Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 19309 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #30 vào: 13/06/2017, 18:21:30 »
Về một bài thơ của Phạm Công Thiện

                              Gửi thăm bạn cũ xa xưa
                              Ấy là Công Thiện tự mùa đầu tiên

                                                     ― Bùi Giáng


            Thiện xem mình là triết gia. Tôi nhìn Thiện như một thi sĩ.
            Năm ấy, 1966. Tình cờ đến quán ăn nhỏ Lạc Hồng nằm sau lưng điện Panthéon ở xóm La tinh, quận 5 Paris, gặp lại Trần Hiếu. Hiếu là họa sĩ mà mười năm trước sang Paris tôi có giúp đỡ việc nhập học Trường Hội họa Quốc gia ở Paris. Hiếu đang ngồi ăn với một người trông lạ, mặt đỏ gay, mắt lừ đừ. Hiếu giới thiệu tôi với người lạ. Nghe tên tôi anh đứng phắt dậy vui mừng la lớn: “Trời ơi, ông Nguyễn Thái! hai tuần nay tôi tìm ông muốn chết”. Nguyễn Thái là bút hiệu thời tôi bỉnh bút cho tạp chí Liên Hoa ở Huế thập niên 50. Tôi lấy làm lạ cho cách ăn mặt xi-vin của anh ta, vì trước đó nghe anh đi tu lấy pháp danh Thích Nguyên Tánh.


Thi Vũ và Phạm Công Thiện (bên phải) tại tòa soạn Quê Mẹ / Paris thập niên 80

            Đó là Phạm Công Thiện. Chúng tôi biết nhau từ đây. Anh bỏ học ở Hoa Kỳ sang Pháp tìm người anh du học từ lâu trước. Nhưng chuyện gia đình sao đó Thiện bỏ thành phố Rennes về sống lang thang nơi vỉa hè Paris, ngày ngày làm đuôi theo đám clochard xin những bữa ăn xã hội. Gặp Trần Hiếu đem về nuôi được mấy hôm. Sau lần gặp ở quán cơm Thiện về ở với tôi. Thời ấy tôi chuẩn bị luận án ở Sorbonne đồng thời làm thư ký cho giáo sư Filliozart ở Collège de France như kế sinh nhai. Chúng tôi chỉ gặp nhau về đêm, đêm nào cũng kéo nhau ra quán cà phê nơi công trường Contrescarpe ồn ào những mộng mị văn chương cho đến ba, bốn giờ sáng. Hoặc cháy túi, hoặc quán đóng cửa mới về, mà tửu lượng Thiện không cao nhưng vô bờ.
            Suốt ngày Thiện nằm dài đợi tôi đi làm về kéo nhau ra quán. Thấy vậy tôi bày kế cho Thiện viết khi đề nghị phát hành một tạp chí văn học. Thiện hứng khởi đề nghị lấy tên một tập thơ của tôi làm tên tạp chí: Hoa Nắng. Dự tính hai đứa tôi viết bài, kêu thêm bài trong nước rồi nhờ Thanh Tuệ coi sóc in và phát hành bên nhà. Chúng tôi viết quảng cáo gửi về Bách Khoa nhờ đăng giúp, anh Lê Ngộ Châu giúp đi mấy kỳ không tính tiền. Hàng trăm thư từ trong nước gửi sang hoan nghênh với nhiều sáng tác xin đăng. Tôi mong mỏi tập họp mọi cây bút đưa văn học chồm tới giữa thời khói lửa bạo tàn. Thiện chống lại, bảo: “Ông ở nước ngoài lâu không biết bọn làm văn trong nước bè phái, tị hiềm, dìm đè dân viết mới”, nên khăng khăng chủ trương tạp chí sẽ không đăng bất cứ tên tuổi nào đã thành danh. Thời gian này có Nguyễn Đức Sơn trong nước gửi thơ sang tặng, mang cùng tư tưởng chống hết “bọn caïd văn nghệ”.


Thanh Tuệ – Bửu Ý – Vĩnh Ấn, Paris 1989

            Kể từ đó, Thiện bật tỉnh người, không nằm co hằng ngày như trước. Ngày ngày chờ tôi về để ra cà phê, hai đứa thi nhau viết. Đêm đêm ở quán Contrescarpe, cuối tuần kéo nhau ra quán Dôme ở Montparnasse. Chúng tôi chia nhau viết theo hai con đường TínhTình, qua mọi thể tài. Thiện đi con đường Tính, tôi theo con đường Tình. Một tháng, chúng tôi xong Hoa Nắng số một, dày vài trăm trang.
            Bài sáng tác đầu tiên của Thiện là bài thơ “Quế Hương”, sau đó Thiện viết tiểu luận “Đặt lại căn bản học vấn của Nguyễn Văn Trung – Phê bình luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Trung hay là tìm hiểu một thủ đoạn phá hoại Phật giáo”.
            Bài vở chuẩn bị gửi về Saigon cho Thanh Tuệ in, thì đột nhiên Thượng tọa Thích Minh Châu đến thăm. Hôm ấy đang ngồi tán gẫu với Thiện ở căn nhà tôi cư ngụ số 8 rue Guy de la Brosse xóm La tinh, nghe tiếng gõ cửa gấp. Mở ra thấy Thượng tọa Thích Minh Châu đi cùng giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch. Thượng tọa vừa nói vừa thở hắt sau hai tầng gác: “Tôi biết Nhất Hạnh đang ở với anh, nhưng tôi cứ đến vì cần bàn chuyện khẩn”. Hai vị sư này có chuyện không vui với nhau từ Saigon. Tôi đáp cho Thượng tọa yên lòng: “Nhất Hạnh đi Úc rồi, mời Thầy vô chơi”. An tọa xong, Thượng tọa Minh Châu, vị Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh vừa thành lập tại Saigon, nói: “Tôi sang dự hội nghị UNESCO, nhưng cố ý gặp anh mời anh về giúp Đại học Vạn Hạnh. Đại học mới mở trăm công nghìn việc khó khăn, nhiêu khê, phá phách, mình thiếu người quá, anh ráng về giúp cho một tay…” Tôi nhận lời. Thiện ngồi cạnh mặt đỏ gay vì rượu, tóc mọc dài hippie, có lẽ vì vậy Thượng tọa không để ý. Nhận lời xong, tôi tiếp: “Xin Thầy mời luôn Thiện về cho vui”. Thượng tọa Minh Châu mặt đỏ rầng ấp úng: “Ủa, chú… chú…?!” Tôi đỡ lời: “Dạ, chú Nguyên Tánh đó!” Thầy Minh Châu với nụ cười hiền giải thoát hai mươi năm trước, thời tôi còn gọi chú Minh Châu ở Tổng trị sự đầu đường Thượng Tứ, Huế, gật đầu: “Ừ thì chú Nguyên Tánh về luôn hí”.
            Cả hai chúng tôi chuẩn bị lên đường vào tuần sau. Thế nhưng lên Sứ quán xin chiếu khán nhập nội, tòa chỉ cấp cho Thiện, còn tôi họ bảo do những lời tuyên bố trên Truyền hình Pháp nên tòa không dám ký, xin Thượng tọa thương lượng với Bộ Nội vụ bên nhà. Số là tôi từng nói lên quan điểm Phật giáo về một nền hòa bình không chiến tranh trên báo chí, truyền hình, đài phát thanh Pháp lúc bấy giờ nên đụng chạm các quan.
            Về đến Saigon Thượng tọa can thiệp với Bộ Nội vụ cho tôi về, nhưng tôi bỏ ý định hồi hương. Thế là Thiện ra đi một mình trên chuyến bay ngày ấy, sau này anh làm khoa trưởng một phân khoa Đại học Vạn Hạnh. Thiện mang bản thảo Hoa Nắng số một về in. Chẳng biết khó khăn gì Thiện không cho Hoa Nắng ra đời như dự tính, mà chỉ rút những bài Thiện viết in thành hai tập sách “Im Lặng của Hố Thẳm” và “Bay đi những cơn mưa phùn”.


Thủ bút Phạm Công Thiện đề tặng Thi Vũ (tức Nguyễn Thái) và Vĩnh Ấn
tập truyện “Những Ngày Những Đêm” chưa bao giờ xuất bản

            Nói về bài thơ đầu tiên làm sống lại cuộc đời sáng tác của Thiện khi đến Pháp sau một thời gian dài khủng hoảng. Bài “Quế Hương” mà trôi nhắc bên trên, có chi tiết nhỏ cũng nên ghi. Khi đến Pháp, Thiện đã hoàn tục. Vì vậy hai câu thơ thứ tám và chín Thiện viết trên gác trọ nhà tôi ở Guy de la Brosse:

                        Em còn ca hát
                        Anh không còn làm tu sĩ


            Báo hiệu cho câu thơ thứ 15 sau đó: Tóc anh mọc dài để che chở em những lúc mưa rơi.
            Nhưng từ gặp Thượng tọa Minh Châu mời về Saigon cùng tôi, thì ngày hôm sau, Thiện nhờ tôi cạo đầu và tìm bộ y vàng Nam tông cho Thiện mặc. Người thay đổi hẳn, nghiêm trọng, ít nói năng, chỉ trầm tư mặt tưởng đăm chiêu không dứt. Khác hẳn những ngày trước đó ăn nói ồn ào, nhậu nhẹt, chửi thề vung mạng. Chuyện đầu tiên là Thiện sửa lại hai câu trên thành:

                        Em còn ca hát
                        Anh không còn làm thi sĩ


            Một hôm sau Thiện bảo tôi bỏ bài Quế Hương khi in. Lúc ấy tôi đang chuẩn bị in cho Thiện tập “Ngày Sinh Của Rắn”. Tôi cự lại: “Ông đi tu cứ đi tu, chuyện văn học để tôi. Bài này là một trong những bài hay của ông, không bỏ được”. Rồi tôi cứ cho in bài thơ ấy vào tập “Ngày Sinh Của Rắn” ấn hành tại Paris năm 1966. Sau này tập thơ được in lại nhiều lần và dường như Thiện có sửa đổi qua nhiều bài, nhiều câu hay ý.

Bìa tập thơ Ngày Sinh Của Rắn của Phạm Công Thiện do Thi Vũ trình bày
và Nhà xuất bản Hoa Nắng, in lần thứ nhất ở Paris, 1966

            Hôm qua từ Jakarta bên Nam Dương trở về Paris, mở Internet thấy tin Phạm Phong Sương, vợ hiện nay của Thiện, khấp báo Thiện qua đời tại một thị trấn gần thành phố Houston, bang Texas, lúc 6 giờ 30 chiều thứ ba 8.3.2011, thọ 71 tuổi. Thiện sinh ngày 1.6.1941, âm lịch tuổi Tỵ. Nhân có ghi số điện thoại, tôi gọi chia buồn vợ Thiện, thì lại gặp Loan người vợ trước đó. Loan cho biết sang thăm Thiện bốn ngày qua nên chứng kiến phút ra đi khá nhẹ nhàng của Thiện, chẳng đau yếu gì ngoài sự mệt nhọc lúc tuổi già. Loan kể năm năm qua anh Thiện em xa lánh cộng đồng, sống ẩn mật trong vùng u tịch tựa như Dalat. Chỉ đọc sách, không viết chi nhiều. Chiều thứ ba hôm ấy, Thiện ngồi nghe bài Mùa Thu Chết do Julie Quang hát và khen hay. Sau thấy mệt đi nằm, một lát nghe Thiện trăn trở trên giường, Sương và Loan chạy ra lấy khăn thấm mồ hôi trên trán. Chốc sau Thiện im lặng ra đi theo hoàng hôn. Loan và Sương cho biết Thiện dặn chỉ làm đám giới hạn trong gia đình rồi hỏa thiêu. Tro cốt đưa về để ở chùa Viên Thông, một ngôi chùa đạm bạc ở Longbeach bên California.

Thủ bút hai câu thơ Bùi Giáng viết cho Phạm Công Thiện gửi qua Thi Vũ

            Trả lời phỏng vấn trên Gió O về “những đóng góp nổi bật nào của văn hóa Phật Giáo vào trong văn hóa Việt Nam từ trước đến nay?” ở thời cận đại suy nghĩ của tôi là:

            “Ảnh hưởng cận đại thì căn bản là tâm tư người Phật tử Việt Nam biến thành thái độ chính trị để rộ nở ra văn học nghệ thuật. Đỉnh mốc của ảnh hưởng Phật giáo trong lòng dân tộc rõ nét nhất từ 1963 trở đi. Một sinh-thức-mới phi nhị tướng cũng gọi là bất nhị (non-duality) ra đời đối diện nhằm hóa giải tư tưởng khủng hoảng của Tây phương mà chiến tranh lạnh làm đầu mối cho sự sụp đổ toàn triệt của phương Tây mà chúng ta sẽ chứng kiến vào cuối thế kỷ XXI”.

            Trong lớp người làm văn học mới ở thời đại hậu Tây và hậu Đông Âu, Phạm Công Thiện có đóng góp lớn.

Thủ bút đầu tay bài Quế Hương qua 2 lần sửa ở câu 9 (bên phải) lần đầu và câu 7 lần hai (bên trái)

            Trở lại bài thơ “Quế Hương” nói trên, xin in lại làm kỷ niệm bản đầu tay của Thiện mà sau này Thiện sửa đi chữa lại nhiều lần dù tứ thơ không đổi, kể cả bản chữa lần đầu chọn in trong “Ngày Sinh Của Rắn” gồm 12 bài do Nhà xuất bản Hoa Nắng – 8 rue Guy de la Brosse – Paris 5, ấn hành lần thứ nhất vào Mùa Thu năm Bính Ngọ, 1966:


                        QUẾ HƯƠNG

            Trời mưa Nữu Ước cây mọc
            Nhớ em trời mưa ngày tháng
            Nhớ em đường hoang mái vắng
            Nữu ước chỉ còn em trong giấc ngủ
            Trên bến điện nghiến nát
            Tim anh tràn máu
            Con chim đã bay về rừng đạn
            Em còn ca hát
            Anh không còn làm thi sĩ
            Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
            Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em
            Quê hương anh làm hỏa ngục yêu quí
            Thiên đàng làm lá đổ trên những đường mòn
            Trên bước chân em trong giấc ngủ
            Trên đôi mắt cà phê đen của Greenwich Village
            Tóc anh mọc dài để che chở em những lúc mưa rơi
            Những lúc đông lạnh
            Những lúc lá rụng
            Những lúc chim chiều đi mất
            Những lúc anh chỉ còn em
            Quế hương là em trên hồ quế mọc
            Trên hồ thơm cây quế
            Cây Quế Hương
            Mười năm rồi
            Cây Quế Hương vẫn nở hoa trên tim anh
            Trên hơi thở anh
            Trên những bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
            Trên những bước chân chiều phố lạ hôm nay

            Mưa làm tóc anh thơm
            Thơm mùi cây quế
            Nở hoa chiều ba mươi Tết
            Khi em còn nhỏ
            Khi anh còn trẻ
            Cây quế mọc
            Như mặt trời mọc
            Mặt trăng mọc
            Mặt em mọc
            Và nở hoa
            Trên đôi mắt anh khi còn trẻ
            Khi anh còn ca hát
            Bây giờ em còn ca hát
            Hay em đã quên
            Như anh đã quên
            Cây quế
            Cây quế hương
            Mọc mười năm trước
            Và vẫn mọc hôm nay
            Giữa quán cà phê Ý Đại Lợi
            Tại phố Greenwich Village
            Giữa lúc đêm mưa
            Khi anh còn nhớ
            Khi anh không còn khóc được
            Nhưng anh vẫn còn máu để đổ vào những đêm khuya
            Để đổ vào tám tách cà phê đen
            Mà anh thường uống mỗi đêm
            Tại Greenwich Village
            Tại làng thi sĩ
            Tại đường khói bay
            Tại em trong giấc ngủ
            Tại chiều ba mươi ở Việt Nam
            Bây giờ anh ở xa Việt Nam
            Đến mấy đại dương xanh
            Anh xa Quế hương đến mấy phương trời cỏ mọc
            Mấy phương trời quế mọc
            Mấy phương trời em khóc
            Em ơi
            Em còn nói
            Em còn phơi áo
            Em còn đứng giữa phố buồn
            Em còn cười
            Cây Quế Hương vẫn mọc
            Trên đầu anh
            Trên mắt anh trong giấc ngủ
            Trên môi anh
            Trên mười ngón tay
            Trên hai bước chân anh
            Giữa đêm khuya ở Greenwich Village
            Giữa lúc mưa
            Giữa lúc anh buồn
            Và hỏi
            Anh đã làm gì cho chim
            Anh đã làm gì cho lá
            Anh đã làm gì cho cỏ
            Anh đã làm gì cho những con đường
            Anh đã làm gì cho những cánh đồng
            Anh đã làm gì cho cây quế
            Cây quế hương giữa chiều ba mươi Tết
            Anh đã làm gì cho đời anh
            Trả lời đi
            Chim rừng
            Lá rừng
            Đường rừng
            Cây Quế rừng
            Mọc giữa hồ
            Giữa Hồ Quế Hương
            Anh vẫn ngồi đây
            Anh vẫn còn thở
            Vẫn uống cà phê
            Vẫn nghe nhạc buồn
            Vẫn trời mưa
            Mưa trên phố đêm
            Mưa trên quán cà phê Ý Đại Lợi
            Mưa trên cây quế giữa hồ
            Mưa trên chiến tranh
            Của quê hương
            Của Quế Hương
            Của anh
            Còn em.

                        PHẠM CÔNG THIỆN


Paris, 11.3.2011
THI VŨ


http://www.bienkhoi.com/so-50/ve-mot-bai-tho-cua-PCT.htm

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #31 vào: 15/06/2017, 14:51:55 »
Trầm Tử Thiêng – Một đời “Tưởng Niệm”

Có một người nhạc sĩ mà gia tài âm nhạc ông để lại rất đa dạng và phong phú. Những sáng tác của ông là một mảng ghép giữa cuộc đời, tình yêu, và thân phận. Chúng ta sẽ thấy một “Kinh khổ” hoàn toàn không có tương quan với “Mười năm yêu em”. Hay một “Mộng sầu” sẽ hoàn toàn khác hẳn với “Một đời áo mẹ áo em”. Đó là cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, tác giả của những ca khúc bất hủ về tình yêu và chiến tranh. Cuối đời mình, ông đã cùng với nhạc sĩ Trúc Hồ viết lên những bản hợp ca oai hùng nói về tình yêu quê hương, nhân loại.

Trầm Tử Thiêng (1937-2000) là một nhạc sĩ của dòng nhạc vàng
 và tình ca giai đoạn 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam

TRONG CHƯƠNG TRÌNH, mời quí vị cùng nghe những lời chia sẻ của nhà thơ Du Tử Lê, người có một tình thâm với cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng từ khi còn ở Sài Gòn cho đến ngày ông mất ở quê người.

Ca sĩ Khánh Ly: Hôm nay, anh trình bày cùng với Khánh Ly bài “Mây hạ”. Xin anh cho biết bài hát này anh viết từ năm nào?
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng: Bài hát này anh viết năm 1967, lúc đó anh vào quân đội được một năm rồi… Khi một ca khúc, khi một tình khúc được ra đời thì nó mang nhiều ý nghĩa, và trong đó cũng có phảng phất một tình yêu của mình.

            Em đi chiều nay, đường nắng duỗi thân dài.
            Chân chưa vội lay, lại đau từng bước mọn.
            Em ca bài ca, chiều nay buồn hơn khóc.
            Nghe từng ngày mai thẫn thờ, một mình đây.

            Trời chiều nay, mây buông thành khói.
            Bóng anh sẽ mờ, còn đâu em nhớ.
            Ngày dìm em khuất trong màn sương.
            Mờ ảnh cuối đường… Vàng võ niềm thương…

            Em lên tàu đây, sầu kín suốt toa dài.
            Tay ôm niềm đau. Còn tay nào dấu mặt.
            Khóc cũng đành thôi, thời gian làm sao nắm.
            Thương từng hoàng hôn, mây về chở sầu theo.

            Em mãi còn đi, sầu giăng dầy đêm tối.
            Thương từ ngoài hiên, dấu hài chìm vào mưa.

            (Mây Hạ – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Tiếng nói, tiếng hát trầm, ấm, chân tình như chính bút hiệu của ông, Trầm Tử Thiêng. Một bút hiệu mà khi gọi lên, gợi cho người nghe những suy tưởng về một cuộc đời cô độc và có chút gì… ai oán.
            Thế nhưng, không. Người bạn vong niên từ thuở còn ở Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng cho đến suốt những năm sống ở quê người là nhà thơ Du Tử Lê nói rằng, bạn của ông là một người có cuộc sống khép kín chứ không cô độc, không lẻ loi.

Nhà thơ Du Tử Lê: Ông ấy ít tâm sự với bằng hữu về đời sống tình cảm, chỉ một vài người biết thôi. Ông ấy là người đối xử với bằng hữu rất tử tế, như bát nước đầy. Đó là một người đối với bằng hữu hay lắm, nhưng lại là một người rất kín đáo về đời sống riêng.

            Trầm Tử Thiêng để lại cho đời khoảng 200 ca khúc về tình yêu, thân phận, quê hương và chiến tranh. Hành trình sáng tác cũng như tác phẩm của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng gắn liền với thời cuộc của đất nước và của chính cuộc đời ông. Từng giai đoạn, từng biến cố của đất nước đều ảnh hưởng rất lớn đến ca khúc của họ Trầm. Cuộc đời sáng tác của Trầm Tử Thiêng có thể nhìn ở ba giai đoạn quan trọng, trước ngày 30 Tháng Tư năm 75, sau năm 1975 và thời gian ông lưu lạc ở quê người. Cả ba giai đoạn đều là một Trầm Tử Thiêng đau nỗi đau quê hương và một Trầm Tử Thiêng tôn thờ tình yêu thủy chung.
            Trong một lần trả lời cố nhà báo Trường Kỳ, cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có nói rằng: “Mỗi giai đoạn trong tác phẩm của ông đều có sự hiện diện của tình yêu, hoặc thân phận của con người qua mọi biến chuyển của cuộc sống. Dĩ nhiên, nó xen lẫn nỗi đau thương và niềm hạnh phúc.” (trích Tuyển tập Nghệ sĩ 3 xuất bản năm 1998).


Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000)

Trầm Tử Thiêng, người đau nỗi đau quê hương
            Cuối thập niên 1950, rất khó, hay nói đúng hơn là không có một nhạc sĩ nào dùng tên riêng của một người con gái để gửi vào nhạc phẩm của mình. “Hương ca vô tận” đã đánh dấu một cái nhìn mới, rất phóng khoáng của chàng thanh niên trẻ Trầm Tử Thiêng.

Nhà thơ Du Tử Lê: Thứ nhất là những sáng tác ông ấy viết khi còn ở Việt Nam, tức là tính đến Tháng Tư năm 1975. Trong thời gian này, ông ta có hai loại nhạc. Loại nhạc thứ nhất là nhạc tình cảm. Một bài nổi tiếng của ông ấy mà tôi tin nhiều người biết đó là “Hương ca vô tận”.
            Thời đó, tính đến cuối năm 1975, thì các nhạc sĩ không muốn đem tên người vào trong nhan đề, cũng như ca khúc, vì họ cho như vậy là cá nhân quá, tư riêng quá. Khi mà bà Thái Thanh chọn hát thì mình cũng hiểu là nó có một giá trị nghệ thuật nào đó, và bà đã rất thành công với bài “Hương ca vô tận”.

            Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương
            Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường
            Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu
            Cuộc phân ly may lắm thì qua mau
            Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ

            Hát chuyện vai em, tóc xõa bồng mềm, dịu ngọt môi em
            Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già
            Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi
            Mẹ ru em câu hát dài buông lơi
            Hát để yêu cha, ấm lại ngày dài

            Hát nữa đi Hương câu nhạc thành nguồn, gợi chuyện đau thương
            Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường
            Ðồng tan hoang nên lúa ngại đâm bông
            Thuyền ham đi nên nước còn trông mong
            Khiến cả đêm thâu, tiếng em rầu rầu

            Hương ơi! sao tiếng hát em
            Nghe vẫn dạt dào nghe vẫn ngọt ngào
            Dù em ca những lời yêu đương
            Hay chuyện tình, gẫy gánh giữa đường
            Dù em ca, nỗi buồn quê hương
            Hay mưa giăng thác đổ đêm trường

            Hát nữa đi Hương hát đi Hương, hát mãi đi Hương

            (Hương ca vô tận – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Năm 1968, Trầm Tử Thiêng kể lại câu chuyện cây cầu Trường Tiền bị gật sập trên sông Hương như thể ông đang chia sẽ nỗi đau với người dân xứ Huế, một nơi rất gần với Quảng Nam, miền đất quê ông. Đây cũng là ca khúc đầu tiên của Trầm Tử Thiêng đánh dấu việc ông chính thức dùng âm nhạc để phản ảnh biến cố lịch sử.

            Một ngày vào thuở xa xưa trên đất thần kinh người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh
            Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời
            Khắp cố đô dân lành an vui ca thành điệu Nam Bình
            Niềm vui bao lâu ước mơ giờ trên xứ thơ cầu nối liền bờ
            Thỏa lòng người dân hằng chờ có ngày hẹn hò tình đẹp như mơ

            Ngày ngày cầu đã đưa em qua nhóm chợ khuya cầu đã đưa anh qua xới ruộng nâu
            Giờ êm ái quen nghe tiếng hò Ngự Bình
            Nước dưới cầu nước vẫn trong xanh như lòng người dân lành
            Cầu đưa ta đi sớm trưa tìm trong nắng mưa niềm vui ngày mùa
            Hết lòng gìn giữ nhịp cầu nối liền tình người đẹp đời mai sau

            Từng đoàn người dệt tương lai đi nắng về sương dập dìu trong tay chan chứa tình thương
            Cầu êm bóng xa xa nón che rợp đường
            Áo trắng về trắng cầu quê hương mỗi lần chiều tan trường
            Cầu quen đưa bao chuyến xe nhiều khi vẫn nghe buồn vui tràn trề
            Âm thầm người đi, người về trót ghi lời thề ngoài miền sơn khê

            Ngày nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau
            Cầu tha thiết khuyên anh giữ trọn tình đầu
            Nước dưới cầu vẫn trong veo như cuộc tình duyên nghèo
            Tình yêu ta như nước trong dù qua mấy sông lòng vẫn một lòng
            Thương người nhìn qua đầu cầu hứa hẹn ngọt ngào tình bền duyên lâu

            Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi
            Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
            Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài
            Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu
            Mối thù chờ sang ngày nào nối lại nhịp cầu rửa hờn cho nhau

            (Chuyện một chiếc cầu đã gãy – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Nhà thơ Du Tử Lê: Nói về đặc thù của nhạc Trầm Tử Thiêng tôi nghĩ chúng ta nên đề cập đến bài “Kinh Khổ”, là bài ông ấy rất tự hào, chỉ xây dựng trên ba nốt nhạc mà thôi. Tôi cho rằng trong vòng tân nhạc Việt Nam chưa có người nhạc sĩ nào sáng tác một ca khúc mà chỉ với ba nốt nhạc mà thôi.

            Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm
            Lời kinh vọng xa thật êm đềm
            Mẹ cầu cho con. Vượt qua ngày tròn
            Mẹ cầu cho em với tuổi xanh còn nguyên đừng biến mất
            Người về một ngày một lưa thưa
            Người đi càng đêm càng đông dần
            Từng dài âu lo. Từng quen đợi chờ
            Mộng thật cam go miễn là mai niềm đau thành nụ cười

            Xin cho me. Tròn lời kinh đêm nay
            Người sẽ về. Trước khi trời muốn tối
            Xin cho me. Một giờ im kinh động
            Người sẽ về. Dù rách rưới tả tơi
            Người về một ngày một đông thêm
            Người đi càng đêm càng thưa dần
            Một thời điêu linh. Một phen hoạn nạn
            Còn lại hôm nay với vòng tay tình yêu người và người

            Lời nguyện cầu này dành cho nhau
            Từ khi loạn ly vào đêm đầu
            Tình người tiêu hao. Niềm tin bội bạc
            Gà giục sang canh mãi ngoài hiên đầu tơ tròn tiếng gáy
            Lạnh lùng một ngày một qua mau
            Lời kinh mù sương mờ trên đầu
            Mộng chờ sau đêm. Ngày mai thật lạ
            Thù hằn anh em bỗng nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà

            Xin cho me. Trọn niềm tin đêm nay
            Người sẽ về. Trước khi mẹ khuất núi
            Xin cho me. Ngoài trời im kinh động
            Người sẽ về. Dù rách rưới tả tơi
            Người về một giờ một đông thêm
            Người đi càng giây càng không còn
            Rồi ngày sinh ly. Rồi đêm từ biệt
            Còn lại hôm nay những lời kinh tình yêu đầy nhiệm mầu

            (Kinh Khổ – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi, rồi lũ lượt kéo nhau trở về trong tiếng cầu kinh. Đi đâu? Ai đi? Ai trở về? Trầm Tử Thiêng không hề nhắc đến. Chỉ thấy rằng trùm phủ trong ba nốt nhạc ấy là thân phận của dân tộc Việt Nam, qua hình ảnh của người Mẹ đêm đêm vọng cầu lời kinh khổ.
            Ba nốt nhạc vang lên đều đặn như tiếng gõ mõ cầu kinh, hiền lành nơi cửa từ bi nhưng tiếng vọng thì ai oán xé nát màn đêm.
            Trầm Tử Thiêng yêu quê hương như chính thân phận mình. Ông ngồi đấy, nghiêng tai, soi lại đời mình, cũng chính là lúc ông nhìn lại hoàn cảnh thân phận của người Việt Nam, tuổi trẻ Việt Nam, gặm nhấm những kỷ niệm dù là không đầm ấm.

            Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời, thì hãi hùng hoàng hôn chợt tới
            Ta nghiêng vai soi lại tình người, thì bóng chiều chìm xuống đôi môi
            Đang mân mê cho đời nở hoa, chợt bàng hoàng đến kỳ trăn trối
            Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy, bỗng ngỡ ngàng hụt mất trong tay

            Ta khổ đau một đời, để chết trong tình cờ
            Ta tìm nhau một thời, để mất nhau vài giờ
            Bàn tay làm sao níu, một đời vừa đi qua
            Bàn tay làm sao giữ, một thời yêu thiết tha

            Mang ơn em trao tình một lần, là kỷ niệm dù không đầm ấm
            Mang ơn em đau khổ thật đầy, là nắng vàng dù nhốt trong mây
            Mang ơn trên cho cuộc đời ta, vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
            Trong cơn đau một vùng nhang khói, kéo ta về, về cõi hư vô

            (Tưởng niệm – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Trầm Tử Thiêng, người tình thủy chung
            Kỷ niệm là những gì đã trôi qua tầm tay, thuộc về một sân ga có tên là quá khứ. Mỗi một ngày là sân ga ấy lại xa hơn so với con đường phía trước. Thế nhưng, như định luật không thành văn, mỗi khi tình cờ nhìn lại một kỷ vật, hay đôi khi chỉ cần nghe một tiếng cười, đi qua một mùi hương thoảng quen nào đó, thì tất cả ký ức như ngọn lửa cuồn cuộn tràn về. Có ai đã từng một lần nhìn vào tấm ảnh úa vàng có in dấu những mảng vụn vỡ của Sài Gòn ngày cũ, rồi thẫn thờ nhớ về tháng ngày đã qua, thấy mình như đứa trẻ mồ côi lạc loài? Trầm Tử Thiêng đã từng như thế.

Nhà thơ Du Tử Lê: Khi ông ấy nhớ lại một cuộc tình, hơi bi thảm, và tôi cho rằng vì cuộc tình ấy mà gần như cả cuộc đời ông ấy không có gia đình. Cái bài tiêu biểu cho cuộc tình bi thảm và thủy chung của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, đó là “Đêm nhớ về Sài Gòn”.

            Với đất nước, ông chọn cho mình là một người viết sử bằng âm nhạc. Với tình yêu, ông chọn làm người tình thủy chung, dù là mười năm, hay mười lăm năm, hay nhiều hơn nữa.

            Mười năm yêu em em thấm đời mộng mị
            Mười năm yêu em ta thấu tình cuồng si
            Mười năm yêu em ta hóa thành chiếc lá
            Trôi theo từng cơn lũ của kiếp sống

            Tình chưa yên vui bên sóng đời cuồng nộ
            Chợt đêm chia phôi ngăn cách một đại dương
            Từng đêm gian nan ta ngỡ mình sắp đuối
            Nhưng em tình vẫn hát từ bến trời

            Ôi ta nhớ những đêm nằm mộng biển
            Hồn ta bay trên đôi cánh reo mừng
            Giữa cằn cỗi chợt nghe tình xao xuyến
            Ngỡ môi em thầm đợi những mùa Xuân

            Dường như trong ta em có điều tuyệt vọng
            Dường như trong em ta vẫn tình hoài mong
            Mười năm yêu em cũng sẽ là mãi mãi
            Xin em cùng ta hát để nhớ hoài

            (Mười năm yêu em – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Nhà thơ Du Tử Lê: Linh hồn của hai bản nhạc ấy là một người thôi. Ông ấy viết “Mười năm yêu em” là vì khi ông ấy qua đây là mười năm, cũng là thời điểm ông ấy viết “Đêm nhớ về Sài Gòn”. Như tôi hiểu, như tôi biết, sở dĩ ông ấy trân trọng như vậy là bởi vì người phụ nữ đó cho đến ngày ông ấy mất thì vẫn không có lập gia đình. Vì vậy ông ấy rất trân trọng mối tình ấy.

            Cho đến những ngày cuối đời, có thể gọi là giai đoạn thứ ba trong cuộc đời sáng tác của Trầm Tử Thiêng, là giai đoạn ông cùng với nhạc sĩ Trúc Hồ ghi dấu ấn với những bản hợp ca hùng tráng như “Bước chân Việt Nam”, “Bên em đang có ta”…
            Trái tim của Trầm Tử Thiêng suốt một đời đập cùng nhịp đập của đất nước. Hơi thở của ông đầy, vơi theo con nước thủy triều trong dòng sông vận mệnh của nước Việt. Bao nhiêu năm sống lưu lạc xứ người, cho đến cuối đời mình, ông vẫn đau đáu nghĩ về “Một đời áo mẹ áo em”

            Từng mùa ấm lạnh nhớ áo em bao thời rách lành
            Nhìn màu tươi đậm sẽ biết em đang buồn hay vui
            Một thời non dại chung quanh em màu trắng thơ ngây
            Để chiều hôm nào anh say sưa nhìn áo em bay
            Nhưng em có biết, chiếc áo em đổi thay qua từng thời
            Chiếc áo em vui buồn vẫn đầy vơi…

            Dù người sang trọng, dẫu em tôi sống đời quê mùa
            Dù gì dẫu gì, miễn sao em thơm lành tấm áo
            Từng mùa hy vọng, sau mưa đông trời nắng cho xuân
            Dập dìu áo màu đêm reo vui giày guốc tưng bừng
            Ai xinh xắn quá, áo tứ thân ngồi ca Quan Họ
            Áo thắt lưng lụa đào, áo đời xưa…

            Hẹn tình chung tình, thế gian ca áo nàng Tô Thị
            Chờ người không về, áo ôm con hóa thành tượng đá
            Hận thù Tô Định đem quân sang dày xéo quê ta
            Lời nguyền vang vọng, gươm anh thư một trời sáng lóa
            Áo phất trên lưng voi, tiếng thét đêm Mê Linh
            Đã nêu uy danh Trưng Vương qua nghìn đời
            Rồi hồn thiêng sông núi im trôi trên giòng Hát Giang
            Mộng chìm sâu trong tối, nước non thêm những lầm than!

            Mượt mà áo dài, nét cao sang em là hoa hậu
            Tỏ mờ ánh đèn, áo lung linh hỡi nàng ca sĩ
            Thời vào trung học em thanh tân lộ dáng hoa khôi
            Chờ mùa tựu trường me cho thêm vài chiếc áo dài
            Em đi ra phố, có biết đâu trăm mắt thiên hạ nhìn
            Áo thắt eo dậy thì, áo thời nay…

            Thường thường đất trời, tiết sang xuân hoa rừng sẽ nở
            Được mặc áo dài, thoáng đôi năm em đẹp ngẩn ngơ
            Một ngày nắng hồng em sang ngang mặc áo thiên thanh
            Tình nào lỡ làng, ai yêu em một lời dấu kín!
            Áo bước lên xe hoa, nút tháo đêm tân hôn
            Áo trao anh nguyên hương trinh đêm vợ chồng
            Phận mười hai bến nước, em xin chia tròn ấm lạnh
            Đời trải bao mưa nắng, áo phai nhưng tình nào phai
            Đến giáp xuân năm sau, áo vén lên nuôi con!
            Thiết tha ôm ru tương lai, ơi mầm non!
            À… ơi à ơi! Ru con ru hỡi ru hời…
            Ngày nào con khôn lớn sẽ dâng lên mẹ niềm vui…

            Đầu mùa chiến trận, áo ôm con tiễn chồng lên đường
            Cuộc đời đâu ngờ, giữa yên vui đất bằng nổi sóng!
            Ngùi ngùi chinh phụ, bao canh thâu vò võ ru con
            Một ngày mưa buồn nghe tin xa người vừa ngã xuống!
            Áo thét lên như điên. Áo níu lui xe tang
            Áo run run lên, ôi duyên em dở dang!!!
            Chiều đổ nghiêng đôi bóng, cô nhi trong lòng góa phụ
            Gục đầu bên mộ chí, áo tang ru hỡi tình ru!

            Dù trời thái hòa, vẫn đau thương nên áo bỏ quê nhà
            Vượt trùng dương rộng, áo lênh đênh phơi tà trên sóng
            Vào được bến bờ, ôi tang thương vạt trước thân sau
            Lòng mình quê người! Hai mươi năm tưởng mới hôm nào
            Thương thay chiếc áo! Chiếc áo mẹ và em suốt một đời
            Dấu kín trăm nỗi niềm, dẫu buồn vui…
            Áo khóc thân lưu vong, Nhớ lúc xưa bên me
            Áo đua bay theo trăm hoa đêm hội hè…
            Dù cuộc đời xô tới xô lui, em về nơi nào
            Đừng để em với áo xót xa chia lìa tình nhau
            Đừng để em với áo xót xa chia lìa tình nhau…

            (Một đời áo mẹ áo em – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Tạp chí âm nhạc cuối tuần đến đây là hết. Cát Linh xin chào tạm biệt. Hẹn gặp lại quý vị trong chương trình kỳ sau.


CÁT LINH
Tháng 11/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/singer-compos-ttthieng-11082015073733.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #32 vào: 20/06/2017, 21:19:42 »
Chu Văn An – Sáng ngời đức độ nhà giáo Việt

Hơn 600 năm trước, nhà Nho Chu Văn An đã một thời làm rạng danh cho giới sĩ phu, nêu cao khí tiết thanh cao và thể hiện tinh thần chính trực “uy vũ bất năng khuất”. Sự nghiệp của Chu Văn An là sự nghiệp của một nhà giáo, khi còn ở quê thì ông mở trường dạy học, khi làm quan thì làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, dạy thái tử và đào tạo nhiều học trò thành những người giữ trọng trách quốc gia, khi từ quan lại trở về quê dạy học. Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, Chu Văn An luôn được xem là biểu tượng của người thầy mẫu mực.

Tượng thờ Chu Văn An trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội

Đọc sách Thánh hiền không phải để tìm kiếm công danh
            Chu Văn An tên thật là Chu An, tên chữ là Linh Triệt, sau về ẩn cư thì xưng hiệu là Tiều Ẩn. Khi ông mất, được vua phong tước Văn Trinh Công, nên người đời sau mới gọi là Chu Văn An. Ông sinh ra tại làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Sử sách không chép rõ ông sinh năm nào, nhưng theo thần tích tại đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm Thành Hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn 1292 và mất năm Canh Tuất 1370.
            Chu An là người chính trực, không màng danh lợi. Ông đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ), nhưng không ra làm quan mà ở lại quê nhà mở trường dạy học. Ông có công lớn trong việc truyền bá giáo dục tư tưởng Khổng giáo ở Việt Nam. Học trò của Chu An lên đến vài ngàn người, xa gần đều biết tiếng. Đến mức mà vua Trần Minh Tông vời ông ra làm Tư nghiệp Quốc tử giám (tức Hiệu trưởng).
            Chu An là thầy dạy của hai vị hoàng tử mà sau này đều trở thành vua là Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông. Minh Tông làm vua từ năm 1314 đến năm 1329 thì nhường ngôi cho con trai và lên làm thái thượng hoàng đến khi mất vào năm 1357. Kế nhiệm Minh Tông là vua Hiến Tông, trị vì từ năm 1329 đến năm 1341 thì mất. Sau đó, em trai Hiến Tông là Dụ Tông lên ngôi, trị vì từ năm 1341 đến năm 1369.
            Như vậy, Chu An làm Tư nghiệp Quốc tử giám trải ba triều: Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Thế nhưng, đến năm 1357, sau khi thượng hoàng Minh Tông băng hà, thì vua Dụ Tông được nắm trọn đại quyền nên bắt đầu lao vào cuộc ăn chơi, nghe lời xúc xiểm của đám nịnh thần, triều đình trở nên thối nát. Trong khi chính sự suy đồi, tình thế nhiễu nhương, Chu An đã nhiều lần can gián vua và cũng là học trò của mình. Cuối cùng ông đã hiên ngang dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần mà sử sách gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ này ngày nay đã thất lạc nên không biết rõ chính xác tên của 7 tên nịnh thần mà Chu An xin chém. Nhưng qua việc vua Dụ Tông từ chối lời đề nghị của thầy mình là Chu An, cũng đủ thấy thế lực và ảnh hưởng của 7 tên nịnh thần ấy lớn dường nào.
            Thỉnh cầu không được vua chấp nhận, quan Tư nghiệp Chu An lập tức cáo quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều Ẩn, dạy học, viết sách cho tới cuối đời. Bên cạnh việc dạy học để truyền bá đạo Thánh hiền, Chu An còn sáng tác nhiều sách vở trong đó có Tứ Thư Thuyết Ước, Tiều Ẩn Thi Tập và Quốc Ngữ Thi Tập, nhưng đều bị người Tàu thời Minh cướp lấy mang về Kim Lăng cả. Ông còn soạn một cuốn sách thuốc có tên là Y Học Yếu Giải Tập Chu Di Biên.

Đóng góp to lớn cho nền giáo dục nước nhà
            Thời đại Chu An là giai đoạn hậu chiến tranh chống quân ngoại xâm Nguyên-Mông. Sau chiến tranh, thì việc dùng văn trị để định quốc an bang là điều tất yếu. Thế nhưng câu hỏi đặt ra là phải dùng gì đây giữa ba tôn giáo khi ấy là: Nho, Phật, Lão?
            Nên nhớ rằng, khi Phật giáo được các vua đầu nhà Trần coi trọng và thịnh hành, thì Nho giáo đóng vai trò thứ yếu. Ban đầu chỉ có nhà chùa là nơi dạy chữ Nho và sách sử. Tuy nhiên, ở thời đại Chu An, Nho học bắt đầu từng bước lớn mạnh. Nhiều nhà Nho và thái học sinh không làm quan, về mở trường dạy sách Nho như trường hợp của Chu An. Hệ thống trường lớp tại các địa phương được hình thành. Đó là những tiền đề quan trọng để Nho giáo dần tiến lên vai trò độc tôn trong hệ tư tưởng giáo dục và chính trị thời Hậu Lê thế kỷ 15.
            Và đương nhiên Chu An có công không nhỏ trong công cuộc phát triển Nho giáo này bởi trong hệ thống trường lớp như đã nói, thì ta biết rằng trường của Chu An là nổi tiếng và có đến hàng ngàn học trò, và bởi mấy chục năm lèo lái con tàu giáo dục của quốc gia trên cương vị lãnh đạo Quốc Tử Giám. Trước tác Tứ Thư Thuyết Ước của Chu An rất có thể được xem là một trong những diễn dịch, bình luận và giải thích Nho giáo sớm nhất của Việt Nam. Thầy Chu An đào đạo đến hai thái tử và đều trở thành vua nhà Trần. Học trò của ông cũng có người làm quan cao như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát giữ đến chức hành khiển (tể tướng).
            Với công đức đó, khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông đã đặt tên thụy là Văn Trinh, truy tặng tước Công (tước lớn nhất trong năm tước mà người ngoài hoàng tộc có thể được phong dưới thời phong kiến), ban hiệu là Khang Tiết Tiên Sinh và được đem vào thờ trong Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử. Danh sĩ nổi tiếng thế kỷ 19 là Ngô Thế Vinh trong bài văn bia ở đền thờ Chu Văn An đã giải thích hai chữ “Văn Trinh” như sau: “Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chi chính cố dã”, tức: Văn là cái vẻ đẹp bên ngoài của đức, Trinh là sự bền vững bên trong của đức, nghĩa là ngoại mạo và tâm hồn Chu An đều đẹp cả. Qua đó mới thấy vua nhà Trần ngưỡng vọng Chu An đến mức độ nào.

Vạn Thế Sư Biểu
            Các sử gia phong kiến Việt Nam thời hậu Chu An đều không tiếc lời ca tụng đức độ của ông, và luôn xem ông là Biểu tượng mẫu mực của người thầy giáo Việt:
            – Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định về Chu An trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như sau:

            “Người hiền được dùng ở đời thường lo vua không thi hành điều sở học của mình. Vua thì dùng người hiền mà hay lo người hiền không theo ý muốn của mình. Cho nên, vua tôi gặp nhau, từ xưa đã là rất khó.
            Nho gia nước Việt ta được dùng rất nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì lo làm giàu, kẻ chỉ xu phụ, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ thân, ít ai chịu để tâm đến đạo đức, lo nghĩ việc giúp vua nêu đức tốt để cho dân được nhờ. Tô Hiến Thành thời Lý và Chu Văn Trinh đời Trần có lẽ cũng gần được. Nhưng Hiến Thành gặp được vua sáng nên công danh sự nghiệp được thấy ngay đương thời, còn Chu Văn Trinh đời Trần không gặp được vua anh minh nên chính học của Ông phải đến đời sau mới thấy được.
            Văn Trinh thờ vua thẳng thắn mà can ngăn, xuất xử thì làm theo nghĩa lý, đào tạo người tài thì công khanh đều ở cửa nhà ông mà ra, tiết tháo của ông cao thượng đến thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Huống chi, tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ. Ngàn năm về sau, nghe phong độ của ông, há kẻ điêu ngoa lại không thành liêm chính, kẻ yếu hèn lại không biết tự lập hay sao?


            Ta thấy rằng, một sử gia nổi tiếng là khắc khe trong đánh giá lịch sử, nổi tiếng là kỹ lưỡng, kén chọn từng chữ từng lời như Ngô Sĩ Liên cũng đã dành bấy nhiêu câu khen ngợi đủ thấy Chu An được kính trọng đến thế nào.
            – Trong Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận, sử gia Lê Tung thế kỷ 15 thì ca tụng Thất Trảm Sớ của Chu An là: “Thất trảm chi sớ, nghĩa động càn khôn”, tức là: Bài sớ xin chém bảy tên nịnh thần, nghĩa khí động tới trời đất.
            – Phan Huy Chú – một học giả lừng danh triều Nguyễn ca ngợi Chu An rằng: “Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt ta trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”.
            – Vua Tự Đức trong Việt Sử tổng vịnh viết về Chu An như sau:

                        Thượng tường sơn đẩu thế gian sư,
                        Tâm dự nhân quai nhất khứ trừ.
                        Thất trảm sớ thành thiên địa giám,
                        Trực thanh bất cộng hữu Trần suy
.

            Nghĩa là:
                        Gian tà đâu để tung hoành,
                        Khí cao vằng vặc lưu danh sáng ngời.
                        Sớ dâng chứng với đất trời,
                        Không đang tâm sống cảnh đời suy vi.

Đức độ khiến được cả quỷ thần
            Đức độ của Chu An không chỉ được các bậc túc Nho ca ngợi, mà dân gian cũng dành niềm kính ngưỡng. Một trong những minh chứng cho sự kính ngưỡng đó là câu chuyện dân gian mang màu sắc dã sử về sự tích Đầm Mực được sử sách chép lại như sau:
            Tương truyền khi ông mở trường dạy học, rất đông học trò tìm đến thụ nghiệp. Trong số học trò có một thanh niên, mặt mũi sáng sủa hôm nào cũng đến thật sớm. Ông khen là chăm chỉ nhưng hỏi thì ngập ngừng không nói quê quán ở đâu. Ông cho người đi theo thấy người đó đi đến đầm Đại (nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất nên ngờ là thủy thần.
            Năm đó, trời đại hạn, dân chúng khổ sở lắm. Một hôm, thầy Chu mới mở lời nhờ người học trò nọ làm mưa cứu dân. Người học trò ấy tuân lời thầy mới ra đứng giữa sân, lấy nghiên mực, ngửa mặt lên khấn, lấy bút thấm mực vãi ra bốn phương. Lúc hết mực tung bút và nghiên lên trời. Lập tức, mây đen kéo đến, sấm chớp ầm ầm, trời đổ một trận mưa thật lớn. Người học trò đội mưa đi về, ra đến cửa thì biến mất. Sáng hôm sau, không thấy y trở lại học, Chu An cho người đến đầm Đại tìm thì thấy một con thuồng luồng thật to chết nổi trên mặt nước. Ông thương xót, sai học trò vớt xác mang về mai táng tử tế.
            Dân làng thấy vậy lập đền thờ, nay vẫn còn. Chỗ nghiên mực ném lên rơi xuống nay thành đầm nước lúc nào cũng đen, gọi là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai, sau này là một làng văn học nổi tiếng (quê hương Ngô Thời Sĩ, Ngô Thời Nhiệm triều Hậu Lê). Trong đền thờ còn một đôi câu đối ghi lại sự tích này như sau:
            Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận, chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô. (Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải, mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng dội nước, đất đang khô cũng trổ mùa).

Tấm gương sáng ngời cho hậu thế
            Niềm tôn kính của người xưa đối với thầy Chu Văn An là vậy. Thế ở thời đại chúng ta ngày nay thì sao? Tấm gương đạo đức của thầy Chu có còn giá trị hay không? Sau đây, Phó giáo sư-Tiến sĩ Sử học Hà Minh Hồng sẽ minh thị đôi điều về những vấn đề này. Sử gia Hà Minh Hồng hiện là Trưởng Khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Lê Phước: Thưa Phó giáo sư, với tư cách là một nhà sử học đương đại, trước tiên xin Phó giáo sư nhận định đôi điều về vai trò của Chu Văn An trong nền giáo dục nhà Trần cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14?
Phó GS-TS Hà Minh Hồng:
            Trong giai đoạn cuối thế kỷ 13 sang thế kỷ 14, ở Việt Nam, để phát huy được hào khí Đông Á sau khi nhà Trần ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, việc đề cao đạo học, mà trước hết là Nho giáo, tức là tôn sùng đạo Khổng-Mạnh để trị nước, là hết sức cần thiết. Người có học Nho và đỗ Thái học sinh (tương đương tiến sĩ) như Chu Văn An khi ấy không phải là thiếu. Và việc khoa cử và con đường quan lộ đối với các Nho sĩ gần như là con đường không thể nào khác được. Nhưng Chu Văn An có học hành, có đỗ đạt, mà không ra làm quan lại ở nhà mở trường dạy học để truyền bá tư tưởng Khổng-Mạnh, trường hợp như vậy thì rất hiếm.
            Thực ra thì Chu Văn An cũng có ra làm quan: làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Nhưng ông làm quan trong mục đích là đóng góp sức lực vào sự nghiệp giáo dục đào tạo nước nhà, đào tạo những người có trọng trách quốc gia, như làm thầy dạy các thái tử. Nếu không phải vì mục đích đó thì ông cũng chẳng ra làm quan.
            Chu Văn An đã xây dựng cho mình 4 quan điểm về đạo đức nhà giáo, mà cho đến bây giờ những quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị, vẫn còn rất cần thiết. Bốn quan điểm đó là: cùng lý, chính tâm, tịch tà và cự bí (Cùng lý là hiểu phải cho đến nơi đến chốn, chính tâm là giữ lòng cho ngay thẳng, tịch tà là trừ bỏ thói hư, tật xấu, chống lại tà thuyết và cự bế là ngăn ngừa cái dở), tức đề cập đến những vấn đề về kiến thức, về lương tâm đạo đức, về bản lĩnh của người thầy. Thời đó, mà ông đưa ra vấn đề này có vẻ còn hơi sớm, bởi ở cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, Nho giáo chỉ trong giai đoạn đang lên, nhưng chưa đến hồi cực thịnh. Chu Văn An đã đi trước thời đại, và chính nhờ điều đó đã giúp ông trở thành người thầy giáo có tính chất tiên phong
.

Lê Phước: Chu Văn An được sử sách xem là một mẫu mực của nhà giáo. Vậy xin Phó giáo sư tóm lược những nét chính trong đức độ nhà giáo của thầy Chu Văn An.
Phó GS-TS Hà Minh Hồng:
            – Thứ nhất: Chu Văn An là một người thầy rất giỏi. Ông giỏi nên ông mới dạy được các lớp học trò từ bậc quyền quý nhất như thái tử đến những người bình thường ở làng quê. Đặc biệt, ở trường làng, ông có hàng ngàn môn sinh. Nức tiếng đến tận triều đình. Thậm chí đến thủy thần cũng tìm đến học. Câu chuyện quỷ thần chỉ là chuyện dã sử, nhưng qua đó cho thấy rằng ai cũng muốn đến học với thầy Chu Văn An. Ông là nhà giáo đầu tiên của nước Đại Việt có nhiều học trò giỏi. Từ đó tạo điều kiện cho cái học Khổng-Mạnh dần dần chiếm vị trí độc tôn trong nền giáo dục Đại Việt.
            – Thứ hai: Chu Văn An là nhà giáo rất nghiêm nghị và mẫu mực. Học trò của ông có người làm quan to, như Phạm Sư Mạnh hay Lê Quát làm đến tể tướng, thế mà khi khi đến với thầy Chu Văn An các ông này vẫn phải khép nép và thậm chí có khi còn được nhắc nhở, dạy bảo những gì mà thầy Chu Văn An thấy cần phải nhắc nhở học trò.
            – Thứ ba: Chu Văn An là một thầy giáo có phong thái trong sạch và tiết tháo. Thấy quyền thần làm điều trái đạo thì ông can gián và viết thất trảm sớ xin chém bảy tên nịnh thần. Vua không nghe thì ông lập tức từ quan chứ không màng chi công danh lợi lộc. Ông từ quan về quê dạy học, dạy dân, làm thuốc, viết sách… Chu Văn An làm như vậy là để giữ nguyên cái đức sáng ngời, làm cho đạo học được thâm sâu hơn ở chính ông và những người được ông tiếp tục đào luyện. Chính phẩm chất thanh cao tuyệt vời ấy mà ông đã được người đương thời và đời sau ca ngợi, tôn là “Vạn thế sư biểu”.
            Sau khi ông qua đời, triều đình đã đưa ông vào thờ ở Văn Miếu, xem ông ngang hàng với các bậc thánh hiền ngày xưa. Đó là một điều hết sức hiếm có. Người dân ở làng quê của ông thì tôn thờ ông làm Thành hoàng. Người ta gọi ông là “Đức thánh Chu”, “Đức Thánh Văn”. Qua đó mới thấy, ngay cả khi đã qua đời, đạo đức của Chu Văn An vẫn tiếp tục sáng ngời.
            Trước triều Trần, có những người có cống hiến rất lớn lao. Sau triều Trần, cũng có không ít những bậc tôn sư đạo cao đức trọng. Nhưng nhân cách thanh khiết, thuần nhã, khí phách, chính trực, kiên cường như Chu Văn An thì không ai có thể sánh. Ông là một người thầy mẫu mực cho nền “lương sư hưng quốc” Đại Việt. Lịch sử giáo dục Việt Nam từ xưa đến nay vẫn một niềm tôn kính đối với Chu Văn An, đặt ông ở địa cao quý nhất, khả kính nhất, người đứng đầu các bậc nhà giáo danh nhân đất Việt từ ngàn xưa
.

Lê Phước: Thưa Phó giáo sư, thế hệ nhà giáo ngày nay cần học tập gì từ tấm gương đạo đức của Thầy Chu Văn An?
Phó GS-TS Hà Minh Hồng:
            Chúng tôi nghĩ rằng, bản lĩnh nhà giáo là hết sức quan trọng. Bản lĩnh ở đây là thể hiện được cái thanh liêm, tính biết nêu gương ở người thầy. Toàn bộ đức độ của người thầy, toàn bộ ứng xử của người thầy, toàn bộ kiến thức của người thầy: Tấm gương của người thầy phải thể hiện được những mặt như vậy. Tôi nghĩ đây cũng là ba vấn đề đang hết sức nóng bỏng, những vấn đề đang rất cần phải có trong đạo đức của người thầy giáo hiện nay.


***

            Thầy Chu Văn An đã mất cách đây gần bảy thế kỷ, giáo dục giữa thời đại của thầy Chu và thời đại ngày nay của Việt Nam cũng hoàn toàn khác. Thế nhưng, như sử gia Hà Minh Hồng nhận định, đức độ Chu Văn An vẫn còn những giá trị quý giá để thế hệ nhà giáo hiện tại soi rọi. Mà một trong những điều đáng chú ý nhất đó chính là tính gương mẫu của người thầy.
            Một trong những lợi ích chính của lịch sử đó chính là cung cấp cho thế hệ sau những bài học kinh nghiệm và những tấm gương cần noi theo thông qua việc “ngẫm lại chuyện xưa”. Thời gian qua, trong xã hội Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ học trò tấn công cả thầy cô, khiến cho dư luận phẫn nộ. Thế nhưng, nói đi cũng phải nói lại, bên cạnh cái lỗi của học trò còn có cái lỗi thiếu gương mẫu của không ít thầy cô với biết bao vụ việc thầy cô nhũng nhiễu học trò, bạo hành học trò… tức không biết nêu gương để được học trò kính trọng. Trong bối cảnh đó, thiết nghĩ, đọc lại cuộc đời và sự nghiệp của thầy Chu Văn An cũng có lắm điều bổ ích.


LÊ PHƯỚC
Tháng 5/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130510-chu-van-an-sang-ngoi-duc-do-nha-giao-viet

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #33 vào: 22/06/2017, 14:13:59 »
Rodin, người thổi hồn cho nghệ thuật điêu khắc

Với gần một triệu lượt khách viếng thăm hàng năm, Musée Rodin lọt vào danh sách 10 viện bảo tàng quan trọng nhất Paris. Nằm cách điện Invalides vài trăm thước, viện bảo tàng này giống như một tòa dinh thự tọa lạc trong một khu vườn trồng nhiều cây xanh. Kho lưu trữ cũng thuộc vào hàng nhất nhì nước Pháp với hơn 30 ngàn tác phẩm đủ loại. Từ Nụ hôn (Le Baiser) đến Người suy tư (Le Penseur) hay Cổng địa ngục (La Porte de l’enfert)… chỉ nhắc đến những tác phẩm này, người ta nghĩ ngay đến Auguste Rodin (12/11/1840 – 17/11/1917). Bên cạnh một Rodin nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng từ đầu thế kỷ XX, là một Rodin họa sĩ, nghệ sĩ lắp ráp–cắt dán… ít được đề cập hơn khi nhắc đến sự nghiệp của ông.

Chân dung Nhà điêu khắc Auguste Rodin năm 1909

GIỚI THIỆU trọn vẹn sự nghiệp của Rodin trên các loại hình nghệ thuật khác nhau là mục đích của triển lãm cùng tên diễn ra tại Grand Palais (Đại Điện) ở Paris, từ ngày 22/03 đến 31/07/2017 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của nghệ sĩ người Pháp. Đặt Rodin vào bối cảnh thế kỷ XXI, ban tổ chức cũng muốn chứng minh rằng, qua phong cách sáng tạo mang tính tiên phong, nhà điêu khắc vẫn còn khiến nhiều nghệ sĩ ngày nay ngạc nhiên và thán phục trước tính táo bạo trong những tác phẩm của ông.
            Khoảng 170 tác phẩm được trưng bày trong ba khu vực triển lãm: Rodin theo trường phái biểu hiện, Rodin nhà thí nghiệm và làn sóng ảnh hưởng của nghệ sĩ sau năm 1945. Mỗi khu vực trưng bày lại được bài trí theo cùng một kiểu: tác phẩm của Rodin, những tác phẩm được ưu ái khi ông còn sống và cách nhìn nhận về ông của thế hệ nghệ sĩ sau này, cũng như sự tiếp thu một số phương diện từ tác phẩm của ông.


Bức phù điêu Cổng địa ngục (La Porte de l’enfert)

Rodin, cha đẻ của nghệ thuật điêu khắc hiện đại
            Rodin được coi là cha đẻ của nghệ thuật điêu khắc hiện đại, như nhận xét của bà Catherine Chevillot, giám đốc bảo tàng Rodin và là người phụ trách triển lãm:

             “Dấu ấn sáng tạo chính của Rodin chính là mặt thực nghiệm. Rodin là một nghệ sĩ điêu khắc luôn tìm cách tái hiện sự sống qua tác phẩm nặn tượng hay điêu khắc của mình. Ông từng nói chẳng có gì là thái quá trong điêu khắc. Chính ông là người sáng tạo ra loại hình biểu hiện này vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đối với mọi lời phê bình, mọi bài báo vào thời kỳ đó, Rodin là người đã mang lại sự sống cho nghệ thuật điêu khắc”.

            Cơ thể con người, hoàn toàn khỏa thân, là chủ đề chính trong các tác phẩm của Rodin. Ông muốn để cơ thể lên tiếng vì với ông, “Cơ thể là một khuôn đúc nơi đam mê hằn sâu”. Vì thế, Rodin đề cao nét tự nhiên của cơ thể, loại bỏ mọi quy chiếu lịch sử hay văn hóa ra khỏi các tác phẩm Quý tộc Calais (Les Bourgeois de Calais, 1895) hay Cổng địa ngục (La Porte de l’enfer, 1880-1890).
            Bức tượng Đứa con hư trở về (L’Enfant prodigue, 1905) nằm trong khối Cổng địa ngụcGiấc ngủ (Le Sommeil, khoảng 1894) luôn là hai tác phẩm quyến rũ bà Marie-Madeleine Lardoux và bà Brigitte Mouterde, hai khách thăm quan triển lãm:

             “Tác phẩm Đứa con hư trở về làm chúng tôi say mê. Cậu bé có hành động, vừa giống như đang mở rộng với thế giới, vừa như đang thỉnh cầu, rất xúc động nhưng đồng thời cũng tràn đầy sinh lực. Tác phẩm Giấc ngủ là một khối đá, chỉ có mỗi khuôn mặt phụ nữ đang thiu thiu ngủ lộ ra, nhưng lại mang một nét trong trắng và giản dị tuyệt vời.
            Chúng tôi luôn thích những tác phẩm bằng đá của Rodin hơn là tác phẩm bằng đồng, dù “Đứa con hư trở về” được làm bằng đồng, đây là trường hợp đặc biệt. Chúng tôi cũng rất thích ngắm những tác phẩm bằng đá cẩm thạch thể hiện bàn tay, bàn chân. Đá cẩm thạch trắng luôn có nét gì đó tinh tế hơn và luôn dễ chịu hơn khi ngắm toàn khối tác phẩm. Ngoài ra, chúng tôi thấy đá cẩm thạch thể hiện sự trong trẻo, thuần khiết và êm dịu hơn là chất liệu đồng
”.


Bức phù điêu Cổng địa ngục (La Porte de l’enfert)

            Đá cẩm thạch và đồng là những nguyên liệu sáng tạo chính của Rodin. Nhưng bà Catherine Chevillot còn muốn giới thiệu nhiều tác phẩm được làm từ thạch cao được lắp ghép hay cắt dán, mà ít được công chúng biết đến.

             “Đối với những tác phẩm được cho là hoàn thiện, như các tác phẩm sẽ được giao cho khách hàng, nhà sưu tầm, có hai vật liệu chính được cho là sang trọng thời kỳ đó mà ông thường dùng, đó là đá cẩm thạch và đồng. Ông sử dụng chúng khá khác nhau: đồng là một vật liệu có vẻ gần hơn với tư tưởng sống, với lớp da ngoài mà ông gắn bó. Còn đá cẩm thạch, người ta nói đến điều gì đó vô cùng hoàn hảo để rộng mở cho những vật liệu thô và không mài rũa trong suốt nhiều thập kỷ qua. Như vậy, người ta có những quan niệm thẩm mỹ khá khác nhau tùy theo các vật liệu được sử dụng.
            Kỹ thuật cơ bản của Rodin là nặn đất. Nhưng Rodin cũng nhanh chóng chuyển sang làm việc với thạch cao tươi. Điều này độc đáo hơn. Đó là những kỹ thuật trong xưởng nhưng cuối cùng được biến thành kỹ thuật sáng tạo. Rodin nặn đất và thường xuyên làm thành nhiều mảnh. Sau đó, từ những mảnh này, ông lắp chúng lại với nhau, ông cắt xén, ông chia chúng rồi làm lại. Đó là kiểu phối hình liên tục
”.

            Ngoài một Rodin nhà điêu khắc nổi tiếng, người xem còn được khám phá một Rodin họa sĩ “ít nổi tiếng hơn, ít hoàn hảo hơn” nhưng vô cùng sáng tạo. Tuy nhiên, hai nữ khách thăm quan Marie-Madeleine Lardoux và Brigitte Mouterde lại không tỏ ra ngạc nhiên khi khám phá tài năng ít được nhắc đến của nghệ sĩ:

             “Chúng tôi không ngạc nhiên vì thường xuyên, người nghệ sĩ điêu khắc cũng là những nhà vẽ tranh, họa sĩ, họ thử mỗi thứ một ít vì để chuẩn bị cho công việc điêu khắc của mình. Điều này giải thích việc trưng bày các tác phẩm hội họa của Rodin ở triển lãm. Tuy nhiên, có thể hơi thất vọng ở điểm hội họa so với các tác phẩm điêu khắc. Với chúng tôi, Rodin là nhà điêu khắc hơn là họa sĩ”.


Pho tượng Thời đại đồng thau (L’Âge d’airain)

“Nếu chọn là nghệ sĩ, phải là người giỏi nhất!”
            Khi còn nhỏ, Auguste Rodin là một học trò xoàng, nếu không muốn nói là tầm thường. Ngoài môn toán, cậu chẳng giỏi chính tả lẫn cú pháp và thường cau có khi phải phát biểu. Cách biểu hiện ưa thích của cậu là đất và cây bút chì. Thế nhưng, dù có khiếu về hội họa, Rodin vẫn ba lần thi trượt vào trường Mỹ Thuật, không được nhận giải thưởng danh giá Roma, được coi là “bảo bối” cho các nghệ sĩ. Không một xu dính túi, Rodin phải làm nhiều việc vặt để kiếm sống và trường đời đã giúp ông trưởng thành.
            May mắn là cha mẹ của Rodin ủng hộ cậu con trai khi ông nói muốn trở thành nghệ sĩ. Cha ông chỉ ra một “điều kiện”: “Nếu con muốn là nghệ sĩ, thế thì phải là người giỏi nhất!” Tác phẩm đầu tiên của Rodin chính là cha của nhà điêu khắc, Jean-Baptiste Rodin, được hoàn thành vào năm 1860.
            Tên tuổi Auguste Rodin trở nên nổi tiếng vào năm 1877 với tác phẩm bằng đồng đầu tiên mang tên Thời đại đồng thau (L’Âge d’airain, 1877). Tác phẩm thật và đẹp đến nỗi trở thành chủ đề tranh cãi: người ta đồn rằng nghệ sĩ đã nặn khuôn trên người mẫu sống. Sau thành công đầu tiên này, Rodin thực hiện nhiều tác phẩm khác làm nên tên tuổi của ông trong những năm 1880 như Người suy tư, Nụ hôn, Cổng địa ngục hay Quý tộc Calais.


Pho tượng Thời đại đồng thau (L’Âge d’airain)

            Khoảng năm 1884, ông gặp Camille Claudel, cô học trò trẻ trung và xinh đẹp, người sau này trở thành cộng sự, người tình và nàng thơ của ông trong suốt nhiều năm, dù lúc đó ông đã kết hôn với Rose. Cuối cùng, Rodin muốn giữ mái ấm gia đình và phụ tình Camille Claudel. Cô học trò của ông phát điên và phải vào bệnh viện tâm thần năm 1913. Rodin cũng chìm trong đau khổ và giằng xé vì cuộc tình sâu đậm này.
            Thành phố Meudon nhỏ bé, thanh bình ở ngoại ô Paris trở thành nơi sinh sống của ông và gia đình từ năm 1895. Đây cũng là nơi yên nghỉ của người đã thổi hồn vào những bức tượng. Sau khi Rodin mất, Judith Claudel, nhà viết tiểu sử đầu tiên của Rodin, đã kiểm kê kho tác phẩm ông để lại, trong đó có khoảng 7.000 bức tranh. Bà cũng tìm thấy một thùng cac-tông, phía trên ghi “Bảo tàng bí mật”. Từ này khiến người ta liên tưởng đến bảo tàng bí mật Napoli, từ năm 1821 là nơi giấu những tác phẩm khiêu dâm được phát hiện ở Herculanum và Pompei.
             “Bảo tàng bí mật” của Rodin gồm 121 bức vẽ và tranh mầu nước do chính tay nghệ sĩ vẽ, tập trung chủ yếu vào bộ phận sinh dục nữ và những cảnh ái ân giữa hai phụ nữ đồng tính… Từ lâu được giữ kín ở Meudon khỏi những ánh mắt tò mò, cuối cùng những tác phẩm này đã trở thành chủ đề của một bản công bố khoa học.


Pho tượng Người suy tư (Le Penseur)

Đến Paris xem viện bảo tàng điêu khắc Rodin
            Được khánh thành vào năm 1919, tức là hai năm sau ngày nhà điêu khắc Auguste Rodin qua đời, viện bảo tàng chủ yếu bảo tồn và trưng bày các tác phẩm của nghệ sĩ bậc thầy. Sinh thời, Rodin đã nổi danh như một trong những tên tuổi hàng đầu của ngành điêu khắc. Theo đánh giá của Viện bảo tàng MET (Metropolitan Museum of Art tại New York) trong số 10 pho tượng nổi tiếng nhất trên thế giới, có đến ba bức là nằm trong tay của Viện Bảo tàng Rodin.
            Lừng danh hơn cả là bức điêu khắc Le Penseur (Người suy tư) ở trong thế ngồi chống cằm trầm tư suy ngẫm. Kế đến là bức tượng Le Baiser (Nụ hôn), qua đó một cặp tình nhân đang say đắm hôn nhau, quấn quýt ghì chặt, vòng tay tha thiết. Bức thứ ba mang tựa đề L’Âge d’Airain (Thời đại đồng thau) thể hiện cho sự khỏe khoắn, rắn rỏi của tuổi trẻ qua hình tượng của một thanh niên khỏa thân.
            Khác với truyền thống của trường phái cổ điển, những bức điêu khắc của Rodin không dùng nét tiểu tiết chạm khắc tinh xảo (đá cứng vẫn mềm nhờ bàn tay chạm trổ của con người) để mô tả ngoại hình tột cùng cân đối, tuyệt đỉnh hài hòa, mà lại nhào nặn cơ thể con người một cách tinh tế hiện thực, để diễn đạt sắc thần và trạng thái nội tâm. Bằng hoa cương, ngọc thạch, đất nung hay đồng sắt, các bức điêu khắc của Rodin gọi là tượng nhưng lại sinh động như thật, có thêm chiều sâu tư tưởng, tiềm tàng sức sống mãnh liệt.


Pho tượng Người suy tư (Le Penseur)

            Đến thăm Viện bảo tàng Rodin, du khách sẽ được xem ba bức tuyệt tác này trong số cả ngàn tác phẩm được trưng bày. Nhưng nghệ thuật và tư tưởng sáng tạo của Rodin không chỉ dừng lại ở các pho tượng và các bức phù điêu, mà còn mở rộng sang nhiều lãnh vực nghệ thuật khác nữa, theo như lời giải thích của cô Nadine Leny, ủy viên điều hành Viện bảo tàng Rodin:

            Nhắc tới nhà điêu khắc Auguste Rodin (1840-1917), người ta chỉ nghĩ đến hình ảnh của một nghệ sĩ lớn của thế kỷ XIX thuộc trường phái biểu tượng. Tên tuổi của ông gắn liền với những tuyệt tác như pho tượng Le Penseur (Người suy tư), Le Baiser (Nụ hôn), loạt bức phù điêu La Porte de l’Enfer (Cổng Địa Ngục) gợi hứng từ tác phẩm La Divina Commedia (Thần Khúc) của nhà thần học Dante.
            Nhưng thật ra, sự nghiệp sáng tác của Rodin rất đa dạng, ngoài điêu khắc còn bao trùm các lãnh vực như hội họa, kiến trúc, nghệ thuật trang trí và bất ngờ hơn nữa là nhiếp ảnh. Trong lãnh vực hội họa chẳng hạn, Viện bảo tàng hiện lưu trữ khoảng 8 ngàn tác phẩm của ông, chủ yếu là các tấm tranh chân dung, các bức phác họa các và các bức vẽ phong cảnh. Lúc sinh tiền, Rodin còn là một nhà sưu tầm đồ cổ: ông yêu chuộng các báu vật đến từ Hy Lạp, Ai Cập, Trung Đông. Viện bảo tàng Rodin hiện có khoảng 7 ngàn cổ vật như vậy và chỉ trưng bày một phần mười bộ sưu tập của ông. Kế đến nữa, có nghệ thuật nhiếp ảnh và ít ai biết rằng nhà điêu khắc Rodin rất say mê bộ môn này.
            Cũng cần biết rằng Rodin sinh ra và lớn lên hầu như cùng thời với phát minh nhiếp ảnh (Rodin sinh năm 1840 – nhiếp ảnh được phát minh vào năm 1839). Kể từ những năm 1880 trở đi, Rodin hợp tác với nhiều nhà nhiếp ảnh nổi danh thời đó. Đa số những người này thuộc phong trào pictorialisme, theo đó họ quan tâm đến các hiệu ứng nghệ thuật của nhiếp ảnh nhiều hơn là đề tài hay nhân vật được chụp hình. Hiện nay có khoảng 8 ngàn bức ảnh chụp như vậy trong kho lưu trữ của Viện bảo tàng Rodin. Tất cả những điều này cho thấy là nhà điêu khắc Rodin trước khi trở thành một nghệ sĩ tiên phong rất am tường về thế giới xung quanh mình. Tác phẩm của ông không chỉ phản ánh cái thời ông đang sống mà còn mở ra nhiều cuộc ‘‘đối thoại’’ với các lãnh vực nghệ thuật khác. Có lẽ cũng vì thế mà Rodin còn được mệnh danh là nhà điêu khắc nối liền mọi thời đại
.


Pho tượng Nụ hôn (Le Baiser)

            Nằm ở trong khuôn viên, gần ngay lối vào cửa viện bảo tàng, chễm chệ bức tượng điêu khắc vô cùng nổi tiếng của Rodin mang tựa đề Le Penseur (Người suy tư). Nguyên gốc pho tượng nằm tại Paris, trong khi nhiều phiên bản khác được đặt tại các viện bảo tàng trên thế giới cộng thêm một bức khác, được dựng trên mộ phần của Rodin, theo lời di chúc. Theo ông Dominique Vieville, giám đốc Viện bảo tàng Rodin, chiều sâu của tác phẩm này đã ảnh hưởng mạnh đến thế hệ nghệ sĩ sau này, cho dù họ có nối bước bậc thầy hay không.

            Nhà điêu khắc Rodin, qua những đỉnh cao sáng tác của ông, đã gợi hứng cho nhiều thế hệ đi sau. Một số nghệ sĩ nổi tiếng thời nay công nhận tầm ảnh hưởng trực tiếp của tác giả bậc thầy trong lối điêu khắc của họ. Một số khác tuy không thừa nhận tầm ảnh hưởng này, nhưng họ cũng khâm phục tính chất hiện đại trong các tác phẩm của ông, đặc biệt là trong loạt tác phẩm Cổng địa ngục.
            Chẳng hạn như cách đây hai năm, viện bảo tàng Orsay đã tổ chức một cuộc triển lãm mang tựa đề Oublier Rodin, cho thấy là trong giai đoạn 10 năm từ 1905 đến 1914, các nhà điêu khắc sống ở Paris (như Maillol, Brancusi, Lehmbruck) đã tìm cách thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của Rodin để đi tìm một ngôn ngữ khác trong ngành điêu khắc. Điều đó không có nghĩa là tầng lớp nghệ sĩ này đoạn tuyệt với quá khứ hay chối bỏ giá trị của các tác phẩm đi trước. Ngược lại, theo tôi nghĩ, họ phải thấu hiểu nghệ thuật của Rodin để từ đó có thể sáng chế ra một phương thức mới, một ngôn ngữ khác.
            Mãi đến sau Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều nghệ sĩ mới dần dà nối lại với tư tưởng sáng tạo của Rodin. Gần đây hơn nữa, các nghệ sĩ thời nay (như Bruce Nauman hay Vito Acconci) có nhiều nét gần giống với Rodin trong cách tiếp cận nghệ thuật dù là hội họa, video, điêu khắc hay sắp đặt. Hình tượng của cơ thể không được thể hiện theo lối phản ánh đơn thuần, tái tạo sao chép thực tế. Tạc một pho tượng hay chụp một tấm ảnh không phải là để phản ánh y hệt những gì con mắt trông thấy mà là để diễn đạt cảm xúc chân thật trong khoảnh khắc. Cũng nhờ vào tư tưởng này mà tác giả Rodin được xem như là người đã khai phóng nghệ thuật điêu khắc hiện đại
.


Pho tượng Nụ hôn (Le Baiser)

            Tuy có đủ tác phẩm để có thể luân phiên cách trưng bày, nhưng Viện bảo tàng Rodin không chỉ dựng triển lãm với các tác phẩm của nhà điêu khắc người Pháp, mà còn mở cửa tiếp đón nhiều nghệ sĩ quốc tế thời nay. Theo cô Amélie Lavin, quản đốc kho lưu trữ, tính chất hiện đại trong các bức điêu khắc của Rodin càng rõ nét khi tác phẩm của ông được trưng bày song song và được đối chiếu so sánh với các tác phẩm nghệ thuật đương đại.

            Khi xúc tiến một dự án triển lãm, điều quan trọng đối với chúng tôi không hẳn là trưng bày bộ sưu tập của Rodin cùng với các tác phẩm của những nghệ sĩ đi sau xứng đáng thừa kế bậc thầy. Mục tiêu của chúng tôi là đối chiếu Rodin với nhiều nghệ sĩ khác không nhất thiết là phải cùng thời hay có cùng một trường phái. Bằng cách này, ban tổ chức triển lãm muốn cho thấy lịch sử nghệ thuật lặp lại theo từng chu kỳ. Hai nghệ sĩ không sống cùng thời, đôi khi họ cách nhau đến nhiều thế kỷ, nhưng lại có những ý tưởng sáng tạo giống nhau: họ có thể không sử dụng cùng một chất liệu, nhưng trong sáng tác lại đề cập đến cùng một chủ đề. Chẳng hạn như tác giả đương đại người Mỹ Bruce Nauman vừa thử nghiệm nghệ thuật sắp đặt, phim video kết hợp với hội họa và kiến trúc.
            Do tốt nghiệp ngành toán học, các tác phẩm điêu khắc của ông thường sử dụng các khối hình học, dùng những chất liệu tổng hợp nhân tạo như nhựa mủ, plastic, nylon. Có thể nói là các tác phẩm của ông chẳng ăn nhập gì với các bức điêu khắc của Rodin. Nhưng thật ra về họ lại đề cập đến cùng một chủ đề: sự dằn vặt ray rức trong tâm trí, xa hơn nữa là sự chiêm nghiệm suy ngẫm về thân phận con người. Ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cả hai nghệ sĩ cùng tìm cách diễn đạt điều làm cho họ trăn trở suy tư. Hình thức có thể khác, nhưng nội dung vẫn có giá trị do tính phổ quát
.

            Pho tượng Người suy tư có thể được chiêm ngưỡng như một tác phẩm độc lập, nhưng thật ra ban đầu đó là một phần trong loạt tác phẩm Cổng địa ngục. Trong tác phẩm đầu mang tựa đề Les Trois Ombres (Ba bóng người), nhà điêu khắc tạc hình ba tượng người đàn ông xúm quanh lại thành vòng tròn. Cả ba đều cúi đầu hướng nhìn xuống phía dưới, nơi mà những con người đang bị xô vào địa ngục. Ở phía trên là bức tượng khổng lồ của một người đang chìm đắm trong suy tư, tìm câu giải đáp cho thân phận con người.
            Tuy chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phục Hưng, nhưng lần đầu tiên trong ngành điêu khắc người ta mới thấy được cái tư thế ngồi chống cằm như vậy. Toàn bộ bức tượng thể hiện cho sự trầm ngâm suy ngẫm, từ điệu bộ, cử chỉ cho đến dáng vẻ nét mặt. Uy tín của tác phẩm này có thể giải thích vì sao khi đến thăm Paris, ngoài bức tranh La Joconde (Mona Lisa) trưng bày ở cung điện Louvres, du khách còn muốn xem tận mắt bức tượng Người suy tư.


Tượng bán thân Victor Hugo (mẫu lớn năm 1902),
Auguste Rodin, Triển lãm ‘‘Rodin’’ tại Grand Palais, Paris

Pháp kỷ niệm 100 năm ngày giỗ của Rodin
            Lúc sinh tiền, nhà điêu khắc Auguste Rodin (1840-1917) đã là một nhân vật nổi tiếng. Trước khi qua đời, ông đã tặng toàn bộ tác phẩm cho nhà nước Pháp. Tuy nhiên, do Rodin mất trong giai đoạn căng thẳng của thời Đệ Nhất Thế Chiến, cho nên tang lễ của ông đã không diễn ra đúng theo ước nguyện của gia đình.
            Để ghi nhận sự đóng góp của một tài năng lớn, nước Pháp trong năm 2017 tổ chức chương trình trọng thể gồm nhiều sinh hoạt để kỷ niệm 100 năm ngày giỗ của Rodin, vì dù muốn hay không, ông vẫn là nhà điêu khắc người Pháp nổi danh nhất ở nước ngoài.
            Kể từ ngày 23/03 cho tới cuối tháng 7, hơn 200 tác phẩm điêu khắc được trưng bày tại viện bảo tàng Grand Palais. Cuộc triển lãm lớn chưa từng thấy này làm nổi bật cuộc đối thoại giữa Rodin với các nghệ sĩ cùng thời, cũng như tầm ảnh hưởng của ông đối với hàng hậu bối.
            Bên cạnh các bậc thầy như các điêu khắc gia Antoine Bourdelle hay Giacometti, còn có nghệ sĩ người Anh Henry Moore hay Barry Flanagan, người Ailen, Max Beckmann hay Joseph Beuys, người Đức và nhất là Markus Lupertz thuộc trường phái ‘‘tân biểu hiện’’, những nghệ sĩ thuộc thế hệ con cháu đều thừa nhận họ từng gợi hứng từ tư tưởng sáng tác của Rodin.


Tang lễ Auguste Rodin, ngày 24/11/1917 tại Meudon

            Có thể nói là Viện bảo tàng Rodin ở Paris quận 7 là kho lưu trữ đầy đủ nhất, do tập hợp các tác phẩm quan trọng của Auguste Rodin về cùng một nơi. Thế nhưng, lần này Viện bảo tàng Rodin đã hợp tác với tổ chức RMN bao gồm khoảng 20 Bảo tàng Quốc gia để đối chiếu các bức điêu khắc của Rodin với các tác phẩm thuộc nhiều trào lưu nghệ thuật qua nhiều giai đoạn khác nhau.
            Có lẽ cũng vì thế mà các sinh hoạt tưởng niệm Rodin không chỉ diễn ra ở thủ đô Paris, mà còn được tổ chức tại nhiều thành phố khác ở Pháp, trong đó quan trọng nhất vẫn là Viện Bảo tàng Mỹ thuật Calais, rồi sau đó là Viện bảo tàng của các thành phố như Nantes, Aix les Bains hay Montpellier…
            Cũng trong chiều hướng này, nước Pháp cũng dự trù phát hành một bộ tem sưu tầm cũng như đồng tiền 2€ có tạc hình Auguste Rodin nhân 100 năm ngày giỗ của nhà điêu khắc. Trong khi đó, đạo diễn Jacques Doillon chuẩn bị quay một bộ phim tiểu sử về Rodin với Vincent Lindon trong vai chính, bộ phim nói về giai đoạn nhà điêu khắc Pháp thực hiện bức kiệt tác Porte de l’Enfer (Cổng Địa Ngục).
            Còn trên thế giới, viện bảo tàng Metropolitan, New York là nơi đầu tiên ở nước ngoài tổ chức triển lãm lớn về Rodin, kế theo sau có Barnes Foundation ở Philadelphia. Từ giữa tháng Sáu 2017 trở đi sẽ có thêm các viện bảo tàng của Buenos Aires, Sydney, Thượng Hải đồng tham gia vào chương trình sinh hoạt.
            Sở dĩ Rodin rất nổi tiếng ở nước ngoài là vì tài năng của ông được thế giới công nhận từ lúc ông còn sống. Ông là nhà điêu khắc Pháp đầu tiên được Viện bảo tàng Met (Metropolitan) của New York chọn để đặt tên cho một gian phòng triển lãm nghệ thuật điêu khắc vào năm 1912. Ông cũng là gương mặt Pháp đầu tiên có nhiều tác phẩm được trưng bày lúc sinh tiền tại Viện bảo tàng thủ đô Tokyo.
            Từ các bức kiệt tác như Le Baiser (Nụ Hôn), Le Penseur (Người suy tư) hay L’Âge d’airain (Thời đại đồng thau), các tác phẩm của Auguste Rodin đều mang đậm nét biểu hiện, nhào nặn cơ thể con người một cách tinh tế hiện thực để nhấn mạnh trạng thái nội tâm, thần sắc linh động.
            Cho dù Auguste Rodin không có chủ ý phá vỡ những quy ước cổ điển nhưng nỗ lực tìm tòi đeo đuổi sáng tạo của ông tự nó đã khai phóng cho ngành điêu khắc hiện đại. Dưới bàn tay của Rodin, ‘‘đồng thau’’ vẫn mềm dù có rắn rỏi cách mấy, ‘‘khuôn vàng thước ngọc’’ bị khuynh đảo từ lúc nào không hay…


THU HẰNG & TUẤN THẢO
Tháng 3/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170331-rodin-nguoi-thoi-hon-cho-nghe-thuat-dieu-khac
http://vi.rfi.fr/phap/20170321-phap-ky-niem-100-nam-ngay-gio-cua-rodin

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #34 vào: 27/06/2017, 14:11:26 »
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải sinh năm 1952 tại Biên Hòa, sau tháng 5-1975 sống tại Hoa Kỳ. Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

Cố thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên

Làm thơ năm 14 tuổi
            Theo lời những người bạn cùng trường thì Nguyễn Tất Nhiên làm thơ rất sớm khi mới 14 tuổi. Năm 1966, cùng với Đinh Thiên Phương, Nguyễn Tất Nhiên dùng bút hiệu Hoài Thi Yên Thi cho ra đời thi phẩm Nàng thơ trong mắt. Nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại kỷ niệm mà ông có với Nguyễn Tất Nhiên trong giai đoạn này như sau:

            “Giữa năm 1970, khi tôi đang ngồi ở cà phê La Pagode ở Sài Gòn cùng với mấy người bạn của tôi là các anh Nguyễn Đình Toàn, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ thì có một cậu học trò đẩy cửa đi vào hỏi tôi có phải là Du Tử Lê không, thì tôi nói là: “phải”. Sau đó cậu ấy tặng cho tôi một tập thơ nhan đề là Thiên Tai, và tác giả tập thơ đó tên là Hoài Thi Yên Thi. Cậu ấy cho biết là cậu đang học ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa. Sau đó chúng tôi trở thành tình anh em rất là thân thiết. Đến lần gặp thứ hai thì cậu nói với tôi là cậu muốn có một tên hiệu khác, tức là một bút hiệu khác, vì bút hiệu Hoài Thi Yên Thi có vẻ thi văn đoàn quá. Tôi có chọn cho cậu ấy cái tên”Nguyễn Tất Nhiên”. Đó là kỷ niệm mà tôi rất nhớ.

Khúc Tình Buồn
            Trong những năm đó sinh viên học sinh miền Nam có phong trào thành lập Thi văn đoàn và những người có năng khiếu văn chương cùng tụ tập nhau lại để in những bài thơ, hay văn xuôi chung với nhau. Kỹ thuật quay ronéo để xuất bản tác phẩm của những người trẻ trong giai đoạn này rất phổ biến. Nguyễn Tất Nhiên nổi lên như một ngôi sao khi bài thơ Khúc Tình Buồn của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Khúc Tình Buồn được đặt lại tên “Thà như giọt mưa” và trong nhiều tuần lễ sau đó, nhạc phẩm này hầu như ngày nào cũng phát trên đài phát thanh Sài Gòn được giới sinh viên học sinh chuyền tay nhau tập thơ của ông với tất cả sự thích thú vốn có của tuổi trẻ:

                        Người từ trăm năm
                        về qua sông rộng
                        ta ngoắc mòn tay
                        trùng trùng gió lộng

                        (thà như giọt mưa
                        vỡ trên tượng đá
                        thà như giọt mưa
                        khô trên tượng đá
                        có còn hơn không
                        mưa ôm tượng đá)

                        Người từ trăm năm
                        về khơi tình động
                        ta chạy vòng vòng
                        ta chạy mòn chân
                        nào hay đời cạn

                        (thà như giọt mưa
                        vỡ trên tượng đá
                        thà như giọt mưa
                        khô trên tượng đá
                        có còn hơn không
                        mưa ôm tượng đá)

                        Người từ trăm năm
                        về như dao nhọn
                        ngọt ngào vết đâm
                        ta chết âm thầm
                        máu chưa kịp đổ

                        (thà như giọt mưa
                        vỡ trên tượng đá
                        thà như giọt mưa
                        khô trên tượng đá
                        có còn hơn không
                        mưa ôm tượng đá)

                        Thà như giọt mưa
                        gieo xuống mặt người
                        vỡ tan vỡ tan
                        nào ta ân hận
                        bởi còn kịp nghe
                        nhịp run vồi vội
                        trên ngọn lông măng

                        (người từ trăm năm
                        vì ta phải khổ)

                        Khúc tình buồn

Người con gái tên Duyên
            Bài thơ “Khúc Tình Buồn” không nhắc tới tên Duyên như trong nhạc phẩm “Thà Như Giọt Mưa” của Phạm Duy. Cô gái tên Duyên này là một nhân vật có thật và học chung lớp với nhà thơ tại trường trung học Ngô Quyền thành phố Biên Hòa, và tình cảm của ông đối với cô chính là nguồn cảm hứng khiến ông liên tục sáng tác những bài thơ nổi tiếng một thời chỉ để riêng tặng cho cô. Tuổi trẻ thời ấy thích thú với những dỗi hờn rất con nít của tác giả bài thơ khi mong cho người con gái tên Duyên sẽ đau khổ muôn niên, sẽ đau khổ trăm năm… lời lẽ như là chính cô gái đã phụ tình tác giả.
            Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi Thị Duyên ngày nào nay sống tại Michigan, Hoa Kỳ. Cô nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò áo trắng:

            “Tụi này học chung với nhau từ năm đệ tứ. Trường đó là trường nam-nữ học chung. Đến khi học sinh đông quá thì họ phân lớp ra, trong đó có một lớp đệ tứ “mix” giữa con trai với con gái. Sau đó tôi lên học ban B thì tôi học luôn đến lớp đệ nhất, học chung với tụi con trai, trong lớp chỉ có vài cô con gái thôi. Tụi này biết nhau từ hồi nhỏ, lúc đó cũng ngây thơ, tôi chưa nghĩ gì hết, còn Nguyễn Tất Nhiên nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ mà Nguyễn Tất Nhiên nói là có ba bản chính. Một bản của Nhiên, một bản cho tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành quyển thơ của Nguyễn Tất Nhiên chứ không phải không, nhưng thật ra là chẳng có gì hết, tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ.

            Thật ra chính cái tên Duyên mới làm bài thơ nổi tiếng. Trong tập thơ Thiên Tai, Nguyễn Tất Nhiên có rất nhiều bài nói về người thiếu nữ tên Duyên và tập thơ này viết bởi nguồn cảm hứng duy nhất đó.

            “Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với Nguyễn Tất Nhiên ngay từ đầu là mình làm bạn thôi, nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau anh ấy phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp một người bạn như tôi. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm.

Nguồn cảm hứng tôn giáo
            Thời gian trôi qua, những vần thơ nói về Duyên hay ám ảnh bởi Duyên không còn là nguồn cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa. Thay vào đó nguồn hứng khởi tôn giáo bắt đầu đi vào thơ ông một cách tình cờ, bắt đầu từ bài “Hai năm tình lận đận”:

                        Chuông nhà thờ đổ mệt
                        Tượng Chúa gầy hơn xưa
                        Chúa bây giờ có lẽ
                        Rơi xuống trần gian mưa

                        Anh bây giờ có lẽ
                        Thiết tha hơn tín đồ
                        Nguyện làm cây thánh giá
                        Trên chót đỉnh nhà thờ

                        Cô đơn nhìn bụi bậm
                        Làm phân bón rêu xanh
                        Dù sao cây thánh giá
                        Cũng được người nhân danh


            Càng về sau Nguyễn càng thấy hình tượng của Chúa, của Linh Mục, Ma Soeur gần gũi với ông hơn mặc dù nhà thơ là người ngoại đạo. Vì ngoại đạo nên thơ ông không chịu sự ràng buộc của tín lý, của đức vâng lời, tôn kính. Nguyễn Tất Nhiên tung tăng trong ngôn ngữ đức tin và bởi vô úy nên những lời thơ truyền thẳng vào tâm tình người đọc, bùng lên thứ cảm nhận vừa xuýt xoa ngạc nhiên vừa lâng lâng niềm khoái cảm của người ăn trái cấm:

                        vì tôi là linh mục
                        không mặc chiếc áo giòng
                        nên suốt đời hiu quạnh
                        nên suốt đời lang thang!

                        vì tôi là linh mục
                        giảng lời tình nhân gian
                        nên không có thánh kinh
                        nên không có bổn đạo
                        nên không có giáo đường
                        (một tín đồ duy nhất
                        vừa thiêu hủy lầu chuông!)

                        vì tôi là linh mục
                        phổ lời tình nhân gian
                        thành câu thơ buồn bã
                        nên hạnh phúc đâu còn
                        nên người tình duy nhất
                        vừa thiêu hủy lầu chuông


            Nguyễn Tất Nhiên chậm rãi dìu người tình của mình nay hóa thân thành một Ma Soeur đằm thắm. Ma-Soeur-Người-yêu này nhẹ nhàng xưng tụng niềm thống hối như tín đồ xưng tội. Kẻ ngoại đạo cảm thấy Thượng Đế mỉm cưởi với mình qua ẩn dụ tràn ngập chân phước. Tình Yêu trở thành bất tử, và thánh hóa dưới ánh mắt hiền hòa của Chúa qua những vần thơ xưng tụng.

                        Ðưa em về dưới mưa
                        Nói năng chi cũng thừa
                        Phất phơ đời sương gió
                        Hồn mình gần nhau chưa?

                        Tay ta từng ngón tay
                        Vuốt lưng em tóc dài
                        Những trưa ngồi quán vắng
                        Chia nhau tình phôi thai

                        Xa nhau mà không hay
                        Hỡi em cười vô tội
                        Ðeo thánh giá huy hoàng
                        Hỡi ta nhiều sám hối
                        Tính nết vẫn hoang đàng!

                        Em hiền như ma soeur
                        Vết thương ta bốn mùa
                        Trái tim ta làm mủ
                        Ma soeur này ma soeur

                        Có dịu dàng ánh mắt
                        Có êm đềm cánh môi
                        Ru ta người bệnh hoạn
                        Ru ta suốt cuộc đời


Những năm cuối đời
            Nguyễn Tất Nhiên ở những năm cuối đời đã có những biểu hiện của chứng trầm cảm. Người thơ thường đặt những câu hỏi gần gụi với cái vĩnh hằng, là sự chết. Chết trở thành một câu hỏi lớn theo đuổi nhà thơ, như bóng ma thời gian ám ảnh sự sống không ngừng. Trong bài Thiên Thu, nhà thơ thở dài buồn bã nhận ra bóng mình in trên bức tường vôi luống tuổi mang tên “Con người”:

                        sao thiên thu không là chôn sâu?
                        nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
                        tôi đứng như xe tang ngừng ngập
                        và một họ hàng khăn trắng buồn đau!

                        sao thiên thu không là đường chim?
                        nên mây năm xưa còn trên tay phiền
                        tôi đứng như tường vôi luống tuổi
                        và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

                        sao thiên thu không là lãng quên?
                        nên tình xưa còn cháy âm thầm
                        tôi đứng như căn nhà nám lửa
                        và những người thân trốn chạy vội vàng!

                        sao thiên thu không là sương tan?
                        nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
                        tôi đứng như dòng sông yên lặng
                        và những cánh buồm kiệt sức lang thang!


             “Cánh buồm kiệt sức” ấy không còn lang thang nữa, theo như lời kể của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người quen thân với nhà thơ từ thuở thiếu thời:

             “Một tuần lễ trước ngày Nguyễn Tất Nhiên quyết định con đường ra đi, tôi và Nhiên ngồi với nhau ở ngoài lề đường. Tôi nói Nguyễn Tất Nhiên đi vào ăn cơm thì Nhiên nói rằng: “Cái thằng sắp chết không ăn”. Biết tính Nhiên từ lúc còn bé chơi với nhau, nên tôi cũng không để ý câu nói đó, tôi hỏi: “Vậy thì hút thuốc không?” Nhiên cũng nói rằng: “Cái thằng sắp chết không hút thuốc lá”. Và đó là lần chót mà hai đứa có trao đổi với nhau. Và tuần lễ sau thì Nhiên mất. Thực sự ra thì từ lúc chơi với nhau ở Sài Gòn trước 75, và sau 75 thân thiết hơn, thì lúc nào Nhiên cũng mang một ý định muốn tự quyết định cuộc đời mình. Mãi sau, những người bạn thân với Nguyễn Tất Nhiên đều hiểu rằng có thể đó là một lúc mà tinh thần không được ổn định thì Nhiên nói thế thôi. Anh em không còn để ý và xem đó như là một lời nói có tính cách nghiêm trọng nữa. Không ngờ một tuần lễ trước khi Nhiên quyết định tự tử, Nhiên lại nói với bản thân tôi hai lần câu: “Người sắp chết không ăn cơm và người sắp chết không hút thuốc lá.

            Nguyễn Tất Nhiên ra đi ở tuổi 40 khi còn rất trẻ, khi mầm sống thi ca đến độ chín muồi nhất. Thế nhưng đối với trường hợp riêng ông thì quyết định chọn được nằm im để hòa mình vào nguồn minh triết của suy tưởng bất diệt có lẽ là một quyết định đúng với nhà thơ khi ông chợt nhận ra cõi đời đã trở nên vô nghĩa…


MẶC LÂM
Tháng 11/2009


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Poet-nguyen-tat-nhien-mlam-11082009085257.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #35 vào: 29/06/2017, 16:03:07 »
“Tiếng hát quay tơ” Mai Hương, nửa thế kỷ tình tự ca

Năm 2008, cách đây 8 năm, ở Montreal, Canada, tôi đã hát từ biệt khán giả. Bên Mỹ này thì tôi cứ âm thầm giải nghệ, vì mình không xuất hiện trên sân khấu nữa thì người ta cũng hiểu. Thời gian phụng sự nghệ thuật đã đủ dài – Ca sĩ Mai Hương.

Poster đêm diễn cuối cùng của Ca sĩ Mai Hương ở Montreal, Canada 2008

                        “Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
                        Đượm đà phong kín cánh mong manh hé hoa lòng
                        Hà Nội chờ đón tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi
                        Đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh
                        Hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa
                        Đường phố vắng bóng đèn chạnh lòng tôi nhớ tới người em…

                        (Gửi người em gái)

            Gửi người em gái của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh là bài hát được ca sĩ Mai Hương trình bày để từ biệt khán thính giả trên sân khấu Montreal, Canada năm 2008, sau hơn 50 năm, từ ngày bà bước lên sân khấu lần đầu tiên năm 12 tuổi.
            Rất nhiều người đã đề nghị bà có một buổi diễn cuối cùng để từ biệt sân khấu, nhưng bà từ chối. Và đêm diễn ở Montreal, Canada vào dịp 30 tháng Tư năm 2008 đã được xem là buổi diễn cuối cùng.

Từ năm 12 tuổi
            Câu chuyện về cuộc đời nghệ sĩ của ca sĩ Mai Hương bắt đầu từ cuộc tuyển lựa tài tử của Đài phát thanh Pháp Á. Bà ghi danh dự thi với sự khuyến khích của thân mẫu là kịch sĩ Kiều Hạnh, thân phụ là Phạm Đình Sỹ, và người cô là danh ca Thái Thanh.

Ca sĩ Mai Hương: Năm 1952, 53 gì đó, tôi mới 11, 12 tuổi thôi, ở Hà Nội vào Sài Gòn. Tôi lúc đó được cô ruột là cô Thái Thanh khuyến khích ghi tên vào chương trình thi tuyển lựa tài tử dưới thời ông giám đốc đài phát thanh Pháp Á, chương trình Tiếng Việt là ông Hoàng Cao Tăng, hát bài Chú Cuội của Phạm Duy. Vào đến chung kết mà qua bốn thời kỳ như vậy là cũng không phải dễ. Qua thời kỳ thi tuyển, tôi trúng tuyển ngay. Tuần tự như vậy vào chung kết, cô Thái Thanh tập cho bài Xuân và Tuổi Trẻ của nhạc sĩ La Hối, lời Thế Lữ. Tất cả mọi người ngồi ban giám khảo nói rằng một con bé 12 tuổi hát bài ấy là quá khó, thế là chấm đậu luôn.

            Từ cuộc thi tuyển lựa tài tử năm đó, một chương trình riêng cho thiếu nhi gọi là Thiếu sinh nhi đồng được thành lập gồm ba giọng hát là Mai Hương, Bửu Minh (Anh Minh) và Đào Nguyệt Ánh. Ban nhạc nhi đồng ấy lớn lên theo thời gian và trở thành ban nhạc Tuổi Xanh.

Ca sĩ Mai Hương: Đến lúc độ 16, 17 tuổi thì mình hát cũng khá rồi, thế là các ông ấy (trưởng ban Đài phát thanh Sài Gòn) cho lên hát ban người lớn. Từ đó tôi bắt đầu được coi là một trong những ca sĩ thường trực của đài phát thanh. Rồi sinh hoạt của tôi ngày càng mở rộng thêm. Các ông trưởng ban lúc đó là Hoàng Trọng, Văn Phụng, Y Vân…

                        “Bàng hoàng giờ phút từ ly
                        Tuy lòng đau nhưng cố quên thê nhi
                        Tần ngần chàng bước chân đi
                        Ði tới nơi xa xăm bao hình mơ…

                        (Phút chia ly)


Ca sĩ Mai Hương

Đến tiếng hát ở Đài phát thanh Sài Gòn
            Những ca khúc bà trình diễn ở Đài phát thanh Sài Gòn mang nhiều giá trị của thời gian và đòi hỏi sự thấu hiểu nhạc lý vững vàng.

Ca sĩ Mai Hương: Năm Mậu Thân, năm Mùa hè đỏ lửa 72, tôi với cô Quỳnh Giao là hai người hát tương đối nhanh và đọc được các nốt nhạc. Các nhạc sĩ làm cho đài phát thanh Sài Gòn có các loại nhạc gọi là nhạc chiến dịch. Cho nên phải có ngay ca sĩ để hát. Nhiều khi tôi đang ở nhà thì một trong những người của đài phát thanh quân đội nói rằng phải mời Mai Hương và Quỳnh Giao hát bài này ngay lập tức.
            Nếu gọi là một ca sĩ mà không có nhạc lý vững chắc thì ai có thể tập cho mình? Lên đến đài thì ông trưởng ban hoặc nhạc sĩ đưa bài hát đi sát thời cuộc, mắt nhìn nốt nhạc, mắt nhìn lời, hát và thâu ngay lập tức.


            Tháng Tư năm 1975, như hàng triệu người Việt Nam khác, bà cùng với gia đình rời Việt Nam. Từ đó, tiếng hát của Đài phát thanh Sài Gòn bắt đầu cất cao ở xứ người.
            Mai Hương bắt đầu đi hát cho những buổi đại nhạc hội hoặc trình diễn ở những chương trình rất chọn lọc như của Cung Tiến, Vũ Thành, Lê Văn Khoa, Ngàn Khơi, ban đại hợp tấu và hợp xướng Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng.
            Những nhạc phẩm bà thể hiện mang những nét rất riêng, rất Mai Hương. Tiếng hát thiên phú là đã đành, một lý do khác là do bà rất chọn lọc ca khúc để trình bày.

Ca sĩ Mai Hương: Những bài Mai Hương hát thì ít những ca sĩ khác họ hát. Cho nên khi mình muốn lưu lại một cái gì đó thì mình không hát những bài hát mà những ca sĩ khác đã hát, đã thâu nhiều rồi. Cho nên khi tôi hát, tôi tự chọn những bản nhạc của những nhạc sĩ tiền chiến mà rất ít người hát để làm kỷ niệm, lưu lại những tác giả, tác phẩm.

            Dòng nhạc bà chọn chắc chắn phải phù hợp với chất giọng và những quãng cao rất đặc biệt, rất quyến rũ của bà. Nghe Mai Hương hát một một nhạc khúc về quê hương, có thể nhìn thấy một miền quê yêu dấu đang nhẹ nhàng hiện dần lên trước mắt, gợi cho người tha phương một nỗi nhớ dạt dào.
            Nghe bà hát một ca khúc xuân, có thể thấy như nắng xuân đang rộn rã hòa vào da thịt. Mùa thu qua tiếng hát của bà là một bức tranh vàng lá cùng với cái se lạnh của mùa đông.

                        “Nghe bước chân người sương gió
                        Xa dần như tiếng thu đang tàn
                        Ôi người gió sương em mơ thương ái bao lần
                        Và chờ tin hồng đến
                        Đem mùa thu chết
                        Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng…

                        (Buồn tàn thu)

Ca sĩ Mai Hương: Khi muốn trình bày một bản nhạc nào đó không phải chỉ nhìn lời hát cho qua đi. Mình phải gửi gắm tình cảm, tâm trạng của mình vào bài hát. Khi khán giả, thính giả nghe được thì họ rất cảm thông với các lời và cũng cảm thông với người ca sĩ là nhịp cầu nối giữa nhạc sĩ và người nghe. Không phải mình hát cho qua ngày qua buổi.

            Đúng như tấm lòng của người ca sĩ hơn nửa thế kỷ mang những bản tình ca đến cho cuộc đời, người nghe qua bao thế hệ vẫn nhớ mãi hình ảnh dịu dàng, gần gũi của bà khi bước lên sân khấu.
             “Tiếng hát quay tơ” nồng nàn của nữ ca sĩ Mai Hương để lại cho nền âm nhạc Việt Nam những sợi thương sợi nhớ về hình ảnh đất nước những ngày khói lửa chiến tranh, cũng như một quê hương xa ngàn dặm đã thuộc về quá khứ.


CÁT LINH
Tháng 9/2016



http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/mai-huong-cl-09032016204227.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #36 vào: 04/07/2017, 16:33:50 »
Nguyễn Trường Tộ: Bài học về sự phối hợp giữa trí thức và nhà cầm quyền

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam chủ yếu phải vất vả đối phó với tham vọng bá quyền của anh bạn láng giềng phương Bắc. Thế nhưng, đến giữa thế kỷ 19, một “cú sốc giữa các nền văn minh” đã xảy đến giữa hai nền văn hóa Đông-Tây. Trí thức Việt Nam khi ấy là các nhà Nho đã ra sức tư duy tìm kiếm phương sách cứu quốc. Dù suy nghĩ của họ có đúng hay không, thì rõ ràng họ đã thể hiện được trách nhiệm xã hội của mình. Điển hình cho thế hệ trí thức này là Nguyễn Trường Tộ với trên 57 bản điều trần gửi cho triều đình Tự Đức. Tiếc rằng những bản điều trần đó không được nghe theo, tiếc rằng cuối cùng Việt Nam vẫn mất chủ quyền vào tay Pháp, và đó cũng là một bài học cho hậu thế về sự phối hợp giữa giới trí thức và nhà cầm quyền.

Một công trình đầy đủ nhất về các điều trần của Nguyễn Trường Tộ

Một trí thức “có tâm và có tầm”
            Nguyễn Trường Tộ quê làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Năm sinh của ông hiện chưa đủ tài liệu để khẳng định rõ ràng, nhưng vào khoảng các năm 1828 hoặc 1830. Dù là người theo Công giáo, một tôn giáo bị triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ ngăn cấm, nhưng cũng giống như hết thảy con em người Việt lúc bấy giờ, Nguyễn Trường Tộ từ nhỏ đã được giáo dục trong các lò Nho học. Ông nổi tiếng học giỏi từ nhỏ và được gọi là “Trạng Lộ”.
            Tuy nhiên, ngoài Nho học, do là người Công giáo, Nguyễn Trường Tộ khi ở quê nhà đã được tiếp xúc với giám mục Gauthier (tên tiếng Việt là Ngô Gia Hậu) và được người này giúp đỡ cho học chữ Pháp và một số môn khoa học thực dụng phương Tây.
            Đến cuối năm 1858, Nguyễn Trường Tộ theo cha Hậu vào Đà Nẵng, và sau đó đi chu du nhiều nơi hải ngoại như Hồng Kông (tức Hương Cảng), Malaysia, Singapore, Pháp, Roma… Ông được tiếp kiến giáo hoàng lúc bấy giờ và được giáo hoàng tặng nhiều sách về khoa học phương Tây. Đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ về nước và được mời làm phiên dịch cho Pháp. Tuy nhiên, ông làm phiên dịch cho Tây trong mục đích là góp phần cho cuộc hòa đàm giữa triều đình Huế với Pháp. Đến cuối năm 1861, nhận thấy Pháp đã quyết tâm đánh chiếm Việt Nam, nên Nguyễn Trường Tộ xin thôi việc và lui về quê nhà.
            Ông không ra làm quan chính thức, dù có đôi lần nhận lời giúp triều đình Huế trong một số việc công cán, nhưng Nguyễn Trường Tộ lúc nào cũng thể hiện đúng tinh thần xã hội của một chân nho là “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Từ những kinh nghiệm bản thân góp nhặt được trong các chuyến chu du, từ kiến thức Hán học sâu rộng của mình, Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi đến triều đình Huế của vua Tự Đức những đề xuất canh tân đất nước.
            Chỉ trong 10 năm từ 1861 đến 1871, Nguyễn Trường Tộ đã gửi đến triều Tự Đức khoảng trên 57 bản kiến nghị canh tân gọi là “Điều trần”. Các bản điều trần kêu gọi triều đình chấn hưng đất nước bằng cách phát triển khoa học hiện đại như các nước phương Tây, thoát khỏi những giáo điều quá ư hủ lậu của Nho giáo, kêu gọi mở rộng ngoại giao với nhiều nước khác nhằm tạo thế đa cực trong các mối quan hệ quốc tế… Bên cạnh đó, các bản điều trần cũng vẽ nên một thực trạng xã hội Việt Nam khi ấy với bộ máy hành chính cồng kềnh, nạn quan liêu hoành hành, quốc khố trống rỗng, kinh tế èo ọt, học thuật suy yếu…
            Những đề xuất của Nguyễn Trường Tộ đã không được triều Tự Đức quan tâm bởi quan lại lúc bấy giờ vị nào cũng đứng trên lập trường Nho giáo xa xưa mà lý luận về hiện trạng đất nước. Bởi vị chức sắc triều đình nào hễ bàn việc nước đều trích dẫn kinh điển Nho giáo ra làm bằng, lấy Tống Nho làm chỗ dựa, lấy chuyện đời Chu đời Đường làm khuôn vàng thước ngọc. Ngay cả vua Tự Đức, dù được cho là một ông vua sáng suốt, nhưng đối với những đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ, có khi vua Tự Đức còn tự hào cho rằng triều đình đã có đủ phương tiện để chấn hưng đất nước và rằng Nguyễn Trường Tộ quá tự tin vào sở học của mình.
            Dù không được triều đình phúc đáp, nhưng người trí thức Nguyễn Trường Tộ vẫn không nản lòng, vẫn kiên trì gửi kiến nghị lên cho triều đình. Và cứ thế, ông cứ mãi bận lòng vì việc nước. Đến cuối năm 1871, ông mất tại quê nhà.

Nguyễn Trường Tộ, tấm gương trí thức sáng ngời
            Cuộc đời và sự nghiệp của nhà trí thức Nguyễn Trường Tộ với trên 57 bản điều trần thật sự quá đồ sộ để có thể tóm lược trong vài dòng cho được. Để bao quát những tinh hoa của ông để từ đó rút ra bài học cho hậu thế, RFI Việt Ngữ đã tìm đến Giáo sư Sử Học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille (Cộng hòa Pháp), người có nhiều công trình khảo cứu có giá trị đã được xuất bản tại Pháp về trí thức Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Lê Phước: Thưa Giáo sư, đầu tiên xin Giáo sư tóm lược đôi điều về nhà trí thức Nguyễn Trường Tộ.
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Về ông Nguyễn Trường Tộ, người ta thường nhắc đến tên ông mỗi khi vận nước gặp khó khăn, thời đại nào cũng vậy. Vậy ta có thể nhấn mạnh về khía cạnh di sản của ông. Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật lịch sử thế kỷ 19 được các nhà sử học Việt Nam và ngoại quốc nghiên cứu rất nhiều nên không thể tóm tắt dễ dàng. Riêng tôi chỉ xin đề cập đến con người và sự nghiệp Nguyễn Trường Tộ dưới ba khía cạnh:
            Thứ nhất: Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật lịch sử cận đại có tư thế đặc biệt trong thời đại giao thoa giữa hai nền văn hóa Tây phương và Đông phương, nhất là một lối giao thoa rất phức tạp và đối kháng. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Trường Tộ nổi lên là một nhân vật lịch sử then chốt vì ba lý do: 1) Ông xuất thân trong một gia đình Nho giáo nhưng bản thân ông lại theo Thiên Chúa giáo; 2) Ông vừa thâm sâu về Hán học và Tây học; 3) Con người của ông rất phong phú. Nguyễn Trường Tộ là một nhà trí thức dấn thân tiêu biểu của giai đoạn lịch sử đó. Ông nắm được hai lợi khí là ngôn ngữ (thạo tiếng Hán và tiếng Pháp) và hiểu rõ sự khác biệt giữa hai nền tôn giáo lớn của thế giới lúc bấy giờ là Nho giáo và Thiên Chúa giáo. Ông không có thái độ mặc cảm gì cả. Ông xem vấn đề theo đạo Thiên Chúa là một vấn đề cá nhân. Nhưng đứng về mặt tư tưởng thì ông luôn là một nhà Nho có tư tưởng Đông phương rất sâu sắc.
            Thứ hai: Nguyễn Trường Tộ tiêu biểu cho nhà trí thức dấn thân của thời đó. Ông lên tiếng cảnh báo và cảnh tỉnh nhà cầm quyền Việt Nam về hiểm họa mất nước nếu không tiến hành một công cuộc cải lương toàn diện và sâu sắc. Tôi nghĩ rằng, hơn 57 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ gửi cho vua Tự Đức không phải là một lời gào thét, kêu gọi thấm thiết, mà là một phân tích rất sâu sắc và khách quan về sự cách biệt giữa Đông và Tây. Tôi nghĩ rằng, đó là một thái độ rất tiêu biểu của một người trí thức dấn thân, vừa cận với chính quyền mà không tham dự vào chính quyền, mà cũng không xa với chính quyền để giúp đỡ chính quyền.
            Thứ ba: Có thể xem Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật có nhiều ảnh hưởng đối với lịch sử của xứ mình. Công trình nghiên cứu của tôi về 3 thế hệ trí thức Việt Nam thời đại đó có nhấn mạnh đến ảnh hưởng của Nguyễn Trường Tộ thứ nhất là đối với Nguyễn Lộ Trạch, ngoài ra còn có những nhân vật khá quan trọng trong phong trào cải lương của triều đình Huế thời đó như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ…
            Ảnh hưởng của Nguyễn Trường Tộ là tuyệt đối đối với thế hệ nhà Nho duy tân 1907. Tiêu biểu qua trường hợp của hai cụ Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có thể thấy được ảnh hưởng của Nguyễn Trường Tộ đối với Nho sĩ yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20 như thế nào.
            Đối với thế hệ Tây học về sau, tôi nghĩ rằng, sử gia Việt Nam và ngoại quốc chưa đánh giá đúng và đầy đủ vai trò của tư tưởng cải lương Nho giáo Nguyễn Trường Tộ. Đứng về mặt tư tưởng, Nguyễn Trường Tộ là một người Nho giáo vì ông đứng trên lập trường Nho giáo để phân tích và đánh giá tình hình. Theo tôi, Nguyễn Trường Tộ ít nhất cũng có ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh, Phan Văn Trường hay Gibert Trần Chánh Chiếu. Ở đây, tôi chỉ nói những nhân vật mà tôi cho là quan trọng nhất, tiêu biểu nhất của thời đại đó. Nhưng tôi chắc chắn, nếu có nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy rằng vai trò và tính thời sự của tư tưởng và tác phong của Nguyễn Trường Tộ là rất mạnh mẽ, cần đáng được ghi chép lại.
            Tóm lại, tôi xem Nguyễn Trường Tộ là một tấm gương sáng không chỉ của hôm qua mà còn của cả ngày nay nữa.

Lê Phước: Thưa Giáo sư, vì sao đề xuất của Nguyễn Trường Tộ lại không được áp dụng?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            So sánh về những khó khăn của phong trào cải lương Nho giáo ở bên Tàu cũng như ở ta thì thấy rằng thất bại của họ cũng là tương đối thôi. Bên Tàu, những phong trào của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu là những phong trào nổ lên một lúc rồi cũng bị dập tắt dưới sự đàn áp của các thành phần bảo thủ.
            Thật ra, không phải tư tưởng Nho giáo bản thân nó đóng chặt lại trước những ý kiến đề xuất thay đổi, nhưng mà những người dựa vào Nho giáo để nắm quyền bính trong tay thì họ thấy rằng cải lương là một cái gì đó đi ngược lại lợi ích của họ, vì thế họ sẽ làm cho nó thất bại. Xứ Nhật có may mắn là có được thời đại Minh Trị, hoặc một xứ khác là Thái Lan có được những ông minh vương, biết cải cách đúng lúc để thoát khỏi gông cùm của đế quốc.
            Tôi nghĩ rằng, một phần là do tính chất bảo thủ của nhà cầm quyền. Tôi không cho cái bảo thủ đó là bao trùm cả bảo thủ của tư tưởng Nho giáo, bởi vì trong lịch sử nội bộ của Nho giáo, ta thấy có nhiều phong trào cải lương rất quan trọng, chứ không phải là chỉ có ở cuối thời Nhà Thanh mà thôi.

Lê Phước: Thưa Giáo Sư, có người cho rằng đề xuất của Nguyễn Trường Tộ đã vượt quá xa thời đại của ông nên đã thất bại?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Nếu so với phòng trào Duy Tân bên Trung Quốc hay phong trào Minh Trị bên Nhật, thì rõ ràng là nó không xa đâu. Một số sử gia, như ông Tsuboi của Nhật Bản, họ chứng minh rằng, ngược lại so với Trung Quốc, vua chúa Việt Nam mình thông minh hơn nhiều, thấy rõ vấn đề hơn nhiều. Nhưng tại sao họ lại bó mình trong chính sách bế quan tỏa cảng? Tôi nghĩ rằng, phần lớn lý do mang tính địa lý lịch sử. Việt Nam mình không thoát ly khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, bởi vậy khi thiên triều Trung Quốc không sửa đổi, thì thiên triều của ta cũng không dám thay đổi. Đó là lý do căn bản.

Lê Phước: Thưa Giáo sư, trường hợp của nhà trí thức Nguyễn Trường Tộ để lại bài học gì cho trí thức Việt Nam ngày nay?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Tôi hy vọng rằng, người Việt ngày nay thấy rõ tác phong mẫu mực của Nguyễn Trường Tộ để rút kinh nghiệm. Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ là thất bại của cả giới sĩ phu Việt Nam khi ấy. Phải làm thế nào để sĩ phu chúng ta xưa cũng như nay sáng suốt, mở mắt để đáp ứng được tình thế.

Lê Phước: Giữa nhà cầm quyền và trí thức dấn thân cần có sự phối hợp?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Đúng. Nếu nhà cầm quyền tự thức tỉnh thì sướng quá rồi. Trí thức thức tỉnh mà đi trước nhà cầm quyền thì không thể nào thành công được vì họ không có quyền bính trong tay. Vấn đề là làm sao phối hợp nguyện vọng và sự sáng suốt của người trí thức (nếu họ có sáng suốt) với tư thế minh chủ của nhà vua. Nếu hai yếu tố đó phối hợp thì sẽ thành công, nếu hai yếu tố đó mâu thuẫn thì ta sẽ bị đặt vào một tình thế rất khó xử.
            Ta thấy rằng, trong vô vàn nguyên nhân được nêu ra cho sự thất bại của các điều trần của Nguyễn Trường Tộ, thì nguyên nhân triều đình Tự Đức bảo thủ luôn được nhấn mạnh hàng đầu. Nói cách khác, nhà cầm quyền Việt Nam khi ấy cứ khư khư bám vào ngôi nhà sắp đổ là Nho giáo để bảo vệ lợi ích bản thân và dòng tộc mà không thiết tha với mọi cải cách canh tân.
            Nói đúng ra, không phải cứ trí thức đề xuất thì thì là đúng, là sáng suốt. Nhưng vấn đề là, nếu đề xuất của trí thức quả thật là đúng, là sáng suốt thì sự được thua lại nằm ở thái độ của nhà cầm quyền. Đối với trường hợp của Nguyễn Trường Tộ, thời gian đã chứng minh tinh thần canh tân của ông là đúng đắn, và thế hệ sau của ông đã liên tục kế thừa và phát huy. Trong một xã hội Nho giáo như vậy, hành động của Nguyễn Trường Tộ là hành động của một trí thức dũng cảm, mang tính tiên phong. Thế nhưng, nhà cầm quyền khi ấy là triều đình Huế đã không tận dụng được sự sáng suốt của giới tinh hoa trong xã hội là tầng lớp trí thức để sau đó đất nước tiếp tục suy yếu và mất chủ quyền.
            Nói cách khác, trong trường hợp Nguyễn Trường Tộ thì giữa nhà cầm quyền và giới trí thức đã thiếu sự phối hợp. Bài học về sự phối hợp này giữa trí thức và nhà cầm quyền đến hiện tại vẫn còn nguyên giá trị không chỉ trong xã hội Việt Nam mà là ở bất kỳ xã hội hiện đại nào trên thế giới.


LÊ PHƯỚC
Tháng 5/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130531-nguyen-truong-to-bai-hoc-ve-su-phoi-hop-giua-tri-thuc-va-nha-cam-quyen

 
The following users thanked this post: nguyenhoangduong, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #37 vào: 06/07/2017, 15:47:37 »
100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Jean Genet

Ngày 19 tháng 12 vừa qua, nước Pháp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Jean Genet. Nhân dịp này, toàn bộ tác phẩm của ông được tái bản nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều quyển sách của giới chuyên gia nghiên cứu về Jean Genet, một đóa “tà hoa” hiếm thấy trong khu vườn văn học Pháp, thế kỷ 20.

Nhà văn Jean Genet (NXB. Gallimard)

JEAN GENET qua đời vì tai nạn vào ngày 15 tháng tư năm 1986, hưởng thọ 76 tuổi. Nhà văn lúc đó đang lâm bệnh ung thư cổ họng. Khi ra đi, ông để lại trên dưới 50 tác phẩm đủ loại: thi phẩm, tiểu thuyết, tiểu luận, kịch nói cộng thêm hàng loạt bài viết đăng trên báo và nhiều thư từ trao đổi với các nghệ sĩ cùng thời, hiện nằm trong tay Viện lưu trữ các ấn bản văn học IMEC của Pháp. Hầu hết các nhà phê bình đều công nhận cái vị trí riêng biệt và độc đáo của Genet trong văn học Pháp. Các tác giả Anh Mỹ như William S. Burroughs hay Edmund White thì vinh danh Jean Genet như một trong những ngòi bút hàng đầu của thế giới.

Tuổi thơ bị nguyền rủa
            Sinh năm 1910 tại Paris, Jean Genet bị mẹ bỏ rơi từ khi mới 7 tháng tuổi. Sau một thời gian sống trong viện mồ côi, ông được giao cho một gia đình lãnh nuôi ở vùng Morvan, miền trung nước Pháp. Thời còn nhỏ, Jean Genet học hành chăm chỉ siêng năng, nhưng sau đó ông lại không được cho đi học tiếp. Năm 13 tuổi, lần đầu tiên cậu thiếu niên trốn khỏi nhà cha mẹ nuôi. Bị bắt rồi bị xử phạt về tội ăn cắp vặt, Jean Genet phải lớn lên trong trại giam dành cho thiếu niên phạm pháp. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1981 do đạo diễn Antoine Bourseiller thực hiện, nhà văn Jean Genet hồi tưởng lại thời niên thiếu của mình:

            “Viết văn, đối với tôi, tựa như một phương cách cuối cùng. Từ thuở thiếu thời, lúc đó tôi mới 14, 15 tuổi, tôi đã linh cảm là khi lớn lên tôi có thể trở thành một kẻ phạm pháp: tốt lắm thì cũng chỉ là một kẻ lang thang khất thực, tệ lắm là một tên du đảng trộm cắp. Sau cấp bậc tiểu học, người ta không cho tôi đi học thêm chữ nghĩa mà lại buộc tôi đi học nghề. Có thể nói là về mặt thăng tiến xã hội, cùng lắm thì tôi chỉ có thể trở thành một tài xế xe đò, một kẻ buôn hàng thịt hay một người đi khuân vác. Nói cách khác, đó chỉ toàn là những công việc chân tay, chứ không hề có chuyện sáng tạo bằng trí óc. Tôi căm ghét cái lớp áo nghèo hèn mà người ta muốn khoác trên lưng tôi. Tôi căm ghét cái tương lai mà người khác sắp đặt cho mình. Từ thuở nhỏ, tôi chỉ muốn làm chủ cuộc đời, tự định đoạt cho bản thân. Vì thế cho nên, tôi nuôi dưỡng những cảm xúc mãnh liệt nhất trong tâm trí, và chỉ có việc cầm bút mới có thể diễn đạt nổi những gì tôi cảm nhận. Sáng tác đối với tôi là chuyện sống còn, đó là phương cách cuối cùng để giúp tôi thoát khỏi cái khuôn khổ áp đặt”.

            Jean Genet chỉ rời trại giam dành cho trẻ vị thành niên phạm pháp năm ông 18 tuổi. Một khi ra tù, ông liền đăng trình nhập ngũ, đi lính lê dương tại các nước thuộc địa ở Bắc Phi nên cũng từ đó mà ông có cảm tình đặc biệt với con người cũng như văn hóa Ả Rập. Một khi trở về quê nhà, ông lại không có điểm tựa, kiếp sống lang thang nay đây mai đó, nhiều lần ăn cắp vặt nên lại bị kết án tù giam. Nhưng cũng chính ở trong tù mà Jean Genet lại bắt đầu viết những tác phẩm mà sau này được xem như là quan trọng nhất. Trong đó có thi tập Le comdamné à mort (Kẻ tử tù – 1942), Querelle de Brest (1947), Pompes funèbres (tạm dịch là Nhà đòn – 1948), Le Journal du voleur (Nhật ký của thằng ăn trộm – 1949).

Nội dung táo bạo, bút pháp độc đáo
            Jean Genet nổi tiếng ngay tức khắc với tiểu thuyết đầu tay là Notre Dame des Fleurs (Đức Bà Muôn Hoa) phát hành vào năm 1944, nhờ vào sự dìu dắt và gửi gấm của nhà văn Jean Cocteau. Theo ông Albert Dichy, chuyên gia nghiên cứu về Genet và hiện là giám đốc quản lý Viện lưu trữ văn học IMEC (l’Institut Mémoire de l’Edition contemporaine), nếu không có văn chương, thì Jean Genet có lẽ sẽ không còn lối thoát. Nhờ vào sáng tác mà nhà văn đã thoát khỏi án tù chung thân.

            “Nếu không có sáng tác, có lẽ số phận của nhà văn Genet sẽ giống như bao thiếu niên phạm pháp khác, rơi vào cái vòng lẩn quẩn của ngục tù, bị tuyên xử kết án, sau đó được trả tự do để rồi tái phạm. Vào năm 1943, sau 3 lần bị kết án tù giam cho dù mỗi lần ông chỉ bị xử phạt nhẹ vì tội trộm cắp, nhưng do luật pháp thời đó rất nghiêm khắc, cho nên nhà văn này khi tái phạm suýt nữa lãnh án tù chung thân. Cũng may cho ông là gần nửa năm trước đó (vào tháng 9 năm 1942), tập thơ Le comdamné à mort (Kẻ tử tù) đã được in lén nhờ vào sự gửi gấm của nhà văn kiêm đạo diễn Jean Cocteau. Chính ông Cocteau đã chi tiền mướn luật sư biện hộ để giúp cho Jean Genet thoát khỏi án tù chung thân. Sở dĩ ông Cocteau làm như vậy bởi vì ông ý thức về tiềm năng sáng tác của Genet. Nhà văn Cocteau từng đọc một số bản thảo của Genet, trong đó có quyển tiểu thuyết Notre Dame des Fleurs (tạm dịch là Đức Bà muôn hoa). Một tác phẩm mà Cocteau đánh giá là táo bạo và xuất sắc, vì Genet dám thò tay bốc lên tất cả những gì mà người khác không thể nào ngửi nổi”.

            Nhờ quyển tiểu thuyết Notre Dame des Fleurs (Đức Bà muôn hoa), mà Jean Genet nổi tiếng trên văn đàn. Theo chuyên gia Caroline Daviron, có thể xem tác phẩm này là quyển tiểu thuyết đầu tiên mô tả cuộc sống về đêm của giới travesti (tức là những người đồng tính chuyên giả gái) trong bối cảnh của thủ đô Paris những năm trước đệ nhị thế chiến.
            Jean Genet nhanh chóng trở thành một hiện tượng văn học vì ngoài chủ đề táo bạo, ông còn có một bút pháp độc đáo. Trong tác phẩm, Genet nâng lên hàng anh hùng các thiểu số bị đàn áp, tôn vinh những mẫu người bị gọi là cặn bã xã hội: những tên trộm cướp, những kẻ sát nhân, hay gái mại dâm. Tuy nhiên theo bà Daviron, không thể gán cho Genet cái danh hiệu “hạn hẹp” của một nhà văn đồng tính, vì sinh thời ông từng tuyên bố rằng: ông viết sách không phải là để giải phóng những người đồng tính, mà chỉ vì tình yêu chữ nghĩa.
            Trong tác phẩm của mình, nhà văn Genet đã sáng chế một bút pháp lộng lẫy, cầu kỳ, đầy dẫy tiếng lóng đậm đặc chất thơ và phương ngữ đặc sắc. Ngoài việc thay đổi theo từng vùng miền, ngôn ngữ còn biến thể theo cách dùng của mỗi tầng lớp xã hội. Qua cách dùng phương ngữ độc đáo, Jean Genet lại trao tiếng nói cho những kẻ thấp cổ bé miệng, thành phần luôn bị bóp họng, chèn ép.

Cầm bút: gỡ bỏ mọi sự kiểm duyệt
            Về phần mình, nhà phê bình Louis-Paul Astraud là tác giả quyển sách mang tựa đề Jean Genet, tuổi xuân đánh mất (Jean Genet, une jeunesse perdue) của nhà xuất bản Diable Vauvert. Theo ông, tinh thần nổi loạn là một trong những sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm của Jean Genet. Các hành vi phạm pháp cũng như thái độ bất phục tùng của Genet là một cách để cho nhà văn đập phá khuôn thước gia đình, trật tự xã hội. Điều đó theo nhà phê bình Astraud bắt nguồn từ những vết thương trong tâm hồn của nhà văn Genet thời ấu thơ.

            “Một trong những kỷ niệm tuổi thơ mà sau đó Jean Genet có kể lại, là khi nhà văn còn đang ở trường tiểu học. Thầy giáo cho một bài tập làm văn, theo đó các học trò phải mô tả căn nhà và người thân trong gia đình. Thời còn nhỏ, ông Genet rất siêng năng và học giỏi, bài tập của cậu học trò này do được chấm điểm cao nhất lớp, nên được thầy giáo đọc cho các học sinh khác cùng nghe. Đến khi thầy đọc bài, cả lũ học trò nháo nhào hẳn lên, mách với thầy rằng: thằng Jean Genet chỉ biết nói láo, vì căn nhà được mô tả đâu phải là của hắn, và gia đình hắn đời nào mà yên ấm sung túc như vậy. Đến khi lớn lên, Genet cho biết là kỷ niệm này đặt nền móng cho sáng tác của ông.
            Với thời gian, nhà văn không còn oán ghét những lời nói cay độc của lũ bạn cùng trường, mà lại căm thù các định chế của nhà nước, từ việc toà án phạt ông 3 tháng tù giam dù ông chỉ ăn cắp một cuốn sách, cơ quan cứu tế xã hội không cho ông học chữ chỉ vì một khi học nghề, đi làm sớm thì họ khỏi phải trợ cấp thêm. Quan trọng hơn nữa là các cơ quan có thẩm quyền ngăn không cho ông tham khảo hồ sơ để tìm lại người mẹ ruột. Nơi nhà văn Genet, không chỉ có mặc cảm của một đứa bé bị bỏ rơi, mà còn là nỗi uẩn ức của một người không được xã hội công nhận ngay từ ban đầu. Có lẽ cũng vì thế mà Genet trong sáng tác hay trong đời thường luôn thương những kẻ bị gạt ra bên lề, về già ông dấn thân đấu tranh bên cạnh triết gia Michel Foucault cho các tù nhân, hay lên tiếng ủng hộ lập trường của người Palestine và các dân tộc nhược tiểu. Có thể nói là động lực sáng tác bắt nguồn rất nhiều từ thời thơ ấu của nhà văn
”.

            Nỗi bất hạnh tuổi thơ khiến cho nhà văn Genet nhiều lần bỏ nhà chạy trốn. Lần đầu tiên là vào năm 13 tuổi, đến lần thứ ba ông bị phạt và bị nhốt vào trại giam dành cho thiếu niên phạm pháp tại Mettray ở vùng Indre et Loire, miền Trung nước Pháp. Chính tại trại giam này, Jean Genet trải nghiệm những rung động đầu đời của lứa tuổi mới lớn và phát hiện định hướng đồng tính của ông. Giai đoạn ngục tù đối với người khác có thể là một địa ngục, nhưng trong hồi tưởng của Jean Genet lại là một thiên đường. Sinh thời, nhà văn Jean Genet cho biết:

            “Một cách ngược đời, tôi lại cảm thấy hạnh phúc khi sống trong cái cảnh địa ngục trần gian. Điều này quả thật là lạ lùng, vì tôi học được những điều bổ ích từ những người ở trong cùng một hoàn cảnh với mình hơn là học hỏi từ những người cải huấn. Đáng lẽ ra, họ có nhiệm vụ rèn luyện nhân cách cho chúng tôi, nói theo họ là giúp cho chúng tôi chọn đúng đường, đi đúng hướng. Nhưng càng gần gũi với họ, thì tôi lại càng nhìn thấy sự khinh rẻ, miệt thị. Trong mắt họ thì chẳng bao giờ, tôi có thể trở thành một con người có giá trị. Ngược lại với những người bạn tù cùng lứa tuổi, tôi lại học được cách đối xử với nhau: người bị té ngã cần được nâng đỡ, người đang chết chìm thì đừng nên nhún đầu họ xuống sâu hơn. Theo tôi, giới du côn phạm pháp lại dạy cho tôi nhiều bài học có ý nghĩa hơn là đạo đức mà những người thánh thiện luôn rao giảng. Điều mà sau này tôi sẽ cố gắng đưa vào các tác phẩm của mình”.

Người truy tìm vẻ đẹp trong ác tính
            Theo chuyên gia Albert Dichy, thuộc Viện lưu trữ văn học IMEC, những tháng ngày trong ngục tù cũng là giai đoạn manh nha rất nhiều tác phẩm lớn sau đó của nhà văn Jean Genet. Thơ vần hay văn xuôi, khá nhiều tác phẩm của Genet lấy cảm hứng từ những kinh nghiệm từng trải, kể cả những quan hệ tình dục trong tù, một chủ đề còn nhạy cảm thời nay huống chi là vào đầu những năm 50, thời mà xã hội Pháp còn chưa được cởi trói.

            “Đây là một trong những nét đặc thù của Jean Genet. Trong lịch sử văn học Pháp, có nhiều tác giả đã từng chịu cảnh ngục tù. Đó là trường hợp của các tác giả như Paul Verlaine, Guillaume Apollinaire hay François Villon, nhưng không có tác giả nào xây dựng hầu như toàn bộ tác phẩm của mình xung quanh chủ đề nhà tù, từ nội dung, cách xây dựng nhân vật cho đến cách đặt tựa cho tác phẩm. Tiêu biểu nhất là quyển Journal du voleur (Nhật ký của thằng ăn trộm), L’enfant crimninel (Đứa bé phạm tội), Haute surveillance (Canh gác nghiêm mật), La douceur du bagne (Sự êm dịu của nhà tù khổ sai). Ngay cả chủ đề tình dục trong tác phẩm của Genet cũng thường được gắn liền với cái bối cảnh này. Trong tác phẩm đầu tay của mình là tập thơ Le Comdamné à mort (Kẻ tử tù), đã manh nha tất cả những chủ đề ưng ý mà Genet sẽ phát triển sau đó…
            Trong tập thơ tình này, Genet ngợi ca cái chết với những vần thơ tuyệt vời nhục cảm. Ông dùng những hình tượng tuyệt đẹp nhưng ngôn từ vẫn không hoa mỹ khuôn sáo chẳng hạn như hình ảnh của kẻ sắp bị hành quyết cúi đầu chờ đợi lưỡi dao ngọt ngào của máy chém rơi trên cổ, như thể đang mong chờ vết cắn của tình nhân. Suốt đời, Jean Genet muốn sống với ý nguyện: tuyệt đối không che giấu, không nói dối với chính mình. Trong cái xã hội đầy phép tắc xã giao mà ông đang sống, đó đã là một hình thức nổi loạn. Sinh thời Genet đã từng tuyên bố, lúc còn nhỏ người ta định đoạt mọi thứ cho ông, khi lớn lên ông sẽ không để cho ai quyết định thay cho mình. Suy cho cùng, Genet một con người nhiều lần bị ngồi tù thấu hiểu hơn ai hết hai chữ tự do. Theo ông, ta phải tự giành lấy tự do, chứ không ai cho ta quyền tự do cả
”.

            Chính cũng vì tư tưởng của tác giả đi trước thời đại ông đang sống, mà Jean Genet được nhiều người gọi là một nhà văn nằm trong “sự canh chừng nghiêm mật của xã hội”. Theo nhà phê bình Pascal Fouché, đồng tác giả của quyển sách Jean Genet matricule 192.102 (Jean Genet số tù 192.102) nghiên cứu giai đoạn từ những năm 1910 cho đến 1944, tức là từ thuở ấu thơ cho đến những năm phát hành các sáng tác đầu tay, mỗi tác phẩm của Jean Genet tựa như một bản tuyên ngôn nhằm đập phá trật tự xã hội.

Khuynh đảo đa số bằng nghịch lý thiểu số
            Theo quan niệm của Genet: cầm bút là gỡ bỏ mọi hình thức kiểm duyệt. Sự kiểm duyệt đến từ bên ngoài là điều dễ nhìn thấy, nhưng hình thức tự kiểm duyệt do tâm trí đã bị nhồi sọ từ thuở nhỏ với luân lý giáo điều, mới thật sự là vô hình. Có lẽ cũng vì thế mà khi sáng tác, Genet rất triệt để trong cách trực diện vấn đề, không che giấu mà cũng chẳng tự kiểm duyệt.
            Nhà nghiên cứu Michel Corvin thì đi xa hơn nữa khi nhận định rằng: Nhà văn Jean Genet là người đi truy tìm vẻ đẹp trong cái xấu. Ông dùng nghịch lý của thiểu số để khuynh đảo quan niệm phải đạo của đa số. Người khác thì hướng thiện, Genet thì chỉ thích tôn vinh cái ác. Michel Corvin cho rằng: điều này càng nổi bật hơn trong các vở kịch của Genet, có những điểm gần giống với kịch của Antonin Artaud, chuyên đề cao sự độc ác của con người.
            Theo ông, để hiểu Genet thì nên đọc sách của Jean Paul Satre. Nhà văn Sartre đã từng viết hơn 500 trang (quyển Saint Genet: comédien et martyr) để giải mã hiện tượng Genet và làm lộ rõ chân tướng của nhà văn đồng tính, qua việc đối chiếu hai hình tượng: một bên là “thánh nhân” và bên kia là “tội phạm”. Chỉ khi nào họ chết một cách thảm thương thì họ mới được phong thánh tử vì đạo.
            Có lẽ cũng vì vậy mà yếu tố dục vọng không thể thiếu trong tác phẩm của Genet vì đối với nét thanh cao chỉ là sự thăng hoa của cái tục, linh hồn học hỏi từ trải nghiệm xác thịt. Nói theo Oscar Wilde, một nhà văn đồng tính khác: đạo đức thanh khiết chỉ là một loại thuốc tẩy, để rửa sạch linh hồn.


TUẤN THẢO
Tháng 1/2011


http://vi.rfi.fr/phap/20110107-100-nam-ngay-sinh-cua-nha-van-phap-jean-genet

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #38 vào: 11/07/2017, 11:39:46 »
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sinh năm 1937 tại Dư Khánh, Ninh Thuận. Ông còn được biết qua bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm và đã in ra nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đấu những năm 60 cho tới năm 1973. Ông có bài viết đăng trên những tạp chí hay các tờ chuyên đề rất nổi tiếng của miền Nam như Thế Kỷ Hai Mươi, Khởi Hành, Bách Khoa, Sáng Tạo, Thời Tập, Thời Nay, Trình Bày, Đối Diện, Mai, Văn, Văn Nghệ…

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (trái) và Tâm Nhiên

Một trong bốn tứ trụ thơ
            Giới văn nghệ miền Nam lúc ấy xem ông là một trong bốn tài năng thi ca mà có người gọi là tứ trụ thơ gồm: Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Bên cạnh đó ông còn nổi tiếng với tính lập dị và rất nhiều người cho rằng ông với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện nhập lại thành những dị nhân trong văn học.
            Thơ Nguyễn Đức Sơn hầu như trái lại với cá tính của ông một cách đáng ngạc nhiên. Nếu khi nói ông thường tỏ ra bất cần đời thì khi viết ông lại trân trọng, trau chuốt từ con chữ một, ngay cả con chữ có dáng vẻ không thanh bai, cao quý mà nhiều nhà thơ tránh né ông vẫn dùng chúng một cách thông minh, hóm hỉnh và không thiếu chất triết học trong ấy.
            Là bạn với Phạm Công Thiện và Bùi Giáng, ba người chia sẻ với nhau những khác biệt nhưng cũng ôm ấp nhiều cái chung mà đôi lúc chính họ không nhận ra. Phạm Công Thiện lừng lững đi vào triết học nhìn hiện tượng tồn sinh như một bất chấp của con người trong lúc vẫy vùng để sống. Bùi Giáng đam mê cái bóng chính mình trên những vuông giấy lạnh lẽo dơ bẩn của bụi đường, của rác rưởi cuộc đời, trong khi đó Nguyễn Đức Sơn ngong ngóng nhìn đời, nhìn mình với những câu hỏi vừa ngây thơ vừa cao siêu không lời giải thích. Sơn bỏ chạy khắp bốn phương, giạt trôi như rơm khô trên từng con rạch cuộc đời mà hành trang chỉ là những thanh âm ngọng nghịu, không đủ để trở thành một tuyên ngôn của kẻ bỏ cuộc nhưng trong từng bài thơ của ông vẫn còn đó những dáng dấp của một thời hưng phấn:

            “Chửi ông cố nội tôi, chửi cha tôi tôi không giận chứ nói tôi giống Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, nhất là Bùi Giáng (nha… nha…) tôi mừng lắm mà tôi tin rằng Bùi Giáng nếu mà còn sống sẽ không đụng gì với tôi cả mà sau ngày phỏng dai… sau ngày giải phóng thì chính Bùi Giáng đã phá cái luật đó (nha… nha…) chứ tôi coi Bùi Giáng là cái thằng này ba sạo quá (cười) sạo quá đi, sạo quá mà. Mà quần chúng xin lỗi chứ nó ngu quá đi nó tường như vậy là hay (nha… nha…) Thằng Phạm Công Thiện hồi đó hồi trước giải phóng đi qua Mỹ lái máy cày mà nổi tiếng (cười). Nói tắt tôi định viết nhiều chuyện nhưng chưa được phép nói ra đây chắc có lẽ không đến nỗi xuống lỗ rồi mới viết”.

            Những lời lẽ giỡn hớt, đùa bỡn của nhà thơ như đọng lại một nỗi niềm mà nếu tinh ý người nghe có thể nhận ra trong đó là giễu cợt chính mình qua những khuôn mặt cố tri một thời cùng sống. Giễu cợt cả mình và cả thiên nhiên khi chạm phải sự dữ dội lạnh lùng của trời đất. Bài thơ “Một mình đi luồn vô luồn ra trong núi chơi” có lẽ đáng là một đặc trưng cho tính cách Nguyễn Đức Sơn:

                        Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
                        Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ
                        Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
                        Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
                        Chân rục rã tôi đi luồn ra núi
                        Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô


            Nguyễn Đức Sơn không phải lúc nào cũng “luồn vô luồn ra” như một thiền sư, rất nhiều lúc ông lặng lẽ làm một công việc mà bất cứ một chàng trai nào cũng từng làm, mơ mộng và yếu đuối trước giai nhân:

                        Một đêm trăng mờ ảo
                        anh tìm về thăm em
                        phố buồn như hoang đảo
                        gió ngừng ru bên thềm
                        ánh đèn sao le lói
                        căn phòng sao đìu hiu
                        anh lặng người thầm hỏi
                        kiếp người sao tiêu điều

                        Anh đi vòng sau nhà
                        một mình như bóng ma
                        giật mình anh nghe thấy
                        có tiếng gì bay xa

                        Rồi đêm trăng mờ ảo
                        anh lại về thăm em
                        như lá vàng lảo đảo
                        anh lui về trong đêm


            Nhà thơ, người luôn thắc mắc với trời đất, với sự quanh hiu lẫn mang mang hư vô của cõi nhân gian. Hãy nghe Nguyễn Đức Sơn diễn tả cái xúc cảm mang mang ấy:

                        Mang mang trời đất tôi đi
                        Rừng im suối lạnh thiếu gì tịch liêu
                        Tôi về lắng cả buổi chiều
                        Nghe chim ăn trái rụng đều như kinh
                        Còn một mình hỏi một mình
                        Có chăng hồn với dáng hình là hai
                        Từng trưa nằm nghĩ đất dài
                        Phiêu phiêu nhẹ cái hình hài bay lên
                        Mù sương âm vọng tiếng huyền
                        Có con dơi lạ bay trên cõi đời
                        Sau xưa mắt đã ngợp rồi
                        Tôi nghe tôi chết giữa trời thinh không


Chủ đề quê hương
            Nếu nhắc tới thi sĩ từ thập niên 40 trở về sau mà không nhắc tới chủ đề quê hương của họ thì thật có lỗi. Nguyễn Đức Sơn cũng không ngoại lệ. Khi nói tới quê hương hình như bất cứ thi sĩ nào dù ngông nghênh cách mấy cũng thấy lòng lắng xuống nhường chỗ cho những dịu dàng, trân quý nhất dành cho nó. Nguyễn Đức Sơn hỏi han, vỗ về và nhắc lại kỷ niệm như một cậu bé về làng hơn là một gã thi sĩ điên khùng nói về quê cũ:

                        Tháng bảy dì về đơm nhãn
                        nhớ mang ra ít giạ chiêm
                        ruộng xưa cò bay thẳng cánh
                        gặt hái vừa độ trăng liềm

                        mười mấy năm rồi dì nhỉ
                        lạc loài xa mãi cố hương
                        giờ đây ngồi mà suy nghĩ
                        lòng dạ ai người không thương

                        quê mình ai còn ai mất
                        đi rồi gươm súng mùa thu
                        khóc mãi từng đêm lưu lạc
                        nói ra thêm oán thêm thù

                        ngõ về làm sao ngài ngại
                        xe cộ có dễ dàng không
                        kháng chiến người đi chưa lại
                        lúa khô héo cả ruộng đồng

                        ông ngoại chắc già ghê lắm
                        mấy người dì nữa nhưng thôi
                        đất cằn quê hương nứt rạn
                        kể thêm đau lòng dì ơi

                        dù sao cũng là xứ sở
                        đói nghèo đừng lạt tình thương
                        mười năm không cúng không giỗ
                        dì về ấm lại khói hương

                        tháng bảy dì về đơm nhãn
                        nhớ mang ra ít giạ chiêm
                        ở đây làm gì có bán
                        thấy người ta ăn bắt thèm.


            Đôi lúc Nguyễn Đức Sơn có nét tương đồng với Nguyễn Bính, hết tâm sự với người dì tới nhỏ nhẹ hỏi han tới chị. Trong từng khuôn chữ ấy người đọc gợn lên mối cảm hoài mà nhiều chục năm sau không còn thấy nữa.

                        Giữa mùa nắng vàng hiu hắt
                        Về đây đôi mắt dịu hiền
                        Về đây cả bàn tay đẹp
                        Đi tìm thăm xứ người em

                        Ngõ hẹp lối vào gác trọ
                        Chiều trưa nhạt nắng bên thềm
                        Bỗng dưng sao lòng se thắt
                        Vương vương đếm mấy nỗi niềm

                        Gặp nhau sao mà không nói
                        Tuổi hiền mà cũng lao đao
                        Ơ kia làm sao chị khóc
                        Tình em vẫn như dạo nào

                        Chị bảo rằng đây mưa nắng
                        Bốn mùa em có buồn không
                        Em cười làm sao cay đắng
                        Chị ơi lệ ở trong lòng


            Thi sĩ, những kẻ nghịch đời. Cuộc sống chung quanh của một thi nhân hình như được tạo hóa nặn ra cho một mình anh ta. Cành hoa lìa cuống cũng làm họ khóc huống chi cả một cuộc phân ly và hơn thế là cuộc chiến tương tàn. Nguyễn Đức Sơn sinh ra trong thời đại của đói nghèo ly tán cùng chết chóc lầm than của chiến tranh, bằng ấy thứ cộng lại trên đôi vai người Việt khiến ông như hầu hết các thi sĩ khác tất cả đều có chung một ước mơ, ước mơ thanh bình. Vậy mà cách diễn đạt cái ước mơ ấy của Nguyễn Đức Sơn cũng rất khác với mọi người. Cái khác ấy làm nên một Nguyễn Đức Sơn khác biệt.

                        Mai kia tan biến hận thù
                        Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông
                        Cha về ôm cả biển sông
                        Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời
                        Cho con cha hứa một lời
                        Đuổi mây thiên cổ rong chơi tối ngày
                        Thu nào tóc bạc òa bay
                        Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già
                        Cúi hôn trời đất đậm đà
                        Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên


            Trả lời tạp chí Bách Khoa trước năm 1975 Nguyễn Đức Sơn thú nhận: “Tôi viết vì bị thúc đẩy bởi một lực ở đằng sau và được thu hút bởi một lực ở phía trước. Ðó là những ma lực làm tôi cảm khoái huyền diệu xa xăm. Thứ cảm khoái này kéo dài được chứ không ngắn như nhục cảm. Viết được một đoạn hay tôi đi lên đi xuống thưởng thức và khoái chí. Nên tôi nghĩ rằng sáng tác cho mình trước hết.”
            Hơn 40 năm sau Nguyễn Đức Sơn hình như không còn cái hạnh phúc của “đi lên đi xuống” đó nữa, ông trả lời cùng một câu hỏi của trước đây 40 năm mà như tự hỏi lại mình:

            “Tôi ngay bây giờ tôi định làm chương trình một bãi thơ lớn lắm, bãi thơ không phải bãi c… không biết có được không (nha… nha…) bây giờ không thể trả lời ngắn được. Tôi không biết tôi viết cho bây giờ hay cho mai sau, tôi không biết được đâu vì nói sao cũng đúng hết mà nói sao cũng trật hết (nha… nha…) Bây giờ tôi đang đứng giữa đồi lên nhà xa lắm mà móc cái điện thoại ra từ trong túi áo, kim băng (nha… nha…) cây kim băng còn dính lòng thòng…
            Tôi chỉ muốn làm một người bình thường thôi ngay những người Mỹ tới đây tôi dã dặn trước con cái đừng cho họ vô nhà (nha… nha…) để cho họ khỏi hiểu lầm gì hết tôi muốn bình yên. Hiện bây giờ tôi đang bị giời leo cái bệnh ở dơ trong bụi bặm, giời leo nó khó chịu vô cùng bây giờ nhức nhối đôi khi bực bội không thể chịu được. Giời leo nha anh biết không? Không phải bà leo không phải trời leo nha…


            Nguyễn Đức Sơn có thể là một dị nhân của thi ca Việt Nam qua tính cách, đời sống cũng như nói năng trong ngôn ngữ đời thường, tuy nhiên ông không thể là một dị nhân trong sáng tác của mình vì trong mỗi vuông đất thi ca của riêng ông con người Việt Nam thấy in đậm bóng của họ trong đó. Thơ ông không tách ra khỏi cuộc đời để trở thành dị thường, nó bình thường dễ cảm và đáng ngạc nhiên nhất là rất đậm chất trữ tình của những tâm hồn dân dã.


MẶC LÂM
Tháng 5/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/poet-nguyen-duc-son-ml-05232015072118.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #39 vào: 13/07/2017, 17:40:24 »
Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa...”

Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thụy du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”... Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.

Nhạc sĩ Anh Bằng

“Dòng nhạc Anh Bằng”
            Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.

            “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
            Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới
            Ngoài trống vắng mà thôi Thụy ơi và tình ơi

            Như loài chim bói cá trên cọc nhọn trăm năm
            Tôi tìm đời đánh mất trong vũng nước cuộc đời
            Trong vũng nước cuộc đời Thụy ơi và tình ơi

            Đừng bao giờ em hỏi vì sao ta yêu nhau
            Vì sao môi anh nóng vì sao tay anh lạnh
            Vì sao thân anh run vì sao chân không vững
            Vì sao và vì sao

            Hãy nói về cuộc đời tình yêu như lưỡi dao
            Tình yêu như mũi nhọn êm ái và ngọt ngào
            Cắt đứt cuộc tình đầu Thụy bây giờ về đâu

            Thụy bây giờ về đâu anh là chim bói cá
            Em là bóng trăng ngà chỉ cách một mặt hồ
            Mà muôn trùng chia xa

            (Khúc Thụy du)

            Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thụy Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.
            Lại thêm một người nữa ra đi…
            Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ…
            Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.

            “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
            Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều
            Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?
            Ai đứng trông ai ven hồ
            Khua nước trong như ngày xưa…

            (Nỗi lòng người đi)

            Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bây giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.

Nửa đêm biên giới
            Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hòa tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.

            “Mẹ ơi biên cương giờ đây
            Trời không mưa nhưng nhiều mây
            Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
            Nghe gió rung cây đổ lá vàng
            Sương xuống mênh mang
            Khèn trong buôn xa còn vang
            Nhịp chim tiêu sơ nhặt khoan
            Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
            Con hát ca vui lều tranh nghèo
            Ôi đẹp làm sao…

            (Nửa đêm biên giới)

            Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.

            “Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
            Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
            từng lũy tre muộn phiền.
            Tôi có người vợ ngoan.
            Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…

            (Chuyện giàn thiên lý)

            Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.

            “Anh còn yêu em như rừng lửa cháy
            Anh còn yêu em như ngày xưa ấy
            Chiều xuống mờ sương
            Cửa đóng rèm buông
            Gối kề bên gối
            Môi kề bên môi
            Anh còn yêu em đường xanh ngực nở
            Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ
            Bạch đàn thâu đêm
            Bạch đàn thâu đêm
            Thầm thì tóc rũ
            Anh còn yêu em…

            (Anh còn yêu em)

            Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.

            “Khi áng mây cao dừng trên nếp trán
            Anh chợt nghe tình vỗ cánh bay
            Trái tim anh hờn dỗi trên vai
            Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy
            Bỗng mùa xuân về trên năm ngón
            Trên bàn tay lộc biếc lá non
            Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em
            Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…

            (Kỳ diệu)

Anh còn nợ em
            Rồi cũng có khi ông hóa thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.

            “Anh còn nợ em
            Công viên ghế đá
            Công viên ghế đá
            Lá đổ chiều êm
            Anh còn nợ em
            Dòng xưa bến cũ
            Dòng xưa bến cũ
            Con sông êm đềm
            Anh còn nợ em
            Chim về núi nhạn
            Trời mờ mưa đêm
            Trời mờ mưa đêm…

            (Anh còn nợ em)

            Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hòa với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:

             “Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như Khúc Thụy du, Nỗi lòng người đi…
            Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.


            Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.
            Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn… Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.


CÁT LINH
Tháng 11/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/vanct-111515-cl-11142015211228.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #40 vào: 18/07/2017, 21:15:06 »
850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris

Cách đây hơn 8 thế kỷ, vào năm 1163, vua nước Pháp thời bấy giờ là Louis VII và Đức Giáo hoàng Alessandro III đặt viên đá đầu tiên để khởi công xây cất Nhà thờ Đức Bà Paris. Giai đoạn đầu là xây dựng chính điện thánh đường do giám mục Maurice de Sully điều hành. Mãi đến hai thế kỷ sau, công trình xây cất mới chính thức hoàn tất. Năm 2013, nước Pháp tổ chức lễ hội ăn mừng sinh nhật lần thứ 850 của Nhà thờ Đức Bà Paris.

Nhà thờ Đức Bà Paris thu hút hàng năm 14 triệu lượt du khách,
nhân 850 tuổi dự trù đón tiếp 20 triệu khách thăm viếng

CHƯƠNG TRÌNH lễ hội sẽ kéo dài một năm, từ trung tuần tháng 12 năm 2012 cho đến ngày cuối năm 2013. Kể từ đầu năm nay, quảng trường và mặt tiền Nhà thờ Đức Bà Paris đã được tân trang lộng lẫy, huy hoàng. Sự kiện một công trình kiến trúc đồ sộ như vậy vẫn còn đứng vững có thể được xem như nhờ có phép lạ. Nhà thờ Đức Bà vẫn tồn tại sau bao thăng trầm lịch sử, trải qua giai đoạn đập phá thời Cách mạng Pháp hay xung đột giao tranh thời Đệ Nhị Thế Chiến.
            Từ ngày đặt viên đá xây dựng đầu tiên cho tới tận ngày hôm nay, hình tượng của Nhà thờ Đức Bà Paris đã gắn liền với lịch sử nước Pháp. Chính tại nơi này mà vào năm 1230, vua Saint-Louis đã làm lễ rước vòng gai của Đức Chúa. Đội quân Thập Tự Chinh đã đưa thánh tích này từ Constantinople về Paris. Năm 1455, phiên xử nhằm minh oan và phục hồi danh dự của thánh Jeanne d’Arc đã diễn ra tại chính điện Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Hơn ba thế kỷ sau, hoàng đế Napoléon Đệ Nhất đã chọn nơi này làm lễ đăng quang vào năm 1804, với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng Pie VII. Vào cuối tháng 8 năm 1944, chuông nhà thờ đã ngân vang khi tướng De Gaulle bước vào chính điện để tưởng niệm các binh sĩ trận vong nhân ngày giải phóng thủ đô Paris khỏi ách chiếm đóng của quân đội Đức Quốc Xã.
            Vào ngày 12 tháng 12 vừa qua, Tổng Giám Mục Paris Đức Hồng y André Vingt-Trois, đã khai mạc chương trình sinh hoạt với sự hiện diện của bộ trưởng bộ Nội vụ Pháp Manuel Valls và thị trưởng Paris, ông Bertrand Delanoë. Quảng trường mặt tiền của Nhà thờ đã được thiết kế thành Lộ trình của Đức Bà, và toàn bộ các sinh hoạt đều đặt dưới sự phối hợp của tổ chức mang tên “Notre Dame de Paris 2013”. Ông Jean François Lemercier, tổng thư ký ban tổ chức chương trình kỷ niệm sinh nhật lần thứ 850 của Nhà thờ Đức Bà Paris cho biết vài nét chính:

            Trong khuôn khổ chương trình sinh hoạt nhằm kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là đón tiếp 20 triệu khách, bao gồm các đoàn thăm viếng và khách hành hương. Ngoài công việc hướng dẫn du khách, văn phòng thông tin của chúng tôi còn có nhiệm vụ phối hợp điều hành các sinh hoạt. Chẳng hạn như chúng tôi lập ra nhiều lộ trình viếng thăm: mục đích là tạo điều kiện cho khách tham quan và khách hành hương khám phá Nhà thờ Đức Bà Paris dưới nhiều góc độ khác nhau: nghệ thuật kiến trúc, lịch sử công trình, các buổi lễ thánh nhạc, các sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh.
            Rất nhiều ấn phẩm được xuất bản nhân dịp này để phản ánh công việc bảo tồn Nhà thờ Đức Bà Paris qua bao giai đoạn lịch sử. Chương trình kỷ niệm 850 năm Nhà thờ Đức Bà Paris kéo dài trong vòng một năm, trong đó có nhiều sự kiện quan trọng, trùng hợp với những ngày lễ lớn của người Công giáo như lễ Phục Sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Chư Thánh… Ngoài ra, Tổng giáo phận Paris còn chủ trì nhiều sinh hoạt biểu tượng gắn liền với lịch sử của Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Vào ngày 9 tháng Hai năm 2013, sẽ có lễ rước chuông. Sau khi trùng tu mặt tiền Nhà thờ Đức Bà Paris, chúng tôi sẽ rước 9 quả chuông đồng từ vùng Normandie về Paris, rồi gắn lên tháp chuông nhà thờ. Còn ngày 6 tháng Năm năm 2013, là ngày hội thế giới của đàn ống (orgue), nhân dịp này chúng tôi phối hợp với rất nhiều thánh đường trên toàn cầu, để cùng tổ chức 850 buổi lễ thánh nhạc trên năm châu lục. Một cách tượng trưng, chúng tôi muốn thắp sáng 850 ngọn nến để mừng sinh nhật 850 tuổi của Nhà thờ Đức Bà Paris
.

            Không phải ngẫu nhiên mà Nhà thờ Đức Bà Paris đã chọn trung tuần tháng Hai năm 2013 làm lễ rước chuông. Các quả chuông đồng được trùng tu tại thị trấn Villedieu les Poêles, ở vùng Normandie, nơi có truyền thống lâu đời rèn đúc chuông nhà thờ. Sau khi làm lễ phước lành, các quả chuông đồng sẽ được đưa về tháp chuông Nhà thờ Đức Bà. Giáo sư Jean Pierre Cartier, chuyên nghiên cứu về nghệ thuật và lịch sử Paris cho biết ý nghĩa của sự kiện này:

            Vào ngày 10 tháng Hai năm 1638, tức cách đây gần bốn thế kỷ, vua Louis XIII đã ký một chỉ dụ, qua đó nhà vua thề nguyện lòng mộ đạo cũng như sự trung thành đối với Giáo hội. Cũng cần biết rằng vào thời đó, nước Pháp chưa có thể chế tam quyền phân lập, và vương triều thời bấy giờ khẳng định Công giáo như một quốc giáo. Nhưng điều quan trọng hơn nữa, là qua văn thư này, nhà vua Louis XIII đã cho tiến hành một kế hoạch trùng tu quan trọng, không những nhằm mục đích bảo tồn mà còn góp phần xây dựng thêm để khuếch trương tầm vóc của Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Tính chất nguy nga, đồ sộ của Vương cung Thánh đường không phải được xây cất một sớm một chiều, mà là nhờ vào sự kết hợp của nhiều kiến trúc sư (Jean de Chelles, Pierre de Montreuil, Pierre de Chelles, Jean Ravy, Jean le Bouteiller, Viollet le Duc…) qua nhiều thời kỳ khác nhau, nâng công trình xây dựng này lên hàng đầu nghệ thuật kiến trúc gothic. Điều mà khách tham quan cũng như khách hành hương nhìn thấy tận mắt là kết quả chung cuộc của một công trình xây dựng, nhưng đa số chúng ta ít nhận thức được tất cả những giọt mồ hôi và nước mắt đã đổ xuống để giúp cho Nhà thờ Đức Bà Paris đứng vững để rồi tỏa sáng cho tới tận ngày nay.
            Chỉ dụ của vua Louis XIII đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng, vì các triều vua sau đó tiếp tục tài trợ việc bảo tồn công trình này. Ngay bên trong Nhà thờ Đức Bà Paris, có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật lớn, trong số này có một bức tượng điêu khắc nổi tiếng đặt ở bàn thờ chính điện. Bức tượng cho thấy vua Louis XIII quỳ gối bên phải Đức Mẹ Maria, nhà vua ở trong tư thế dâng hiến vương miện cho Thánh Nữ Bác Ái (La Pieta) để thề nguyện lòng trung thành với Đức Mẹ
.

            Một trong những sinh hoạt nổi bật của chương trình kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, chính là các buổi lễ thánh nhạc. Hàng năm, Nhà thờ Đức Bà Paris tổ chức khoảng 100 buổi trình diễn thánh ca kết hợp dàn đàn ống với các ca đoàn nhà thờ cũng như với các học sinh nhạc viện Nhà thờ Đức Bà Paris. Ông Simon Cnockaert, giám đốc khoa Thánh nhạc cho biết:

            Ngay từ thời khởi công xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, đã nảy sinh một phong trào sáng tác thánh nhạc. Phong trào này đánh dấu ngày khai sinh thể loại thánh ca đa âm phức điệu không những ở Pháp mà còn trên toàn châu Âu. Trước đó, vào thời Trung Cổ, thánh ca nhà thờ thường theo truyền thống đơn âm như thánh ca Gregory, ban đầu chỉ phổ biến trong các tu viện. Phong trào này sẽ phát triển rất mạnh, hình thành nguyên một trường phái riêng biệt hẳn hoi trong âm nhạc hàm lâm, cổ điển và nhiều tác giả lớn trải qua nhiều thế kỷ sau đó tại châu Âu từ Johannes Brahms, Anton Bruchner đến Félix Mendelson, từ Wolfgang Amadeus Mozart đến Johann Sebastian Bach đều đã góp công sáng tác làm giàu thêm bộ vựng tập.
            Khoa thánh nhạc của Nhà thờ Đức Bà Paris chẳng những duy trì truyền thống này mà còn tìm cách khuyến khích các soạn giả thời nay tiếp tục con đường sáng tác thánh nhạc như trường hợp của nhạc sĩ Yves Castagnet. Ngoài ca đoàn của Nhà thờ Đức Bà Paris, chúng tôi còn mời nhiều ca đoàn đến từ các quốc gia khác sang Paris biểu diễn. Các buổi trình diễn ở đây đều miễn phí vì mục tiêu hàng đầu không phải là kinh doanh lợi nhuận hay nhằm mục đích tiêu khiển giải trí, mà là làm giàu đời sống tâm linh của khách hành hương hay người thăm viếng đến từ thập phương
.

            Về phần mình, đô trưởng Paris, ông Bertrand Delanoë, sau khi tham gia buổi lễ khai mạc chương trình Notre Dame de Paris 2013, cho biết cảm nhận của ông cũng như ý nghĩa của chương trình sinh hoạt trong vòng 12 tháng liên tục nhằm kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà đối với Tòa Đô chính Paris:

            Tại thành phố Paris, ít có một địa điểm nào mà lại thấm nhuần cái hồn của thủ đô nước Pháp cho bằng Nhà thờ Đức Bà. Khoản thời gian dài 850 năm đã tạo cho công trình này một bề dầy lịch sử đáng kể, nhưng bên cạnh đó còn có cái quan hệ tình cảm gắn bó mật thiết của người dân thủ đô đối với Nhà thờ Đức Bà Paris. Một sự kiện quan trọng khác là Nhà thờ Đức Bà Paris là một trong những công trình kiến trúc lịch sử thu hút nhiều lượt du khách nhất.
            Tính trung bình, hàng năm, Nhà thờ Đức Bà Paris lôi cuốn 14 triệu lượt du khách, và đặc biệt năm nay, nhân dịp sinh nhật 850 tuổi, công trình này sẽ thu hút khoảng 20 triệu lượt khách thăm viếng. Đối với tôi, điều này rất có ý nghĩa: cho dù khách thăm viếng đến từ các vùng miền khác của nước Pháp hay là du khách nước ngoài, cho dù đối tượng này là người không theo đạo Chúa hay là khách hành hương mộ đạo, thì tất cả đều muốn chiêm ngưỡng tận mắt Nhà thờ Đức Bà Paris. Vẻ đẹp lạ thường cũng như tầm vóc đồ sộ của công trình đã biến Nhà thờ Đức Bà Paris thành một kiệt tác, một kỳ quan, điều đó vượt lên trên sự khác biệt quan điểm.
            Nhà thờ mở rộng cánh cửa để tiếp đón mọi người, bất kể quốc tịch, màu da, địa vị xã hội, hay khác biệt tín ngưỡng. Rất có thể là nhà văn Victor Hugo trong tác phẩm văn học của ông (thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris) đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng trong tâm trí của du khách một hình ảnh rất đẹp: Nhà thờ Đức Bà Paris do vua chúa xây cất nhưng không phải thuộc quyền sở hữu đế vương mà lại dành cho tất cả mọi người. Thông điệp ấy vẫn còn giá trị biểu tượng cho tới tận ngày nay
.


TUẤN THẢO
Tháng 2/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130201-nha-tho-duc-ba-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #41 vào: 20/07/2017, 11:39:53 »
Cảm nhận sau khi coi phim Buddha 54 tập trên Internet

Từ hai ba tháng qua, hầu như ngày nào tôi cũng dành thì giờ ôn lại các bài học của Bụt Thích Ca trong tập phim Buddha, do nhà sản xuất Modi đưa lên mạng Youtube từ năm 2016. Khi được bạn bè giới thiệu cuốn phim này, tôi coi mấy đoạn đầu, rồi nhảy cách tới đoạn Buddha thành đạo (tập 34), và coi tiếp sau đó tập 41 tả cảnh Buddha về thành Ca Tỳ La Vệ thăm gia đình. Ðoạn 41 này rất hay, đạo diễn và tài tử đều diễn tả được tình cảm của Buddha và bà vợ mà ông rất thương yêu trước khi đi tu.

Một cảnh trong phim Buddha

TỪ ĐÓ, cuốn phim có đủ yếu tố hấp dẫn khiến tôi phải coi lại toàn bộ, song song với việc đọc lại cuốn truyện “Ðường Xưa Mây Trắng” (Lá Bối xuất bản lần đầu 1988), kể về cuộc đời và giáo pháp của đức Bổn Sư Buddha Sakyamuni.
            Cuốn phim Buddha do nhà tỷ phú B. K. Modi người Ấn Ðộ sản xuất, có thể nói đã bắt nguồn từ việc ông được đọc cuốn truyện “Ðường Xưa Mây Trắng” của Thiền Sư Nhất Hạnh, vào đầu thiên kỷ 2000. Sau khi biết tác giả Thích Nhất Hạnh vẫn còn tại thế, ông Modi đã liên lạc với nhà xuất bản Paralax lấy địa chỉ và gửi một luật sư tới Làng Mai (miền Tây Nam nước Pháp) để thương thuyết về bản quyền. Thiền Sư Nhất Hạnh từ chối không thảo luận những con số từ nửa triệu Mỹ kim được đưa ra, nhưng tỏ ý muốn gặp người làm phim. Vì vậy ông Modi đã đến gặp ông thầy trong ba ngày, từ 27 tới 29 Tháng Ba, 2006. Sau cuộc gặp gỡ, Thiền Sư Nhất Hạnh tỏ ý muốn cúng dường chư Phật, không lấy tác quyền, chỉ đề nghị ông tặng một phần tiền thu lợi (1%) giúp cho các trẻ em đói khổ của xứ Ấn Ðộ. Hiểu và cảm thông sâu xa được tâm nguyện này ông Modi rất cảm động, nên đã xin được góp thêm 1% nữa vào quỹ từ thiện cho trẻ em Việt Nam và các nước khác.
            Phóng viên Tiểu Ký đã viết trong nhật báo Người Việt: “Thiền Sư Nhất Hạnh ký hợp đồng phim “Ðường Xưa Mây Trắng” mà không lấy tiền bản quyền!”
             Nhiều người rất ngạc nhiên khi thấy báo chí loan tin về Ðại Hội Ðiện Ảnh Cannes (Pháp) ngày 23 Tháng Năm, 2006 có đăng hình Thiền Sư Nhất Hạnh và các vị đệ tử đứng tươi cười, chụp hình cùng ông Modi và phụ tá của ông. Tăng đoàn đã được mời tới Cannes trong buổi công bố việc ký kết hợp đồng cho phép làm phim về cuộc đời đức Phật dựa trên cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Cuốn phim sẽ do một nhà tư bản Ấn Ðộ, ông Bhupendra Kumar Modi, bỏ vốn. Nhưng chưa có báo nào nói về hợp đồng lạ lùng giữa Thiền Sư Nhất Hạnh và nhà đầu tư B. K. Modi, vì tác giả không lấy tiền bản quyền.
            Ðây là một hợp đồng rất đặc biệt vì không những tác giả Nhất Hạnh không nhận tiền bản quyền như thông lệ, vị thầy tu già 81 tuổi chỉ đòi hỏi một điều kiện – có lẽ duy nhất trong lịch sử phim ảnh thế giới. Ðó là: Từ người bỏ vốn (ông B. K. Modi), đến giám đốc sản xuất, người viết phim, phân cảnh, cho tới các tài tử, tất cả phải dự một khóa tu tập cùng thiền sư và tăng đoàn Làng Mai tại làng hay tại một tu viện của Làng Mai, ở Pháp, hoặc ở Hoa Kỳ (California, Vermont) hay ở Việt Nam, nếu tình cờ thiền sư có mặt ở xứ nào đúng thời gian mà nhóm làm phim đã chọn xong người, muốn tới thực tập.
            Riêng ông giám đốc sản xuất Michel Shane (từ Holywood) và người viết phân cảnh (Script writer) từ cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” sẽ phải tới Làng Mai ở hai tuần lễ để biên soạn và đưa tác giả duyệt lại chuyện phim, ngõ hầu diễn tả đúng với của ý của người viết cuốn sách. Ông Michel Shane cho báo chí biết ông muốn làm cuốn phim thành một thiên “anh hùng ca vĩ đại”. Thiền Sư Nhất Hạnh đề nghị nhóm người thực hiện cuốn phim sẽ sinh hoạt với tăng đoàn Làng Mai như một gia đình lớn, tập hạnh lắng nghe và dùng ái ngữ để thông đạt những ý kiến bất đồng nếu có. “Khi có thể hiểu nhau, thương nhau và chung sức làm phim, chúng ta mới có thể cống hiến cho thế hệ tương lai những tuệ giác của Bụt, Buddha”.
            Ông Modi rất đồng ý với Thiền Sư Nhất Hạnh. Ông cũng có ý làm một phim về cuộc đời Ðức Phật để nhân loại nhìn vào tấm gương từ bi trí tuệ của ngài mà giảm được các khổ đau, bớt chiến tranh, khủng bố.
            Ông Modi tuyên bố với báo chí trong Ðại Hội Ðiện Ảnh Cannes vừa qua rằng, sau gần 20 năm chờ đợi tìm cốt truyện hay về Ðức Phật, nay ông mới có thể thực hiện mộng ước của mình. Tuy theo Ấn Ðộ Giáo, ông Modi rất phục Bụt Thích Ca, là nhân vật có thật trong lịch sử, một đại sư vô cùng tôn kính của xứ Ấn Ðộ. Ông từng được nhiều nhà Phật học danh tiếng đề nghị các văn bản viết về cuộc đời Ðức Phật theo truyền thống Nam tông có, Bắc tông có, nhưng cho tới nay, ông mới tìm được cuốn sách hay nhất, đó là cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”.
            Ông Modi cho biết là công việc làm phim về cả cuộc đời Ðức Phật, tóm gọn trong 2 giờ đồng hồ, là chuyện vô cùng khó khăn. Nhưng ông có quyết tâm muốn làm nên hy vọng sẽ ra mắt phim tại Ðại Hội Ðiện Ảnh Cannes năm 2008!
            Vì không đầy đủ nhân duyên và có thể vì không đáp ứng được yêu cầu “tu tập” của Thiền Sư Nhất Hạnh, nên cuốn phim “Ðường Xưa Mây Trắng” không được thực hiện như ông Modi dự tính. Trong 54 tập phim mới sản xuất đây, ông Modi không làm phim theo câu chuyện “Ðường Xưa Mây Trắng” nữa, mà ông đã kể chuyện cuộc đời Buddha theo thứ tự thời gian, từ khi sinh ra tới lúc nhập diệt. Ðồng thời ông đã đưa vào phim nhiều cảnh bạo động (như Thái Tử Tất Ðạt Ða đánh nhau với Ðề Bà Ðạt Ða, các cảnh đâm chém trong chiến tranh, cùng nhiều cảnh trong các âm mưu của người em họ muốn ám hại thái tử)…
            Ông Modi đã dùng rất nhiều chi tiết trong cuốn sách cho vào phim, nhất là các chương sách diễn tả giấc mơ kỳ lạ và tâm tư của Thái Tử Tất Ðạt Ða, khi ngắm nhìn chiếc lá mà giác ngộ về toàn thể vũ trụ… chi tiết các trẻ em xin gọi thái tử là Bụt (Bud – Buddha) khi chúng gặp được con người mới giác ngộ đạo tỉnh thức, ngay trong buổi sáng ngài đắc đạo, v.v… Chi tiết Ðức Phật sau ngày thành đạo, đã dạy chú bé chăn trâu và cô gái tặng sữa cho ngài về cách ăn quýt trong Chánh Niệm, là một chi tiết độc đáo của cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”, do Thiền Sư Nhất Hạnh sáng tạo. Bài dạy ăn quýt một cách có ý thức đã được thiền sư viết trong cuốn “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức” (Lá Bối 1975), hiện nay lan truyền trong hầu hết các sách tâm lý học của Âu Mỹ, khi họ nói tới chuyện sống tỉnh thức để chữa bệnh. Một số tác giả Tây phương biến đổi bài học ăn quýt này thành ra bài học ăn trái nho khô, hay ăn cam, ăn táo, v.v…
            Chỉ tiếc cho ông Modi, nay làm bộ phim 54 tập cho TV Ấn Ðộ, ông đã không một lần nhắc tới cuốn sách “Ðường Xưa Mây Trắng” hay tác giả Nhất Hạnh, khi nói về công trình do ông sản xuất. Cố tình quên đi nguồn cảm hứng ban đầu và vẫn dùng rất nhiều chi tiết trong sách, ông Modi có lẽ sẽ “mang một món nợ” đối với tác giả. Nhưng chúng tôi nghĩ, Thiền Sư Nhất Hạnh khi biết chuyện này, cũng sẽ mỉm cười khuyên học trò, như khi xưa, họ “mách” thầy về những cuốn sách in lậu, không xin phép của nhiều nhà xuất bản vô danh, trong hai thập niên 1980 và 1990: “Ðừng bận tâm những chuyện đó con à, giáo pháp của Bụt được loan truyền rộng rãi là điều đáng vui mừng rồi”.
            Ðể độc giả biết thêm về câu chuyện “Ðường Xưa Mây Trắng” và chuyện ông Modi dự tính làm phim Buddha, chúng tôi xin đăng lại một đoạn mà báo chí quốc tế nói về ông năm 2006 như sau:

            Ông đã tổ chức nhiều hội luận khắp thế giới về hòa bình, chân lý, từ bi, và bất hại. Ông Modi được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma coi là một người bạn tốt của ngài. Dự án cuốn phim về cuộc đời Ðức Phật, theo cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”, đã được ngài ban phép lành, và ngài sẽ có mặt tại Hollywood vào ngày 11 Tháng Chín năm nay (2006), khi cuốn phim về “Ðường Xưa Mây Trắng” chính thức được khởi công.
            Ông Modi tuyên bố với báo Hollywood Reporter: “Sau nhiều năm nuôi ý làm cuốn phim về Buddha, nay tôi mới có thể thực hiện mộng ước của mình. Tôi tìm được cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” từ hai năm qua, cuốn sách này đã thay đổi đời tôi và nay tôi nghĩ, phải chia sẻ niềm hạnh phúc của tôi với cả thế giới”.
            Ðược biết cuốn phim này sẽ nhắm vào lớp khán giả 15 đến 25 tuổi. Ðây là lần đầu tiên ông bỏ vốn làm phim và ông đã sang ở Hollywood, lập một công ty, Buddha Films.

            Thiền Sư Nhất Hạnh nói với báo chí: “Bụt có thể không vui vì đã bị thần thoại hóa quá nhiều trong những thế kỷ qua. Cuốn phim này có thể giúp ngài trở lại hình ảnh một con người như chúng ta”.

             “Ðường Xưa Mây Trắng” là cuốn sách kể chuyện cuộc đời Ðức Phật Thích Ca qua con mắt của chú bé chăn trâu Svasti, sau khi xuất gia, trở thành một vị đệ tử của Phật. Ðó là chú bé cúng dường cỏ bồ đề cho sa môn Tất Ðạt Ða tĩnh tọa suốt 49 ngày trước khi thành đạo. Nhiều độc giả Việt Nam cho rằng “Ðường Xưa Mây Trắng” kể chuyện đời Ðức Phật mà hấp dẫn không thua gì truyện chưởng! Các độc giả quốc tế coi đó là cuốn sách rất hấp dẫn và có phẩm chất tâm linh khiến người ta phải đọc liền, trang này sang trang khác và thấy lòng chuyển hóa.
            Xuất bản lần đầu tiên bằng Việt Ngữ năm 1988, “Ðường Xưa Mây Trắng” tiếp tục thuộc vào loại sách bán chạy nhất tại Bắc Mỹ và các xứ Âu, Á khác, đã dịch ra 20 ngôn ngữ khác nhau. Tại Trung Quốc, nhà nước Cộng Sản đã cho phép in và tái bản nhiều lần cuốn sách này bằng Hoa ngữ, từ khi họ chính thức thỉnh mời Thiền Sư Nhất Hạnh qua giảng dạy cho các tăng ni từ năm 1997 và nhiều lần các năm sau đó, cho tới năm 2007, sau khi thiền sư lên tiếng bênh vực Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trong một buổi tiếp xúc với báo giới tại Rome, Ý.
            Tờ báo chuyên điểm sách Library Journal viết: “Ðó là cuốn sách tác giả viết bằng trái tim của mình, dùng các nguồn tài liệu quan trọng (bằng tiếng Phạn và tiếng Hán) về cuộc đời Ðức Phật. Văn phong mới mẻ, đầy chất thơ của ông có thể làm say mê các độc giả sơ cơ cũng như các Phật tử thuần thành…”


TIỂU HUYỀN
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/cam-nhan-sau-khi-coi-phim-buddha-54-tap-tren-internet/
https://www.youtube.com/watch?v=npeu6bIEf2c&index=1&list=PL6NMUKdYIlHDlmWZrHS2ujKP33FB3GSi0

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #42 vào: 25/07/2017, 10:49:23 »
Clara, người vợ cùng André Malraux vẫy vùng tại Đông Dương

Trong cuốn tiểu sử mang tựa đề “Clara Malraux” phác họa lại chân dung và cuộc đời vô cùng sôi động, phong phú của Clara Goldschmidt, người đàn bà đã góp phần tạo dựng nên huyền thoại Malraux. Clara đã cùng với tác giả Thân phận Con Người vẫy vùng ở Đông Dương; cùng André Malraux chu du vòng quanh trái đất. Cho đến hơi thở cuối cùng, Clara bao giờ cũng hướng về mối tình duy nhất: André Malraux.

Clara và André Malraux trong hành trình về phương Đông, 1930

NGƯỜI PHÁP có câu: “Bên cạnh một người đàn ông thành công, luôn có hình bóng của một người đàn bà”. Đối với văn hào André Malraux, người đàn bà đó chính là người vợ đầu tiên ông đã cưới vào năm 1921: Clara Goldschmidt.
            Trong cuốn tiểu sử mang tựa đề “Clara Malraux” nhà xuất bản Grasset phát hành vào năm ngoái, nhà văn nữ Dominique Bona phác họa lại chân dung và cuộc đời vô cùng sôi động, phong phú của Clara Goldschmidt, người đàn bà đã góp phần tạo dựng nên huyền thoại Malraux. Clara đã cùng với tác giả Thân phận Con Người vẫy vùng ở Đông Dương; cùng ông trải qua nhiều cuộc thăng trầm trong cuộc sống; cùng André Malraux chu du vòng quanh trái đất. Clara cũng là người đàn bà cùng chia sẻ với ông bộ trưởng Văn hóa tương lai của tướng De Gaulle một đoạn đường đời cho đến khi định mệnh đưa Clara và André sang hai ngả rẽ khác nhau. Gần 40 năm chia cách – tính đến năm 1976 khi Malraux qua đời – và cho đến hơi thở cuối cùng, Clara bao giờ cũng hướng về mối tình duy nhất của bà: André Malraux.


CLARA GOLDSCHMIDT (1897-1982) sinh trưởng trong một gia đình giàu có. Cha mẹ bà là người Do Thái từ bỏ nước Đức thương yêu để nhận Pháp làm quê hương thứ hai. Sớm mồ côi cha, Clara đã phải tạo cho mình một chỗ đứng riêng biệt trong một gia đình trưởng giả theo khuôn mẫu “Sẩy cha, còn chú”. Bà muốn được tự do và đòi quyền tự định đoạt lấy đời mình, ngay cả khi đã về làm vợ một nhà văn nổi tiếng như André Malraux.
            Huyền thoại André Malraux, sự nghiệp văn chương và cuộc đời ông chắc chắn đã rẽ sang một ngả khác, nếu như không có Clara bên cạnh. Tháng 10 năm 1921 Clara và André làm lễ cưới tại Quận 7, Paris, chỉ vài tháng sau khi họ gặp nhau lần đầu. Thái độ chín chắn, đầy tự tin và suy nghĩ sâu sắc của một cậu thanh niên mới 20 tuổi đầu là vũ khí giúp André chinh phục con tim kiêu hãnh của một cô gái thông minh và có bản lĩnh như Clara.

            “(…) André Gide cũng phải ngạc nhiên trước những lập luận vững chắc và sắc bén của một nhà văn chưa đầy 20 tuổi, mới chập chững bước vào nghề (…) Bộ điệu và gương mặt còn non nớt của André Malraux không thích hợp với cậu thanh niên vô cùng chín chắn, hiểu rộng biết nhiều. André Malraux có sức thuyết phục rất lớn kể cả khi ông nói chuyện với những nhà văn, với các họa sĩ hay các ông chủ nhà in, giám đốc điều hành các tạp chí văn học (…) Malraux từng thảo luận về văn chương, mỹ thuật mà không hề nao núng trước những cây đại thụ của nền văn học Pháp như Gide hay Mauriac, cho dù vào thời điểm đó Gide và Mauriac đáng tuổi cha, chú của Malraux” (Trang 96).

            Về phần mình, không chỉ là cô con gái nhà giàu, Clara Goldschmidt còn là một người bạn đời lý tưởng đối với André Malraux. Bà vừa thông minh, sống động lại thích chia sẻ với André tình yêu nghệ thuật.
            Khi về làm về làm vợ André, Clara hào hứng tham dự các buổi họp mặt thân mật trong giới trí thức Paris. Trong những câu lạc bộ khép kín đó thường xuyên có sự hiện diện của những họa sĩ như Derain, Picasso hay Chagall, và rất nhiều những người bạn văn của họ. Clara và André không chỉ là những khán giả, mà họ được may mắn trực tiếp tham gia vào đời sống sôi động của giới văn nghệ sĩ Pháp thời đó.
            Cũng trong thời gian này, Clara đã sớm hiểu ra rằng, André Malraux không muốn bà lên tiếng trong bất kỳ một cuộc tranh luận nào giữa các nhà trí thức, như thể văn chương, hội họa hay nghệ thuật nói chung là những chủ đề độc quyền được dành riêng cho nam giới. Trong cuộc sống vợ chồng, khi chỉ có hai ông bà, André Malraux lắng nghe và đón nhận những phê phán của Clara một cách cởi mở. Ông hài lòng có một người bạn đời ý hợp tâm đầu. Ngược lại, trước mặt một người thứ ba, thì ông lại chỉ muốn bà im lặng để nhường lời lại cho ông.
            Ba năm đầu chung sống là những chuỗi ngày thanh thản bình an. Đôi vợ chồng trẻ Malraux cùng nhau dạo chơi trên nhiều ngả đường nghệ thuật. Đó cũng là thời gian Clara mở ra cho André những kho tàng văn học và thi ca Đức trong khi Malraux hoàn toàn xa la với ngôn ngữ của Goeth. Giai đoạn kế tiếp là những bước thăng trầm khó đoán trước: trong cuộc hành trình về phương Đông, Clara và André thiếu may mắn. Âm mưu ăn cắp tượng của ngôi đền cổ Angkor không thành. André Malraux bị sa lưới Tư pháp. Tiếp theo đó là thất bại với tờ báo Indochine – Đông Dương ở Saigon.


Hành trình về phương Đông
            Clara đã say mê với nghệ thuật của phương Đông từ bé khi tình cờ đọc được một bài phóng sự về khu quần thể Angkor với phần dẫn giải của Pierre Loti. Năm 1923 cùng với André Malraux, bà được tận mắt thưởng thức vũ điệu cung đình Khmer và cả một chân trời mới đang mở ra trước mắt hai nhà trí thức trẻ này. Khi khánh tận, André Malraux rủ vợ “làm liều”: ăn cắp một số tượng cổ tại khu Benteai Srey nơi có một ngôi đền mà viện Viễn Đông Bác Cổ chưa có thì giờ thám hiểm. Âm mưu bất thành. André Malraux bị bắt và bị tòa án Phnom Pênh kêu án ba năm tù. Clara thì được trả về Pháp.
            Trở lại Paris, Clara Malraux đã bán nốt chút tài sản còn lại. Chắt chiu từng đồng để chu cấp cho chồng còn lưu lạc tận Đông Dương. Tay trắng bà về sống với bà ngoại và với mẹ của André Malraux. Clara dốc toàn lực vào việc vận động để đem Malraux trở lại về Pháp. Đó là lẽ sống của bà. Bản kiến nghị do chính tay bà soạn thảo đã thu thập được tất cả chữ ký của các danh nhân thời đó – trừ Anatole France đang hấp hối trên giường bệnh và Paul Claudel đang vắng nhà.
            Ngày 28/10/1924 Tòa án Saigon ra phán quyết giảm án cho Malraux. Ông chỉ bị một năm tù treo và không bị cấm cửa tại Đông Dương như quyết định của Tòa án Phnom Pênh trước đây. Malraux lập tức lên con tàu Chantilly trở về Pháp.
            Năm tuần lễ sau khi quay lại Paris, André Malraux đưa Clara trở lại Viễn Đông với kế hoạch cho ra đời “Một tờ báo tự do. Một tờ báo đối diện với mọi hình thức kiểm duyệt và đương đầu với mọi định kiến. Một tờ báo để nói lên những hành vi lạm dụng quyền lực của một chính quyền thực dân, vạch trần những vụ tham nhũng gây thiệt hại cho những con người bị đô hộ” (trang 157). Tòa soạn đặt tại số 12 đường Tabert. Với sự cộng tác của luật sư Monin, ngày 17/6/1925 số báo Đông Dương đầu tiên ra đời. Clara rạng rỡ tự tay đi phát báo trên con đường Catinat.
            Một cánh cửa mới vừa mở ra cho cặp vợ chồng Malraux. Clara và André có cùng một lẽ sống: trách nhiệm phải đánh động dư luận trước những bất công đang diễn ra tại một vùng đất thuộc địa xa xôi của Pháp. Mỗi bài xã luận của André Malraux là một nhát gươm chém thẳng vào kẻ thù. Trong mắt của Clara, con mọt sách Malraux hiền lành, trong vai trò nhà báo trên đất Saigon đã trở thành một nhà đấu tranh, một người cầm bút can đảm… Tình yêu, sự kính phục của Clara đối với ông gần như vô bờ bến. Clara hạnh phúc bên cạnh một người chồng cùng chung chí hướng.
            Tờ Đông Dương chết yểu với chưa đầy 50 số báo. Vợ chồng Malraux trở về Pháp gần như với hai bàn tay trắng. Về mặt tài chính, cuộc phiêu lưu Viễn Đông lần thứ nhì là một thất bại. Nhưng họ không ra về tay không: trên con tàu đưa hai ông bà về lại cảng Marseilles, André Malraux bắt đầu sáng tác. Hành trình về phương Đông đã đem lại cho ông những chất liệu quý giá để André Malraux lần lượt cho ra đời bốn cuốn tiểu thuyết nổi tiếng: La “Tentation de l’Occident” (1926, NXB Grasset), “Les Conquérants” (1928, NXB Grasset), “La Voie Royale” (Hoàng Đạo) (1930) và “La Condition Humaine” (Thân Phận Con Người) (1933).
            Với tác phẩm này, năm 1933 André Malraux đoạt giải Goncourt, phần thưởng cao quý nhất của nền văn học Pháp.

Rạn vỡ
            André Malraux càng lên đến đỉnh cao danh vọng, Clara càng thấy xa cách ông.
            Trong cuộc hành trình về phương Đông lần thứ nhất, khi André Malraux bị Tư pháp giữ lại Phnom Pênh, Clara đã làm tất cả để Malraux được tự do. Ngày ông trở về, tại thành phố Marseille: “Trên cảng, Clara đợi chồng dưới mưa. Nàng đợi người yêu dấu nhất trong đời và có lẽ bà cũng chờ đợi một lời cảm ơn của André, để nhìn nhận công lao bà đã cứu Malraux thoát khỏi cảnh tù đày. Nước mắt nhòa với những giọt mưa trên má. Sau này bà tự thuật về cuộc hội ngộ đó như sau: “Tôi mỉm cười khi trông thấy Malraux. Có lẽ ông đã nhìn thấy tôi trước. Từ trên cao, ông tặng cho tôi một nụ cười. Tôi đón nhận nụ cười ấy như một cử chỉ đầy âu yếm, như một vòng tay mở rộng đang ôm tôi vào lòng (…) Trong một thoáng chạnh lòng, tôi chợt nghĩ đến tất cả những gì đã hy sinh: tôi nghĩ đến cha mẹ thương yêu, đến sự an toàn của chính bản thân, đến gia đình êm ấm tôi đã để lại trong quá khứ. Và tôi cảm thấy mình hạnh phúc đến gần như ngạt thở, như ngất đi và tôi đã nhắm mắt lại” (trang 149/151).

            Nhưng Clara đã hoàn toàn thất vọng:

            “Vừa đặt chân đến cảng Marseille và chưa kịp ôm hôn Clara, André Malraux đã nghiêm khắc trách nàng hai điều: thứ nhất, bà đã xích lại gần với nhà văn André Breton. Dưới nhãn quan của Malraux, trường phái siêu thực là “kẻ thù”. Điểm thứ nhì André khiển trách vợ là trong thời gian ông vắng nhà, Clara đã về ở hẳn với mẹ và bà ngoại ông trong một căn hộ nghèo nàn. Có lẽ do André Malraux xấu hổ khi cô con gái nhà giàu này phải chia sẻ đời sống đạm bạc của mẹ và bà ngoại ông”.

            Trong chớp mắt, André Malraux phủ nhận tất cả những hy sinh của người vợ trẻ, coi nhẹ tình yêu tuyệt đối nàng dành cho ông.
            Về lại Pháp sau thất bại ở Saigon với tờ báo Đông Dương, trong căn hộ nhỏ ở Paris, Clara tiếp tục công việc dịch thuật và André say mê sáng tác: “Les Conquérants”, “La voie Royale” và “La Condition Humaine” liên tục nối đuôi nhau ra đời.
            Độc giả đầu tiên và cũng là nhà phê bình khắt khe nhất đối với André Malraux bao giờ cũng là Clara. Bà đang tận mắt trông thấy một nhà văn lớn của Pháp ra đời. Clara công nhận và khâm phục tài năng của một gương mặt mới trong văn đàn Pháp nhưng đồng thời bà bắt đầu cảm thấy xa lạ với tư tưởng của chồng. Trong mắt bà văn phong của Malraux quá xa rời thực tế.
            Đỉnh cao danh vọng đối với một người cầm bút là giải thưởng văn học Goncourt: năm 1933 ban giám khảo vinh danh André Malraux qua tác phẩm “Thân Phận Con Người” (La Condition Humaine). Ngày ông đăng quang, Clara dạo bước trên một bãi sa mạc ở tận Trung Đông. Sau này bà giải thích: Malraux càng nổi tiếng bao nhiêu thì Clara càng cảm thấy xa lạ với người đang chia sẻ cuộc sống của bà bấy nhiêu.
            Có thể nói từ cuối những năm 1920 cho đến cuộc Đại chiến Thứ Hai, cuộc sống của đôi vợ chồng Malraux không phải lúc nào cũng êm thắm. Ý thức được điều đó, hai ông bà đã nhiều lần tạo cho mình những cơ hội để hàn gắn.
            Trên văn đàn Pháp nói riêng và quốc tế nói chung, André được biết đến như một nhà văn lớn. Ông được mời đi tham dự nhiều hội nghị văn học quốc tế, trong số này phải kể đến Hội nghị tại Matxcơva năm 1934. Trước công chúng, Clara chỉ là chiếc bóng bên cạnh Malraux, hay may mắn lắm thì bà mới được biết đến như một nhà dịch thuật, thông dịch viên riêng của André Malraux. Đó là điều Clara không thể chấp nhận. André Malraux đã nhiều lần nghiêm khắc lưu ý vợ: trong gia đình chỉ có một người cầm bút.
            Thế nhưng, ngay từ những ngày mới về làm bạn với Malraux, Clara đã dứt khoát không chấp nhận chỉ là chiếc bóng bên cạnh chồng. Bà không chấp nhận thân tầm gửi trong tất cả mọi lĩnh vực, từ trong cuộc sống vợ chồng đến ngoài xã hội và nhất là trên văn đàn Pháp. Bà đã phải trả giá đắt để được tự do và độc lập.


Không còn hình bóng Clara bên cạnh André Malraux

Hai đường thẳng song song
            Năm 1939, vợ chồng Malraux chia tay. Clara hoàn toàn tuyệt vọng. Năm 1947, André Malraux chính thức đòi ly dị. Clara dứt khoát từ chối: dưới thời Đức Quốc Xã, cái họ Goldschmidt (họ thật của bà trước khi lấy Malraux) và gốc Do Thái của bà đủ để đẩy Clara và Florence, cô con gái duy nhất bà có với André Malraux, vào cõi chết.
            Không còn chung bước với Malraux trên đường đời, Clara đã khóc rất nhiều và đã từng tuyệt vọng. Nhưng con tim kiêu hãnh của bà đã tặng cho Clara một cuộc đời thứ trong giai đoạn “hậu Malraux”. Bà được giải phóng để tự do lao vào công việc sáng tác. Clara Malraux liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm và tiếp tục dịch sách. Bà viết văn dưới nhiều thể loại, từ tiểu thuyết đến hồi ký. Sau chiến tranh, bà cộng tác với nhiều tạp chí văn học và tự tạo cho mình một chỗ đứng mới trong hàng ngũ giới văn nghệ sĩ sau Thế chiến thứ Hai. Clara say mê viết và sáng tác. Sáng tác trong niềm đau và nỗi nhớ André.
            Về phần mình, André Malraux bỏ dần thể loại tiểu thuyết để hướng về những bài tiểu luận. Đối với Malraux, nghệ thuật là chìa khóa của cuộc đời. Clara chia sẻ với ông tình yêu nghệ thuật, nhưng trong mắt bà, nghệ thuật trước hết, là một ngôn ngữ, một phương tiện để cho con người xích lại gần nhau. Đấy chính là lẽ sống suốt cuộc đời của Clara Malraux.
            Từ khi chia tay Malraux cho đến ngày nhắm mắt, năm 1982, Clara luôn theo dõi sự nghiệp văn chương và các hoạt động của ông trên chính trường. Bà thường cảm thấy chua xót khi nhận thấy rằng, trong cương vị của ông bộ trưởng Văn hóa, André Malraux đã quay lưng lại với những lý tưởng ban đầu: không còn đứng về phía những người bị áp bức, những kẻ yếu đuối để cưỡng lại những bất công trong xã hội. Trong mắt Clara, thay đổi ấy là một sự phản bội.
            Khi chính thức ly dị với Malraux năm 1947, Clara cảm thấy nhẹ nhõm như một tù nhân vừa được trả tự do. Nhưng cho đến chết, gần như không ngày nào bà không nghĩ đến người đàn ông duy nhất bà đã lấy làm chồng: trong số 6 tập hồi ký, có đến bốn tập dành riêng để nói về đoạn đường hơn 15 năm trời bà chia sẻ ngọt bùi với André Malraux. Hình ảnh ông luôn ẩn hiện trong các tác phẩm sáng tác của bà. Trong câu chuyện hàng ngày Clara luôn tập trung để nói về Malraux, dù để khen hay chê.
            Ngược lại, André Malraux hoàn toàn không nhắc đến Clara, từ khi ông đã chọn cho mình một con đường khác. L’Espoir – Hy Vọng (1937) là tác phẩm đầu tiên ông sáng tác xa bà. Từng bước Malraux đã loại hẳn bà ra ngoài cuộc sống. Sau chiến tranh, André Malraux nối lại tình cha con với Florence, cô con gái duy nhất ông đã có với Clara. Nhưng không bao giờ ông nhắc đến bà trước mặt con gái. Malraux đã tiếp tục đi vòng quanh trái đất. Ông đã được gặp bao nhiêu vĩ nhân thời đó, từ Mao Trạch Đông, thủ tướng Ấn Độ Nehru, đến cặp vợ chồng tổng thống Kennedy… Cuộc sống riêng tư của André Malraux không phải là những chuỗi ngày êm ả: Josette Clotis, người vợ chưa bao giờ cưới chết thảm trong một sớm một chiều, hai cậu con trai của Josette với Malraux bất đắc kỳ tử trong một tai nạn xe hơi.
            Clara từng hy vọng thời gian là liều thuốc xoa dịu vết thương trong lòng Malraux. Nhưng nổi tiếng là người thù dai, cho đến hơi thở cuối cùng, ông vẫn không một lần đáp lại những lá thư của bà. Niềm an ủi duy nhất Clara nhận được là khi André Malraux qua đời, trong chúc thư ông có nhắc đến tên bà: ông để lại cho Clara một nửa tác quyền của tất cả những tác phẩm đã viết trong thời gian chung sống với bà. Món quà muộn màng này của Malraux là phần thưởng tinh thần vô giá đối với Clara: André Malraux không hoàn toàn phủ nhận vai trò của người vợ đầu tiên đối với sự nghiệp đồ sộ của mình.
            Cuộc đời Clara Malraux trải dài trên ba phần tư thế kỷ: bà trải qua hai cuộc Đại chiến, trông thấy Liên bang Xô Viết chào đời, rồi cuộc chiến Đông Dương, sự vùng lên của các nước bị đô hộ, cuộc cách mạng năm 1968, chiến tranh Israel… Suốt đời người, bà luôn hướng đến một thế giới đại đồng, và vẫn luôn chung thủy với một tình yêu duy nhất: nghệ thuật và André Malraux.


THANH HÀ
Tháng 3/2011


http://vi.rfi.fr/phap/20110311-clara-nguoi-vo-cung-andre-malraux-vay-vung-tai-dong-duong

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #43 vào: 27/07/2017, 11:53:09 »
Nhóm “Sáng Tạo” của thập niên 1950

Một nhóm văn nghệ sĩ của thập niên 1950 đã làm nên kỳ tích là thành lập tờ báo Sáng Tạo để rồi sau đó lấy làm tên riêng cho nhóm mình, bắt đầu một chặng đường tuy không dài trong lịch sử văn học nhưng đủ để lại nhiều dấu ấn đáng kể cho dòng văn học còn khá phôi thai của nước nhà.

Luật sư Trần Thanh Hiệp

CUỘC DI CƯ của đồng bào Miền Bắc vào năm 1954 đã để lại nhiều dấu ấn cho dân tộc và sự chuyển đổi này đã hình thành những biến cố có tính chất lịch sử, trong đó phải kể đến sự thành lập nhóm Sáng Tạo. Nhóm gồm những sinh viên từ Miền Bắc di cư vào Nam vào thời gian đầu của năm 1954. Họ họp nhau lại trong một tờ báo, và từ tờ báo này những khai phóng và vận động đổi mới văn học đã ra đời, tạo thành một phong trào kêu gọi sáng tác trong tâm thức mới cho rất nhiều văn nghệ sĩ, không những cho thời bấy giờ mà còn kéo dài nhiều năm sau đó.

Những ngày đầu gặp gỡ
            Luật sư Trần Thanh Hiệp, thành viên chủ chốt của nhóm kể lại những ngày đầu tiên khi nhóm sinh viên từ Bắc vào Nam gặp nhau như thế nào:

LS Trần Thanh Hiệp: Đây là câu chuyện đã xảy ra cho đến nay là hơn 50 năm. Trước tiên, nhóm Sáng Tạo ra đời đúng vào đợt di cư lớn từ Miền Bắc vào Miền Nam năm 1954. Khi đất nước bị chia đôi, một triệu người đã từ Miền Bắc vô Miền Nam mà trong đó có đủ tất cả các thành phần và nhất là thành phần trẻ. Chúng tôi, lúc bắt đầu, không dự định ra tờ báo Sáng Tạo vì phương tiện ít ỏi. Chúng tôi lúc đó mấy anh em cũng tình cờ gặp nhau thôi, đó là anh Nguyễn Sỹ Tế, anh Doãn Quốc Sỹ, anh Thanh Tâm Tuyền và tôi gặp nhau thì chúng tôi bắt đầu bằng việc cộng tác với một tờ nhật báo và tờ nhật báo đó dành cho chúng tôi một trang gọi là “Trang Văn Nghệ” mỗi tuần ra một lần.

            Và sự xuất hiện của nhà văn Mai Thảo đã nảy sinh ý tưởng thành lập nhóm qua lời kể lại của Luật sư Trần Thanh Hiệp:

LS Trần Thanh Hiệp: Trong cái khuôn khổ của sự hợp đồng đó chúng tôi gặp thêm một người mới, đặc biệt, gửi đến cho chúng tôi một tác phẩm đầu tay của ông, đó chính là nhà văn Mai Thảo (và ông đã) gửi tới tập truyện ngắn đầu tiên có tựa đề là “Đêm giã từ Hà Nội”. Khi đọc qua, chúng tôi thấy đó là một nguồn rung cảm mới với một văn phong mới, thì chúng tôi bàn với nhau là mời ảnh đến để xem có thể làm chung với nhau việc gì. Và chính trong cuộc gặp gỡ đó giữa mấy anh em chúng tôi đã nẩy ra ý kiến là ra một tờ nguyệt san lấy tên là Sáng Tạo.


Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

            Nhà văn cũng là nhà giáo Doãn Quốc Sỹ nhớ lại những hoạt động lúc ấy của cả nhóm:

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Vào Nam, tôi ở trong đoàn gọi là “Sinh viên Hà Nội di cư” mà anh Trần Thanh Hiệp làm chủ tịch. Tôi có đứng ra làm chủ nhiệm một tờ báo lấy tên là “Người Việt”, tôi đứng làm chủ nhiệm, rồi trong đó có Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, v.v… Báo “Người Việt” cũng chỉ ra được mấy số thì đình bản. Thế rồi sau đó chúng tôi gặp thêm được Mai Thảo, xúm lại để ra tờ báo mà có thể gọi đó là nguyệt san Sáng Tạo. Tờ Sáng Tạo của chúng tôi ra cứ một tháng một kỳ, ra được cho đến số – nếu tôi nhớ không lầm là khoảng số 31 thì đình bản. Sau đó cũng lại cố gắng ra được thêm vài số nữa rồi hoàn toàn đình bản hẳn.
            Trong nhóm Sáng Tạo bắt đầu thì có anh Thanh Tâm Tuyền là trẻ và anh cũng là người mà tôi thấy là đem lại đường hướng mới trong lãnh vực thi ca, mới về tư tưởng hay là cách diễn đạt. Cách chấm câu của Mai Thảo cũng đem lại đường nét mới cho văn chương của cái thuở ban đầu lúc chúng tôi di cư vào Miền Nam.


Tự Lực Văn Đoàn
            Ngoài những sáng tác để lại cho đời sau của các tác giả như Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng hay Cung Tiến, nhóm Sáng Tạo thường tổ chức những cuộc hội thảo nhằm tìm hướng đi cho nhóm của mình. Một trong những cuộc hội thảo đáng chú ý nhất sau này được đặt tên là “Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo”. Và một trong bốn đề tài mà nhóm Sáng Tạo mang ra mổ xẻ là Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh lãnh đạo.
            Như chúng ta đều biết, văn học Việt Nam thật sự chuyển mình để trở thành một dòng văn học có bản sắc riêng từ khi Tự Lực Văn Đoàn thành hình, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội về cách sống, cách nghĩ và quan trọng hơn cả là sự nhận thức giữa cá nhân đối với cộng đồng. Tự Lực Văn Đoàn gây thành một phong trào rộng lớn và ảnh hưởng sâu sắc tới giới thanh niên trí thức tiểu tư sản, khiến thanh niên sinh viên mạnh mẽ cởi bỏ những gì mà họ bị trói buộc từ trước đến giờ để xung phong vào công tác xã hội, hay tham gia các phong trào có tính bài phong đả thực, tùy theo hoàn cảnh và tâm trạng của từng người. Về mặt văn học, Tự Lực Văn Đoàn đã vạch hẳn một lối đi mới qua các tác phẩm mang tính điển hình mà khuôn mẫu và nội dung của nó vẫn được xem là mẫu mực qua nhiều thời đại.
            Tuy nhiên đối với nhóm Sáng Tạo thì những thành tựu của Tự Lực Văn Đoàn cần phải xét lại. Những thành viên trong nhóm Sáng Tạo cho rằng Tự Lực Văn Đoàn vẫn còn hạn chế trong việc khai phóng một nền văn chương thật sự cho đất nước. Sáng Tạo đã đưa ra nhiều nhận xét mà người đọc khó thể khó chấp nhận, nhưng nhìn trên khung cảnh lịch sử văn học thì những sự chống đối của Sáng Tạo không nằm ngoài phạm vi mong muốn một sự khai phá và đổi mới triệt để. Có thể ngôn ngữ của các thành viên Sáng Tạo hơi quá khích hay chủ quan, nhưng cốt lõi vấn đề được họ đào bới rất khách quan và cần thiết cho bất cứ một nền văn học nào. Khao khát khai phá cái mới, cái cần thiết cho một nền văn học là mục tiêu cũng là lý tưởng của các thành viên trong nhóm.

Văn nghệ tiền chiến
            Trong khi thảo luận đề tài “Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam”, Nguyễn Sỹ Tế, một thành viên trong nhóm Sáng Tạo, cho rằng Nghệ thuật tiền chiến là một nghệ thuật của những rung cảm hời hợt, giả tạo. Một phần bởi hoàn cảnh lịch sử an bình không có những thắc mắc sâu xa (ngoại trừ một số ít người long đong làm việc nước), và lịch sử dân tộc hầu như chưa có được những nối kết chặt chẽ với lịch sử nhân loại. Một phần do sự bỡ ngỡ của con người bấy giờ trước sự tiếp nhận cả một lịch sử tiến hóa lâu dài của văn học nghệ thuật Tây phương, nên bối rối trong sự phán xét và lựa chọn các giá trị.


Thanh Tâm Tuyền

            Thanh Tâm Tuyền mạnh mẽ hơn khi nói rằng nông cạn của nghệ thuật tiền chiến, lỗi chính vẫn là ở những người sáng tác, không phải ở hoàn cảnh. Sự va chạm mạnh mẽ giữa văn hóa Đông-Tây đầu thế kỷ, các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm, mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp, không bảo thủ luyến tiếc quá khứ thì họ lại đuổi theo một thứ tình cảm cá nhân để giải quyết cho riêng mình.

Hội họa Việt Nam
            Ở đề tài “Ngôn ngữ mới trong hội họa”, Thanh Tâm Tuyền một lần nữa, rất xuất sắc nhận xét rằng hội họa Việt Nam không có quá khứ, và đây là điều đáng mừng. Ông cho rằng quá khứ không nặng nề nên hội họa Việt Nam tiếp xúc rất dễ dàng với Tây phương. Ông nói “Hội họa Việt Nam” chỉ là một quy định có tính chất địa danh mà thôi.
            Trong hoàn cảnh phôi thai của nền hội họa thời bấy giờ mà nhóm Sáng Tạo đã ý thức được hội họa và văn chương có quan hệ mật thiết như thế nào, đã khởi đầu cho một cuộc vận động toàn diện nhằm hòa nhập thật sự vào dòng chảy văn học thế giới. Sự nhấn mạnh đến những phong trào, những khuynh hướng sáng tác đã tác động đến vấn đề sáng tác và nhận thức mỹ học ra sao đã khiến nhóm Sáng Tạo được nhiều văn nghệ sĩ lẫn trí thức tin tưởng hơn vào chủ trương lẫn lý thuyết của nhóm.


Tô Thùy Yên

Nghệ thuật thi ca
            Về thơ, có lẽ là vấn đề mà nhóm Sáng Tạo quan tâm đến nhiều nhất. Trong bài nói chuyện mang tiêu đề: “Nói chuyện về thơ bây giờ” Tô Thùy Yên phát biểu:

            “Tôi không có tham vọng định nghĩa thơ, nhưng hiểu thơ bây giờ như thế này và gọi là những đức tính của thơ: thứ nhất, Thơ ném sự xáo trộn vào một trật tự, phá hủy những cấp bậc của lý trí (thế nào tốt-xấu, không tốt và không xấu); Thơ là phản nghĩa của sự bình thản, dửng dưng, lạnh nhạt, quân bình và tự nhiên, nó là một cách khiến người ta từ chối những gì đã chấp nhận trước để tạo một thăng bằng chông chênh; thứ hai, tạo một niềm tin không có đối tượng đích xác, không có tín điều, không có úy lạo, không liên tục và cũng không thường xuyên; thứ ba, nghệ thuật (nhất là tiểu thuyết và sân khấu) có một nhiệm vụ là biến cái không thật thành thật; Thơ cũng thế, nhưng còn thêm một nhiệm vụ nữa, trái ngược lại biến cái thật thành cái không thật; Tóm lại, thơ đưa người đọc vào một tình trạng báo động và tất cả những đức tính kể trên của thơ bây giờ đều vô bổ không đâu ngoài sự nghi ngờ nó mang đến cho người đọc những giá trị đã được xếp loại và công nhận”.

            Trong khi đó, Thanh Tâm Tuyền phủ nhận cách nhìn nhận Thơ của Tô Thùy Yên khi ông nói:

            ”Tô Thùy Yên nêu lên quy định chủ quan, riêng cho thơ Yên. Định nghĩa thì trí thức quá. Thơ bây giờ vẫn giữ cái phần tinh túy của thi ca từ xưa đến giờ. Như Hégel đã nói thơ chính là phần nghệ thuật trẻ nhất của nhân loại. Thời đại khi báo một tương lai mới là lúc thơ phát triển mạnh nhất. Thơ là một tiếng nói hòa đồng. Thơ dẫn vào một thế giới hòa đồng. Ở thơ không thể có không khí của một thế giới bất trắc. Thơ bây giờ cũng vậy. Không muốn rơi vào ngõ bí cần phải tìm thấy một niềm tin tưởng dù có thể hết sức ngây thơ. Tô Thùy Yên đã nhìn thấy niềm tin không đối tượng là đã tìm thấy niềm tin đó. Một xã hội báo hiệu điềm chết nếu không có thi ca. Và chính Thi ca báo hiệu sự sống tương lai”.

            Nguyễn Sỹ Tế lại dẫn đề tài về một hướng khác khi ông cho rằng cả Tô Thùy Yên và Thanh Tâm Tuyền đều chủ quan và rất hiền lành:

            “Cả hai ý kiến của Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên đều chủ quan và hiền lành. Các anh đã gán cho thi ca những cứu cánh quá cao xa và hướng vào một thứ thẩm mỹ còn “cổ điển”. Tôi thấy thi ca chỉ là một hiện tượng cá nhân, trong đó những yếu tố trí tuệ, tâm lý, sinh lý của nhà thơ và người đọc thơ bị khuấy động. Tôi nghiêng về một thứ thẩm mỹ của sự chênh vênh, của sự mất cân đối, một thứ thẩm mỹ của sự va chạm”.

            Sự ra đời của nhóm Sáng Tạo trong giai đoạn chuyển tiếp của hai khuynh hướng chính trị đã tạo ra nhiều hào quang cũng như hệ lụy cho các thành viên trong nhóm. Hầu hết các thành viên đều bị lao động cải tạo sau khi Miền Nam bị mất. Một vài người may mắn thoát ra nước ngoài như Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo thì không thể tiếp tục làm được gì nhiều ngay cả việc sáng tác cũng gặp khó khăn.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Nhóm Sáng Tạo là cái nhóm nổi tiếng nhất, xuất phát từ con người di cư nhưng đó là con đường văn học nghệ thuật của Miền Nam tự do. Hoạt động nhằm mở ra một con đường mới về ngôn ngữ, hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do, đó là nhóm Sáng Tạo.

            Điều mà Sáng Tạo để lại cho đời sau đúng như nhạc sĩ Cung Tiến, một thành viên trong nhóm đã nhận xét, đó là điều mà họ cố đạt tới là lý tưởng tự do, tự do trong sáng tạo.


MẶC LÂM
Tháng 3/2009


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Sang-tao-group-a-beginning-of-innovation-movement-mlam-03012009101014.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #44 vào: 01/08/2017, 13:34:29 »
Sách khiêu dâm Fifty Shades soán ngôi Harry Potter

Thuật ngữ chuyên ngành xuất bản dùng chữ best seller để chỉ các quyển sách bán chạy nhất. Giờ đây, người ta lại sáng chế thêm một từ mới “sex seller” để nhắc đến trường hợp của bộ tiểu thuyết khiêu dâm Fifty Shades of Grey của nữ tác giả E.L James.

Fifty Shades of Grey sẽ ra mắt độc giả Pháp mùa thu 2012

BỘ TIỂU THUYẾT Fifty Shades of Grey gồm ba tập dày 1.500 trang, quyển đầu tiên được phát hành vào mùa hè năm 2011. Tính đến nay, lượng sách bán ra đã lên tới hơn 40 triệu cuốn chỉ riêng trên thị trường Anh quốc. Theo trang mạng amazon, sau khi qua mặt Da Vinci Code, bộ tiểu thuyết dành cho người lớn này còn phá vỡ kỷ lục phát hành trực tuyến, do bộ sách phù thủy tí hon Harry Potter nắm giữ.
            Số liệu này chỉ liên quan đến nguyên tác tiếng Anh. Ngành xuất bản chờ đợi thêm nhiều kỷ lục mới vì phiên bản chuyển dịch của Fifty Shades of Grey sẽ được tung ra tại 60 quốc gia vào mùa thu sắp tới. Độc giả ở Pháp nếu thật tình muốn đọc quyển này, phải đợi đến 17/10, ngày phát hành bản dịch tiếng Pháp (của nhà xuất bản J.C Lattès).
            Thoạt nghe bút danh E.L James, người ta nghĩ rằng tác giả là đàn ông, chứ không ngờ người kể chuyện “động trời” lại là phái nữ. Điều đáng ghi nhận là trước khi trình làng tiểu thuyết đầu tay dưới dạng sách điện tử, bà E.L James, tên thật là Erika Leonard, ít có kinh nghiệm cầm bút, và không hề có một chút tiếng tăm trên văn đàn. Xuất thân từ ngành sản xuất chương trình truyền hình, tác giả người Anh bắt đầu viết bộ sách Fifty Shades of Grey, như là một câu chuyện tình cảm lãng mạn theo kiểu Twilight, nhưng lại dành cho người lớn.
            Truyện Twilight (của nữ tác giả Stephenie Meyer), nói về mối tình liêu trai giữa người trần gian (Bella Swan) và quỷ hút máu (Edward Cullen). Bộ sách Fifty Shades nếu có thương nhau nhiều, cắn nhau đau, thì hoàn toàn là trong nghĩa đen chứ ít có nghĩa bóng, bởi vì quan hệ bạo dâm luôn thống trị tình cảm của hai nhân vật chính.
            Về nội dung, Fifty Shades of Grey kể lại mối tình giữa Anastasia Steele, một cô sinh viên đại học sắp ra trường và một nhà triệu phú tên là Christian Grey. Ngay từ những giây phút gặp gỡ đầu tiên, cô gái trong trắng, cảm thấy bị cuốn hút bởi ma lực bí ẩn của người đàn ông đào hoa. Hai người trở thành tình nhân, và cũng từ đó mà cô gái ngây thơ khám phá một thế giới đầy rẫy dục vọng, một địa ngục tràn ngập lửa tình, nơi mà tột cùng khoái cảm gắn liền với tra tấn hành hạ, đớn đau thể xác. Dưới bàn tay của nhà triệu phú Christian Grey, Ana trở thành một kẻ nô lệ tình yêu, hết mình phục tùng, tự nguyện dâng hiến, chứ không có chuyện cưỡng bức hay ép buộc tình duyên.
            Tủ sách thiếu nhi có bộ truyện Harry Potter. Giới thanh thiếu nữ thì mê đọc Twilight. Phụ nữ ở lứa tuổi trung tuần giờ đây có Fifty Shades of Grey. Đó là nhận định của ông Gordon Willoughby, giám đốc điều hành công ty Kindle, chuyên sản xuất loại máy tính bảng, dùng để đọc sách điện tử. Theo ông, các nhà văn nữ J.K Rowling và Stephenie Meyer đã tạo ra cơn sốt nơi độc giả trong những năm đầu thế kỷ XXI, thì một cách tương tự bà E.L James là hiện tượng “văn học” của thập niên này. Nhưng vì sao phụ nữ Anh Mỹ lại tìm đọc và đổ xô đi mua quyển Fifty Shades of Grey. Từ đâu lại nảy sinh cái mốt thổ lộ đời tư, phơi bày những chuyện “thầm kín”. Bà Michelle Bassam, chuyên gia người Anh về tình dục học nhận xét:

            Theo tôi nghĩ, bộ sách này thu hút sự quan tâm của nhiều độc giả bởi vì ở các nước Âu Mỹ, phụ nữ giờ đây không còn ngại trực diện với dục vọng. Trong quan hệ đôi lứa, nhiều cặp vợ chồng giờ đây dùng phim ảnh, sách báo hay mạng internet để tránh cho chăn gối nguội lạnh. Phụ nữ cũng vậy, họ dùng rất nhiều cách để nuôi dưỡng trí tưởng tượng. Sau thời kỳ giải phóng tình dục ở các nước Âu Mỹ những năm 1970, xã hội Tây phương giờ đây ít còn đặt vấn đề với điều được gọi là tiểu thuyết khiêu dâm hay phim sex.
            Điều đó nằm trong một bối cảnh chung của xã hội. Nhiều tạp chí, sách báo dành cho đối tượng phụ nữ, không còn ngần ngại minh họa hướng dẫn độc giả, đề cập trực tiếp đến các vấn đề sinh lý, giới tính hay tình dục. Do vậy mà những thập niên gần đây, bắt đầu có hiện tượng nhiều cây bút nữ viết sách vừa để phản ánh tình cảm nội tâm, nhưng đồng thời để nói về dục vọng bản thân, mà không sợ người ngoài xem là họ bị ám ảnh, hay có hành vi lệch lạc
.

            Về phần mình, theo bác sĩ người Pháp Sylvain Mimoun, chuyên nghiên cứu về sinh lý và giới tính, thì sự thành công của bộ tiểu thuyết Fifty Shades of Grey, phản ánh một mặt sự thay đổi trong quan niệm về vai trò của người đàn bà trong gia đình và xã hội. Mặt khác, các phương tiện truyền thông đã giúp cho người đàn bà ít còn bị mặc cảm tự ti, khi đề cập tới tình dục.

            Loại tiểu thuyết này chủ yếu nhắm vào đối tượng phụ nữ đã có gia đình. Họ có thể là nội trợ hay đi làm, nhưng nhìn chung thì một khi họ đã lo cho chồng, con cái bắt đầu khôn lớn, thì họ có thời gian để chăm sóc bản thân mình. Loại sách này đánh vào tâm lý của những phụ nữ không thích một cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt, nó khơi gợi tính hiếu kỳ và trí tưởng tượng của người đàn bà. Nhưng không phải là sách nói sao thì làm y như vậy. Tác dụng của câu chuyện là nó mở ra những chân trời, mà phụ nữ khi quanh quẩn với cuộc sống gia đình ít khi nào nghĩ tới.
            Trong chuyện chăn gối, người phụ nữ cần sự âu yếm vuốt ve. Và để so sánh thì tiểu thuyết khiêu dâm có tác dụng “vuốt ve” trí tưởng tượng, để rồi từ đó kích thích sự ham muốn xác thịt. Có thể là do luân lý đạo đức, người đàn bà thường bị chi phối giữa một bên là hình ảnh của người mẹ, thường là “thánh hiền” phải đạo, và một bên là hình ảnh của tình nhân, lãng mạn khao khát. Theo quan niệm truyền thống cố hữu, thì hai vai trò này thường đối chọi nhau. Nhưng theo tôi nghĩ, phụ nữ có thể dung hòa cả hai: họ có thể chăm sóc con cái chu đáo, nhưng đối với chồng hay người bạn đời, họ vẫn có thể là một tình nhân hấp dẫn
.


Ấn bản Việt ngữ

            Theo thăm dò, bộ tiểu thuyết Fifty Shades of Grey được nhiều phụ nữ ở độ tuổi 35-40 hưởng ứng. Có ý kiến khen lẫn chê, nhưng hầu hết các nhà phê bình cho rằng bộ sách này có vẻ rất táo bạo nhưng thật ra chẳng có gì mới lạ. Tờ báo Chicago Tribune đánh giá là Fifty Shades là một cú đột phá của ngành xuất bản chứ không phải là một hiện tượng văn chương. Tờ báo San Francisco Chronicle thì nhận xét rằng: Fifty Shades giống như một kịch bản phim nhiều tập, nhiều hơn là một tiểu thuyết theo đúng nghĩa của nó. Nếu như Fifty Shades làm nổi bật yếu tố bạo dâm, thì thật ra cốt truyện được xây dựng theo mô hình của loại tiểu thuyết tình cảm Barbara Cartland, hay tủ sách hồng Harlequin.
            Phụ trang văn học của báo Le Figaro chia sẻ quan điểm này và cho rằng ảnh hưởng rõ rệt nhất của Fifty Shades không phải là các bộ “dâm thư” nổi tiếng, mà lại là các bộ phim truyện ăn khách của làng điện ảnh truyền hình như Bridget Jones hay là Sex and the City. Phải chăng đó là vì tác giả E.L James trước kia đã từng làm việc cho ngành truyền hình?
            Tờ báo Libération thì cho rằng ngay cả yếu tố bạo dâm cũng không có gì là mới, vì từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX, nhà quý tộc người Pháp Marquis de Sade đã viết khá nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn về chủ đề khổ dâm và bạo dâm, nhưng đằng sau câu chuyện, ông lại cài thêm nội dung đả kích luân lý tôn giáo, đạo đức xã hội. Tên của ông sau đó được đặt cho chứng bạo dâm (sadisme).
            Nhưng người đàn bà đầu tiên đề cập trực diện với đề tài này là nhà văn người Pháp Dominique Aury (nhũ danh là Anne Desclos). Dưới bút hiệu Pauline Réage, bà đã viết quyển Histoire d’O được phát hành tại Pháp lần đầu tiên vào năm 1954 (nhà xuất bản Jean-Jacques Pauvert). Vào thời đó, quyển sách này gây ra nhiều cuộc bút chiến dữ dội trên văn đàn, phần lớn là do nội dung quá táo bạo, một phần khác là vì tác giả làm chuyện động trời này lại là thành viên của tờ Nouvelle Revue Française (NRF), tạp chí phê bình văn học nổi tiếng của Pháp.
            Hơn 20 năm trước cuộc cách mạng tình dục ở Âu Mỹ, hơn nửa thế kỷ trước khi có hiện tượng Fifty Shades, tác giả người Pháp Pauline Réage đã dùng ngòi bút như lưỡi dao sắc bén để mổ xẻ quan hệ bạo dâm, cách mô tả chi tiết, lối hành văn khá cầu kỳ. Ngược lại, trong bộ tiểu thuyết Fifty Shades of Grey, vấn đề lớn nhất nằm ở trong cách viết.
            Theo tạp chí Lire, tác giả bộ sách này giàu trí tưởng tượng nhưng nghèo nàn văn phong, chữ viết rất nhiều nhưng nghĩa không bao nhiêu. Báo Libération đi xa hơn khi cho rằng: bàn đến giá trị văn học của Fifty Shades, thì cũng như là bán thức ăn nhanh cho người muốn giảm cân. Nói cách khác, khi đọc sách này, phụ nữ Anh Mỹ có thể thẹn thùng đỏ mặt, hừng hực cơn sốt. Người yêu văn chương lại bị dội vào đầu một gáo nước lạnh.


TUẤN THẢO
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20120817-tieu-thuyet-khieu-dam-soan-ngoi-harry-potter