó truy tìm chừng nào, thì ta càng thấy cái thiên tài quân sự của vua Quang Trung lớn chừng ấy. Và trên thực tế, điều mà thế hệ sau của ông phải vắt óc suy nghĩ vẫn chưa ra thì ông đã làm được. Chính nhờ hành quân thần tốc và tuyệt mật, nên quân đội Tây Sơn đã tạo được thế tấn công bất ngờ, khiến giặc không kịp trở tay. Sử sách vẫn còn ghi lại những lần tấn công của quân Tây Sơn vào đồn giặc mà quân giặc phải bàng hoàng chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

2) Được lòng ba quân và dân chúng
            Đây là nguyên nhân chính yếu dẫn đến chiến thắng diệu kỳ của vua Quang Trung, bởi nếu có hành quân thần tốc cỡ nào mà không được dân ủng hộ, không được ba quân hết lòng chiến đấu thì cũng không thể thành công cho được.
            Ta nhớ lại rằng, khi ra đến Nghệ An, vua Quang Trung cho dừng binh để tuyển mộ thêm quân sĩ và tổ chức lễ duyệt binh. Trước ba quân tướng sĩ, ông đã dõng dạc nói: “Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện đang ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, tất cả đều được phân biệt rõ ràng, Bắc Nam hai phương chia nhau cai trị, người phương Bắc không phải nòi giống ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời Hán đến nay, chúng đã bao phen cướp bóc nước ta, cho nên người mình không ai chịu nổi, đều muốn đánh đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ… các ngài không nỡ ngồi yên nhìn chúng làm điều tàn bạo, cho nên đã thuận theo lòng người mà dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về hẳn bên phương Bắc… Lợi hại và được thua đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang mưu đồ lấy nước Nam ta mà đặt thành quận huyện của chúng, không biết trông gương các đời Tống, Nguyên, Minh thuở xưa, vì thế ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng…”
            Lời nói trên đã thể hiện quá rõ ràng tinh thần của vua Quang Trung là: Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử của người Việt Nam, đã từng được danh tướng Lý Thường Kiệt đời Lý tuyên bố trong bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”, và cũng đã được Nguyễn Trãi đời Hậu Lê nêu bật trong “Bình Ngô Đại Cáo”. Vua Quang Trung đã thấm nhuần tinh thần đó, và chiến đấu cũng trong tinh thần đó. Đây là chân lý không thể phủ nhận của dân tộc Việt Nam đã được khẳng định qua biết bao thế hệ, và đã được vua Quang Trung kế thừa.
            Trong lễ duyệt binh nói trên, vua Quang Trung còn tuyên bố trước ba quân mục đích của cuộc Bắc tiến như sau:

                        Đánh cho để dài tóc,
                        Đánh cho để đen răng,
                        Đánh cho nó chích luân bất phản,
                        Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
                        Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
.

            Tức là:

                        Đánh cho để dài tóc
                        Đánh cho để đen răng
                        Đánh cho nó ngựa xe tan tác
                        Đánh cho nó manh giáp chẳng còn
                        Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ

            Đã quá rõ ràng, mục tiêu của vua Quang Trung trong cuộc chiến chống quân Thanh là để gìn giữ những tập tục riêng của người Việt (giữ tóc dài và nhuộm răng đen), và đặc biệt là để khẳng định thêm một lần nữa cái chân lý: Người Việt làm chủ nước Việt, nếu ai xâm phạm sẽ bị đánh cho ngựa xe tan tác, cho giáp bào tả tơi, hay như Lý Thường Kiệt nói là “sẽ bị đánh tơi bời”. Sử cũ chép: “Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu. Rồi chiêng trống khua vang, quân lính gấp rút lên đường ra Bắc”. Chi tiết này thể hiện sự ủng hộ của ba quân đối với chủ soái Nguyễn Huệ đến dường nào.
            Cộng thêm vào sự ủng hộ của ba quân đó chính là sự mong ngóng của lê dân đối với vua Quang Trung. Sử cũ chép rằng, quân Thanh vào thành Thăng Long ra sức cướp phá, hãm hiếp, khiến dân tình ta thán. Vua nhà Lê là Lê Chiêu Thống không lo cảnh mất quyền tự chủ quốc gia mà chỉ biết dựa vào thế lực ngoại bang để báo tư thù, thanh toán những người từng ủng hộ Tây Sơn, thảm khốc đến mức mà ngay cả mẹ ông cũng phải lên tiếng than trách. Lê Chiêu Thống thì phải chầu chực quỳ lụy Tôn Sỹ Nghị làm nhục quốc thể đến nỗi mà người đương thời phải than với nhau rằng: “Nước nam ta từ khi có đế vương đến bây giờ, không thấy có vua nào hèn hạ đến thế”. Trong bối cảnh đó, nguồn hi vọng duy nhất của người dân Việt chính là vua Quang Trung-Nguyễn Huệ.
            Chưa hết, trong trận đánh Ngọc Hồi vào sáng mùng 5 tết, khi quân Tây Sơn tấn công vào đồn Ngọc Hồi, thấy có gió bắc, quân Thanh liền dùng ống phun lửa, khói tỏa mù trời, cách gang tấc cũng không nhìn thấy gì. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió Nam, lửa khói tạt ngược trở lại về phía quân Thanh, làm cho chúng bị thiệt hại rất nhiều, tạo thuận lợi cho quân Tây Sơn tấn công vào đồn. Rồi một chi tiết khác được sử cũ ghi lại là Nguyễn Ánh ở Gia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long đã sai người chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường gặp bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết. Phải chăng những chi tiết trùng hợp này là điềm báo rằng: Quân Tây Sơn được sự ủng hộ của đấng siêu nhiên, tức là được lòng trời. Nói cách khác, là vua Quang Trung bên cạnh “nhân hòa”, còn được “thiên thời”, mà được như thế ấy là bởi vì cuộc chiến đấu của ông là chính nghĩa, là để bảo vệ chủ quyền thiêng thiêng của dân tộc.

Kiên quyết chống ngoại xâm, hòa hiếu trong giao thiệp
            Không chỉ là nhà quân sự thiên tài, mà trên mặt trận ngoại giao vua Quang Trung cũng tỏ ra là người quyền biến. Nhận xét về tài năng và đức độ của vua Quang Trung, Giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille (Cộng Hòa Pháp) cho rằng ông là người kiêm toàn văn võ:

            “Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa đánh dấu lịch sử về một người anh hùng, một vị tướng tài năng đã chiến thắng vẻ vang trong một trận đánh không lâu dài. Có thể nói, chiến dịch Đống Đa là một chiến dịch nhanh nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam. Nhờ tài điều binh khiển tướng giỏi mà Quang Trung đã đánh bại 29 vạn quân Thanh.
            Cũng xin nhắc lại rằng, trước đó Quang Trung cũng đã thể hiện tài thao lược của mình. Như ông đã 4 lần vào chinh nam và cũng đã 4 lần chiến thắng. Một trong những chiến thắng đó là trận đánh Rạch Gầm-Xoài Mút. Rồi sau đó ông đã ra bắc dẹp chế độ vua Lê chúa Trịnh.
            Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự, mà ông là người kiêm toàn văn võ. Ông biết rằng, sau khi đánh bại quân Thanh, thì sẽ có những mưu toan trở lại của quân địch. Ông đã tìm ra một con đường ngoại giao khôn khéo để tránh sự xâm lược lần thứ hai của nhà Thanh, tức là của một cường quốc quá lớn đối với Việt Nam
”.

            Giáo sư Trịnh Văn Thảo cho rằng, tài năng và đức độ của vua Quang Trung để lại nhiều bài học quý giá cho thế hệ ngày nay:

            “Có những bài học rất quan trọng đối với người Việt chúng ta ngày nay. Trước tiên, ta thấy Nguyễn Huệ chỉ xưng vương sau khi đã chứng kiến cảnh vua tôi nhà Lê chạy sang cầu viện nhà Thanh. Yêu cầu tình thế bắt buộc ông phải xưng Hoàng đế. Đó là một hành động khôn khéo bởi nó giúp ông đạt được lòng dân.
            Thứ hai, mặc dù là một tướng tài đã đánh bại quân Thanh, nhưng ông không quên đường lối ngoại giao để tránh nạn binh đao triền miên giữa Việt Nam với Trung Quốc. Bài học ở đây đó là: Chúng ta phải biết dung hòa giữa võ lực và chính trị.
            Kế đến, ta thấy rằng Quang Trung là một người có hòa chí đem lại an ninh và thịnh vượng cho đất nước. Có ba bằng chứng cho điều này. Thứ nhất, ông biết sử dụng và lắng nghe người trí thức, tài năng. Quan hệ giữa ông và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp là một minh chứng cho thấy một nhà cầm quyền nhà nước biết lắng nghe lời khuyên của một nhà trí thức hoàn toàn không tham chính. Thứ hai, Quang Trung có hoài bão sửa sang một nền chính trị đã thối nát ở Bắc Hà dưới thời Lê-Trịnh. Thứ ba, ông muốn chấn chỉnh lại hệ thống giáo dục đã quá u mê bắt đầu từ thế kỷ 15 dưới ảnh hưởng của Tống Nho và khoa bảng. Ông có ý muốn dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ chính của dân tộc, rõ ràng là một việc chưa từng có
”.

            Giáo sư Trịnh Văn Thảo tóm lược về anh hùng Nguyễn Huệ như sau:

            “Quang Trung là một người bao gồm đủ ba đức tính của người quân tử thời xưa, đó là: nhân, trí, dũng. Chỉ tiếc một điều là ông chỉ trị vì có 4 năm nên không thể thực hiện những hoài bão đó. Nếu không, tôi nghĩ rằng, chúng ta có thể tránh được họa xâm lăng xảy đến mấy chục năm sau đó”.

            Điều mà giáo sư Trịnh Văn Thảo lấy làm tiếc cũng chính là suy nghĩ của đô đốc Vũ Văn Dũng khi vua Quang Trung mất vào ngày 29/7/1792 (âm lịch):

                        Bố y phân tích ngũ niên trung
                        Mai cố thi vi tự bất đồng
                        Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
                        Bất y Đường Tống thuyết anh hùng


            Dịch:

                        Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
                        Thời trước thời sau khó sánh cùng
                        Trời để vua ta thêm chục tuổi
                        Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

            Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã bôn ba đánh Nam dẹp Bắc với bao chiến công lừng lẫy. Thế nhưng, khi nhắc đến ông, thì người ta nghĩ ngay đến chiến thắng Đống Đa, một chiến thắng của một nước bé nhỏ trước một cường quốc hùng mạnh có tham vọng bá quyền, một chiến thắng khẳng định thêm một lần nữa chân lý bất diệt của dân tộc Việt Nam là “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 4/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130405-quang-trung-dai-pha-quan-thanh-sang-mai-tinh-than-%E2%80%9Cnam-quoc-anh-hung-chi-huu-chu%E2%80%9D

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #20 vào: 09/05/2017, 12:20:01 »
“Chủ nhật buồn”: Bản tình ca “tuyệt mạng” đầy huyền thoại

“Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, đó là những cái tên mà người đời đã đặt cho bài “Chủ nhật buồn” (Gloomy Sunday, Sombre Dimanche). Nguyên tác tiếng Hungary là Szomorú vasárnap, đây là một ca khúc được liệt vào hàng bất tử trong lịch sử âm nhạc đại chúng thế giới.

Nhạc sĩ Seress Rézso và ca khúc “Chủ nhật buồn”, nguyên tác tiếng Hung

RẤT NHIỀU người Việt đã quen thuộc với giai điệu quen thuộc của ca khúc “Chủ nhật buồn”, được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt và phổ biến. Thế nhưng ít ai chú ý rằng đó là một bài hát xuất xứ từ Hungary, từng đi chinh phục thế giới qua các phiên bản tiếng Anh – Gloomy Sunday – hay tiếng Pháp – Sombre Dimanche.
            Mang tựa gốc là Szomorú vasárnap, từng được mệnh danh là “Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, ngay tại Hungary, bài “Chủ nhật buồn” được xem như thương hiệu tầm cỡ thế giới bậc nhất của Hungary trong âm nhạc, còn tại nước Pháp, vào năm 1999, ca khúc này được bình chọn là bản nhạc tình buồn nhất của thế kỷ XX.
            Bài hát u sầu này đã được dịch ra hơn 100 thứ tiếng trên thế giới (trong đó có cả tiếng Việt và Quốc tế ngữ esperanto), thu hút không biết bao nhiêu là đại danh ca của thế giới, từ Billie Holiday, Ray Charles, Ricky Nelson, tại Mỹ, cho đến Sarah Brightman tại Ireland, Björk tại Iceland hay Serge Gainsbourg tại Pháp…, không kể đến các các ca sĩ hát tiếng Nhật, tiếng Hoa, tiếng Hàn…
            Một trong những ca sĩ được cho là đã thể hiện hay nhất bài hát này là nữ danh ca Mỹ người da đen Billie Holliday, mà cách thể hiện đầy cảm xúc, đã khiến cho bài hát của cô bị cấm tại Anh Quốc vào năm 1941 vì bị cho là làm nản lòng người nghe vào lúc nước này cần động viên tinh thần dân chúng để chống Phát xít Đức.
            Ngoài cách thể hiện đầy u uẩn, ray rứt của Billie Holiday, ca khúc Gloomy Sunday cũng từng được nhiều ca sĩ khác trình bày với một phong cách nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn như phiên bản của ca sĩ Mỹ Ricky Nelson, từng nổi tiếng trong giới hát nhạc “đồng quê” (country music).

“Chủ nhật buồn” xuất xứ từ một bài thơ… thất tình
            Theo thông tín viên Hoàng Nguyễn từ thủ đô nước Hung, ca khúc “Chủ nhật buồn”, nhạc của Seress Rezső, lời thơ của Jávor László và Seress Rezső, ra đời vào giữa thập niên 30 thế kỷ trước tại Budapest. Tất cả xuất phát từ một bài thơ… thất tình của Jávor László, khi đó 26 tuổi, phóng viên hình sự một tờ báo ở Budapest.
            Ðó là năm 1933. Chàng trai Jávor László buộc phải chia tay với người yêu, khi đó đã là vợ kẻ khác. Tương truyền, trong buổi hẹn hò bí mật cuối cùng, Jávor tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ, và đối với chàng, cô gái không còn tồn tại nữa.
            Bài thơ “Chủ nhật buồn” đã ra đời như thế, như một kỷ niệm cho mối tình đã chết, đầy tang tóc với câu mở đầu: “Chủ nhật buồn với muôn cành hoa trắng – Anh chờ em với lời kinh cầu”, để rồi khi mối tình không còn và ngày chủ nhật đối với anh chỉ còn là nước mắt và nỗi âu sầu.
            Sau khi ra đời, bài thơ không được ai biết tới và tác giả thi phẩm đã đề nghị Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, phổ nhạc cho bài thơ đó. Sau vài tháng, bài hát “Chủ nhật buồn” ra đời, và người nhạc sĩ không hề biết nhạc lý đã phải huýt sáo để nhờ một thanh niên thạo nhạc ghi lại với giá 5 đồng.

Tiếng tăm của bài ca “tuyệt mạng”
            Trong khi các tác giả đang buồn bã vì ca khúc không chạy như ý muốn thì đột nhiên, báo chí Hungary loan tin trong vòng 2 tuần liền, đã có hai người tự sát bên bản nhạc “Chủ nhật buồn”. Tháng 11/1935, báo chí Hungary mở cuộc tấn công phê phán ca khúc và gọi nó là “bài ca giết người”.
            Lúc đó, báo chí Thụy Sĩ, Ý, Pháp, Ðức bắt đầu viết về “Chủ nhật buồn”, nơi khen, nơi chê, và truyền thông quốc tế bắt đầu gọi ca khúc là “Quốc ca của những kẻ tự tử”. Từ Châu Âu lan sang Bắc Mỹ, tờ New York Times còn loan tin tại Budapest, đã có một làn sóng người nhảy xuống dòng Danube tự tử khi nghe bài hát.
            Tất nhiên, đây chỉ là một trong những “huyền thoại đô thị” mà Budapest cũng có không ít, nhưng điều đáng chú ý là cơn sốt “Chủ nhật buồn” khi đó mới có ở một số nước, chứ chưa hề có ở Hungary.
            Chỉ khi một ông bầu âm nhạc người Pháp sang Budapest để nghe ca khúc, rồi mang bản nhạc về và cho dựng tại Paris, lúc đó cả thế giới mới biết đến Seress, người nhạc sĩ.
            “Chủ nhật buồn” bắt đầu chinh phục thế giới bằng cơn sốt như vậy. Cả châu Âu hướng về mốt… đau buồn tập thể, dẫn đến… tự sát, như thế! Jávor, chàng trai thất tình, bỗng nổi tiếng với bài thơ “Chủ nhật buồn”, đã nói với báo giới khi nghe phong thanh về thành công “chết người” của mình: “Giờ, người ta nghĩ đến tôi như kẻ đào mồ với chiếc xẻng trong tay”.

Giải mã “ma lực” của ca khúc “Chủ nhật buồn”
            Người ta nói nhiều đến “Chủ nhật buồn” như một bài ca có ma lực vô cùng đặc biệt, khiến người nghe ảo não, sầu muộn đến độ phải tự tìm đến cái chết. Không thể biết được đâu là sự thật, đâu là chứng cuồng tầm cỡ thế giới, và đâu là món nghề quảng cáo của sự kinh doanh nghề sân khấu.
            Quả thực, cạnh thi thể nhiều người tự vẫn, có bản nhạc của ca khúc, nhất là ở Hungary. Nhưng xứ sở này, dù có “Chủ nhật buồn” hay không, cũng đã được liệt vào hàng những quốc gia hàng đầu thế giới trong các thống kê về số người tự sát!
            Thời kỳ 1935-36, khi bài hát ra đời, nhân loại đang đứng trước cuộc Thế chiến thứ hai sắp bùng nổ và cuộc khủng hoảng kinh tế đang ở độ trầm trọng. Khi tìm hiểu nguyên do và bản chất của hiện tượng “Chủ nhật buồn”, những luận văn “nặng ký” đã không quên điều đó.
            Tuy nhiên, như mọi người đều nhận thấy, giai điệu đơn điệu, lặp đi lặp lại theo cung đô thứ của bài ca, đã thể hiện một cái gì đó đáng kể. Và quả thực, mỗi thời đại đều có một “bài ca chết người” của mình.
            Chỉ vài năm sau khi bài thơ của Jávor László ra đời, “Chủ nhật buồn” – kèm giai điệu của Seress Rezső – đã được dịch ra gần 30 thứ tiếng; bản nhạc và những chiếc đĩa hát “Chủ nhật buồn” tràn ngập thị trường thế giới, gieo rắc không khí buồn đau, chết chóc khắp châu Âu, Mỹ, Phi và lan sang cả Trung Quốc…
            Thành công của thi phẩm “Chủ nhật buồn” vượt xa mọi mong đợi. Cố nhiên, ngoài sự đau khổ của Jávor László, cần một ai khác phổ nhạc cho những vần thơ tang tóc đó. Ðó là Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, vụng về nhưng thiên tài: từ Quận VII bùn lầy nước đọng của thủ đô Budapest, ông đã có một bài ca được các cây đại thụ trong làng nhạc quốc tế xưng tụng.

Seress Rezső, nhạc sĩ thiên tài nhưng không biết nhạc lý
            Seress chào đời năm 1899 trong một gia đình gốc Do Thái và thường được gọi với cái tên “Seress bé nhỏ” vì ông chỉ cao hơn 1m55 chút đỉnh. Cả đời chỉ chơi nhạc buổi tối ở Kulacs và Kispipa, hai tiệm ăn nhỏ và đầy khói thuốc lá ở Budapest, nơi đầu thập niên 30 từng là nơi gặp gỡ của tầng lớp tiểu thị dân nghèo khó.
            Như hồi tưởng của người đương thời, chỉ ở giữa tiệm ăn họa chăng còn chút hơi ấm của chiếc lò sưởi gạch màu nâu, chứ khách khứa ngồi gần cửa ra vào vẫn phải mặc nguyên áo khoác vì lạnh lẽo. Hầu như thực khách không mấy khi thấy rõ Seress ngồi khuất sau chiếc dương cầm.
            Miệng phì phèo thuốc lá, giọng khản đặc, chỉ chơi dương cầm kiểu “mổ cò” với hai ngón của bàn tay phải, lần mò tìm nốt nhạc, vậy mà theo lời kể của người đương thời, hàng ngày, từ 6 giờ tối đến rạng sáng, Seress đã tạo nên một bầu không khí “bốc lửa” tại nơi ông chơi nhạc.
            Otto Klemperer, nhạc trưởng lừng danh người Đức đã có lời nhận xét ngắn gọn về Seress: “Không phải nhạc sĩ – chỉ là thiên tài”. Chắc chắn như thế, vì trong 40 năm ròng rã của đời nghệ sĩ, Seress không hề biết viết, biết đọc bản nhạc, ông cũng không biết hát theo nghĩa thực của từ này.
            Cách sáng tác của Seress cũng đặc biệt: vừa huýt sáo, ông vừa ngẫm nghĩ và khi được giai điệu nào “hợp lý”, ông nhờ người ghi lại thành bản nhạc. Thô sơ vậy nhưng Seress là tác giả của ít nhất 40 ca khúc đỉnh cao mà nhiều người Hungary cho rằng không tồi hơn, thậm chí, có thể còn hay hơn “Chủ nhật buồn”!
            Vào thời điểm “Chủ nhật buồn” ra đời, báo chí đã viết về người nhạc sĩ như sau: “Ở nước ngoài, nếu một nhạc sĩ chỉ sáng tác được một phần tư số ca khúc được ưa thích so với Seress, thì người ấy hẳn phải sống vương giả, có nhà lầu, xe hơi, và có thể lựa chọn các hợp đồng phim ảnh. Còn Seress thì chơi dương cầm ở một quán nhỏ, thù lao “vương giả” mỗi tối là vài đồng và một bữa tối thanh đạm”.
            Cho dù đã có rất nhiều tiền tác quyền trong các ngân hàng ngoại quốc, nhưng Seress không bao giờ đặt chân ra nước ngoài và cũng không bao giờ đụng chạm được đến những khoản tiền đó. Sau Ðệ nhị Thế chiến, Hungary về phe thua cuộc và số tiền của ông đã bị “đóng băng” với lý do… nước Hung phải bồi thường thiệt hại chiến tranh cho Đồng minh!
            Không chỉ là tác giả phần nhạc của “Chủ nhật buồn”, Seress Rezső còn đặt lời hai cho ca khúc, biến bài hát từ một bản tình ca thành một tác phẩm với âm hưởng của ngày tận thế với những câu như: “Mùa thu tới và lá vàng rơi – Tình người chết rục trên đất này”.

Seress Rezső: Từng thoát chết trong gang tấc để rồi lại tự vẫn quyên sinh
            Cảm hứng ấy được tạo bởi những trải nghiệm cá nhân: cuối Đệ nhị Thế chiến, vì nguồn gốc Do Thái của mình, Seress Rezső bị bắt vào trại tập trung và trong khoảnh khắc kinh hoàng, khi phải tự đào hố chôn mình, một sĩ quan Đức từng nghe ông hát “Chủ nhật buồn” tại Budapest trước đó vài năm đã cứu ông khỏi cái chết chắc chắn.
            Những năm tháng sau đó dưới thời Cộng sản, cái tên Seress Rezső cũng bị đưa vào danh mục cấm vì chính quyền cho rằng các sáng tác của ông mang yếu tố độc hại, hơn nữa, theo cách nói thời bấy giờ, chúng “phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc”.
            Năm 1956, khi mấy trăm ngàn dân Hung di tản sau cuộc cách mạng mùa thu bị Liên Xô đàn áp, Seress đã có thể ra nước ngoài và bạn bè ông cũng khuyên nhà nhạc sĩ như vậy. Nhưng không gì khiến Seress rời nước Hung! Ông quá yêu vô mảnh đất Budapest và trong 10 năm cuối đời, không bao giờ ông bước khỏi Quận VII nơi ông sinh sống và chơi nhạc.
            Lúc sáu mươi chín tuổi, tháng 1-1968, khi biết mình lâm trọng bệnh, Seress đã tìm đến cái chết vào một ngày thứ Hai buồn bã bằng cách nhảy từ cửa sổ căn hộ ông sống, tại tầng 4 một tòa nhà. Cả đời bị ám ảnh bởi cái chết, bài ca do ông phổ nhạc và đặt một lời cũng là một “tình ca chết chóc”, vậy mà chính cái chết đã đưa Seress vào bất tử, như bản “Chủ nhật buồn” trước đó 35 năm.

Phiên bản tiếng Việt của Phạm Duy dựa theo bản tiếng Pháp
            Không chỉ nổi tiếng trên thế giới, “Chủ nhật buồn” còn được biết đến ở Việt Nam rất sớm, từ đầu thập niên 50, qua lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong một hồi tưởng, nhạc sĩ cho biết trong thời gian du học ở Pháp, ông rất yêu những bản nhạc tình của một nữ nhạc sĩ Pháp đương thời và có soạn lời tiếng Việt cho một số bài của cô, trong đó, có bản “Chủ nhật buồn” mà Phạm Duy nghĩ là đã được phóng tác từ dân ca Hung-gia-lợi.
            Ca từ của bản tiếng Việt, mặc dù, như lời Phạm Duy, là được phỏng theo bản tiếng Pháp, nhưng lại theo sát và phản ánh tinh thần của nguyên bản một cách tài tình và đáng phục: “Chủ nhật buồn, đi lê thê – Cầm một vòng hoa đê mê – Bước chân về với gian nhà – Với trái tim cùng nặng nề…”
            Bài ca do Phạm Duy đặt lời được du nhập vào Việt Nam đúng lúc đất nước phân ly, lòng người tan nát và tao loạn. Như Phạm Duy nhận xét, “Chủ nhật buồn” có thể đã ảnh hưởng nhiều đến dòng nhạc tình nói về thân phận những cặp tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng và nhức nhối, với tâm thức có thể xa nhau (vĩnh viễn) bất cứ lúc nào, xuất hiện ở miền Nam cuối thập niên 50 thế kỷ trước.
            Phạm Duy nhìn thấy ảnh hưởng và dấu ấn khá rõ ràng của “Chủ nhật buồn” trong “Lời buồn thánh”, một nhạc phẩm tân lãng mạn của Trịnh Công Sơn, hoặc trong nỗi buồn của ngày Chủ nhật mùa mưa ở ca khúc “Tuổi đá buồn”: “Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang – Từng ngón tay buồn em mang em mang – Đi về giáo đường, ngày Chủ nhật buồn…”
            Ra đời cách đây gần tám thập niên, cho đến nay, “Chủ nhật buồn” vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều ca sĩ, ban nhạc với những cách thể hiện khác nhau của bài hát. Mang tâm tình của một cá nhân (Jávor László), được thăng hoa bởi nét nhạc và tâm tự sầu cảm của Seress Rezső, “Chủ nhật buồn” xứng đáng là một ca khúc vượt thời gian của dòng nhạc tình quốc tế thế kỷ thứ XX!


HOÀNG NGUYỄN & TRỌNG NGHĨA
Tháng 7/2011


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20110701-%E2%80%9Cchu-nhat-buon%E2%80%9D-ban-tinh-ca-%E2%80%9Ctuyet-mang%E2%80%9D-day-huyen-thoai

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #21 vào: 11/05/2017, 12:53:17 »
Những bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng Việt

Gần năm thế kỷ trôi qua, những bài học đạo đức ý nghĩa được truyền tải một cách dí dỏm và hấp dẫn trong Thơ ngụ ngôn La Fontaine dường như vẫn còn giá trị trong thời hiện đại. Sau bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh được in thành sách lần đầu tiên vào năm 1916, một số dịch giả khác, trong đó có Nguyễn Trinh Vực, tiếp tục chuyển ngữ những vần thơ của thi hào Pháp một cách thuần Việt hơn và hợp với truyền thống Việt Nam. Kể từ đầu những năm 1980, nhiều nhà xuất bản như Giáo Dục, Kim Đồng, Văn Học, Thế Giới, Mỹ Thuật, luôn quan tâm tái bản Thơ Ngụ ngôn La Fontaine của hai dịch giả trên.

Bìa trang nhất và trang bốn, bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine (Les Fables de La Fontaine),
của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, năm 1943, BNF

THÁNG 01/2017, sau hơn 100 năm bản dịch sang tiếng Việt đầu tiên được phát hành, nhà xuất bản Nhã Nam và Hội Nhà Văn cho tái bản tác phẩm song ngữ Việt-Pháp Thơ Ngụ ngôn La Fontaine (dịch ra văn vần) do dịch giả Nguyễn Trinh Vực thực hiện với phần tranh minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh và được nhà xuất bản Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) phát hành năm 1945.
            Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, trưởng phòng bản quyền của NXB Nhã Nam, giải thích lý do chọn ấn bản song ngữ này:

            “Nhã Nam được thành lập bởi bốn người rất yêu sách và đam mê văn học mà trong số đó có một người sưu tầm sách cũ và sách cổ. Trong bộ sưu tập của anh đấy có cuốn Truyện cổ La Fontaine do dịch giả Nguyễn Trinh Vực dịch và họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa. Ngoài ra cũng có bản của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, cũng do họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa. Nhưng vì bản dịch của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có rất nhiều nhà xuất bản khác của Việt Nam tái bản rồi và bản dịch của Nguyễn Trinh Vực cũng là một bản dịch xuất sắc không kém cho nên Nhã Nam muốn giới thiệu lại bản dịch này cho độc giả, với các hình minh họa rất đẹp và đậm đà chất Việt Nam của họa sĩ Mạnh Quỳnh”.

            Đúng vậy, những vần thơ tiếng Pháp được dịch giả Nguyễn Trinh Vực tài tình chuyển sang các thể thơ dân gian Việt Nam quen thuộc, dễ đi vào lòng người như lục bát, song thất lục bát, lục bát gián thất hay thơ năm chữ, với nhiều điển tích cổ của Việt Nam. Nội dung câu chuyện lại rất đỗi bình dị, được hư cấu từ những nhân vật chính là những con vật thân quen, cùng với phần tranh minh họa gần gũi với văn hóa Việt của họa sĩ Mạnh Quỳnh càng lôi cuốn người đọc. Chính vì điểm này, Nhã Nam quyết định tôn trọng bản gốc năm 1945.

            “Ấn bản 2017 của Nhã Nam xuất bản Truyện cổ La Fontaine tôn trọng hoàn toàn bản được xuất bản lần đầu tiên. Tuy nhiên, có một số quy tắc chính tả đã thay đổi rất nhiều nên chúng tôi chỉ chỉnh sửa một chút xíu phần chính tả và dựa theo quy tắc chính tả hiện hành. Ngoài ra, các cách thức trình bày, minh họa và cách đặt minh họa từng trang, kể cả phần song ngữ, đều hoàn toàn tôn trọng theo ấn bản xuất bản lần đầu tiên”.

            Ấn bản năm 1945 chỉ được in mầu ở trang bìa đầu và cuối, còn bên trong là hình vẽ đen trắng. Đáng tiếc là có rất ít thông tin về sự nghiệp của Nguyễn Trinh Vực. Còn họa sĩ Ngô Mạnh Quỳnh (1917-1991) được biết đến như một họa sĩ tiên phong trong lĩnh vực sáng tác truyện tranh của Việt Nam. Ông là cây cọ chủ lực cho tờ báo nhi đồng đầu tiên Cậu Ấm – Nhi đồng giáo dục (02-05/1935), sau này được đổi thành Cậu Ấm Cô Chiêu (1935-1937). Khi minh họa cho Thơ Ngụ ngôn La Fontaine, những con vật hiện ra ngộ nghĩnh, thân quen dưới nét vẽ của Mạnh Quỳnh. “Ngay cả con vật dữ tợn như sư tử, sói… cũng đều biết cười! Và trông nét mặt chúng đáng yêu làm sao!”, như một nhà bình luận từng viết.


Bìa Truyện Ngụ ngôn La Fontaine, bản dịch của Nguyễn Trinh Vực năm 1945,
NXB Nhã Nam tái bản năm 2017

Dịch tác phẩm nước ngoài để làm giầu văn học và chữ quốc ngữ
            Trước bản dịch của Nguyễn Trinh Vực, cần phải nhắc đến bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều trí thức cựu học nhưng theo xu hướng cởi mở và trí thức tân học rất chú ý đến văn học Pháp. Với họ, dịch các tác phẩm Pháp là cơ sở để sáng tác văn học Việt Nam. Vì thứ nhất văn xuôi (văn vần) còn chưa phổ biến, ngoại trừ các thể loại thơ. Thứ hai, chữ quốc ngữ còn nghèo nàn và chỉ được một bộ nhỏ trí thức và quan lại sử dụng. Vì vậy, viết báo và dịch văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Pháp, là các cách hiệu quả để cải thiện và làm giầu chữ quốc ngữ.
            Lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, thi sĩ La Fontaine được phiên âm qua Hán-Việt là Lã Phụng Tiên. Khi làm chủ biên tờ Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo, ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch nhiều bài trong tuyển tập Thơ Ngụ ngôn La Fontaine và lần lượt đăng trên báo từ năm 1907, như Con ve và con kiến hay Con sói và con chiên con (con cừu)…
            Năm 1916, Nguyễn Văn Vĩnh cho xuất bản hai tập Thơ Ngụ-ngôn của La Fontaine tiên-sanh diễn quốc âm trong nhóm III của tủ sách “Phổ thông giáo khoa thư xã” (Bibliothèque franco-annamite de vulgarisation) do François-Henri Schneider, ông chủ nhà in kiêm nhà xuất bản cùng tên, thành lập. Cũng trong nhóm III, chuyên về Văn Học, Nguyễn Văn Vĩnh còn cho in thêm một số tác phẩm văn học dân gian khác của Pháp, như Truyện trẻ con của Perrault tiên-sanh diễn nôm (les Contes de Perrault), Télémarque phiêu lưu ký (les Aventures de Télémarque), Bil Blas de Santillane, Guilliver phiêu lưu ký (le Voyage de Guilliver)
            Năm 1928, lần đầu tiên tập Thơ Ngụ ngôn La Fontaine gồm 44 bài của Nguyễn Văn Vĩnh được họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa trong ấn bản do NXB Trung Bắc Tân Văn phát hành. Đến năm 1943, tập thơ được NXB Alexandre de Rhodes tái bản. Trong phần “Mấy lời của dịch giả”, nhà trí thức Nguyễn Văn Vĩnh viết:

            “Tập dịch-văn này tôi làm ra kể đã lâu năm lắm rồi, khi còn ít tuổi, chưa làm văn vần bao giờ, mà đọc qua thơ La Fontaine cũng phải cảm-hứng, chấp chảnh nên vần, tuy lắm câu văn còn lấc-cấc lắm, nhưng các bạn độc-giả, cũng nhiều ông xét quá rộng cho là dụng công dịch lấy đúng. Đúng đây là đúng cái tinh-thần, chứ không có nề gì những chữ “hổ” đổi làm “sư-tử”, “cái gậy” đổi ra “con chó”, khiến cho những người thắc-mắc được một cuộc vui, ngồi soi-bói từng câu từng chữ, mà kể được ra có ba bốn chỗ dịch lầm…”


Bản dịch Thơ Ngụ ngôn La Fontaine của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh in lần đầu năm 1916,
bản microfiche lưu tại BNF

Sức lôi cuốn gần 5 thế kỷ…
            Thơ ngụ ngôn La Fontaine nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng thế giới dù đã gần… 500 tuổi! Nhiều ấn bản đặc sắc, có minh họa hay sách đọc, vẫn thường xuyên được tái bản tại Pháp dành cho độc giả nhí từ 6 tuổi.
            Jean de La Fontaine sáng tác thơ ngụ ngôn (Fables) trong khoảng những năm 1668 đến 1696, dưới triều đại vua Louis XIV, nổi tiếng thịnh vượng trong vương triều Pháp. Văn hóa cổ đại, đặc biệt là văn học Hy Lạp-La Mã, rất được ưa chuộng trong giai đoạn này. La Fontaine sử dụng một loại hình văn học thuần cổ đại, đó chính là truyện ngụ ngôn, để dạy dỗ hoàng tử.
            Toàn bộ tác phẩm của La Fontaine được chia thành ba tập và lần lượt được đề tặng cho ba người thân cận của nhà vua: tập thứ nhất (xuất bản năm 1668) được dành cho thái tử kế nghiệp; tập thứ hai (1678) dành cho Quý bà Montespan, ái phi được nhà vua sủng ái từ bốn năm qua; tập cuối (1693) được đề tặng cho Louis de France, công tước vùng Bourgogne và là cháu của vua Louis XIV.
            Các câu chuyện ngụ ngôn, được kể bằng văn vần hay bằng thơ, miêu tả cỗ máy hoạt động của chính thể chuyên chế thông qua biện pháp nhân cách hóa một số loài vật, như con hổ tượng trưng cho vương quyền. Thông qua những đoạn hội thoại và khéo léo sử dụng nghệ thuật trào phúng giữa những con vật, các câu chuyện có dụng ý “uốn nắn những phong tục, tật xấu bằng tiếng cười” với một bài học đạo đức rút ra sau mỗi câu chuyện hoặc được giải thích ở cuối hay ngay đầu bài.
            Tôn trọng nguyên bản tập thơ được dịch từ năm 1945, NXB Nhã Nam giúp độc giả so sánh quá trình cải tiến của tiếng Việt, giới thiệu một tác phẩm văn học nổi tiếng của Pháp, song cũng qua đó, khẳng định những lời khuyên đầy ý nghĩa trong tập thơ ngụ ngôn vẫn còn giá trị trong xã hội hiện nay.

            “Khi tái bản hiện nay, thì sách song ngữ Anh-Việt sẽ phổ biến hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có rất nhiều người yêu văn học Pháp và yêu Pháp ngữ nên chúng tôi vẫn quyết định tái bản song ngữ Pháp-Việt, một phần là dành cho các học sinh học tiếng Pháp có thể trau dồi thêm. Ngoài ra, chúng tôi nghĩ khi đã tái bản một ấn bản cũ thì nên tôn trọng ấn bản đó và chỉ chỉnh sửa tối thiểu có thể. Tôi nghĩ là tác phẩm này vẫn được độc giả Việt Nam đón nhận, dù có nhiều người không biết tiếng Pháp, thì họ vẫn có thể đọc phần tiếng Việt và xem phần tranh minh họa mà bỏ qua phần tiếng Pháp. Còn những người quan tâm đến phần dịch và biết tiếng Pháp thì vẫn có thể tham khảo”.


THU HẰNG
Tháng 4/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170403-nhung-ban-dich-truyen-ngu-ngon-la-fontaine-sang-tieng-viet

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #22 vào: 16/05/2017, 16:30:58 »
Mười năm xa khuất Thanh Tâm Tuyền

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền từ trần tới tháng 3 năm nay 2016 là đúng 10 năm, ông mất hôm 22 tháng 3 năm 2006 tại xứ sở vạn hồ Minnesota, ít lâu sau chuyến về thăm mẹ ở Việt Nam trở qua.

Thanh Tâm Tuyền qua ống kính Trần Cao Lĩnh

1.– Trước 1975 với tư cách thanh niên thi hành nghĩa vụ quân sự trong thời chiến (chênh lệch nhau 2 tuổi), khoảng ba năm chót trong quân ngũ chúng tôi phục vụ tại cùng một cơ sở, cùng một phòng: Tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, ông tới với tư cách biên tập viên rồi trở thành phụ tá cho chủ bút Phan Lạc Phúc, tôi làm tờ báo từ tháng đầu tiên khi nó ra đời năm 1966 với tư cách thư ký tòa soạn. Thanh Tâm Tuyền còn giữ hai mục thường xuyên trên hai tờ báo bên ngoài do tôi chủ biên, với nhuận bút cao nhất: 2.500 và 1.500 đồng một bài khoảng 1800 chữ: Âm Bản trên Khởi Hành, và Sống-Viết, tùy bút văn học trên Thời Tập. Cả hai mục đều là những tiểu luận văn học cô đặc hằn nét luận thuyết nếu độc giả không đón đọc ngay cũng sẽ giữ lại để đọc sau. Có một mục ông rao trên Thời Tập thật hấp dẫn như sau: “Kể từ số tới – khởi đăng “Truyện Hà Nội” thời mới lớn trong kinh thành quá khứ của một thanh niên sẽ trở thành nhà văn sau này: Thanh Tâm Tuyền, loạt truyện ngắn được viết riêng cho Thời Tập.”
            Đúng thế, chính Hà Nội là khoảng quá khứ “lửa” và “nước” của ông. Không kể “Bếp Lửa” là tác phẩm văn xuôi đầu tay của Thanh Tâm Tuyền, không kể “Tôi không còn cô độc” là tác phẩm thi ca đầu tay của Thanh Tâm Tuyền, cả hai tràn đầy không gian và thời tiết Hà Nội, ông còn một quá khứ đau đớn ở Hà Nội còn ám ảnh, còn mơ hồ, còn lẩn khuất trong các tác phẩm của ông. Nó ở giữa người cha sinh đẻ xa khuất đột ngột và ông K., người cha dượng. Những ai đọc văn xuôi Thanh Tâm Tuyền hẳn đều cảm thấy một bóng dáng tranh tối tranh sáng, – ông không viết rõ mà viết trong bóng hình – nhân vật đã khuất bóng trong đời mình.
            Nhắc đến Thanh Tâm Tuyền người ta nghĩ ngay đến việc viết văn làm thơ, từ thái độ đến cung cách, sự việc. Cái gì cũng phải khúc chiết, sắc nét, hằn vết, không lơ mơ không ừ ào.
            Ông viết: “Anh có thấy không? Không ai nói viết thơ cả, viết thư thì có. Khi người ta nói làm văn, đó là có ý dè bỉu. Một nhà văn làm văn, thật không có gì miệt thị hơn lời ấy. Nhưng một người làm thơ lại là lẽ tự nhiên. Chỉ ngô nghê khi anh nói người làm thơ viết thơ.
            Như thế anh thấy gì?
            Giản dị hết sức, làm không phải viết. Làm thơ không cần viết. Không cần viết nghĩa là không cần tờ giấy, không cần cây bút, hơn thế không cần cả chữ. Phụ tùng hết thẩy. Một anh chàng làm thơ đã hùng hồn tuyên xướng: Nếu ai cướp mất bút tôi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá… Nghe cũng rung đấy, nhưng cần gì phải thế. Anh chỉ cần đọc lên cho người khác nghe. Thế là xong. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Thơ gốc như thế. Nó chỉ cần có tiếng nói, không cần chữ. Có chữ ghi chép lại càng hay
.” (Âm Bản đoạn số 2, Thanh Tâm Tuyền)
            Làm thơ đối với Thanh Tâm Tuyền diễn tả vắn tắt và rành rọt là như thế, bình dân hay cao xa cũng chỉ là như thế. Đó là thực tế mà nhiều lần giá trị hơn lý thuyết.
            Còn viết văn đối với ông ra sao?
             “Tôi muốn nhắc lại: viết đầu tiên phải ngồi xuống, phải cố định. Ngồi trước bàn, ngồi trong quán, trong vườn, trong nhà tù… Nhưng bắt buộc phải ngồi một chỗ. Phải ở lại một chỗ trong một thời gian. Những nhà văn “sống” nhất, phiêu lưu nhất, cũng thế thôi. Họ không thể viết khi đang đi. Người làm thơ có thể.
            Khi anh cầm bút là anh đã có một chỗ để ngồi. Anh không lang thang nữa. Cái gì đã đẩy anh tới chốn đó? Sức mạnh nào cầm giữ anh ngồi hý hoáy trong một cơn mê tình thức anh cố kéo dài? Mỗi người đều có những câu trả lời riêng tư.
            Tôi thì tôi nghĩ chúng ta đều bị cám dỗ. Văn chương là mối cám dỗ
.” (Âm Bản số 9)
            Như thế Thanh Tâm Tuyền không viết lý thuyết về việc viết văn. Ông chỉ diễn lại thực tế thôi. Cung cách như thế khiến ông tách riêng ra khỏi một tầng lớp chung chung.

2.– Một kỷ niệm về Thanh Tâm Tuyền, với người chứng là họa sĩ Lê Tài Điển hiện còn ở Paris.
             “Tại tòa soạn tạp chí Thời Tập nơi Thanh Tâm Tuyền viết thường xuyên có một chuyện khẩn cấp xảy ra cho ông, chắc chắn họa sĩ Lê Tài Điển còn nhớ, vì Điển là người đứng giữa. Tôi kể chuyện này ra vì nghĩ rằng nên kể khi nhân chứng còn đó.
            Hôm ấy như thường lệ, cứ khoảng bốn, năm giờ chiều là anh em bằng hữu tới tòa báo. (Năm 1972) Tôi đã giải ngũ sau đúng hai nhiệm kỳ quân dịch làm nhiệm vụ thanh niên thời chiến trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và nhật báo Tiền Tuyến – và đã trở về đời dân sự làm việc toàn thời gian cho mình từ sáng tới chiều được một năm.


Nhật báo Tiền Tuyến, nơi quy tụ một số tay viết

            Đang ngồi trước cửa nhà in Phúc Hưng, nơi đặt tòa soạn Thời Tập, với cô Ch. và nhà phê bình Nguyễn Nhật Duật, thì Điển tới. Ch. là người thiếu nữ mà y phục gồ ghề hạng nhất Sài gòn, mặc blouson da màu đen, quần da màu đen bó sát thân thể, đi giày bốt ống ngắn, và lái xe hơi La Dalat, là loại xe tương tự xe Jeep nhưng do Việt Nam chế tạo. Như cách ăn mặc, cô cũng rất ngổ ngáo và thẳng thắn trong chuyện đời. Cô tới thu tiền bán giấy in báo cho Thời Tập, còn nhớ là 7.000 đồng một ram 500 tờ, mỗi tháng phải cần 20 ram cho tờ báo, và khoảng 6 ram để in sách. Vừa trao cho cô 180 ngàn, còn đang ngồi uống cà phê thì Điển hiện ra ở cửa ngõ 51/51B đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn. Chúng tôi mang bàn ghế ra ngoài cửa nhà in ngồi, bên trong chật, 14 thợ in và một thợ máy đang làm việc, cái máy in cũ kỹ hiệu Đài Loan chạy rầm rầm.
            Lê Tài Điển vào đề ngay: “Thanh Tâm Tuyền đang cần 20 ngàn, cần ngay lập tức, bây giờ.” Anh đưa mảnh giấy T3 viết nguệch ngoạc cho tôi. Chữ T3 bao giờ cũng mạnh nét, hằn xuống mặt giấy, nếu lật tờ giấy thì thấy có thể đọc ngược qua mặt sau, vì nét chữ nổi lên gần muốn rách tờ giấy.
            Số là hai nhà văn Nguyễn Mạnh Côn và Duyên Anh nộp một dự án làm một cuốn sách lớn về Sự Tiến Triển của Việt Nam Cộng Hòa cho ông phó thủ tướng, Kiêm Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Nguyễn Văn Hảo. Dự án chỉ do 10 nhà trí thức văn nghệ sĩ viết, mỗi bài viết được trả nhuận bút 40.000 đồng, hơn một tháng lương của một đại tá có gia đình. Lúc ấy nhuận bút một bài viết tạp chí chỉ khoảng 1.500 đồng, chẳng hạn Tạp chỉ Văn. Riêng Thời Tập rao công khai với mọi người trả gấp đôi là 3.000 đồng một bài. Những ai nhận lời viết cho dự án nói trên được đưa trước một nửa, khi sách ra sẽ lãnh nốt nửa còn lại. T3 đã lãnh 20 ngàn, tới hạn chót không có bài, vì một lý do nào đó. Hẳn là Duyên Anh đòi lại từ lâu, nhưng tới hôm ấy là hạn chót, Duyên Anh đòi với một lời nhắn: Ngày mai tên tuổi Thanh Tâm Tuyền sẽ hiện lên mặt báo, kiểu báo Con Ong, nếu tới tối hôm nay anh không trả lại số tiền đã lấy.
            Trong mảnh giấy nhỏ T3 viết cho tôi, nói tới nước cùng: Anh có hai thùng sách quý, những cuốn sách nằm lòng của anh cả chục năm nay, anh muốn để lại cho tôi với giá 20 ngàn. Đọc xong mảnh giấy, tôi ngước lên nhìn họa sĩ Lê Tài Điển. Hẳn Điển đang quan sát nét mặt tôi theo mấy dòng chữ gán nợ của người bạn văn ở vào thế cấp bách.
            Khi viết những dòng này, chúng tôi không gặp nhau đã khoảng gần 20 năm nay. Nếu trí nhớ không lệch lạc, khuôn mặt Điển thường đăm chiêu, mái tóc dày, phủ xuống ót, vừng trán rộng có những nét hằn, tay cầm điếu thuốc lá đang cháy dở, có một sợi khói lẩn quất xung quanh; sợi khói này được châm tiếp bằng nhiều điếu thuốc đen. Và khi trả lời một câu hỏi, Điển hay nhún vai, có khi lại còn cười khẩy. Điển nhìn tôi không nói. Tôi khều Ch., chỉ cái túi da của cô, trong có 180 ngàn tiền mua giấy in báo tôi mới trả. Không biết từ lúc nào xấp tiền đã được cuộn tròn, quấn quanh bằng một sợi cao su. Tôi rút ra 10 ngàn đưa cho bạn, và nói: “Toa nói giùm moa chỉ có thế, và bảo Thanh Tâm Tuyền cứ giữ lấy thùng sách, khi nào cần thì moa lấy.” Tôi còn nhớ ngôi nhà của cây bút nòng cốt nhóm Sáng Tạo trong một con hẻm ở Gia Định.
            Khi nghe tin Thanh Tâm Tuyền qua được Hoa Kỳ, đang ở nhà một thân nhân ở New Orleans, tôi gọi điện thoại tới hỏi thăm. Giọng một người đàn ông nói: “Ông ấy nói là không tiếp ai cả.” Từ đó cho tới khi tác giả “Đào Thoát” qua đời, sự còn lại chỉ là văn chương. (Đoạn này trích lại từ tác phẩm “Những Mảng Rời” của Lê Tài Điển, trang 163-164, NXB Biển Khơi, Paris-Normandie, France, 2012.)

3.– Ðã lâu rồi người viết bài này còn nhớ có một câu phương ngữ ở quê hương: “Tháng Ba bà già chết rét.” Câu ấy không biết phát sinh từ bao giờ, và không biết nguyên do tại sao, hay chỉ nói về một vùng thời tiết quá lạnh, lạnh chết người? Nhưng trên một khoảng vài chục năm, do tình cờ thôi, người viết cũng lại ghi nhận, Tháng Ba chúng ta thấy có nhiều văn nghệ sĩ ra đi hơn là một vài tháng khác.
            Sau đây là những sự mất mát ấy, mất mát của Tháng Ba, từ gần tới xa:
            – Tháng Ba, 2016: Nhà thơ Hoài Khanh tác giả tập Dâng Rừng mất tại Biên Hòa.
            – Tháng Ba, 2016: Nhà biên luận Nguyễn Ngọc Bích mất trên trời, khi máy bay chưa đáp xuống Philippines.
            – Tháng Ba, 2014: Ký giả Vũ Ánh, nguyên chủ bút báo Viễn Ðông và báo Người Việt, mất ở Little Saigon.
            – Tháng Ba, 2011: Triết gia Phạm Công Thiện mất tại Long Beach.
            – Tháng Ba, 2010: Nhà thơ Hữu Loan, tác giả Màu Tím Hoa Sim, mất tại Nga Sơn, Thanh Hóa. Thi sĩ từng được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Khởi Hành năm 2009.
            – Tháng Ba, 2009: Nhạc sĩ nhạc trẻ Trường Kỳ trong phong trào Hippy ở Việt Nam trước 1975 mất ở Hoa Kỳ.
            – Tháng Ba, 2008: Nhạc sĩ Anh Việt (Ðại Tá Trần Văn Trọng, chủ tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội), mất tại San Jose.
            – Tháng Ba, 2006: Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền mất ở Minnesota.
            – Tháng Ba, 2004: Nhà văn Lê Xuyên, tác giả Chú Tư Cầu, mất tại Sài Gòn.
            – Tháng Ba, 2003: Nhà báo Nghiêm Xuân Thiện, nguyên chủ nhiệm nhật báo Thời Luận trước 1975 ở Sài Gòn, mất ở Ðức.
            – Tháng Ba, 2003: Họa sĩ CHÓE. (Viết hoa, vì hầu như các họa sĩ vẽ biếm họa Việt Nam và quốc tế đều ký tên một chữ, và viết chữ hoa), mất ở Virginia.
            – Tháng Ba, 2000: Học giả Ðỗ Trọng Huề (người soạn cuốn Việt Nam Ca Trù Biên Khảo cùng thân phụ là Ðỗ Bằng Ðoàn) mất ở Hoa Kỳ.
            – Tháng Ba, 1999: Nhà thơ Kim Y Phạm Lệ Oanh, dịch giả bộ ba tập Liêu Trai Chí Dị, tức cụ bà Trương Cam Khải, mất ở Virginia.
            – Tháng Ba, 1998: Nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo (Chỉ sợ đàn con quên Việt Ngữ), mất ở Little Saigon sau thời gian dài sống ở Canada.
            – Tháng Ba, 1997: Linh mục triết gia Kim Ðịnh, tác giả Việt Lý Tố Nguyên, Triết Lý Cái Ðình, mất ở San Jose.
            – Tháng Ba, 1997: Nhà văn Mặc Thu, tác giả Bão Biển, mất ở Sài Gòn.
            – Tháng Ba, 1996: Nhà làm phim Nguyễn Bá Thế từ trần.
            – Tháng Ba, 1991: Ký giả Nguyễn Ang Ca mất ở Bruselles, Bỉ.
            – Tháng Ba, 1987: Nhà văn Bình Nguyên Lộc mất ở San Jose.
            – Tháng Ba, 1986: Nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, trong nhóm Tự Do, chết trong khám Chí Hòa.
             (Các trích dẫn từ cuốn Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam, tác giả Viên Linh, 450 trang, phát hành vào tháng tới).
            Chúng tôi chỉ trích dẫn riêng về Tháng Ba mà thôi.


VIÊN LINH
Tháng 3/2016


www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Muoi-nam-xa-khuat-Thanh-Tam-Tuyen-2232006-5240/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #23 vào: 18/05/2017, 14:50:13 »
“Nam Quốc Sơn Hà”: Chân lý chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam

Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng. Một trong những minh chứng hùng hồn nhất cho tinh thần đó là bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” được cho là của danh tướng Lý Thường Kiệt.


Thời điểm ra đời bài thơ
            Đây là một bài thơ lịch sử phổ biến nhất ở Việt Nam, phổ biến vì nó thể hiện được chân lý toàn vẹn lãnh thổ bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam, dù có nghiên cứu sử hay không, thì người Việt Nam ai mà không biết đến câu: “Sông núi nước nam vua nam ở”. Thế nhưng, đến hiện tại, bài thơ này còn nhiều điểm chưa thống nhất giữa các tài liệu về tác giả, thời điểm ra đời và một số câu chữ trong bài thơ.
            Về thời điểm ra đời bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, hiện tại có hai thuyết khác nhau về thời điểm xuất hiện bài thơ, mà có lẽ là dựa chủ yếu vào hai tài liệu sau đây:
            Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp thời Trần phần “Truyện hai vị thần Long Nhãn, Như Nguyệt” chép:

            “Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng đem binh sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch. Hai bên đối lũy cùng cầm cự với nhau. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân hiện trên sông nói rằng: “Anh em thần, một tên là Hống, một tên là Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương, cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không theo được nên uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương hai anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc cứu sinh linh […] Đêm sau thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng từ phía nam sông Bình Giang tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình trên không, lớn tiếng ngâm rằng:
                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
                        Như hà Bắc Lỗ lai xâm phạm
                        Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
            Quân Tống nghe thấy, xéo đạp lên nhau mà chạy, mạnh ai nấy chạy thoát thân, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống vì thế đại bại mà về
”.

            Trong khi đó, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê thì ghi: “Nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn một nghìn người. Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta (người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ). Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:
                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
                        Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
            Sau đó quả nhiên như thế. (Hai anh em Trương tướng quân, anh tên là Khiếu, em tên là Hát, đều là tướng giỏi của Triệt Việt Vương. [Triệu] Việt Vương bị [Hậu] Lý Nam Đế đánh bại mà mất nước. Nam Đế gọi cho làm quan, hai người đều nói: “Tôi trung không thờ kẻ làm vua đã giết hại chủ mình”. Rồi ẩn mình trốn ở núi Phù Long, Nam Đế gọi mấy lần không chịu ra, mới hạ lệnh ai chém được thủ cấp hai người thì thưởng nghìn vàng)
”.

            Như vậy, một thuyết cho rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” xuất hiện khi vua Lê Đại Hành mang quân cự Tống năm 981, còn theo thuyết còn lại thì bài thơ ra đời khi Lý Thường Kiệt phụng mệnh vua Lý Nhân Tông mang quân chống giặc Tống xâm lăng hồi năm 1076-1077. Thế nhưng, khi đề cập đến bài thơ này đa số sách sử đều cho là gắn liền với trận đánh trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1076-1077. Như sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ hay Việt Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim đều cho rằng bài thơ xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt.
            Dù bài thơ xuất hiện dưới thời Lê hay thời Lý thì đến hiện tại chưa thấy tài liệu nào ghi rằng chính vua Lê Đại Hành hay tướng Lý Thường Kiệt sáng tác bài thơ hoặc đích thân họ đã ngâm bài thơ. Trong cả hai trường hợp các sách đều nói rằng là do “thần nhân” ngâm lên để làm khiếp sợ giặc Tống. Nói về “thần nhân” ngâm bài thơ, thì các sách cũng thống nhất rằng đó là hai thần Trương Hống và Trương Hát. Mà chuyện về hai vị thần này thì còn nhiều điều mờ mịt dù rằng đền thờ hai vị là có thật.

Một bài thơ chống ngoại xâm
            Dù là xuất hiện ở thời Lê Đại Hành hay thời Lý Thường Kiệt, thì bối cảnh lịch sử cũng là: đánh đuổi giặc ngoại xâm mà cụ thể ở đây là giặc Tống. Điều đáng chú ý đó là các sách đều ghi nhận là do thần nhân đọc hoặc được vang lên từ trong miếu thần nhân, và mục đích đều là: “đánh đuổi giặc ngoại xâm”, và kết quả đều là: thắng lợi.
            Các sách có đề cập đến câu chuyện này đều ghi nhận, khi nghe bài thơ, quân Tống kinh hãi và chạy tán loạn. Vì sao lại sợ hãi đến thế? Trước tiên là vì bài thơ đến từ các thần nhân, trong chuyện Lê Đại Hành thì các thần đích thân ngâm, còn trong chuyện Lý Thường Kiệt thì bài thơ được vang lên từ trong miếu thần. Mà dẫu cho đó là mưu kế Lý Thường Kiệt, thì Lý Thường Kiệt cũng muốn nhờ đến oai thần mà làm khiếp sợ quân xâm lược và Lý Thường Kiệt đã làm được, oai linh của thần nhân đất Việt đã làm khiếp sợ quân thù.
            Trong chuyện An Dương Vương mất nước vì để mất nỏ lẩy nỏ thần, sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như sau: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? Chuyện thần giáng đất Sần, chuyện đá biết nói cũng có thể là có. Vì việc làm của thần là dựa theo người, thác vào vật mà nói năng. Nước sắp thịnh, thần minh giáng để xem đức hóa; nước sắp mất, thần cũng giáng để xét tội ác. Cho nên có khi thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong. An Dương Vương hưng công đắp thành có phần không dè dặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư?” Nói như thế thì thần ở đây chính là linh khí của núi sông, là lòng dân vậy, thần làm theo ý muôn dân, nếu dân hộ thì thần hộ. Oai thần ở đây chính là oai linh của núi sông Việt Nam. Giặc Tống kinh hãi oai thần tức là kinh hãi cái chí khí bất khuất của dân tộc Việt Nam vậy.
            Vì sao quân Tống phải kinh hãi oai thần? Vì quân Tống đã làm trái đạo lý, mà trái đạo lý tức làm làm thần và người cùng oán vậy. Điều trái đạo lý của quân Tống đó là đã xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của một quốc gia.

Còn nhiều dị bản về nội dung bài thơ
            Trước hết cần khẳng định rằng bài thơ này không có tên, mà cái tên “Nam Quốc Sơn Hà” là do đời sau mượn bốn chữ ở câu thơ đầu và cũng là tinh thần của cả bài thơ để đặt tên cho bài thơ.
            Còn về nội dung của bài thơ, thì đến hiện tại cũng có nhiều dị bản. Đến như hai tài liệu chính yếu liên quan đến câu chuyện nêu trên cũng có chỗ khác nhau.
            Lĩnh Nam Chích Quái ghi:

                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
                        Như hà Bắc Lỗ lai xâm phạm
                        Bạch nhận phiên thành phá trúc dư
.

            Dịch nghĩa:
                        Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
                        Điều đó đã được ghi rõ trong sách trời.
                        Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
                        Thì lưỡi gươm sắt sẽ chém tan như là chẻ tre vậy.

            Còn Đại Việt Sử Ký toàn thư nhà hậu Lê chép:

                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
                        Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!


            Dịch nghĩa:
                        Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
                        Điều hiển nhiên đó đã được ghi rõ trong sách trời.
                        Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
                        Thì sẽ chuốc lấy bại vong.

            Bản lưu hành rộng rãi trong hiện tại mà Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim cũng ghi:

                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
                        Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!


            Ta thấy có sự khác nhau là “phân định” và “định phận”. Nếu dùng chữ “định phận” thì có vẻ thụ động hơn, tức được trời đặt để. Trong khi đó, chữ “phân định” thì có tinh thần tự chủ hơn, tức cũng do trời sắp đặt, nhưng mà sắp đặt theo chân lý, theo điều hiển nhiên. Và cũng đúng thôi, xã hội Việt Nam từ thế kỷ 15 bắt đầu chịu sự thống trị của Nho giáo, mà theo Nho giáo thì trời là “chân thiện mỹ”, là đại diện cho sự hoàn hảo, trời luôn làm điều tốt, điều hợp đạo lý cho con người. Hơn nữa, Nho sĩ ai mà không biết câu “nhân định thắng thiên”, tức nếu người quyết tâm cao thì cũng làm lay chuyển được ý trời. Mộc bản triều Nguyễn, di sản đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản tư liệu của nhân loại và được đưa vào chương trình “Ký ức thế giới” vào ngày 30-7-2009, cũng chép là “phân định”.
            Như vậy, dùng chữ “phân định” thì có vẻ hào hùng hơn và hợp lý hơn trong bối cảnh lịch sử là làm khiến sợ quân thù và khẳng định chủ quyền quốc gia như tinh thần mà bài thơ muốn truyền tải.
            Trong các bản trên, ta thấy có sự khác biệt giữa “Bắc Lỗ” – giặc phương Bắc và “nghịch lỗ” – giặc nói chung. Như vậy, từ một đối tượng ngoại xâm cụ thể là giặc phương Bắc đã đi đến giặc ngoại xâm nói chung. Điều đó cho thấy lập trường rất rõ ràng của người Việt Nam, là không chỉ giặc phương Bắc, mà bất kỳ kẻ ngoại xâm nào cũng không được phép và không thể xâm lược Việt Nam, nếu xâm lược thì sẽ chuốc lấy bại vong.
            Bàn về cách dịch bài thơ, sách giáo khoa ở Việt Nam và nhiều tài liệu khác đều chép bản dịch sau đây:

                        Sông núi nước Nam, vua Nam ở
                        Rành rành định phận tại sách trời.
                        Cớ sao lũ giặc xâm phạm
                        Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

            Bản dịch này dùng từ “vua” trong khi bản gốc là “đế”. Bản chữ Hán của bài thơ là:

                        南 國 山 河
                        南 國 山 河 南 帝 居
                        截 然 定 分 在 天 書
                        如 何 逆 虜 來 侵 犯
                        汝 等 行 看 取 敗 虛

            Ta thấy bản gốc là chữ 帝 – Hoàng đế, còn vua thì phải là 王 – vương. Hoàng đế là ngôi cao nhất, ngôi có quyền phong cho nhiều người làm Vua, nhưng Vua thì không bao giờ có quyền phong cho ai làm Hoàng đế. Các vua của ta xưa nay để sánh ngang với triều đình phương Bắc đều xưng là hoàng đế. Tuy vậy, Nho giáo của ta đề cao thuyết “trọng vương khinh bá”, tức chuộng việc cai trị tốt muôn dân trong nước chứ không có dã tâm đi hiếp đáp nước người, nên dân ta có vẻ đồng nhất hoàng đế và vua, như hay gọi vua Đinh Tiên Hoàng, vua Minh Mạng, hay vua Khang Hy, vua Càn Long… trong khi các vị này đều xưng là hoàng đế. Thế nhưng, nếu ở đây mà dịch Đế là Vua thì chưa thể hiện hết niềm tự tôn và tự tin rất mãnh liệt của tổ tiên ta.

Một bài thơ khẳng định chủ quyền quốc gia
            Như vậy, dù còn nhiều tranh cãi về thời điểm ra đời, về tác giả và về nội dung bài thơ, nhưng có một thực tế lịch sử đó là bài thơ đã tồn tại từ bấy lâu nay trong sử sách chính thống và trong dân gian, đó là dù Lê Đại Hành hay Lý Thường Kiệt thì hai vị này cũng đã thật sự đánh bại giặc Tống. Và điều quan trọng hơn hết không phải là lạc vào trong các chi tiết huyền sử, mà cần hiểu được bài học mà tổ tiên ta muốn gửi gắm cho thế hệ sau.
            Liên quan đến chủ đề này, giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille Cộng Hòa Pháp nhận định:

            “Trước tiên tôi xin nhắc lại một bản dịch bài thơ mà tạm gọi là của Lý Thường Kiệt, bản dịch của cụ Nguyễn Đổng Chi:
                        Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
                        Trên sách trời chia biệt rành rành.
                        Cớ sao giặc dám hoành hành?
                        Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
            Người ta không biết bài thơ này có phải của danh tướng Lý Thường Kiệt hay không, nhưng chúng ta cần phân biệt huyền sử với khoa học lịch sử. Trong bối cảnh tranh chấp quyết liệt giữa người Việt dưới thời Lý và người Trung Quốc dưới thời Tống, thì ta có thể xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc lập tự chủ của người dân Việt Nam. Theo ý tôi, cái ý nghĩa lịch sử nó sâu sắc hơn là sự kiện lịch sử.
            Xem lại bài thơ này ta thấy có ba điểm chính. Điểm đầu tiên là nguyên tắc độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam được phát biểu một cách rõ rệt. Thứ hai là nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Và thứ ba là nguyên tắc về bổn phận thiêng liêng của người Việt là phải bảo vệ tổ quốc của họ. Đó là ba ý chính để có thể suy luận rằng đây có thể là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của quốc gia Việt Nam.
            Còn trong bối cảnh thời sự ngoại giao của dân tộc Việt Nam hiện nay và những vấn đề ta phải đương đầu, tôi nghĩ thế này, qua bài thơ ta thấy một chân lý lịch sử rõ rệt là: ai đi ngược lại ba nguyên tắc đó sẽ đi đến thất bại. Nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện giờ, ai đi ngược lại chính nghĩa, dựa vào võ lực để xâm lược một xứ nhỏ, đều sẽ thất bại trước lịch sử
”.

            Tóm lại, bài thơ Nam Quốc Sơn Hà là một lời khẳng định hùng hồn cho một chân lý của tạo hóa là: đất nước Việt Nam là do người Việt Nam làm chủ, đó là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, bất chấp đó là ai, nếu đi ngược lại chân lý của tạo hóa là xâm lược lãnh thổ Việt Nam (hay của bất kỳ một quốc gia nào) thì chắc chắn sẽ chuốc lấy bại vong. Đây cũng chính là tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đã được thực tế lịch sử minh chứng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20121109-%E2%80%9Cnam-quoc-son-ha%E2%80%9D-chan-ly-chu-quyen-quoc-gia-cua-dan-toc-viet-nam-0

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #24 vào: 23/05/2017, 14:06:01 »
Giai thoại tình ca: 40 năm nhạc phẩm Love Story

Cách đây 40 năm, ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục. Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của danh ca Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt.

Ryan O’Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story

NHIỀU NHÀ phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.
            Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu). Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story. Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động. Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.

Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại
            Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey. Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ. Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu, mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra. Thành danh từ những năm 1962-1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70. Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình. Một giọng hát trau chuốt mài rũa tựa như một viên đá quý. Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva).
            Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller. Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal. Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.

Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim
            Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo, rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970. Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ, yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.
            Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành. Một lời thoại ở trong phim (“Love means never having to say you’re sorry”…) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ. Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết: Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles… và Tôi. Có người nói đùa rằng: Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.
            Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ. Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác. Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).

Thân thế tác giả bài hát
            Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur), tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm. Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.
            Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp. Thời thanh niên, ông trao dồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim. Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp những năm 1950.
            Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người. Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó. Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.
            Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ. Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.

Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca
            Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story? Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch. Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar. Từ năm đó trở đi, ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.
            Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc, bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau. Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau. Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.
            Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản, nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette (A Time For Us của Nino Rota). Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn. Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn. Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại. Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.


TUẤN THẢO
Tháng 3/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20110319-giai-thoai-tinh-ca-40-nam-nhac-pham-love-story

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #25 vào: 25/05/2017, 17:27:58 »
Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie

Được mệnh danh là nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám, Agatha Christie là nhà văn người Anh ăn khách nhất trên thế giới trong thể loại này. Theo sách kỷ lục Guinness, tính đến nay đã có hơn 2 tỷ quyển sách của bà đã được xuất bản trên thế giới. Lần đầu tiên tại Pháp, nhà xuất bản Editions du Masque cho ra mắt Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie.

Tiểu thuyết Agatha Christie đã được dịch sang hơn 100 thứ tiếng

HƠN BA THẬP NIÊN sau ngày bà qua đời, dường như chưa có tác giả nào soán ngôi Agatha Christie, trong lãnh vực tiểu thuyết trinh thám. Nhà văn này được xem như là một hiện tượng văn học và được giới chuyên gia dày công nghiên cứu không kém gì tác giả Arthur Conan Doyle, cha đẻ của thám tử tài ba Sherlock Holmes. Vào lúc mà mọi người tưởng chừng như đã biết hết mọi chuyện về bà, thì bất ngờ thay vào năm 2004, người cháu ngoại của bà (Matthew Prichard) phát hiện ra các quyển sổ tay bị bỏ quên trong một chiếc rương tại ngôi nhà của bà là Greenway House, ở vùng Devon.
            Tính tổng cộng có đến 73 quyển tập như vậy, trong đó nhà văn ghi chép tất cả những chi tiết trong cuộc sống thường ngày, những ý tưởng vừa nẩy sinh trong tâm trí, cách phác họa một câu chuyện, lối tạo dựng các nhân vật hư cấu. Do là sổ chép tay, cho nên có những đoạn rất khó đọc, khi thì bị gạch xóa, lúc thì viết tắt, đánh dấu hay chú thích bằng ký hiệu. Điều đó cũng có nghĩa là tất cả những quyển sổ tay này không có mục đích được phổ biến cho người đọc.
            Vì thế cho nên nhà nghiên cứu John Curran đã mất khá nhiều thời gian để giải mã tất cả các quyển sổ tay, rồi chắt lọc tập hợp lại thành một quyển sách dày hơn 500 trang. Sau khi được phát hành bằng tiếng Anh dưới tựa đề Agatha Christie’s Secret Notebooks, nay quyển sách này mới được dịch sang tiếng Pháp. Bà Marie Caroline Aubert, giám đốc nhà xuất bản Editions du Masque cho biết cảm nhận của mình về Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie (Les carnets secrets d’Agatha Christie).

            Khi đọc quyển sách này, tôi khám phá tác giả Agatha Christie dưới một góc độ mới. Người ta thường nói các nhà văn ít nhiều đưa mình vào trong các nhân vật mà họ tạo dựng. Đằng này, tánh tình phong cách các nhân vật chính trong tiểu thuyết rất khác với bà ở ngoài đời. Ở trong truyện, thám tử người Bỉ Hercule Poirot luôn luôn tuyên bố: ông làm việc có trật tự và phương pháp, mọi cuộc điều tra phải được tiến hành đúng theo quy trình. Đọc sổ tay của Agatha Christie, tôi mới nhận thấy là bà không có phương pháp làm việc, một nhà văn dồi dào tư tưởng sáng tạo, nhưng lại không biết thế nào là trật tự ngăn nắp. Do hay mau quên, cho nên bà ghi chép tất cả những gì cần phải nhớ vào sổ tay, từ chuyện đi chợ cần mua những gì, cho đến ngày sinh nhật của một người bạn, những chi tiết đôi khi nhỏ nhặt, nhưng bà sợ quên nên vẫn ghi.
            Vấn đề ở đây là bà không chỉ có một quyển sổ tay, mà lại có đến hàng chục quyển khác nhau. Có quyển thì để ở trong phòng khách, một quyển khác ở trong nhà bếp, rồi phòng ngủ, phòng tắm, hay ở ngoài vườn. Khi cần phải ghi chép thì bà lấy ngay cái quyển sổ tay nào gần nhất, nằm ngay ở trước mắt chứ không hề có ghi ngày tháng, hay đi theo một trình tự nhất định nào cả. Do đó, nhà nghiên cứu John Curran buộc phải sàng lọc lại, sắp xếp các lời ghi chép theo chủ đề và giữ lại những gì quan trọng nhất đối với người đọc, chẳng hạn như các ý tưởng liên quan đến diễn tiến hay bối cảnh của một câu chuyện, tâm lý cũng như cá tính của từng nhân vật mà Agatha Christie đang xây dựng trong tiểu thuyết của bà
.

Tác giả thích giết người bằng thuốc độc
            Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều quyển tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie được dựng thành phim. Cốt truyện hấp dẫn nhờ nhiều tình tiết thú vị, kịch bản gói ghém chặt chẽ nhờ diễn biến liền mạch, lối mô tả chi tiết của bà cũng giúp cho các nhà làm phim dễ hình dung ra bối cảnh và mô-típ nhân vật. Theo bà Marie Caroline Aubert, tất cả những ưu điểm đó là do óc sáng tạo khác thường của nhà văn người Anh.

            Như tôi đã nói, nhà văn Agatha Christie không làm việc theo phương pháp. Nơi bà không hề có chuyện ngồi vào bàn giấy mỗi buổi sáng rồi viết tay hay đánh máy trong vòng vài tiếng đồng hồ. Ngược lại, bà viết theo ngẫu hứng bất chợt, tư tưởng sáng tạo của nhà văn này dựa trên trực giác và linh cảm vì bà quan niệm rằng nếu quá bám theo lô-gíc của câu chuyện, thì sự hợp lý đó đâm ra dễ suy đoán. Cảm hứng của Agatha thường nẩy sinh trong những tình huống mà bà bắt gặp trong đời thường, bà ghi chép nó vào sổ tay chứ không dùng ngay, và đến một lúc nào đó thì chi tiết này lại được đưa vào tiểu thuyết như thể nó cần một thời gian để được tiêu hóa nghiền ngẫm.
            Lối quan sát tinh tế tỉ mỉ của nhà văn giống như là một cái tật, buộc bà phải bà ghi chép đủ mọi thứ. Thời còn trẻ, bà làm việc trong một bệnh viện rồi sau đó trong một cửa hiệu bán thuốc tây. Điều đó có thể giải thích vì sao nhiều vụ án mạng trong tiểu thuyết của bà thường là bằng thuốc độc. Trong quyển sổ tay, Agatha lập ra một danh sách của đủ loại thuốc độc có thể tìm thấy, ở trang 21 của quyển sách bà liệt kê tất cả những nhân vật có thể trở thành nạn nhân, cũng như những nguyên nhân thúc đẩy thủ phạm ra tay giết người. Bằng cách này, tác giả muốn tạo ra sự bất ngờ nơi người đọc, bởi vì bất cứ nhân vật nào cũng có thể là hung thủ, cũng có đủ lý do để gây ra án mạng. Quyển sổ tay cũng cho thấy là đôi khi bà bỏ hẳn nhiều đoạn để viết lại từ đầu, có lẽ cũng vì Agatha Christie muốn chọn cái kịch bản khó suy đoán nhất, và như vậy buộc độc giả phải tự suy nghĩ cùng một lúc về nhiều giả thuyết khác nhau
.

Giai thoại ly kỳ về sự mất tích của Agatha
            Sinh thời, Agatha Christie tuy rất nổi danh nhưng lại có một phong cách khiêm tốn kín đáo. Tác giả này ít khi nào khoe khoang hay phô trương đời tư của mình. Nhưng theo bà Marie Caroline Aubert, nhà văn người Anh thật ra là một phụ nữ đầy cá tính. Bề ngoài có vẻ dửng dưng lạnh lùng, nhưng bên trong lại đầy nhiệt huyết đam mê, một mạch nước ngầm dữ dội dưới mặt hồ phẳng lặng.

            Có một giai thoại được giữ kín trong cuộc đời của Agatha Christie mà cho đến sau này người ta mới biết. Nhưng giai thoại ấy đủ để nói lên bản lĩnh của một người đàn bà cầm bút. Số là Agatha không có nhiều hạnh phúc trong đời tư. Thời còn trẻ bà thành hôn với một sĩ quan không quân (đại tá Archibald Christie), hai người chỉ có một đứa con gái duy nhất trong vòng 14 năm chung sống. Vào cuối năm 1926, Agatha phát hiện chồng mình có quan hệ ngoại tình với một phụ nữ khác. Nhưng thay vì đánh ghen và trả đũa ông chồng ăn vụng, Agatha Christie đột nhiên mất tích trong vòng nhiều ngày liền. Vào thời đó, sự kiện này đã khiến cho dư luận bàn tán xôn xao. Báo chí tìm thấy chiếc xe của bà bị đổ ở ngoài đồng, cửa xe mở toang như thể bà bị kẻ lạ mặt bắt cóc.
            Đến 10 ngày sau, người ta mới tìm thấy bà đang ở trọ trong một khách sạn. Bà mướn phòng trọ dưới một cái tên khác lạ. Khi được hỏi vì sao, Agatha nói rằng tinh thần của bà bị suy sụp sau cái chết của người mẹ, đến nỗi mất trí nhớ. Nhưng thật ra cái tên mà bà đã dùng để mướn phòng khách sạn chính là cái tên của người phụ nữ dan díu với chồng mình. Do sự kiện này được đăng tải trên báo chí, nên dĩ nhiên là chồng của bà Agatha khi đọc báo hoảng hồn hiểu ngay là vợ ông muốn nói gì. Vào lúc đó, chỉ có những người ở trong cuộc mới hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện. Hai vợ chồng ly dị đúng hai năm sau. Giai thoại này cho thấy trí tưởng tượng khác thường của Agatha Christie. Bà thường hay nói là bà bị ám ảnh bởi các nhân vật trong tiểu thuyết, và bà so sánh lối sáng tác của mình như một cái nồi đang để ở trên bếp đun lửa nhỏ, thức ăn trong nồi không bao giờ bị khét nhưng điều đó luôn buộc bà phải quan tâm canh chừng
.

            Ngoài các mẩu chuyện thú vị, cũng như các chi tiết liên quan đến hai nhân vật chính trong tiểu thuyết của Agatha Christie là hai thám tử Hercule Poirot và Miss Marple, các quyển sổ tay bí mật chủ yếu giúp độc giả hiểu thêm về tác giả, với một góc nhìn từ hậu trường. Trong các quyển sổ tay, bà thường ghi chép nhiều dòng cảm nghĩ về các nhân vật chính cũng như nhân vật phụ mà bà đang tạo dựng, từ thân thế, tiểu sử cho đến tánh tình và sở thích. Điều đó phần nào cho thấy nỗi ám ảnh của tác giả đối với các nhân vật hư cấu, họ có bề dày và chiều sâu y như là người thật mà ta có thể bắt gặp ở ngoài đời.

Tưởng chừng viết thử, nào ngờ quá hay
            Trí tưởng tượng phong phú dồi dào Agatha Christie khiến cho người đọc có cảm tưởng có mặt tại chỗ như trong quyển Án mạng trên sông Nil, (Death on the Nile) hay trong tác phẩm Vụ án trên chuyến tàu tốc hành phương Đông (Murder on the Orient Express). Các cuộc điều tra ly kỳ của Hercule Poirot hay của Miss Marple tạo ra nhiều sự gay cấn hồi hộp, khiến người đọc khi cầm sách trong tay muốn đọc liền một mạch, như thể cặp mắt bị dán vào các dòng chữ sinh động. Bà vào nghề sáng tác một cách khá ngẫu nhiên: từ thời còn nhỏ Agatha Christie được gia đình khuyến khích viết văn, nhưng chỉ thật sự cầm bút sáng tác sau khi bị người chị ruột thách thức có dám chọn nghề viết lách hay chăng.
            Tưởng chừng làm thử một cú, nào ngờ trở thành bậc thầy. Khi còn sống, tác giả đã cho phát hành gần 70 quyển tiểu thuyết, hơn 50 truyện ngắn, 30 vở kịch cũng như hai tập hồi ký và nhật ký. Quyển sách vừa được trình làng của nhà xuất bản Editions du Masque còn bao gồm thêm hai truyện ngắn chưa từng được phổ biến của Agatha Christie. Điều đó làm giàu thêm tủ sách của tác giả này. Sinh thời, bà đã được đăng quang, lên ngôi nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám. Đúng 35 năm sau ngày qua đời, ngòi bút đầy ma lực của Agatha tiếp tục hớp hồn nhiều thế hệ độc giả, trẻ cũng như già.


TUẤN THẢO
Tháng 5/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20110527-nhung-quyen-so-tay-bi-mat-cua-agatha-christie
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #26 vào: 30/05/2017, 20:56:12 »
Thi sĩ Bùi Giáng, nhà thơ kỳ lạ

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông là một nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam, ông nổi tiếng từ thập niên 1960 với thi tập Mưa Nguồn.

Thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998)

Nhà thơ đa tài
            Thuở nhỏ ông theo học tại học Trường Bảo An tại Ðiện Bàn (Quảng Nam), học trung học ở trường Thuận Hóa (Huế). Tháng 5 năm 1952 Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa. Cũng trong năm này Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.
            Từ 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết học trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tập thơ “Mưa Nguồn”, xuất bản năm 1963. Bùi Giáng mất ngày 7 tháng 10 năm 1998, tại Sài Gòn, thọ 72 tuổi.
            Nhà văn Phạm Xuân Đài, người có liên hệ mật thiết và chia sẻ kỷ niệm với nhà thơ cũng như đã viết nhiều bài về Bùi Giáng nói về tập thơ Mưa Nguồn như sau:

Trang trọng tỉnh táo
Nhà văn Phạm Xuân Đài: Ngôn ngữ của Mưa Nguồn trang trọng và tỉnh táo. Đây là một tập thơ được xuất bản đầu tiên của Bùi Giáng vào năm 1963, trong đó chứa đựng cả những bài thơ làm từ mười mấy năm trước đó, tức là khi tác giả còn khá trẻ, chỉ ở trong lứa tuổi hai mươi của cuộc đời thôi. Ta có thể thấy từng bài được chăm chút rất là kỹ lưỡng, và tác giả đã lựa chọn để đưa vào tập thơ.
            Trong Mưa Nguồn bây giờ chúng ta có thể tìm thấy những bài thơ vào hạng nổi tiếng nhất của Bùi Giáng, chẳng hạn như bài “Chào Nguyên Xuân” với những câu bất hủ:

                        Xin chào nhau giữa con đường
                        Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau
                        Tóc xanh dù có phai màu
                        Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng…


hoặc là câu:

                        Hỏi rằng người ở quê đâu
                        Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà


            Đó là những câu nhiều người biết.
            Hay là bài “Nỗi Lòng Tô Vũ” là một hoạt cảnh bầy dê giữa núi đồi. Bài này hiếm thấy trong thi ca Việt Nam với tâm tình cảm động của người chăn dê với đàn dê của mình. Bài này khá dài, tôi xin đọc bốn câu:

                        Và giờ đây một lời thề đã thốt
                        Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
                        Cao lời ca bê hê em cùng thốt
                        Hòa cùng lời anh nhạc nỗi thiết tha.


Âm hưởng Phạn Ngữ lẫn Pháp Hoa kinh
            Có lẽ nền văn học Việt Nam sẽ thiếu thốn biết bao nếu không có tên của một thi sĩ mà cuộc đời ông gắn liền với giai thoại, với hào quang, và cả với bóng tối. Tài thơ của ông cũng khác lạ như tính cách sống của ông: ngập ngừng với người này nhưng lại sang sảng và hào phóng với người kia.
            Với ai đồng cảm với thi sĩ thì từng chữ từng lời có ma lực quấn quýt không rời, nhưng ngược lại, với những trái tim nhạy cảm với thi ca, quen thuộc với những con sóng thơ mới thì ngôn ngữ của Bùi Giáng sẽ nhanh chóng nạt nộ người đọc bằng những con chữ lạ lẫm dày đặc ma âm của Phạn Ngữ lẫn Pháp Hoa kinh.

                        Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
                        Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa.
                        Gọi tên là một hai ba,
                        Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.


            Bốn câu nổi tiếng của Bùi Giáng mới đọc lên khác nào tiếng kệ của một chú tiểu ranh mãnh trả lời khách thập phương, nhưng lại man mác hình bóng của Nguyễn Du trong từng góc chữ.
            Đó là Bùi Giáng. Là bắt đầu một hành trình mà không thể dùng một từ ngữ nào chính xác hơn: hành-trình-Bùi-Giáng.
            Cuộc hành trình này kéo dài cả một kiếp người của thi sĩ trong trạng thái thờ thẫn, mông quạnh dưới sức nóng của một xã hội bị biến đổi đến tận gốc và cô đơn trong trạng thái u uẩn không thể rời ra. Nguyễn Du tự hỏi ba trăm năm sau biết ai còn nhớ tới ông chăng, thì Bùi Giáng lại có một câu trả lời ngộ nghĩnh cho chính mình:

                        Em về mấy thế kỷ sau
                        Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
                        Ta đi gửi lại đôi dòng
                        Lá rơi có dội ở trong sương mù


            Và đó là Bùi Giáng.

Phiêu bồng lãng bãng
            Bốn câu sau đây của Bùi Giáng nghe ra khó khăn hơn, u thần hơn nhưng với nhà thơ Đỗ Quý Toàn thì lại có khả năng mở ra một cõi khác trong nhân gian này, cõi của phiêu bồng, của thơ thới, và bãng lãng thu trôi:

                        Bây giờ xin ngó cụm cây
                        Chắp hàng viết nốt áng mây về trời
                        Phiêu bồng sáu cõi thu trôi
                        Ngàn mưa nhỏ giọt trang đời lạnh ghê!


Nhà thơ Đỗ Quý Toàn: Bây giờ nếu quý vị đọc bốn câu thơ đó thì quý vị đọc nó giống như là đọc một bài cách trí, một bài luận văn, bảo rằng câu này nghĩa là gì, câu này ý nói sao, thì làm như vậy là quý vị đã giã từ Bùi Giáng rồi, từ chối không có nhận Bùi Giáng vô trong lòng mình nữa rồi. Là bởi vì, tôi xin phép phân tích bốn câu thơ đó, như là một bác sĩ mổ xẻ thì chúng ta sẽ không cảm được cái thơ của Bùi Giáng.
            Bây giờ xin ngó cụm cây: Ai là chủ từ của chữ “xin” đó? Ai là chủ từ của động từ “ngó” đó? Có phải là thi sĩ đang xin người đọc hãy ngó cụm cây? Hay là chính người đọc đang tự nhủ mình là “ta hãy ngó cụm cây”, hay là chính thi sĩ đang nói chuyện với cây rằng “cho tôi ngó một chút”.
            Tất cả câu thơ sáu chữ đó chúng ta mà đem phân tích ra và đặt câu hỏi như vậy thì là giết luôn cả thơ. Chúng ta thử đọc “Bây giờ xin ngó cụm cây – Chắp hàng viết nốt áng mây về trời” thế là chúng ta để cho mây bay vào lòng mình, để cho mây bay về trời và tự nhiên trong lòng mình mở rộng ra với cả ông trời.
            “Chắp hàng viết nốt”, ai đang chắp hàng viết nốt? Có lẽ chính chúng ta đang đọc thơ và chúng ta đang viết câu thơ đó. Chúng ta viết mấy câu thơ đó lên trên mấy áng mây, chúng ta đưa mấy câu thơ đó theo áng mây về trời. Cảm nhận như vậy chúng ta mới tiếp cận được thi sĩ Bùi Giáng.
            “Phiêu bồng sáu cõi thu trôi”, tại sao lại sáu cõi mà không phải là bốn cõi, mười cõi, mười phương chư Phật? Tại sao lại thu trôi? Thế mùa thu nó trôi từ bao giờ? Cái mùa thu có ở đó hay là nó có vĩnh viễn từ ngàn năm và lúc nào cũng trôi ở trên bầu trời?
            “Ngàn mưa nhỏ giọt”, mưa ở đâu tới? Tự nhiên mình có thể mở lòng ra và nhận hàng ngàn giọt mưa suốt bao nhiêu đời trong cái vũ trụ này.
            Và cuối cùng “trang đời lạnh ghê”, “Ngàn mưa nhỏ giọt trang đời lạnh ghê” tự nhiên chúng ta đang bay đi theo mây, theo thơ về trời, theo thời gian về ngàn năm, chúng ta lại trở lại với cái tấm lòng của mình và cảm thấy run lạnh giống như chúng ta run lạnh trước cái vũ trụ bao la.
            Và thi sĩ tặng chúng ta tất cả những cái cảm giác đó với bốn câu thơ lục bát, nếu chúng ta không tiếp nhận một cách phiêu bồng, một cách thơ thới thì chúng ta không bao giờ hòa mình được với cái thơ của Bùi Giáng.

Tính cách thơ lục bát mới
            Nhà phê bình văn học Thụy Khuê có những nhận xét tuy ngắn về Bùi Giáng nhưng đã mô tả được nét tổng thể của tài thơ này:

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê: Nói chung nếu khi mà mình đã lựa lọc ra trong tất cả những sáng tác của Bùi Giáng về thơ thì bao giờ cũng kiếm ra được những câu thơ có thể gọi là tuyệt tác. Cái hay của Bùi Giáng trong thơ, tức là ông đã đưa ra một hình thức thơ lục bát rất mới, nó không còn là ca dao nữa mà nó đi vào cái tiến trình triết học hiện sinh.
            Thành ra là một phần của Bùi Giáng chúng ta có thể nói như là một cái sự hòa hợp được hai cái dòng tư tưởng Đông phương và Tây phương với nhau trong cái lục bát của Bùi Giáng.
            Trong thơ của ông, ông vừa vận dụng ca dao, ông vừa vận dụng những hình ảnh của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, nhưng mà đồng thời ông lại cũng đưa thêm vào những hình ảnh rất là hiện sinh, rất là siêu thực; thành ra cái tính cách thơ lục bát của Bùi Giáng đã khác hẳn với lại những cái gì mà chúng ta quen đọc và quen thấy trong ca dao hay là trong thơ lục bát bình thường. Cái công của Bùi Giáng trong thi ca là như vậy.

Một đời khổ hạnh lãng tử
            Bùi Giáng sống một đời cùng khổ, bất hạnh dưới cái nhìn của những người bình thường, nhưng lại phiêu hốt lãng tử và hỉ xả với tha nhân dưới cái nhìn của những thiền tông. Cách nhìn nào thì vẫn có cái mộc đóng tên Bùi Giáng bên dưới, Bùi Giáng không thể bắt chước, và cũng không thể bị từ chối. Đó cũng là đặc trưng Bùi Giáng trong đời sống thật cũng như trong thi ca của ông.
            Nhà phê bình Đặng Tiến ghi nhận những đóng góp của Bùi Giáng trong thời gian đầu trước khi ông lâm vào trạng thái chìm đắm sâu dần vào hôn mê tri thức:

Nhà phê bình Đặng Tiến: Khoảng từ 1950 đến 1960 thì ông Bùi Giáng làm thơ lúc đầu óc ông rất là sáng suốt. Chỉ từ cuối thập niên 1960 thì ông mới bị tâm thần một phần nào đó. Trong khi ông bị tâm thần thì cũng có lúc sáng suốt. Nhưng mà những bài thơ nổi tiếng nhất của ông là những bài thơ làm lúc sáng suốt và những bài thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao và giá trị tư tưởng cao. Tôi đánh giá cao ông Bùi Giáng.

                        Chiều bên lá lung lay vàng cửa khép
                        Bóng trời sa trùm phủ tiếng em cười
                        Vườn cỏ lạnh hoa buồn không nói xiết
                        Bước chân dừng nghe rã lệ hai nơi

                        Lời hẹn ước em nghiêng đầu tóc xõa
                        Ðể than van sầu thiên cổ theo nhau
                        Hồn tuổi trẻ bay trở về giữa dạ
                        Nhờ dung nhan em bất tuyệt xuân đầu

                        Trời thuở đó ngần nào em khổ sở
                        Khóc khi nhìn gió thổi nước sương buông
                        Tìm xa vắng bên kia bờ đổ vỡ
                        Giòng sông em đâu có biết ngọn nguồn.


            Bài Dòng Sông mà quý vị vừa nghe qua giọng đọc của Việt Long xin được làm câu kết vì nói về Bùi Giáng thì biết sao cho hết, nhất là đi sâu vào những uẩn khúc ngữ nghĩa mà ông còn liến thoắng móc vào những câu lục bát thần tình của ông.


* * *

VĂN HỌC VIỆT NAM qua các biến cố lịch sử đã chứng kiến nhiều lần sự xuất hiện các nhân vật cự phách trong lãnh vực thi ca.
            Mỗi khuôn mặt mang một thần thái riêng, một nhân cách hay tài năng vượt trội và nhất là sự đóng góp của họ vào nền văn học Việt ngày một giàu có hơn. Trong số này, Bùi Giáng là một.
            Tài năng của ông biểu lộ xuyên suốt qua hơn nửa thế kỷ, an nhiên chiếm một chỗ rất lớn trong lòng người yêu thơ của nhiều thế hệ và những câu thơ tuyệt đẹp của ông vẫn còn khả năng gây tranh luận trong nhiều năm nữa.


Nhà thơ Bùi Giáng và bạn bè

Thi phẩm Mưa Nguồn
            Bùi Giáng lừng lững tiến vào khu vườn văn học Việt Nam với tư thế của một nhà thơ lớn ngay từ thi phẩm Mưa Nguồn đầu tiên cho in vào Năm 1963, và chỉ một thời gian rất ngắn, Mưa Nguồn trở thành một hiện tượng, một vùng sáng trắng chớp lên trong văn đàn Miền Nam.
            Những dòng thơ lục bát quen thuộc của thi ca bình dân qua cách tung hứng của Bùi Giáng trở thành lóng lánh âm thanh của một thứ ngôn ngữ lạ lùng nhưng lại thân quen của nhiều vùng quê Việt. Đặc biệt là xứ Quảng, nơi nhà thơ gửi lại cuống nhau trước khi vui chơi cùng hương đồng gió nội.

                        Ruộng đồng mọc cỏ hôm nay
                        Mừng vui thiên hạ bên này quên nhau
                        Bãi vui tự bữa hôn đầu
                        Máu se tàn lạnh triều đâu chia ngành
                        Bây giờ phố rộng xa anh
                        Mù sương quấn cỏ quận thành Phủ Chiêm
                        Cõi bờ con mắt hoa nghiêm
                        Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng.


Quyến rũ với thơ tự do
            Lục bát Bùi Giáng có ma lực của một bài kệ vang lên trong buổi tàn thu. Âm hưởng của lời thơ quấn quýt trong không gian có khả năng gây xao động những sợi tơ thi ca mong manh nhất của người thưởng thức.
            Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng vừa quen vừa lạ, không những trong lục bát mà còn quyến rũ cả ở những dòng thơ tự do mà hơn một lần nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cũng phải buột miệng trầm trồ:

                        Em hé cành cây xanh ngó lạ cười nhau rộng mở
                        Hàm răng. Thu qua em khóc bốn mùa sương ướt
                        tóc buồn bàn chân định bước về phía núi xa
                        xanh sớm tím chiều hoang gió dại thu rừng thu
                        rừng em ngó mắt nghe tai nắm cầm năm ngón
                        nhỏ nghe bốn phía lạnh nằm trong trái tim.
                        Máu xương lổ đổ biết mần răng đợi bóng sáng hôm
                        sau tuyết trắng như sầu băng thương nhớ

                        Em hé cành cây xanh cánh cửa bước vào trong
                        cõi ấy bờ xa gió rộng chạy dài. Em khóc cho
                        người nghe thổn thức sau khi cười cho thật
                        sung sướng người nghe. Miệng em và. Trái anh
                        đào lay lắt suối trong soi suốt một sớm mai tiên
                        nữ đi về gót vang lồng lộng em ồ em! ta định nói
                        hai tay năm ngón một lời man dại yêu thương

                        Kết vòng múa quanh vừng thu vời cành rơi lõa
                        xõa ngang đầu vai em mở ngực đợi chờ đã đến
                        phút rồi giây giờ xem vĩnh viễn xanh như trời
                        như đất đỏ cây xanh

                        Em hé cành cong xuống nghe bàn tay động vỡ
                        sương băng nói nhỏ nghe chừng như hơi thở
                        môi cười kia răng mở sẽ mai sau cùng chúng
                        bạn thưa rằng.


            Khó có thể phân biệt bài thơ “Xuân Xanh” mà chúng ta vừa nghe với những dòng lục bát mang đậm dấu ấn Bùi Giáng. Không còn vần điệu quen thuộc của câu sáu câu tám, nhưng trong Xuân Xanh vẫn ẩn hiện rất rõ những cách điệu, cùng những ẩn dụ và ngôn ngữ rất Bùi Giáng.

Thế giới hoang tưởng của Bùi Giáng
            Tiếc một điều, Bùi Giáng không ở lâu cùng một thế giới với chúng ta. Ông thuộc về một thế giới khác, thế giới ngập tràn ánh sáng của những hoang tưởng cực đại và cũng không thiếu những vùng tối cô đơn rợn người mà y khoa đặt chung một tên gọi là bệnh tâm thần.
            Nhà văn Phạm Xuân Đài kể lại:

            Về chứng bệnh tâm thần của Bùi Giáng, theo như tôi biết, chứng bệnh tâm thần của ông là có tính cách di truyền. Hồi nhỏ, trên bước đường đi tản cư, tôi được sống gần gia đình ông ở một vùng núi của Quảng Nam, và tôi đã chứng kiến chứng bệnh này nơi thân phụ của ông.
            Nói về cái điên của Bùi Giáng thì những cái hình ảnh của ông, ngôn ngữ và cử chỉ của ông trong lúc điên trở thành cái gì quá thông thường trên đường phố Sài Gòn suốt mấy thập niên của cuộc đời ông và được rất nhiều người đã biết. Nhìn gần hơn thì tôi có thể đọc lại một số câu mà tôi đã viết từ Năm 1992 trong bài “Kẻ cuồng sĩ trong vườn cây” để nói về cái điên của ông:
            “Bây giờ anh ít làm thơ lắm, còn cái tên điên thì viếng anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện tại vùng Chợ Trương Minh Giảng, tức chỗ Đại Học Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh trú ngụ, đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng. Anh đang thể hiện một năng lực nào đấy đang đầy ắp trong người anh.
            Có khi anh múa may trong một lớp áo loè loẹt, động tác mạnh mẽ, chính xác, gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ một đối tượng vô hình đang hiện diện ngay trước mặt mình. Đêm khuya, một hai giờ sáng, người ta nghe thấy một người vừa đi vừa tranh luận với chính mình, lời lẽ khó hiểu, thì ai nấy đều biết đó là Bùi Giáng.
            Chỉ có các em nhỏ là im thin thít. Đối với chúng, ông Bùi Giáng là ông ba bị thực sự hiện diện trên cõi đời này, gầy gò, dơ bẩn, tóc hoa râm có khi dài chấm vai, áo quần tả tơi, hay múa may la hét, đôi mắt sáng rực một cách ma quái sau cặp kính trắng.
            Tất cả thành viên các nhà trẻ vùng Chợ Trương Minh Giảng đều thất kinh trước hình ảnh ấy. Hình như nhà nào ở khu vực này cũng biết dọa con nít khóc nhè bằng câu “Ông Bùi Giáng đó! Nín đi!” Và câu dọa có hiệu lực tức thì. Nhưng, nhiều người lớn khi nói câu ấy thì cảm thấy một nỗi xót xa vô hạn, thương cho một người mà họ biết là trí thức và tài hoa nhưng định mệnh đã buộc anh phải tự thể hiện một cách dữ dội và khác thường như thế
”.

Tình yêu dành cho Kim Cương
            Bao vây Bùi Giáng là những giai thoại và thật khiếm khuyết nếu không nhắc đến một cái tên mà ông đã gắn bó trong hơn bốn mươi năm, đó là kỳ nữ Kim Cương. Mặc dù Bùi Giáng luôn cao giọng tung hô Marylin Monroe lẫn Brigitte Bardot, nhưng người mà ông yêu thương đắm đuối và bền bỉ nhất vẫn là Kim Cương.
            Trong một lần nói chuyện dành riêng cho chúng tôi, nữ nghệ sĩ Kim Cương kể lại:

            Cái huyền thoại của ông Bùi Giáng nhiều và vui lắm. Trong cái điên của ảnh (thì) nhiều cái cũng dễ thương lắm. Ảnh đứng làm chim bay cò bay đầu đường (làm) kẹt xe, đi không được, không ai kêu ảnh vô được hết. Mấy ký giả đi ngang mà thấy ảnh đứng như vậy, nhứt là đám nhỏ nhỏ nói “Kim Cương kêu ông ở đẳng đó”, thế là ảnh xách giỏ, xách nón chạy đi liền.

            Khi nhớ về những tình cảm mà nhà thơ dành cho mình trong suốt 40 năm, nghệ sĩ Kim Cương không khỏi ngậm ngùi:

            Đối với anh Bùi Giáng, (ảnh) đối với tôi trân trọng một mối tình như vậy cho dẫu ảnh không có bình thường, ảnh có khi điên khi tỉnh, mà tới khi ảnh nổi cơn điên thì tôi khổ với ảnh lắm, anh biết không!
            Ổng lại nhà kêu cửa mà không mở là ổng vác gạch ổng chọi mà ổng chửi tùm lum. Chịu đựng với ảnh bốn chục năm như vậy.
            Với tình cảm nghệ sĩ đối với nghệ sĩ thì tôi đối với ảnh cũng tương đối là ảnh vui, mặc dầu chắc chắn là giữa tôi với ảnh không bao giờ có chuyện yêu thương gì đến
.

Khi thơ là không khí để hít thở
            Bùi Giáng liên lỉ làm thơ như cần không khí để thở. Ông làm thơ khi tỉnh lẫn khi không tỉnh, và những bài thơ trong trạng thái tâm thần bất định này đôi khi làm nhiều nhà phê bình bối rối. Nhà phê bình Đặng Tiến nhìn lại những tác phẩm bất bình thường này như sau:

            Khoảng từ 1950 đến 1960 thì ông Bùi Giáng ổng làm thơ lúc đầu óc ổng rất là sáng suốt. Chỉ từ cuối thập niên 1960 thì ổng mới bị tâm thần một phần nào đó. Trong khi ổng bị tâm thần (thì) cũng có lúc sáng suốt. Nhưng mà những bài thơ nổi tiếng nhất của ổng là những bài thơ làm lúc sáng suốt là những bài thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao.
            Trong những bài thơ tâm thần của ổng có những câu hay, nhưng mà nói rằng thơ tâm thần là hay nhứt của ổng thì cũng không đúng.
            Ở Việt Nam mình chưa có truyền thống đánh giá những nhà thơ, những nhà văn tâm thần như là ở Tây phương, thành thử những người đánh giá cao thơ tâm thần của ổng thì thường thường cũng chỉ là tùy hứng thôi chứ không phải là dựa trên những phương pháp chặt chẽ về y học, về nghệ thuật, về ngôn ngữ để mà phân tích cho cẩn thận, mà nói cho khác người vậy thôi.
            Thơ tâm thần của ông Bùi Giáng dĩ nhiên là cái thơ khác đời, và những người khen thơ tâm thần của Bùi Giáng cũng muốn làm cho khác đời vậy thôi chớ còn không có một lý luận nào cho mạch lạc, hay nói cho đúng hơn là tuy tôi chưa đọc một bài báo nào mà có thể nói là thuyết phục về những thơ tâm thần của Bùi Giáng.
            Những bài hay nhứt về Bùi Giáng là những bài của Thanh Tâm Tuyền hay là Tuệ Sĩ thì chỉ dựa trên những câu thơ bình thường của ông ấy thôi, trong lúc ổng sáng suốt thôi
.

Ra đi trong thương tiếc
            Bùi Giáng ra đi trong niềm luyến tiếc của nhiều người yêu thơ ông và trong đó người chia sẻ niềm đau với ông lâu dài nhất không ai hơn được nữ kịch sĩ Kim Cương. Trong bài phát biểu cuối cùng trước linh cửu nhà thơ đúng mười năm về trước bà cho biết:

            Có lẽ là ba cái câu mà tôi cảm ơn ảnh có thể khái quát hết cái quá trình ảnh đối với tôi. Điều thứ nhứt tôi cảm ơn ảnh là ảnh đã để cho đời những tác phẩm rất là hay, là bất hủ trong cuộc đời. Thứ hai là ảnh đã cho tôi một mối tình đơn phương mà bốn chục năm không thay đổi. Và cái cảm ơn thứ ba là ảnh cho tôi một bài học là dù điên dù khùng hay là dù tỉnh, dù già, dù trẻ, con người ta sống cũng phải có một mối tình, một cái gì để dựa vô mà sống.

            Hình ảnh Bùi Giáng vai mang tay xách những thứ hỗn độn của đời sống trên đường phố Sài Gòn chừng như vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiều người đã từng biết ông.
            Còn những ai chưa có cơ hội gặp gỡ nhà thơ thì những vần lục bát thần tình của Bùi Giáng vẫn đủ ma lực mang đến cho người đọc những cảm giác thảnh thơi, chiêm nghiệm đời sống chung quanh bằng ngôn ngữ của một trích tiên vốn coi đời chỉ là cõi tạm.


MẶC LÂM
Tháng 10/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Bui-giang-a-mysteriuos-poet-mlam-10182008123006.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #27 vào: 01/06/2017, 22:51:38 »
Trần Hưng Đạo: Tinh hoa quân sự Việt Nam

Lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài những cuộc chiến chống ngoại xâm. Về mặt số lượng và trang bị vũ khí, quân đội Việt Nam chưa bao giờ ở trong thế “cân sức” với kẻ thù xâm lược. Ấy thế mà, kẻ thù luôn thất bại, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Việt Nam luôn được giữ vững. Một tấm gương tiêu biểu: Trần Hưng Đạo hồi thế kỉ 13 đã ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông.

Trần Hưng Đạo trong tranh dân gian Đông Hồ

NGUYÊN LÝ là: Dù nước Việt không hùng mạnh, quân Việt không đông, không có nhiều vũ khí, nhưng người Việt có nghệ thuật quân sự bách chiến bách thắng của riêng mình. Đó là một nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy đoàn kết và quyết tâm làm sức mạnh, lấy “đoản binh để thắng trường trận”, “quí ở tinh nhuệ chứ không ở số quân nhiều hay ít”, một nghệ thuật quân sự mà hồi thế kỉ 13 đã được danh tướng Trần Hưng Đạo “trình diễn” trong ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông.

Tấm gương học hỏi, tự rèn luyện
            Đến với Trần Hưng Đạo trước tiên là đến với một tấm gương tự rèn luyện và học hỏi không ngừng để hoàn thiện bản thân đem trí tài phục vụ cho dân cho nước. Về vấn đề này, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần tại thành phố Hồ Chí Minh, người có nhiều công trình lịch sử Việt Nam có giá trị, ông nhận định:

            “Trần Hưng Đạo sinh ra trong một bối cảnh khá đặc biệt. Ông chào đời có lẽ là vào năm 1231. Tôi nói là có lẽ bời vì đến hiện nay tôi đã tập hợp được nhiều tài liệu Hán cổ, nhưng chưa một tài liệu nào xác định một cách chính xác năm sinh của ông. Có điều, dựa trên sự phân tích sử liệu, chúng ta có thể đoán chừng ông sinh năm 1231 và mất năm 1300, hưởng thọ 70 tuổi ta, 69 tuổi tây.
            Bối cảnh ra đời của Trần Hưng Đạo như thế nào? Ông chào đời vào lúc nhà Trần vừa mới được thành lập, kinh tế rất đổ nát, chính sự rất rối ren bởi những di hại của triều Lý để lại.
            Về đối nội, phong trào chống lại họ Trần cũng bùng nổ khá mạnh mẽ, đó là lực lượng của Đoàn Thượng, lực lượng của Nguyễn Nộn. Và chưa kể rằng nội bộ nhà Trần tuy mới bắt đầu cầm quyền nhưng những vết rạn nứt cũng bắt đầu hình thành, và đặc biệt là vết rạn nứt giữa Trần Liễu và em ruột là Trần Cảnh. Trần Liễu là thân sinh của Trần Hưng Đạo còn Trần Cảnh là vị hoàng đế đầu tiên của triều Trần.
            Về đối ngoại, nhà Trần cũng gặp không ít trở ngại. Trước hết, nhà Tống tuy suy yếu nhưng vẫn tiếp tục tác oai tác quái với nước Đại Việt. Và ở phía bắc của nhà Tống thì đế chế Mông Cổ đang trên đường nhanh chóng xác lập và sau đó đã thật sự là một đế chế hùng mạnh và gây hấn ở khắp cả châu Âu và châu Á. Lúc bấy giờ ở phía Tây và nam Đại Việt ta, Ai Lao, Vạn Tượng và Chiêm Thành đều gây những vụ bất ổn ở biên giới. Tóm lại, nhà Trần non trẻ phải đối mặt với những khó khăn trong cũng như ngoài nước.
            Trong bối cảnh đó, Trần Hưng Đạo đã chào đời, và ông đã tìm cách xác lập vị thế của mình. Trước hết là bằng con đường tự học hỏi để nâng cao nhận thức và kỹ năng sống của mình. Ông học văn, văn rất giỏi. Ông học võ, võ rất tài. Chính Trần Hưng Đạo là người đã có công khai sáng nền khoa học quân sự của Việt Nam. Trần Hưng Đạo đã tiến hành quảng giao. Ông đã tiếp xúc với những người trong cũng như ngoài nước. Điều đáng nói là ông giỏi tiếng Trung Quốc đến nỗi mà khi người Trung Quốc nói chuyện với ông họ không nghĩ rằng ông lại là người Việt
”.

            Ý chí học hỏi rèn luyện đó đã tạo ra một đại danh tướng Trần Hưng Đạo đánh bại quân Mông Cổ, đội quân mà vó ngựa từng giẫm nát khắp Á Âu.

Ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông
            Danh tiếng lẫy lừng của Trần Hưng Đạo gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại hồi thế kỉ 13 chống quân xâm lược Nguyên Mông, một đế chế hùng mạnh từng một thời hoành hành khắp Á Âu.
            Vào đầu thế kỉ 13, Thiết Mộc Chân thành lập một nước Mông Cổ hùng mạnh và bắt đầu bước đường xâm lược tứ phương. Năm 1215, Mông Cổ chiếm kinh đô nước Kim. Năm 1218, Mông Cổ chiếm được vùng phía đông của Turkestan ngày nay. Năm 1219, kỵ binh Mông Cổ tiến về Trung Á. Tại đây, một loạt những thành phố nổi tiếng lần lượt bị tấn công và bị triệt hạ. Năm 1221, các vương quốc như Azerbaijan, Gruzia và nhiều thành phố lớn của Nga bị vó ngựa Mông Cổ giẫm lên. Năm 1223, Nga bị quân Mông Cổ chiếm đóng. Năm 1225, Mông Cổ đánh chiếm Tây Hạ. Năm 1241, quân Mông Cổ đánh chiếm Hungari, đuổi vua của Hungari đến tận biên giới nước Ý. Bấy giờ, cả Âu châu bị chấn động bởi vó ngựa hung hãn của quân Mông Cổ. Nỗi lo sợ trùm phủ khắp nơi.
            Năm 1251, Mông Kha lên ngôi hoàng đế Mông Cổ. Quân Mông Cổ đẩy mạnh bành trướng xuống phương Nam. Năm 1252, ngay khi cuộc thôn tính Trung Quốc còn đang dở dang, Mông Kha ra lệnh cho em là Hốt Tất Liệt đánh xuống nước Đại Lý. Chỉ trong một thời gian ngắn, vua nước Đại Lý là Đoàn Hưng Trí đầu hàng, nước Đại Lý bị diệt. Năm 1260, Hốt Tất Liệt lên ngôi Hãn. Năm 1278, nhà Tống bị quân Mông Cổ tiêu diệt, Hốt Tất Liệt hoàn tất cuộc thôn tính Trung Quốc.
            Sau khi thôn tính xong Trung Quốc, đế quốc Mông Cổ tập trung lực lượng đánh Đại Việt. Trong ba mươi năm (1257-1288), đế quốc Mông Cổ đã ba lần ào ạt cho quân tràn xuống xâm lược nước Việt, mỗi lần lực lượng mỗi to lớn hơn lần trước, chuẩn bị công phu hơn và quyết tâm cũng cao độ hơn.
            Cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1257 do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy với ba vạn kỵ và bộ binh. Cuộc tấn công này xuất phát từ nước Đại Lý. Ngột Lương Hợp Thai bắt vua nước Đại Lý mới đầu hàng là Đoàn Hưng Trí dẫn đường, nhưng Đoàn Hưng Trí chết khi chưa kịp đến Đại Việt. Kết quả cuộc xâm lượt này: Giặc thua to.
            Cuộc xâm lăng lần thứ hai của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1285 do con trai Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan đem năm mươi vạn quân tràn sang nước ta. Ngoài ra còn có đạo quân 10 vạn do tướng Toa Đô chỉ huy, trước đó đã có mặt ở Chiêm Thành cũng được lệnh rời Chiêm Thành tiến lên đánh nước ta, hai mặt giáp công. Tính ra, cứ khoảng sáu người dân Đại Việt (bất kể già trẻ trai gái), phải đương đầu với một tên giặc Nguyên hung hăng, tàn bạo và thiện chiến.
            Lịch sử kim cổ đông tây quả thật cực kỳ hiếm có một cuộc đối đầu nào hoàn toàn không cân xứng như vậy. Thế mà kết quả cuộc xâm lược này là: Giặc thảm bại, quân chết vô số kể, Toa Đô bị chém, Thoát Hoan chui vào ống đồng để lính khiêng trốn chạy về Trung Quốc, Ô Mã Nhi và các tướng khác trốn thoát được theo đường thủy chạy về Trung Quốc.
            Cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1287. Hốt Tất Liệt quyết ý phục thù hai lần thất bại trước. Để tiến hành cuộc xâm lược này, Hốt Tất Liệt huy động năm mươi vạn quân tiến vào Đại Việt qua ba hướng khác nhau: Thoát Hoan làm tổng chỉ huy, tiến theo đường bộ, tướng Áo Lỗ Xích chỉ huy cánh quân thứ hai cũng tiến theo đường bộ. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thủy binh hỗ trợ cho bộ binh và kỵ binh. Trương Văn Hổ vận chuyển lương thảo theo sau.
            Kết quả cuộc xâm lược này: Giặc thảm bại, quân chết vô số kể, đội quân Trương Văn Hổ bị đánh tan không thể vận lương đến, Ô Mã Nhi bị chém, đội thủy binh hoàn toàn bị tiêu diệt, Thoát Hoan và các tướng khác trốn về đến Trung Quốc đều bị trị tội theo quân pháp, Thoát Hoan bị cha là Hốt Tất Liệt đuổi đi không thèm nhìn mặt nữa.
            Ta thấy rằng, khi ấy, so với nhà Tống, Đại Việt chỉ là nước nhỏ. Ấy thế mà đội quân Mông Cổ đã đánh bại nhà Tống, đã từng làm rung chuyển khắp Á Âu, lại đại bại ở nước Đại Việt nhỏ bé.
            Trong ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông này, công lao của Trần Hưng Đạo là vô cùng to lớn. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần tóm lược như sau:

            “Trần Hưng Đạo đã tham gia việc cầm quân và huấn luyện quân sĩ. Khi chưa đầy 30 tuổi Trần Hưng Đạo đã là tổng chỉ huy quân đội của nhà Trần ở vùng đông bắc và có công rất lớn trong sự nghiệp chống quân xâm lăng Mông Cổ năm 1257-1258. Ông đã huấn luyện quân đội ngày càng tinh nhuệ, và chủ trương của Trần Hưng Đạo là một chủ trương rất tiến bộ mà giá trị câu nói của ông lúc sinh thời vẫn còn bất diệt với non sông, đó là “binh quí hồ tinh bất quí hồ đa”, nghĩa là “binh quí ở chỗ tinh nhuệ chứ không phải ở số đông”. Chủ trương đó thật sự đúng đắn, đã phát huy được tác dụng to lớn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập thế kỉ 13.
            Trần Hưng Đạo là tướng tổng chỉ huy lực lượng vũ trang của quân đội Đại Việt trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại thế kỉ 13 chống quân xâm lược Nguyên Mông. Đó là lần thứ hai vào năm 1285 và lần thứ 3 vào năm 1287-1288. Trần Hưng Đạo đã chọn đúng người đúng việc. Trần Hưng Đạo đã tự tin và chuyển tải niềm tự tin đó đến với mọi người, dù đó là binh sĩ, dù đó là tướng lĩnh, thậm chí đến thái thượng hoàng hay hoàng đế cũng được ông chuyển tải niềm tự tin ấy mới có thể vững vàng trước thử thách của non sông.
            Trần Hưng Đạo đã khai thác hết mọi tài năng của con người, kể cả những người dưới đáy xã hội, đặc biệt là lực lượng gia nô. Chính ông đã có lời nói về hành vi của Yết Kiêu và Dã Tượng khi mà những người này bộc lộ niềm trung thành lớn lao và đức hi sinh cao cả. Ông nói rằng: “Chim hồng chim hộc sở dĩ bay cao bay xa là nhờ vào sáu trụ xương cánh. Nếu không có sáu trụ xương cánh thì chim hồng chim hộc cũng chỉ là chim thường thôi”.
            Ở đây chim hồng chim hộc chính là Trần Hưng Đạo và quý tộc họ Trần, những vị tướng cao cấp của quân đội nhà Trần, còn sáu trụ xương cánh ấy chính là những người như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô và nhiều gia nô khác.
            Ông là nhà chỉ huy thiên tài, và thắng lợi trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại đã chứng tỏ thiên tài của Trần Hưng Đạo. Vì chúng ta biết rằng, đế quốc Mông Nguyên có diện tích khổng lồ, mình như con ác thú phủ kín từ Hắc Hải cho đến Thái Bình Dương
”.

Khai sáng nền khoa học quân sự Việt Nam
            Bên cạnh việc trực tiếp chỉ huy đánh trận, xông pha trên sa trường, Trần Hưng Đạo còn là một nhà khoa học quân sự xuất sắc. Các nhà sử học xem ông là người khai sáng nền khoa học quân sự Việt Nam. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần ghi nhận:

            “Trần Hưng Đạo không phải chỉ có huấn luyện quân đội, không phải chỉ tập luyện võ nghệ, mà quan trọng hơn là ông đã nghiên cứu binh pháp, và đã biên soạn ra một bộ binh pháp hoàn toàn mới. Trước đó, tướng lĩnh của nhà Trần phải học ít nhất 15 bộ binh pháp của Trung Quốc. Tất cả những bộ binh pháp đó được trình bày rất sắc xảo, và có những ý kiến rất xuất sắc, nhưng nó chỉ phù hợp với những cuộc chiến tranh xung đột nội bộ, mà không phù hợp với cuộc chiến tranh vệ quốc của dân ta. Vì thế, Trần Hưng Đạo đã biên soạn bộ “Binh Thư Yếu Lược”, và đó chính là tác phẩm khai sinh của nền khoa học quân sự Việt Nam.
            Trước Trần Hưng Đạo, chúng ta có rất nhiều vị tướng giỏi, nhưng đó chỉ là những vị tướng có công đưa nghệ thuật cầm quân lên một trình độ cao, chứ chưa phải khoa học quân sự. Tôi không hề có ý nói rằng nghệ thuật thấp hơn quân sự, mà chỉ muốn nói: đến đây khoa học quân sự Việt Nam mới thật sự được khai sinh.
            Sau khi đã biên soạn binh pháp, thì trong huấn luyện quân đội, Trần Hưng Đạo đã tìm đủ mọi cách để kích lệ tinh thần của quân sĩ, và tác phẩm nổi bật nhất của ông trong lĩnh vực này chính là bài “Hịch Tướng Sĩ Văn”. Đây là một trong những áng thiên cổ hùng văn có giá trị bất diệt, và chỉ cần là tác giả của Hịch Tướng Sĩ Văn thôi thì tên tuổi của Trần Hưng Đạo đã trở nên bất diệt với non sông. Huống chi ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm lớn. Huống chi việc cầm bút chỉ là một phần nhỏ trong sự nghiệp to lớn của ông
”.

Dĩ công vi thượng
            Trần Hưng Đạo vốn là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Trần Liễu là anh ruột của Trần Cảnh. Năm lên bảy tuổi, Trần Thủ Độ sắp đặt cho Trần Cảnh cưới vị hoàng đế cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng khi ấy cũng lên bảy tuổi. Cùng năm đó, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Thế là triều Trần được thành lập khi Trần Cảnh lên ngôi lấy miếu hiệu là Trần Thái Tông.
            Năm 1237, do không sinh được con nên Lý Chiêu Hoàng bị giáng làm công chúa, rồi Trần Thủ Độ ép chị gái Lý Chiêu Hoàng là công chúa Thuận Thiên Lý Thị Oanh lấy Trần Thái Tông. Trớ trêu là khi đó Lý Thị Oanh là vợ của Trần Liễu và đang có mang với Trần Liễu.
            Vì chuyện này mà Trần Liễu ghi hận trong lòng và nổi binh tạo phản nhưng thất bại. Thái Tông không trị tội và lấy thân mình bảo vệ cho ông trước Trần Thủ Độ. Thế nhưng Trần Liễu vẫn còn ghi hận. Trước phút lâm chung, Trần Liễu trăn trối lại với Trần Hưng Đạo phải báo thù cho ông. Trần Hưng Đạo giả vờ vâng mệnh để cho cha an lòng nhắm mắt nhưng không cho lời cha là phải nên Trần Hưng Đạo đã không làm theo, và còn tỏ ra một lòng trung nghĩa với triều Trần vì lợi ích quốc gia dân tộc.
            Nhiều câu chuyện được sách sử ghi lại về lòng trung nghĩa, “đặt việc nước trước tình nhà” của Trần Hưng Đạo. Sử cũ chép, một hôm Trần Hưng Đạo vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?” Hưng Vũ vương thưa: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!” Trần Hưng Đạo ngẫm cho là phải.
            Lại một hôm ông đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Trần Quốc Tuấn rút gươm kể tội: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra” và định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Trần Quốc Tuấn mới tha. Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.
            Sử cũ cũng kể rằng bấy giờ Hưng Vũ Vương được lấy Công chúa Thiên Thụy, thế nhưng tướng Trần Khánh Dư lại thông dâm với Thiên Thụy, khiến nhà vua phải xuống chiếu, trách phạt và đuổi Khánh Dư về Chí Linh. Vậy mà khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã gạt bỏ hiềm riêng, tin cậy giao hết công việc biên thùy cho Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Ngoài ra, khi soạn xong Vạn Kiếp tông bí truyền thư, thì Trần Khánh Dư cũng là người được ông chọn để viết bài Tựa cho sách.
            Cũng có chuyện kể rằng, Trần Hưng Đạo là bậc kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh Vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Hưng Đạo theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Hưng Đạo liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi.
            Trần Hưng Đạo cũng chủ động đề cao tình đoàn kết trong quí tộc họ Trần để tạo thành sức mạnh chống ngoại xâm. Sử cũ chép Trần Hưng Đạo là quốc công tiết chế thống lãnh binh quyền, thế mà đã chủ động hạ mình tắm gội cho Trần Quang Khải. Trần Quang Khải chính là con ruột của Trần Thái Tông Trần Cảnh, tức em chú bác với Trần Hưng Đạo.
            Trần Hưng Đạo đã đạt đến tột đỉnh vinh quang. Bản thân ông đã được phong đến quốc công tiết chế nắm hết binh quyền. Vua Trần còn sai lập sinh từ cho ông, tức đền thờ dành cho ông ngay khi ông còn tại thế.
            Vợ Trần Hưng Đạo là Công chúa Thiên Thành, con gái lớn của Trần Thái Tông. Bà được phong tước là Nguyên Từ quốc mẫu. Bà có với Trần Hưng Đạo 5 người con, gồm 1 gái và 4 trai:
            1) Một gái đầu lòng tên là Trinh, thường gọi là Trinh Công chúa, sau trở thành vợ của vua Trần Nhân Tông, tức Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu, mẹ của vua Trần Anh Tông sau này.
            2) Trần Quốc Nghiễn, tước Hưng Vũ Vương: Ông cưới Công chúa Thiên Thụy, trở thành Phò mã của vua Trần Thánh Tông. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên Mông, tháng Tư (âm lịch) năm 1289, ông được phong làm Khai Quốc Công.
            3) Trần Quốc Hiện, tước Hưng Trí Vương: Ông là người có công tổ chức khẩn hoang nhiều vùng đất hoang vu của khu vực tỉnh Hải Dương ngày nay.
            4) Trần Quốc Tảng, tước Hưng Nhượng Vương: ông được phong làm Tiết độ sứ. Ông có con gái gả cho vua Trần Anh Tông, tức Thuận Thánh Hoàng hậu.
            5) Trần Quốc Uất, tước Minh Hiến Vương: từng tham gia đánh giặc Nguyên Mông cùng các anh em dưới sự điều khiển của Trần Hưng Đạo.
            Chúng ta thấy với gia thế vương giả đến như vậy, quyền uy đến như vậy, bản thân Trần Hưng Đạo nắm hết binh quyền, con gái thì là hoàng hậu, 4 con trai đều mang tước vương. Ở vào thế đó, thì việc lật đổ triều đình đối với Trần Hưng Đạo là chuyện trong tầm tay. Ấy thế mà, qua những mẩu chuyện nêu trên ta thấy rằng ông vẫn luôn đặt việc chung lên trên việc riêng, đặt thù nước trên thù nhà. Một tinh thần đáng quí lắm thay!

Lấy dân làm gốc
            Bàn về chính sách giữ nước, Trần Hưng Đạo là người theo tư tưởng “Dân vi quí”, lấy sức dân làm nền tảng xây dựng sức mạnh của chế độ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê chép:

            “Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào”. Vương trả lời: “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế “thanh dã” (tức Vườn không nhà trống – LP), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.
            Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy
”.

            Qua cách lý luận trên ta thấy rằng Trần Hưng Đạo đã nắm hết những chỗ tinh yếu của binh pháp cổ kim, quả đúng là một bậc kỳ tài của thiên hạ. Ông đã nhấn mạnh đến việc dùng đoản binh thắng trường trận, dùng ngắn đánh dài, dùng ít thắng nhiều, dùng sức mạnh đoàn kết thắng kẻ thù tàn bạo. Điều đó hoàn toàn phù hợp với địa thế, lực lượng và truyền thống Việt Nam, đã được chứng minh tính hiệu quả qua biết bao chiến thắng kẻ thù xâm lược trong suốt mấy ngàn năm nay.
            Đặc biệt điều đáng chú ý nhất đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Trần Hưng Đạo: dựa vào dân để xây nghiệp dài lâu, đây là đạo lý giữ nước, giữ chế độ ngàn đời nay không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam mà của tất cả các dân tộc trên thế giới, bởi vì có dân là có tất cả, mà mất lòng dân thì sẽ mất tất cả vậy.

Một tấm lòng son chiếu sử xanh
            Tài năng và đức độ của Trần Hưng Đạo đã đi vào thanh sử, được dân chúng bao thế hệ nay tôn thờ gọi ông là “Đức Thánh Trần”. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần tóm lược:

            “Bởi tấm lòng ấy, bởi tài năng ấy, Trần Hưng Đạo khiến cho muôn đời cảm phục. Vũ Phạm Hàm (từng đỗ tam nguyên thời nhà Nguyễn – LP) đã có đôi câu đối để ở đền thờ Vạn Kiếp rằng:
                        “Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
                        Bạch Đằng vô thủy bất thu thanh”.
            Nghĩa là:
                        Núi Vạn Kiếp chẳng nơi đâu là không có kiếm khí
                        Sông Bạch Đằng không có ngọn sóng nào không có hơi vũ khí.
            Tức ca ngợi võ công oanh liệt của Trần Hưng Đạo.
            Và tôi đã đọc được những câu đối, kể cả những câu đối của người Trung Quốc đã ca ngợi Trần Hưng Đạo hết lời. Xin chọn một câu làm ví dụ:
            “Địa chuyển ngã Việt chủng cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý – Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên triều đô hộ nhất bách thiên”.
            Nghĩa là: Đất mà hoán chuyển cho người Việt lên ở phương Bắc, thì ngựa Mông Cổ không thể nào tung hoành ngàn vạn dặm đất châu Âu – Trời mà sinh đấng lương tài này
(tức Trần Hưng Đạo – LP) trên đất Tống thì lịch sử Trung Quốc không có chuyện bị Nguyên triều cai trị 100 năm.
            Lời ca ngợi như thế là tột đỉnh của sự ca ngợi, và Trần Hưng Đạo xứng đáng nhận được những lời ca ngợi đó, không phải của người đương thời mà là của người hậu thế.
            Đến hôm nay, tượng Trần Hưng Đạo được dựng lên ở khắp nơi, đền thờ Trần Hưng Đạo được dựng lên ở khắp nơi, và những bức tượng ấy, đền thờ ấy là kết tinh của sự sự kính trọng của người Việt Nam đối với Trần Hưng Đạo. Tên tuổi của Trần Hưng Đạo còn được dùng để đặt cho nhiều đường phố, trường học và công sở khác. Tên ông còn sống mãi với non sông này, đất nước này
”.

Ba bài học quí
            Đề cập đến những bài học rút ra từ cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo, sử gia Nguyễn Khắc Thuần nhấn mạnh đến tình thần “lấy dân làm gốc” và “Dĩ công vi thượng” của ông:

            “Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo để lại cho chúng ta rất nhiều điều đáng suy ngẫm. Trước hết là ý chí tự lập và không ngừng vươn lên. Đó là ý chí chung của tất cả mọi người. Và trước hết, tuổi trẻ muốn khẳng định mình thì phải không ngừng nuôi dưỡng chí lớn đó.
            Thứ hai, hãy một lòng thương yêu mọi người, đoàn kết, bởi vì chỉ có đoàn kết mới có thể thành công, nếu không đoàn kết thì không bao giờ có thành công. Tâm thành của Trần Hưng Đạo xứng đáng cho ngàn đời sau noi theo.
            Thứ ba, Trần Hưng Đạo là người đã không ngừng tìm tòi sáng tạo. Và chỉ có sự tìm tòi sáng tạo vì mục đích là bảo vệ cho nhân dân, cho dân tộc thì sự nghiệp tìm tòi sáng tạo ấy sẽ được đời đời tôn vinh, đời đời ghi nhớ.
            Điều quan trọng là tấm lòng đối với nhân dân. Như tôi đã nói, một người sở dĩ có thể trở nên bất diệt là bởi vì người đó luôn chăm lo cho dân, nói theo cách nói của Trần Hưng Đạo là: “Khoan sức dân làm kế rễ sâu gốc vững ấy mới là thượng sách để giữ nước”. Lòng thương dân là biểu hiện của một tâm hồn trong sáng, đồng thời cũng là một di sản lớn mà Trần Hưng Đạo để lại cho thế hệ chúng ta
”.

            Đến đây ta có thể kết luận rằng: Nghệ thuật quân sự của Trần Hưng Đạo tựu chung lại có ba điểm chính sau đây: 1) Lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít thắng nhiều, đánh phục kích bất ngờ; 2) Nêu cao tinh thần đoàn kết, đoàn kết trên thượng tầng lãnh đạo, đoàn kết trong quân, đoàn kết trong dân, gạt bỏ tình riêng để cùng chiến đấu vì lợi ích chung của cả quốc gia dân tộc; 3) Thứ ba cũng là điểm quan trọng nhất đó là: “lấy dân làm gốc”, dựa vào dân để chiến đấu, để chiến thắng, để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, để làm nền tảng tồn tại của chế độ.
            Tóm lại, nghệ thuật dùng binh của Trần Hưng Đạo là tinh hoa quân sự của dân tộc Việt Nam, đã được chứng minh tính hiệu quả qua biết bao chiến thắng trước những kẻ thù hùng mạnh suốt mấy ngàn năm lịch sử. Đó chính là sức mạnh quân sự của dân tộc Việt Nam, nó không nằm ở sự lớn mạnh về vũ khí và số lượng, mà là ở tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng, biết gạt hiềm khích riêng tư vì lợi ích quốc gia, biết đề cao tinh thần “dĩ công vi thượng”, và đặc biệt là biết khoan sức dân, biết thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 12/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20121207-tran-hung-dao-tinh-hoa-quan-su-viet-nam

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #28 vào: 06/06/2017, 11:30:05 »
Nhạc Pháp lời Việt: Solenzara nào có Nắng Xuân

Có những địa danh đi vào huyền thoại nhờ vào bản nhạc, bài ca. Có những thắng cảnh vương vấn tâm hồn một khi đã qua. Syracuse ở Sicilia mê hoặc thấm mềm con tim sắt đá, Capri của Ý say đắm trọn đời tiếng vọng tình ca. Còn Solenzara tại Pháp xao xuyến nỗi niềm lòng người đi xa.

Enrico Macias ghi âm Solenzara, bản tiếng Pháp vào năm 1967

NẰM TRÊN Bờ biển Xà cừ (Côte de Nacre), thành phố Solenzara được liệt vào hàng danh lam thắng cảnh của đảo Corse, ở ngoài khơi miền nam nước Pháp. Tuy chưa từng đặt chân đến nhưng nhiều du khách trên thế giới đều từng nghe nhắc tới địa danh nhờ vào một bài hát ăn khách vào năm 1967.
            Người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp là ca sĩ Enrico Macias. Ca khúc của anh tuy rất nổi tiếng trên thế giới nhưng lại không phải là phiên bản chính gốc. Trong nguyên tác, đây là một bài ca của đảo Corse, do nhạc sĩ Dominique Marfisi sáng tác vào năm 1961, tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ.
            Sinh trưởng tại Oletta, một ngôi làng ở miền núi hẻo lánh, tác giả Dominique Marfisi (sinh năm 1902 – mất năm 1973) rời đảo Corse đến Pháp lập nghiệp năm ông 18 tuổi. Thời còn nhỏ, ông đã có năng khiếu âm nhạc, học đàn piano với thầy là Michel Costa, một giáo sư trường quốc gia âm nhạc đã về hưu. Tuy giỏi sáng tác, nhưng đối với Dominique Marfisi, công việc soạn nhạc chỉ là một nghề tay trái vì trong hơn 35 năm liền ông làm việc cho Cơ quan kiểm lâm.

Solenzara: bản ngợi ca tình quê hương
            Do xa quê mẹ từ lúc ông mới trưởng thành, cho nên sáng tác của ông gắn liền với đảo Corse. Chủ đề ưng ý của tác giả này trước sau vẫn là tình quê hương. Vào năm 1965, ông từng đoạt giải nhì trong cuộc thi sáng tác của thành phố Nice nhờ một tập thơ song ngữ viết bằng tiếng Corse lẫn tiếng Pháp.
            Về mặt ca khúc, số lượng bài hát do ông sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ khá nhiều, trong đó có các bài như Sirinata (Dạ khúc) hay U Mio Mulinu (Cối xay đầu làng). Nhưng bản nhạc Solenzara vẫn nổi tiếng hơn cả do đã được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng khác nhau.
            Vào năm 1961, tác giả Dominique Marfisi đến tuổi về hưu, dọn nhà về sống luôn trên đảo Corse. Nhân một buổi ăn mừng sinh nhật của một người bạn tại Solenzara, ông tổ chức một bữa tiệc tại quán nhạc Mare e Festa. Cả nhóm bạn rủ nhau đi du thuyền trước giờ ăn tối.
            Thuyền vừa ra khơi lúc mặt trời bắt đầu lặn, ánh nắng chiều tà phủ ánh ngân quang, ngả bạc màu sóng biển. Ngoảnh mặt lại nhìn đằng sau lưng khung cảnh nên thơ của một ngôi làng trải khắp chân đồi, ông mới thốt lên câu nói: Không tìm thấy nơi nào đẹp bằng Solenzara (A Solenzara, piu bella un si po sta). Cũng từ giai thoại này mà ông chấp bút viết thành bản nhạc nổi tiếng cùng tên.
            Trong vòng nhiều năm, Solenzara là một ca khúc rất thịnh hành trên đảo Corse nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Mãi đến năm 1967, bản nhạc này mới lọt vào tai của ca sĩ Enrico Macias. Do rất thích giai điệu của bài hát, nên anh mới nhờ người khác chuyển dịch lời ca sang tiếng Pháp.

Điệu ru trên vành nôi Địa Trung Hải
            Phiên bản do Enrico Macias ghi âm trở thành một trong những tình khúc ăn khách nhất mùa hè năm 1967. Trong nguyên tác, bản nhạc được đánh bằng một bộ đàn dây, nhưng rõ nét nhất vẫn là đàn mandolin. Khi chuyển thể, bài hát chủ yếu dùng đàn ghita, thông dụng hơn nên càng dễ trở nên phổ biến.
            Chỉ một năm sau, nhạc phẩm Solenzara trở thành điệu ru của vành nôi Địa Trung Hải, khi bài ca được đặt thêm lời tiếng Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha. Cuối những năm 1960, bản nhạc có cả lời tiếng Đức, Hà Lan rồi Đan Mạch. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn nữa là phiên bản tiếng Ả rập, Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Ba Tư (tiếng farsi của người Iran).
            Một khi du nhập qua các nước này, bài Solenzara do là tên riêng, cho nên biểu tượng của tình quê hương thông qua một địa danh không còn được giữ lại. Phần hòa âm cũng ít dùng ghita và lại nhấn mạnh với bộ gõ. Trội nhất là phiên bản của Vigen (Barge Khazan), ca sĩ người Iran, còn được mệnh danh là ông hoàng nhạc nhẹ phương Đông.
            Có một điều rất lạ là mãi đến năm 1993, tức là hơn ba thập niên sau ngày ra đời, bài hát Solenzara mới được đặt lời tiếng Anh, để trở thành bản nhạc In the Death Car. Lạ lùng hơn nữa, đây là một phiên bản hoàn toàn phá cách do ca sĩ nhạc rock Iggy Pop ghi âm với ban nhạc Goran Bregovic.
            Đây là ca khúc chủ đề của bộ phim Arizona Dream của đạo diễn Emir Kusturica từng đoạt giải Gấu Bạc tại liên hoan phim Berlin. Được chuyển đổi theo một nhịp điệu gần giống với reggae, bài hát lại đượm thêm hơi hướng của các bài dân ca du mục. Thành thử ra, thoạt nghe lần đầu, nhiều người nhận thấy là bài ca rất quen thuộc nhưng không nhớ rõ là bài nào.

Khoác thêm lời Việt cho giai điệu đẹp
            Riêng tại châu Á, Solenzara cũng như bài Tombe la neige (Tuyết Rơi) của Adamo nằm trong số những ca khúc Pháp đầu tiên được đặt lời tiếng Nhật, ban đầu không phải là để cho người Nhật hát mà chủ yếu vì các ca sĩ Pháp thời đó đều có cái mốt ghi âm một phiên bản tiếng Nhật từ những ca khúc nổi tiếng của họ, hầu chinh phục dễ dàng hơn thị trường Nhật Bản. Cũng từ xứ hoa anh đào mà nhiều ca khúc tiếng Pháp du nhập Đài Loan, Hồng Kông hay Hàn Quốc.
            Còn tại Việt Nam, bài Solenzara được tác giả Phạm Duy “chuyển ngữ” từ tiếng Pháp thành nhạc phẩm Nắng Xuân. Gọi là chuyển ngữ chứ không phải là chuyển dịch vì thật ra lời tiếng Việt không ăn nhập gì với phiên bản tiếng Pháp và càng xa hơn nữa với nguyên tác viết bằng tiếng Corse. Tình quê hương ban đầu đã nhường chỗ lại cho tình yêu đôi lứa và đổi hẳn luôn nhân vật cũng như bối cảnh câu chuyện.
            Cũng như trường hợp của bài Lạc mất mùa xuân (lời việt của tác giả Lữ Liên đặt theo bài Le Géant de papier), các tác giả Việt Nam mượn một giai điệu đẹp của làng nhạc nước ngoài, để rồi khoác thêm áo mới cho hợp với phong cách và gần gũi với thị hiếu của người nghe nhạc Việt.
            Suy cho cùng, Solenzara qua việc ngợi ca phong cảnh tuyệt đẹp của một địa danh, trong mắt của tác giả lại trở thành biểu tượng của tình hoài hương. Bài ca nói lên tất cả những thổn thức rung động của một chàng trai mới lớn khi phải lìa xa mái ấm gia đình, chia tay mối tình đầu đời, khung trời hạnh phúc tuổi thơ. Nhưng do được viết bởi một tác giả đến tuổi về chiều, Solenzara còn là một giai điệu hoài niệm lưu luyến, tiết tấu nặng lòng kẻ đi xa dù vẫn nhẹ nhàng xao xuyến. Tuổi thơ càng ngập tràn kỷ niệm, tuổi cao càng nhức nhối nỗi niềm.


TUẤN THẢO
Tháng 9/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20110903-nhac-phap-loi-viet-solenzara-nao-co-nang-xuan

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #29 vào: 08/06/2017, 08:45:59 »
Triển lãm Lão giáo tại Paris trong mắt khách tham quan

“Con đường của Đạo. Một hành trình khác của sự sống”. Đây là nhan đề của cuộc triển lãm lớn đầu tiên về đạo Lão, được mở ra từ cuối tháng ba và kết thúc vào ngày 5 tháng 7 tới, tại các gian trưng bày của Grand Palais (Paris). Bên cạnh các hiện vật đến từ bảo tàng nghệ thuật châu Á Guimet, rất nhiều các hiện vật khác đến từ Đức, Hoa Kỳ, Anh quốc và Đài Loan.

Lối vào triển lãm Đạo giáo tại Grand Palais – Paris

THEO ÔNG Thomas Grenon, người điều hành Liên hiệp các bảo tàng quốc gia Pháp và ông Jacques Giès, giám đốc bảo tàng Guimet, hai cơ sở đồng tổ chức cuộc triển lãm này, đạo Lão có thể được coi là một truyền thống tôn giáo đặc biệt của Trung Quốc, một triết học và tập hợp các thực hành liên quan đến dưỡng sinh, dựa trên các kỹ thuật ẩm thực, thể dục và hít thở, để tìm kiếm các kết hợp hài hòa và bền vững giữa con người và vũ trụ. Đó là một nghệ thuật tôn vinh sự sống và nghệ thuật tìm kiếm hạnh phúc của con người trên thế gian này và cả cõi bên kia.
            Tuy nhiên, lịch sử của Lão giáo rất phức tạp. Từ trước công nguyên, truyền thống này đã được thực hành như một tôn giáo, với một hệ thống thần linh, chức sắc tôn giáo, được tổ chức theo địa bàn dân cư, với các đền thờ và các tổ chức tín đồ. Nền văn hóa đạo Lão đã thấm vào chiều sâu tư duy và các phương thức sáng tạo nghệ thuật của xã hội Trung Hoa này. Ảnh hưởng của Lão giáo hiện nay vẫn còn rất sống động trong thế giới văn hóa Hán.
            Sự ra đời và phát triển của đạo Khổng, rồi đạo Phật tại Trung Quốc cũng làm lu mờ phần nào ảnh hưởng của tôn giáo này. Trong một thời gian dài của thế kỷ XX, truyền thống này đã bị các chiến dịch chống mê tín dị đoan tại Trung Quốc tấn công, cùng với những gì dính dáng đến chế độ cũ. Vài chục năm gần đây, chúng ta được biết, truyền thống này đang dần dần trở lại. Cuộc triển lãm lần này tại Paris là cơ hội để công chúng Pháp và châu Âu tiếp xúc với một cách trực tiếp và đầy đủ hơn với các biểu hiện khác nhau của đạo Lão.

Tại cuộc triển lãm, một thanh niên trẻ đã cho chúng tôi biết ngắn gọn cảm tưởng của anh:
            “Tôi thấy rất hay… Tôi thấy trong triển lãm này vô cùng nhiều thứ và không dễ gì mà hiểu được trong lần xem đầu tiên. Tôi cho rằng triển lãm này được trình bày tốt, bởi lẽ có nhiều hiện vật được nhóm theo nhiều chủ đề, nhiều đề tài lớn. Nhưng mà, thực tế là có quá nhiều biểu tượng cần nắm bắt, do đó, không dễ dàng gì mà lĩnh hội được. Không, không, hoàn toàn không phải là dở. Triển lãm này làm tôi quá sức ngạc nhiên, tôi rất tò mò muốn tìm hiểu thêm về đạo Lão.”

Còn anh Stéphane, đến từ Normandie, cho biết:
            “Đối với tôi, triển lãm này rất ấn tượng về nhiều mặt, ví dụ về phương diện mối quan hệ giữa Trời và Đất. Có rất nhiều thứ mở ra cho tôi một con đường rất mới mẻ đối với tôi. Đạo là một triết học phức tạp, nhưng mang tính tâm linh, rất bổ ích cho sự cân bằng cho mỗi con người. Đây là điều rất ấn tượng đối với tôi. Tiếp theo đó, ví dụ như khía cạnh ẩm thực, mối liên hệ với các khía cạnh cơ thể, cũng như sự cân bằng tinh thần, điều làm cho con người được trở nên cân bằng. Điều này làm cho tôi rất xúc động.”

Theo giới thiệu của người phụ trách gian triển lãm, chúng tôi được làm quen với một vị khách đã nhiều lần đến thăm cuộc trưng bày này. Ông rất nhiệt tình chia sẻ những cảm nhận và suy nghĩ của ông:
            “Triển lãm này rất thú vị, vì nó giúp cho tôi phát hiện thêm một khía cạnh nữa của nền văn hóa Trung Hoa, chưa hề được trưng bày tại bảo tàng Guimet. Tôi rất yêu bảo tàng Guimet, tôi là khách thăm thường xuyên của bảo tàng này. Ở đó, có nhiều thứ về Khổng giáo, về Phật giáo, nhưng không có gì về Lão giáo. Triển lãm này là dịp đầu tiên. Điều thứ hai là nhờ triển lãm này, chúng ta được xem nhiều hiện vật, mà chúng ta không thể nào nhìn thấy được ở nơi khác. Đặc biệt là những cuộn tranh đẹp tuyệt vời, về các vị thần khác nhau trong điện thần của đạo Lão. Đây là điều thứ hai. Điều thứ ba, tôi muốn nói là, để hiểu được đạo Lão hoàn toàn không dễ dàng gì, đối với một người Pháp, tức là với một người châu Âu. Tôi đã đến xem triển lãm này sáu đến bảy lần rồi, nhưng tôi vẫn không hiểu được thực sự. Ngoài “âm” và “dương”, phần còn lại… thật không dễ dàng gì. Tất cả các thần thánh này, các cấp độ khác nhau của Trời, các đặc tính cơ bản được gắn với các tinh tú, v.v… Thật sự là rất rắc rối. Tôi cho rằng, những người đến xem, sau khi ra khỏi triển lãm này, đều bàng hoàng. Và tôi cũng cho rằng, nếu có hỏi họ, nhận thức thu được chắc chắn sẽ không rõ ràng. Theo tôi, ngay cả đối với người Trung Quốc cũng vậy. Đấy là theo ý kiến của tôi. Bởi vì, đạo Lão, tôi thấy là một cái gì đó thật sự rất rắc rối.”

Hỏi: Có nhiều điều ông không hiểu, nhưng có gì ông thực sự hiểu?
            “Tôi hiểu rằng, đây là một tôn giáo ra đời từ rất xưa. Không chắc là Lão tử đã là một người thật. Đây là một tôn giáo giống như Thần đạo ở Nhật Bản. Tôn giáo này thoát ra khỏi truyền thống, vào lúc Trung Hoa mới nổi lên ở quanh khu vực sông Hoàng Hà, với những ngọn núi trong vùng được coi là những điểm tựa chính. Đây là một tôn giáo rất cổ, dần dần từng tí một các kinh sách được bổ sung thêm vào, và dần dần tôn giáo này trở nên có chiều sâu hơn, với cả một hệ thống vũ trụ quan, với tập hợp những liên tưởng giữa các thần linh và các khu vực của thế giới thiên đình, các vì tinh tú. Nhưng tôi không thể nào ngay lập tức tóm lại những điều tôi đã xem, bởi vì thật sự rất là khó.”

Chị Anne, làm nghề hướng dẫn du lịch tại Paris. Chị dẫn con trai đến đây để tìm hiểu về văn hóa Trung Hoa. Con trai của chị cho biết:
            “Tôi học được các nguyên tắc cơ bản làm nên tôn giáo này. Các vị thần, các nghi lễ. Tôi thích nhất là các vật thờ cúng, rất tinh xảo, rất đẹp. Điều cơ bản là sự thay đổi là liên tục, hay nói một cách khác, thế giới liên tục vận động. Chúng ta thấy mỗi thứ đều phân thành hai, mỗi vật, cũng như mỗi người đều có hai phần, âm và dương, năng lượng tích cực và năng lượng tiêu cực, nam và nữ. Sự hòa trộn những thứ đối lập tạo ra các sắc thái khác nhau, và điều này làm nên nền tảng của sự biến đổi của sự vật và của con người. Đây là một cách nhìn khác với cách nhìn vốn có của tôi, tôi hiểu nhưng… tôi không lấy nó làm của mình.”

Hỏi: Bạn có thể nói rõ vì sao bạn không muốn chấp nhận quan điểm này là của mình không?
            “Đây là một triết học rất thú vị. Thực ra tôi cũng thấy nó có điểm đúng. Nhưng tôi thấy những cái tên mà người ta dùng để gọi hai thái cực này có thể thay đổi tùy theo mỗi nền văn hóa. Chúng ta có thể nhìn như là nước và lửa, như cái thiện và cái ác, như hai cực đối lập, nhưng không bắt buộc nhất thiết phải là âm và dương. Tôi nghĩ rằng, đây có thể là một cách nhìn đặc thù về những điều mà chúng ta có thể coi như là phổ quát. Riêng tôi, tôi thích nhìn nhận sự vật từ một quan điểm khách quan hơn, và thích hợp cho tất cả mọi người hơn.”

Một phụ nữ đứng tuổi, sau khi xem triển lãm, tỏ ra rất hài lòng. Chị chia sẻ các cảm nghĩ chính của chị:
            “Tôi thấy đây là một triển lãm rất đẹp. Trước hết là các đồ vật được trưng bày khá là phong phú và thể hiện được chính xác thế nào là đạo Lão. Theo cảm nhận của tôi, những hoạt động được thể hiện ở đây nói lên một cách sống, về bản chất cuộc sống, thì đúng hơn là một tôn giáo, cho dù sau đó chúng có diễn ra tại các địa điểm tôn giáo. Cái mà tôi yêu thích chủ yếu ở đây là: tất cả những vị thần, những niềm tin, những cách sống khác nhau, được thể hiện qua đạo Lão và Lão tử. Tôi cho rằng biết về những điều này rất quan trọng, vì đây là một truyền thống còn rất ít được biết đến. Chúng ta có thể biết đến đạo Khổng và có thể các truyền thống khác. Nhưng thực sự rất hiếm thấy có triển lãm nào về đạo Lão. Thật thú vị khi được xem triển lãm này tại Grand Palais.”

Hỏi: Theo chị, “đạo” có nghĩa là gì?
            “Đạo, theo tôi, có nghĩa là làm thế nào để sống một cách trong lành, với một cách ăn uống, vận động lành mạnh, với cách hít thở, việc tôn trọng cơ thể. Tôi thấy là trong cuộc sống khó khăn ngày hôm nay, đây là các nguyên tắc rất tốt, có thể được dùng trong bất cứ tôn giáo hay bất cứ truyền thống nào. Bắt đầu xuất hiện từ năm thế kỷ trước công nguyên, nhưng tinh thần của đạo Lão hoàn toàn không lỗi thời so với cuộc sống của chúng ta hiện nay.
            Bản thân tôi không áp dụng trực tiếp những điều trong đạo Lão, nhưng tôi nhận thấy, qua triển lãm này, sự chú ý dành cho cơ thể và tinh thần, hơi thở, sự hô hấp – là những điều cơ bản làm nên hạnh phúc của ta. Những điều này khiến ta nghĩ đến chính bản thân sự tồn tại của mình, đến con đường giải thoát của mình, khiến ta nghĩ đến cơ thể của ta hơn. Điều này lại càng quan trọng hơn khi ta sống ở Paris.”

Một người xem khác là chị Lalonde. Sự chú trọng đặc biệt đến cơ thể và tinh thần trong truyền thống này khiến chị rất thích thú. Chị cho biết đã bước vào thực hành tập luyện khí công từ một năm nay.
            “Tôi nói ngay nhé, tôi thấy triển lãm này rất thành công. Điều dễ chịu là có rất ít người vào giờ xem buổi tối khiến mình có thể thưởng thức các tác phẩm ở đây một cách thư thái. Điều tôi thấy sảng khoái là được nghe âm nhạc châu Á trong khi xem. Tôi rất yêu âm nhạc, tôi cảm nhận được âm điệu châu Á trong triển lãm này. Tôi lấy một cái máy hướng dẫn nghe, nên tôi có thể hiểu thêm được nhiều hơn nữa. Tôi rất thích các cuộn tranh, những bức tranh lớn ở đây trông thật tuyệt vời.
            Tôi không quá chú ý đến riêng một khía cạnh nào của triển lãm. Nhưng điều làm tôi hài lòng là sự ngưng lại của thời gian… cả cái phần ma thuật nữa, khi nghĩ đến các vị thần tiên bất tử. Trước kia, tôi không nghĩ rằng trái đào là tượng trưng cho sự bất tử, con dơi tượng trưng cho niềm hạnh phúc. Tôi cũng rất thích cả các hiện vật bằng gốm, bằng sứ. Nhưng tôi có cảm giác là tôi chỉ nhận ra được một chút cái “đạo” trong những cái đó. Đây thực ra chỉ là món khai vị. Tôi không biết nhiều về “đạo”. Nhưng việc được đi vào trong vũ trụ châu Á khiến tôi rất mê. Ở đây, tôi thấy rất bình yên. Những nhân vật được vẽ rất chi tiết. Có rất nhiều nhân vật đi liền với các biểu trưng. Thật sự là thú vị.”

Hỏi: Đối với chị, “đạo” có nghĩa là gì?
            “Ồ, đây là một câu hỏi rất lớn. Tôi không nghĩ là tôi có thể trả lời được.”

Hỏi: Cái “đạo”, chị hiểu sau khi xem triển lãm này thôi?
            “Tôi nghĩ rằng trong đó, có phần của cơ thể, vì ta thấy các bức tranh thể dục, có phần của tinh thần. “Đạo” liên quan đến tinh thần và cơ thể. “Đạo” cũng liên quan đến những tìm kiếm trong cuộc sống hàng ngày, một thứ triết học của đời sống, ta có thể nói như vậy. Năm ngoái, tôi đã bắt đầu học khí công. Tôi rất thích khí công. Tôi được học cách thở, tập trung năng lượng. Trong triển lãm này có nói đến châm cứu, đến các huyệt trên cơ thể. Có thể nói, “đạo” là một cách nhìn bình lặng hơn, và cũng rất chính xác nữa. Rất chính xác và nghiêm ngặt, về những gì liên quan đến cơ thể và tinh thần. Tôi rất hài lòng đã được xem triển lãm này.”


TRỌNG THÀNH
Tháng 7/2010


http://vi.rfi.fr/phap/20100702-trien-lam-lao-giao-tai-paris-trong-mat-khach-tham-quan

 
The following users thanked this post: tnghia