Diễn đàn sách xưa | Bảo tồn văn hóa Việt

KIẾN THỨC => Thời sự => Tin văn hóa => Tác giả chủ đề:: nduytai vào 08/03/2017, 08:16:12

Tiêu đề: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 08/03/2017, 08:16:12
tảnmạn... vănhóa...
______ ______  ______ ______

01.  Ngày Quốc tế Phụ nữ, nghĩ về tinh thần “Phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương
02.  Đôi dòng cảm nhận về ca khúc “Xuân này con vắng nhà”
03.  Ngày xuân bàn câu đối Tết
04.  Tình thơ Nguyên Sa
05.  Marguerite Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật
06.  Vũ Thành An và những câu chuyện của 10 bài Không Tên
07.  Hai Bà Trưng và bài học “việc nước trước việc nhà”
08.  “Người tình” Gia Long, Trưng Vương… trong các ca khúc
09.  Nhà văn Virginia Woolf và “Căn phòng riêng”
10.  50 năm phong trào nhạc trẻ
11.  Sự lùi bước của Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX
12.  Truyện Kiều phổ nhạc – nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện
13.  Nói chuyện cùng nhà văn Trần thị NgH
14.  “Có một dòng sông đã qua đời”, hữu hạn và vô hạn trong Trịnh Công Sơn
               page 2
15.  Trọng Thủy – Mỵ Châu và bài học cảnh giác xâm lược
16.  Ca khúc và giai thoại: 40 năm “Bài Thánh Ca Buồn”
17.  Albert Camus: Đam mê viết báo và “4 phẩm chất của một nhà báo tự do”
18.  Nhà văn Mai Thảo và tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”
19.  Sáng mãi tinh thần Vua Quang Trung: “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”
20.  “Chủ nhật buồn”: Bản tình ca “tuyệt mạng” đầy huyền thoại
21.  Những bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng Việt
22.  Mười năm xa khuất Thanh Tâm Tuyền
23.  “Nam Quốc Sơn Hà”: Chân lý chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam
24.  Giai thoại tình ca: 40 năm nhạc phẩm Love Story
25.  Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie
26.  Thi sĩ Bùi Giáng, nhà thơ kỳ lạ
27.  Trần Hưng Đạo: Tinh hoa quân sự Việt Nam
28.  Nhạc Pháp lời Việt: Solenzara nào có Nắng Xuân
29.  Triển lãm Lão giáo tại Paris trong mắt khách tham quan
               page 3
30.  Về một bài thơ của Phạm Công Thiện
31.  Trầm Tử Thiêng – Một đời “Tưởng Niệm”
32.  Chu Văn An – Sáng ngời đức độ nhà giáo Việt
33.  Rodin, người thổi hồn cho nghệ thuật điêu khắc
34.  Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên
35.  “Tiếng hát quay tơ” Mai Hương, nửa thế kỷ tình tự ca
36.  Nguyễn Trường Tộ: Bài học về sự phối hợp giữa trí thức và nhà cầm quyền
37.  100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Jean Genet
38.  Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn
39.  Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa...”
40.  850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris
41.  Cảm nhận sau khi coi phim Buddha 54 tập trên Internet
42.  Clara, người vợ cùng André Malraux vẫy vùng tại Đông Dương
43.  Nhóm “Sáng Tạo” của thập niên 1950
44.  Sách khiêu dâm Fifty Shades soán ngôi Harry Potter
               page 4
45.  Trần Thủ Độ: Đời luận anh hùng
46.  |*
47.  Quầy sách cổ, sách cũ: nét chấm phá dọc bờ sông Seine
48.  Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”
49.  Nhà văn Tennessee Williams, một đời người muôn kiếp sống
50.  Minh Ðức Hoài Trinh đã ra đi, vĩnh viễn ra đi!
51.  1.000 năm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg
52.  Sài Gòn buổi ấy lạc nhau…
53.  Thành phố Strasbourg: Biểu tượng hòa giải Pháp-Đức
54.  Dương Vân Nga: Đời luận anh hùng
55.  Alexandre Dumas, cực giỏi viết văn, tuyệt đỉnh nấu ăn
56.  Mùa thu của Đặng Thế Phong qua lời của danh ca Tâm Vấn
57.  Paris và cà phê vỉa hè
58.  Ông Vũ Tài Lục, một mất đi, khó người thay thế
59.  Ladurée, sức quyến rũ của bánh macaron Pháp
               page 5
60.  Nữ văn sỹ Nguyễn Thị Thụy Vũ
61.  Nghệ thuật làm bánh macaron của người Pháp
62.  Thái Hậu Ỷ Lan: Nữ chính trị gia kiệt xuất Việt Nam
63.  Gustave Courbet táo bạo, khuynh đảo tư tưởng phải đạo
64.  Nguyễn Ánh 9, tiếng dương cầm vang mãi
65.  “Bánh mì của tổng thống Pháp”: niềm tự hào của thợ làm bánh thủ công
66.  Tuổi trẻ Vạn Hạnh
67.  Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro
68.  Mai Thọ Truyền, từ chùa Xá Lợi tới Phủ Văn Hóa
69.  Luân Đôn: Đồng hồ Big Ben lặng tiếng chuông
70.  Bảo Đại: Từ hoàng đế Việt “lực bất tòng tâm” đến “thường dân” Pháp
71.  Halloween là gì?
72.  Thanh Lan, tiếng hát của tài và sắc
73.  Catacombes – “Vương quốc người chết” trong lòng Paris
74.  Nghề văn, lòng thành và ngộ nhận
               page 6
75.  Tầu bưu điện ngầm ở Luân Đôn: Một “kỳ tích” của ngành đường sắt Anh Quốc
76.  Nh. Tay Ngàn, lập lòe trí nhớ
77.  70 ngày cuối đời của Van Gogh ở Auvers-sur-Oise, Pháp
78.  Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở Alger
79.  Hà Lan lập “nhà thổ” tự quản để chống nạn buôn người
80.  Vũ Khanh, tiếng hát của tình yêu và niềm tin
81.  Khám phá nhà thờ Thánh Tâm Montmartre Paris – Basilique du Sacré-Cœur
82.  Con đường Mặc Đỗ từ Hà Nội Sài Gòn tới Trưa trên đảo san hô
83.  Luân vũ mùa đông
84.  “Tha La xóm đạo” và “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”
85.  Truyền thống Giáng sinh tại châu Âu
86.  Nguồn gốc tập tục Cây thông Noël
87.  Đêm Thánh Vô Cùng
88.  Nhận diện lại Nam Phong tạp chí
89.  Bốn “huyền thoại” giúp sâm banh của Pháp nổi tiếng
               page 7
90.  Nhà thơ Viên Linh ra sách “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam”
91.  150 năm Đế chế Áo-Hung: Một thời vang bóng
92.  Nghệ sĩ Thành Lộc với “Tâm Thành và Lộc Đời”
93.  Ga Tây – Budapest, một kiệt tác kiến trúc của Trung Âu thế kỷ 19
94.  Vua Hàm Nghi: Cuộc đời nghệ sĩ
95.  Cách Mạng Hung 1848 và thi phẩm xuất thần “Bài ca Dân tộc”
96.  Song Ngọc và một đời sáng tác
97.  Bộ phim “Sissi”: Một đời vinh quang và cô độc của hoàng hậu Áo Quốc
98.  Nhật ký văn nghệ thời tuổi trẻ, Sài Gòn 1965
99.  Sartre và Beauvoir: tình yêu và triết lý
100.  Một tách café cho hai người
101.  Giải pháp nào cho ổ khóa tình yêu?
102.  Bài tình ca nổi tiếng “Khúc Thụy Du” cho ngày Valentine
103.  Nước hoa Chanel số 5 vẫn là số một
104.  Paris và những bản tình ca
               page 8
105.  |*
106.  Dưới bóng những cây cầu cổ kính, lộng lẫy của Paris
107.  Doãn Quốc Sỹ, một ngòi bút chân phương, cổ điển
108.  “Nhà nổi” trên sông Seine, sở thích đắt tiền của người Paris lãng du
109.  Paris khám phá tranh Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần
110.  400 năm rực trầm vườn Lục Xâm
111.  “Đây, chương trình Thi văn Tao Đàn…”
112.  Champs-Elysées: Từ “bãi sình lầy” tới “đại lộ đẹp nhất thế giới”
113.  Nhạc sĩ Thanh Sơn, người viết cho kỷ niệm
114.  Điện Elysée – nơi ghi dấu quyền lực nước Pháp
115.  Nhà văn Nhật Tiến
116.  Khải Hoàn Môn Paris và ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt
117.  Nguyễn Tất Nhiên: “Thà như giọt mưa”
118.  Cột đá Obélisque: Biểu tượng sức mạnh trên quảng trường Concorde, Paris
119.  Báo cũ, Sáng Tạo 60 năm trước
               page 9
120.  Tháp Eiffel: Từ bà đầm thép bị chế nhạo tới biểu tượng của Paris
121.  Thanh Nam đất khách, những ngày Tháng Tư
122.  Nhà thờ Đức Bà Paris
123.  Ngọc Lan, 15 năm tiếng hát về trời
124.  “Cô bé Quàng khăn đỏ”: Cẩm nang giáo dục giới tính
125.  Nhân Phật Ðản, đọc bài Quốc Tộ
126.  “Alice ở xứ sở thần tiên”: Truyện cho trẻ con hay là cho người lớn?
127.  Những bước tiên phong và thành quả của Ðại Học Huế (1957-1975)
128.  Thần tượng văn học: “Ngôi sao dẫn đường” cho trẻ nhỏ
129.  Nguyễn Đình Toàn từ Đồng cỏ tới Áo mơ phai
130.  Alexandre Dumas đã vào điện Panthéon
131.  Mai Lệ Huyền, một “đệ nhất sexy” và một người phụ nữ bình thường
132.  Pháp: Điện Invalides, nơi yên nghỉ của hoàng đế Napoléon Đệ Nhất
133.  1960, một năm ba tạp chí văn học ra đời
134.  Đi thăm nhà văn John Steinbeck
               page 10
135.  Trần Lê Nguyễn, thơ kịch và phim
136.  Bảo tàng Orsay: từ nhà ga xe lửa tới “kho báu” nghệ thuật
137.  Tháng Bảy, nhớ Nguyễn Mộng Giác
138.  Tháng Chín, nhớ Françoise Sagan: Tiểu yêu nữ khả ái
139.  Ý Lan: Tiếng hát đam mê đến từ cảm xúc
140.  Nàng Marianne, biểu tượng của dân tộc Pháp
141.  Tháng Chín nhớ Nguyễn Xuân Hoàng
142.  Tháng Chín, nhớ Françoise Sagan: Một cuộc đời ngoại hạng
143.  Trần Quảng Nam: nhạc kịch Truyện Kiều
144.  Nhà hát opéra Garnier và “phong cách của hoàng đế Napoléon III”
145.  Nhóm, tạp chí, và nhà thơ Song Hồ
146.  Norman Mailer, nhà văn “đa sự” của văn chương Hoa Kỳ
147.  Tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Anh Việt Thu
148.  Giới thiệu sách mới của Giao sư Trần Ngọc Ninh
149.  Paris phong cách Haussmann: Dấu ấn thời hoàng đế Napoléon III
               page 11
150.  Văn Nghệ, trong và ngoài tòa soạn
151.  Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu “tân tiểu thuyết” Pháp
152.  Chúng ta biết gì về nhạc sĩ Hoàng Trọng?
153.  Tuần báo văn chương đầu tiên in offset ở miền Nam
154.  Nhà thờ Đức Bà Paris – “báu vật” kêu cứu
155.  Nguồn gốc của tập tục “trao quà” ngày lễ Giáng sinh
156.  Nguồn gốc ngày lễ Giáng sinh
157.  |*
158.  |*
159.  |*
160.  Hành trình âm nhạc của tài hoa Hoàng Trọng
161.  Tết Tây nói chuyện ngày đầu năm
162.  Sài Gòn trong thơ văn
163.  Tháng Giêng, nhớ Y Uyên
164.  Paris: Hòa âm ánh sáng-pháo hoa đón Năm 2019 trên đại lộ Champs-Elysées
               page 12
165.  Nhà thơ Hồ Ðình Phương và sự nghiệp âm nhạc Hoàng Trọng
166.  |*
167.  |*
168.  Nhân một cái phân ưu
169.  Một số phong tục độc đáo đón Năm Mới trên thế giới
170.  Mùa Xuân, nhìn lại hai mươi năm Tân nhạc miền Nam
171.  Đọc thơ Xuân
172.  Đôi dòng tản mạn đầu Xuân Quý Tỵ
173.  Những ngón tay bắt được của trời
174.  Trang trong trang ngoài một tờ báo
175.  Conciergerie: Chứng nhân lịch sử hàng đầu của kinh thành Paris
176.  Thưởng thức một số “truyện thật ngắn”
177.  Đêm Sài Gòn xưa, và ban hợp ca Thăng Long
178.  Nguyễn Văn Sâm và dòng chảy văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh
179.  “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của Kiên Giang
               page 13
180.  Kim tự tháp bảo tàng Louvre: “viên kim cương” trong lòng Paris
181.  Một tác phẩm của George Orwell đột ngột trở thành “bestseller” của Amazon
182.  Nhạc sĩ Ngọc Chánh, từ soạn sách nhạc tới phát hiện ca sĩ Minh Hiếu
183.  Nhà thơ Nguyên Sa và sự thay đổi cảm nhận thi ca Việt Nam
184.  Tản mạn về chữ nghĩa
185.  Tháp Eiffel – “bà đầm sắt” 130 tuổi và những điều ít được nói tới
186.  Vài kỷ niệm về Trần Phong Giao
187.  Elvis Phương và ban nhạc Shotguns
188.  Đọc lại Truyện Kiều, yêu thêm tiếng Việt
189.  Đi tìm 100 truyện ngắn hay nhất?
190.  50 năm huyền thoại máy bay siêu thanh Concorde
191.  Phúc đức tại mẫu
192.  Thanh Thúy, hiện tượng khó giải thích
193.  Nhớ Tô Thùy Yên
194.  Phan Kế Bính và các nhân vật nước Nam
...


TẠP CHÍ VĂN HÓA  RFI

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 08/03/2017, 08:19:30
Ngày Quốc tế Phụ nữ, nghĩ về tinh thần “Phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương

Giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam, chính quyền Vua Lê-Chúa Trịnh lâm cảnh suy vi, bất công xã hội dâng cao, chiến tranh loạn lạc triền miên. Trong bối cảnh đó đã lần lượt xuất hiện bốn gương mặt nữ với tài hoa văn thơ xuất chúng, trong đó đặc biệt hơn hết là nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Chủ nhân của “Cổ Nguyệt Đường” đã thể hiện được tinh thần bất khuất của phụ nữ Việt Nam, không cam chịu số phận do xã hội áp đặt một cách bất công, một tinh thần có giá trị ở mọi thời đại.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/hxh.jpg)
Hồ Xuân Hương trong tranh Bùi Xuân Phái

BỐN NỮ DANH SĨ nêu trên là: Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Ngọc Hân Công chúa và Hồ Xuân Hương. Để tìm hiểu về lịch sử văn học giai đoạn này nói chung và tài hoa, tư tưởng của tứ đại nữ sĩ này nói riêng, RFI trao đổi với Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần tại Thành phố Hồ Chí Minh.
            Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần là một nhà sử học, nhà văn hóa kỳ cựu tại Việt Nam với nhiều công trình khoa học có giá trị. Đặc biệt, Giáo sư cũng là một nhà Hán-Nôm lớn, am hiểu sâu sắc về thơ văn chữ Nôm, đặc biệt là về Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương.

Lê Phước: Trước tiên xin Giáo sư sơ lược đôi nét về bối cảnh lịch sử văn học của Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19?
Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần: Văn học dân tộc đã phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19. Đó là một hiện tượng đặc biệt của lịch sử văn học Việt Nam.
            Về lực lượng sáng tác, đây là thời kỳ xuất hiện rất đông đảo đội ngũ những người cầm bút tài hoa. Về tổ chức, đây cũng là thời kỳ xuất hiện nhiều tổ chức mới, đặc biệt là Tao Đàn Chiêu Anh Các ở phía nam, thành lập vào năm 1736. Về tính đa dạng của đề tài, người ta thấy khác hẳn trước đó. Trong giai đoạn này, văn học tập trung ca ngợi thiên nhiên, ca ngợi đất nước, ca ngợi thú chơi tao nhã của kẻ sĩ, và đặc biệt là về số phận con người, đồng thời thuật lại rất nhiều câu chuyện ly kỳ.
            Về thể loại, ta thấy văn học giai đoạn này rất phong phú. Ngoài những tác phẩm sáng tác theo niêm luật của Trung Quốc cũ, thì các thể loại văn học dân tộc cũng ra đời và đạt được hiệu quả nghệ thuật rất cao. Về giá trị tư tưởng và giá trị văn học, thì cái mới và nét đặc biệt đã được thể hiện rất rõ.
            Về tác phẩm, trước hết, ngoài một số tác phẩm của văn học Tây Sơn, số còn lại thiếu vắng hẳn những áng hùng văn. Nhưng thay vào đó có nhiều tác phẩm ca ngợi thiên nhiên đất nước, ca ngợi thú vui tao nhã của kẻ sĩ, như cầm, kỳ, thi, họa. Và lần đầu tiên con người, đặc biệt là người phụ nữ được đề cập đến một cách mạnh mẽ.
            Về văn từ sử dụng, thì trong giai đoạn văn học này, chữ Nôm đã chiếm ưu thế trên văn đàn. Những tác phẩm lớn nhất về thể loại sáng tác, thì người ta thấy rằng, ngoài các loại cổ văn viết theo niêm luật cũ vẫn được sử dụng như câu đối, phú, chế, chiếu, biểu và các loại Đường thi… Người ta còn thấy nhiều thể loại văn học dân tộc cũng được sử dụng một cách phổ biến và đạt được những thành tựu nghệ thuật rất lớn lao, ví dụ như thơ lục bát, song thất lục bát, hay truyện thơ Nôm.
            Đây cũng là giai đoạn mà đội ngũ tác giả cũng có những nét mới. Từ đây, thành phần xuất thân của đội ngũ người cầm bút có phong phú hơn giai đoạn trước. Ví dụ ở đây có cả đạo sĩ và nhà sư tham gia vào Tao Đàn Chiêu Anh Các.

Lê Phước: Thưa giáo sư, trong bối cảnh đó ta thấy trên thi đàn xuất hiện bốn nữ sĩ tài hoa, tiếng tăm vẫn còn vang vội đến hiện tại. Vậy xin Giáo sư minh thị đôi điều về bốn cây bút nữ này?
Giáo Sư Nguyễn Khắc Thuần: Trong giai đoạn lịch sử văn học này, nhiều tác giả nữ tài hoa đã nối nhau xuất hiện. Họ đã làm cho đời sống văn hóa và văn học trở nên sinh động, họ đã có những cống hiến rất đáng để đời đời ghi nhớ. Trong những cây bút nữ tài hoa của giai đoạn này, ta thấy nổi lên bốn tác giả tiêu biểu sau đây:

1) Hồng Hà Nữ Sĩ Đoàn Thị Điểm
            Đoàn Thị Điểm sinh vào năm 1705, mất năm 1748, hưởng dương 43 tuổi, quê quán ở huyện Văn Giang, trấn Kinh Bắc cũ, nay thuộc Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên. Thật ra, tổ tiên của bà là người họ Lê, và đến đời cha của bà là Đoàn Doãn Nghi mới đổi sang họ Đoàn. Chồng của bà là tiến sĩ Nguyễn Kiều, và bà là tác giả chính của Truyền Kỳ Tân Xã. Sở dĩ tôi nói là tác giả chính là bởi vì Truyền Kỳ Tân Xã chép nhiều chuyện ly kỳ, nhưng trong đó, theo nhiều nhà nghiên cứu, thì Truyền Kỳ Tân Xã chỉ có một số phần là do bà Đoàn Thị Điểm viết. Dù vậy, tên tuổi của bà trong Truyền Kỳ Tân Xã vẫn được đời đời ghi nhận, bởi bà đã tỏ rõ sự sắc sảo, sự tài hoa của mình.
            Đoàn Thị Điểm cũng là một trong những dịch giả của Chinh Phụ Ngâm Khúc. Bản Chinh Phụ Ngâm được dùng phổ biến ngày nay là bản dịch của Phan Huy Ích. Chinh Phụ Ngâm có nhiều bản dịch khác nhau, trong đó có bản dịch của Đoàn Thị Điểm. Chúng ta thấy rằng, chất nữ tính trong bản dịch của Đoàn Thị Điểm thể hiện rất rõ, và chất nữ tính này cũng đã được Phan Huy Ích nghiên cứu và kế thừa.

2) Bà Huyện Thanh Quan
            Cây bút nữ thứ hai rất nổi tiếng và tài hoa là Bà Huyện Thanh Quan. Bà có cùng năm sinh và năm mất với Đoàn Thị Điểm. Tên thật của bà Nguyễn Thị Hinh. Chồng bà là Lưu Nghị, từng làm huyện lệnh huyện Thanh Quan, nên người đời mới gọi bà là Bà Huyện Thanh Quan. Bà là người làng Nghi Tàm nay thuộc Hà Nội. Cha của bà là Nguyễn Lý, đỗ thủ khoa trong một khoa thi dưới thời hoàng đế Lê Hiển Tông. Bà là học trò của tiến sĩ Phạm Quý Thích. Bà Huyện Thanh Quan từng được giao dạy học cho công chúa và cung nữ dưới thời vua Minh Mạng, vì thế bản thân bà cũng là một trong những học quan tài ba.
            Bà Huyện Thanh Quan đã để lại khá nhiều tác phẩm tiêu biểu, ví dụ như tác phẩm Thăng Long Thành Hoài Cổ. Hẳn là chúng ta ai cũng từng nghe câu:


Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương

            Hay là bài Qua Chùa Trấn Bắc, rồi Chiều Hôm Nhớ Nhà, nhưng đặc biệt hơn hết là bài Qua Đèo Ngang hầu như ai cũng đều thuộc cả.

3) Công chúa Ngọc Hân
            Nhân vật thứ ba rất nổi tiếng là Ngọc Hân công chúa. Bà sinh năm 1770 và mất năm 1799, hưởng dương 29 tuổi. Ngọc Hân công chúa là con của hoàng đế Lê Hiển Tông. Bà là Bắc Cung Hoàng Hậu của Hoàng đế Quang Trung Nguyễn Huệ, và là tác giả của bài Ai Tư Vãn, một tác phẩm có giá trị.
            Lúc bà đến với Nguyễn Huệ là chuyện “Cha mẹ đặt đâu con cái ngồi đấy”. Thế nhưng, về sau khi sống với Nguyễn Huệ, trọng đức, phục tài của Nguyễn Huệ, nên tình yêu của bà đối với Quang Trung Nguyễn Huệ trở nên đằm thắm và nồng nàn. Nhưng lúc tình yêu phát triển đến đỉnh cao thì Nguyễn Huệ đột ngột qua đời. Và bà đã viết bài Ai Tư Vãn để khóc chồng, cũng là để khóc một vị hoàng đế tài hoa, khóc một vị danh tướng đã có nhiều công lao to lớn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc.

4) Hồ Xuân Hương
            Cây đại bút thứ tư rất nổi tiếng của giai đoạn lịch sử này là Hồ Xuân Hương. Nguyên quán của bà là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Thân sinh của bà là Hồ Phi Diễn, người làng Quỳnh Lưu, nên chúng tôi mới nói nguyên quán của bà là Quỳnh Lưu. Kỳ thực Hồ Phi Diễn đã ra dạy học ở vùng Kinh Bắc và kết duyên với một người phụ nữ họ Hà, sinh được duy nhất một con gái đó là Hồ Xuân Hương. Ở Bắc Ninh ngày nay vẫn còn một ngôi mộ ghi rõ là mộ của Hồ Xuân Hương, và ở đấy có bia ghi bà sinh năm 1772 và mất năm 1822.

Lê Phước: Trong bốn nữ sĩ nêu trên, ta thấy Hồ Xuân Hương có nhiều nét độc đáo riêng, bởi bà là người có tinh thần “phẫn nộ”, dùng ngòi bút đả phá mọi bất công – những nỗi bất công đè nặng trên đôi vai phụ nữ.
            Trong xã hội phong kiến theo Nho giáo ở Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, thân phận người phụ nữ phải chịu nhiều điều thua thiệt so với cánh đàn ông. Ắt hẳn chúng ta ai cũng nằm lòng cái câu: “Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ lấy một chồng”. Người phụ nữ không bao giờ được làm chủ bản thân bởi sự ràng buộc của cái gọi là “Tam tòng”, theo đó “Tại gia tòng phụ – xuất giá tòng phu – phu tử tòng tử”, tức “Khi chưa chồng thì theo ý cha, khi có chồng thì theo chồng, khi chồng chết thì phải theo con”.
            Trở lại giai đoạn cuối triều Lê đầu triều Nguyễn, thân phận người phụ nữ có lẽ được thể hiện rõ nhất qua mấy câu thơ sau đây của đại thi hào Nguyễn Du trong Truyện Kiều:


Đau đớn thay, phận đàn bà
Kiếp sinh ra thế, biết là tại đâu

            Hay như khi Thúy Kiều nói với Tú Bà:

Rằng tôi chút phận đàn bà
Nước non lìa cửa lìa nhà đến đây

            Và Hoạn Thư nói với Thúy Kiều:

Rằng tôi chút phận đàn bà
Ghen tuông thì cũng người ta thường tình

            Phản ứng trước thực tại xã hội nam quyền đó, những phụ nữ chân yếu tay mềm biết làm gì hơn ngoài việc cam chịu. Đến như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan hay như Ngọc Hân Công chúa cũng chỉ biết dùng thơ văn để than thân trách phận mà thôi. Thế nhưng, đến với Hồ Xuân Hương lại hoàn toàn khác. Hồ Xuân Hương đã dùng ngòi bút đả phá mọi thứ bất công. Cái chí khí ngất trời của bà nào thua đấng mày râu như câu đối mà bà ứng khẩu đọc lên khi trượt chân vấp ngã và bị đám bạn thanh niên cười nhạo:

Giơ tay với thử trời cao thấp
Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

            Cái chí khí đó, cái tinh thần đó được Hồ Xuân Hương thể hiện qua những vần thơ với lời lẽ mộc mạc mà ý tứ thì vô cùng thâm thúy.

Đi sâu vào chủ đề này, Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần phân tích:
            Hồ Xuân Hương từ nhỏ đã nổi tiếng là người tài hoa. Và khi lớn lên thì tài hoa đó đã phát triển mạnh mẽ và đã đạt được những thành tựu to lớn. Vì cha bà là nhà giáo, nên từ nhỏ Hồ Xuân Hương đã được học chữ. Bà đã bắt đầu cầm bút từ nhỏ và trở thành người nổi tiếng về văn chương từ lúc thiếu niên.
            Khi lớn lên, Hồ Xuân Hương đã mấy lần lấy chồng. Người chồng thứ nhất là ông Tổng Cóc. Người chồng thứ hai là ông phủ Vĩnh Tường. Xưa nay người ta cũng chỉ nói đến hai người chồng này thôi. Cả hai lần lấy chồng bà đều làm vợ bé. Và cả hai lần thì hai người chồng đều sớm qua đời. Theo kết quả tìm hiểu của chúng tôi, bà còn có người chồng thứ ba, đó là Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần Phúc Hiển. Và lần này bà cũng chỉ là vợ bé. Nhưng rồi ông chồng thứ ba cũng qua đời. Kể từ đó bà không còn kết duyên với ai nữa.
            Hồ Xuân Hương mở một quán giải khát ở Hà Nội, và đấy chính là nơi gặp gỡ của các tao nhân mặc khách. Đó cũng chính là nơi mà tiếng thơ của Hồ Xuân Hương đã vang lên, không những Thăng Long, mà là cả nước, không những ở thế kỷ 18 hay đến thế kỷ 19, mà còn vang mãi đến hôm nay.
            Cố thi sĩ Xuân Diệu gọi Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm”. Cách gọi ấy rõ ràng là hoàn toàn xứng đáng.
            Trước hết, bà là nhà thơ của phụ nữ, nói lên tiếng nói kết tinh những khát vọng chân chính và cháy bỏng của phụ nữ, thật sự cảm thông sâu sắc và ân cần chia sẻ bao nỗi đắng cay của người phụ nữ trong xã hội cũ. Đồng thời, Hồ Xuân Hương lên án sự bất công đối với phụ nữ, chất chứa trong vô số những thói tục hủ lậu, mà đặc biệt là tục đa thê:


Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng,
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung

            Hồ Xuân Hương là một nhà thơ châm biếm cay nghiệt đối với mọi thói hư tật xấu của xã hội. Chất trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương khiến cho bất cứ ai hễ đọc được cũng đều nhớ ngay, và hễ đã nhớ thì lại muốn đọc cho người khác biết. Quy mô của việc truyền khẩu ngày càng lớn đã biến thơ Hồ Xuân Hương thành một hiện tượng rất độc đáo của đời sống văn học. Những kẻ bất tài mà cũng dám cả gan ngâm vịnh, xướng họa, bị bà mỉa mai, xếp vào hàng:

Ong non ngứa nọc châm hoa rữa,
Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa

            Hay những kẻ không hề có lý tưởng tu hành, chỉ chui vào chùa như một cuộc trốn chạy sự truy đuổi của xã hội, và đôi chân lấm bụi đời của họ đã làm ô uế nơi tôn nghiêm bị bà thẳng thừng chỉ trích:

Oản dâng trước mặt, năm ba phẩm,
Vãi mọp sau lưng, bảy tám bà

            Bà thấy rất rõ, phía trong của những áo mũ xênh xang của đấng phụ mẫu tri dân là lòng phàm thô tục. Dáng vẻ đạo mạo bên ngoài của họ không đủ để che khuất những thèm khát tầm thường ẩn giấu bên trong:

Chúa dấu Vua yêu một chút này

            Có lẽ trong lịch sử văn học Việt Nam, thật hiếm có những ai có tài năng dùng ngôn ngữ bình dân để diễn đạt một cách thiên tài những vấn đề rất tế nhị của cuộc sống đời thường như Hồ Xuân Hương.
            Ngoài sự khẳng khái đấu tranh chống lại bất công đối với phụ nữ, ngoài chất trào lộng và châm biếm gay gắt, Hồ Xuân Hương còn là nhà thơ trữ tình nồng nàn, yêu đời. Trong thơ Hồ Xuân Hương, thiên nhiên không phải chỉ có vẻ đẹp của dáng hình, mà còn có cả sắc màu âm thanh, và cả cái tâm của người ngắm cảnh:


Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc,
Đầm đìa lá liễu giọt sương reo

            Không ít lần trong thơ Hồ Xuân Hương, tình cảm kín đáo và đằm thắm của người phụ nữ Việt Nam hiện lên một cách rất rõ. Có cái gì đó nửa như xa lạ, nửa như gần gũi, cũng là rất Hồ Xuân Hương:

Năm canh lơ lửng chờ ai đó,
Hay có tình riêng với nước non

            Đọc Hồ Xuân Hương, chúng ta thấy một thiên tài văn học, chúng ta thấy một niềm tự hào về một người phụ nữ tài hoa và về dòng văn học do những người phụ nữ khởi xướng vào thế kỷ 18 và 19.

Lê Phước: Đến đây, ta thấy rằng, ngòi bút của Hồ Xuân Hương không kiêng nể một ai cả. Sự không kiêng nể này không phải là thể hiện thái độ vô lễ trong cách cư xử, mà là để nhắm đến mục tiêu cao cả khác: Đả phá bất công, vượt vòng kiềm tỏa mà xã hội dùng để trói buộc thân phận người phụ nữ. Hồ Xuân Hương chửi từ vua đến quan, từ thói hư tật xấu ngoài đời đến những biến chất tiêu cực trong nhà chùa. Bà đã khéo léo dùng tài văn chương của mình để làm đảo lộn cả trật tự nam-nữ trong xã hội Nho giáo khi bà không ngại mỉa mai người quân tử trong bài Thiếu nữ ngủ ngày:


Mùa hè hây hẩy gió nồm đông,
Thiếu nữ nằm chơi quá giấc nồng
Lược trúc lỏng cài trên mái tóc,
Yếm đào trễ xuống dưới nương long
Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,
Một mạch Đào Nguyên suối chửa thông

            Chúng ta thấy thiếu nữ ngủ ngày một cách hết sức hở hang và hớ hênh. Thế nhưng cái thâm ý ở đây là Hồ Xuân Hương muốn cho thấy người phụ nữ nằm ngủ kia đã vượt khỏi những ràng buộc áp đặt người phụ nữ trong chốn khuê phòng, một cách ngủ mà mấy nhà nho cổ hủ đều lên gân chửi.
            Ấy thế mà, bộ mặt thật của đấng quân tử làm ra vẻ đường hoàng kia rốt cuộc cũng chỉ là một tay “phàm phu tục tử”, bởi khi thấy người phụ nữ vô ý vô tứ như thế thì đấng quân tử đã ứng xử như vầy:


Quân tử dùng dằng đi chẳng dứt
Đi thì cũng dở ở không xong

            Hay như trong bài Vịnh cái quạt, Hồ Xuân Hương đã tả cái quạt như sau:

Một lỗ xâu xâu mấy cũng vừa,
Duyên em dính dáng tự bao giờ,
Chành ra ba góc da còn thiếu,
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa

            Đọc qua thì chắc là ai cũng hiểu là lợi dụng việc tả cây quạt Hồ Xuân Hương muốn ám chỉ đến cái gì. Ấy thế mà, Hồ Xuân Hương lại đặt “cái đó” lên đầu người quân tử:

Mát mặt anh hùng khi tắt gió,
Che đầu quân tử lúc sa mưa

            Trong xã hội phong kiến suy tàn hồi cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 tại Việt Nam, một xã hội Nho giáo cổ hủ, một xã hội chiến tranh loạn lạc, bất công đầy rẫy, thân phận người phụ nữ bị ràng buộc bởi những điều khắc khe nhất của Nho giáo. Ấy thế mà lạ thay, lại xuất hiện tứ đại nữ sĩ với tài văn thơ nào kém cánh mày râu, tài năng hơn xa những “đấng trượng phu” học hành không vì mở mang kiến thức mà vì ngắm nghía công danh lợi lộc chốn quan trường.
            Hồ Xuân Hương nổi lên như một hiện tượng với một tài văn thơ xuất chúng, với một tinh thần “phẫn nộ” trước những bất công đè nặng lên thân phận người phụ nữ. Trong xã hội hiện đại, đâu đó trên thế giới vẫn còn nhiều thân phận phụ nữ “Bảy nổi ba chìm với nước non”, đã có nhiều phụ nữ “phẫn nộ” lao vào những cuộc đấu tranh đòi bình đẳng.
            Và hôm nay ngày Quốc tế Phụ nữ, giở qua các trang báo ta thấy những thống kê gây quan ngại về thân phận người phụ nữ ở một số nơi trên thế giới: nào là nạn hiếp dâm phụ nữ không bị trừng phạt, nào và bạo hành gia đình đối với phụ nữ, nào là nạn tảo hôn… Nói chung là một quang cảnh u ám về quyền phụ nữ. Trong bối cảnh đó, đọc lại tinh thần “phẫn nộ” của Hồ Xuân Hương ta thấy rằng, tinh thần đó vẫn còn nguyên giá trị.


LÊ PHƯỚC
Tháng 3/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130308-ngay-quoc-te-phu-nu-nghi-ve-tinh-than-%E2%80%9Cphan-no%E2%80%9D-cua-ho-xuan-huong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 12/03/2017, 21:13:14
Đôi dòng cảm nhận về ca khúc “Xuân này con vắng nhà”

Năm nào cũng vậy, khi tiếng chim hót vang trên đầu cành, đánh thức nụ tầm xuân hé nở, những nụ đào hồng, những cánh mai vàng đua nhau khoe sắc, dệt lên bức thảm màu thiên nhiên rực rỡ, bao dung, lay động lòng người, thì cũng là lúc người ta bắt đầu cảm nhận được những tiếng giao hòa của trời đất, đắm mình trong những giai điệu rộn ràng của mùa xuân, lồng lộng sắc xuân.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/111%20hoa%20dao%201.jpg)

BẦU TRỜI cao rộng hơn, mặt đất xanh hơn, với những chồi non lộc biếc hòa cùng sắc màu quần áo mới của đàn trẻ nhỏ, khiến người ta lại khắc khoải nhớ về những ngày xuân ấu thơ.
            Đêm giao thừa ngày ấy, trời tối đen như mực, một ngọn đèn nhỏ leo lắt, cũng đủ để thắp sáng trên bàn thờ tổ tiên. Không khí xuân ngập tràn từng góc nhỏ.
            Đã 17 năm rồi, một khoảng thời gian không dài so với một đời người, nhưng cũng đủ để thẩm thấu nhìn lại con đường đã đi qua. Những dòng sông, những cánh buồm, những nẻo đường ngập tràn hoa cỏ của ngày ấy, nay chỉ còn là những ký ức lúc mờ lúc ảo, nhưng lại tái hiện rõ khi mỗi độ xuân về.
            Xuân là thế, thật diệu vợi và luôn bao dung, ngay cả khi đối với những kẻ tha hương, xuân cũng luôn từ bi độ lượng.
            17 khoảng khắc mùa xuân, bao nhiêu mơ ước, xa rời tổ ấm ấy, thế rồi cũng thực hiện được ước mơ trên xứ người, bao nỗi nhớ thương, bao niềm mong đợi, và lại thêm một mùa xuân nữa vắng nhà, chắc hẳn mẹ buồn lắm?
            Hôm nay là những ngày đầu tiên của năm, từ mấy hôm trước, đi mua thêm cặp bánh chưng ở khu chợ quận 13, nơi tập trung đông đảo nhất người Việt tại Paris, mà lòng nặng trĩu nhớ mẹ quê xưa.
            Từ khu nhà cao kế bên trung tâm thương mại, bất chợt nghe văng vẳng bên tai, giọng hát truyền cảm của Quang Lê, với giai điệu bất hủ “Xuân này con vắng nhà”, khiến lòng thêm bồi hồi khắc khoải, nhất là khi biết mẹ ở quê nhà, vẫn còn đang vất vả vì phải lo cho cuộc sống nhật thường.
            Sáng nay, gọi điện về cho mẹ, bất giác mẹ hỏi: “Con còn nhớ món dưa hành mẹ nén, ăn cùng với mắm rươi ngày nào không?”, chợt nước mắt như chực trào.
            Đã hơn 17 năm rồi kể từ khi xa mẹ, tôi không còn cơ hội để ăn lại món ấy nữa, nhưng làm sao có thể quên được món ăn khoái khẩu không thể thiếu trong mâm cỗ tất niên mẹ chuẩn bị cho anh em chúng tôi, vị chua hăng của dưa hành, quyện với mắm rươi đặc trưng, có lẽ chỉ tìm thấy ở vùng quê tôi mà thôi.
            Tất cả đã tạo nên một hương vị có một không hai, đạt đến đỉnh điểm văn minh của ẩm thực ngày Tết, đơn sơ là thế, nghèo nàn là thế, ấy vậy mà cho dù có đi bất cứ nơi đâu, cho đến tận cùng trời cuối đất, dư vị ấy vẫn mãi không thể xóa nhòa trong tâm trí tôi.
            Nuốt tất cả vào lòng để đáp lại lời mẹ hỏi: “con nhớ lắm mẹ”. Tiếng mẹ ở đầu dây bên kia cũng nghèn nghẹn, tôi biết đằng sau tiếng thở dài ấy, là những giọt nước mắt nhớ thương của mẹ mỗi khi nghĩ về những ngày đầu xuân vắng bóng anh em tôi.
            Tôi nhanh chóng phá tan bầu không khi nặng nề đó bằng cách kể cho mẹ nghe hàng loạt chuyện Tết của người Việt mình nơi xứ người, cũng mai, cũng đào, cũng kẹo mứt, bánh chưng xanh, chẳng thiếu thứ gì. Mấy bữa nay ra chợ, không khí cũng náo nhiệt chẳng khác gì Việt Nam.

QUAY TRỞ LẠI với nhạc phẩm “Xuân này con không về” thì đó là một bài hát nổi tiếng do bộ ba nhạc sĩ Trịnh-Lâm-Ngân sáng tác trong khoảng thập niên 60, mở đầu cho một loạt các ca khúc viết về tâm trạng người lính trong mùa xuân.
            Trịnh-Lâm-Ngân là nghệ danh ghép của 3 nhạc sĩ: “Trịnh” tức Trần Trịnh, “Lâm” tức Lâm Đệ, và “Ngân” tức Nhật Ngân. Có lẽ sự kết nối âm nhạc của bộ 3 nhạc sĩ này là một trong những hiện tượng âm nhạc kỳ thú và đặc biệt nhất của làng âm nhạc Việt Nam.
            Trên thực tế, cả 3 ông đều có những sáng tác riêng, nhiều tác phẩm hay, rất thành công, và được người yêu nhạc mến mộ. Tuy nhiên, sự kết hợp giữa 3 con người, với 3 trạng thái cảm xúc khác nhau, để đúc kết quy về một mối, cho ra đời một “Xuân này con không về” thì quả là đã tạo ra cho ca khúc này một số phận rất riêng biệt.
            Có lẽ cũng chính bởi thế, bên cạnh vô vàn những bản nhạc xuân vui nhộn, công chúng yêu nhạc vẫn lén tìm cho riêng mình một góc nhỏ, để ngồi lắng nghe “Xuân này con không về”, một nhạc phẩm luôn được tôn vinh trong những dịp đầu xuân, không chỉ trong thời chiến chinh loạn lạc, mà ngay cả trong thời bình, nhất là khi người ta mượn nó để biểu thị những cảm xúc, diễn tả thay tâm trạng của những người con xa xứ, mỗi dịp Xuân về.
            Toàn bài hát không hề có chữ “lính” nào, và chỉ khi đến khúc cuối, người nghe mới lờ mờ nhận ra đây là một bài hát viết cho lính, được lồng ghép vào một bức tranh xuân, với những hình ảnh hoàn toàn đối lập, của một bên là gia đình đoàn viên, bên bếp lửa hồng, trông nồi bánh chưng xanh, chờ trời sáng, với bên kia, là hình ảnh người lính đơn côi nơi chiến tuyến, vì cuộc chiến còn đó, bè bạn đồng đội còn đó, nên người lính không thể trở về với gia đình để hưởng cảnh ấm êm một mình, qua đó phần nào làm toát lên tính vô nghĩa của mọi cuộc chiến, và đó cũng là cách sử dụng những hình ảnh đối lập hết sức tài tình ý nhị của bộ 3 nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân, góp phần giảm nhẹ tính đau thương mà mọi cuộc chiến gây ra.
            Một đặc điểm nổi bật nữa của “Xuân này con không về” mà không thể không nhắc tới, đó là bài hát này luôn gắn liền với tên tuổi của cố ca sĩ Duy Khánh. Ca nhạc sĩ Duy Khánh hát thành công “Xuân này con không về” đến mức có nhiều khi, người ta tưởng chính ông là tác giả.
            Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, từ khi mà ca khúc chỉ được biết đến qua các giọng hát kinh điển của làng nhạc Việt như: Duy Khánh, Elvis Phương, Duy Quang, Chế Linh, Tuấn Vũ…, rồi đến Mạnh Quỳnh, Phi Nhung, Trường Vũ… thì nay, đã có biết bao nhiêu những thế hệ ca sĩ trẻ hơn tìm cách tái hiện lại Xuân này con không về, ở những phiên bản khác nhau, với bản hòa âm phối khí âm thanh hiện đại hơn, dàn nhạc dầy hơn, sử dụng nhiều loại nhạc khí tham gia hơn so với thời chiến khi Duy Khánh ghi âm ca khúc, như trường hợp của thế hệ các ca sĩ Quang Lê, Đan Nguyên, hay gần đây hơn nữa là các ca sĩ trẻ trong nước như Thùy Chi, Anh Khang, cũng đã không ngừng tìm tòi, biến đổi và làm mới ca khúc, nhưng vẫn giữ được cái hồn, cái cảm xúc cốt lõi của “Xuân này con không về”, và đó là điều minh chứng cho sự trường tồn của ca khúc.
            Quả thực, có đi xa nhà mới biết không nơi nào bình yên hơn bằng chính con đường trở về ngôi của nhà tuổi thơ, khi nghe những hơi thở của mùa xuân đang đến gần, người lữ khách không thể không chạnh lòng nghĩ về quê mẹ, tuy nghèo mà đầm ấm và nhớ tới lời hẹn ước sẽ trở về một ngày đầu xuân.
            Quay trở lại những hiệu ứng thành công xa hơn của nhạc phẩm “Xuân này con không về”, gần đây nhất, lại một lần nữa, các trang mạng xã hội, và đặc biệt là trên kênh Youtube, người yêu nhạc lại có dịp sửng sốt xôn xao bàn tán, khi một chàng trai có Nick name Thaptoan87, tung lên mạng Youtube bản hòa âm nhạc phẩm “Xuân này con không về”, qua những giai điệu vô cùng mượt mà, liêu trai của cây sáo trúc, thu hút được rất nhiều sự quan tâm của người nghe.
            Qua tìm hiểu, thì chàng trai đó là Giáp Văn Toàn, một kỹ sư quan trắc môi trường, đang công tác tại Hà Nội, mặc dù chỉ đến với cây sáo trúc bằng con đường tự học, mang tính amateur, tuy nhiên, nhạc bản “Xuân này con không về” do Giáp Văn Toàn độc tấu sáo trúc, thực sự đã để lại nhiều ấn tượng sâu đậm, chinh phục và hút hồn người nghe.
            Và đó cũng là nhạc bản khép lại chuyên mục âm nhạc tuần này của đài phát thanh quốc tế Pháp RFI. Trước thềm năm mới Giáp Ngọ 2014, xin được gửi tới cha mẹ ngàn lời cám ơn, cám ơn cha mẹ đã dạy cho con biết yêu thương, yêu thương con người, yêu thương cuộc đời, đã cho con một tuổi thơ hạnh phúc. Con biết xuân này lại không về, nhưng nhất định con sẽ về, sẽ trở về mái ấm xưa. Dù có xa nửa vòng trái đất, nhưng con vẫn mong những lời nhắn gửi yêu thương này sẽ đến được với tất cả những người mà con thương yêu.


ĐỨC BÌNH
Tháng 2/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140201-doi-dong-cam-nhan-ve-ca-khuc-xuan-nay-con-vang-nha

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 18/03/2017, 06:03:57
Ngày xuân bàn câu đối Tết

Không biết tự bao giờ, “câu đối đỏ” đã trở thành một trong những yếu tố quan trọng bậc nhất trong ngày Tết của người Việt. Mỗi độ xuân về, người người thi nhau tìm cho mình những câu đối hay nhất để treo ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Đó là một thú chơi tao nhã, một mỹ tục trong ngày Tết Nguyên Đán đã và đang được các thế hệ người Việt Nam ra sức gìn giữ. Nhân dịp xuân về, chúng ta cùng nhau dành chút thời gian thả hồn lãng du cùng câu đối Tết.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/cau-doi1_0.jpg)

TRONG CHƯƠNG TRÌNH hôm nay, giáo sư Nguyễn Khắc Thuần sẽ minh thị một số chi tiết đáng chú nhất của mỹ tục này. Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần hiện sống tại thành phố Hồ Chí Minh, ông là một học giả kỳ cựu và có nhiều công trình đóng góp quan trọng trong lĩnh vực lịch sử văn hóa Việt Nam.

Câu đối trong văn hóa truyền thống Việt Nam
Lê Phước: Thân chào giáo sư Nguyễn Khắc Thuần. Trước tiên xin chân thành cám ơn giáo sư đã nhận lời tham gia chương trình. Nhân dịp xuân về, Ban biên tập RFI Việt Ngữ tại Paris xin kính chúc giáo sư cùng toàn thể gia quyến một năm mới: Vạn sự như ý.
            Thưa giáo sư, câu đối là một thú chơi tao nhã thể hiện tinh hoa của chữ nghĩa. Vậy trước tiên, xin giáo sư cho biết đôi điều về câu đối trong văn hóa Việt Nam nói chung?
GS. Nguyễn Khắc Thuần: Thân ái chào quý vị và các bạn. Trước hết, cho phép tôi được gửi tới quý vị và các bạn lời chúc một năm mới mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công. Tôi xin được trình bày đôi điều tản mạn về câu đối Tết của người Việt.
            Người Việt chúng ta có truyền thống trọng chữ. Trong lịch sử, người Việt thường sử dụng nhiều loại chữ khác nhau. Nhưng ngày xưa, loại chữ quý giá và được tôn sùng nhất vẫn là chữ Nho, thường được gọi là “chữ của thánh hiền”. Trong lịch sử cũng có hai quy ước bất thành văn, thường được người Việt rất chú ý tuân thủ. Thứ nhất là không viết chữ khiếm nhã lên các tờ giấy, thứ hai là không vứt những tờ giấy có chữ vào chỗ rác bẩn.
            Vậy chữ được dùng để làm gì?
            Có bốn mục đích khác nhau. Một là để ghi chép sự việc, từ đó tạo ra văn tự, từ đó tạo ra khế ước. Hai là chuyển tải suy tư, từ đó tạo ra sử sách, từ đó tạo ra thi phú văn chương, triết lý.
            Thứ ba, chữ để làm quà tặng, từ đó tạo ra lời hay và ý đẹp. Xuân về người ta thường có những chữ như: Cung hạ tân xuân, xuất nhập bình an, vạn sự như ý, ngũ phúc lâm môn, khai trương hùng phát, bình bút hoa khai, an khang thịnh vượng… Đây là những chữ làm quà tặng quá quen thuộc, nên tôi xin phép không dịch lại. Và từ chỗ chữ làm quà tặng, nó tạo ra cả những câu đối-câu liễn với nhiều nội dung phong phú khác nhau.
            Mục đích thứ tư là chữ để trang trí công đường hoặc nhà ở, từ đó tạo ra thư họa hay thư pháp, từ đó tạo ra những bức tranh chữ.

Nét riêng của câu đối Việt
Lê Phước: Thưa giáo sư, trong văn hóa Trung Quốc và văn hóa Việt Nam đều có câu đối. Vậy không biết câu đối của người Việt ta có những nét đặc sắc gì?
GS. Nguyễn Khắc Thuần: Trong các thể cổ văn, câu đối được dùng rất phổ biến. Ở đây có ba vấn đề chúng ta cần lưu ý.
            Vấn đề thứ nhất, người Trung Quốc gọi câu đối là “đối liên”, và chia làm ba loại. Loại thứ nhất là “Tiểu đối”, tức mỗi vế có từ 4 chữ trở xuống. Loại thứ hai là “Thi đối”, mỗi vế là một câu đối ngũ ngôn hoặc một câu thất ngôn, cũng có khi gồm cả hai câu ngũ ngôn và thất ngôn. Loại thứ ba là “Phú đối”, tức là câu đối viết theo niêm luật của thể phú, là một thể cổ văn. “Phú đối” được chia thành: Câu đối “Song quan”, mỗi vế có từ 6 đến 9 chữ, ghép lại thành một đoạn; Rồi câu đối “Cách cú”, mỗi vế chia thành hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài; Rồi câu đối “Hạc tất”, mỗi vế có từ ba đoạn trở lên.
            Vấn đề thứ hai, trong câu đối người Việt, ta có thể chia làm mấy loại sau đây. Thứ nhất là câu đối Tết. Thứ hai là câu đối bày tỏ sự chung vui, ví dụ như chung vui lễ hội hay chung vui trong các cuộc giao lưu. Thứ ba là câu đối chia sẻ, ví dụ như chia sẻ về những tổn thất trong thiên tai địch họa, vì đau ốm hay trong các đám ma chay. Thứ tư là câu đối để chúc mừng, như câu đối mừng tân gia, mừng tân hôn, mừng đỗ đạt, mừng thăng quan, mừng sinh quý tử. Thứ năm là câu đối để ghi nhớ một sự kiện hay một vấn đề, ví dụ như trùng tu chùa chiền, đình miếu, tôn tạo hay xây dựng một số công trình công cộng, dựng bia…
            Vấn đề cần chú ý thứ ba, đó là câu đối người Việt thường được viết bằng nhiều loại chữ khác nhau, trong đó nổi bậc lên có ba loại chữ. Một là câu đối viết bằng chữ Hán. Với loại câu đối này, bạn đọc là những người trẻ tuổi, chưa có điều kiện tiếp xúc với chữ Hán, thì phải có người dịch ra mới hiểu được. Thứ hai là câu đối viết bằng chữ Nôm. Chữ Nôm là chữ viết của dân tộc, nhưng không phải ai cũng đọc được. Ngày nay, số người Việt đọc được chữ Nôm là quá ít. Thứ ba, là câu đối viết bằng chữ Việt hiện đại, và là câu đối phổ biến nhất hiện ngày nay. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, rồi trên các công sở hiện nay, câu đối viết bằng chữ Việt rất phổ biến.

Các loại câu đối Tết tại Việt Nam
Lê Phước: Trong các loại câu đối đó, thì câu đối Tết có vai trò như thế nào, thưa giáo sư?
GS. Nguyễn Khắc Thuần: Trong tất cả các loại câu đối, nổi bật hơn cả vẫn là câu đối Tết. Câu đối Tết trở thành sinh hoạt văn hóa rất phổ biến và lâu đời. Ngày nay tuy không ai dùng chữ Hán và chữ Nôm nữa, hay nói đúng hơn là quá ít người dùng chữ Hán và chữ Nôm, nhưng không phải vì thế mà câu đối ít đi. Xưa cũng như nay, câu đối trở thành một món quà không thể thiếu.
            Xem lại, câu đối Tết của người Việt có 07 loại sau đây:
            1) Loại câu đối Tết dùng chung cho tất cả mọi nhà, ai treo cũng được, gia đình sang hèn, nghèo giàu đều treo được. Ví dụ như câu:

                        Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
                        Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh


            Đây là câu đối viết bằng chữ Nôm. Rồi cũng có câu đối viết bằng chữ Hán mà nhà nào treo cũng được:

                        Lộc tiến vinh hoa gia đường thịnh
                        Phúc sinh phú quý tử tôn vinh


                        (Tài lộc dẫn đến sự vinh hoa, nhà thì ngày một thêm thịnh đạt
                        Phúc sinh ra sự phú quý, con cháu trở nên vinh hoa)

            2) Loại câu Tết thường để ở các đình làng hay công sở. Chẳng hạn như:

                        Chúc Tết đến trăm điều như ý
                        Mừng xuân sang vạn sự thành công

                        (Câu đối viết bằng chữ Nôm)

            Hoặc câu đối viết bằng chữ Hán:

                        Sơn thủy thanh cao xuân bất tận
                        Thần tiên lạc thú cảnh thần tiên


                        (Núi sông thanh cao, mùa xuân bất tận
                        Thần tiên vui vẻ lạc thú cảnh thần tiên ở nơi trần thế)

            3) Loại câu đối Tết thường để ở đền chùa miếu mạo. Ví dụ câu đối chữ Nôm sau đây:

                        Mừng xuân hỉ xả thêm công đức
                        Đón Tết từ bi bớt não phiền


            Hoặc câu đối chữ Hán:

                        Pháp luân vô ánh oanh thiên hạ
                        Tâm niệm vô thanh chấn tứ phương


                        (Pháp luân tuy không có tỏa sáng nhưng có thể làm run cả trời đất
                        Tâm niệm tuy không phát ra thành tiếng nhưng nó có thể gây chấn động cả bốn phương)

            4) Loại câu đối Tết thường có trong các nhà quyền quý. Ví dụ như:

                        Xuân tái đáo, môn tiền phúc đáo
                        Hoa hựu khai, thiên ngoại thi khai


                        (Xuân lại đến, trước cửa phúc lại đến
                        Hoa lại nở, ngoài trời thơ lại mở ra)

            Hoặc câu:

                        Tiên tổ phương danh lưu quốc sử
                        Tử tôn tích đức hiển gia phong


                        (Tổ tiên để lại tiếng thơm trong sử sách
                        Con cháu tích đức thì gia phong được hiển hách)

            Hay là:

                        Nhập môn tân thị kinh luân khách
                        Mãn tọa giai đồng cẩm tú nhân


                        (Vào cửa khách toàn là người hiểu kinh luân
                        Ngồi đầy nhà toàn là những bậc mặc áo gấm áo thêu, tức là những người sang trọng quyền quý trong xã hội).

            5) Loại câu đối Tết thường có trong các gia đình nghèo khó. Chẳng hạn như câu:

                        Tết đến gượng cười, mong con cháu chăm ngoan, nhà có dư gạo thóc
                        Xuân sang gắng vui, cầu vợ hiền mạnh khỏe, vườn đủ quả đủ rau


            Hay là câu:

                        Nợ nần theo gió lạnh bay đi, vợ lại tươi như hoa nở thắm
                        Của cải cùng khí ấm tràn vào, lòng chồng vui tựa trống hội vang


            Ta thấy ở đây là những ước muốn bình dị, thể hiện ước nguyện giản dị nhưng cũng rất sâu sắc và mãnh liệt của những người bình dân nghèo khó trong xã hội.

            6) Loại câu đối Tết viết theo lối tự trào, viết để cho vui, ai nghe cũng được, không phải treo ở đâu cả, mà để gắn vào tâm tưởng của mỗi người, kích động suy nghĩ của mọi người, và cùng vui với mọi người. Ví dụ như câu đối sau đây của Nguyễn Công Trứ:

                        Chiều ba mười nợ réo tít mù, co cẳng đạp thằng bần ra cửa
                        Sáng mồng một rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông phúc vào nhà


            Hoặc là câu đối sau đây của Hồ Xuân Hương, một nữ sĩ lừng danh cuối thế kỉ 18 đầu thế kỉ 19:

                        Tối ba mươi khép cánh càn khôn, ních chặt kẻo Ma Vương đưa quỉ tới
                        Sáng mồng một lỏng then tạo hóa, mở toang cho thiếu nữ rước xuân vào


            7) Loại câu đối Tết thường thấy trong các gia đình Việt Kiều.
            Tôi có dịp đi nhiều nước trên thế giới và gặp gỡ các Việt kiều, thấy trong gia đình họ cũng có những câu đối Tết. Đọc qua tôi thấy rất cảm động, chẳng hạn như:

                        Nghi ngút tỏa khói hương, xa đất mẹ vẫn nhớ về nguồn cội
                        Tôn nghiêm mâm ngũ quả, chốn quê người nặng trĩu nghĩa cố hương


            Hoặc như câu:

                        Xuân tha hương, vấn vương thương đất mẹ
                        Tết xa nhà, xao xuyến nhớ quên cha


            Đó là những lời thể hiện tình nghĩa nồng nàn đầm thắm của những người con xa quê, thực sự xứng đáng là dòng giống con Lạc cháu Hồng. Đó không chỉ là lời bày tỏ tình cảm, mà quan trọng hơn đó còn là lời thể hiện một truyền thống viết câu đối của người Việt dù ở bất cứ nơi đâu.
            Nhân dịp Tết đến, tôi hy vọng rằng, những câu đối hay của bà con Việt kiều lại tiếp tục lan tỏa từ gia đình này đến gia đình khác, từ địa phương này sang địa phương khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác. Và lời câu đối chính là lời nhắc nhở về một truyền thống lâu đời của dân tộc.

Thực trạng văn hóa câu đối Tết tại Việt Nam
Lê Phước: Thưa giáo sư, mấy mươi năm trước, trong bài thơ Ông Đồ, nhà thơ Vũ Đình Liên miêu tả cảnh câu đối Tết ngày càng bị “thất sủng”. Mở đầu bài thơ, Vũ Đình Liên Viết:

                        Mỗi năm hoa đào nở,
                        Lại thấy ông đồ già
                        Bày mực hàng giấy đỏ
                        Trên phố đông người qua
.

            Ngày tháng trôi qua, không biết hiện tại mỹ tục câu đối Tết tại Việt Nam có còn được lưu giữ không, thưa giáo sư?

GS. Nguyễn Khắc Thuần: Ở Việt Nam hiện nay, truyền thống viết câu đối Tết vẫn được lưu giữ và được phổ biến khá mạnh. Bằng chứng là trên tất cả các báo xuân, hầu như báo nào cũng có một vài câu đối, và thường là những câu đối viết bằng tiếng Việt hiện đại. Bằng chứng thứ hai, đó là ở nhiều thành phố lớn và các khu đô thị luôn luôn có những người ngồi viết câu đối Tết, và họ gọi đó là “ông đồ” mặc dù họ chỉ viết chữ Việt hiện đại chứ không phải là chữ Hán hay chữ Nôm.
            Tôi là thành viên của Hội đồng Tư vấn về kỷ lục, có lúc tôi đã chứng kiến sự hội ngộ của cả trăm ông đồ cùng viết câu đối. Tất nhiên, câu đối ở đây là những câu đối đã được phổ biến rộng rãi hoặc những câu đối chủ yếu do khách yêu cầu họ viết và viết câu đối theo thư pháp hiện đại.
            Đó là một trong những biểu hiện của việc tiếp nối truyền thống và phổ biến văn hóa câu đối Tết ở Việt Nam.
            Như đã nói ở trên, câu đối là một thú chơi tao nhã, nhưng rất khó chơi, nó thể hiện trình độ học vấn và chữ nghĩa của những người được gọi là có ăn có học. Các cụ thường cho rằng: “nếu thơ văn là tinh hoa của chữ nghĩa thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa”.

***

NGÀY XƯA, dân gian ta có tục đến gặp ông đồ xin chữ. “Xin chữ” là bởi vì trong làng xã các ông đồ – tức các nhà nho, được xem là người nắm giữ tri thức xã hội. Mỗi câu đối gồm có hai vế. Gọi là “câu đối” vì hai vế này phải “đối nhau” một cách tinh tế về mặt chữ nghĩa. Người xưa thường lấy câu đối ra để thử tài nhau, và lấy việc đối hay đối dở để đánh giá trình độ học vấn.
            Riêng về câu đối Tết, như giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã nói bên trên, ta thấy rằng, câu đối Tết đã trở nên phổ biến trong dân gian. Nó vẫn luôn còn đó chứ không hề bị mai một. Bên cạnh những bằng chứng đã nêu trên, ta còn thấy ở miền quê Việt Nam, ngày Tết nhiều người vẫn đi tìm mua câu đối Tết. Câu đối được viết bằng chữ Việt hiện đại người mua hiểu đã đành, nhưng có khi người ta còn mua cả câu đối viết bằng chữ Hán dù không biết trong đó nói gì. Không biết ý nghĩa cụ thể mà vẫn mua vì mọi người ai cũng hiểu rằng, tất cả các câu đối Tết đều có một mục đích chung là: cầu mong những điều tốt lành trong năm mới.
            Một điểm đáng mừng nữa, đó là hiện tại, không chỉ có hình ảnh “ông đồ già” mà đã xuất hiện nhiều “ông đồ” tuổi mới đôi mươi mặc áo dài khăn đóng ngồi viết câu đối Tết. Và như giáo sư Nguyễn Khắc Thuần đã nhận định, đó là một biểu hiện của việc bảo tồn và phát huy tinh hoa văn hóa dân tộc, mà cụ thể ở đây là câu đối Tết.
            Thưa quí vị, Tết Nguyên Đán là truyền thống lâu đời và có thể được xem là một bản sắc của văn hóa Việt Nam, trong khi đó câu đối Tết chính là một bản sắc của ngày Tết Nguyên Đán.Trong thời đại toàn câu hóa ào ạt như ngày nay, việc bảo tồn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là một yêu cầu cấp thiết để tránh việc các nền văn hóa trên thế giới bị đồng nhất. Trong ý nghĩa đó, tình trạng “khỏe mạnh” của câu đối Tết như đã nêu trên tại Việt Nam rõ ràng là một tin vui.
            Niềm vui đó hòa chung vào niềm vui bất tận của năm mới. Nhân dịp xuân về, chúng ta nâng ly cùng nhau tận hưởng niềm vui bất tận đó:

                        Già trẻ gái trai đều khoái Tết,
                        Cỏ cây hoa lá cũng mừng Xuân
.


LÊ PHƯỚC
Tháng 2/2013

http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130208-ngay-xuan-ban-cau-doi-tet

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 19/03/2017, 07:37:39
Tình thơ Nguyên Sa

Nhà thơ Nguyên Sa được nhắc đến nhiều qua tác phẩm “Paris có gì lạ không em” và những dòng thơ tình khác. Người bạn đời của ông chia xẻ về những tình huống của những cảm hứng ấy nhân ngày giỗ của người nghệ sỹ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/Nguyen_Sa_poetry_remembered_by_his_wife_TNga-04222008163350.html/080421-music_NguyenSA_305.jpg/image)
Nhà thơ Nguyên Sa và Vợ ở Paris năm 1954

TỪ MƯƠI năm nay vào thời điểm này của tháng Tư, bạn hữu với thi sĩ Nguyên Sa lại nhắc nhớ đến ông.
            Nguyên Sa Trần Bích Lan từ trần ngày 18 tháng Tư 1998. Thời gian trôi qua như thế là đã 10 năm. Đối với người thân yêu thì hẳn là những tháng năm đó dài… dài lắm. Irvine, thành phố mà ông cùng gia đình tới định cư, nơi ông sinh hoạt báo chí, thơ văn trong hai mươi năm cuối cuộc đời, chỉ cách đường Bolsa một quãng xa lộ.
            Từ xa lộ vào con đường này một chốc là thấy ngay thảm cỏ xanh mướt và khung cảnh êm ả của nghĩa trang, nơi an nghỉ của hầu hết người Việt vùng này. Thi sĩ Nguyên Sa được chôn cất tại đó, “hạt cát nguyên vẹn” óng ánh giữa chốn hồng trần, đã trở về với cát bụi.
            Từ ngày Nguyên Sa qua đời, vợ ông – nhân vật trong bài thơ độc đáo mang tên “Nga” – đã đóng cửa nhà in, và trung tâm băng nhạc.
            Với bà, Thy Nga có mối cảm tình đặc biệt, phải chăng vì cùng tên? Hay vì có một số điểm tương đồng? Lần này điện thoại sang thăm, Thy Nga yêu cầu bà đọc cho nghe thơ của ông. Bài gì thì chỉ nói tựa đề, là bà biết ngay ở trang mấy trong cuốn nào, như về bài thơ “Sợi tóc” khắc trên mộ Nguyên Sa, bà Nga thuật lại:

            “Mộ của Nguyên Sa gần một hồ nước nhỏ, như là trong góc một khu rừng nhỏ. Khi anh ấy làm bài thơ này, không ngờ nó lại giống nơi anh ấy được nằm ở đó:

Nằm chơi ở góc rừng này
Chưa thiên thu cũng đã đầy cỏ hoang
Xin em một sợi tóc vàng
Làm hoa khởi sự cho ngàn kiếp sau
Biết đâu thảo mộc bớt đau
Biết đâu có bản kinh cầu dâng lên?

Những vần thơ cuối
            “Khi biết là mình sắp ra đi, tinh thần vẫn bình thản, chấp nhận, anh ấy làm bài thơ “Thủy chung”. Thường thường, các cụ cứ dặn dò là chôn cất ra làm sao, nhưng mà Nguyên Sa vẫn tếu trong cái bài dặn dò như thế này:

                        … Anh nói anh muốn Saigon,
                        anh muốn đường Phan Thanh Giản,
                        anh muốn nước Mỹ, vùng biển Thái Bình,
                        anh muốn Montpellier, muốn Nice,
                        muốn Cannes, muốn Saint Tropez,
                        muốn tất cả những thị trấn miền Nam nước Pháp,
                        nhất là những thành phố quanh Địa Trung Hải,
                        nhưng anh chỉ có hai chân,
                        anh chỉ xin em ném dùm anh
                        xuống những mảnh đất đầu đời:
                        chỗ bãi phù sa anh tắm mỗi chiều,
                        con lộ mỗi ngày chúng mình cùng nhau đi học.

            Đó là khi người thi sĩ tếu dặn vợ là chôn cất ra làm sao”.

            Đọc đến câu này thì bà Nga đã rất xúc động. Thời gian cùng học ở Paris, gặp gỡ rồi yêu nhau, là quãng đời đẹp nhất của hai người. Do đó, những nơi mà sau khi từ trần, Nguyên Sa muốn linh hồn mình tìm về, là những địa điểm từng ghi dấu kỷ niệm một đời.

“Paris có gì lạ không em”
Thy Nga: Hay là mình đừng nói chuyện buồn nữa… Chị kể lại tình cảnh viết nên các bài thơ nhé, nhất là các bài mà nhiều người yêu thích, như “Paris có gì lạ không em”. Vì sao đang học mà lại có chuyện người phải ra đi, kẻ ở lại “Kinh thành hoa lệ”?
Bà Nga: Năm 1953, ông cụ thân sinh anh Lan mất tại Hà Nội. Anh Lan thấy cần phải ngưng học ở bên Pháp để về giúp đỡ gia đình, thế nhưng mà chị đang học đại học ở Paris thành ra anh ấy mới làm bài thơ:

                        “Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về, em có còn ngoan…”

tức là anh ấy đi Việt Nam rồi sẽ về lại Paris. Anh ấy mới hỏi:


                        “Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
                        Chả biết tay ai làm lá sen?”

là Chị có chịu theo anh ấy không?
            Đến lúc mà Chị bằng lòng thì mới là có cái bài “Nga”

                        “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
                        Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
                        Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
                        Ðể anh giận sao chả là nước biển!...”

            Tụi này chỉ có đi ra Mairie 15è làm đám cưới. Sinh viên du học mà lại sau khi Hiệp Định Genève chia cắt đất nước (gia đình không gửi tiền qua được) sinh viên Việt Nam ở bên ấy nghèo lắm. Tụi này không có nhẫn nữa mà. Thành ra in bài thơ Nga đề là thay cho thiệp báo hỷ. Cái bài thơ thì mọi người nghe thích quá, nói là ngộ nghĩnh. Xong rồi, bạn bè đông lắm, sinh viên thì đông lắm, kéo nhau sang cái quán cà-phê trước cửa, uống cà-phê, mọi người chung tiền trả phần cho cô dâu chú rể. Thế thôi!
            Cuối tháng 12 đó (năm 1955) là xuống tàu tại Marseille đi về Saigon. Về đến Sài Gòn thì cả hai vợ chồng đều đi dạy học. Cứ bước vào lớp là bị học sinh nó hát mấy câu đó, mình phải làm rất là nghiêm trang
”.

            Kế tiếp, Nguyên Sa cùng với vợ mở tư thục. Trong nắng ấm chan hòa ở Saigon, hình ảnh những tà áo dài, lụa nội hóa, gợi cảm hứng cho Nguyên Sa viết nên bài thơ “Áo lụa Hà Đông”.
            Thơ Nguyên Sa là thơ của những rung động tình yêu đầu đời, chân thành đến vụng dại, những xúc cảm mà ta khó thể có lại về sau.

                        “Không có anh, lấy ai đưa em đi học về
                        Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học…

                        Ai cầm tay cho đỏ má em hồng
                        Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…

                        Không có anh, lấy ai cười trong mắt
                        Ai ngồi nghe em nói chuyện thu phong
                        Ai cầm tay mà dắt mùa Xuân
                        Nghe đường máu run từng cành lộc biếc…”

                        (trích đoạn bài thơ “Cần thiết”)

            Đã biết bao chàng trai nhờ thơ Nguyên Sa để ngỏ ý với cô bạn mà mình thầm yêu trộm nhớ. Và cũng đã biết bao thiếu nữ học thuộc, hay là nắn nót chép, rồi ướp tập thơ Nguyên Sa để dưới gối mà dệt mộng:

                        “… Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
                        Những năm mười sáu, mắt nhìn mây
                        Cánh tay tròn ánh trăng mười bốn
                        Tiếng nhạc đang về dang cánh bay

                        Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
                        Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
                        Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
                        Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ…”

                        (trích đoạn bài thơ “Tám phố Sài Gòn”)

Dòng thơ và giòng đời
            Nhưng rồi, biến cố 1975 xảy tới, Nguyên Sa và vợ lại phải từ giã thành phố thân thương, lần này là Sài Gòn. Bà Nga cho biết là ông bà ra đi ngày 24 tháng Tư đến đảo Guam, rồi tới trại Pendleton miền Nam California.

Bà Nga: Chúng tôi ra khỏi Camp Pendleton từ tháng 7 năm 1975, sang Pháp để đoàn tụ với hai đứa con đang du học bên ấy. Chúng tôi được học bổng của Đại học Pháp, hai vợ chồng cùng đi học Cao học Kinh Tế tuy nhiên, được hai năm thì tôi sang Mỹ định cư. Nhà tôi ở lại học cho xong Cao học Kinh Tế, sang Cali sau đó một năm (năm 1978) nhưng rồi lại không xài cái bằng đó.
            Đầu tiên thì tôi đi làm tại Đại học UC Irvine. Nhà tôi lại còn đi học nghề điện tử, thì có cái bài thơ “Thi sĩ qua Mỹ làm thợ điện” đó. Ông ấy đi làm Electronic technician hai, ba tháng gì đó thì ông ấy chán cái sự đi làm, sáng đi chiều về, thành ra ông ấy đi làm báo Việt Nam từ năm 81. Tạp chí Đời đến khắp các nơi mà có người Việt tỵ nạn định cư, gửi sang Úc nữa. Đến năm 82 thì chúng tôi thành lập công ty (corporation). Tới năm 98 nhà tôi mất thì tôi đóng cửa cái business đó, tôi dẹp hết
.

            Nguyên Sa Trần Bích Lan từng dạy học (nhất là về Triết), mở tư thục, làm báo, viết văn, thành lập nhà in, và trung tâm băng nhạc, nhưng được biết đến nhiều nhất là về thơ, và nổi bật là các bài thơ tình của lứa tuổi đôi mươi.
            Được coi là “Thi sĩ của Tình Yêu”, Nguyên Sa qua bài “Chia tay” gửi lời “cám ơn những người yêu nhau, những người làm trăng thành trăng, biển thành biển, núi non thành núi non, làm suối trở thành ngọn suối tuyệt vời ca hát…”
            Và qua bài “Có phải em về đêm nay”, Nguyên Sa nói lên ý muốn được làm thơ đến hơi thở cuối cùng:

                        “… Vì lòng anh (em đã biết)
                        có bao giờ thèm khát vô biên
                        có bao giờ anh mong đừng chết, dù để làm thơ
                        nên tất cả chỉ vì yêu em
                        và làm thơ cho đến chết.”


            Thật thế, khi lâm bệnh nặng, Nguyên Sa vẫn làm thơ, các bài thơ chở đầy ký ức những ngày xa xưa, lẫn vào là các bài với chút hoang mang trước cái chết. Và trong bệnh viện, ông vẫn gắng điện thoại, dặn dò nhà in về việc in quyển thơ tập 4.
            Nga, người yêu và là người bạn đời, luôn luôn bên cạnh ông qua những trôi nổi của thế sự cho đến giây phút cuối của cuộc sống. Và như thế, câu hỏi của Nguyên Sa trong bài thơ “Paris có gì lạ không em”:

                        “Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm
                        Chả biết tay ai làm lá sen?”


đã được trả lời một cách trọn vẹn. Không chỉ là cái gật đầu, ưng thuận kết hôn, mà Nga nguyện làm chiếc lá sen ấp ủ hương cốm Nguyên Sa mãi mãi.
            Sau khi Nguyên Sa qua đời, chính bà đã tiến hành, in tất cả các tập thơ, sách, truyện, và cuốn hồi ký của ông.


THY NGA
Tháng 4/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/Nguyen_Sa_poetry_remembered_by_his_wife_TNga-04222008163350.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 21/03/2017, 15:56:50
Marguerite Duras và “Người tình”: Từ huyền thoại đến sự thật

Hè 3 tháng Sáu năm 1929, trên chuyến phà băng qua một nhánh sông Mêkông để đi về Sài Gòn, một nữ sinh trung học người Pháp tình cờ làm quen với một chàng công tử người Việt gốc Hoa, sống tại Sa Đéc. Người sau đó đã trở thành tình nhân của cô.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/0/512/288/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/024_236924_0.jpg)
Căn nhà của bà Marguerite Duras tại Sa Đéc

MỐI QUAN HỆ tình cảm này đã ghi lại một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn thiếu nữ và sau này trở thành nguồn cảm hứng cho ba tác phẩm văn học, làm nên tên tuổi nữ sĩ Pháp Marguerite Duras. Trong đó, tác phẩm “L’amant” (Người tình) đã đoạt giải Goncourt năm 1984, giải thưởng văn học danh giá của Pháp. Tác phẩm được đạo diễn Jean-Jacques Annaud chuyển thể thành phim cùng tên vào năm 1990.
            Trong loạt bài mùa hè có tiêu đề “Những nhà văn Viễn Đông” của nhật báo Le Monde số ra trung tuần tháng Tám này, Bruno Philips, tác giả bài viết “Marguerite Duras ở Sa Đéc: Những mối quan hệ nguy hiểm” đã có dịp quay lại vùng đất Nam Bộ năm xưa, tìm kiếm những vết tích còn đọng lại như để hiểu rõ thực tại trong toàn bộ không gian hư ảo của Duras. Cái “thực tại” mà Duras suốt cả cuộc đời mình luôn tìm cách chối bỏ. Và cả nghiền ngẫm nữa.
            “Tôi phải nói gì với bạn đây, khi ấy tôi mười lăm tuổi rưỡi. Đó là chuyến phà băng qua sông Mêkông”, câu mở đầu nổi tiếng của tác phẩm. Chính trên chuyến phà đó, mọi chuyện đã bắt đầu.
            Con phà năm xưa giờ không còn nữa. Thấp thoáng xa xa là hình bóng cây cầu hiện đại, được khánh thành vào năm 2000, bắc qua một nhánh sông Mêkông mà người dân bản xứ gọi là “Cửu Long” tức chín con rồng. Dấu ấn còn lại của con phà năm xưa giờ chỉ là chiếc cầu kè bê-tông vẫn còn nằm trơ ra phía sông. Tuy cảnh vật có thay đổi chút với thời gian, nhưng không gian của Duras như vẫn còn đọng lại đó: cũng dòng sông nặng trĩu phù sa, cuồn cuộn chảy xiết, lu mờ dưới làn mưa không ngớt.

Đông Dương: điểm xuất phát cho sự nghiệp của Marguerite Duras
            Phông cảnh nền đó đã được Jean-Jacques Anneaud tái hiện một cách trung thành trong bộ phim cùng tên, chuyển thể từ tác phẩm “Người tình” của Marguerite Duras. Người xem tại Việt Nam chắc cũng không khỏi ngỡ ngàng trước ống kính tài tình của đạo diễn, đưa một góc sông nước Hậu Giang hiện đại ngày nay trở lại với không gian Đông Dương những thập niên 20 của thế kỷ trước: một miền đất đậm chất Nam Bộ mộc mạc, giản dị của một thời còn là thuộc địa.
            Đây cũng chính là điểm xuất phát cho sự nghiệp văn chương của nữ sĩ Pháp Duras. Vùng đất Nam Bộ đó như là một phần xương thịt trong con người bà. Khi trả lời phỏng vấn nữ phóng viên người Ý, Leopoldina Pallota della Torre, Duras thổ lộ “Đôi khi tôi cũng nghĩ rằng sự nghiệp viết lách của tôi bắt đầu từ đó, giữa những cánh đồng, những khu rừng, và trong sự hiu quạnh. Có một đứa trẻ da trắng, gầy còm và lạc lõng mà người đó chính là tôi, giống người Việt hơn là Pháp, lúc nào cũng chân đất, không biết giờ giấc, không biết cách sống, thích ngắm chiều hoàng hôn trải dài trên sông, với khuôn mặt bị rám nắng”.
            Trở lại với chuyến phà nối đôi bờ một nhánh sông Mêkông, nơi diễn ra buổi đầu gặp gỡ của đôi tình nhân. Có thể nói buổi gặp định mệnh đó chính là cột mốc quan trọng cho cả cuộc đời nữ sĩ. Nó ám ảnh, đeo đuổi dai dẳng trong tâm hồn Duras, đến nỗi mà trong vòng bốn thập niên liên tiếp bà có đến những ba phiên bản khác nhau cho cuộc phiêu lưu tình cảm đó: Un barrage contre le Pacifique (tạm dịch là Đập chắn Thái Bình Dương – 1950), L’Amant (Người tình – 1984, giải Goncourt cùng năm), cho đến L’Amant de la Chine du Nord (Người tình Hoa Bắc – 1991).
            Nhân vật nam chính trên chuyến phà được bà tái hiện dưới ba nhân dạng khác nhau: Ông “Jo” da trắng trong tác phẩm đầu cho đến “công tử người Hoa”, tình nhân không tên trong tác phẩm “Người tình”. Riêng đến tác phẩm thứ ba “Người tình Hoa Bắc”, nhân vật huyền thoại lại được phác họa dưới một góc cạnh rất là điện ảnh. Cũng chính là anh chàng đó, nhưng lại điển trai hơn và cao to hơn so với nhân vật chính trong L’Amant: một kẻ nghiện ngập, nhu nhược và biếng nhác. Và đây cũng chính là con người thật ở ngoài đời.
            Theo nhà báo Laure Adler, người viết tiểu sử Marguerite Duras, nhân vật “công tử người Hoa” ngoài đời thật sự ra không mấy điển trai như nhân vật Léo trong tác phẩm thứ ba hay như trên phim. Anh ta thật sự rất giàu và rất lịch lãm, nhưng gương mặt xấu xí, bị hủy hoại vì căn bệnh đậu mùa. Thực tế này quả thật quá khác xa với những gì độc giả tưởng tượng, hay chí ít ra như những gì ta đã xem qua trong phim của Jean Jacques Annaud: một anh chàng cao to, gương mặt điển trai, lịch lãm với những cảnh ái ân nồng cháy, khát vọng nhục dục lồng trong một không gian lãng mạn đầy huyễn hoặc. Đây cũng chính là điểm bất đồng giữa nữ sĩ với đạo diễn. Annaud thì nghĩ đến việc khai thác câu chuyện tình giữa một cô gái Pháp mới lớn đầy khêu gợi với người tình gốc Hoa điển trai, trên một phông nền thuộc địa lãng mạn.

Marguerites Duras: “Người tình”, tiểu thuyết ba xu rẻ tiền!
            Nhưng đối với Marguerite Duras, cả “Người tình” lẫn hai tác phẩm còn lại là những quyển tự truyện về chính cuộc đời bà, về tuổi thơ và tuổi trẻ của bà tại cựu thuộc địa Đông Dương, nơi bà được sinh ra và lớn lên, dù rằng cho đến lúc gần cuối đời bà cũng không bao giờ chịu nhìn nhận. Bà nhắc đi nhắc lại là “Người tình” chỉ là một câu chuyện giả tưởng. Cuộc phiêu lưu tình ái đó không bao giờ tồn tại. Sự phủ nhận của nữ sĩ mãnh liệt đến mức bà chối bỏ cả tuyệt tác của mình một năm sau khi xuất bản. Duras nói rằng: “Người tình, chỉ là một quyển tiểu thuyết ba xu, rẻ tiền. Tôi viết nó trong một lúc say xỉn mà thôi”. Bởi vì Duras nghĩ rằng “chuyện đời bà chẳng có gì đáng để mà kể”.
            Chính vì vậy, trong suốt tác phẩm “Người tình”, các nhân vật chính là những kẻ vô danh, không tên gọi, được hiện ra dưới những cách gọi “cô gái” và “công tử người Hoa”. Trên chuyến phà ngày ấy, đưa “cô bé” đi về Saigon, còn có “anh chàng người Hoa”. “Cô bé” đó không ai khác chính là nữ sĩ, khi ấy cũng vừa được 15 tuổi. Còn “chàng công tử người Hoa”, ngoài đời tên thật là Huỳnh Thủy Lê, lúc ấy được 27 tuổi, là con trai của một điền chủ gốc Hoa sống tại Sa Đéc. Vào thời điểm đó, Marguerite Duras vừa đi thăm mẹ ở Sa Đéc về.
            Ta không khỏi tự hỏi vì sao Marguerite Duras lại có những thái độ tiêu cực đối với đứa con đẻ tinh thần của mình đến như vậy. Bà đã mất tổng cộng bốn thập niên để mà thêu dệt nên ba tuyệt tác, trong đó tác phẩm “Người tình” đã đoạt giải Goncourt năm 1984, một giải thưởng văn học cao quý của Pháp, đưa tên tuổi của bà ra toàn thế giới. Tác phẩm “Người tình” đã được dịch ra 35 thứ tiếng và hơn 2,5 triệu bản đã được bán chạy.

Marguerite Duras: hiện thân của sự nổi loạn
            Theo Bruno Philips, có lẽ chính vì tuổi thơ buồn tủi, đầy khó khăn, cô độc và thiếu vắng tình thương của gia đình đã dẫn nữ sĩ có những hành động “chối bỏ” kỳ quặc như thế. Sinh ngày 04/04/1914, tại Gia Định (tên cũ của Saigon), Marguerite Donnadieu, tên thật của nữ sĩ, là đứa con gái duy nhất trong một gia đình có ba anh em. Thế nhưng, nữ sĩ lại sớm chịu cảnh mồ côi cha khi vừa được bốn tuổi. Mẹ bà một giáo viên tiểu học, trải qua nhiều nhiệm sở Hà Nội, Phnom Penh, Vĩnh Long rồi sau này là hiệu trưởng một trường nữ sinh tại Sa Đéc (giờ là trường Trưng Vương). Tuổi thơ của nữ sĩ hầu như trải qua tại Đông Dương, nhưng giữa sự hung bạo của người anh cả, sự lạnh lùng và những cơn điên loạn của bà mẹ bởi nỗi ám ảnh thiếu thốn tiền nong.
            Chính vì vậy, Duras cũng có lần nhìn nhận rằng lúc ban đầu khi bà đến với “chàng công tử” triệu phú người Hoa đó cũng chỉ vì tiền. Trong tác phẩm “Người tình”, Duras có nói rằng bà không bao giờ kể cho mẹ bà biết mối quan hệ vụng trộm này. Nữ sĩ nhận thức được rằng, đấy sẽ là một điều sỉ nhục cho gia đình, cho mẹ bà. Nhưng với bản năng của người mẹ, nên có lẽ mẫu thân nữ sĩ cũng có những nghi ngờ.
            Đôi lúc bà vừa đánh đập cô con gái vừa gào thét “con gái bà là một con điếm, bà sẽ vứt cô ra ngoài, bà ước gì thấy cô chết bờ chết bụi và không ai muốn thấy cô nữa, cô ấy đã bị ô uế thanh danh, thà làm con chó còn hơn”. Trên thực tế, chưa bao giờ Duras được hưởng chút tình thương yêu của mẹ. Mọi tình thương và kỳ vọng mẹ bà đều dành trọn cho người anh cả, một kẻ hư hỏng, thô bạo, bê tha cờ bạc rượu chè, nghiện ngập, suốt ngày chỉ biết hành hung hai đứa em của mình.

Marguerite Duras: viết sách là để giải bày những điều thầm kín
            Cuộc đời của Marguerite hầu như tan vỡ, sống không chủ đích. Cuộc phiêu lưu tình ái đó cũng phản ảnh phần nào tâm trạng nổi loạn của bà như để bù đắp lại khoảng trống tình thương trong tâm hồn. Tuy nhiên, cho dù cuộc tình đó nó có thật hay không, điều đó đối với nữ sĩ cũng không có chút tầm quan trọng nào. Nó chỉ là một công cụ để Duras có dịp khuất lấp sự thiếu thốn về tinh thần và vật chất.
            Ngay từ đầu tiểu thuyết “Người tình”, Duras đã viết rằng: “Sử dụng chuyện viết lách không chỉ nhằm tái hiện sự việc dưới dạng huyền thoại mà còn là cách để tiếp cận với nhiều điều khác nữa, vẫn còn ẩn náu trong sâu thẳm tâm hồn mù quáng […]”. Đúng như là lời giải thích của nhà văn Laure Adler, người viết tiểu sử về Marguerite Duras, tham vọng của tác phẩm thể hiện “ao ước được giải bày hơn là để mà tự kể về mình”.
            Về phần nhân vật “người tình”, các nhân chứng hiếm hoi mà Bruno Philips, phóng viên báo Le Monde may mắn gặp được tại Sa Đéc cho biết sau khi chia tay với người bạn tình Pháp, Huỳnh Thủy Lê phải nghe lời cha lấy một cô gái rất xinh đẹp, con của một điền chủ giàu có khác tại Tiền Giang, nhằm cứu rỗi kinh tế gia đình do làm ăn thất bại. “Người tình gốc Hoa” của bà sau khi đám cưới còn sống chung lén lút với người em vợ.
            Sau thống nhất, Huỳnh Thủy Lê đã cùng gia đình di tản sang Mỹ. Vốn là người rất trọng truyền thống, trước khi mất ông có tâm nguyện muốn được chôn cất tại quê nhà Sa Đéc. Một người cháu của Huỳnh Thủy Lê buồn tủi cho tác giả Bruno Philips biết, các hậu thế trực tiếp của Huỳnh Thủy Lê hiện đều có cuộc sống giàu sang đây đó tại Mỹ hay Pháp, nhưng để ông mồ côi mả quạnh tại Sa Đéc, do vài đứa cháu nghèo khổ còn sót lại trông coi.


MINH ANH
Tháng 11/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20131108-marguerite-duras-va-tac-pham-%E2%80%9Cnguoi-tinh%E2%80%9D-tu-huyen-
thoai-cho-den-su-that

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 24/03/2017, 12:25:04
Vũ Thành An và những câu chuyện của 10 bài Không Tên

Sau 40 năm kể từ năm 1975, người yêu nhạc Việt Nam đã phải chia tay với rất nhiều những ca khúc một thời làm say mê trái tim của họ. Trong đó, có những bài Không Tên và những bản nhạc nổi tiếng khác của nhạc sĩ Vũ Thành An.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/on-grooto-peak-vta-05172015052500.html/vu-t-an.jpg/@@images/713e363a-caec-43c2-ae62-bf8b1616d3db.jpeg)
Nhạc sĩ Vũ Thành An

THẾ RỒI Tháng Bảy vừa qua, sau một thời gian khá dài, người yêu nhạc của ông đã có thể ngồi lắng nghe trực tiếp những ca khúc mình yêu thích trong một không gian thật, khi Cục Nghệ Thuật Biểu diễn cấp phép cho phổ biến 10 bài Không Tên và một số tác phẩm khác của ông như: Em đến thăm anh đêm 30, Đêm say, Đời đá vàng...

Viết lên cuộc đời mình bằng những bản nhạc Không Tên
            Chắc chắn, người hạnh phúc nhất, chính là tác giả. Hãy nghe Vũ Thành An bày tỏ niềm vui của mình và kể lại kỷ niệm của những bài Không Tên trong cuộc trò chuyện cùng Cát Linh:

            “Trong thời gian vừa qua, tôi rất hân hạnh được biết rằng những bài hát của mình được các bạn trẻ bên đấy yêu mến, thì mình vui chứ. Mình vui vì những gì mình làm mấy chục năm mà bây giờ các bạn trẻ sau này còn yêu thích nó. Là một người sáng tác thì tôi rất vui và hân hạnh có thêm số bạn mới. Và biết đâu rằng những bài hát đó đã sống được 50 năm rồi thì tôi hy vọng rằng nó sẽ sống thêm ít lâu nữa trong lòng người mến mộ mình”.

            Có ai đó đã ví von rằng, cuộc đời là những chuyến xe, đưa ta đi qua những miền đồng bằng êm ả, hay đồi núi, đèo cao gập ghềnh. Còn Vũ Thành An, thì ông viết lên cuộc đời mình bằng những bản nhạc Không Tên. Những bài hát này được ra đời vốn dĩ không theo trình tự thời gian như tên gọi:

            “Khi tôi ra tập Những bài Không tên vào năm 1969, 1970 gì đó, vì đó là nhu cầu cần phải ra một lúc 10 bài nên tôi sắp xếp lại những bài hát cũ tôi đã có, những bài nổi, bài chưa nổi tôi sắp xếp lại thành tập nhạc Mười bài Không tên”.

            Tuy là “không tên” nhưng hầu như mỗi một bài hát đều “ghi tên” với một cuộc tình. Những cuộc tình mà giờ đây, sau bao nhiêu năm nhìn lại, ông nhìn nhận là nhờ những cuộc tình không trọn vẹn, nhờ cuộc sống gia đình không yên vui cho nên ông mới sáng tác được những Tình Ca cho đời thưởng thức.
            Vũ Thành An tham gia các hoạt động văn nghệ và sáng tác từ năm 1960, khi còn là chàng học sinh lớp Đệ nhị trường Nguyễn Trãi. Bài Không tên số 2 và số 8 đã ra đời trong khoảng thời gian này.

                        “Lòng người như lá úa, trong cơn mưa chiều
                        Nhiều cơn gió cuốn, xoay xoay trong hồn
                        Và cơn đau này vẫn còn đấy
                        Chiều về không buông nắng, cho mây âm thầm
                        Một mình trong chiều vắng, nhớ đôi môi mềm
                        Ngày nào ân cần trao thân…”

                        (Bài không tên số 2)

            Ông cho rằng mình là người không có duyên với thi cử, có lẽ giống như Tú Xương ngày xưa. Ngược lại, gia tài âm nhạc của ông thì cho thấy khả năng sáng tác trong con người ông là thiên phú.
            Với tâm hồn lãng mạn và sự nhạy cảm của người nghệ sĩ, những cuộc tình đến trong đời ông, cho dù là những rung động thoáng qua hoặc đó là tình yêu ngắn ngủi không thành nhưng đều thường để lại trong ông sự khắc khoải, theo thời gian dài mới nguôi ngoai.

                        “Tình vui theo gió mây trôi
                        Ý sầu mưa xuống đời
                        Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
                        Mấy tuổi xa người
                        Ngày thần tiên em bước lên ngôi
                        Đã nghe son vàng tả tơi
                        Trầm mình trong hương đốt hơi bay
                        Mong tìm ra phút sum vầy…”

                        (Tình khúc thứ nhất)

Một ca khúc để kỷ niệm cuộc gặp gỡ
            Vào cuối năm đó, 1964, bài Tình khúc thứ nhất, nhạc của Vũ Thành An, lời của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn được chính nhà thơ hát lần đầu tiên trên Đài Phát thanh Sài Gòn và được sự tán thưởng nồng nhiệt của thính giả bấy giờ.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/vu-thanh-an-n-stories-of-10-unamed-song-cl-09272015085424.html/VTA-3_resize-400.jpg/@@images/6aa5df3f-c194-462b-b139-4f39fb56a54c.jpeg)
Nhạc sĩ Vũ Thành An

            Ca khúc được ông sáng tác theo lời yêu cầu của một người mà giờ đây ông xin được tạm gọi là người bạn thân. Người con gái này biết ông có khả năng sáng tác nên muốn ông viết một ca khúc để kỷ niệm cuộc gặp gỡ của hai người:

            “Một buổi khi tôi đi chơi từ Vũng Tàu về, buổi chiều ngồi trên xe đò về tôi nhìn thấy nắng chiều rất đẹp. Tự nhiên melody của Tình khúc thứ nhất nổi lên trong đầu. Tôi về đã viết melody đó xuống và lời đầu tiên là “Bài ca anh hứa cho em bấy lâu nay vẫn còn dang dở”. Hồi đó tôi làm việc tại đài phát thanh, có quen nhà thơ Nguyễn Đình Toàn, tôi có khoe melody đó với anh Toàn. Đương nhiên những lời ngu ngơ của tôi thì không hay. Anh có nói là để anh phổ thơ vào”.

            Tình khúc thứ nhất là bài hát được ra đời trong lúc trái tim của chàng nhạc sĩ Vũ Thành An đang say nồng với cuộc tình vui và êm đềm như áng mây trôi. Thế rồi bỗng dưng “Thần tiên gãy cánh đêm xuân. Bước lạc sa xuống trần. Thành tình nhân đứng giữa trời không. Khóc mộng thiên đường”.

                        “Nhớ em nhiều nhưng chẳng nói
                        Nói ra nhiều cũng vậy thôi
                        Ôi đớn đau đã nhiều rồi
                        Một lời thêm càng buồn thêm
                        Còn hứa gì?...”

                        (Bài không tên cuối cùng)

            “Bài Không tên cuối cùng” không có nghĩa là bài hát được sáng tác cuối cùng trong tập nhạc. Mà đó là nốt lặng cuối cùng trong khung nhạc ông dành cho cuộc tình của mình, cho một kỷ niệm khôn nguôi đến nhiều năm sau. Cho đến năm 1991, khi đến trại tỵ nạn Batawan ở Phi Luật Tân, niềm đau nguôi ngoai, ông viết lời nhạc thứ hai dành riêng cho người một thuở:

            “Năm 1965 mình đặt câu hỏi cho sự chọn lựa của người bạn của mình, “Con đường em đi đó, đúng hay sao em?” Có thể là đúng mà cũng có thể là không đúng. Đến 25 năm sau khi mà tôi viết lại, viết thêm một lời nữa, tức là 1991 thì tôi viết lại là “Con đường em đi đó, đúng đấy em ơi”. Quả thật là như vậy, bởi vì cô đã chọn lựa đúng. Trong suốt hai mươi mấy năm, trong khi tôi phải ở tù 10 năm thì cô sống tự do trong thế giới tự do. Nhìn về khía cạnh đó thì cô ấy đã đúng. Nếu cô ấy chọn lựa mình thì đương nhiên cô ấy sẽ ở trong sự đau khổ. Lúc đó cô ấy chọn con đường đó là rất đúng vì con đường đó đã đưa cô đi đến tương lai hạnh phúc và bình yên”.

            Người ta đến với nhạc của Vũ Thành An không chỉ vì những ca từ da diết chuyên chở tình yêu nồng nàn nhưng không có kết thúc viên mãn, mà còn vì những câu hát mang hình ảnh triết lý trong cuộc sống như “Triệu người quen có mấy người thân. Khi lìa trần có mấy người đưa”.
            Hay đó là sự thấu hiểu cái mất và cái có được trong cuộc đời:

                        “… Có một lần mất mát mới thương người đơn độc
                        Có oằn mình đớn đau mới hiểu được tình yêu
                        Qua dầm dề mưa tuyết mới vui ngày nắng về
                        Có một đời khóc than mới hiểu đời đá vàng...”

                        (Đời đá vàng)

            Năm 31 tuổi, ông loay hoay trong lần mò và leo mãi vẫn không qua được vách sầu. Cho đến 19 năm sau, khi đặt chân đến xứ người, thì ông mới nhận ra rằng để thấu hiểu được Đời đá vàng phải cần đến cả một đời khóc than. Ca khúc Đời đá vàng, còn được ông gọi là Bài Không tên số 40.
            Vẫn còn nhiều lắm những câu chuyện chưa được kể phía sau mười bài Không tên ấy. Nhưng mỗi một người khi nghe tình khúc của ông, sẽ có riêng một câu chuyện cho mình, một câu chuyện không tên trong muôn vàn câu chuyện trong đời.


CÁT LINH
Tháng 9/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/vu-thanh-an-n-stories-of-10-unamed-song-cl-09272015085424.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 26/03/2017, 13:40:18
Hai Bà Trưng và bài học “việc nước trước việc nhà”

Sử sách Việt Nam, dù mới dù cũ, đều dành phần trang trọng nói về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê, Việt Nam Sử Lược – Trần Trọng Kim hay Việt Sử Toàn Thư – Phạm Văn Sơn còn dành một chương riêng cho hai bà. Đó không phải ngẫu nhiên, mà bởi vì đây là cuộc khởi nghĩa đầu tiên của dân tộc Việt Nam thời Bắc Thuộc, bởi vì cuộc khởi nghĩa Trưng Trắc-Trưng Nhị có vai trò to lớn trong lịch sử Bắc Thuộc nói riêng và lịch sử Việt Nam nói chung. Và bởi vì cuộc khởi nghĩa này đã để lại những bài học quí giá mà đến hiện tại vẫn còn nguyên giá trị.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/HAI%20BA%20TRUNG.jpg)
Hai Bà Trưng khởi nghĩa (Tranh dân gian Đông Hồ)

Phất cờ nương tử
            Triệu Đà là tướng nhà Tần, nhân bên Trung Quốc loạn lạc mà nổi lên lập nghiệp ở vùng Quảng Đông-Quảng Tây. Năm 207 trước Công Nguyên (TCN), Triệu Đà đem binh thôn tính Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương. Nếu dựa theo Sử Ký của Tư Mã Thiên, thì Triệu Đà chiếm Âu Lạc vào năm 179 TCN. Thế nhưng, dù năm 207 hay 179 thì việc Triệu Đà đánh chiếm Âu Lạc cũng đã bắt đầu thời kỳ con cháu Hùng Vương bị ngoại bang đô hộ: Thời Bắc Thuộc.
            Nước Nam Việt của Triệu Đà tồn tại đến năm 111 TCN thì mất vào tay nhà Tây Hán. Sau đó, nhà Hán đổi Nam Việt thành Giao Chỉ bộ gồm 9 quận: Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Châu Nhai, Đam Nhĩ. Trị sở quận Giao Chỉ thời Đông Hán (23-220 Công Nguyên – CN) đặt ở huyện Mê Linh thuộc quận Giao Chỉ (Mê Linh sau này còn gọi là Phong Châu mà theo cách đọc của người Việt là Châu Phong). Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, quận Giao Chỉ tương đương với vùng Bắc bộ hiện tại.
            Nhà Hán đặt chức Thái Thú để cai trị mỗi quận, trên Thái Thú có quan Thứ Sử là người Trung Quốc có trách nhiệm giám sát các quận. Các Lạc hầu (văn quan), Lạc tướng (võ quan) dưới quyền Thái Thú coi việc trị dân như cũ. Họ vẫn giữ quyền thế tập và chỉ phải mỗi năm nộp thuế cống cho Thái Thú.
            Hai bà Trưng là con của lạc tướng huyện Mê Linh (tức Châu Phong) thuộc quận Giao Chỉ. Trưng Trắc là chị, kết hôn với Thi Sách – con trai của lạc tướng huyện Châu Diên cũng thuộc quận Giao Chỉ. Năm 34 CN, nhà Đông Hán cử Tô Định sang làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Tô Định là người bạo ngược, cai trị hà khắc, khiến dân tình ta thán. Vợ chồng Thi Sách muốn dấy binh khởi nghĩa để đánh đuổi ngoại xâm, nhưng chưa kịp khởi binh thì Tô Định đã đánh chiếm Châu Diên và giết chết Thi Sách vào năm 40 CN. Trưng Trắc thay chồng “phất cờ nương tử”, lãnh đạo nghĩa quân tiếp tục cuộc kháng chiến. Nhiều quận khác như Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng theo về dưới lá cờ Hai Bà Trưng. Quân Hai Bà Trưng nhanh chóng chiếm được nhiều thành trì. Tô Định bỏ chạy về nước và bị triều đình Đông Hán giáng chức. Còn Trưng Trắc thì lập tức xưng vương dựng triều Lĩnh Nam đóng đô ở Mê Linh.
            Năm 41 CN, nhà Hán phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân mang quân tiến đánh Hai Bà Trưng. Quân hai bà bị thua phải rút về giữ đất Cấm Khê (phía tây nam huyện Mê Linh). Cầm cự được 2 năm, đến năm 43 CN, quân Hai Bà Trưng bị Mã Viện tấn công phải chạy đến xã Hát Môn huyện Phúc Lộc (Phúc Thọ, Sơn Tây). Đường cùng, hai bà gieo mình xuống sông Hát Giang tự tận vào ngày 6 tháng 2 năm Quý Mão (43 CN).

Một số điểm cần khảo cứu thêm
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng tuy rằng sách sử nào cũng đề cập, nhưng hầu hết đều rất đại khái, thiếu chi tiết và còn nhiều điểm chưa rõ. Chẳng hạn như số lượng thành trì mà hai bà chiếm được khi khởi nghĩa, sách Đại Việt Sử Lược khuyết danh và An Nam Chí Lược của Lê Tắc hồi đầu thế kỷ 14, Đại Việt Sử ký Toàn Thư nhà Hậu Lê được biên soạn hồi thế kỷ 17, Khâm Đinh Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn thế kỷ 19, đều ghi là quân Hai Bà Trưng chiếm được 65 thành. Thế nhưng sách Việt Sử U Linh (Tập truyện về cõi u linh của nước Việt) của Lý Tế Xuyên thế kỷ 14 thì lại chép là 60 thành, Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ hồi thế kỷ 18 ghi là 50 thành.
            Tên họ của Trưng Trắc cũng có điểm cần khảo cứu thêm. Đại Việt Sử Lược chép: “Có Trưng Trắc người huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc Yên) là con gái của quan Lạc tướng”. Đại Việt Sử ký Toàn Thư thì ghi: “Tên húy là Trắc, họ Trưng. Nguyên là họ Lạc, con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, Phong Châu, vợ của Thi Sách ở huyện Chu Diên”. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục thì chép: “Vương vốn họ Lạc, lại có một tên họ nữa là Trưng. Là con gái quan lạc tướng huyện Mê Linh”. Hay như Thi Sách, thì đa số sách chép họ Thi tên Sách, nhưng cũng có sách cho rằng tên ông là Thi. Sử gia Phạm Văn Sơn trong cuốn Việt Sử Toàn Thư còn cho rằng Thi Sách tên đầy đủ là Đặng Thi Sách, tức cho rằng ông mang họ Đặng.

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng: Vì nhà hay vì nước?
            Bàn về cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, có một chi tiết tối trọng cần làm rõ, nếu không thì tất hẳn ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa này ít nhiều sẽ bị giảm sút. Chi tiết đó là: Nguyên nhân khởi nghĩa là gì: Vì thù nhà hay nợ nước?
            Sách Đại Việt sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê chép về nguyên nhân khởi nghĩa của Trưng Trắc như sau: “Xưa kia chồng bà Trắc bị Tô Định giết chết. Bà Trắc căm thù Tô Định, lại khổ vì nỗi Tô Định lấy pháp luật ràng buộc dân, bà bèn cùng em gái là bà Nhị khởi binh đánh”.
            Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn ghi: “Lúc bấy giờ Thái Thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo, giết mất chồng bà. Bà bèn cùng với em gái là Trưng Nhị dấy quân”.
            Đại Nam quốc sử diễn ca của Lê Ngô Cát hồi thế kỷ 19 cho biết:


“Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân”.

            Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hồi đầu thế kỷ 20 cho biết: “Năm Canh Tý (40), người ấy (Tô Định) lại giết chết Thi Sách… Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh cùng với em là Trưng Nhị nổi lên đem quân đánh Tô Định”.
            Đọc qua các đoạn trên ta có cảm giác rằng, Bà Trưng khởi binh đánh Tô Định trước hết là để trả thù Tô Định đã giết chồng bà là Thi Sách, tức mục đích chính của cuộc khởi nghĩa là vì trả thù nhà. Nếu quả thật như vậy, thì cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng mất đi ý nghĩa thật sự của nó!

Việc nước trước việc nhà
            Để hiểu chính xác nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, thiết nghĩ cần đi vào bối cảnh lịch sử của cuộc khởi nghĩa. Hồi ấy, chính sách cai trị của nhà Hán đối với Giao Chỉ vốn nổi tiếng hà khắc, cái cảnh bị ngoại bang đô hộ thì ngàn đời nay vẫn lắm nhọc nhằn. Sử cũ còn chép, nhiều văn thần võ tướng của nhà Hán khi loạn lạc chạy sang tỵ nạn ở nước ra để được yên ổn, rồi bọn người di cư này được thay thế dần quan lại bản xứ. Họ lại chiếm cả một số ruộng đất ở đây, dựa vào thế họ là người của “Thiên triều”. Bị xâm lăng về quyền hành, lại bị đẽo gọt cả về kinh tế, quý tộc cũng như nhân dân Giao Chỉ rất lấy làm căm phẫn.
            Trước khi Tô Định đến trấn nhậm Giao Chỉ, thái thú quận Giao Chỉ là Tích Quang. Người này có đường lối cai trị mềm dẻo, biết vỗ về dân, du nhập phong tục phương Bắc dạy cho dân bản địa. Thái Thú quận Cửu Chân là Nhâm Diên dạy dân trồng lúa bởi trước đó dân Việt chỉ biết chài lưới và săn bắt. Sử cũ cho biết, Nhâm Diên còn trợ cấp tiền cho trai gái đến tuổi cặp kê làm lễ cưới, nhờ đó mà lúc bấy giờ có tới hơn hai nghìn người được lấy nhau.
            Chính sách của Tích Quang và Nhâm Diên xoa dịu phần nào nỗi đau khổ của dân chúng. Nhưng đây chỉ là những hạt mưa hiếm hoi trên một cánh đồng bị hạn hán lâu ngày. Sự kiện này chỉ trì hoãn được cuộc nổi loạn nhất thời mà thôi bởi Giao Chỉ bộ khi ấy như một thùng thuốc nổ chỉ đợi người ta ném xuống một chiếc que diêm là phát nổ ngay lập tức.
            Huống chi câu chuyện về lòng tốt của hai vị Thái Thú nói trên chưa chắc có thật như lời nhận xét của vua Tự Đức trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục: “Triệu Đà vốn là người Trung Quốc, làm vua trên nước Nam Việt và truyền nối đã ngót trăm năm. Xem bức thư trả lời Văn Đế nhà Hán thì Triệu Đà vốn là người có học thức; có lẽ nào lại chưa biết dạy dân phép cấy cày và lễ giá thú mà phải đợi bắt đầu từ hai Thái Thú ấy? Huống chi, lại bảo đồng thời có tới hơn hai nghìn người lấy nhau. Xem thế đủ thấy rõ rằng ghi chép thất thực, không đủ tin”.
            Năm 34 CN, Tô Định được nhà Đông Hán phái làm Thái Thú quận Giao Chỉ. Sách sử Việt Nam tất cả đều thừa nhận một điểm: Tô Định là người tàn bạo. Đại Việt Sử ký Toàn Thư đánh giá: “Thái Thú Giao Chỉ là Tô Định chính sự tham lam tàn bạo”, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục cũng cho rằng: “Thái Thú Tô Định cai trị tham lam và tàn bạo”, Lĩnh Nam Chích Quái chép: “Tô Định ở Giao Châu rất tham bạo”, Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca nhận định: “Đến như Tô Định là người chí hung”, Việt Nam Sử Lược bàn: “Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao Chỉ đã có lòng oán hận lắm”.
            Qua đó mới thấy, người Việt lúc bấy giờ oán hận Tô Định lắm, bởi thế họ mới đứng lên khởi nghĩa dưới ngọn cờ của vợ chồng Thi Sách để đánh đuổi ngoại bang. Chủ tướng của họ là Thi Sách lại bị Tô Định giết. Thù càng thêm sâu, hận càng thêm lớn, bởi vậy họ chiến đấu càng anh dũng và thiện chiến, và đã đạt được thắng lợi khi giành được độc lập cho dân tộc ngót 3 năm.
            Như vậy ta hiểu rằng, nếu Thi Sách không bị giết thì cuộc khởi nghĩa sớm muộn gì cũng vẫn nổ ra, việc Tô Định giết Thi Sách đã thúc đẩy cuộc khởi nghĩa tiến gấp mà thôi và khiến cho lòng thù hận của người Việt càng lớn, đến mức mà dù thua thiệt mọi bề so với kẻ thù nhưng quân Hai Bà Trưng vẫn giành được chiến thắng.
            Ngoài ra, nên nhớ rằng, nếu lòng người không thù ghét Tô Định và phản đối sự đô hộ của nhà Hán, và nếu sự thù ghét không lớn, thì ai lại có thể vì cuộc báo thù của một cá nhân mà nổi lên như giông bão như vậy? Dân Giao Chỉ, Cửu Chân nổi lên ủng hộ Hai Bà Trưng thì còn có thể cho rằng họ làm thế vì họ là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của quí tộc quận Giao Chỉ, chứ còn dân Nhật Nam, Hợp Phố là những dân ở xa ảnh hưởng của quý tộc Giao Chỉ mà còn nổi lên ủng hộ Hai Bà Trưng, đủ thấy mục tiêu của họ không phải để giúp một người trả thù cá nhân, mà là vì nghĩa lớn của dân tộc.
            Tóm lại, khi mà toàn dân nổi lên chiến đấu thì cuộc chiến đấu phải là vì nghĩa lớn của cả dân tộc, chứ không bao giờ vì quyền lợi của một cá nhân, dù cá nhân đó có nhiều uy vọng đến đâu!

Hào khí nhất trời, danh truyền thanh sử!
            Đọc kỹ Đại Nam quốc sử diễn ca ta thấy có đoạn:


“Đến như Tô Định là người chí hung.
Bà Trưng quê ở châu Phong,
Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.”

            Theo đó ta thấy rằng, nguyên nhân khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là “Giận người tham bạo thù chồng chẳng quên”, tức có hai nguyên nhân: “Giận người tham bạo” và “Thù chồng”. Trong hai nguyên nhân đó, ta lại thấy việc “Giận người tham bạo” được đặt trước “Thù chồng”, tức “việc nước trước việc nhà”. Tức đánh đuổi kẻ cai trị bạo ngược đúng như mục đích mà vợ chồng Trưng Trắc đồng lòng đặt ra cho cuộc khởi nghĩa, nhưng khi chồng bà bị giết, thì ngọn lửa thù hận càng trở nên mãnh liệt hơn.
            Thiên Nam Ngữ Lục ghi rằng, trước khi xuất binh đánh Tô Định Trưng Trắc đã đăng đàn khấn thiên địa như sau:


“Tôi là con gái phụ nhân,
Thời loạn ơn chúng lập thân trợ đời”

            Qua lời tế cáo trời đất trên ta thấy rõ ràng cái chí của bà Trưng là “Trợ đời”, giúp nước trong thời loạn. Ta thấy toát lên một hào khí anh hùng nào thua kém đấng mày râu: “Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”.
            Việt Sử Tiêu Án và một số sách sử khác còn ghi nhận một chi tiết: Khi Trưng Trắc ra quân, chưa hết tang chồng, bà ăn mặc quần áo đẹp, các tướng hỏi, bà trả lời rằng: “Việc binh phải tòng quyền, nếu giữ lễ làm dung nhan xấu xí, thì tự làm giảm nhuệ khí, nên ta mặc đẹp để làm cho thế quân hùng tráng; vả lại lũ kia thấy thế, tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu, thì ta có dễ phần thắng”. Qua đó ta càng thấy rõ chí khí đặt việc quốc gia lên trên hết của Bà Trưng. Nếu là một nhi nữ thường tình, bị chuyện chồng con kìm hãm thì làm sao có được dũng mưu và cách ứng xử như vậy.
            Chí khí anh hùng của hai bà Trưng được các sử gia không tiếc lời ca tụng. Trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Lê Văn Hưu nói: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà, hô một tiếng mà các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, có thể thấy hình thế đất Việt ta đủ dựng được nghiệp bá vương. Tiếc rằng nối sau họ Triệu cho đến trước họ Ngô, trong khoảng hơn nghìn năm, bọn đàn ông chỉ cúi đầu bó tay, làm tôi tớ cho người phương Bắc, há chẳng xấu hổ với hai chị em họ Trưng là đàn bà hay sao?
            Vua Tự Đức phê trong Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục như sau: “Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!
            Sử gia Nguyễn Nghiễm đời Hậu Lê bàn rằng: “Bà Trưng Vương nổi giận, khích lệ đồng bào, nghĩa binh đi đến đâu, gần xa đều hưởng ứng, 50 thành Ngũ Lĩnh đều khôi phục được hết, dân sự đang khổ sở đắng cay, lại được trông thấy mặt trời. Bà quả là bậc anh hùng hơn người nhiều lắm, tuy rằng một đám quân mới tập hợp, mới nhóm lên đã tan vỡ, nhưng cũng hả được lòng phẫn uất của thần, nhân”.
            Sử gia Trần Trọng Kim cũng không tiếc lời ca ngợi: “Hai bà Trưng làm vua được ba năm, lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghĩa lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời”.
            Rõ ràng, nếu Trưng Trắc khởi binh chỉ vì trả thù chồng hoặc chủ yếu vì trả thù chồng, thì sử gia các thế hệ và ngay cả vị hoàng đế trí thức nhất triều Nguyễn là Tự Đức đã không phải tốn lời ca tụng đến thế!

Vai trò Hai Bà Trưng trong lịch sử
            Bàn về vai trò của Hai Bà Trưng trong lịch sử Bắc Thuộc nói riêng và trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, phó giáo sư-tiến sĩ sử học Hà Minh Hồng, trưởng Khoa Lịch sử Trường Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân văn Thành Phố Hồ Chí Minh cho rằng:

            “Đối với lịch sử thời Bắc Thuộc nói riêng, thì ta thấy khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 nổ ra và thắng lợi mới chỉ kết thúc hơn một thế kỷ đầu của thời kỳ Bắc Thuộc, tức từ năm 179 TCN cho đến năm 40 mà thôi. Nhưng thắng lợi này có vai trò mở đường cho 10 thế kỷ sau đó, tức từ thế kỷ thứ Nhất đến thế kỷ thứ Mười. Dân tộc Việt Nam liên tục nổi dậy khởi nghĩa, cho đến khi giành được quyền làm chủ và thoát hẳn ra khỏi chế độ Bắc Thuộc ấy”.

            Hơn 1.000 năm, từ năm 179 TCN cho đến năm 907, các đế chế phương Bắc muốn áp đặt một chế độ cai trị áp bức, và hơn thế nữa, họ thực hiện một sự thủ tiêu nền văn hóa Văn Lang-Âu Lạc, đồng hóa văn hóa dân tộc, xóa bỏ quốc gia dân tộc này như là họ từng xóa bỏ Bách Việt vậy. Nhưng người Việt từ Hai Bà Trưng và sau Hai Bà Trưng đã dùng biện pháp bạo lực để chống lại bạo lực, chống lại ách đô hộ ngoại bang, chống lại đồng hóa, kết hợp với nhiều biện pháp khác để mà chống lại sự đô hộ tàn bạo của phương Bắc. Có vậy thì mới kết thúc được chế độ Bắc Thuộc, chứng tỏ là đất Việt, người Việt đến đầu Công Nguyên đã hoàn toàn đủ sức để dựng nghiệp bá vương không thua gì phương Bắc.

Chống ngoại xâm là một trong những dòng chảy mạnh mẽ nhất của suối nguồn lịch sử dân tộc
            Còn trong lịch sử dân tộc hàng ngàn năm, tính từ thời Hùng Vương, chúng ta thấy rằng, chống ngoại xâm là một trong những dòng chảy mạnh mẽ nhất của suối nguồn lịch sử dân tộc. Trong dòng chảy mạnh mẽ ấy có mặt mọi người Việt, và trong cái mọi người Việt ấy có cả những phụ nữ chân yếu tay mềm dám đứng lên làm nữ tướng. Trưng Trắc và Trưng Nhị là những nữ tướng mở đầu cho những nữ tướng Việt. Từ đầu Công Nguyên thì những nữ tướng này đã quyết tâm đền nợ nước trả thù nhà. Về sau thì còn có những nữ tướng khác như Bà Triệu thế kỷ 3, Bùi Thị Xuân thế kỷ 18… Tất cả đều vì lý lẽ đền nợ nước trả thù nhà cả.
            Hai Bà Trưng là hình ảnh thật chứ không phải là hình tượng văn học. Bà Triệu, Bùi Thị Xuân… cũng là những hình ảnh thực như thế. Những hình ảnh thực ấy của các nữ tướng lại có tính tượng trưng cho các giới trong xã hội-quốc gia, biểu tượng cho tinh thần của cả dân tộc, buộc phải đứng lên chống ngoại xâm, chống ách đô hộ tàn bạo của ngoại bang. Họ không phải là không biết phận chân yếu tay mềm, nhưng họ đã tỏ rõ cho tất cả mọi người thấy được một lẽ tự nhiên là, dù chân yếu tay mềm cũng có thể làm được việc lớn là đền nợ nước trả thù nhà. Họ đã làm được, cùng với các tầng lớp khác, cùng với toàn dân Việt, không chịu sống quỳ, không chấp nhận sự bảo hộ.
            Cho nên dù phương Bắc hay phương Tây, dù thời thượng cổ hay thời trung đại, thời cận đại hay hiện đại, dù xa xưa hay ngày nay cũng đều vậy thôi: những người chân yếu tay mềm, những dân tộc như thế, không chấp nhận việc áp đặt cho dân tộc Việt Nam một nền cai trị áp bức dân tộc được.

Hai bài học lịch sử
            Sử gia Hà Minh Hồng rút ra hai bài học lịch sử từ cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng như sau:

            “Bài học đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là bài học “đền nợ nước trả thù nhà”. Bài học này được toát lên trong lí do mà hai chị em Trưng Trắc-Trưng Nhị đã tuyên bố khi phất cờ nương tử:


“Một xin rửa sạch nước thù,
Hai xin đem lại nghiệp xưa họ hùng.
Ba kẻo oan ức lòng chồng,
Bốn xin vẻn vẹn sử công lênh này”.

            Ở đây, một, hai, ba, bốn không phải chỉ là việc xếp đặt 1, 2, 3, 4 để gieo vần, mà là muốn nói phải biết xếp nợ nước trên thù nhà, quốc gia trên dòng họ. Chỉ có như vậy mới thu được ba quân của 65 thành trì của Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Chỉ có như vậy thì mới nổi dậy lật đổ ách thống trị tàn bạo của giặc Hán được.
            Bên cạnh đó, cũng nên thấy một bài học nữa dưới cờ nương tử của năm 40 ấy, đó là bài học về sự đoàn kết, cố kết vì “nghiệp xưa họ Hùng”. Chỉ có sức mạnh đoàn kết ấy để nhứt hộ vạn ứng thì mới có thể “Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thùy”. Và sau đó là xưng vương, lập triều Lĩnh Nam đóng đô ở Mê Linh. Như vậy là sức mạnh đoàn kết từ trong nhà ra ngoài. Từ trong nhà tức là từ chị em Trưng Trắc-Trưng Nhị, và các chị em ở trong dòng họ, ở quê hương ấy, rồi ra đến bên ngoài, đến cả nước như thế, cả 65 thành trì như thế, cả Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Như vậy thì mới đủ sức để chống chọi với kẻ thống trị tàn bạo và dựng nghiệp bá vương sánh cùng phương Bắc.
            Tôi cho rằng, những bài học từ mùa xuân năm 40 ấy đến nay vẫn còn nguyên giá trị
”.

            Hai ngàn năm giở lại trang sử cũ, ta thấy rằng trong cái mà người ta thường nói “Trăm năm đô hộ giặc Tây, ngàn năm đô hộ giặc Tàu”, thì trong cái “Ngàn năm đô hộ giặc Tàu” đó, cuộc khởi nghĩa thắng lợi giành lại độc lập dân tộc đầu tiên lại do phụ nữ lãnh đạo. Thế mới biết cái tài của phụ nữ Việt Nam, thế mới hiểu được vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch sử hào hùng của dân tộc.
            Hai ngàn năm giở lại trang sử cũ, qua câu chuyện Hai Bà Trưng, ta lại được thêm một lần ôn về hai truyền thống quí báu của dân tộc Việt Nam là tinh thần đoàn kết chống giặc ngoại xâm và truyền thống “việc nước trước việc nhà”, đặt lợi ích cộng đồng dân tộc lên trên hết. Đó cũng chính là hai sức mạnh phi thường của dân tộc Việt Nam, đã giúp dân tộc Việt Nam vượt qua biết bao bão táp ngoại xâm để giữ vững nền tự do độc lập.


LÊ PHƯỚC
Tháng 10/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121012-hai-ba-trung-va-bai-hoc-%E2%80%9Cviec-nuoc-truoc-viec-nha%E2%80%9D

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 29/03/2017, 12:50:25
“Người tình” Gia Long, Trưng Vương… trong các ca khúc

Gia Long, Trưng Vương, Đồng Khánh là những trường nữ trung học nổi tiếng ở Việt Nam trước năm 1975. Rất nhiều những tản văn, thơ được viết lên trong đó nhắc đến tên những ngôi trường một thời là niềm tự hào cho những người được ngồi dưới mái trường ấy. Âm nhạc cũng thế. Gia Long, Trưng Vương, hay trường Văn khoa, trường Luật xuất hiện trong một số nhạc phẩm trước năm 1975.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/gia-long-trung-vuong-named-in-love-songs-cl-05222016115624.html/Pij2erGsOlQaWQdPxpQBI7TPotEbbo.jpg/@@images/3e179a61-9c9a-4f73-84e2-a1165320f6b2.jpeg)
Nữ sinh trường Gia Long

                        “Đường xa cô gái Gia Long về đâu
                        Dừng chân cho nhắn thăm cô vài câu
                        Bao cô dưới cùng mái trường
                        Khi xưa đã tặng hoa mừng
                        Nay có còn theo bước thương không
                        Người trai lính chiến em hằng chờ mong
                        Ngày vui sông núi anh lập đầu công
                        Hoa xưa vẫn vẹn sắc màu
                        Trao anh chiếm trọn tâm lòng
                        Một bóng hình em đã ghi sâu…”

                        (Cô nữ sinh Gia Long)

            Gia Long, ngôi trường nữ trung học nổi tiếng nhất Việt Nam trước năm 1975, là niềm tự hào của biết bao nhiêu nữ sinh thời ấy. Và có thể nói, cho đến tận bây giờ, hai tiếng Gia Long vẫn có thể thay cho tiếng chào kết bạn, là sợi dây kết nối khi họ tình cờ gặp nhau ở bất cứ nơi nào trên thế giới, là niềm tự hào của người thiếu nữ trưởng thành trong một nền lễ giáo của gia đình miền Nam thời ấy.
            Một điều thú vị ít ai biết, đó là nhạc sĩ Phượng Linh, tác giả ca khúc Cô nữ sinh Gia Long, cũng chính là nhạc sĩ khoác áo lính Nguyễn Văn Đông, người viết lên những nhạc phẩm xuân nổi tiếng.
            Không phải ngẫu nhiên mà nhạc sĩ Phượng Linh (Nguyễn Văn Đông) chọn tên ngôi trường trung học nổi tiếng nhất Việt Nam lúc ấy là Gia Long để đưa vào ca khúc của mình, và kể lên một câu chuyện tình giữa cô nữ sinh và người lính chiến. Là một người lính nên ông đã diễn đạt rất rõ nét mối tình lãng mạn, thủy chung son sắt của người thiếu nữ và lý tưởng của người trai thời loạn.
            Võ Thị Hai, một cựu nữ sinh Gia Long, hồi tưởng lại một thời áo trắng của bà và của những người cùng thế hệ:

            “Có lẽ đại đa số cựu nữ sinh Gia Long chọn người yêu đi lính là một sự vô tình, không phải là sự chọn lựa. Vì thời đó là thời loạn, đại đa số thanh niên phải đi nhập ngũ, làm nghĩa vụ của người trai. Có những người trở về, có những người mất tích, một thiểu số ở lại nếu họ bị thương.
            Những mối tình của nữ sinh Gia Long rất trong sáng, tuyệt đặt trong vòng lễ giáo, không bao giờ vượt quá lễ nghi của gia đình miền Nam Việt Nam lúc đó
”.

            Cuộc tình của cô nữ sinh và người chiến sĩ trong nhạc phẩm của Phượng Linh là một trong rất nhiều cuộc tình khác đã nảy sinh trong thời kỳ loạn ly ấy. Ông gọi cô gái của mình với cái tên chung là cô nữ sinh Gia Long, đơn giản như món quà là màu hoa thép súng của người lính trao tặng cô ngày anh lập chiến công.

                        “Này cô xuân nữ Gia Long thành đô
                        Màu hoa thép súng xin dành tặng cô
                        Hoa em vẫn vẹn sắc màu
                        Trao anh chiếm cả tấm lòng
                        Một sắc màu em đã ghi sâu
”.

TRÊN MỘT con đường khác ở Sài Gòn, có một ngôi trường mà tên gọi đã đi vào một ca khúc nổi tiếng từ thập niên 60.
            Ai đã từng đi qua hàng cây trên con đường Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày xưa thì sẽ hiểu vì sao chỉ một mùa thu qua, mà nhạc sĩ Nam Lộc đã bâng khuâng với cảm giác nắng vương nhẹ gót chân, với lá rơi đầy sân. Cảm giác ấy có lẽ sẽ được những nữ sinh Trưng Vương ngày đó mang theo trong ký ức của họ đến mọi nẻo đường trong cuộc đời.

                        “Tim em chưa nghe rung qua một lần
                        Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
                        Tình trần mong manh như lá me xanh
                        Ngơ ngác rơi nhanh...

                        (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

            Trưng Vương khung cửa mùa thu, là sáng tác của nhạc sĩ Nam Lộc chuyển lời Việt từ ca khúc Tell Laura I love her.
            Nếu bài hát gốc là một câu chuyện buồn, một cuộc tình lãng mạn nhưng với kết cuộc có thể lấy đi nước mắt của nhiều người, thì Trưng Vương khung cửa mùa thu của Nam Lộc hoàn toàn mang một sắc màu khác, một nét rất riêng của Trưng Vương, của Sài Gòn.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/gia-long-trung-vuong-named-in-love-songs-cl-05222016115624.html/trung-hoc-tv-4a.jpg/image)
Nữ sinh trường Trưng Vương

            Bước ra từ bài hát cũng là một cuộc tình nhưng đó là cuộc tình tuổi học trò hồn nhiên, ngây thơ, dịu dàng với cô nữ sinh trong tà áo dài trắng. Có vẻ như Nam Lộc đã chọn những hình ảnh thật nhất, mềm mại nhất, thanh khiết nhất để đặt vào ca khúc của mình. Với những ngôn từ đầy chất thơ, ca khúc dường như đã chạm được vào những tâm tư sâu lắng nhất của cô nữ sinh trường Trương Vương vào tuổi vừa biết yêu.

                        “Người mang cho em nghe môi hôn ngọt mềm
                        Tình cho tim em rung những đêm lạnh lùng
                        Từng chiều cùng người
                        Về trong cơn mưa bay
                        Nghe thương nhớ tràn đầy
                        Lên đôi mắt thật gầy
                        Trưng Vương hôm nay mây vẫn giăng đầy trời…”


PHƯỢNG LINH, NAM LỘC, mỗi người nhạc sĩ đã chọn cho mình một ngôi trường để lưu lại tình yêu của tuổi trẻ một thời. Và hai ngôi trường nổi tiếng ấy lại được cố nhạc sĩ PHẠM DUY nhắc đến với những tình cảm mượt mà trong cùng một nhạc phẩm của ông. Với ông, Trưng Vương, Gia Long, Văn Khoa, mỗi ngôi trường, là một “người tình”. Ông yêu người tình ấy, yêu cả con đường dẫn đến ngôi trường đó.

                        “Hỡi người tình Văn Khoa,
                        Bóng người trên hè phố
                        Lá đổ để đưa đường
                        Hỡi người tình Trưng Vương
                        Hỡi người tình Gia Long,
                        Hỡi người trong cuộc sống
                        Con đường này xin dâng
                        Cho người bình thường
                        Hỡi người tình xa xăm,
                        Có buồn ra mà ngắm
                        Con đường thảnh thơi nằm
                        Nghe chuyện tình quanh năm...”

                        (Con đường tình ta đi)

            Ký ức bao giờ cũng đẹp, cũng làm cho người ta dễ thấy bồi hồi khi chạm đến dù chỉ là một mảnh nhỏ. Chính vì vậy mà có lẽ chẳng bao giờ thời gian có thể làm phôi pha những tên gọi Trưng Vương, hay Gia Long, Đồng Khánh, hay trường Văn Khoa, trường Luật trong ký ức của những người một thời thuộc về nơi đó. Đi đôi với những hoài niệm còn là niềm tự hào, khi mà sau một đoạn đường dài gặp lại nhau, họ chào nhau bằng tên gọi của chính ngôi trường ngày cũ.

                        “Người từ trăm năm về qua trường Luật
                        Người từ trăm năm về qua trường Luật
                        Ta hỏng Tú Tài ta hụt tình yêu
                        Thi hỏng mất rồi ta đợi ngày đi
                        Đau lòng ta muốn khóc
                        Đau lòng ta muốn khóc…”


CÁT LINH
Tháng 5/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/gia-long-trung-vuong-named-in-love-songs-cl-05222016115624.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 31/03/2017, 14:14:03
Nhà văn Virginia Woolf và “Căn phòng riêng”

“Một phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn phòng riêng”. Nhà văn người Anh Virginia Woolf (1882-1941) đưa ra kết luận như trên trong cuốn tiểu luận văn học nổi tiếng của bà: Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929). Ngày nay, cuốn sách được xem là nền tảng của Nữ quyền luận, một cao trào tư tưởng lớn ở thế kỉ XX.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/canphongrieng.jpg)
Bìa sách Căn Phòng Riêng của Virginia Woolf, dịch giả Trịnh Y Thư, NXN Tri Thức, 2016

CĂN PHÒNG RIÊNG đã được dịch giả Trịnh Y Thư chuyển ngữ sang tiếng Việt năm 2009 và vừa được nhà xuất bản Tri Thức tái bản lần thứ nhất mùa hè 2016.
            Adeline Virginia Woolf là một tiểu thuyết gia kiêm nhà viết tiểu luận người Anh, được xem là một trong những nhà văn hiện đại lừng danh nhất thế kỉ XX. Trong thời gian giữa hai Thế Chiến, bà là một nhân vật có tầm ảnh hưởng rộng lớn trong sinh hoạt văn học tại Luân Đôn và là thành viên chính của nhóm trí thức Bloomsbury Group.
            Những tác phẩm nổi tiếng nhất của Virginia Woolf gồm có Đêm và ngày (Night and Day, 1919), Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922), Bà Dalloway (Mrs. Dalloway, 1925), Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927), Orlando (1928), Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929), Những đợt sóng (The Waves, 1931), Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938).
            Chính trong cuốn Căn phòng riêng có một câu châm ngôn rất nổi tiếng của bà: “Một phụ nữ muốn viết văn cần phải có tiền và một căn phòng riêng”.
            Suốt thời gian tại thế, Woolf chịu đựng chứng bệnh tâm thần mà ngày nay được gọi là bệnh rối loạn cảm xúc lưỡng cực. Năm 1941, ở tuổi 59, bà tự trầm mình xuống sông quyên sinh.

Nền tảng của Nữ quyền luận
            Căn phòng riêng, tiểu luận văn học của nhà văn nữ người Anh Virginia Woolf được hình thành từ loạt bài thuyết trình của bà năm 1928 tại Newham College và Girton College, hai trường cao đẳng dành cho phụ nữ tại Đại học Cambridge, xoay quanh chủ đề “Phụ nữ và sáng tác văn học”. Cuốn sách không chỉ nói lên tình thế tiêu cực của các nhà văn nữ ở thời kỳ mà người phụ nữ phải chấp nhận nhiều sự bất bình đẳng và định kiến xã hội, nó còn đề xuất một cái nhìn tích cực để từ đó xác định vai trò, vị trí và năng lực của phụ nữ trong việc sáng tạo nên những giá trị văn hóa của nhân loại.
            Ngày nay cuốn sách được xem là nền tảng của Nữ quyền luận, một cao trào tư tưởng lớn ở thế kỉ XX, chẳng những đem lại khí quyển mới trong sáng tác mà cả ý thức đọc và phê bình những tác phẩm văn học viết bởi phái nữ xưa cũng như nay.

Tâm huyết của Virginia Woolf trong tiểu luận Căn phòng riêng
Dịch giả Trịnh Y Thư: Với tôi, dịch, nhất là dịch tác phẩm văn học, luôn luôn là thử thách đầy cam go. Ngoài những tiêu chuẩn cơ bản như trung thành tuyệt đối với văn bản nguyên tác, chú trọng đến yêu cầu tiếp nhận của ngôn ngữ dịch, người dịch còn phải cố gắng duy trì càng nhiều càng tốt cái phong cách văn học trong tác phẩm nữa. Chính phong cách văn học này trong tác phẩm của Virginia Woolf đã gây khá nhiều khó khăn cho tôi.
            Cuốn sách mang hình thức một tập tiểu luận, nhưng mặc dù không thiếu những ý tưởng uyên bác, nó không được viết bằng thứ ngôn ngữ hàn lâm lạnh lùng, khô cứng, tràn lan những thuật ngữ văn học khó hiểu vô hồn, mà Căn phòng riêng được viết bằng giọng văn sôi nổi đầy cảm tính chứa đựng niềm xác tín mãnh liệt vào những điều mình muốn chia sẻ cùng người đọc.
            Woolf là tiểu thuyết gia, bà thường được ghép vào xu hướng sáng tạo văn học có tên gọi là “dòng ý thức”. Tôi không rõ điều này có ảnh hưởng gì lên văn lí luận của bà, nhưng tôi có cảm tưởng, với cuốn Căn phòng riêng, bà đã dốc tất cả tâm tư mình vào đó với tấm lòng chân thành tuyệt đối. Bà viết nó với trái tim nhiều hơn là khối óc; hơn nữa, nó cũng không thiếu những đoạn trần thuật, miêu tả, độc thoại nội tâm như tiểu thuyết.
            Khi dịch cuốn sách sang Việt ngữ, tôi đã cố gắng duy trì phong cách duy cảm đó trong văn của bà. Điều đó, với tôi, chẳng dễ dàng chút nào, và quả thật tôi không dám chắc mình đã thành công.

Sự ưu việt của khối óc lưỡng tính
Dịch giả Trịnh Y Thư: Chính cái sôi nổi đầy cảm tính của Virginia Woolf trong tập sách đã gây ấn tượng mạnh mẽ nơi tôi. Bạn có thể không đồng ý với nhiều điều trong quan điểm văn chương của bà. Chẳng hạn, khi Virginia Woolf đưa ra quan điểm một thiên tài như Shakespeare không thể sinh ra trong một gia đình tôi đòi, thất học, lao động tay chân; hoặc, phụ nữ viết văn phải có tiền và một căn phòng riêng. Nhưng bà không hề khoan nhượng hoặc chấp nhận một quan niệm hòa giải nào, chẳng hạn như khi bà đưa ra lập luận về sự ưu việt của khối óc lưỡng tính. Bà viết như sau trong cuốn sách:

            “… Trong mỗi chúng ta có hai năng lực chỉ huy song hành, một nam, một nữ; và trong trí óc người đàn ông, đàn ông chiếm ưu thế hơn đàn bà, trong trí óc người đàn bà, đàn bà chiếm ưu thế hơn đàn ông. Khi cả hai chung sống với sự hòa đồng, trong tinh thần hợp tác, thì trạng thái của hiện hữu là trạng thái bình thường và thoải mái. Nếu là đàn ông thì phần đàn bà trong trí óc ông ta phải có hiệu ứng; và ngược lại, người đàn bà cũng phải giao hòa với phần đàn ông trong trí óc mình… Đó là lúc sự hợp nhất xảy ra và trí óc trở nên phong phú, tận dụng tất cả khả năng của nó…”

            Tôi cho đó là sự biểu hiện đặc trưng của nhà văn.
            Nhà văn như bà, khác với chính trị gia, là người không bao giờ chịu ép mình để đi đến sự hòa giải, vo tròn. Phải chăng bà là người cực đoan, có cá tính mạnh, chân thành với niềm tin của mình, xem nó như một đức tin tôn giáo? Và phải chăng bởi thế một hôm bà ra bờ sông, bước xuống dòng nước đang chảy xiết và không bao giờ trở về nhà?

Virginia Woolf, người mở đường
Dịch giả Trịnh Y Thư: Tôi vốn không có thói quen phân biệt nhà văn nam hoặc nữ. Tôi đọc tác phẩm họ viết do ý thích cá nhân nhiều hơn là bởi giới tính của tác giả. Nhưng gần đây tôi đặc biệt yêu thích nhà văn Canada, Alice Munro (giải Nobel Văn Học 2013). Văn chương của Munro thật là phong phú và sâu lắng. Đọc xong truyện của bà, gấp sách lại, tâm hồn tôi như đổi khác; tôi cảm thấy yêu người, yêu cuộc đời này hơn và tôi chợt thấy buồn cười cho những phi lí lẫn nghịch lí của đời sống. Tôi đòi hỏi gì hơn thế ở một nhà văn?

“Liệu các nhà văn nữ có thể sáng tạo nên những tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare không?”
Dịch giả Trịnh Y Thư: Woolf xem Shakespeare (và ở chừng mực nào đó, Jane Austen) là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo bằng chữ nghĩa. Theo bà, muốn như thế, đòi hỏi nơi người viết một tinh thần vô ngã như vị thánh. Bà chê Charlotte Bronte viết không bằng Jane Austen mặc dù tài năng vượt trội hơn, chỉ vì Bronte đã để cảm xúc cá nhân (cái tôi) chen lấn vào tác phẩm. Nhưng nhìn từ góc độ bình thường, quả tình tôi không rõ đã có nhà văn nào, nam cũng như nữ, viết được tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay chưa. Có thể đã có nhưng tôi không đủ trình độ để thẩm định điều đó. Tuy vậy, theo tôi, chuyện đó không quan hệ lắm.
            Cái đáng nói là ở thời đại chúng ta, không còn ai phân biệt hoặc quan tâm đến giới tính của nhà văn nữa. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ cầm bút và không ai nghi ngờ tài năng cũng như giá trị tác phẩm của họ.


THANH HÀ
Tháng 3/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170303-nha-van-virginia-woolf-va-can-phong-rieng

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 04/04/2017, 12:51:35
50 năm phong trào nhạc trẻ

Nếu lấy mốc thời gian của thập niên 60-70s thì đã 50 năm từ ngày phong trào nhạc ngoại quốc, nhạc ngoại quốc lời Việt, mà gọi chung là nhạc trẻ du nhập vào Việt Nam. Những chàng hippy tóc dài, quần ống loe ngày xưa giờ đây có người đã trở thành thiên cổ, có người tóc đã trắng như vôi. Thế nhưng, có lẽ chưa bao giờ trong tâm hồn của họ quên đi được thời kỳ hưng thịnh nhất của nền nhạc trẻ Việt Nam.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-years-of-nhac-tre-08302015062555.html/cbc-30-630-1963.jpg/@@images/e3b8eb07-89d7-4fef-ad19-0a38d6b5ebe9.jpeg)
Ban nhạc CBC đã bắt đầu hoạt động từ tháng Bảy năm 1963


NHÂN DỊP “Cuộc hội ngộ 50 năm nhạc trẻ” sẽ tổ chức ở Nam California sắp đến, Cát Linh xin mời quí vị cùng quay về thập niên 60-70s, gặp lại những người đã khởi xướng nên ngọn lửa âm nhạc đã trở thành lịch sử của một thế hệ thanh niên 50 năm trước.

            “Tôi đã từng sống trong thời kỳ đó, là một người thanh niên, họ rất hoang mang trong cuộc sống và về cuộc chiến tranh, người ta rất hoang mang. Giới trẻ ngày đó người ta nghĩ rằng không biết sống chết ngày nào. Có một phong trào hippy, gọi là big music du nhập vào. Giới trẻ say đắm vào dòng nhạc cuồng loạn để vơi bớt những tâm trạng, những buồn chán, lo lắng của giới trẻ bấy giờ”.

            Đó là lời tâm tình của nghệ sĩ Kỳ Phát, một trong những chàng trai hippy đã tạo nên phong trào “Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam” khi ông nói về nguyên nhân vì sao những thanh niên thế hệ ấy tìm đến và say mê dòng nhạc trẻ.
            Thập niên 60, 70s là thời gian mà cuộc chiến và sự chia lìa là đề tài được nhắc đến nhiều nhất trong các tác phẩm văn thơ, âm nhạc. Thế nhưng, bên cạnh những bài ca về lính, những ca khúc chinh chiến đau thương, thì nhạc trẻ xuất hiện như một cơn gió thổi bùng ngọn lửa cuồng nhiệt trong tâm hồn của người thanh niên. Nghệ sĩ Kỳ Phát nói rằng trong một khung cảnh xã hội như thế, nhạc trẻ như một liều thuốc phiện đánh tan nỗi hoang mang, lo lắng về cuộc sống chết nay sống mai.
            Với nghệ sĩ/nhạc sĩ Nam Lộc, người đã viết nhiều ca khúc ngoại quốc lời Việt trong những năm đó thì ông cho rằng, nhạc trẻ, đơn giản là dành cho người trẻ.

            “Đã gọi là giới trẻ thì khi lớn lên, rất tự nhiên, họ thích gì thì họ làm đó. Họ không bị ảnh hưởng nhiều bên ngoài, nghĩa là dù đất nước bị chinh chiến, có chiến tranh nhưng không phải lúc nào họ cũng bị cô lập trong cái chinh chiến đó mà họ vẫn phát triển ý thích của họ”.

            Thời điểm đó, đầu những năm 60s, nhạc trẻ đến từ những bản nhạc Rock n Roll của Pháp, cũng như của Anh, Mỹ và du nhập vào Việt Nam, được giới thanh niên thuộc gia đình giàu có thời ấy ưa chuộng. Bên cạnh những bài tình ca, những ca khúc học trò như nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác phổ từ thơ Nguyễn Tất Nhiên, hay những giai điệu nhẹ nhàng mà ban nhạc Phượng Hoàng trình diễn thì nhạc trẻ được phổ biến một cách rất tự nhiên.
            Những điệu nhạc nhanh, cuồng nhiệt nhanh chóng được giới trẻ đón nhận như một nơi quay về sau những hiện thực mất mát từ cuộc chiến.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-years-of-nhac-tre-08302015062555.html/4-ten-nhac-tre-400.jpg/image)
Trường Kỳ, Tùng Giang, Nam Lộc, Kỳ Phát

            Vẫn có những cuộc vui xảy ra hàng đêm. Những người lính khi trở về, thay một bộ đồ trận, trở về thì sà vào những cuộc vui, một phần là sở thích của họ, một phần là quên đi những khổ đau vất vả của chiến trường. Tuổi trẻ là như vậy. Nhớ đấy rồi quên đấy. Vui đấy rồi cười đấy rồi khóc đấy. Nên tôi cho rằng đó nó phản ảnh cái tuổi trẻ trung thực, lúc vui lúc buồn, lúc khổ đau lúc sung sướng. Tuổi trẻ là như vậy”.

            Người khởi xướng đầu tiên phong trao nhạc trẻ giai đoạn này là nhạc sĩ Trường Kỳ, người được gọi là ông vua nhạc trẻ, ông vua hippy.

            “Trường Kỳ là người tổ chức nhạc trẻ, viết về nhạc trẻ. Khi phong trào hippy phổ biến rộng rãi ở Việt Nam, về vóc dáng của Trường Kỳ thì anh để tóc dài, để râu giống như những tay hippy ở Mỹ nên người ta gọi anh là vua hippy, vua nhạc trẻ Trường Kỳ”.

            Nhạc trẻ được du nhập và được đón nhận như bản năng tự nhiên. Thì cũng như một quy luật, sau khi bị cấm một thời gian ngắn, nhạc trẻ được cho phép hoạt động trở lại. Khi đó, người nghe và người chơi nhạc như thiếu liều thuốc nghiện lâu ngày được thỏa mãn sự mong mỏi, thèm muốn với những điệu nhảy và âm thanh cuồng nhiệt. Đó cũng là thời điểm phát triển mạnh nhất của nhạc trẻ.

            “Năm 63 là năm đảo chánh tổng thống Ngô Đình Diệm, thì trước khi đảo chánh, tổng thống cấm tất cả những cuộc vui, cuộc ăn chơi, những tụ họp nhảy đầm của giới trẻ. Khi bị cấm như vậy thì khi mở cửa ra vào tháng 11/1963 cho phép hoạt động trở lại thì như một phong trào bùng nổ mạnh mẽ”.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-years-of-nhac-tre-08302015062555.html/Hinh-ANCT-250.jpg/image)
Kỳ Phát và Trường Kỳ

            Khi đó, nhạc trẻ không còn đơn thuần chỉ là nhạc Pháp của các học sinh trường Tây, mà đã có sự gia nhập của nhạc Mỹ, nhạc Anh như Elvis Presley, The Beattles, Bee Gee… và cho đến năm 1965 thì nhạc trẻ ngoại quốc đã ở thời kỳ thịnh hành nhất, đã trở thành một loại thời trang không thể thiếu trong cuộc sống của thanh niên thời đó.

            Adieu jolie Candy C’est à Orly Que finissent Les vacances à Paris Adieu jolie Candy Une voix t’appelle C’est l’heure Déjà de t’en aller Dans cet avion Qui t’emmène vers Angleterre
            Từ nay cách xa nghìn trùng Người em bé bỏng Anh tiễn em ra mãi tới nơi phi trường. Còn anh khó quên mùa hè. Gặp em, tóc thề Anh đã yêu người em tuổi say mê

            (Nhạc: Tiễn em nơi phi trường, nhạc Pháp, lời Việt: nhạc sĩ Phạm Duy)

            “Đến năm 65, khi những người lính Mỹ đổ bộ vào Việt Nam, họ đem theo luôn cả âm nhạc. Và như vậy, phong trào còn phát triển mạnh nữa. Nào là Mama, Papa… đồng thời các club của người Hoa Kỳ, những người lính Mỹ bắt đầu thuê những ban nhạc của người Việt Nam. Lúc đó ban nhạc trẻ không còn chỉ là thuần túy trình diễn nhạc trẻ theo ý thích của mình nữa mà bắt đầu có tiền đi phục vụ tại các tụ điểm của người Mỹ, người lính Hoa Kỳ tại Việt Nam”.

            Và rồi cũng lại là quy luật. Khi cái gì vượt quá tầm kiểm soát thì sẽ có những phản ứng ngược, mà theo nhạc sĩ Nam Lộc nói rằng:

            “Khi phát triển như vậy thì chúng tôi, anh Trường Kỳ và những người bạn khác cảm thấy là đã đến lúc mình cần phải báo động nếu không thì mình sẽ mất giới trẻ đi theo nhạc ngoại quốc mà không đoái hoài gì đến nhạc Việt Nam”.

            Sự báo động đó là nguyên nhân ra đời của phong trào “Việt hóa nhạc trẻ Việt Nam”.

                        “Tim em chưa nghe rung qua một lần
                        Làn môi em chưa hôn ai cho thật gần
                        Tình trần mong manh như lá me xanh
                        Ngơ ngác rơi nhanh
...”
                        (Trưng Vương khung cửa mùa thu – Lời Việt: Nam Lộc)

            Từ lúc này, những ca khúc ngoại quốc lời Việt như Trưng Vương khung cửa mùa thu, Chỉ còn là giấc mơ qua do nhạc sĩ Nam Lộc viết lời Việt và các ca khúc nhạc trẻ khác của Lê Hựu Hà do nhóm Phượng Hoàng trình bày như một cách dung hòa giữa nhạc ngoại quốc và ngôn ngữ, văn hóa của Việt Nam.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-years-of-nhac-tre-08302015062555.html/black-caps.jpg/image)
Ban nhạc Blacks Caps với Paolo Doan là ca sĩ

                        “Chiều buồn nhẹ xuống đời
                        Người tình tìm đến người
                        Thấy run run trong chiều phai.
                        Vẻ sầu của đóa cười
                        Tình bền của lứa đôi
                        Thoáng hương trong chiều rơi
…”
                        (Chiều Buồn – Serenade – Lời Việt: Phạm Duy)

            Một chi tiết rất thú vị được kể lại từ những chàng trai hippy của thời ấy, đó là trong nhóm nhạc trẻ, đứng đầu là nhạc sĩ Phạm Duy. Ông là người có nhiều ca khúc ngoại quốc chuyển lời Việt nhiều nhất thời ấy. Nghệ sĩ Kỳ Phát nhớ lại rằng:

            “Tuy ông là một nhạc sĩ cao niên, lớn tuổi nhưng ông rất hoà đồng với loại nhạc trẻ và ông dịch rất nhiều nhạc phẩm nổi tiếng”.

                        “Làm sao có em để ấm giường êm trong một đêm mềm
                        Ðể ta ngất ngây một giấc mộng ngoan mơ màng ảo huyền.
                        Một vòng tay ấm, một ngàn nụ hôn
                        Ðể ta chết đi rồi tái sinh trong kiếp sống cuồng điên.
                        Cấu xé lớp da, tấm thân ngọc ngà
                        Làn tóc bơ phờ, là đó: tình ta
…”
                        (Làm sao có anh –The God Father I, lời Việt của Phạm Duy)

            Chúng ta ai cũng có một kỷ niệm riêng, một quá khứ riêng cho mình để nhớ về. Nhưng có lẽ tất cả những ai đã lớn lên trong thời loạn ly chinh chiến đó, thì chắc chắn sẽ có cùng một trời kỷ niệm mỗi khi hát lại những bài hát đó. Những bài hát của phong trào nhạc trẻ sẽ mãi mãi ở sâu trong tiềm thức của những người muôn năm cũ, được họ trân quý cất riêng trong một chiếc vali đặc biệt giữa rất nhiều chiếc vali đã đi cùng họ trong cuộc đời.


CÁT LINH
Tháng 8/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-years-of-nhac-tre-08302015062555.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 06/04/2017, 13:02:29
Sự lùi bước của Nho giáo ở Việt Nam thế kỷ XIX

Hồi đầu thế kỷ XIX, triều đại nhà Nguyễn được thiết lập ở Việt Nam với Gia Long là vị hoàng đế đầu tiên. Triều Nguyễn đã phục hưng Nho giáo và lấy học thuyết Khổng Mạnh làm hệ tư tưởng chính thống. Có thể nói rằng, dưới Triều Nguyễn, Nho giáo giữ vị trí độc tôn trong xã hội, từ giáo dục đến chính trị. Nhưng cũng chính dưới thời Nguyễn, Nho giáo đã bị sụp đổ và dần rơi vào quên lãng.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/XUA%20ONG%20DO%202242202110_12d22b0d37_o.jpg)
Ông đồ xưa

NHO GIÁO bắt đầu được du nhập vào Việt Nam từ thời Bắc Thuộc, thế nhưng phải chờ đến thế kỷ thứ 10 thì các triều đại phong kiến Việt Nam mới dần chú ý đến Nho giáo. Từ thời nhà Lý đã thấy nhà vua lập Văn Miếu thờ Khổng Tử và tiền hiền ở Thăng Long. Trong lúc Phật giáo còn là quốc giáo thì suốt thời Lý-Trần thực lực của Nho giáo và nho gia ở triều đình và trong dân càng ngày càng phát.

Nhà Nguyễn chấn hưng Nho giáo
            Nho giáo bắt đầu chiếm lĩnh vai trò chủ đạo trong nhà nước Việt Nam từ triều Hậu Lê (thế kỷ 15) sau khi tầng lớp Nho sĩ dân tộc đã lập công lớn trong cuộc kháng chiến dài 20 năm đánh đuổi quân Minh xâm lược. Giáo sư Trần Văn Giàu cho rằng, Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi, về mặt văn hóa chính trị, có thể được xem là cái vương miện để trao cho Nho giáo Việt Nam.
            Thế nhưng, đến thế kỷ 16 thì Nho giáo bắt đầu lâm khủng hoảng. Trong giai đoạn này, tình hình chính trị trong nước hết sức rối ren, các giềng mối đạo đức xã hội bị đảo lộn. Xung đột liên tiếp xảy ra, hết Lê-Mạc phân tranh đến Trịnh-Nguyễn phân tranh, nhiều bề tôi đã giết vua, cảnh huynh đệ tương tàn trên thượng tầng xã hội cũng không phải hiếm…
            Đến năm 1802, Gia Long giành thắng lợi cuối cùng và lập nên Triều Nguyễn. Đây là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử của Việt Nam tính đến hiện tại. Nhà Nguyễn ra sức chấn hưng Nho giáo. Trong các đời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, Nho giáo Việt Nam giữ vai trò độc tôn trong xã hội, từ chính trị đến giáo dục.
            Cụ thể Nhà Nguyễn đã chấn hưng Nho giáo như thế nào, Chuyên gia lịch sử văn hóa Việt Nam, Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần tại thành phố Hồ Chí Minh, sẽ minh thị đôi điều về vấn đề này:

            “Trước hết, về phía nhà nước, thì nhà Nguyễn đã coi Nho giáo là ngọn cờ tư tưởng chính thống của triều đại mình. Và vị trí đó khiến cho Nho giáo trở nên rất quan trọng.
            Trong giáo dục và thi cử, thì Nho giáo càng có vị trí cao hơn nữa. Trước hết, Nho giáo được đổi mới theo chiều hướng thiết thực hơn, chứ không còn thời kì lạc hậu như trước nữa. Nhà Nguyễn đã cho thay đổi hệ thống học vị. Và chúng ta biết, đây là một sự thay đổi khá mạnh mẽ so với trước đó. Những người đỗ Sinh đồ trước đây thì nhà Nguyễn gọi là Tú Tài, và cách đổi gọi này bắt đầu từ năm 1829, tức năm Minh Mạng thứ 10.
            Nhà Nguyễn cũng không lấy đỗ Trạng nguyên, mà đổi Trạng nguyên thành Đình nguyên. Ví dụ như Phan Đình Phùng là người đỗ Đình nguyên dưới thời Nguyễn. Nhà Nguyễn cũng đặt ra một học vị mới trong khoa thi Hội, đó là học vị Phó bảng. Nhiều nhân vật nổi tiếng đã từng đỗ Phó bảng dưới thời Nguyễn như: Phan Chu Trinh, Nguyễn Sinh Sắc.
            Nhà Nguyễn cũng đã mở rộng qui mô giáo dục, khác hẳn với trước. Thời Nguyễn, giáo dục Nho học được áp dụng trên toàn cõi Việt Nam, từ Bắc chí Nam. Ở đây, cũng chỉ có một nền giáo dục duy nhất, đó là giáo dục Nho học. Cả nước lúc bấy giờ có đến 7 trường thi hương, và tất cả các khoa thi hội đều được tổ chức ở kinh đô Huế.
            Nhà Nguyễn cũng đã trọng dụng những người đỗ đạt. Do đó, các thời Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, nhìn chung Nho giáo rất phát đạt, và đã thật sự có vị trí lớn trên vũ đài chính trị và tư tưởng nước nhà
”.

Nguyên nhân Nho giáo nhà Nguyễn sụp đổ
            Thế nhưng đến cuối đời Tự Đức, thì Nho giáo lại lâm cảnh khó khăn, nền giáo dục Nho giáo bắt đầu bị thử thách. Và kết quả là, vào năm 1919, nền giáo dục Nho giáo tại Việt Nam đã chính thức cáo chung. Nguyên nhân là do đâu? Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần phân tích:

            “Từ cuối thời Tự Đức, tình hình chính trị của đất nước bắt đầu có những biến đổi rất mạnh mẽ, rất sâu sắc, gây ảnh hưởng trực tiếp đối với Nho giáo. Đó là thực dân Pháp đã nổ súng xâm lược nước ta. Nhà nước phong kiến sụp đổ. Chúng ta biết rằng, nhà nước phong kiến là đỉnh cao tôn thờ của nhà Nho. Người ta đi học Nho là để ra phò vua giúp nước. Và người ta lấy việc trung quân làm lý tưởng.
            Vậy mà bấy giờ, vua không còn xứng đáng đại diện cho quốc gia, triều đình cũng không còn xứng đáng đại diện cho quốc gia. Cho nên lý tưởng của nhà Nho theo đó mà sụp đổ. Đây là nguyên nhân chính trị. Nhưng nguyên nhân chính trị đó có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với sự sụp đổ của Nho giáo.
            Về khách quan, thì Pháp cũng đã truyền bá một nền giáo dục mới. Và chính nền giáo dục mới này đã tạo ra một ảnh hưởng mạnh mẽ đối với giáo dục Nho học nói riêng và đối với vị trí của Nho học nói chung.
            Phải khách quan mà nói rằng, nền giáo dục của Pháp có những điểm rất hấp dẫn. Ví dụ như việc người Pháp dùng văn tự La Tinh. Chữ Hán rơi xuống vị trí ngôn ngữ phụ. Mẫu tự La Tinh là một văn tự hoàn toàn mới mẽ, tiến bộ, tích cực. Chúng ta thấy rằng, một người giỏi học cả năm sáu năm chưa chắc đọc được sách chữ Hán. Nhưng một đứa trẻ chỉ cần học một tiếng đồng hồ là có thể ghép vần và đọc được tiếng Việt. Đọc được, còn hiểu được hay không thì đó là chuyện khác, nhưng dù sau cũng là đọc được. Còn nếu học tiếng Hán, thì học chữ nào biết chữ đó. Bởi vậy, người thông minh được gọi là người nhiều chữ.
            Người Pháp cũng truyền bá cách học mới, và hoàn toàn khác với cách học của các trường làng của các nhà Nho. Nền giáo dục mà Pháp du nhập, tất nhiên về bản chất, đó là một nền giáo dục thực dân. Nhưng ở đây chúng ta cũng phải thừa nhận những tác dụng khách quan nằm ngoài ý muốn của người Pháp. Đó là nó tạo ra cái mới trong nhận thức của người học. Và ở đây, chúng ta cũng phải thừa nhận, Pháp đã truyền bá một loạt các ngành khoa học mới vào nền giáo dục của chúng ta. Như khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật. Và ngay cả khoa học xã hội, thì người Pháp cũng giảng dạy theo cách của họ, mới hơn, hiện đại hơn, và cũng có những cái đáng suy ngẫm hơn.
            Về mặt chủ quan, thì rõ ràng, Nho giáo đã tự bộc lộ những hạn chế không thể nào khắc phục được. Đây chính là khó khăn khiến cho Nho giáo bị sụp đổ nhanh chóng. Nho giáo chỉ thiên về khoa học xã hội và nhân văn mà ít chú ý đến các khoa học khác. Nho giáo đã quảng bá và cổ súy mạnh mẽ cho tư tưởng hoài cổ trong lúc xã hội đang khao khát vươn lên để theo kịp các nước xung quanh. Và Nho giáo đã thể hiện tính cực đoan. Chính sự cực đoan đó đã khiến cho Nho giáo bị đẩy vào một vị trí hoàn toàn bất lợi.
            Lúc bấy giờ cũng có một điều đáng chú ý nữa, đó là sự đóng cửa vốn là bản chất của giai cấp phong kiến, thì lúc này nó đã khiến cho Nho giáo quay lưng lại với cái mới. Rõ ràng đóng cửa là hợp với qui luật của giai cấp phong kiến. Nhưng hợp với qui luật của giai cấp phong kiến thì không có nghĩa là hợp với qui luật vươn lên của lịch sử. Lúc bấy giờ là lúc mà người ta cần chấp nhận cái mới, thì Nho giáo lại chủ trương đóng cửa. Và đây chính là nguyên nhân gây tác hại từ bên trong của chính Nho giáo, khiến cho nó bị sụp đổ nhanh chóng. Năm 1918, khoa thi hương cuối cùng của nền thi cử Nho giáo Việt Nam đã được tổ chức. Và khoa thi hội năm 1919 cũng là khoa thi hội cuối cùng của nền giáo dục Nho giáo Việt Nam.
            Và từ đó thì giáo dục Nho học hoàn toàn bị đóng cửa. Số người đọc được chữ Nho ngày càng ít. Số người hiểu được triết lý của Nho giáo lại càng ít hơn. Và đặc biệt, những giá trị văn hóa của tổ tiên kết tinh trong các trước tác viết bằng chữ Hán thì không phải ai cũng sử dụng được. Đó là sự sụp đổ cái tính qui luật. Nhưng đó cũng là sự sụp đổ gây ra không ít thiệt hại cho chúng ta ngày nay
”.

Kế thừa mặt tích cực của Nho giáo
            Nền giáo dục Nho giáo đã lùi xa, Nho giáo đã bị xem là lạc hậu. Thế nhưng, có phải tất cả những cái gì thuộc về Nho giáo đều không còn hữu dụng. Giáo sư Nguyễn Khắc Thuần nhận định:

            “Tất nhiên Nho giáo sụp đổ là hoàn toàn hợp với qui luật, nhưng điều đó không có nghĩa là Nho giáo hoàn toàn bị khép lại trong dĩ vãng, và cũng không có nghĩa là nó không còn điều gì đáng để chúng ta kế thừa. Ngược lại, ngày nay, chúng ta cần phải kế thừa những giá trị tích cực do chính các nhà Nho để lại.
            Khi nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng, một bộ phận cấu thành của tư tưởng Hồ Chí Minh đã ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị tích cực của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo, Thiên Chúa giáo…
            Chúng ta kế thừa Nho giáo phong thái dung dung của các nhà Nho. Kế thừa sự điềm tỉnh trước mọi biến cố. Và đặc biệt chúng ta kế thừa tinh thần coi trọng gia giáo mà Nho giáo để lại. Chúng ta biết rằng, một xã hội chỉ có thể được bình ổn và giữ được kỉ cương, khi mà gia giáo được bảo vệ và được đề cao.
            Thế thì Nho giáo có vị trí rất quan trọng trong việc xây dựng những thiết chế về đạo đức gia đình. Và trong việc xây dựng, đề cao nền giáo dục gia đình. Gia đình mà yên ổn, thì xã hội mới có thể đi lên được. Cho nên Nho giáo tuy là đã lạc hậu, tuy là nó không thể nào trở lại như thời xưa nữa, nhưng chúng ta cần phải nghiên cứu để kế thừa những giá trị tích cực và tốt đẹp của Nho giáo để lại. Đó có lẽ cũng là cái mệnh lệnh đối với những người làm công tác nghiên cứu văn hóa Việt Nam hiện nay
”.

Bài học lịch sử từ sự sụp đổ của Nho giáo?
            Nho Gia có thuyết “cái quan định luận”, tức là khi một người đã chết và nắp quan tài đã đậy lại rồi, thì mọi người mới có thể bình luận đúng sai về người đó. Gần một thế kỷ sau khi nền giáo dục Nho giáo cáo chung tại Việt Nam, chúng ta thấy rằng, như phân tích của giáo sư Nguyễn Khắc Thuần nói trên, thì một trong những nguyên nhân cốt lõi không thể phủ nhận được của sự lùi bước của Nho giáo, đó là sự bảo thủ của nhà cầm quyền và sự khép kín của Nho giáo nhà Nguyễn.
            Nhà Nguyễn đã phát huy tối đa những mặt bảo thủ nhất của Nho giáo, nền giáo dục Nho giáo thời nhà Nguyễn chỉ nhắm đến việc học để làm quan, các nhà Nho thì rơi vào cái học tầm chương trích cú, khư khư ôm lấy những học thuyết cách đây mấy ngàn năm, cứ cho rằng xưa hơn nay, cứ cho rằng Nho giáo là học thuyết tiến bộ nhất của nhân loại.
            Cần phải thấy rằng, không phải tất cả các nhà Nho thời Nguyễn đều bảo thủ. Khi nền độc lập quốc gia bị đe dọa, khi đất nước lộ rõ sự lạc hậu, khi nền học thuật nước nhà không theo kịp thời cuộc, thì cũng có những nhà Nho bắt đầu nhận thấy sự cần thiết phải cải tổ.
            Nguyễn Trường Tộ đã dâng lên triều đình đến gần 60 bản điều trần chỉ rõ thực trạng yếu kém của nước nhà và đề nghị nhà cầm quyền tiến hành cải cách. Theo bước Nguyễn Trường Tộ, nhà Nho Nguyễn Lộ Trạch cũng không ngừng dâng lên triều đình những kiến nghị cải cách để chấn hưng đất nước, để theo kịp thời đại.
            Trong lĩnh vực giáo dục, nếu Nguyễn Trường Tộ và Nguyễn Lộ Trạch tập trung phê phán nội dung giáo dục Nho giáo lạc hậu, thì nhà Nho Đặng Huy Trứ đặt trọng tâm kiến nghị của mình vào phương pháp giáo dục. Ông kiến nghị bỏ lối học tầm chương trích cú, và đề nghị một lối học kích thích sự suy nghĩ và sáng tạo của học trò.
            Thế nhưng, triều đình Nhà Nguyễn lúc bấy giờ đa phần quan lại đều là những nhà Nho bảo thủ. Họ cứ khư khư ôm lấy cái cũ, họ hành xử theo kiểu “thủ cựu bài tân”. Ngay như khi đại thần Phan Thanh Giản đi sứ bên Pháp về kể chuyện đèn điện hay tàu hỏa bên Pháp, thì các quan trong triều con cho rằng cụ Phan kể chuyện viễn vông để lừa phỉnh mọi người.
            Triều thần bảo thủ đến mức mà ngay cả một ông vua bảo thủ như Tự Đức đôi khi còn phải khéo léo nhắc nhở. Trong cái biển người bảo thủ đó, thì rõ ràng đề nghị canh tân của một vài nhà Nho thức thời cũng giống như là muối bỏ biển mà thôi.
            Nói tóm lại, sự thất bại của Nho giáo ở Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 có một nguyên nhân không thể nào chối cãi, đó là sự bảo thủ và cực đoan của nhà cầm quyền. Trong bối cảnh thế giới hiện tại, đây là một bài học đắt giá cho tất cả các nhà cầm quyền trên thế giới.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130802-su-lui-buoc-cua-nho-giao-o-viet-nam-hoi-the-ky-19

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 08/04/2017, 14:14:38
Truyện Kiều phổ nhạc – nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện

Chương trình âm nhạc cuối tuần hôm nay, xin được giới thiệu đến quý vị người đã có công phổ nhạc cho tác phẩm Truyện Kiều của Nguyễn Du, nhạc sĩ hiện đang sinh sống tại Pháp, Quách Vĩnh Thiện. Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện không quá nổi tiếng như một nhạc sĩ chuyên nghiệp với những tác phẩm thành danh, thế nhưng ông lại được biết đến nhờ tài năng cũng như tâm huyết lưu giữ tác phẩm Truyện Kiều cho muôn đời sau bằng một hình thức rất đặc biệt là phổ nhạc cho Truyện Kiều. Điểm đặc biệt hơn là ông đã giữ nguyên vẹn câu chữ của toàn bộ tác phẩm, không thay đổi dù chỉ là một từ.

(http://www.rfa.org/vietnamese/cd-kim-van-kieu-jpg/image)
Bìa CD Kim Vân Kiều 1 – Trăm Năm Trong Cõi Người Ta

THÔNG QUA 77 bản nhạc với 7 thể loại nhạc khác nhau, một lần nữa nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện đã làm sống lại 3254 câu thơ của Truyện Kiều qua những giai điệu đặc biệt và đầy màu sắc, vừa pha trộn nét huyền bí phương Đông đậm chất dân gian Việt Nam, nhưng cũng vừa mang những nét hiện đại của Tây phương hay những nhịp điệu hiện đại của rock.
            Sau đây là phần trao đổi về những suy tư khi thực hiện công việc phổ nhạc cho Truyện Kiều:

Giữ gìn văn hóa Việt
Vũ Hoàng: Trước hết, Vũ Hoàng có một câu hỏi với ông là có một động lực nào mà ông bỏ ra những 5 năm trời để phổ nhạc cho một tác phẩm thơ vĩ đại của Việt Nam mình như là Truyện Kiều?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Thưa chuyện này có lẽ cũng là định mệnh thôi. Tại vì trong nhà có một quyển sách Truyện Kiều rất là mục nát và mình cũng không biết quyển sách này là bói Kiều, nhưng mình chỉ dán lại thôi, lúc dán lại xong xuôi đem quyển sách để lại tủ sách nhưng có linh tính, trở ra phòng khách và đọc lại Truyện Kiều. Khi đọc đến câu 890 thì thấy “Sống nhờ đất khách, thác chôn quê người” thì số phận của mình cũng giống như vậy, tất cả những người Việt Nam hải ngoại, sống nhờ đất khách, khi chết thì cũng chết ở đây. Từ đó, xúc động quá mình muốn làm ra tiếng nhạc, để cho mai sau này, thế hệ trẻ không quên lãng Truyện Kiều. Bước đầu tôi không nghĩ đến danh lợi, đến tiền bạc. Chuyện tôi làm như vậy từ năm 2005.

Vũ Hoàng: Vâng thưa ông, ông bỏ công sức của mình ra những 5 năm để hoàn tất việc phổ nhạc, sáng tác đến 77 bài hát, nhưng điểm đặc biệt là vẫn giữ nguyên được lời chính của Truyện Kiều. Khi mà sáng tác như vậy, thì ông có gặp những khó khăn gì không?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Dạ rất là khó khăn. Tại vì khi ra đĩa số 1, rất nhiều người gọi điện thoại hỏi sao ông không chịu đổi lời của ông Nguyễn Du, không làm cho nhạc hay hơn, tại sao ông giữ song thất lục bát đúng như vậy. Nhưng Thiện trả lời nói là khi ông Nguyễn Du đặt 3254 câu thơ đã đắn đo về chữ, nếu mình đổi chữ, thì mình đi sai hết vần thơ, mất hết tuyệt tác của ông Nguyễn Du đã được UNESCO công nhận.
            Truyện Kiều đó của Thanh Tâm Tài Nhân viết bằng văn xuôi không thành công, sở dĩ UNESCO công nhận là tuyệt tác áng văn hay “Trăm năm trong cõi người ta, chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.” Nếu mình đổi một chữ nghĩa là mình đi sai con đường, thành ra trong 3254 câu thơ, mình không có quyền đổi bất kỳ một chữ nào.


(http://www.rfa.org/vietnamese/quach-vinh-thien-250.jpg/image)
Kỹ sư/nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, viện sĩ hàn lâm viện Âu châu,
người đã bỏ ra 5 năm để phổ nhạc toàn bộ tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du

Vũ Hoàng: Vâng, cám ơn nhạc sĩ Thiện đã có những chia sẻ về việc ông phổ nhạc là 77 bài hát mà vẫn giữ nguyên lời chính của 3254 câu Kiều. Vũ Hoàng thấy có một điểm đặc biệt nữa là trong những bài hát ông phổ nhạc là thấy ông sử dụng chất liệu là nhạc dân gian rồi cả những chất liệu gọi là âm hưởng tân thời bây giờ. Ông có thể chia sẻ vì sao mà ông có thể sử dụng nhiều chất liệu khác nhau để tạo nên sự phong phú khi mà ông phổ nhạc cho Truyện Kiều?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Vâng, câu hỏi của Vũ Hoàng rất hay. Tại vì trong 6 tháng trước khi phổ nhạc Truyện Kiều, thì đầu tiên Thiện phải thấu hiểu Truyện Kiều, đọc đi đọc lại, trong 6 tháng, Thiện nghiên cứu thì thấy là tại sao Truyện Kiều được UNESCO công nhận là di sản của nhân loại, tại sao mình không làm nhạc của nhân loại, tại sao mình làm nhạc Việt Nam không thôi.
            Từ đó Thiện nghiên cứu và ra 7 CD, mỗi CD có 11 bài, rồi chia ra, CD số 1 Thiện chú trọng nền nhạc dân tộc Việt Nam, CD số 2 Thiện chú trọng nhiều về Âu châu, đĩa thứ 3 là Âu châu phía Đông, đĩa số 4 chú trọng nhiều hơn nhạc về đảo, đĩa số 6 là nhạc rất kích động như rock and roll, đĩa số 7, Thiện quay trở về quê hương với nhạc cổ truyền Việt Nam nhưng tân thời hơn đĩa số 1.

Vũ Hoàng: Vâng, cám ơn ông đã có những chia sẻ để thấy được là ông đã dành ra rất nhiều tâm huyết. Câu hỏi cuối, ông muốn chia sẻ thêm bất kỳ điều gì để thính giả hiểu hơn về việc mà ông bỏ công sức để phổ nhạc cho tác phẩm Truyện Kiều không?
Nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện: Dạ tình cơ thôi, về những tháng sau này, thì rất nhiều trường học Việt Nam, thầy cô giáo và học sinh cám ơn Thiện, nói từ khi ông Thiện phổ nhạc Truyện Kiều, chúng em học Truyện Kiều rất là dễ dàng, thấy là mình đã đóng góp phần nào cho văn hóa Việt Nam. Học Truyện Kiều qua âm nhạc, lời văn vô người dễ hơn là cầm cuốn sách đọc, có thể trẻ em nghe CD 5-10 lần là thuộc bài, đó là một sự đóng góp về văn hóa Việt Nam cho những trẻ em sau này.

Vũ Hoàng: Thưa nhạc sĩ Quách Vĩnh Thiện, thay mặt cho thính giả của đài, Vũ Hoàng cám ơn ông rất nhiều đã chia sẻ những thông tin cũng như những tâm tư của ông khi ông muốn gìn giữ gọi là một phần của văn hóa Việt Nam của mình cho thế hệ trẻ về sau, vâng, cám ơn ông rất nhiều.


VŨ HOÀNG
Tháng 10/2012


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/quvithien-truyen-kieu-vhg-10072012130416.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 11/04/2017, 16:42:59
Nói chuyện cùng nhà văn Trần thị NgH

Nhà văn Trần thị NgH – một bút danh đặc biệt như văn phong của chị – bắt đầu viết rất sớm từ năm 1968 với tác phẩm đầu tay “Nhà Có Cửa Khóa Trái”, được xem là tác phẩm có tính cách đột phá vào thời đó và thường được gọi là “cây viết ngổ ngáo” vào thập niên 70.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/TalkWithWriterTranThiNgh_MThuy-20070812.html/TranthiNgH200.jpg)
Nhà văn Trần thị NgH

SAU THỜI GIAN dài im lặng, hơn 10 năm gần đây chị trở lại với văn học, vẫn với phong cách viết rất đặc biệt của mình: sinh động, trào lộng nhưng vẫn chuyên chở những vấn đề xã hội. Minh Thùy có dịp phỏng vấn nhà văn Trần thị NgH, mời quí vị theo dõi:

Minh Thùy: Chào chị Trần thị NgH, cái tên này có vẻ khá bí hiểm với bạn đọc, vì sao chị có cái bút hiệu không giống ai như vậy, chị có thể cho biết tên thật không?
Trần thị NgH: Tên thật là Trần thị Nguyệt Hồng. Thứ nhất, tôi chọn như vậy vì lấy từ chữ ký, ngắn gọn dễ chịu; thứ hai, cái tên hơi sến nên tôi không thích lắm; thứ ba do… hèn, lúc mới thập thò ở cửa viết lách, không dám xuất đầu lộ diện sợ bị má rầy.

Minh Thùy: Truyện ngắn đầu tiên của chị là truyện gì, khi mới bắt đầu viết chị có gặp khó khăn khi gửi truyện đến các tạp chí văn học không, vì chưa có tên tuổi trong giới văn nghệ?
Trần thị NgH: Truyện ngắn đầu tiên để chuyền tay nhau đọc được viết rất sớm, lúc còn học tiểu học. Để đăng báo ngày là những truyện viết trong thập niên 60. Đầu thập niên 70 mới gửi đến các tạp chí có vẻ cây đa cây đề, sừng sỏ trong giới văn nghệ như tờ Vấn Đề, Văn…
            Truyện ngắn đầu tiên được gửi đến tạp chí Văn – lúc đó anh Trần phong Giao làm tổng thư ký – không được chọn đăng; nhưng cũng truyện đó khi gửi sang tạp chí Vấn Đề của Mai Thảo thì được chọn. Bắt đầu như vậy không thấy có khó khăn gì, thấy rất vui. Truyện có tựa là Chủ Nhật, được viết năm 1968 nhưng mãi mấy năm sau mới dám gửi đăng.

Minh Thùy: Theo Minh Thùy được biết thì trước đây chị được xem là nhà văn ngổ ngáo nhất trong số các nhà văn nữ thì lý do tại sao, và tên gọi như vậy có đúng với phong cách viết văn của chị không?
Trần thị NgH: Ngổ ngáo là chữ của người khác đặt cho người viết, còn người viết trong người như thế nào cứ… xịt ra như thế ấy, chả biết có phải là ngổ ngáo không, nhưng mà không thích điệu, thích cắt tóc tém, đi nhanh, ăn mặc gọn; trong văn chương thì không thích uốn éo, không tráng men, chắc vì vậy nên được coi là ngổ ngáo.

Minh Thùy: Chị là người đã viết văn trước 1975, hiện nay cuộc sống của chị ra sao, chị có vẫn tiếp tục viết không và có gửi sáng tác đến các báo, tạp chí trong nước không?
Trần thị NgH: Tôi vẫn tiếp tục viết nhưng nghề chính không phải viết văn mà dạy học nên chỉ khi có thì giờ mới viết. Đã có thử gửi một truyện đến một tờ báo Việt Nam nhưng người ta thấy có nhiều vấn đề trong đó. Thí dụ truyện Người Thuận Tay Trái, vài người quen biết trong giới văn học đã đọc truyện đó cho là nó mang tính cách giai cấp và kỳ thị địa phương.
            Truyện được viết rất hồn nhiên không có ý gì cả, nhưng có thể nó được diễn dịch theo một cách nhìn nào đó. Từ đó tôi không thử nữa. Năm 1997, một người bạn về Việt Nam thăm nhà – anh Phạm việt Cường, làm biên tập trong báo Hợp Lưu cùng với anh Khánh Trường, do có sẵn vài truyện ngắn nên tôi để anh mang đi.
            Thế là sau 22 năm truyện của tôi xuất hiện lại trên Hợp Lưu; từ đó thỉnh thoảng tôi gửi truyện ra ngoài. Hiện nay ở Việt Nam có một tạp chí rất đẹp về hình thức và phong phú về nội dung, Saigon City Life, song ngữ, với một số bài viết của vài anh chị khá quen thuộc như Trịnh Cung, Thận Nhiên, Mạch Nha… trong đó có Trần thị NgH…
            Tờ báo đó dung nạp bài của những người đã viết cũ, trước 1975. Tôi viết những bài rất là trên trời dưới đất, như trời mưa, Saigon Mưa, và dưới đất như Sài Gòn Hẻm – những truyện không thể diễn dịch ra cách nào khác ngoài… mưa và hẻm.

Minh Thùy: Trong số các nhà văn nữ của miền Nam trước 1975 hiện giờ còn sống trong nước như chị Nguyễn thị Hoàng, chị Thụy Vũ thì không viết nữa, trừ có mình chị vẫn tiếp tục viết thì theo chị văn phong của chị hiện nay so với trước kia có khác gì không?
Trần thị NgH: Tôi không chắc chị Thụy Vũ và Nguyễn thị Hoàng không viết. Có thể các chị không đưa ra tác phẩm đến bạn đọc chứ tôi nghĩ các chị ấy không ngừng viết. Sau 75 chị Nguyễn thị Hoàng xuất bản một quyển khá dày, khoảng hơn 500 trang, có tựa là Nhật Ký Im Lặng.
            Chỉ chừng đó thôi đã đủ cho tôi nghĩ các chị vẫn viết. Riêng bản thân tôi không thể nào không viết, vì khi đã vận vào người trò chơi chữ nghĩa thì khó có thể ly dị với nó được. Tuy nhiên viết phải có người đọc cũng như hát phải có người nghe. Do đó thỉnh thoảng tôi lại gửi truyện đi, chẳng qua là để bạn bè đọc với nhau và được nhận báo biếu.

Minh Thùy: Sau này chị có xuất bản thêm tác phẩm nào không?
Trần thị NgH: Năm 75 có tập truyện ngắn Những Ngày Rất Thong Thả do nhà xuất bản Trí Đăng in xong chưa kịp phát hành. Sau 75 thì mãi tới năm 1999 mới có tập truyện ngắn Trần thị NgH của nhà xuất bản Văn Nghệ ở California.
            Năm 2000, do đề nghị của anh Nguyễn Tiến Văn ở Toronto, truyện dài Lạc Đạn và 10 truyện ngắn được xuất bản. Đại khái tạm gọi sự nghiệp văn chương chỉ có một nhúm vậy thôi.

Minh Thùy: Gần đây trong nước có cho phép tái bản một số tác phẩm của nhà văn miền nam trước năm 1975 như tác phẩm của Lê Xuyên và Dương nghiễm Mậu mà theo ý kiến của một nhà xuất bản nói là để khơi thông một dòng văn học âm thầm chảy.
            Theo chị thì đây là dấu hiệu gì, có thể là dấu hiệu cho những nhà văn miền nam trước đây được tái bản những tác phẩm của mình không?
Trần thị NgH: Tôi cũng ngạc nhiên khi thấy truyện của Dương nghiễm Mậu xuất hiện – những quyển sách rất đẹp về hình thức. Một dấu hiệu đáng mừng riêng cho tác giả, nhưng sao tôi vẫn hơi lo ngại và thắc mắc vì truyện của anh Dương nghiễm Mậu rất sâu, rất symbolic, có nhiều biểu tượng lấp ló phía sau những điều anh viết khiến người ta có thể diễn dịch nhiều cách. Truyện của anh được tái bản là một điều rất đáng ngạc nhiên.

Minh Thùy: Cũng như là trong dịp khen thưởng những nhà thơ và chọn lựa những bài thơ hay nhất thế kỷ thì nhà nước có đề cập đến một số nhà thơ miền nam như Đinh Hùng, Thanh tâm Tuyền, như vậy theo chị thì có thể nào có chính sách nhìn lại dòng văn học của miền nam không?
Trần thị NgH: Chuyện này hơi sớm để nói vì năm trước anh Thanh Tâm Tuyền qua đời, tôi đọc báo trong nước không thấy một dòng nào nói về cái chết của một nhà thơ vốn rất được trân trọng trong giới thi ca cũng như trong văn xuôi, thành ra chỉ nhắc đến tên thôi, tôi thấy chưa đủ. Hình như tất cả hãy còn mơ màng, hãy còn sớm. Chưa có gì rõ rệt.

Minh Thùy: Về văn học trong nước hiện nay theo nhận định của chị như thế nào, có những người viết mới và có luồng văn học mới không?
Trần thị NgH: Cũng có đấy, nhưng hình như chưa để lại dấu ấn nào sâu đậm. Chẳng hạn như Vệ Tuệ của Trung Quốc; bây giờ bà mới bắt đầu viết về sự sống buông thả hay tư tưởng tự do của phụ nữ và được đánh giá là đang mang lại luồng gió mới cho văn học Trung Quốc bấy lâu nay vốn rất kỷ cương.
            Tôi cho cái mới như vậy chỉ là sự trở lại cái thời Francoise Sagan của Pháp ngày xưa. Cái mới của Trung Quốc là Vệ Tuệ lại giống như cái mới cách đây 50 năm của Pháp. Quay lại cái mới của Việt Nam, hiện thời cũng có nhiều cây bút trẻ có tâm hồn, yêu chữ nghĩa, có năng khiếu, hoặc có lửa trong cách viết nhưng cũng chưa có gì đậm; giống như lửa phừng lên rồi leo lét.
            Về bên thơ có nhóm nữ gần đây mới ra tác phẩm Dự Báo Phi Thời Tiết, trong đó có Phương Lan, Lynh Bacardi… rất có nét, rất cách mạng trong cách cố ý dùng những chữ không thanh, những từ tự đặt để nói lên cái mới của mình nhưng theo tôi cái mới đó na ná nhiều cái mới khác nên chưa đặc biệt mới.

Minh Thùy: Như người ta đang nói thì dòng văn học hải ngoại đang bị lão hóa và không có những tác phẩm gây ấn tượng, theo chị có gì sáng sủa cho dòng văn học hải ngoại không?
Trần thị NgH: Dòng văn học hải ngoại có nhiều chuyện để nói. Riêng tôi rất trân trọng những anh chị đang tiếp tục hoặc mới bắt đầu viết sau 75 trong đó có những bạn cao niên lẫn những bạn trẻ trên dưới 30. Việc duy trì tờ báo Văn, Hợp Lưu, Đất Nước, Trăm Con… là điều hết sức đáng trân trọng.
            Vô hình chung mà các anh chị đó đã làm nên cái gọi là “luồng văn học hải ngoại”. Nhưng lớp trẻ sinh ra và lớn lên ở nước ngoài không đọc tiếng Việt nữa và các anh chị dần dần cũng cao niên hơn, văn chương của họ vì thế cũng có tuổi theo.
            Tuy nhiên, không có gì đáng bi quan vì đây là một dòng văn học mới lạ, do các anh chị được tiếp thu kiến thức văn học nước ngoài, có được không khí sáng tác tự do, có cuộc sống kinh tế ổn định, do vậy các sáng tác của họ có khí hậu riêng trong mỗi truyện.
            Đây là một nét rất độc đáo, cho dù có lão hóa vẫn khác với những người viết trong nước. Đó là những cây bút cũ và mới, những cây bút đã và đang nuôi dưỡng chữ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài.

Minh Thùy: Cám ơn chi đã trả lời buổi phỏng vấn hôm nay.


MINH THÙY
Tháng 8/2007


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/TalkWithWriterTranThiNgh_MThuy-20070812.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 13/04/2017, 16:28:03
“Có một dòng sông đã qua đời”, hữu hạn và vô hạn trong Trịnh Công Sơn
 
Cuộc sống con người hữu hạn lắm, vạn sự rồi cũng đều mất đi vào hư không. Có lẽ vậy, ngay từ khi còn rất trẻ, Trịnh Công Sơn luôn hoài đau đáu những suy nghĩ về sự sống-chết, sự mất-còn trên thế gian này. Có thể là mất còn về thân xác con người hay cũng có thể là sự mất còn của một cuộc tình. Nhưng tình yêu lại là một cõi khác, vô hạn kéo dài mãi mãi. Vì thế trong hơn 600 ca khúc của Trịnh Công Sơn, phần lớn là những áng tình đẹp bằng âm nhạc. Chúng đôi khi kể về một cuộc tình ươm đầy như nắng sớm, khi lại thủ thỉ về những xúc cảm lứa đôi đã chia xa. Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời nằm trong số những ca khúc như vậy.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/trinh_cong_son.jpg)
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn

                        Mười năm xưa đứng bên bờ dậu
                        Ðường xanh hoa muối bay rì rào
                        Có người lòng như khăn mới thêu.

                        Mười năm sau áo bay đường chiều
                        Bàn chân trong phố xa lạ nhiều
                        Có người lòng như nắng qua đèo.

                        . . . . . .

                        Mười năm chân bước trên đường dài
                        Gặp nhau không nói không nụ cười
                        Chút tình dường như hiu hắt bay.

                        Mười năm khi phố khi vùng đồi.
                        Nhìn nhau ôi cũng như mọi người
                        Có một dòng sông đã qua đời.


NHẠC SĨ Trịnh Công Sơn là người không muốn nhắc nhiều về năm tháng, anh sợ cái kín đóng của thời gian, rồi từ đó người ta sẽ thôi hết yêu nhau vì dấu tích già nua của nó để lại trên hình hài. Và anh không thể tiếp tục sống và viết nhạc nữa. Như vậy để nói rằng, ca khúc Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời không biết đã ra đời từ bao giờ. Trong một cuộc nói chuyện với nghệ sĩ Thanh Bạch nhân dịp phát hành album của cô em gái, ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh, Trịnh Công Sơn đã kể lại:

            “Là hôm đó mình ở Đà Lạt đi qua cầu, bắt qua cầu Hồ Xuân Hương thì gặp người tình cũ đi với người yêu qua cầu. Mình nhìn thấy. Mình cảm thấy sự mất mát quá lớn trong cuộc đời này… Bên cạnh đó, khi đi qua cây cầu mình nhìn xuống thấy dòng nước chảy, mình nghĩ không chỉ mất người đó thôi mà mất cả dòng sông, dòng nước… mất hết cả. Cho nên cái mất mát tưởng là nhỏ nhưng cuối cùng lại lớn. Cho nên có một dòng sông đã qua đời không phải chỉ là mình ví von người tình của mình là dòng sông, nhưng mà nàng đi qua một dòng sông, và mình mất nàng và mất luôn dòng sông. Lúc đó dòng sông nó không còn ý nghĩa gì nữa, trước đó đẹp vô cùng tận nhưng mà từ phút đó trở đi thì không có ý nghĩa gì cả. Nó cũng là mang đến cho mình một nỗi buồn giống như sự mất mát kia. Cho nên vì vậy mới có Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời”.

            Xin được phép không bàn nhiều về ca từ của ca khúc này vì có quá nhiều bài viết rất hay đã nói về điều đó. Khi nghe ca khúc của anh, những kẻ mộ nhạc Trịnh, bỗng nhiên một ngày trở thành ca sĩ, thi sĩ, văn sĩ hay triết gia lưu lạc giữa đời thường. Mà có gì hay để họ có được những cuộc “thoát xác” kì diệu đến vậy?
            Đầu tiên có lẽ là một tiêu đề Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời xuất hiện khá lạ. Đó chỉ có thể là anh, nhạc sĩ họ Trịnh mới trao cho dòng sông một thân phận để rồi một ngày nào đó qua đời cùng với mối tình xa xôi. Sau là sợi dây quyến luyến của lời thơ và ý nhạc. Như trong lòng dòng sông ấy, không còn nữa sự phân định. Vậy nên khi phôi thai một bản nhạc, chính anh đã thừa nhận: “Tôi đang ở trong một trạng thái là không còn biết phân biệt nữa. Tâm hồn tôi đang như là một ngôi nhà mà hội họa, âm nhạc và thi ca, chỉ là thời tiết mùa màng đổi thay của một sự sống đang trú ngụ trong đó”.
            Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời như một lời nói chuyện thường nhật, rất đơn giản về cấu trúc, chỉ có vỏn vẹn bốn câu nhạc, tuy nhiên mỗi câu bao gói từ hai đến ba câu thơ. Âm nhạc lúc đầu được chấm phá màu ngũ cung sau chuyển nhẹ sang điệu thức phương tây. Theo thường lệ, ca khúc này không có những vệt tương phản đậm nét khi chuyển ý, chỉ là một dải màu mỏng tựa mây loang dần ra.
            Điều thú vị mà ít ai để ý đến, đó là Trịnh Công Sơn muốn kể trong câu chuyện Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời là cuộc tình đã qua và sự mất mát nhưng anh lại viết nó ở điệu thức trưởng, cái mà người ta thường dùng để diễn tả cảm xúc vui tươi. Có chăng tình yêu trong anh tuy buồn nhưng không ủy mị thê lương. Nhạc Trịnh Công Sơn không hề có niềm đau tuyệt vọng, vì anh biết trước rằng cuộc đời vốn dĩ là hữu hạn.
            Nhịp điệu trong ca khúc không nhanh nhưng lại khá đều đặn, như thể những bước chân của họ đang chậm rãi lướt qua nhau. “Nhìn nhau ôi cũng như mọi người” nhưng cái cảm xúc xốn xang, lao xao của “mười năm” trước vẫn còn đâu đây.
            Để thể hiện thành công nhạc khúc Có Một Dòng Sông Đã Qua Đời, không phải bất cứ ca sĩ nào cũng đạt tới, mặc dù hầu như ai cũng có thể xướng lên bài hát đó vì không có những quãng khó, câu nhạc ngắn và không đặt nặng nhiều về kĩ thuật thanh nhạc. Tuy nhiên, để giọng hát người nghệ sĩ đọng lại trong lòng người nghe bằng ca khúc này, thì lại là một chuyện khác.
            Ngoài cái bóng lớn của ca sĩ Khánh Ly, cô hát như thể tự sự về chính cuộc tình của mình, còn có một vài bản thu âm khác để lại nhiều dấu ấn như của ca sĩ Trịnh Vĩnh Trinh: trong sáng như bóng hình ai xưa. Có khi lại tình tứ và nuối tiếc trong bản thu của cặp song ca Cẩm Vân, Khắc Triệu. Và gần đây nhất là sự thể hiện của ca sĩ trẻ Nguyên Hà qua phong cách hiện đại cùng lối nhả chữ khá phiêu diêu.
            Qua rồi mười sáu năm “đường xa vạn dặm”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn giờ đây đã thoát được cái ngưỡng hữu hạn của một đời người. Anh viết cho trần gian những lời ca để tình yêu không ngừng sinh sôi và hạnh phúc mãi đâm chồi. Và như vậy, chỉ có anh, người nghệ sĩ tài hoa, không chỉ sống một cuộc đời mình mà còn sống vạn cuộc đời khác. Chỉ cần có tình yêu, thì cho dù dòng sông này đã mất đi nhưng sẽ lại có một dòng sông khác ra đời, vẫn đẹp và vẫn tình như vậy.

HOÀI DỊU
Tháng 4/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170401-co-mot-dong-song-da-qua-doi-huu-han-va-vo-han-trong-trinh-cong-son



(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/50-year-trinh-con-son-06212015061831.html/khanh-ly-TC-son.gif/@@images/06a39aea-30f1-477f-9996-396aae4b5837.jpeg)
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và Khánh Ly

NGÀY NÀY bảy năm trước, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từ trần. Ca Sĩ Khánh Ly, một trong những người thân thiết nhất với ông Trịnh Công Sơn đã dành cho Nguyễn Khanh của Ðài chúng tôi cuộc phỏng vấn ngắn sau đây.

Nguyễn Khanh: “Sống giữa đời này chỉ có thân phận và tình yêu. Thân Phận thì hữu hạn, tình yêu thì vô cùng”, đó là lời anh Trịnh Công Sơn nói. Khi cất tiếng hát những ca khúc của anh Trịnh Công Sơn, chị thấy gì về tình yêu và thân phận con người trong những ca khúc đó?
Khánh Ly: Thưa anh tôi thấy tôi trong những ca khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tình khúc cũng như da vàng. Tôi thấy cả quê hương của tôi, quan trọng là tôi thấy tổ quốc của tôi, thấy cả dân tộc của tôi. Dẫu tổ quốc nghèo, dẫu dân tộc điêu linh, tôi vẫn yêu quê hương và tổ quốc của tôi.
            Tôi yêu nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bởi vì qua nhạc của ông, tôi thấy lại đầy đủ tất cả những cái mà một người sống trong cuộc đời này cần phải nhìn thấy, nhìn rõ hơn, để định hướng mình đi cho đúng, và làm đúng hơn việc mình sẽ làm.

Những kỷ niệm giữ kín
Nguyễn Khanh: Hơn 30 năm rồi, có một lần chị bảo với tôi anh Trịnh Công Sơn nói “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” và chị bảo “anh dạy tôi như vậy”. Chị có nghĩ đó có phải là một lời chung cho tất cả mọi người, trong đó có chị hay không?
Khánh Ly: Dạ thưa anh nói dạy chung tôi không dám đâu nhé. Tôi không hề dám nói nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dạy ai cả. Tôi chỉ nói là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn bảo tôi như thế và đó là lời nói đầu tiên, còn cái lời nói sau cùng của ông, ông nói là “hãy sống tử tế với nhau”.
            Tôi tâm niệm lúc nào cũng giữ kín những điều nhạc sĩ Trịnh Công Sơn dặn tôi, vì ít nhiều, dù ít học, tôi cũng hiểu nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã dạy tôi làm những việc đúng.

Vóc dáng Khánh Ly trong nhạc Trịnh
Nguyễn Khanh: Lúc nãy có dịp nói chuyện với ca sĩ Cẩm Vân, thưa với chị Cẩm Vân có nói rằng “cứ nghe nhạc Trịnh Công Sơn là thấy phảng phất vóc dáng của Khánh Ly”. Có khi nào chị nghĩ anh Trịnh Công Sơn đã viết những bản nhạc, những nốt nhạc, những lời ca đó cho chị hay không?
Khánh Ly: (cười) Thưa anh, tôi không bao giờ chủ quan cả. Tôi không bao giờ dám nghĩ là tất cả những bài này anh Trịnh Công Sơn viết riêng cho mình.
            Tôi rất yêu Cẩm Vân, yêu tiếng hát Cẩm Vân. Tôi yêu tất cả những người trẻ đã đến với nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn và tôi hy vọng, tôi ước ao là các bạn trẻ của tôi giữ được sự chung thủy với nhạc của anh Sơn, để mai kia mốt nọ tôi đi ra khỏi cuộc đời này, vẫn còn có những người hát, hát lên những tình khúc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, để chúng ta cùng nhớ lại cái thủa biết yêu lần đầu và có thể chiêm nghiệm được khi tình đã vào lần cuối.

Nguyễn Khanh: Liệu có thể nói rằng từ 1975 đến giờ, đã 33 năm chị xa anh Trịnh Công Sơn, và từ năm 2001 đến giờ đã 7 năm chị mất anh Trịnh Công Sơn. Có đúng như thế không?
Khánh Ly: Thưa anh tôi chẳng bao giờ thấy mất ai cả. Những người thân của tôi từ ông Cụ tôi – Cụ mất trong Lý Bá Sơ ngày tôi còn bé lắm – rồi những người thân của tôi hy sinh trong cuộc chiến, và ngay cả anh Trịnh Công Sơn, tôi chưa hề bao giờ nghĩ rằng đó là những người đã chết, không còn liên quan gì đến cái đời sống này. Không phải. Họ vẫn còn quanh quẩn đâu đây thôi, và họ vẫn ảnh hưởng đến tôi rất nhiều, và tất cả những người đã ra đi đó đều là những người tử tế.

Hình bóng Trịnh Công Sơn
Nguyễn Khanh: Khi chị nói rằng những người đã mất, những người đã xa chị nhưng vẫn quanh quẩn với chị, phải chăng chị muốn bảo rằng chị vẫn gặp anh Trịnh Công Sơn và chị vẫn nói chuyện với anh Trịnh Công Sơn?
Khánh Ly: (cười) Thưa anh, tôi biết nói thế nào khi mà nói một cách bình thường là đường đời chia hai ngả thì làm sao mà nói. Nhưng thật tình tôi với anh Trịnh Công Sơn hình như không bao giờ cần phải nói ra lời, ngồi với nhau và trong ánh mắt không thôi, chỉ nhìn là tôi biết anh Sơn muốn cái gì và anh Sơn biết tôi định nói gì, muốn gì.
            Vả lại, tất cả những điều anh Sơn cần phải dặn dò, nhắn nhủ tôi cũng chỉ thu gọn vào trong câu nói đầu tiên và câu nói cuối cùng, tức là “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” và “hãy sống tử tế với nhau”.
            Tôi nghĩ rằng đó là tất cả quan niệm sống của anh Sơn. Anh Sơn muốn tôi đi theo và may mắn là trong 40 năm nay, tôi đi theo được đúng cái điều đó. Tôi không hề phụ ai trong đời sống này, nhưng tôi sẵn sàng đón nhận sự phụ bạc của mọi người đối với tôi, mà tôi không hề buồn gì cả. Tôi cũng để thả đi cho gió cuốn đi thôi. Chẳng có gì quan trọng cả.

Nguyễn Khanh: Và đó cũng chính là Trịnh Công Sơn?
Khánh Ly: Thưa vâng. Anh Sơn đã đi trước tôi thôi. Anh đi không vương vấn gì cả. Anh đi là để che dấu những vết thương, anh che dấu những vết thương của anh, anh không chia sẻ với ai cả như anh viết trong “Hoa Vàng Mấy Ðộ” là “một vết thương thôi riêng cho một người”, tức là anh sẵn sàng nhận cái vết thương đó, đừng làm tổn thương ai cả.
            Mọi người cứ bình an đi, cứ yêu nhau đi, cứ vui đi, cứ hạnh phúc đi, tất cả những khổ đau trong đời sống này anh Sơn gánh chịu hết. Tôi mong mỏi được theo chân của anh Sơn.

Nguyễn Khanh: Lúc anh Sơn còn sống và khi ở Việt Nam, đã biết bao nhiêu lần không chỉ mình tôi mà rất nhiều người được nghe anh Sơn gọi chị “Mai ơi, Mai à”. Thưa chị, có khi nào chị mong được nghe lại tiếng nói đó, lời gọi đó hay không?
Khánh Ly: Thưa anh, chẳng bao giờ có sự xa cách giữa chúng tôi cả. Lúc nào chúng tôi cũng ở bên nhau, thành ra những tiếng gọi đó tôi vẫn nghe, và hình ảnh của anh Sơn hay là chính anh Sơn, tôi vẫn thấy anh đến ngồi cạnh tôi. Không có gì thay đổi cả, chỉ có một điều là… Tôi không thể nói thêm được gì nữa, vì anh Sơn sẽ nói rằng như vậy là tôi quá tham lam.
            Tất cả những gì anh muốn tôi làm, anh đã nói hết rồi. Cho nên giữa chúng tôi chẳng có gì để thắc mắc, để tiếc nuối. Chúng tôi luôn luôn có nhau, có từ ngày xưa và cho đến cuối đời.

Nguyễn Khanh: Ai cũng biết chị là người gần gũi nhất với anh Trịnh Công Sơn. Xin chị một phút nói thật: có khi nào chị giận anh Sơn đến mức chị bảo “anh Sơn ơi, Mai không chơi với anh Sơn nữa”
Khánh Ly: (cười) Dạ không anh. Tôi không bao giờ giận dỗi ngu như thế. Dĩ nhiên là ông Trịnh Công Sơn đâu có cần chơi với tôi, anh thấy không, chỉ có mình cần ông ấy thôi. Không bao giờ chuyện đó xảy ra cả, chưa bao giờ tôi cãi lại anh Sơn một điều gì vì đối với tôi, tất cả những điều anh Sơn nói, anh Sơn làm, đều đúng.

Nguyễn Khanh: Cám ơn chị, chị Mai, chị Khánh Ly. Cám ơn chị rất nhiều.
Khánh Ly: Dạ vâng, cám ơn anh.


NGUYỄN KHANH
Tháng 4/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/KhanhLy_and_a_tribute_to_TrinhCongSon_in_a_conversation_with_RFA-20080401.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 19/04/2017, 13:03:14
Trọng Thủy – Mỵ Châu và bài học cảnh giác xâm lược

“Tôi kể người nghe chuyện Mỵ Châu”, xin mượn câu thơ nổi tiếng này của nhà thơ Tố Hữu để bắt đầu một câu chuyện mang đẫm màu sắc huyền thoại của lịch sử Việt Nam trong buổi đầu dựng nước: Chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu. Cũng như tất cả các dân tộc trên thế giới, lịch sử Việt Nam thường có những câu chuyện mang màu sắc huyền thoại.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/TRONG%20THUY.JPG)
Chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu

ĐÓ CHÍNH LÀ một trong những phần tinh túy và thiêng liêng nhất, nó góp phần tạo nên một sợi dây vô hình buộc chặt tâm hồn con người vào đất nước quê hương mình. Thế nhưng, giá trị lớn nhất của lịch sử là “ôn cố tri tân”, tức để cho hậu thế xem xét mà rút ra những bài học kinh nghiệm cho cuộc sống. Trong chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu, gấp sách lại, xin đừng tự hỏi rằng có những chỗ đáng tin hay không đáng tin, mà điều quan trọng là nên tự hỏi rằng: Câu chuyện đó muốn kí thác điều gì cho hậu thế?
            Chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu gắn liền với lịch sử ngàn năm Bắc Thuộc của nước Việt Nam thuở trước, bởi sự kiện An Dương Vương mất nước đã bắt đầu thời kỳ Bắc thuộc của lịch sử Việt Nam. Câu chuyện này được sách sử ghi lại như thế nào?

Đại Việt sử ký toàn thư thời Hậu Lê
            Đầu tiên đến với bộ Đại Việt sử ký toàn thư, là bộ quốc sử bằng chữ Hán viết theo thể biên niên, ghi chép lịch sử Việt Nam từ thời Kinh Dương Vương năm 2879 trước Công nguyên (TCN) đến năm 1675 đời vua Lê Gia Tông nhà Hậu Lê (1428-1879). Bộ sử này được khắc in toàn bộ và phát hành lần đầu tiên vào năm Đinh Sửu, niên hiệu Chính Hòa năm thứ 18, triều vua Lê Hy Tông, tức là năm 1697, được xem là bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn tồn tại nguyên vẹn đến ngày nay, do nhiều đời sử quan trong Sử quán triều Hậu Lê biên soạn.
            Về chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu, Đại Việt sử ký toàn thư chép như sau:

            “Bấy giờ Thục Vương đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng, cuốn tròn như hình con ốc, cho nên gọi là Loa Thành (Nay còn di tích ở huyện Đông Anh, Hà Nội), lại có tên là thành Tư Long (người nhà Đường gọi là thành Côn Lôn – Côn Lôn: Tên dãy núi Trung Quốc ở miền Tân Cương-Tây Tạng, vì thành rất cao). Thành này cứ đắp xong lại sụt, vua lấy làm lo, mới trai giới khấn trời đất và thần kỳ núi sông, rồi khởi công đắp lại.
            Bính Ngọ, năm thứ 3 (255 TCN), mùa xuân, tháng 3, chợt có thần nhân đến cửa thành, trỏ vào thành, cười mà nói rằng: “Đắp đến bao giờ cho xong!” Vua mời vào điện hỏi, thần nhân trả lời: “Cứ đợi giang sứ đến”. Rồi cáo từ đi ngay.
            Sáng hôm sau, vua ra cửa thành, quả thấy có con rùa vàng bơi trên sông từ phía đông đến, xưng là giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để vào mâm vàng, đặt mâm lên trên điện. Vua hỏi về nguyên nhân thành sụp, rùa vàng đáp: “Đó là do tinh khí núi sông vùng này bị con vua trước phụ vào để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi có con quỷ, đó là người con hát thời trước chôn ở đấy hóa làm quỷ. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một đứa con gái và một con gà trắng, đó là dư khí của tinh, phàm người qua lại, ngủ đêm ở đấy, đều phải chết vì bị quỷ làm hại. Chúng có thể gọi nhau họp đàn lũ, làm cho sụp thành. Nếu giết con gà trắng để trừ tinh khí ấy, thì thành tự nhiên được bền vững”. Vua đem rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ trọ. Chủ quán nói: “Ngài là quý nhân, xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa”. Vua cười nói: “Sống chết có mệnh, ma quỷ làm gì nổi?
            Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe tiếng tinh quỷ từ ngoài đến gọi mở cửa, rùa vàng liền quát mắng, quỷ không vào được, đến khi gà gáy thì lũ quỷ tan chạy hết. Rùa vàng xin vua đuổi theo. Tới núi Thất Diệu thì tinh khí biến mất, vua trở về quán. Sáng sớm, chủ quán tưởng vua đã chết rồi, gọi người đến để khâm liệm đem chôn. Thấy vua vẫn vui vẻ cười nói, chủ quán liền sụp lạy nói: “Ngài làm sao được như thế, tất phải là thánh nhân!” Vua xin con gà trắng giết để tế. Gà chết, con gái chủ quán cũng chết theo. Vua liền sai người đào núi, thấy có nhạc khí cổ và xương người, đem đốt thành tro, rải xuống sông, yêu khí mới mất hẳn.
            Từ đấy, đắp thành không quá nửa tháng thì xong. Rùa vàng cáo từ ra về. Vua cảm tạ, hỏi rằng: “Đội ơn ngài thành đắp đã vững, nếu có giặc ngoài đến, thì lấy gì mà chống giữ?” Rùa vàng bèn trút chiếc móng trao cho vua và nói: “Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo gì”. Vua sai bề tôi là Cao Lỗ (có sách chép là Cao Thông) làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo Thần Nỏ”.

Các bộ sử sau Đại Việt sử ký toàn thư
            Đại Việt Sử ký toàn thư đã ghi lại câu chuyện như vậy, và các thế hệ sử gia đời sau cũng tiếp nối, ghi lại câu chuyện nhuốm màu thần thoại này một cách tương tự.
            Một bộ sử đồ sộ khác của Việt Nam ra đời hồi thế kỷ 19 là Khâm định Việt Sử Thông Giám Cương mục do Quốc sử quán Triều Nguyễn (1802-1945) biên soạn chép rằng: “Tháng ba, Năm Bính Ngọ 255 TCN, Thục An Dương Vương năm thứ 3, đắp xong Loa thành. Vua Thục đắp thành ở Phong Khê, rộng đến nghìn trượng, xoáy tròn như hình trôn ốc, nên gọi là Loa thành, lại gọi là thành Tư Long”.
            Đi vào chi tiết, chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu được ghi lại trong bộ sử này không có gì khác biệt so với bộ Đại Việt Sử ký toàn thư ra đời cách đó hai thế kỷ. Thế nhưng, có một nét đáng chú ý là các sử gia triều Nguyễn, khi kể lại câu chuyện này, đã ghi rất rõ: Chép theo sử cũ, mà sử cũ cụ thể là sử nào thì họ không nói rõ. Điều đó muốn nói rằng, dù câu chuyện có nhiều chi tiết hư cấu, nhưng các sử gia này xin chép lại “theo sử cũ” để cho hậu thế được biết.
            Đến bộ Việt Sử Tiêu Án ra đời năm 1775 của Ngọ Phong Ngô Thì Sĩ, chuyên bàn luận về những câu chuyện lịch sử còn nhiều nghi vấn, thì câu chuyện xây thành Cổ Loa và nỏ thần được ghi lại giống y như chuyện của Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, nhưng cũng dẫn chuyện bằng ba chữ: “Sử cũ chép…”, và còn thể hiện quan điểm rõ ràng về những chi tiết không có thật: “Việc ma làm đổ thành, có thể tin được không? Phàm vật gì trái thường thì gọi là yêu, yêu khí thắng thì tất phải có nương tựa vào cái gì đó, nhưng mà nương tựa vào con gà và người con gái mà làm đổ được thành, thì không có lẽ nào”.
            Năm 1919, Lệ Thần Trần Trọng Kim làm quyển Việt Nam Sử Lược, dành một chương cho Nhà Thục của Thục Phán An Dương Vương, trong đó cũng ghi lại câu chuyện Thục Phán An Dương Vương xây thành Cổ Loa, rồi đến chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu, với nội dung cũng không có gì khác so với Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Tuy nhiên, sử gia Trần Trọng Kim cũng ghi rõ: “Tục truyền rằng…”, đã cho thấy quá rõ ý của ông.

Còn nhiều chi tiết cần khảo cứu thêm
            Không chỉ chuyện xây dựng Loa Thành và chuyện Nỏ Thần mang nhiều chi tiết khó tin, mà đến một số chi tiết trong chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu cũng còn cần phải khảo cứu thêm. Chẳng hạn như chi tiết quan trọng nhất thể hiện sự chung thủy trong mối tình này là việc Trọng Thủy nhảy xuống giếng chết để tạ tình của Mỵ Châu, cũng còn nhiều bàn cãi.
            Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Trọng Thủy có người con trai là Triệu Hồ, sau này trở thành người nối ngôi Triệu Đà vào năm 137 TCN và qua đời năm 124 TCN ở tuổi 52. Căn cứ vào năm mất và số tuổi thọ được ghi, ta thấy Triệu Hồ sinh năm 175 TCN. Ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư về cuộc đời Trọng Thủy có chỗ không lô-gich: Một mặt Trọng Thủy được xác định chết khi diệt xong Âu Lạc vào năm 208 TCN, thế mà con trai ông lại sinh vào năm 175 TCN, tức sau khi ông mất đến 33 năm. Liệu ông có còn người con nào khác chăng? Theo khảo cứu của tác giả bài viết này, thì sách sử chỉ thấy nói đến người con trai mang tên là Triệu Hồ nói trên của Trọng Thủy.
            Sử ký của Tư Mã Thiên đời nhà Hán được viết từ năm 109 TCN đến 91 TCN cho biết, Nam Việt của Triệu Đà đánh bại Âu Lạc của Thục Phán An Dương Vương vào khoảng năm 179 TCN. Tuy vậy, nếu Trọng Thủy chết theo Mỵ Châu lúc này thì ông cũng không thể là cha của Triệu Hồ, vì khoảng cách từ khi ông qua đời tới khi Triệu Hồ ra đời là 4 năm. Còn nếu như giả thiết năm sinh của Triệu Hồ là 175 TCN là đúng, thì ta có thể xác định Trọng Thủy còn sống ít nhất tới năm 175 TCN chứ không tự sát vì Mỵ Châu vào năm 208 TCN.
            Mặt khác, qua kết quả khảo cổ mộ Triệu Văn Vương (cháu nội của Triệu Đà, là vua thứ hai của Nam Việt) được khai quật ở Quảng Châu thuộc Quảng Đông Trung Quốc, Triệu Hồ được xác định là người qua đời ở tuổi khoảng từ 35-40 tuổi, không phải là người ngoài 50 tuổi như ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư. Nếu Triệu Hồ mất năm 124 TCN và chỉ sống có 35-40 năm, thì Trọng Thủy còn sống ít nhất tới năm 164 TCN-159 TCN và mất trước năm 137 TCN (năm mất của Triệu Đà), chứ không phải mất vào cái năm đánh bại Âu Lạc 208 TCN, tức cũng không thể nhảy xuống giếng tạ tình Mỵ Châu cho được.
            Một chi tiết khác đáng chú ý nữa là, Khâm định Việt sử thông giám cương mục nhà Nguyễn chỉ nhắc tới việc Trọng Thủy lừa Mỵ Châu để phá nỏ thần, rồi theo dấu lông ngỗng mà truy sát cha con An Dương Vương, chứ không nói tới việc Trọng Thủy tự vẫn chết theo Mỵ Châu và cũng không nói tới tuổi thọ của Triệu Hồ.

Bài học mất nước thời dựng nước
            Đến đây ta có thể thấy rằng, dù có bỏ qua những chi tiết huyền thoại không thể chứng minh, thì chuyện tình Trọng Thủy – Mỵ Châu vẫn còn nhiều chi tiết chưa thống nhất. Vậy thì các sử gia đời trước đã trang trọng chép lại chuyện tình đầy nét huyền thoại này với mục đích là để cho hậu thế có thể “ôn cố tri tân”, ngẫm nghĩ việc xưa mà rút ra bài học cho cuộc sống hiện tại.
            Cũng cần nói thêm, hẳn không khỏi có những mối nghi ngại khi sử dụng tài liệu truyền thuyết. Thực ra, giới nghiên cứu đã nhiều lần có những phân tích đầy tính thuyết phục về giá trị sử liệu của truyền thuyết dân gian, đặc biệt đối với những giai đoạn lịch sử người Việt chưa có chữ viết như thời Hùng Vương – An Dương Vương. Như vậy, trong các truyền thuyết lịch sử, bao giờ bên trong vỏ bọc hoang đường thần thoại cũng chứa đựng cái cốt lõi chân thực của những sự kiện, những vấn đề lịch sử có thực.
            Vậy thì, khi bỏ qua những chi tiết phép màu, chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu chứa đựng những cốt lõi lịch sử nào? Ở đây, có hai sự thực lịch sử được phơi bày: Chuyện cái nỏ của người Âu Lạc và chuyện An Dương Vương mất nước.
            Bàn về “nỏ thần” của người Việt, có lẽ vì người Việt khi ấy sử dụng rất hiệu quả vũ khí tên là “nỏ”, bởi thế mà kẻ thù phương Bắc có phần khiếp sợ chăng?
            Về vấn đề này, sử gia Trần Thị Mai, Phó giáo sư, Tiến sỹ lịch sử Việt Nam, trưởng Phòng sau đại học Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng:

            “Nỏ là vũ khí để săn bắn thú rừng làm nguồn thức ăn. Nỏ là vũ khí để tự vệ khi đi nương, đi rẫy, đi rừng. Nỏ là vũ khí để tự vệ chống xâm lăng. Trong cuộc kháng chiến chống lại đội quân xâm lược nhà Tần (214-208 TCN) và trong cuộc kháng chiến chống lại đội quân xâm lược của Triệu Đà (206-179 TCN), nỏ là ưu thế quân sự của người Việt. Để chống lại đội quân xâm lược của Triệu Đà, tướng sĩ Âu Lạc đã sử dụng nỏ liên châu, một loại nỏ đã được cải tiến có thể bắn được nhiều mũi tên cùng lúc. Nhờ đó, thành Cổ Loa đã được bảo vệ vững chắc trong hơn 20 năm trước sức tấn công của quân đội nhà Triệu. Kết quả khai quật khảo cổ học tại Cổ Loa bởi các nhà khảo cổ học Việt Nam vào năm 1959 đã tìm thấy lẫy nỏ và hơn 10.000 mũi tên đồng, minh chứng cho kỹ thuật chế tác nỏ và khả năng sử dụng nỏ cùng mũi tên đồng của quân dân Âu Lạc thuở ấy”.

            Như vậy, câu chuyện cái nỏ là có thật, “nỏ thần” trong truyền thuyết Trọng Thủy – Mỵ Châu là để chỉ tài dùng nỏ “thần kỳ” của người Âu Lạc. Đó là một thế mạnh quân sự của người Âu Lạc làm khiếp sợ kẻ thù. Và bí quyết của sức mạnh quân sự đó đã bị kẻ thù nắm được, dẫn đến họa mất nước.
            Sử gia Trần Thị Mai tổng kết bài học lịch sử đắt giá này như sau:

            “Nỏ liên châu và mũi tên đồng là có thật. Trọng Thủy là nhân vật có thật, đã từng tham chiến cùng cha của ông là Triệu Đà trên chiến trường Âu Lạc. Tuy nhiên, câu chuyện Nỏ thần và chuyện tình Mỵ Châu – Trọng Thủy lại mang đậm chất hư cấu, huyền sử. Người xưa sáng tạo nên những câu chuyện này là muốn nhắc nhở chính mình và hậu thế không bao giờ được quên bài học cảnh giác, nhất là cảnh giác trước những âm mưu xảo quyệt của các thế lực ngoại xâm. Bài học về nàng Mỵ Châu “nỏ thần sơ ý trao tay giặc”, về vua An Dương Vương mất cảnh giác nhận giặc làm con rể để đến nỗi “cơ đồ đắm biển sâu” thời nào cũng còn nguyên giá trị của nó”.

            Đến đây ta có thể tóm lại rằng, câu chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu để lại cho hậu thế một bài học vô cùng quí giá, đó là “bài học cảnh giác trước kẻ thù xâm lược”. Và như sử gia Trần Thị Mai khẳng định, bài học này thời nào cũng còn nguyên giá trị của nó. Bởi thế, bao thế hệ sử gia Việt Nam đã trang trọng chép lại, để cho hậu thế nhìn vào mà “ôn cố tri tân”.
            Để thay lời kết, sau đây xin mượn bài thơ của thi sĩ Tố Hữu, những lời thơ mà mỗi người Việt Nam luôn phải xem là “câu kinh nhật niệm” để tự nhắc nhở mình: Đừng bao giờ chủ quan để mất cảnh giác trước kẻ thù xâm lược.


                      “Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu,
                        Trái tim lầm chỗ để trên đầu.
                        Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
                        Nên nỗi cơ đồ đắm bể sâu”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 9/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20120914-trong-thuy-my-chau-va-bai-hoc-canh-giac-truoc-ke-thu-xam-luoc

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 25/04/2017, 11:43:52
Ca khúc và giai thoại: 40 năm “Bài Thánh Ca Buồn”

Hằng năm cứ mỗi dịp gần Noel, vào độ cuối đông tiết trời se lạnh, dường như đã trở thành thông lệ, chúng ta lại nghe thấy giai điệu quen thuộc của “Bài thánh ca buồn” vang lên khắp nơi. Gần nửa thế kỷ trôi qua, vào dịp lễ Giáng sinh, bản tình ca ấy vẫn cứ thản nhiên len lỏi vào tâm thức từ người dân đô thị đến những chòm xóm nhỏ, thậm chí còn quen thuộc hơn cả Thánh ca Giáo đường.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/xxxxx%20nhac%20si%20nguyen%20vu%20thumb.jpg)
Nhạc sĩ Nguyễn Vũ

Đã 40 NĂM TRÔI QUA, giờ đây khi đặt câu hỏi, trong số các bài hát việt về Giáng sinh, ca khúc nào phổ biến nhất, câu trả lời chắc chắn sẽ là “Bài thánh ca buồn” của nhạc sĩ Nguyễn Vũ, vẫn không ngừng ngân vang trong những đêm lành.
            Thực ra, Elvis Phương không phải là ca sĩ đầu tiên thể hiện “Bài thánh ca buồn”, và có lẽ cũng chẳng phải là người cuối cùng, nhưng anh đã là người mặc định cho ca khúc một vị trí hoàn hảo, thổi vào đó dạt dào những cảm xúc từ khung trời kỷ niệm pha trộn giữa mùa Noel xưa và nay, một chút gì tiếc nuối, xa vắng, kết hợp xử lý giọng hát ở không gian cao, rộng, khoan thai, phát âm ca từ rõ ràng, lắng đọng, để rồi đẩy ca khúc lên trở thành một tuyệt tác mà qua biết bao nhiêu thế hệ người nghe, nó vẫn luôn là bài ca Giáng sinh được yêu mến nhất.
            Quay trở lại với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” thì vốn là một sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Vũ. Ông sáng tác ca khúc này vào năm 1972, tức cách đây đúng 40 năm và được hãng đĩa Sơn Ca mua độc quyền, nam ca sĩ Thái Châu là người đầu tiên thể hiện.
            Nhạc sĩ Nguyễn Vũ tên thật là Nguyễn Tuấn Khanh, sinh năm 1944 tại Hà Nội nhưng suốt thời thơ ấu ông sống ở Đà Lạt. Chính thành phố sương mù này đã tác động nhiều đến bước đường nghệ thuật của ông.
            Năm 12 tuổi (1956), cậu bé Tuấn Khanh từng đoạt giải nhất đơn ca thiếu nhi do đài phát thanh Đà Lạt tổ chức. Năm 23 tuổi, Nguyễn Vũ có bản nhạc đầu tay “Huyền thoại chiều mưa”… Hiện tại, ông có 4 người con gái đều đã trưởng thành nhưng không có ai theo nghiệp âm nhạc của cha. Hiện ông đang mở lớp dạy đàn, dạy nhạc tại Saigon.
            Mỗi ca khúc đều có một số phận, nhưng sau hơn 40 năm khi ca khúc ra đời, cha đẻ của Bài thánh ca buồn – nhạc sĩ Nguyễn Vũ – vẫn còn nguyên sự phấn khích: “Tôi không nghĩ ca khúc này lại được nhiều khán giả yêu mến đến thế. Khi viết ca khúc ấy, đơn giản tôi đang hoài niệm quãng thời trai trẻ của mình. Cái thời mà tôi chỉ dám ngắm nhìn người tôi mến, không dám mở lời làm quen”.
            Ông kể rằng năm 14 tuổi, ông bị mê đắm bởi một cô gái người công giáo tại thành phố Đà Lạt sương mù. Tình cảm ấy khiến ông cứ lẽo đẽo theo cô trên đường đến nhà thờ. Trong một lần tan lễ, trời mưa rất to, cả hai đành phải trú mưa chung dưới một hiên nhà. Lúc ấy cũng đúng ngày lễ Giáng Sinh. Cô gái và người nhạc sĩ đều im lặng. Khi nghe ca khúc Silent Night (Đêm thánh vô cùng) phát ra từ nhà bên cạnh, cô gái lẩm nhẩm hát theo, hình ảnh ấy cứ ám ảnh người nhạc sĩ cho đến nhiều năm sau đó, “trái tim của một gã trai mới lớn thổn thức đến tội nghiệp nhưng lại không có can đảm để làm quen”, vào năm 1972, Nguyễn Vũ đã viết lại cảm xúc của mình”. Và “Bài Thánh Ca Buồn” đã ra đời.
            Đối với một tác phẩm nổi tiếng, chúng ta không chỉ xem xét, khẳng định khía cạnh tài năng của người sáng tác, mà còn phải quan tâm tới những nhân tố làm nên sở thích ở người nghe. “Bài thánh ca buồn” quả thực là một ca khúc đã vượt qua sự thử thách của thời gian để trở thành hiện tượng văn hóa, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, nhân văn, thẩm mỹ, lịch sử, khiến cho tác phẩm vì thế được cả những người Thiên Chúa giáo, lẫn những người ngoại đạo đều yêu thích. Một câu chuyện tình lãng mạn nhưng tinh tế và chân thật của một mùa Noel kỷ niệm, hơi phảng phất buồn, nhưng không bi lụy.
            Ở Việt Nam, dù không chính thức nhưng Giáng sinh dần dần được coi như một ngày lễ chung, thường được tổ chức vào tối 24 và kéo sang ngày 25 tháng 12. Ngày nay, ngoài việc cộng đồng công giáo tổ chức lễ Noel theo những nghi lễ của tôn giáo nghiêm trang của mình, lễ Giáng sinh còn là một dịp sinh hoạt văn hóa cộng đồng nhộn nhịp của nhiều tầng lớp dân chúng nói chung, và đối với họ, Noel là một ngày Hội hơn là một ngày Lễ.
            Đã 40 năm kể từ khi ca khúc “Bài thánh ca buồn” ra đời, đến nay nó vẫn được nhiều người nghe, thích và tiếp tục hát, thậm chí đang có xu hướng trẻ hóa dần dần. “Bài thánh ca buồn” đã thực sự trở thành một trong những ca khúc pop-ballad được nhiều người Việt ưa chuộng vào mỗi dịp Giáng sinh.


ĐỨC BÌNH
Tháng 12/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121222-bai-thanh-ca-buon-mot-dinh-menh-xuyen-nua-the-ky

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 27/04/2017, 10:06:42
Albert Camus: Đam mê viết báo và “4 phẩm chất của một nhà báo tự do”

Giả như Albert Camus vẫn còn sống, thì hôm 07 tháng Mười Một vừa qua, ông có lẽ đã tròn 100 tuổi. Từng đoạt giải Nobel Văn học năm 1957, thế mà sinh nhật năm nay của đại văn hào diễn ra trong bầu không khí tĩnh lặng, “không trống, không kèn” như nhiều nhà văn lớn khác của Pháp. Kỷ niệm một trăm năm ngày sinh của Albert Camus chỉ gói trọn trong một cuộc triển lãm nhỏ với chủ đề “Albert Camus, công dân thế giới” tại Aix-en-Provence, một thành phố thuộc tỉnh Bouches-du-Rhône, miền nam nước Pháp. Triển lãm kéo dài từ ngày 05/10/2013 cho đến hết ngày 04/01/2014.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/Albertcamus.jpg)
Albert Camus

THẾ NHƯNG, ít ai biết được rằng ngoài thiên phú văn chương và triết học, Albert Camus còn có một biệt tài khác đó là viết báo. Đối với giới chuyên môn, nghệ thuật viết báo của Camus có thể được xếp vào hàng thượng thặng. Trong suốt ba giai đoạn 1938-1939, 1944-1947 và 1955-1956, Albert Camus lần lượt trải nghiệm tài năng của mình tại nhiều tòa soạn với nhiều bài viết và bài xã luận nổi tiếng. Ngay từ những ngày đầu mới bước chân vào nghề, Albert Camus đã tự đặt ra cho mình những tiêu chí “tâm” và “đức” của một nhà báo tự do.
            Báo Le Monde số ra ngày 18/03/2012 đã cho đăng một bản tuyên ngôn do chính Albert Camus soạn thảo, ba tháng sau khi Đệ nhị Thế chiến bùng nổ. Lúc ấy, ông chỉ mới 26 tuổi. Camus viết rằng: “Mọi sự ràng buộc của thế giới sẽ không buộc được một người khiêm nhường chấp nhận làm một kẻ bất lương”. Nghĩa là, “không nên đồng lõa với sự dối trá”. Ông còn nói thêm rằng: “Một tờ báo tự do biết cân nhắc cả về những gì mình nói lẫn những gì mình không nói”.
            Bản tuyên ngôn này của Camus đáng lẽ ra phải được phát hành vào ngày 25 tháng Mười Một năm 1939 trên tờ Le Soir Républicain, một tờ tin tức hàng ngày chỉ có bán tại thành phố Alger, nước Algeri. Lúc ấy, Albert Camus vừa là tổng biên tập vừa là cộng tác viên duy nhất của Pascal Pia, chủ bút tờ nhật báo. Thế nhưng, bài viết này đã bị kiểm duyệt và không bao giờ xuất hiện. Mãi cho đến gần đây các phóng viên của nhật báo Le Monde lục tìm thấy được bản thảo này trong Kho lưu trữ hải ngoại tại Aix-en-Provence và cho công bố chính thức trong ấn bản ngày 18/03/2012.
            Thật ra việc Albert Camus đến với nghề báo cũng rất tình cờ. Trước khi đến với công việc này, Albert Camus dấn thân như là một nhà đấu tranh chống bất bình đẳng. Năm 1935, ông tham gia Đảng Cộng sản Algeri để đòi hỏi quyền bình đẳng giữa người Ả Rập và người châu Âu, trước khi chấp nhận bị khai trừ Đảng vào mùa thu năm 1936. Tên tuổi của ông cũng đã được biết như là một nhà văn và kịch tác gia. Trong quãng thời gian tham gia đảng cộng sản, Albert Camus thành lập nhà hát kịch Lao Động (Théâtre du Travail) và cho dựng vở Le Temps du Mépris (1935), do nhà văn André Malraux sáng tác. Năm 1936, Albert dựng vở kịch đầu tiên do ông biên soạn chung cùng với mấy người bạn “Révolte dans les Asturies”. Thế nhưng, vở kịch đã bị Augustin Rozis, đô trưởng thuộc phe hữu cực đoan tại Alger cấm diễn. Một năm sau tức năm 1937, Albert Camus ra mắt tiểu luận L’Envers et l’Endroit (Mặt trái và Mặt phải).
            Năm 1938, Albert Camus được một người bạn cũ của văn hào André Malraux, Pascal Pia, tuyển về làm phóng viên phóng sự cho tờ Alger Républicain. Tờ nhật báo này có lập trường tách biệt với nhiều tờ báo đương thời, vốn đa phần ủng hộ chính quyền thực dân. Tờ nhật báo Alger Républicain muốn bảo vệ các giá trị của Mặt trận nhân dân. Lúc đầu Albert Camus nghĩ rằng chỉ nhận làm vì “miếng cơm, manh áo” và ông có một cái nhìn không mấy thiện cảm với công việc này. Albert Camus từng thổ lộ với Jean Grenier – giáo sư đại học và cũng là bạn – rằng “nghề này thật là nhàm chán”.

Bốn phẩm chất quan trọng của một nhà báo tự do
            Nhưng nhà văn cũng dần nhanh chóng thay đổi quan điểm sau mỗi thành công của những loạt bài viết phóng sự và xã luận. Khi quan sát phản ứng của độc giả, Albert Camus hiểu rằng các bài viết của ông có thể tác động lên công luận. Cũng từ đó ông rút ra một hướng đi, một niềm hy vọng, một giá trị đạo đức. Theo quan điểm của Camus, một nhà báo tự do cần hội đủ bốn phẩm chất: “Sáng suốt, kháng cự, châm biếm và bướng bỉnh”. Bốn giá trị này đã được Camus trình bày rất cặn kẽ trong bản tuyên ngôn và cho đến giờ vẫn còn giữ nguyên giá trị, trở thành một “cẩm nang” cho nghề báo chí tại Pháp.

            “Sự sáng suốt đòi hỏi khả năng kháng cự lại những lôi kéo của sự hận thù và tôn sùng số mệnh […] Thấu đáo sự việc giúp gạt bỏ sự thù hằn mù quáng và để nỗi tuyệt vọng choán chỗ. Một nhà báo tự do, vào năm 1939, không thất vọng và chiến đấu cho những gì anh ta tin là đúng cũng như hành động của mình có thể ảnh hưởng đến quá trình sự kiện. Anh ta không đăng tải bất cứ điều gì có thể kích thích sự thù hận hoặc gây thất vọng. Tất cả điều này là trong tay của nhà báo”.

            Về phẩm chất thứ hai, Albert Camus cho rằng một nhà báo tự do cũng phải biết “kháng cự”. Ngoài việc phải đảm bảo tính chính đáng của nguồn tin, nhà báo phải biết cân nhắc giữa những gì có thể nói và những gì không thể nói. Một nhà báo tự do phải biết kháng cự, tức là đầu tiên hết không được đồng lõa với sự dối trá.
            Từ đó, đi đến phẩm chất thứ ba, phải có khiếu “mỉa mai”. Albert Camus cho rằng, “mỉa mai” là một “vũ khí vô song chống lại những cường hào ác bá”. “Óc ‘châm chọc’ hỗ trợ cho sự khước từ trong một chiều hướng mà nó cho phép, không những gạt bỏ những gì sai trái, mà thường nói lên được những gì là đúng. Một nhà báo tự do năm 1939, nhất thiết phải biết mỉa mai, mặc dù nó thường là trái với ý muốn của mình”. Albert Camus còm hóm hỉnh cho rằng: “Sự thật và tự do như là những cô tình nhân đỏng đảnh dù là có rất ít người yêu họ”.
            Dĩ nhiên, tất cả những đức tính đó phải được sự bướng bỉnh “hỗ trợ”. Trên thực tế có rất nhiều cản trở cho tự do ngôn luận. Ở đây, tính bướng bỉnh là một đức tính quan trọng. Bởi có một nghịch lý kỳ khôi nhưng rất rõ ràng, nó giúp mang lại tính khách quan và sự độ lượng.

Tính chính xác sự việc là tiêu chí hàng đầu
            Suốt quãng thời gian làm nghề viết báo, Albert Camus xem đấy như là một cuộc đấu tranh cho sự thật và cho sự độc lập. Khi mới bước chân vào nghề nhà báo, Camus đã đặt vấn đề “nguồn tin” lên hàng đầu. Các cuộc điều tra ngay tại địa bàn cho phép một cách tiếp cận thực tế các sự kiện. Ông nói: “Đi đến xem là việc đầu tiên cần phải làm. Tiếp đến, nhất thiết phải thẩm định các hướng đi khác nhau có thể bằng cách trao lời cho tất cả mọi người. Không cần thiết cứ phải làm sáng tỏ quan điểm của đối thủ, nhưng ngược lại phải biết lắng nghe và phân tích chúng. Nhà báo trẻ cần phải có một sự công minh không thể nào xâm hại được”.
            Ông Jeanyves Guerin, tác giả của quyển “Dictionnaire Albert Camus” (tạm dịch là Tự điển về Albert Camus), giải thích rõ “Khi nói đến bài diễn văn, tính ‘trung thực’ và ‘lương tri’ đòi hỏi rằng những lời nói đó không được cắt ngắn, rằng các câu dẫn không được tách rời ngữ cảnh”. Đối với Albert Camus, sự thật phải là tâm điểm của cuộc tranh luận và để đạt được điều đó, nhà báo phải cố gắng “đặt tính chính xác và tìm hiểu các sắc thái lên hàng đầu”. Những trải nghiệm này được thể hiện rõ nét trong loạt bài phóng sự điều tra “Misère de la Kabylie” (Sự khốn cùng tại Kabylie), đăng trên tờ Alger Républicain vào năm 1939. Trong 11 loạt bài điều tra, ông miêu tả không chút khoan nhượng nạn đói mà vùng này đã gánh chịu. Một sự kiện mà không một tờ báo thân chính quyền thực dân lúc bấy giờ đề cập đến.
            Nhận định về tư cách nghề báo của Albert Camus, ông Jean Daniel, nhà sáng lập tuần san Le Nouvel Observateur nói như sau: “Camus rất yêu thích công việc đó (viết báo), một công việc ông rất am tường và có những công thức riêng cho mình. Nhưng trước tiên hết, Camus là một người theo chủ nghĩa thuần túy. Ông rất ghét việc khai thác các tin vặt vãnh gây ồn ào và ghét cay ghét đắng lối sử dụng thì điều kiện (đó là điểm khởi nguồn của một sự dối trá). Ông có một ý tưởng cực kỳ hiếm hoi trong nghề này: Ta có là người đầu tiên hay không điều đó không quan trọng, nhưng cần phải là người (đưa tin) tốt nhất”.
            Cũng trong thời gian này, Albert Camus phụ trách mục thời luận pháp lý trên tờ Le Soir Républicain, do ông mở ra cùng với Pascal Pia vào ngày 15/09/1939. Chính công việc này đã cung cấp cho nhà văn những kinh nghiệm mà sau này ông có dịp sử dụng để dựng lại phiên xử nhân vật Mersault trong tác phẩm L’Étranger (Kẻ xa lạ) (1942). Trên tờ báo này, Albert Camus để lại nhiều bài bình luận pháp lý nổi tiếng như vụ án Hodent. Albert Camus đã tìm cách chứng minh sự trong sạch của một người quản lý trang trại bị một tên thực dân giàu có vu khống tội ăn cắp. Nhất là, trong vụ án một người Ả Rập bị buộc tội giết người, Albert Camus đã chứng minh được rằng chính quyền lúc bấy giờ kết tội ông ta chỉ vì mục đích chính trị.

Albert Camus: Một nhà báo dấn thân
            Lẽ đương nhiên là những bài viết trên của Albert Camus đã không làm hài lòng chính quyền thực dân lúc bấy giờ. Kết quả là cả hai tờ Alger Républicain và Le Soir Républicain đều có cùng số phận với các tờ báo đến từ Pháp, bị đặt dưới sự kiểm duyệt. Nhưng không vì vậy mà Albert Camus tỏ ra chùn bước. Kiên định với chính kiến của mình, Camus kiên quyết từ chối thông báo trước nội dung các bài viết trước khi lên trang. Nhóm làm báo của ông thà để nhìn thấy những khoảng trắng, những đoạn văn bị cắt xén. Đến mức mà có một số ngày, tờ Alger Républicain và Le Soir Républicain được phát hành với những cột trắng xóa.
            Báo Le Monde số ra ngày 18/03/2012, trong một bài viết có tựa đề “Các bổn phận của nhà báo theo quan điểm Albert Camus” có nhắc lại một sự việc khá khôi hài lúc bấy giờ. Đại úy Lorit, trưởng ban kiểm duyệt báo chí đã có những nhận xét khá gay gắt về cấp dưới của mình khi để lọt những lời bàn bị cho là khó có thể chấp nhận. Trong bài viết đề tựa “Hitler và Staline” đăng ngày 18/10/1939 ký tên Albert Camus, viên đại úy này đã nhận xét như sau: “Rất đáng tiếc tác giả thiếu sự sáng suốt”. Ba ngày sau đó, trên đài phát thanh Radio-London (phát bằng tiếng Pháp), thính giả có thể nghe những lời như sau: “Việc gạt bỏ sự thật, trên tất cả các báo chí Đức, là nét đặc trưng của chế độ Đức quốc xã”.
            Hay như vào ngày 24/11 cùng năm, Camus có ghi những dòng sau đây, và đã bị cắt xén: “Chúng ta thấy rõ là một nhà báo Anh, ngày nay, vẫn cảm thấy tự hào về công việc của mình. Một phóng viên Pháp, dù là độc lập, không thể không cảm thấy xấu hổ nơi mà người ta khư khư ôm chặt lấy giới báo chí Pháp. Đến khi nào mới có cuộc chiến thông tin tại Pháp?
            Khi chiến tranh bùng nổ, do không thể cầm súng ra trận vì căn bệnh lao phổi, Albert Camus đã dùng ngòi bút đả kích mạnh mẽ vào giới cầm quyền và những kẻ trục lợi nhờ chiến tranh. Trong bài viết khác có tựa đề “Những kẻ buôn tử thần”, ông quy trách nhiệm cho các nhà sản xuất vũ khí. Ông cho rằng “việc quốc hữu hóa hoàn toàn ngành công nghiệp vũ khí, sẽ giải thoát chính phủ khỏi tầm ảnh hưởng của giới tư bản đặc biệt vô trách nhiệm, chỉ bận tâm đến việc tạo ra những khoản lợi nhuận lớn” (bài viết đăng ngày 29/11/1939).
            Albert Camus cũng không quên thân phận bọt bèo của những người dân bản xứ dưới chế độ thực dân trong thời kỳ chiến tranh. Ông tố cáo cách “đối xử tàn nhẫn” của một nhóm thiểu số và chính phủ, những kẻ “cố chấp tìm cách đàn áp những đối tượng không may có cái mũi chẳng nên có, hay nói thứ ngôn ngữ chẳng nên dùng”.
            Đối với Albert Camus, nghề nhà báo là tiếng nói của nhân loại. Trong công cuộc tìm kiếm này, tự do ngôn luận là điều chính yếu. Các áp lực tài chính hay chính trị không nên can dự vào việc phát hành. Ông luôn chiến đấu chống lại kiểm duyệt, như là những gì Camus đã làm tại Le Soir Républicain vào năm 1939. Trong suốt thời kỳ chiến tranh, cuộc chiến này mỗi lúc mỗi mạnh mẽ. Nhà báo Camus có một thái độ cứng rắn không gì lay chuyển: “Chúng ta tình nguyện chấp nhận kiểm duyệt quân sự về những tin tức có thể có lợi cho kẻ thù. Nhưng chúng ta không chấp nhận ở bất cứ lúc nào sự kiểm duyệt chính trị”.
            Mặc dù có nhiều lời đe dọa đóng cửa tòa soạn, nhưng cặp bài trùng Albert Camus – Pascal Pia vẫn không chùn bước. Sự cứng đầu cứng cổ của họ đã gây bực tức cho chính quyền sở tại. Kết quả là sau 117 số phát hành, tờ Le Soir Républicain đã bị đóng cửa vào ngày 10/01/1940, theo lệnh của thống đốc Alger.

Albert Camus: Báo chí phải độc lập với quyền lực và tiền bạc
            Thất nghiệp, dưới áp lực của chính quyền sở tại, Albert Camus không được một tòa soạn nào dám tuyển dụng. Sau đó, ông còn bị chính quyền thực dân trục xuất khỏi Alger. Thế là nhà báo quyết định đến Paris. Tại đây, nhờ Pascal Pia, ông tìm được một chân thư ký cho tòa soạn báo Paris Soir. Thế nhưng, tài năng của nhà báo Albert Camus thật sự nở rộ khi ông đến làm việc cho tờ Combat (Chiến đấu). Một tờ báo hoạt động bí mật của quân Kháng chiến. Số báo miễn phí đầu tiên phát hành vào ngày 24/08/1944. Và chính trên tờ báo này tài viết báo của Albert Camus đã phát triển tốt nhất. Ông đầu tư triệt để cho thể loại “cao cấp” nhất là “xã luận”. Để làm được điều này, Camus đề xuất ba chiêu thức: “một ý tưởng, hai ví dụ, ba tờ giấy” (une idée, deux exemples, trois feuillets).
            Vào ngày 08/08/1945, khi quả bom nguyên tử được thả xuống thành phố Hiroshima, Nhật Bản, Albert Camus là người đầu tiên tại Pháp đã có phản ứng, quan ngại cho “những triển vọng khủng khiếp đang mở ra cho nhân loại”. Nhà báo viết: “Nền văn minh cơ khí vừa chạm đến cực điểm của sự dã man. Trong một tương lai xa hay gần, cần phải biết lựa chọn, giữa sự tự sát tập thể hay việc sử dụng khôn ngoan các hiểu biết khoa học”.
            Với 48 ấn bản bí mật tại tờ Combat, Albert Camus trở thành một nhà báo tiếng tăm. Tuy nhiên, yêu nghề viết báo đến chừng nào thì Camus lại ghét giới báo chí đến ngần ấy. Cuộc phiêu lưu tại Combat thể hiện rõ chữ “tâm” và “đức” của Albert Camus, muốn nhìn thấy một nghề viết báo trung thực, chính xác và độc lập với các thế lực của tiền bạc cũng như là quyền lực chính trị. Chính vì thế, Albert Camus thường xuyên lên án mặt trái của giới báo chí. Nhất là trong bài xã luận đăng ngày 31/08/1944 trên tờ Combat. Qua việc chỉ trích “thói ham tiền và thái độ thờ ơ của bọn quyền thế”, Albert Camus chỉ ra rằng bọn họ chỉ tìm cách “làm hài lòng hơn là soi sáng”. Ông đã kêu gọi các đồng nghiệp hãy cắt đứt mối liên hệ mà ông cho là “loạn luân” giữa nghề nghiệp với sự cám dỗ của đồng tiền.
            Nếu như đối với độc giả Algeri, đầu tiên hết Albert Camus giải thích rõ bổn phận làm sáng tỏ và cẩn trọng là thuộc phận sự của một nhà báo, chống lại sự tuyên truyền và sự “nhồi sọ”, thì tại Combat, Camus tiếp tục đưa ra một hiến chương về thông tin, đảm bảo cho nền dân chủ, sao cho những thông tin đó được giải thoát khỏi vấn đề tiền bạc. Camus viết: “Thông tin chính xác thay vì thông tin nhanh, nói rõ ý nghĩa của mỗi tin tức bằng một bình phẩm tương thích, xây dựng một ngành báo chí chỉ trích và, hơn cả mọi thứ, không nên chấp nhận đặt chính trị lên trên cả đạo đức cũng như là để đạo đức rơi vào chủ nghĩa giáo điều”.
            Nhà báo Laurent Joffrin đã tóm lược lại như sau: “Albert Camus đã xây dựng một mô hình mà tất cả các nhà báo đúng với tên gọi này sẽ phải đi theo. Ông đã thể hiện và hình thành lý thuyết đạo đức nghề nghiệp. Nhà báo phải tham chiếu vào những giá trị đạo đức chứ không phải là giá trị chính trị. Đó là những gì Camus đã làm. Đó cũng là lý do vì sao ông thường đi ngược lại với trào lưu. Cần phải có sự can đảm để bất đồng với xã hội, để nói không với một chủ nghĩa theo thời nào đó. Hơn nữa, Albert Camus cũng như Jean Daniel đã đưa ra ý tưởng: Dù có một chính kiến hợp lý và có sắc thái riêng về một sự kiện cũng không gạt bỏ được một lập trường”.
            Tóm lại, đối với Albert Camus, ngành báo chí từng là một cộng đồng người ở đó ông cảm thấy được nuôi dưỡng. Đó giống như là một trường đời và đạo đức. Ở đó, ông thấy được sự cao cả. Có thể nói Albert Camus là một trong những tiếng nói hay nhất trong lãnh vực này, góp phần hình thành nên cái khung của một quy chế nghiêm ngặt cho ngành báo chí.


MINH ANH
Tháng 1/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20131231-albert-camus-niem-dam-me-viet-bao-va-%E2%80%9Cbon-pham-chat-cua-mot-nha-bao-tu-do%E2%80%9D

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 02/05/2017, 11:50:38
Nhà văn Mai Thảo và tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”

Mai Thảo tên thật là Nguyễn Đăng Quý. Sinh năm 1927 tại Nam Định, di cư vào Nam năm 1954. Viết truyện ngắn trên các báo Dân Chủ, Lửa Việt, Giòng Việt từ năm 1954. Chủ trương các tạp chí Sáng Tạo, Nghệ Thuật, Văn. Tị nạn tại Hoa Kỳ từ 1978. Mất tại California năm 1998.

(http://68.media.tumblr.com/ad28071d899f11982f246c0c3c6ec700/tumblr_nuwukn2XBG1tbfmt6o1_400.jpg)
Nhà văn Mai Thảo, nhà văn Vũ Khắc Khoan, nhà văn Nguyễn Sỹ Tế,
nhạc sỹ Phạm Đình Chương và họa sỹ Tạ Tỵ trong một buổi chiêu đãi


Thành lập nhóm Sáng Tạo
            Mai Thảo nổi tiếng với tác phẩm đầu tiên mang tên “Đêm giã từ Hà Nội” và sau đó hơn 50 tác phẩm vừa tiểu thuyết, truyện dài, truyện ngắn ra mắt độc giả. Năm 1956 cùng với Thanh Tâm Tuyền và một nhóm nhỏ bạn hữu, Mai Thảo đã thành lập tạp chí Sáng Tạo và sau đó tạp chí này trở thành nơi tập họp các văn thi họa sĩ sáng tác dưới cái tên nhóm Sáng Tạo. Những công trình của các nghệ sĩ trong nhóm sau nhiều thập niên đã có một số ảnh hưởng đến giai đoạn sáng tác của giới cầm bút, và tên tuổi của nhóm Sáng Tạo vẫn được giới phê bình văn học đánh giá cao qua các lĩnh vực sáng tác cũng như lý luận phê bình.
            Tập thơ duy nhất của Mai Thảo được xuất bản trước khi ông mất ít lâu mang tên: “Ta thấy hình ta những miếu đền” sau nhiều chục năm sáng tác với thể loại văn xuôi. Hôm nay chúng tôi mời quý thính giả lần giở lại tập thơ này, tĩnh lặng trong giây lát để sống cùng với ông qua những nỗi niềm mà ông lặng lẽ viết và đọc một mình trong một thời gian rất lâu trước khi tập thơ xuất hiện.
            “Ta thấy hình ta những miếu đền” với phụ bản của ba họa sĩ Ngọc Dũng, Thái Tuấn, và Nguyên Khai. Hình bìa của tác giả Trần Cao Lĩnh chụp chân dung của tác giả. Văn Khoa xuất bản 1989. Tập thơ có 44 bài thơ Mai Thảo đã viết trong nhiều năm và một thân hữu đã thay ông tập trung lại in thành sách.
            Mai Thảo từ nhiều thập niên trước khi sang Mỹ đã được giới phê bình đánh giá là ngòi bút văn xuôi đậm chất thơ nhất nước. Văn chương của ông ngoài phần kỹ thuật viết, bàng bạc trên các trang chữ là không khí lung linh của thi tứ, của chắt lọc tinh tế chỉ có trong thơ và hơn hết, Mai Thảo chứng tỏ rất sành sõi khi lựa những cặp chữ đậm dấu ấn thi ca vào truyện của ông.
            Nhiều nhà phê bình cho rằng văn của Mai Thảo chỉ hay khi ông có hứng thú thật sự và biến sự hứng khởi này thành chất lửa rồi đưa chúng vào tác phẩm. Nếu thiếu yếu tố này mà vẫn phải viết thì Mai Thảo sử dụng kỹ thuật để che bớt khiếm khuyết của chất lửa. Chất lửa trong sáng tác là phần cốt lõi làm nên bản sắc Mai Thảo.


(http://3.bp.blogspot.com/-LpKf0kHAnJE/T6DNL1PW02I/AAAAAAAA4vg/sFZoK3m0RZo/s640/BUIGIANG-THANHTAMTUYEN-MAITHAO-NXH1972.jpg)
Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyễn-Xuân Hoàng;
trước tòa soạn báo Văn, 38 Phạm Ngũ Lão, Sài Gòn 1972

Ngạo mạn
            Thế nhưng khi làm thơ, hầu như Mai Thảo chưng cất chữ nghĩa cẩn thận hơn trong tất cả các bài thơ ông có. Trong tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền”, nhiều bài chỉ bốn câu ngắn viết lên những suy tưởng khác nhau của Mai Thảo. Ngắn nhưng được ông gọt giũa, chưng cất nên thơ ông trở thành chuẩn mực của một kinh nghiệm có được sau khi sống trọn đời cho văn xuôi. Bài thơ Cục Đất vừa hóm hỉnh lại vừa thâm trầm, ít nhiều nói lên được cá tính của ông:

                        Biển một đường khơi xa thẳm xa
                        Núi vươn trượng trượng tới mây nhòa
                        Thì treo cục đất tòng teng giữa
                        cho cái vô cùng vẫn nở hoa


            Từ trên phi cơ, núi non ngất ngưỡng và mây trắng bồng bềnh, Mai Thảo nhìn thấy cái vô cùng vừa bát ngát vừa đe dọa cho mầm sống cũng đang lơ lửng trên không là ông. Mai Thảo “Con người” chợt nảy ra ý tưởng cân bằng cái bao la của vạn vật chỉ bằng một cục đất treo tòng teng chính giữa. Và ông nhận ra rằng cái vô cùng cũng hiền hòa, cũng bình an như cục đất vậy thôi. Triết lý biến sự vật nhỏ lại bằng ý muốn, tức cái vô cùng của con người đã được Mai Thảo nhiều lần áp dụng vào sáng tác của ông. Có người bảo rằng ông tự kiêu, có người nặng nề hơn cho là ngông cuồng. Có nhẹ lắm thì cũng là ngạo mạn. Nhà phê bình Thụy Khuê có nhận xét về sự ngạo mạn dễ thương này của ông như sau:

            “Mai Thảo tự coi mình là trung tâm của vũ trụ, ông viết Ta thấy hình ta những miếu đền, cái trung tâm này phát xuất từ câu đầu khi ông viết truyện ngắn đầu tiên Đêm giã từ Hà Nội”.

            Trong bài thơ “Em đã hoang đường từ cổ đại”, mặc dù vẫn còn cái lung linh hào sảng của một người tự nhận mình và người mình yêu hội tụ những đặc sắc mà trời đất đã ban tặng, Mai Thảo chỉ lặng lẽ thở dài cho những ân sủng ấy, bởi ông biết dù tài tử giai nhân thế nào chăng nữa cuối cùng thì cũng chỉ còn lại một nhánh hương cúng Phật.

                        Em đã hoang đường từ cổ đại
                        Anh cũng thần tiên tự xuống đời
                        Đôi ta một lứa đôi tài tử
                        Ngự mỗi thiên thần ở mỗi ngôi
                        Đừng khóc dẫu mưa là nước mắt
                        Đừng đau dẫu đá cũng đau buồn
                        Tâm em là Bụt tâm anh Phật
                        Trên mỗi tâm ngời một nhánh hương



(https://anhbasam.files.wordpress.com/2016/12/h9.jpg?w=907&h=453)


Phù du
            Càng gần với trời đất, Mai Thảo càng nhận chân được cái hão huyền của đời sống. Như một người tù của nhân thế, ông vạch từng ngày còn sống sót lên trên bức tường đời bao chung quanh, và ông tự hỏi phải chăng những vết gạch này chính là chiếc lá trôi trong không gian vô tận đưa ông đến vô biên, đến nghìn năm trước mặt?

                        Mỗi ngày một gạch một ngày giam
                        Lên bức tường câm lạnh chỗ nằm
                        Gạch miết tới không còn chỗ gạch
                        Gạch vào trôi giạt tới nghìn năm


            Mai Thảo đặt bút xuống bài thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền” chừng như để tự trả lời cho chính mình một câu hỏi mà từ rất lâu khi bước chân vào ngôi đền thờ văn chương đã phát sinh: Phải chăng văn chương cuối cùng thì cũng chỉ là một cuộc bể dâu, tên tuổi, đền thờ miếu mạo rồi cũng không nói lên được gì cả ngoài cái lãng quên, cái bạc đãi cùng những đớn hèn ích kỷ của con người dành cho văn chương chữ nghĩa? Nếu nhìn bài thơ qua lăng kính này người đọc sẽ thấy Mai Thảo xuất hiện ở một tâm thế khác, đáng thương và quỵ ngã như một con sư tử già chịu thua số phận. Ở đoạn đầu bài thơ, những câu hỏi liên tiếp đặt ra với thủ pháp gần với thậm xưng, tự trào thường thấy ở nhiều bài thơ cổ.

                        Ta thấy tên ta những bảng đường
                        Đời ta, sử chép cả ngàn chương
                        Sao không, hạt cát sông Hằng ấy
                        Còn chứa trong lòng cả đại dương
                        Ta thấy hình ta những miếu đền
                        Tượng thờ nghìn bệ những công viên
                        Sao không, khói với hương sùng kính
                        Đều ngát thơm từ huyệt lãng quên


            Từ những hình ảnh mang dáng dấp giữa cuộc đời, Mai Thảo đẩy chúng lên tận trời đất.

                        Ta thấy muôn sao đứng kín trời
                        Chờ ta, Bắc Đẩu trở về ngôi
                        Sao không, một điểm lân tinh vẫn
                        Cháy được lên từ đáy thẳm khơi


            Không ngừng ở đó, Mai Thảo tìm tới cả Chúa và Phật để chia sẻ sự vinh quang này của ông, một vinh quang ảo không hề có.

                        Ta thấy đường ta Chúa hiện hình
                        Vườn ta Phật ngủ, ngõ thần linh
                        Sao không, tâm thức riêng bờ cõi
                        Địa ngục ngươi là, kẻ khác ơi!
                        Ta thấy nơi ta trục đất ngừng
                        Và cùng một lúc trục trời ngưng
                        Sao không, hạt bụi trong lòng trục
                        Cũng đủ vòng quay phải dửng dưng


            Khi người đọc còn đang chông chênh giữa những điều huyễn hoặc mà Mai Thảo đưa ra, người đọc chợt nhận ra mình bị lừa khi tới những câu cuối:

                        Ta thấy rèm nhung khép lại rồi
                        Hạ màn. Thế kỷ hết trò chơi
                        Sao không, quay gót tên hề đã
                        Chán một trò điên diễn với người
                        Ta thấy ta treo cổ dưới cành
                        Rất hiền giấc ngủ giữa rừng xanh
                        Sao không, sao chẳng không là vậy
                        Khi chẳng còn chi ở khúc quanh.


            Rèm nhung đã khép, tấn tuồng văn chương, nghệ thuật cũng khép theo. Giai nhân tài tử lẫn các vai hề lặng lẽ trở về với vai trò thật của mình. Mai Thảo từ ẩn dụ ham muốn phù vân của thế sự, muốn tìm kiếm hư danh qua các bảng đường đầy những tên của mình trên đó, đột ngột khép lại bằng tiếng than muôn thuở của nhân sinh: Mọi sự ở đời chẳng qua là phù phiếm. Mai Thảo lấy mình ra như một cái bia, vừa chế giễu vừa thương xót lại cũng vừa chua chát qua những câu cuối của bài thơ.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Book-review-mai-thao-and-his-poems-collection-mlam-10312009105029.html/maithao185.jpg/image)
Nhà văn Mai Thảo

Cô độc
            Mai Thảo trong những năm cuối đời đã uống rượu thay cơm và hầu như ông ăn rất ít. Rất hiếm khi người ta thấy ông say cái say sinh lý, nhưng ông lại say liên miên theo cung cách của một nhà thơ. Bốn câu thơ nói về rượu của ông trong bài “Một mình” là bốn câu hay trong tập thơ, ông viết:

                        Ngồi tượng hình riêng một góc quầy
                        Tiếng người: kia, uống cái chi đây?
                        Uống ư? một ngụm chiều rơi lệ
                        Và một bình đêm rót rất đầy


            Chữ “Ngồi tượng hình” vừa quen vừa lạ. Tượng hình khiến người ta liên tưởng đến một pho tượng hơn là một con người. Pho tượng một mình trong một góc lại dẫn người đọc đến một liên tưởng khác, vừa cô đơn lại vừa hiện hữu trong đám đông. Trong câu “Tiếng người: kia, uống cái chi đây?” Mai Thảo không cụ thể ai hỏi, người hỏi đứng ở vị trí nào và vai trò của y ra sao? Một bartender hay một người nào khác? Tiếng người Mai Thảo sử dụng ở đây vừa mênh mang rộng lại vừa lay lắc buồn. Buồn và rộng là hai yếu tố làm bài thơ tuy ngắn nhưng đầy ứ nỗi niềm.
            Mai Thảo cũng dùng kỹ thuật biền ngẫu quen thuộc để đưa ra từng cặp chữ đối xứng hết sức hoàn chỉnh. Kỹ thuật xưa cũ này qua tay Mai Thảo đã thành mới và hết sức day dứt. “Một ngụm chiều” đối với “một bình đêm” chỉ thật sự thành thơ khi rơi lệ đối với rót đầy. Động tác “rót rất đầy” của “chiếc bình đêm” chỉ cốt làm cho chiều rơi lệ qua một “ngụm” vừa cay đắng, vừa chịu đựng như một định mệnh khiến bốn câu thơ này trở thành ám ảnh.
            Trong bài Thơ say trên máy bay Mai Thảo diễn tả tâm trạng của mình khi đặt chân xuống đất. Tâm trạng của một người suốt đời không vợ không con, không một mái ấm đúng nghĩa. Mai Thảo thẩn thờ viết lên sự thật của những lần ông đi đó đi đây:

                        Máy bay đáp xuống chuyến bay đáp
                        Hồn bỗng thương tâm một cảnh mình
                        Điều chi nên vẫn là chẳng tới
                        Nghĩ vậy trong lòng bỗng nín thinh


            Mai Thảo nhấn mạnh ở cụm từ “máy bay đáp xuống” và rồi “chuyến bay đáp” nghe có vẻ choáng váng của một người chưa quen với tình trạng thay đổi trọng lực. Hai cụm từ gần như giống nhau này lại rất khác nhau. Máy bay là một thực thể không thay đổi nhưng chuyến bay thì có thể thay đổi. Hàm ý của Mai Thảo trong câu này chứng tỏ rất chi tiết trong cách diễn tả. Máy bay đáp xuống là điều hiển nhiên, không có sự cố kỹ thuật nào trục trặc và vì vậy chiếc máy bay mà ông đi đã đáp. Vậy ông còn chờ đợi một điều gì? Một trục trặc khác cho chuyến bay mà ông miêu tả? Chuyến bay bị trì hoãn hay đã bị hủy bỏ? Phải chăng khi viết câu này ông đưa ra một tâm lý rất hoang mang, rằng ông mong chuyến bay không đúng giờ, thậm chí bị hủy bỏ, vì chuyến đi này của ông cũng như bao chuyến bay khác đều ngoài ý muốn, đều phù phiếm và đầy những bâng khuâng.
            Ra đời muộn màng nhưng tập thơ “Ta thấy hình ta những miếu đền” chứa rất nhiều ưu tư của Mai Thảo. Ông làm thơ không dễ dàng như viết văn. Làm thơ đối với ông như một cách viết nhật ký. Và viết chỉ cho ông đọc khi một mình. Có phải vì vậy mà ông chắt chiu đến từng ý từng lời để đời có tập thơ tuy nhỏ nhưng lại ẩn chứa nhiều điều đáng nói như vậy?


MẶC LÂM
Tháng 10/2009


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Book-review-mai-thao-and-his-poems-collection-mlam-10312009105029.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 04/05/2017, 11:32:33
Sáng mãi tinh thần Vua Quang Trung: “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”

Suốt mấy ngàn năm qua kể từ ngày dựng nước, người Việt Nam ít khi được yên ổn bởi tham vọng xâm lấn của anh bạn láng giềng khổng lồ phương Bắc. Cũng trong mấy ngàn năm giữ nước đó, tinh thần hy sinh tất cả để bảo vệ chủ quyền quốc gia của người Việt Nam luôn được thể hiện một cách mạnh mẽ. Đến thế kỷ thứ 18, tinh thần đó lại thêm một lần nữa được khẳng định với anh hùng áo vải – hoàng đế Quang Trung trong chiến thắng đập tan 29 vạn quân Thanh mượn cớ giúp nhà Lê để thực hiện mưu đồ xâm lược.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/VN%20Tayson.jpg)
Tượng Nguyễn Huệ – Quang Trung trong “Tây Sơn Tam Kiệt” – bộ ba tượng anh em Tây Sơn ở Bảo tàng Quang Trung (tỉnh Bình Định)

Lưỡng đầu thọ địch
            Vào thế kỷ thứ 18, xã hội Việt Nam lâm vào một tình thế vô cùng bi đát: Đất nước đã bị chia cắt hơn 200 năm, ở miền Bắc nhà Lê thì vẫn còn tồn tại nhưng chỉ là bù nhìn, mọi quyền hạn nằm trong tay chúa Trịnh, còn tại miền Nam thì do chúa Nguyễn cai trị. Trong bối cảnh đó, vào năm 1771, tại Bình Định-Quy Nhơn, phong trào nông dân Tây Sơn đã nổi lên dưới sự lãnh đạo của ba anh em nhà họ Nguyễn: Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ.
            Nguyễn Nhạc có đầu óc cục bộ, Nguyễn Lữ thì không có chí lớn lại thiếu năng lực, còn Nguyễn Huệ lại là một người đủ đầy hùng tài thao lược, có chí muốn thống nhất non sông, có tài kinh bang tế thế. Hầu như tất cả các trận đánh lớn và mang tính quyết định của quân Tây Sơn đều do Nguyễn Huệ chỉ huy. Chính Nguyễn Huệ đã ra quân dẹp chúa Nguyễn trong Nam và tề chúa Trịnh Ngoài Bắc.
            Phong trào Tây Sơn đến năm 1787 coi như đã lẫy lừng thanh thế, có thể tiến tới làm chủ vận mệnh non sông. Thế nhưng, cũng chính năm ấy, anh em nhà Tây Sơn lại xảy ra mâu thuẫn: Nguyễn Huệ muốn tiếp túc chiến đấu để thống nhất quốc gia, còn Nguyễn Nhạc thì e ngại Nguyễn Huệ vượt tầm kiểm soát của mình. Lãnh thổ của nhà Tây Sơn khi ấy được Nguyễn Nhạc chia làm ba:
            – Nguyễn Nhạc xưng là Trung ương Hoàng đế, đóng đô ở Qui Nhơn.
            – Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương, cai quản vùng đất Gia Định.
            – Phong Nguyễn Huệ làm Bắc Bình Vương, cai quản vùng đất Thuận Hóa trở ra đèo Hải Vân.
            Mâu thuẫn đi đến mức Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ phải ra quân đánh nhau. Rồi quân Nguyễn Huệ bao vây thành Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc buộc phải chít khăn tang đứng trên mặt thành khóc than kể lể. Nể tình anh, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ mới thu binh.
            Nhân cơ hội nội bộ Tây Sơn chia rẽ, các thế lực chống Tây Sơn bèn trỗi dậy. Ở phía nam, Nguyễn Ánh nhờ sự giúp đỡ của người Pháp, toan trở về đánh chiếm Gia Định. Đông Định vương Nguyễn Lữ bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn. Còn ở phía Bắc, mẹ con Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh phát binh đánh Tây Sơn. Vua nhà Thanh lúc bấy giờ là Càn Long bèn nhân cơ hội đó hạ chiếu phong cho Tôn Sỹ Nghị làm Chinh Man Đại tướng quân, điều động quân lực của bốn tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu bao gồm 29 vạn người (kể cả quân lính tác chiến và dân phu phục dịch hậu cần). Quân Thanh chia làm ba đạo tiến vào Đại Việt dưới danh nghĩa “Phù Lê diệt Tây Sơn”. Càn Long còn đặc cử Phúc Khang An chuyên trách hậu cần. Phúc Khang An cho thiết lập trên 70 đồn quân lương to lớn và kiên cố từ hai đường Quảng Tây và Vân Nam tới Thăng Long. Riêng chặng đường từ ải Nam Quan tới Thăng Long, Phúc Khang An cho thiết lập 18 kho quân lương để phục vụ cho đội quân Nam tiến.
            Như vậy, Quân đội Tây Sơn đang đứng trước cái cảnh lưỡng đầu thọ địch: cái họa Nguyễn Ánh ở miền Nam, và đặc biệt là cái họa ngoại xâm ở miền Bắc. Vận nước như chỉ mành treo chuông, gánh nặng đè lên vai Nguyễn Huệ quả thật quá lớn, và nếu không phải một thiên tài quân sự như Nguyễn Huệ thì khó lòng mà lo liệu vuông tròn cho được.

Tiến quân thần tốc
            Nguyễn Huệ đứng trước hai lựa chọn: Nam tiến hoặc Bắc tiến. Cả hai mặt trận đều nước sôi lửa bỏng và cần đến ông, tuy nhiên, nếu ông quá sa vào một mặt trận thì mặt trận kia sẽ vỡ. Tuy nhiên cái họa xâm lăng ở phương Bắc là cần kíp hơn. Nguyễn Huệ bèn sắp đặt người cố thủ tại Gia Định, đồng thời chuẩn bị xuất quân Bắc tiến cự quân Thanh. Mặc dù nhận thức được quân Mãn Thanh phía Bắc là nguy cơ lớn hơn và cấp bách hơn nhưng Nguyễn Huệ không thể đánh địch theo chiến thuật trường kỳ như triều đại nhà Lý, nhà Trần trước đó đã làm để chống quân phương Bắc. Vì vậy ông quyết định chọn cách đánh thần tốc để sớm giải quyết chiến trường miền Bắc.
            Ngày 17/2/1788 quân Tây Sơn trấn giữ Thăng Long đã theo kế sách của Ngô Thì Nhậm làm kế không thành, rút toàn bộ quân thủy bộ về đóng ở Biện Sơn và Tam Điệp (phía nam tỉnh Ninh Bình). Vì thế quân Thanh vào chiếm thành Thăng Long một cách dễ dàng, không mất một mũi tên. Do quá dễ dàng nên quân Thanh bắt đầu kiêu ngạo, Tôn Sỹ Nghị còn chẳng buồn truy kích Tây Sơn.
            Tuy nhiên, trước những cảnh báo của vua tôi Lê Chiêu Thống, Tôn Sỹ Nghị cũng bắt đầu thấy sợ nên sau khi tiến binh vào Thăng Long đã cho chia quân ra đóng ở nhiều điểm để tiện bề hỗ trợ nhau khi tác chiến. Đạo quân Lưỡng Quảng đóng tại những khu bãi rộng hai bên bờ sông Hồng, bắc cầu phao qua sông. Quân của Sầm Nghi Đống đóng tại gò Khương Thượng (Đống Đa). Đại bản doanh của Tôn Sỹ Nghị đóng ở cung Tây Long, quân “Cần Vương” của Lê Chiêu Thống đóng ở nội thành. Đạo quân Vân Nam đồn trú tại Sơn Tây. Tôn Sỹ Nghị hạ lệnh sẽ tấn công Tây Sơn vào ngày mùng 6 tết.
            Ngày 29/11/1788 (âm lịch), đại quân của vua Quang Trung ra tới Nghệ An, dừng quân tại đó hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn, tổ chức thành 5 đạo quân cùng với 200 voi chiến. Vua Quang Trung còn tổ chức lễ duyệt binh ngay tại Nghệ An để khích lệ tinh thần và ý chí quyết chiến quyết thắng của ba quân. Ngay sau lễ duyệt binh, quân Tây Sơn trực chỉ Bắc Hà, và ngày 20/12/1788 âm lịch thì đến Tam Điệp. Sau khi xem xét tình hình, vua Quang Trung hẹn ngày mồng 7 Tết sẽ quét sạch quân Thanh, vào ăn tết tại Thăng Long.
            Đêm 30 tết, quân Tây Sơn chính thức tấn công và lần lượt hạ các đồn Gián Khẩu, Nguyệt Quyết, Nhật Tảo, Hà Hồi. Đêm mồng 4 Tết, Quang Trung tiến đến trước đồn lớn nhất của quân Thanh là Ngọc Hồi nhưng dừng lại chưa đánh khiến quân Thanh lo sợ, phần bị động không dám đánh trước nhưng cũng không biết bị đánh lúc nào. Trong khi đó một cánh quân khác của Tây Sơn bất ngờ tập kích đồn Khương Thượng (Đống Đa) khiến quân Thanh không kịp trở tay. Tướng chỉ huy đồn là Sầm Nghi Đống phải tự vẫn. Sáng mồng 5, vua Quang Trung mới tấn công và hạ đồn Ngọc Hồi. Trước đó, Tôn Sỹ Nghị cuống cuồng sợ hãi đã bỏ chạy. Đến sông Nhị Hà, sợ quân Tây Sơn đuổi theo, Tôn Sỹ Nghị hạ lệnh cắt cầu khiến quân Thanh rơi xuống sông chết rất nhiều đến nỗi mà sử sách ghi lại là: làm nghẽn cả dòng chảy của con sông.
            Như vậy, chỉ trong vòng 40 ngày kể từ khi hay tin cấp báo từ phía Bắc, vua Quang Trung đã đập tan 29 vạn quân Thanh, cứu non sông khỏi cái họa ngoại xâm phương Bắc.

Một chiến thắng của chính nghĩa, được lòng người thuận ý trời
            Quân Tây Sơn chỉ có 10 vạn phải chiến đấu với gần 30 vạn quân Thanh, tức là lấy một chọi ba. Thế nhưng, vua Quang Trung đã dành chiến thắng vang dội, đánh tan tác quân xâm lược, khiến Tô Sỹ Nghị phải chạy trối chết. Xác của quân thù ngổn ngang, đến mức mà tương truyền sau chiến thắng, các xác này được gom lại thành nhiều gò đống lớn, sau đó có đa mọc um tùm nên mới gọi là Gò Đống Đa. Nhà thơ Ngô Ngọc Du thời đó đã phải thốt lên thán phục:

                        Thành nam xác giặc mười hai đống
                        Ngời sáng anh hùng đại võ công


            Nguyên nhân nào đã dẫn đến chiến thắng vĩ đại này? Ta có thể tóm lược mấy ý như sau:

1) Thần tốc và bí mật
            Quân Thanh tiến vào Thăng Long vào ngày 17/11/1788, đến ngày 21/11 thì tin tức mới về đến Phú Xuân. Ngày 25/11, Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế. Trong khi đó Tôn Sỹ Nghị quyết định ngày mùng 6 tiến binh đánh Tây Sơn. Như vậy, vua Quang Trung chỉ còn trên dưới 40 ngày đề ra để điều binh ra tới Thăng Long tấn công quân Thanh. Phòng Tuyến đầu tiên của quân Thanh là Gián Khẩu tại Ninh Bình cách Hà Nội độ khoảng 90 cây số (180 dặm Trung Quốc). Từ Phú Xuân (Huế) ra đến Hà Nội có khoảng trên 600 km (1200 dặm). Như vậy, để ra đến được Ninh Bình tấn công đồn Gián Khẩu vào ngày 30 tháng Chạp, quân đội của vua Quang Trung có trên dưới 35 ngày đường. Trừ 10 ngày tuyển binh ở Nghệ An, thì quân Tây Sơn chỉ còn có 25 ngày đường cho khoảng hơn 1000 dặm (trên 500 km). Còn nếu lấy Thăng Long làm đích, thì tính đến ngày mùng 5 tết, quân Tây Sơn phải vượt trên 600 km đường bộ trong 40 ngày, tức phải đi liên tục bình quân 15 km (30 dặm)/ngày.
            Ta thấy, điều động một đội quân 10 vạn người và hơn 200 thớt voi mà phải đi liên tục và nhanh chóng như vậy thật là điều hi hữu. Nhưng vua Quang Trung đã làm được cái điều hi hữu ấy. Trong khi hành quân, yếu tố bí mật của quân đội Tây Sơn là tuyệt đối, nó kín đến mức mà các nhà sử học ngày nay vẫn còn tranh cãi về cách thức hành quân thần tốc của vua Quang Trung. Thế nhưng cơ bản có hai giả thuyết. Một là cho rằng quân lính đã chia thành nhiều tốp, mỗi tốp có ba người, ba người này thay phiên khiêng nhau để một người được nghỉ, và như thế có thể đi liên tục. Một số người khác lại cho rằng, vào thời điểm đó, từ Huế ra Thăng Long chỉ có hai tuyến đường chính: Đó là đường dịch trạm hay đường thiên lý (gần trùng với Quốc lộ 1A ngày nay) và tuyến Thượng đạo, men theo đồi núi trung du phía Tây, giãn cách với Quốc lộ 1A từ 30-40km đến 70-80km, và vua Quang Trung đã chọn đường Thượng Đạo để tránh tay mắt kẻ thù.
            Cuộc tranh cãi vẫn chưa ngã ngũ. Thế nhưng, sự thật càng khó truy tìm chừng nào, thì ta càng thấy cái thiên tài quân sự của vua Quang Trung lớn chừng ấy. Và trên thực tế, điều mà thế hệ sau của ông phải vắt óc suy nghĩ vẫn chưa ra thì ông đã làm được. Chính nhờ hành quân thần tốc và tuyệt mật, nên quân đội Tây Sơn đã tạo được thế tấn công bất ngờ, khiến giặc không kịp trở tay. Sử sách vẫn còn ghi lại những lần tấn công của quân Tây Sơn vào đồn giặc mà quân giặc phải bàng hoàng chưa hiểu chuyện gì đang xảy ra.

2) Được lòng ba quân và dân chúng
            Đây là nguyên nhân chính yếu dẫn đến chiến thắng diệu kỳ của vua Quang Trung, bởi nếu có hành quân thần tốc cỡ nào mà không được dân ủng hộ, không được ba quân hết lòng chiến đấu thì cũng không thể thành công cho được.
            Ta nhớ lại rằng, khi ra đến Nghệ An, vua Quang Trung cho dừng binh để tuyển mộ thêm quân sĩ và tổ chức lễ duyệt binh. Trước ba quân tướng sĩ, ông đã dõng dạc nói: “Quân Thanh sang xâm lược nước ta, hiện đang ở Thăng Long, các ngươi đã biết chưa? Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao nấy, tất cả đều được phân biệt rõ ràng, Bắc Nam hai phương chia nhau cai trị, người phương Bắc không phải nòi giống ta, bụng dạ ắt khác. Từ đời Hán đến nay, chúng đã bao phen cướp bóc nước ta, cho nên người mình không ai chịu nổi, đều muốn đánh đuổi chúng đi. Đời Hán có Trưng nữ vương, đời Tống có Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành, đời Nguyên có Trần Hưng Đạo, đời Minh có Lê Thái Tổ… các ngài không nỡ ngồi yên nhìn chúng làm điều tàn bạo, cho nên đã thuận theo lòng người mà dấy nghĩa binh, đều chỉ đánh một trận là thắng và đuổi được chúng về hẳn bên phương Bắc… Lợi hại và được thua đều là chuyện cũ rành rành của các triều đại trước. Nay người Thanh lại sang mưu đồ lấy nước Nam ta mà đặt thành quận huyện của chúng, không biết trông gương các đời Tống, Nguyên, Minh thuở xưa, vì thế ta phải kéo quân ra đánh đuổi chúng…”
            Lời nói trên đã thể hiện quá rõ ràng tinh thần của vua Quang Trung là: Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Đây cũng là tinh thần xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử của người Việt Nam, đã từng được danh tướng Lý Thường Kiệt đời Lý tuyên bố trong bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”, và cũng đã được Nguyễn Trãi đời Hậu Lê nêu bật trong “Bình Ngô Đại Cáo”. Vua Quang Trung đã thấm nhuần tinh thần đó, và chiến đấu cũng trong tinh thần đó. Đây là chân lý không thể phủ nhận của dân tộc Việt Nam đã được khẳng định qua biết bao thế hệ, và đã được vua Quang Trung kế thừa.
            Trong lễ duyệt binh nói trên, vua Quang Trung còn tuyên bố trước ba quân mục đích của cuộc Bắc tiến như sau:

                        Đánh cho để dài tóc,
                        Đánh cho để đen răng,
                        Đánh cho nó chích luân bất phản,
                        Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn,
                        Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ
.

            Tức là:

                        Đánh cho để dài tóc
                        Đánh cho để đen răng
                        Đánh cho nó ngựa xe tan tác
                        Đánh cho nó manh giáp chẳng còn
                        Đánh cho nó biết nước Nam anh hùng có chủ

            Đã quá rõ ràng, mục tiêu của vua Quang Trung trong cuộc chiến chống quân Thanh là để gìn giữ những tập tục riêng của người Việt (giữ tóc dài và nhuộm răng đen), và đặc biệt là để khẳng định thêm một lần nữa cái chân lý: Người Việt làm chủ nước Việt, nếu ai xâm phạm sẽ bị đánh cho ngựa xe tan tác, cho giáp bào tả tơi, hay như Lý Thường Kiệt nói là “sẽ bị đánh tơi bời”. Sử cũ chép: “Huệ dứt lời, chư quân dạ ran như sấm, rung động cả hang núi, trời đất đổi màu. Rồi chiêng trống khua vang, quân lính gấp rút lên đường ra Bắc”. Chi tiết này thể hiện sự ủng hộ của ba quân đối với chủ soái Nguyễn Huệ đến dường nào.
            Cộng thêm vào sự ủng hộ của ba quân đó chính là sự mong ngóng của lê dân đối với vua Quang Trung. Sử cũ chép rằng, quân Thanh vào thành Thăng Long ra sức cướp phá, hãm hiếp, khiến dân tình ta thán. Vua nhà Lê là Lê Chiêu Thống không lo cảnh mất quyền tự chủ quốc gia mà chỉ biết dựa vào thế lực ngoại bang để báo tư thù, thanh toán những người từng ủng hộ Tây Sơn, thảm khốc đến mức mà ngay cả mẹ ông cũng phải lên tiếng than trách. Lê Chiêu Thống thì phải chầu chực quỳ lụy Tôn Sỹ Nghị làm nhục quốc thể đến nỗi mà người đương thời phải than với nhau rằng: “Nước nam ta từ khi có đế vương đến bây giờ, không thấy có vua nào hèn hạ đến thế”. Trong bối cảnh đó, nguồn hi vọng duy nhất của người dân Việt chính là vua Quang Trung-Nguyễn Huệ.
            Chưa hết, trong trận đánh Ngọc Hồi vào sáng mùng 5 tết, khi quân Tây Sơn tấn công vào đồn Ngọc Hồi, thấy có gió bắc, quân Thanh liền dùng ống phun lửa, khói tỏa mù trời, cách gang tấc cũng không nhìn thấy gì. Không ngờ trong chốc lát trời bỗng trở gió Nam, lửa khói tạt ngược trở lại về phía quân Thanh, làm cho chúng bị thiệt hại rất nhiều, tạo thuận lợi cho quân Tây Sơn tấn công vào đồn. Rồi một chi tiết khác được sử cũ ghi lại là Nguyễn Ánh ở Gia Định nghe tin quân Thanh vào Thăng Long đã sai người chở 50 vạn cân gạo ra cho quân Thanh nhưng giữa đường gặp bão biển, cả người và gạo đều bị đắm hết. Phải chăng những chi tiết trùng hợp này là điềm báo rằng: Quân Tây Sơn được sự ủng hộ của đấng siêu nhiên, tức là được lòng trời. Nói cách khác, là vua Quang Trung bên cạnh “nhân hòa”, còn được “thiên thời”, mà được như thế ấy là bởi vì cuộc chiến đấu của ông là chính nghĩa, là để bảo vệ chủ quyền thiêng thiêng của dân tộc.

Kiên quyết chống ngoại xâm, hòa hiếu trong giao thiệp
            Không chỉ là nhà quân sự thiên tài, mà trên mặt trận ngoại giao vua Quang Trung cũng tỏ ra là người quyền biến. Nhận xét về tài năng và đức độ của vua Quang Trung, Giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille (Cộng Hòa Pháp) cho rằng ông là người kiêm toàn văn võ:

            “Chiến thắng Ngọc Hồi-Đống Đa đánh dấu lịch sử về một người anh hùng, một vị tướng tài năng đã chiến thắng vẻ vang trong một trận đánh không lâu dài. Có thể nói, chiến dịch Đống Đa là một chiến dịch nhanh nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam. Nhờ tài điều binh khiển tướng giỏi mà Quang Trung đã đánh bại 29 vạn quân Thanh.
            Cũng xin nhắc lại rằng, trước đó Quang Trung cũng đã thể hiện tài thao lược của mình. Như ông đã 4 lần vào chinh nam và cũng đã 4 lần chiến thắng. Một trong những chiến thắng đó là trận đánh Rạch Gầm-Xoài Mút. Rồi sau đó ông đã ra bắc dẹp chế độ vua Lê chúa Trịnh.
            Quang Trung không chỉ là một nhà quân sự, mà ông là người kiêm toàn văn võ. Ông biết rằng, sau khi đánh bại quân Thanh, thì sẽ có những mưu toan trở lại của quân địch. Ông đã tìm ra một con đường ngoại giao khôn khéo để tránh sự xâm lược lần thứ hai của nhà Thanh, tức là của một cường quốc quá lớn đối với Việt Nam
”.

            Giáo sư Trịnh Văn Thảo cho rằng, tài năng và đức độ của vua Quang Trung để lại nhiều bài học quý giá cho thế hệ ngày nay:

            “Có những bài học rất quan trọng đối với người Việt chúng ta ngày nay. Trước tiên, ta thấy Nguyễn Huệ chỉ xưng vương sau khi đã chứng kiến cảnh vua tôi nhà Lê chạy sang cầu viện nhà Thanh. Yêu cầu tình thế bắt buộc ông phải xưng Hoàng đế. Đó là một hành động khôn khéo bởi nó giúp ông đạt được lòng dân.
            Thứ hai, mặc dù là một tướng tài đã đánh bại quân Thanh, nhưng ông không quên đường lối ngoại giao để tránh nạn binh đao triền miên giữa Việt Nam với Trung Quốc. Bài học ở đây đó là: Chúng ta phải biết dung hòa giữa võ lực và chính trị.
            Kế đến, ta thấy rằng Quang Trung là một người có hòa chí đem lại an ninh và thịnh vượng cho đất nước. Có ba bằng chứng cho điều này. Thứ nhất, ông biết sử dụng và lắng nghe người trí thức, tài năng. Quan hệ giữa ông và La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiệp là một minh chứng cho thấy một nhà cầm quyền nhà nước biết lắng nghe lời khuyên của một nhà trí thức hoàn toàn không tham chính. Thứ hai, Quang Trung có hoài bão sửa sang một nền chính trị đã thối nát ở Bắc Hà dưới thời Lê-Trịnh. Thứ ba, ông muốn chấn chỉnh lại hệ thống giáo dục đã quá u mê bắt đầu từ thế kỷ 15 dưới ảnh hưởng của Tống Nho và khoa bảng. Ông có ý muốn dùng chữ Nôm làm ngôn ngữ chính của dân tộc, rõ ràng là một việc chưa từng có
”.

            Giáo sư Trịnh Văn Thảo tóm lược về anh hùng Nguyễn Huệ như sau:

            “Quang Trung là một người bao gồm đủ ba đức tính của người quân tử thời xưa, đó là: nhân, trí, dũng. Chỉ tiếc một điều là ông chỉ trị vì có 4 năm nên không thể thực hiện những hoài bão đó. Nếu không, tôi nghĩ rằng, chúng ta có thể tránh được họa xâm lăng xảy đến mấy chục năm sau đó”.

            Điều mà giáo sư Trịnh Văn Thảo lấy làm tiếc cũng chính là suy nghĩ của đô đốc Vũ Văn Dũng khi vua Quang Trung mất vào ngày 29/7/1792 (âm lịch):

                        Bố y phân tích ngũ niên trung
                        Mai cố thi vi tự bất đồng
                        Thiên vị ngô hoàng tăng nhất kỷ
                        Bất y Đường Tống thuyết anh hùng


            Dịch:

                        Năm năm dấy nghiệp tự thân nông
                        Thời trước thời sau khó sánh cùng
                        Trời để vua ta thêm chục tuổi
                        Anh hùng Đường, Tống hết khoe hùng.

            Anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã bôn ba đánh Nam dẹp Bắc với bao chiến công lừng lẫy. Thế nhưng, khi nhắc đến ông, thì người ta nghĩ ngay đến chiến thắng Đống Đa, một chiến thắng của một nước bé nhỏ trước một cường quốc hùng mạnh có tham vọng bá quyền, một chiến thắng khẳng định thêm một lần nữa chân lý bất diệt của dân tộc Việt Nam là “Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 4/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130405-quang-trung-dai-pha-quan-thanh-sang-mai-tinh-than-%E2%80%9Cnam-quoc-anh-hung-chi-huu-chu%E2%80%9D

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 09/05/2017, 12:20:01
“Chủ nhật buồn”: Bản tình ca “tuyệt mạng” đầy huyền thoại

“Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, đó là những cái tên mà người đời đã đặt cho bài “Chủ nhật buồn” (Gloomy Sunday, Sombre Dimanche). Nguyên tác tiếng Hungary là Szomorú vasárnap, đây là một ca khúc được liệt vào hàng bất tử trong lịch sử âm nhạc đại chúng thế giới.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/GS_SERESS2.jpg)
Nhạc sĩ Seress Rézso và ca khúc “Chủ nhật buồn”, nguyên tác tiếng Hung

RẤT NHIỀU người Việt đã quen thuộc với giai điệu quen thuộc của ca khúc “Chủ nhật buồn”, được nhạc sĩ Phạm Duy viết lời Việt và phổ biến. Thế nhưng ít ai chú ý rằng đó là một bài hát xuất xứ từ Hungary, từng đi chinh phục thế giới qua các phiên bản tiếng Anh – Gloomy Sunday – hay tiếng Pháp – Sombre Dimanche.
            Mang tựa gốc là Szomorú vasárnap, từng được mệnh danh là “Ca khúc chết người”, “Quốc ca của những kẻ tự tử”, ngay tại Hungary, bài “Chủ nhật buồn” được xem như thương hiệu tầm cỡ thế giới bậc nhất của Hungary trong âm nhạc, còn tại nước Pháp, vào năm 1999, ca khúc này được bình chọn là bản nhạc tình buồn nhất của thế kỷ XX.
            Bài hát u sầu này đã được dịch ra hơn 100 thứ tiếng trên thế giới (trong đó có cả tiếng Việt và Quốc tế ngữ esperanto), thu hút không biết bao nhiêu là đại danh ca của thế giới, từ Billie Holiday, Ray Charles, Ricky Nelson, tại Mỹ, cho đến Sarah Brightman tại Ireland, Björk tại Iceland hay Serge Gainsbourg tại Pháp…, không kể đến các các ca sĩ hát tiếng Nhật, tiếng Hoa, tiếng Hàn…
            Một trong những ca sĩ được cho là đã thể hiện hay nhất bài hát này là nữ danh ca Mỹ người da đen Billie Holliday, mà cách thể hiện đầy cảm xúc, đã khiến cho bài hát của cô bị cấm tại Anh Quốc vào năm 1941 vì bị cho là làm nản lòng người nghe vào lúc nước này cần động viên tinh thần dân chúng để chống Phát xít Đức.
            Ngoài cách thể hiện đầy u uẩn, ray rứt của Billie Holiday, ca khúc Gloomy Sunday cũng từng được nhiều ca sĩ khác trình bày với một phong cách nhẹ nhàng hơn, chẳng hạn như phiên bản của ca sĩ Mỹ Ricky Nelson, từng nổi tiếng trong giới hát nhạc “đồng quê” (country music).

“Chủ nhật buồn” xuất xứ từ một bài thơ… thất tình
            Theo thông tín viên Hoàng Nguyễn từ thủ đô nước Hung, ca khúc “Chủ nhật buồn”, nhạc của Seress Rezső, lời thơ của Jávor László và Seress Rezső, ra đời vào giữa thập niên 30 thế kỷ trước tại Budapest. Tất cả xuất phát từ một bài thơ… thất tình của Jávor László, khi đó 26 tuổi, phóng viên hình sự một tờ báo ở Budapest.
            Ðó là năm 1933. Chàng trai Jávor László buộc phải chia tay với người yêu, khi đó đã là vợ kẻ khác. Tương truyền, trong buổi hẹn hò bí mật cuối cùng, Jávor tuyên bố chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ, và đối với chàng, cô gái không còn tồn tại nữa.
            Bài thơ “Chủ nhật buồn” đã ra đời như thế, như một kỷ niệm cho mối tình đã chết, đầy tang tóc với câu mở đầu: “Chủ nhật buồn với muôn cành hoa trắng – Anh chờ em với lời kinh cầu”, để rồi khi mối tình không còn và ngày chủ nhật đối với anh chỉ còn là nước mắt và nỗi âu sầu.
            Sau khi ra đời, bài thơ không được ai biết tới và tác giả thi phẩm đã đề nghị Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, phổ nhạc cho bài thơ đó. Sau vài tháng, bài hát “Chủ nhật buồn” ra đời, và người nhạc sĩ không hề biết nhạc lý đã phải huýt sáo để nhờ một thanh niên thạo nhạc ghi lại với giá 5 đồng.

Tiếng tăm của bài ca “tuyệt mạng”
            Trong khi các tác giả đang buồn bã vì ca khúc không chạy như ý muốn thì đột nhiên, báo chí Hungary loan tin trong vòng 2 tuần liền, đã có hai người tự sát bên bản nhạc “Chủ nhật buồn”. Tháng 11/1935, báo chí Hungary mở cuộc tấn công phê phán ca khúc và gọi nó là “bài ca giết người”.
            Lúc đó, báo chí Thụy Sĩ, Ý, Pháp, Ðức bắt đầu viết về “Chủ nhật buồn”, nơi khen, nơi chê, và truyền thông quốc tế bắt đầu gọi ca khúc là “Quốc ca của những kẻ tự tử”. Từ Châu Âu lan sang Bắc Mỹ, tờ New York Times còn loan tin tại Budapest, đã có một làn sóng người nhảy xuống dòng Danube tự tử khi nghe bài hát.
            Tất nhiên, đây chỉ là một trong những “huyền thoại đô thị” mà Budapest cũng có không ít, nhưng điều đáng chú ý là cơn sốt “Chủ nhật buồn” khi đó mới có ở một số nước, chứ chưa hề có ở Hungary.
            Chỉ khi một ông bầu âm nhạc người Pháp sang Budapest để nghe ca khúc, rồi mang bản nhạc về và cho dựng tại Paris, lúc đó cả thế giới mới biết đến Seress, người nhạc sĩ.
            “Chủ nhật buồn” bắt đầu chinh phục thế giới bằng cơn sốt như vậy. Cả châu Âu hướng về mốt… đau buồn tập thể, dẫn đến… tự sát, như thế! Jávor, chàng trai thất tình, bỗng nổi tiếng với bài thơ “Chủ nhật buồn”, đã nói với báo giới khi nghe phong thanh về thành công “chết người” của mình: “Giờ, người ta nghĩ đến tôi như kẻ đào mồ với chiếc xẻng trong tay”.

Giải mã “ma lực” của ca khúc “Chủ nhật buồn”
            Người ta nói nhiều đến “Chủ nhật buồn” như một bài ca có ma lực vô cùng đặc biệt, khiến người nghe ảo não, sầu muộn đến độ phải tự tìm đến cái chết. Không thể biết được đâu là sự thật, đâu là chứng cuồng tầm cỡ thế giới, và đâu là món nghề quảng cáo của sự kinh doanh nghề sân khấu.
            Quả thực, cạnh thi thể nhiều người tự vẫn, có bản nhạc của ca khúc, nhất là ở Hungary. Nhưng xứ sở này, dù có “Chủ nhật buồn” hay không, cũng đã được liệt vào hàng những quốc gia hàng đầu thế giới trong các thống kê về số người tự sát!
            Thời kỳ 1935-36, khi bài hát ra đời, nhân loại đang đứng trước cuộc Thế chiến thứ hai sắp bùng nổ và cuộc khủng hoảng kinh tế đang ở độ trầm trọng. Khi tìm hiểu nguyên do và bản chất của hiện tượng “Chủ nhật buồn”, những luận văn “nặng ký” đã không quên điều đó.
            Tuy nhiên, như mọi người đều nhận thấy, giai điệu đơn điệu, lặp đi lặp lại theo cung đô thứ của bài ca, đã thể hiện một cái gì đó đáng kể. Và quả thực, mỗi thời đại đều có một “bài ca chết người” của mình.
            Chỉ vài năm sau khi bài thơ của Jávor László ra đời, “Chủ nhật buồn” – kèm giai điệu của Seress Rezső – đã được dịch ra gần 30 thứ tiếng; bản nhạc và những chiếc đĩa hát “Chủ nhật buồn” tràn ngập thị trường thế giới, gieo rắc không khí buồn đau, chết chóc khắp châu Âu, Mỹ, Phi và lan sang cả Trung Quốc…
            Thành công của thi phẩm “Chủ nhật buồn” vượt xa mọi mong đợi. Cố nhiên, ngoài sự đau khổ của Jávor László, cần một ai khác phổ nhạc cho những vần thơ tang tóc đó. Ðó là Seress Rezső, một nhạc sĩ tự học, vụng về nhưng thiên tài: từ Quận VII bùn lầy nước đọng của thủ đô Budapest, ông đã có một bài ca được các cây đại thụ trong làng nhạc quốc tế xưng tụng.

Seress Rezső, nhạc sĩ thiên tài nhưng không biết nhạc lý
            Seress chào đời năm 1899 trong một gia đình gốc Do Thái và thường được gọi với cái tên “Seress bé nhỏ” vì ông chỉ cao hơn 1m55 chút đỉnh. Cả đời chỉ chơi nhạc buổi tối ở Kulacs và Kispipa, hai tiệm ăn nhỏ và đầy khói thuốc lá ở Budapest, nơi đầu thập niên 30 từng là nơi gặp gỡ của tầng lớp tiểu thị dân nghèo khó.
            Như hồi tưởng của người đương thời, chỉ ở giữa tiệm ăn họa chăng còn chút hơi ấm của chiếc lò sưởi gạch màu nâu, chứ khách khứa ngồi gần cửa ra vào vẫn phải mặc nguyên áo khoác vì lạnh lẽo. Hầu như thực khách không mấy khi thấy rõ Seress ngồi khuất sau chiếc dương cầm.
            Miệng phì phèo thuốc lá, giọng khản đặc, chỉ chơi dương cầm kiểu “mổ cò” với hai ngón của bàn tay phải, lần mò tìm nốt nhạc, vậy mà theo lời kể của người đương thời, hàng ngày, từ 6 giờ tối đến rạng sáng, Seress đã tạo nên một bầu không khí “bốc lửa” tại nơi ông chơi nhạc.
            Otto Klemperer, nhạc trưởng lừng danh người Đức đã có lời nhận xét ngắn gọn về Seress: “Không phải nhạc sĩ – chỉ là thiên tài”. Chắc chắn như thế, vì trong 40 năm ròng rã của đời nghệ sĩ, Seress không hề biết viết, biết đọc bản nhạc, ông cũng không biết hát theo nghĩa thực của từ này.
            Cách sáng tác của Seress cũng đặc biệt: vừa huýt sáo, ông vừa ngẫm nghĩ và khi được giai điệu nào “hợp lý”, ông nhờ người ghi lại thành bản nhạc. Thô sơ vậy nhưng Seress là tác giả của ít nhất 40 ca khúc đỉnh cao mà nhiều người Hungary cho rằng không tồi hơn, thậm chí, có thể còn hay hơn “Chủ nhật buồn”!
            Vào thời điểm “Chủ nhật buồn” ra đời, báo chí đã viết về người nhạc sĩ như sau: “Ở nước ngoài, nếu một nhạc sĩ chỉ sáng tác được một phần tư số ca khúc được ưa thích so với Seress, thì người ấy hẳn phải sống vương giả, có nhà lầu, xe hơi, và có thể lựa chọn các hợp đồng phim ảnh. Còn Seress thì chơi dương cầm ở một quán nhỏ, thù lao “vương giả” mỗi tối là vài đồng và một bữa tối thanh đạm”.
            Cho dù đã có rất nhiều tiền tác quyền trong các ngân hàng ngoại quốc, nhưng Seress không bao giờ đặt chân ra nước ngoài và cũng không bao giờ đụng chạm được đến những khoản tiền đó. Sau Ðệ nhị Thế chiến, Hungary về phe thua cuộc và số tiền của ông đã bị “đóng băng” với lý do… nước Hung phải bồi thường thiệt hại chiến tranh cho Đồng minh!
            Không chỉ là tác giả phần nhạc của “Chủ nhật buồn”, Seress Rezső còn đặt lời hai cho ca khúc, biến bài hát từ một bản tình ca thành một tác phẩm với âm hưởng của ngày tận thế với những câu như: “Mùa thu tới và lá vàng rơi – Tình người chết rục trên đất này”.

Seress Rezső: Từng thoát chết trong gang tấc để rồi lại tự vẫn quyên sinh
            Cảm hứng ấy được tạo bởi những trải nghiệm cá nhân: cuối Đệ nhị Thế chiến, vì nguồn gốc Do Thái của mình, Seress Rezső bị bắt vào trại tập trung và trong khoảnh khắc kinh hoàng, khi phải tự đào hố chôn mình, một sĩ quan Đức từng nghe ông hát “Chủ nhật buồn” tại Budapest trước đó vài năm đã cứu ông khỏi cái chết chắc chắn.
            Những năm tháng sau đó dưới thời Cộng sản, cái tên Seress Rezső cũng bị đưa vào danh mục cấm vì chính quyền cho rằng các sáng tác của ông mang yếu tố độc hại, hơn nữa, theo cách nói thời bấy giờ, chúng “phục vụ cho chủ nghĩa đế quốc”.
            Năm 1956, khi mấy trăm ngàn dân Hung di tản sau cuộc cách mạng mùa thu bị Liên Xô đàn áp, Seress đã có thể ra nước ngoài và bạn bè ông cũng khuyên nhà nhạc sĩ như vậy. Nhưng không gì khiến Seress rời nước Hung! Ông quá yêu vô mảnh đất Budapest và trong 10 năm cuối đời, không bao giờ ông bước khỏi Quận VII nơi ông sinh sống và chơi nhạc.
            Lúc sáu mươi chín tuổi, tháng 1-1968, khi biết mình lâm trọng bệnh, Seress đã tìm đến cái chết vào một ngày thứ Hai buồn bã bằng cách nhảy từ cửa sổ căn hộ ông sống, tại tầng 4 một tòa nhà. Cả đời bị ám ảnh bởi cái chết, bài ca do ông phổ nhạc và đặt một lời cũng là một “tình ca chết chóc”, vậy mà chính cái chết đã đưa Seress vào bất tử, như bản “Chủ nhật buồn” trước đó 35 năm.

Phiên bản tiếng Việt của Phạm Duy dựa theo bản tiếng Pháp
            Không chỉ nổi tiếng trên thế giới, “Chủ nhật buồn” còn được biết đến ở Việt Nam rất sớm, từ đầu thập niên 50, qua lời Việt của nhạc sĩ Phạm Duy. Trong một hồi tưởng, nhạc sĩ cho biết trong thời gian du học ở Pháp, ông rất yêu những bản nhạc tình của một nữ nhạc sĩ Pháp đương thời và có soạn lời tiếng Việt cho một số bài của cô, trong đó, có bản “Chủ nhật buồn” mà Phạm Duy nghĩ là đã được phóng tác từ dân ca Hung-gia-lợi.
            Ca từ của bản tiếng Việt, mặc dù, như lời Phạm Duy, là được phỏng theo bản tiếng Pháp, nhưng lại theo sát và phản ánh tinh thần của nguyên bản một cách tài tình và đáng phục: “Chủ nhật buồn, đi lê thê – Cầm một vòng hoa đê mê – Bước chân về với gian nhà – Với trái tim cùng nặng nề…”
            Bài ca do Phạm Duy đặt lời được du nhập vào Việt Nam đúng lúc đất nước phân ly, lòng người tan nát và tao loạn. Như Phạm Duy nhận xét, “Chủ nhật buồn” có thể đã ảnh hưởng nhiều đến dòng nhạc tình nói về thân phận những cặp tình nhân yêu nhau trong cơn mê sảng và nhức nhối, với tâm thức có thể xa nhau (vĩnh viễn) bất cứ lúc nào, xuất hiện ở miền Nam cuối thập niên 50 thế kỷ trước.
            Phạm Duy nhìn thấy ảnh hưởng và dấu ấn khá rõ ràng của “Chủ nhật buồn” trong “Lời buồn thánh”, một nhạc phẩm tân lãng mạn của Trịnh Công Sơn, hoặc trong nỗi buồn của ngày Chủ nhật mùa mưa ở ca khúc “Tuổi đá buồn”: “Trời còn làm mưa, mưa rơi mênh mang – Từng ngón tay buồn em mang em mang – Đi về giáo đường, ngày Chủ nhật buồn…”
            Ra đời cách đây gần tám thập niên, cho đến nay, “Chủ nhật buồn” vẫn là nguồn cảm hứng cho nhiều ca sĩ, ban nhạc với những cách thể hiện khác nhau của bài hát. Mang tâm tình của một cá nhân (Jávor László), được thăng hoa bởi nét nhạc và tâm tự sầu cảm của Seress Rezső, “Chủ nhật buồn” xứng đáng là một ca khúc vượt thời gian của dòng nhạc tình quốc tế thế kỷ thứ XX!


HOÀNG NGUYỄN & TRỌNG NGHĨA
Tháng 7/2011


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20110701-%E2%80%9Cchu-nhat-buon%E2%80%9D-ban-tinh-ca-%E2%80%9Ctuyet-mang%E2%80%9D-day-huyen-thoai

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 11/05/2017, 12:53:17
Những bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine sang tiếng Việt

Gần năm thế kỷ trôi qua, những bài học đạo đức ý nghĩa được truyền tải một cách dí dỏm và hấp dẫn trong Thơ ngụ ngôn La Fontaine dường như vẫn còn giá trị trong thời hiện đại. Sau bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh được in thành sách lần đầu tiên vào năm 1916, một số dịch giả khác, trong đó có Nguyễn Trinh Vực, tiếp tục chuyển ngữ những vần thơ của thi hào Pháp một cách thuần Việt hơn và hợp với truyền thống Việt Nam. Kể từ đầu những năm 1980, nhiều nhà xuất bản như Giáo Dục, Kim Đồng, Văn Học, Thế Giới, Mỹ Thuật, luôn quan tâm tái bản Thơ Ngụ ngôn La Fontaine của hai dịch giả trên.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/20/1366/770/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/2bialafontaine_.jpg)
Bìa trang nhất và trang bốn, bản dịch Thơ ngụ ngôn La Fontaine (Les Fables de La Fontaine),
của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, năm 1943, BNF

THÁNG 01/2017, sau hơn 100 năm bản dịch sang tiếng Việt đầu tiên được phát hành, nhà xuất bản Nhã Nam và Hội Nhà Văn cho tái bản tác phẩm song ngữ Việt-Pháp Thơ Ngụ ngôn La Fontaine (dịch ra văn vần) do dịch giả Nguyễn Trinh Vực thực hiện với phần tranh minh họa của họa sĩ Mạnh Quỳnh và được nhà xuất bản Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) phát hành năm 1945.
            Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, trưởng phòng bản quyền của NXB Nhã Nam, giải thích lý do chọn ấn bản song ngữ này:

            “Nhã Nam được thành lập bởi bốn người rất yêu sách và đam mê văn học mà trong số đó có một người sưu tầm sách cũ và sách cổ. Trong bộ sưu tập của anh đấy có cuốn Truyện cổ La Fontaine do dịch giả Nguyễn Trinh Vực dịch và họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa. Ngoài ra cũng có bản của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh, cũng do họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa. Nhưng vì bản dịch của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh đã có rất nhiều nhà xuất bản khác của Việt Nam tái bản rồi và bản dịch của Nguyễn Trinh Vực cũng là một bản dịch xuất sắc không kém cho nên Nhã Nam muốn giới thiệu lại bản dịch này cho độc giả, với các hình minh họa rất đẹp và đậm đà chất Việt Nam của họa sĩ Mạnh Quỳnh”.

            Đúng vậy, những vần thơ tiếng Pháp được dịch giả Nguyễn Trinh Vực tài tình chuyển sang các thể thơ dân gian Việt Nam quen thuộc, dễ đi vào lòng người như lục bát, song thất lục bát, lục bát gián thất hay thơ năm chữ, với nhiều điển tích cổ của Việt Nam. Nội dung câu chuyện lại rất đỗi bình dị, được hư cấu từ những nhân vật chính là những con vật thân quen, cùng với phần tranh minh họa gần gũi với văn hóa Việt của họa sĩ Mạnh Quỳnh càng lôi cuốn người đọc. Chính vì điểm này, Nhã Nam quyết định tôn trọng bản gốc năm 1945.

            “Ấn bản 2017 của Nhã Nam xuất bản Truyện cổ La Fontaine tôn trọng hoàn toàn bản được xuất bản lần đầu tiên. Tuy nhiên, có một số quy tắc chính tả đã thay đổi rất nhiều nên chúng tôi chỉ chỉnh sửa một chút xíu phần chính tả và dựa theo quy tắc chính tả hiện hành. Ngoài ra, các cách thức trình bày, minh họa và cách đặt minh họa từng trang, kể cả phần song ngữ, đều hoàn toàn tôn trọng theo ấn bản xuất bản lần đầu tiên”.

            Ấn bản năm 1945 chỉ được in mầu ở trang bìa đầu và cuối, còn bên trong là hình vẽ đen trắng. Đáng tiếc là có rất ít thông tin về sự nghiệp của Nguyễn Trinh Vực. Còn họa sĩ Ngô Mạnh Quỳnh (1917-1991) được biết đến như một họa sĩ tiên phong trong lĩnh vực sáng tác truyện tranh của Việt Nam. Ông là cây cọ chủ lực cho tờ báo nhi đồng đầu tiên Cậu Ấm – Nhi đồng giáo dục (02-05/1935), sau này được đổi thành Cậu Ấm Cô Chiêu (1935-1937). Khi minh họa cho Thơ Ngụ ngôn La Fontaine, những con vật hiện ra ngộ nghĩnh, thân quen dưới nét vẽ của Mạnh Quỳnh. “Ngay cả con vật dữ tợn như sư tử, sói… cũng đều biết cười! Và trông nét mặt chúng đáng yêu làm sao!”, như một nhà bình luận từng viết.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/lafontaine_nhanam_1.jpg)
Bìa Truyện Ngụ ngôn La Fontaine, bản dịch của Nguyễn Trinh Vực năm 1945,
NXB Nhã Nam tái bản năm 2017

Dịch tác phẩm nước ngoài để làm giầu văn học và chữ quốc ngữ
            Trước bản dịch của Nguyễn Trinh Vực, cần phải nhắc đến bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh. Vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhiều trí thức cựu học nhưng theo xu hướng cởi mở và trí thức tân học rất chú ý đến văn học Pháp. Với họ, dịch các tác phẩm Pháp là cơ sở để sáng tác văn học Việt Nam. Vì thứ nhất văn xuôi (văn vần) còn chưa phổ biến, ngoại trừ các thể loại thơ. Thứ hai, chữ quốc ngữ còn nghèo nàn và chỉ được một bộ nhỏ trí thức và quan lại sử dụng. Vì vậy, viết báo và dịch văn học nước ngoài, đặc biệt là văn học Pháp, là các cách hiệu quả để cải thiện và làm giầu chữ quốc ngữ.
            Lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam, thi sĩ La Fontaine được phiên âm qua Hán-Việt là Lã Phụng Tiên. Khi làm chủ biên tờ Đại Nam Đăng Cổ Tùng báo, ông Nguyễn Văn Vĩnh dịch nhiều bài trong tuyển tập Thơ Ngụ ngôn La Fontaine và lần lượt đăng trên báo từ năm 1907, như Con ve và con kiến hay Con sói và con chiên con (con cừu)…
            Năm 1916, Nguyễn Văn Vĩnh cho xuất bản hai tập Thơ Ngụ-ngôn của La Fontaine tiên-sanh diễn quốc âm trong nhóm III của tủ sách “Phổ thông giáo khoa thư xã” (Bibliothèque franco-annamite de vulgarisation) do François-Henri Schneider, ông chủ nhà in kiêm nhà xuất bản cùng tên, thành lập. Cũng trong nhóm III, chuyên về Văn Học, Nguyễn Văn Vĩnh còn cho in thêm một số tác phẩm văn học dân gian khác của Pháp, như Truyện trẻ con của Perrault tiên-sanh diễn nôm (les Contes de Perrault), Télémarque phiêu lưu ký (les Aventures de Télémarque), Bil Blas de Santillane, Guilliver phiêu lưu ký (le Voyage de Guilliver)
            Năm 1928, lần đầu tiên tập Thơ Ngụ ngôn La Fontaine gồm 44 bài của Nguyễn Văn Vĩnh được họa sĩ Mạnh Quỳnh minh họa trong ấn bản do NXB Trung Bắc Tân Văn phát hành. Đến năm 1943, tập thơ được NXB Alexandre de Rhodes tái bản. Trong phần “Mấy lời của dịch giả”, nhà trí thức Nguyễn Văn Vĩnh viết:

            “Tập dịch-văn này tôi làm ra kể đã lâu năm lắm rồi, khi còn ít tuổi, chưa làm văn vần bao giờ, mà đọc qua thơ La Fontaine cũng phải cảm-hứng, chấp chảnh nên vần, tuy lắm câu văn còn lấc-cấc lắm, nhưng các bạn độc-giả, cũng nhiều ông xét quá rộng cho là dụng công dịch lấy đúng. Đúng đây là đúng cái tinh-thần, chứ không có nề gì những chữ “hổ” đổi làm “sư-tử”, “cái gậy” đổi ra “con chó”, khiến cho những người thắc-mắc được một cuộc vui, ngồi soi-bói từng câu từng chữ, mà kể được ra có ba bốn chỗ dịch lầm…”


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/3/1024/577/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/lafontaine_1916-collage.jpg)
Bản dịch Thơ Ngụ ngôn La Fontaine của dịch giả Nguyễn Văn Vĩnh in lần đầu năm 1916,
bản microfiche lưu tại BNF

Sức lôi cuốn gần 5 thế kỷ…
            Thơ ngụ ngôn La Fontaine nằm trong số những tác phẩm nổi tiếng thế giới dù đã gần… 500 tuổi! Nhiều ấn bản đặc sắc, có minh họa hay sách đọc, vẫn thường xuyên được tái bản tại Pháp dành cho độc giả nhí từ 6 tuổi.
            Jean de La Fontaine sáng tác thơ ngụ ngôn (Fables) trong khoảng những năm 1668 đến 1696, dưới triều đại vua Louis XIV, nổi tiếng thịnh vượng trong vương triều Pháp. Văn hóa cổ đại, đặc biệt là văn học Hy Lạp-La Mã, rất được ưa chuộng trong giai đoạn này. La Fontaine sử dụng một loại hình văn học thuần cổ đại, đó chính là truyện ngụ ngôn, để dạy dỗ hoàng tử.
            Toàn bộ tác phẩm của La Fontaine được chia thành ba tập và lần lượt được đề tặng cho ba người thân cận của nhà vua: tập thứ nhất (xuất bản năm 1668) được dành cho thái tử kế nghiệp; tập thứ hai (1678) dành cho Quý bà Montespan, ái phi được nhà vua sủng ái từ bốn năm qua; tập cuối (1693) được đề tặng cho Louis de France, công tước vùng Bourgogne và là cháu của vua Louis XIV.
            Các câu chuyện ngụ ngôn, được kể bằng văn vần hay bằng thơ, miêu tả cỗ máy hoạt động của chính thể chuyên chế thông qua biện pháp nhân cách hóa một số loài vật, như con hổ tượng trưng cho vương quyền. Thông qua những đoạn hội thoại và khéo léo sử dụng nghệ thuật trào phúng giữa những con vật, các câu chuyện có dụng ý “uốn nắn những phong tục, tật xấu bằng tiếng cười” với một bài học đạo đức rút ra sau mỗi câu chuyện hoặc được giải thích ở cuối hay ngay đầu bài.
            Tôn trọng nguyên bản tập thơ được dịch từ năm 1945, NXB Nhã Nam giúp độc giả so sánh quá trình cải tiến của tiếng Việt, giới thiệu một tác phẩm văn học nổi tiếng của Pháp, song cũng qua đó, khẳng định những lời khuyên đầy ý nghĩa trong tập thơ ngụ ngôn vẫn còn giá trị trong xã hội hiện nay.

            “Khi tái bản hiện nay, thì sách song ngữ Anh-Việt sẽ phổ biến hơn rất nhiều. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có rất nhiều người yêu văn học Pháp và yêu Pháp ngữ nên chúng tôi vẫn quyết định tái bản song ngữ Pháp-Việt, một phần là dành cho các học sinh học tiếng Pháp có thể trau dồi thêm. Ngoài ra, chúng tôi nghĩ khi đã tái bản một ấn bản cũ thì nên tôn trọng ấn bản đó và chỉ chỉnh sửa tối thiểu có thể. Tôi nghĩ là tác phẩm này vẫn được độc giả Việt Nam đón nhận, dù có nhiều người không biết tiếng Pháp, thì họ vẫn có thể đọc phần tiếng Việt và xem phần tranh minh họa mà bỏ qua phần tiếng Pháp. Còn những người quan tâm đến phần dịch và biết tiếng Pháp thì vẫn có thể tham khảo”.


THU HẰNG
Tháng 4/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170403-nhung-ban-dich-truyen-ngu-ngon-la-fontaine-sang-tieng-viet

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 16/05/2017, 16:30:58
Mười năm xa khuất Thanh Tâm Tuyền

Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền từ trần tới tháng 3 năm nay 2016 là đúng 10 năm, ông mất hôm 22 tháng 3 năm 2006 tại xứ sở vạn hồ Minnesota, ít lâu sau chuyến về thăm mẹ ở Việt Nam trở qua.

(http://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/articlefiles/223609-Tuyen-1-600.jpg)
Thanh Tâm Tuyền qua ống kính Trần Cao Lĩnh

1.– Trước 1975 với tư cách thanh niên thi hành nghĩa vụ quân sự trong thời chiến (chênh lệch nhau 2 tuổi), khoảng ba năm chót trong quân ngũ chúng tôi phục vụ tại cùng một cơ sở, cùng một phòng: Tòa soạn nhật báo Tiền Tuyến, ông tới với tư cách biên tập viên rồi trở thành phụ tá cho chủ bút Phan Lạc Phúc, tôi làm tờ báo từ tháng đầu tiên khi nó ra đời năm 1966 với tư cách thư ký tòa soạn. Thanh Tâm Tuyền còn giữ hai mục thường xuyên trên hai tờ báo bên ngoài do tôi chủ biên, với nhuận bút cao nhất: 2.500 và 1.500 đồng một bài khoảng 1800 chữ: Âm Bản trên Khởi Hành, và Sống-Viết, tùy bút văn học trên Thời Tập. Cả hai mục đều là những tiểu luận văn học cô đặc hằn nét luận thuyết nếu độc giả không đón đọc ngay cũng sẽ giữ lại để đọc sau. Có một mục ông rao trên Thời Tập thật hấp dẫn như sau: “Kể từ số tới – khởi đăng “Truyện Hà Nội” thời mới lớn trong kinh thành quá khứ của một thanh niên sẽ trở thành nhà văn sau này: Thanh Tâm Tuyền, loạt truyện ngắn được viết riêng cho Thời Tập.”
            Đúng thế, chính Hà Nội là khoảng quá khứ “lửa” và “nước” của ông. Không kể “Bếp Lửa” là tác phẩm văn xuôi đầu tay của Thanh Tâm Tuyền, không kể “Tôi không còn cô độc” là tác phẩm thi ca đầu tay của Thanh Tâm Tuyền, cả hai tràn đầy không gian và thời tiết Hà Nội, ông còn một quá khứ đau đớn ở Hà Nội còn ám ảnh, còn mơ hồ, còn lẩn khuất trong các tác phẩm của ông. Nó ở giữa người cha sinh đẻ xa khuất đột ngột và ông K., người cha dượng. Những ai đọc văn xuôi Thanh Tâm Tuyền hẳn đều cảm thấy một bóng dáng tranh tối tranh sáng, – ông không viết rõ mà viết trong bóng hình – nhân vật đã khuất bóng trong đời mình.
            Nhắc đến Thanh Tâm Tuyền người ta nghĩ ngay đến việc viết văn làm thơ, từ thái độ đến cung cách, sự việc. Cái gì cũng phải khúc chiết, sắc nét, hằn vết, không lơ mơ không ừ ào.
            Ông viết: “Anh có thấy không? Không ai nói viết thơ cả, viết thư thì có. Khi người ta nói làm văn, đó là có ý dè bỉu. Một nhà văn làm văn, thật không có gì miệt thị hơn lời ấy. Nhưng một người làm thơ lại là lẽ tự nhiên. Chỉ ngô nghê khi anh nói người làm thơ viết thơ.
            Như thế anh thấy gì?
            Giản dị hết sức, làm không phải viết. Làm thơ không cần viết. Không cần viết nghĩa là không cần tờ giấy, không cần cây bút, hơn thế không cần cả chữ. Phụ tùng hết thẩy. Một anh chàng làm thơ đã hùng hồn tuyên xướng: Nếu ai cướp mất bút tôi, tôi sẽ dùng dao khắc thơ lên đá… Nghe cũng rung đấy, nhưng cần gì phải thế. Anh chỉ cần đọc lên cho người khác nghe. Thế là xong. Trăm năm bia đá thì mòn, nghìn năm bia miệng hãy còn trơ trơ. Thơ gốc như thế. Nó chỉ cần có tiếng nói, không cần chữ. Có chữ ghi chép lại càng hay
.” (Âm Bản đoạn số 2, Thanh Tâm Tuyền)
            Làm thơ đối với Thanh Tâm Tuyền diễn tả vắn tắt và rành rọt là như thế, bình dân hay cao xa cũng chỉ là như thế. Đó là thực tế mà nhiều lần giá trị hơn lý thuyết.
            Còn viết văn đối với ông ra sao?
             “Tôi muốn nhắc lại: viết đầu tiên phải ngồi xuống, phải cố định. Ngồi trước bàn, ngồi trong quán, trong vườn, trong nhà tù… Nhưng bắt buộc phải ngồi một chỗ. Phải ở lại một chỗ trong một thời gian. Những nhà văn “sống” nhất, phiêu lưu nhất, cũng thế thôi. Họ không thể viết khi đang đi. Người làm thơ có thể.
            Khi anh cầm bút là anh đã có một chỗ để ngồi. Anh không lang thang nữa. Cái gì đã đẩy anh tới chốn đó? Sức mạnh nào cầm giữ anh ngồi hý hoáy trong một cơn mê tình thức anh cố kéo dài? Mỗi người đều có những câu trả lời riêng tư.
            Tôi thì tôi nghĩ chúng ta đều bị cám dỗ. Văn chương là mối cám dỗ
.” (Âm Bản số 9)
            Như thế Thanh Tâm Tuyền không viết lý thuyết về việc viết văn. Ông chỉ diễn lại thực tế thôi. Cung cách như thế khiến ông tách riêng ra khỏi một tầng lớp chung chung.

2.– Một kỷ niệm về Thanh Tâm Tuyền, với người chứng là họa sĩ Lê Tài Điển hiện còn ở Paris.
             “Tại tòa soạn tạp chí Thời Tập nơi Thanh Tâm Tuyền viết thường xuyên có một chuyện khẩn cấp xảy ra cho ông, chắc chắn họa sĩ Lê Tài Điển còn nhớ, vì Điển là người đứng giữa. Tôi kể chuyện này ra vì nghĩ rằng nên kể khi nhân chứng còn đó.
            Hôm ấy như thường lệ, cứ khoảng bốn, năm giờ chiều là anh em bằng hữu tới tòa báo. (Năm 1972) Tôi đã giải ngũ sau đúng hai nhiệm kỳ quân dịch làm nhiệm vụ thanh niên thời chiến trong Biệt Đoàn Văn Nghệ Trung Ương và nhật báo Tiền Tuyến – và đã trở về đời dân sự làm việc toàn thời gian cho mình từ sáng tới chiều được một năm.


(http://www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/articlefiles/223609-Tuyen-2-600.jpg)
Nhật báo Tiền Tuyến, nơi quy tụ một số tay viết

            Đang ngồi trước cửa nhà in Phúc Hưng, nơi đặt tòa soạn Thời Tập, với cô Ch. và nhà phê bình Nguyễn Nhật Duật, thì Điển tới. Ch. là người thiếu nữ mà y phục gồ ghề hạng nhất Sài gòn, mặc blouson da màu đen, quần da màu đen bó sát thân thể, đi giày bốt ống ngắn, và lái xe hơi La Dalat, là loại xe tương tự xe Jeep nhưng do Việt Nam chế tạo. Như cách ăn mặc, cô cũng rất ngổ ngáo và thẳng thắn trong chuyện đời. Cô tới thu tiền bán giấy in báo cho Thời Tập, còn nhớ là 7.000 đồng một ram 500 tờ, mỗi tháng phải cần 20 ram cho tờ báo, và khoảng 6 ram để in sách. Vừa trao cho cô 180 ngàn, còn đang ngồi uống cà phê thì Điển hiện ra ở cửa ngõ 51/51B đường Nguyễn Trãi, Chợ Lớn. Chúng tôi mang bàn ghế ra ngoài cửa nhà in ngồi, bên trong chật, 14 thợ in và một thợ máy đang làm việc, cái máy in cũ kỹ hiệu Đài Loan chạy rầm rầm.
            Lê Tài Điển vào đề ngay: “Thanh Tâm Tuyền đang cần 20 ngàn, cần ngay lập tức, bây giờ.” Anh đưa mảnh giấy T3 viết nguệch ngoạc cho tôi. Chữ T3 bao giờ cũng mạnh nét, hằn xuống mặt giấy, nếu lật tờ giấy thì thấy có thể đọc ngược qua mặt sau, vì nét chữ nổi lên gần muốn rách tờ giấy.
            Số là hai nhà văn Nguyễn Mạnh Côn và Duyên Anh nộp một dự án làm một cuốn sách lớn về Sự Tiến Triển của Việt Nam Cộng Hòa cho ông phó thủ tướng, Kiêm Thống Đốc Ngân Hàng Quốc Gia Việt Nam Nguyễn Văn Hảo. Dự án chỉ do 10 nhà trí thức văn nghệ sĩ viết, mỗi bài viết được trả nhuận bút 40.000 đồng, hơn một tháng lương của một đại tá có gia đình. Lúc ấy nhuận bút một bài viết tạp chí chỉ khoảng 1.500 đồng, chẳng hạn Tạp chỉ Văn. Riêng Thời Tập rao công khai với mọi người trả gấp đôi là 3.000 đồng một bài. Những ai nhận lời viết cho dự án nói trên được đưa trước một nửa, khi sách ra sẽ lãnh nốt nửa còn lại. T3 đã lãnh 20 ngàn, tới hạn chót không có bài, vì một lý do nào đó. Hẳn là Duyên Anh đòi lại từ lâu, nhưng tới hôm ấy là hạn chót, Duyên Anh đòi với một lời nhắn: Ngày mai tên tuổi Thanh Tâm Tuyền sẽ hiện lên mặt báo, kiểu báo Con Ong, nếu tới tối hôm nay anh không trả lại số tiền đã lấy.
            Trong mảnh giấy nhỏ T3 viết cho tôi, nói tới nước cùng: Anh có hai thùng sách quý, những cuốn sách nằm lòng của anh cả chục năm nay, anh muốn để lại cho tôi với giá 20 ngàn. Đọc xong mảnh giấy, tôi ngước lên nhìn họa sĩ Lê Tài Điển. Hẳn Điển đang quan sát nét mặt tôi theo mấy dòng chữ gán nợ của người bạn văn ở vào thế cấp bách.
            Khi viết những dòng này, chúng tôi không gặp nhau đã khoảng gần 20 năm nay. Nếu trí nhớ không lệch lạc, khuôn mặt Điển thường đăm chiêu, mái tóc dày, phủ xuống ót, vừng trán rộng có những nét hằn, tay cầm điếu thuốc lá đang cháy dở, có một sợi khói lẩn quất xung quanh; sợi khói này được châm tiếp bằng nhiều điếu thuốc đen. Và khi trả lời một câu hỏi, Điển hay nhún vai, có khi lại còn cười khẩy. Điển nhìn tôi không nói. Tôi khều Ch., chỉ cái túi da của cô, trong có 180 ngàn tiền mua giấy in báo tôi mới trả. Không biết từ lúc nào xấp tiền đã được cuộn tròn, quấn quanh bằng một sợi cao su. Tôi rút ra 10 ngàn đưa cho bạn, và nói: “Toa nói giùm moa chỉ có thế, và bảo Thanh Tâm Tuyền cứ giữ lấy thùng sách, khi nào cần thì moa lấy.” Tôi còn nhớ ngôi nhà của cây bút nòng cốt nhóm Sáng Tạo trong một con hẻm ở Gia Định.
            Khi nghe tin Thanh Tâm Tuyền qua được Hoa Kỳ, đang ở nhà một thân nhân ở New Orleans, tôi gọi điện thoại tới hỏi thăm. Giọng một người đàn ông nói: “Ông ấy nói là không tiếp ai cả.” Từ đó cho tới khi tác giả “Đào Thoát” qua đời, sự còn lại chỉ là văn chương. (Đoạn này trích lại từ tác phẩm “Những Mảng Rời” của Lê Tài Điển, trang 163-164, NXB Biển Khơi, Paris-Normandie, France, 2012.)

3.– Ðã lâu rồi người viết bài này còn nhớ có một câu phương ngữ ở quê hương: “Tháng Ba bà già chết rét.” Câu ấy không biết phát sinh từ bao giờ, và không biết nguyên do tại sao, hay chỉ nói về một vùng thời tiết quá lạnh, lạnh chết người? Nhưng trên một khoảng vài chục năm, do tình cờ thôi, người viết cũng lại ghi nhận, Tháng Ba chúng ta thấy có nhiều văn nghệ sĩ ra đi hơn là một vài tháng khác.
            Sau đây là những sự mất mát ấy, mất mát của Tháng Ba, từ gần tới xa:
            – Tháng Ba, 2016: Nhà thơ Hoài Khanh tác giả tập Dâng Rừng mất tại Biên Hòa.
            – Tháng Ba, 2016: Nhà biên luận Nguyễn Ngọc Bích mất trên trời, khi máy bay chưa đáp xuống Philippines.
            – Tháng Ba, 2014: Ký giả Vũ Ánh, nguyên chủ bút báo Viễn Ðông và báo Người Việt, mất ở Little Saigon.
            – Tháng Ba, 2011: Triết gia Phạm Công Thiện mất tại Long Beach.
            – Tháng Ba, 2010: Nhà thơ Hữu Loan, tác giả Màu Tím Hoa Sim, mất tại Nga Sơn, Thanh Hóa. Thi sĩ từng được trao giải Văn Học Nghệ Thuật Khởi Hành năm 2009.
            – Tháng Ba, 2009: Nhạc sĩ nhạc trẻ Trường Kỳ trong phong trào Hippy ở Việt Nam trước 1975 mất ở Hoa Kỳ.
            – Tháng Ba, 2008: Nhạc sĩ Anh Việt (Ðại Tá Trần Văn Trọng, chủ tịch Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội), mất tại San Jose.
            – Tháng Ba, 2006: Nhà thơ Thanh Tâm Tuyền mất ở Minnesota.
            – Tháng Ba, 2004: Nhà văn Lê Xuyên, tác giả Chú Tư Cầu, mất tại Sài Gòn.
            – Tháng Ba, 2003: Nhà báo Nghiêm Xuân Thiện, nguyên chủ nhiệm nhật báo Thời Luận trước 1975 ở Sài Gòn, mất ở Ðức.
            – Tháng Ba, 2003: Họa sĩ CHÓE. (Viết hoa, vì hầu như các họa sĩ vẽ biếm họa Việt Nam và quốc tế đều ký tên một chữ, và viết chữ hoa), mất ở Virginia.
            – Tháng Ba, 2000: Học giả Ðỗ Trọng Huề (người soạn cuốn Việt Nam Ca Trù Biên Khảo cùng thân phụ là Ðỗ Bằng Ðoàn) mất ở Hoa Kỳ.
            – Tháng Ba, 1999: Nhà thơ Kim Y Phạm Lệ Oanh, dịch giả bộ ba tập Liêu Trai Chí Dị, tức cụ bà Trương Cam Khải, mất ở Virginia.
            – Tháng Ba, 1998: Nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo (Chỉ sợ đàn con quên Việt Ngữ), mất ở Little Saigon sau thời gian dài sống ở Canada.
            – Tháng Ba, 1997: Linh mục triết gia Kim Ðịnh, tác giả Việt Lý Tố Nguyên, Triết Lý Cái Ðình, mất ở San Jose.
            – Tháng Ba, 1997: Nhà văn Mặc Thu, tác giả Bão Biển, mất ở Sài Gòn.
            – Tháng Ba, 1996: Nhà làm phim Nguyễn Bá Thế từ trần.
            – Tháng Ba, 1991: Ký giả Nguyễn Ang Ca mất ở Bruselles, Bỉ.
            – Tháng Ba, 1987: Nhà văn Bình Nguyên Lộc mất ở San Jose.
            – Tháng Ba, 1986: Nhà văn Hiếu Chân Nguyễn Hoạt, trong nhóm Tự Do, chết trong khám Chí Hòa.
             (Các trích dẫn từ cuốn Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam, tác giả Viên Linh, 450 trang, phát hành vào tháng tới).
            Chúng tôi chỉ trích dẫn riêng về Tháng Ba mà thôi.


VIÊN LINH
Tháng 3/2016


www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Muoi-nam-xa-khuat-Thanh-Tam-Tuyen-2232006-5240/

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 18/05/2017, 14:50:13
“Nam Quốc Sơn Hà”: Chân lý chủ quyền quốc gia của dân tộc Việt Nam

Lịch sử hàng ngàn năm của dân tộc Việt Nam là một bản trường ca về các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Từ thế hệ này đến thế hệ khác, người Việt Nam luôn nêu cao tinh thần bất khuất và bảo vệ bằng mọi giá chủ quyền lãnh thổ thiêng thiêng. Một trong những minh chứng hùng hồn nhất cho tinh thần đó là bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” được cho là của danh tướng Lý Thường Kiệt.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/nhungnamty6.jpg)

Thời điểm ra đời bài thơ
            Đây là một bài thơ lịch sử phổ biến nhất ở Việt Nam, phổ biến vì nó thể hiện được chân lý toàn vẹn lãnh thổ bất di bất dịch của dân tộc Việt Nam, dù có nghiên cứu sử hay không, thì người Việt Nam ai mà không biết đến câu: “Sông núi nước nam vua nam ở”. Thế nhưng, đến hiện tại, bài thơ này còn nhiều điểm chưa thống nhất giữa các tài liệu về tác giả, thời điểm ra đời và một số câu chữ trong bài thơ.
            Về thời điểm ra đời bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà”, hiện tại có hai thuyết khác nhau về thời điểm xuất hiện bài thơ, mà có lẽ là dựa chủ yếu vào hai tài liệu sau đây:
            Sách Lĩnh Nam Chích Quái của Trần Thế Pháp thời Trần phần “Truyện hai vị thần Long Nhãn, Như Nguyệt” chép:

            “Tống Thái Tổ sai bọn tướng quân Hầu Nhân Bảo, Tôn Hoàng Hưng đem binh sang xâm lược nam phương. Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ cự địch. Hai bên đối lũy cùng cầm cự với nhau. Đại Hành mộng thấy hai thần nhân hiện trên sông nói rằng: “Anh em thần, một tên là Hống, một tên là Hát, xưa kia theo Triệu Việt Vương, cầm quân chinh phạt nghịch tặc mà lấy được thiên hạ. Về sau Triệu Việt Vương mất nước, Lý Nam Đế triệu hai anh em thần. Bọn thần vì nghĩa không theo được nên uống thuốc độc mà tự tử. Thượng đế thương hai anh em thần có công lại trung nghĩa một lòng mới phong làm quan tướng trong hàng các thần linh, thống lĩnh quỉ binh. Nay quân Tống phạm cõi, làm khổ sinh linh nước ta, cho nên anh em thần đến yết kiến, xin nguyện cùng nhà vua đánh giặc cứu sinh linh […] Đêm sau thấy một người dẫn đoàn quỉ áo trắng từ phía nam sông Bình Giang tới, một người dẫn bọn quỉ áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt lại, cùng xông vào trại giặc mà đánh. Canh ba đêm ba mươi tháng mười, trời tối đen, mưa to gió lớn đùng đùng. Quân Tống kinh hoàng. Thần nhân tàng hình trên không, lớn tiếng ngâm rằng:
                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
                        Như hà Bắc Lỗ lai xâm phạm
                        Bạch nhận phiên thành phá trúc dư.
            Quân Tống nghe thấy, xéo đạp lên nhau mà chạy, mạnh ai nấy chạy thoát thân, bị bắt không biết bao nhiêu mà kể. Quân Tống vì thế đại bại mà về
”.

            Trong khi đó, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê thì ghi: “Nhà Tống sai tuyên phủ sứ Quảng Nam là Quách Quỳ làm Chiêu Thảo sứ, Triệu Tiết làm phó, đem quân tướng, hợp với Chiêm Thành và Chân Lạp sang xâm lấn nước ta. Vua sai Lý Thường Kiệt đem quân đón đánh, đến sông Như Nguyệt đánh tan được. Quân Tống chết hơn một nghìn người. Quách Quỳ lui quân, lại lấy châu Quảng Nguyên của ta (người đời truyền rằng Thường Kiệt làm hàng rào theo dọc sông để cố thủ). Một đêm quân sĩ chợt nghe ở trong đền Trương tướng quân có tiếng đọc to rằng:
                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
                        Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!
            Sau đó quả nhiên như thế. (Hai anh em Trương tướng quân, anh tên là Khiếu, em tên là Hát, đều là tướng giỏi của Triệt Việt Vương. [Triệu] Việt Vương bị [Hậu] Lý Nam Đế đánh bại mà mất nước. Nam Đế gọi cho làm quan, hai người đều nói: “Tôi trung không thờ kẻ làm vua đã giết hại chủ mình”. Rồi ẩn mình trốn ở núi Phù Long, Nam Đế gọi mấy lần không chịu ra, mới hạ lệnh ai chém được thủ cấp hai người thì thưởng nghìn vàng)
”.

            Như vậy, một thuyết cho rằng bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” xuất hiện khi vua Lê Đại Hành mang quân cự Tống năm 981, còn theo thuyết còn lại thì bài thơ ra đời khi Lý Thường Kiệt phụng mệnh vua Lý Nhân Tông mang quân chống giặc Tống xâm lăng hồi năm 1076-1077. Thế nhưng, khi đề cập đến bài thơ này đa số sách sử đều cho là gắn liền với trận đánh trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt năm 1076-1077. Như sách Việt Sử Tiêu Án của Ngọ Phong Ngô Thời Sĩ hay Việt Nam Sử Lược của Lệ Thần Trần Trọng Kim đều cho rằng bài thơ xuất hiện vào thời Lý Thường Kiệt.
            Dù bài thơ xuất hiện dưới thời Lê hay thời Lý thì đến hiện tại chưa thấy tài liệu nào ghi rằng chính vua Lê Đại Hành hay tướng Lý Thường Kiệt sáng tác bài thơ hoặc đích thân họ đã ngâm bài thơ. Trong cả hai trường hợp các sách đều nói rằng là do “thần nhân” ngâm lên để làm khiếp sợ giặc Tống. Nói về “thần nhân” ngâm bài thơ, thì các sách cũng thống nhất rằng đó là hai thần Trương Hống và Trương Hát. Mà chuyện về hai vị thần này thì còn nhiều điều mờ mịt dù rằng đền thờ hai vị là có thật.

Một bài thơ chống ngoại xâm
            Dù là xuất hiện ở thời Lê Đại Hành hay thời Lý Thường Kiệt, thì bối cảnh lịch sử cũng là: đánh đuổi giặc ngoại xâm mà cụ thể ở đây là giặc Tống. Điều đáng chú ý đó là các sách đều ghi nhận là do thần nhân đọc hoặc được vang lên từ trong miếu thần nhân, và mục đích đều là: “đánh đuổi giặc ngoại xâm”, và kết quả đều là: thắng lợi.
            Các sách có đề cập đến câu chuyện này đều ghi nhận, khi nghe bài thơ, quân Tống kinh hãi và chạy tán loạn. Vì sao lại sợ hãi đến thế? Trước tiên là vì bài thơ đến từ các thần nhân, trong chuyện Lê Đại Hành thì các thần đích thân ngâm, còn trong chuyện Lý Thường Kiệt thì bài thơ được vang lên từ trong miếu thần. Mà dẫu cho đó là mưu kế Lý Thường Kiệt, thì Lý Thường Kiệt cũng muốn nhờ đến oai thần mà làm khiếp sợ quân xâm lược và Lý Thường Kiệt đã làm được, oai linh của thần nhân đất Việt đã làm khiếp sợ quân thù.
            Trong chuyện An Dương Vương mất nước vì để mất nỏ lẩy nỏ thần, sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như sau: “Chuyện rùa vàng đáng tin chăng? Chuyện thần giáng đất Sần, chuyện đá biết nói cũng có thể là có. Vì việc làm của thần là dựa theo người, thác vào vật mà nói năng. Nước sắp thịnh, thần minh giáng để xem đức hóa; nước sắp mất, thần cũng giáng để xét tội ác. Cho nên có khi thần giáng mà hưng, cũng có khi thần giáng mà vong. An Dương Vương hưng công đắp thành có phần không dè dặt sức dân, cho nên thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư?” Nói như thế thì thần ở đây chính là linh khí của núi sông, là lòng dân vậy, thần làm theo ý muôn dân, nếu dân hộ thì thần hộ. Oai thần ở đây chính là oai linh của núi sông Việt Nam. Giặc Tống kinh hãi oai thần tức là kinh hãi cái chí khí bất khuất của dân tộc Việt Nam vậy.
            Vì sao quân Tống phải kinh hãi oai thần? Vì quân Tống đã làm trái đạo lý, mà trái đạo lý tức làm làm thần và người cùng oán vậy. Điều trái đạo lý của quân Tống đó là đã xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của một quốc gia.

Còn nhiều dị bản về nội dung bài thơ
            Trước hết cần khẳng định rằng bài thơ này không có tên, mà cái tên “Nam Quốc Sơn Hà” là do đời sau mượn bốn chữ ở câu thơ đầu và cũng là tinh thần của cả bài thơ để đặt tên cho bài thơ.
            Còn về nội dung của bài thơ, thì đến hiện tại cũng có nhiều dị bản. Đến như hai tài liệu chính yếu liên quan đến câu chuyện nêu trên cũng có chỗ khác nhau.
            Lĩnh Nam Chích Quái ghi:

                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Hoàng thiên dĩ định tại thiên thư.
                        Như hà Bắc Lỗ lai xâm phạm
                        Bạch nhận phiên thành phá trúc dư
.

            Dịch nghĩa:
                        Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
                        Điều đó đã được ghi rõ trong sách trời.
                        Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
                        Thì lưỡi gươm sắt sẽ chém tan như là chẻ tre vậy.

            Còn Đại Việt Sử Ký toàn thư nhà hậu Lê chép:

                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Tiệt nhiên phân định tại thiên thư
                        Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!


            Dịch nghĩa:
                        Đất nước Nam do Hoàng Đế nước Nam ngự trị
                        Điều hiển nhiên đó đã được ghi rõ trong sách trời.
                        Nếu như giặc phương Bắc xâm phạm cõi bờ
                        Thì sẽ chuốc lấy bại vong.

            Bản lưu hành rộng rãi trong hiện tại mà Việt Nam Sử Lược Trần Trọng Kim cũng ghi:

                        Nam quốc sơn hà Nam đế cư
                        Tiệt nhiên định phận tại thiên thư
                        Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
                        Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư!


            Ta thấy có sự khác nhau là “phân định” và “định phận”. Nếu dùng chữ “định phận” thì có vẻ thụ động hơn, tức được trời đặt để. Trong khi đó, chữ “phân định” thì có tinh thần tự chủ hơn, tức cũng do trời sắp đặt, nhưng mà sắp đặt theo chân lý, theo điều hiển nhiên. Và cũng đúng thôi, xã hội Việt Nam từ thế kỷ 15 bắt đầu chịu sự thống trị của Nho giáo, mà theo Nho giáo thì trời là “chân thiện mỹ”, là đại diện cho sự hoàn hảo, trời luôn làm điều tốt, điều hợp đạo lý cho con người. Hơn nữa, Nho sĩ ai mà không biết câu “nhân định thắng thiên”, tức nếu người quyết tâm cao thì cũng làm lay chuyển được ý trời. Mộc bản triều Nguyễn, di sản đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận là di sản tư liệu của nhân loại và được đưa vào chương trình “Ký ức thế giới” vào ngày 30-7-2009, cũng chép là “phân định”.
            Như vậy, dùng chữ “phân định” thì có vẻ hào hùng hơn và hợp lý hơn trong bối cảnh lịch sử là làm khiến sợ quân thù và khẳng định chủ quyền quốc gia như tinh thần mà bài thơ muốn truyền tải.
            Trong các bản trên, ta thấy có sự khác biệt giữa “Bắc Lỗ” – giặc phương Bắc và “nghịch lỗ” – giặc nói chung. Như vậy, từ một đối tượng ngoại xâm cụ thể là giặc phương Bắc đã đi đến giặc ngoại xâm nói chung. Điều đó cho thấy lập trường rất rõ ràng của người Việt Nam, là không chỉ giặc phương Bắc, mà bất kỳ kẻ ngoại xâm nào cũng không được phép và không thể xâm lược Việt Nam, nếu xâm lược thì sẽ chuốc lấy bại vong.
            Bàn về cách dịch bài thơ, sách giáo khoa ở Việt Nam và nhiều tài liệu khác đều chép bản dịch sau đây:

                        Sông núi nước Nam, vua Nam ở
                        Rành rành định phận tại sách trời.
                        Cớ sao lũ giặc xâm phạm
                        Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời.

            Bản dịch này dùng từ “vua” trong khi bản gốc là “đế”. Bản chữ Hán của bài thơ là:

                        南 國 山 河
                        南 國 山 河 南 帝 居
                        截 然 定 分 在 天 書
                        如 何 逆 虜 來 侵 犯
                        汝 等 行 看 取 敗 虛

            Ta thấy bản gốc là chữ 帝 – Hoàng đế, còn vua thì phải là 王 – vương. Hoàng đế là ngôi cao nhất, ngôi có quyền phong cho nhiều người làm Vua, nhưng Vua thì không bao giờ có quyền phong cho ai làm Hoàng đế. Các vua của ta xưa nay để sánh ngang với triều đình phương Bắc đều xưng là hoàng đế. Tuy vậy, Nho giáo của ta đề cao thuyết “trọng vương khinh bá”, tức chuộng việc cai trị tốt muôn dân trong nước chứ không có dã tâm đi hiếp đáp nước người, nên dân ta có vẻ đồng nhất hoàng đế và vua, như hay gọi vua Đinh Tiên Hoàng, vua Minh Mạng, hay vua Khang Hy, vua Càn Long… trong khi các vị này đều xưng là hoàng đế. Thế nhưng, nếu ở đây mà dịch Đế là Vua thì chưa thể hiện hết niềm tự tôn và tự tin rất mãnh liệt của tổ tiên ta.

Một bài thơ khẳng định chủ quyền quốc gia
            Như vậy, dù còn nhiều tranh cãi về thời điểm ra đời, về tác giả và về nội dung bài thơ, nhưng có một thực tế lịch sử đó là bài thơ đã tồn tại từ bấy lâu nay trong sử sách chính thống và trong dân gian, đó là dù Lê Đại Hành hay Lý Thường Kiệt thì hai vị này cũng đã thật sự đánh bại giặc Tống. Và điều quan trọng hơn hết không phải là lạc vào trong các chi tiết huyền sử, mà cần hiểu được bài học mà tổ tiên ta muốn gửi gắm cho thế hệ sau.
            Liên quan đến chủ đề này, giáo sư sử học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille Cộng Hòa Pháp nhận định:

            “Trước tiên tôi xin nhắc lại một bản dịch bài thơ mà tạm gọi là của Lý Thường Kiệt, bản dịch của cụ Nguyễn Đổng Chi:
                        Nước Nam Việt có vua Nam Việt,
                        Trên sách trời chia biệt rành rành.
                        Cớ sao giặc dám hoành hành?
                        Rồi đây bay sẽ tan tành cho coi.
            Người ta không biết bài thơ này có phải của danh tướng Lý Thường Kiệt hay không, nhưng chúng ta cần phân biệt huyền sử với khoa học lịch sử. Trong bối cảnh tranh chấp quyết liệt giữa người Việt dưới thời Lý và người Trung Quốc dưới thời Tống, thì ta có thể xem bài thơ này là bản tuyên ngôn độc lập tự chủ của người dân Việt Nam. Theo ý tôi, cái ý nghĩa lịch sử nó sâu sắc hơn là sự kiện lịch sử.
            Xem lại bài thơ này ta thấy có ba điểm chính. Điểm đầu tiên là nguyên tắc độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam được phát biểu một cách rõ rệt. Thứ hai là nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam. Và thứ ba là nguyên tắc về bổn phận thiêng liêng của người Việt là phải bảo vệ tổ quốc của họ. Đó là ba ý chính để có thể suy luận rằng đây có thể là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của quốc gia Việt Nam.
            Còn trong bối cảnh thời sự ngoại giao của dân tộc Việt Nam hiện nay và những vấn đề ta phải đương đầu, tôi nghĩ thế này, qua bài thơ ta thấy một chân lý lịch sử rõ rệt là: ai đi ngược lại ba nguyên tắc đó sẽ đi đến thất bại. Nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện giờ, ai đi ngược lại chính nghĩa, dựa vào võ lực để xâm lược một xứ nhỏ, đều sẽ thất bại trước lịch sử
”.

            Tóm lại, bài thơ Nam Quốc Sơn Hà là một lời khẳng định hùng hồn cho một chân lý của tạo hóa là: đất nước Việt Nam là do người Việt Nam làm chủ, đó là chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm, bất chấp đó là ai, nếu đi ngược lại chân lý của tạo hóa là xâm lược lãnh thổ Việt Nam (hay của bất kỳ một quốc gia nào) thì chắc chắn sẽ chuốc lấy bại vong. Đây cũng chính là tinh thần bất diệt của dân tộc Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, đã được thực tế lịch sử minh chứng suốt mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20121109-%E2%80%9Cnam-quoc-son-ha%E2%80%9D-chan-ly-chu-quyen-quoc-gia-cua-dan-toc-viet-nam-0

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 23/05/2017, 14:06:01
Giai thoại tình ca: 40 năm nhạc phẩm Love Story

Cách đây 40 năm, ngày 20/3/1971, nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Love Story nhảy vọt lên hạng đầu thị trường nhạc nhẹ Hoa Kỳ, để rồi ngự trị trên đỉnh cao trong vòng 4 tuần lễ liên tục. Ca khúc ăn khách thời bấy giờ là của danh ca Andy Williams, nhưng sau đó đã đi vòng quanh trái đất với gần 800 phiên bản, ghi âm bằng 25 thứ tiếng, kể cả tiếng Việt.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/AA%20Love-Story_l.jpeg%20copie.jpg)
Ryan O’Neal và Ali MacGraw trong phim Love Story

NHIỀU NHÀ phê bình cho rằng Love Story là một bản nhạc xuất sắc, xứng đáng được liệt vào hàng kiệt tác. Theo bình chọn của Viện Phim ảnh Hoa Kỳ American Film Institute, tác phẩm này nằm trong 100 bản nhạc phim hay nhất mọi thời đại. Nhạc phim Love Story đứng hạng thứ 9, chỉ thua các nhạc phim kinh điển như Casablanca, Cuốn theo chiều gió, West Side Story, Bác sĩ Zhivago nhưng lại vượt qua mặt My Fair Lady, Bố già, Titanic hay Đỉnh gió hú.
            Bản nhạc chủ đề gắn liền với bộ phim đến nỗi ít có ai còn nhớ tựa bài hát ban đầu của nó là Where do I begin (tạm dịch là Bắt đầu từ đâu). Khi nghe những nốt nhạc dạo đầu trỗi lên, có lẽ mọi người đều nhận ra ngay và gọi đó là bài Love Story. Một giai điệu nhẹ nhàng lãng mạn, miên man dịu dàng, gieo vào hồn người một chút cảm giác bâng khuâng, một thời xao xuyến rung động. Những nốt nhạc trầm khiến cho tâm hồn thoáng buồn, trong lòng khoảnh khắc tơ vương.

Một trong những nhạc phim hay nhất mọi thời đại
            Trong làng nhạc quốc tế, một trong những giọng ca hát trội nhất nhạc phẩm Love Story (Where do I begin) trong tiếng Anh vẫn là danh ca Shirley Bassey. Phiên bản của Shirley rất dễ nhận ra nhờ khúc nhạc dạo đầu với bộ gõ. Ngoài cách nhả chữ độc đáo, hát thoát theo làn hơi nhưng vẫn rõ âm trong những đoạn cao trào, Shirley Bassey còn có sở trường chuyển nhịp hất câu, mà người nghe thường tìm thấy nơi Giọng ca vàng Frank Sinatra. Thành danh từ những năm 1962-1963, Shirley Bassey nhờ vào nhạc phẩm Love Story mà được đăng quang thành nữ hoàng của dòng nhạc phim vào thập niên 70. Hầu hết các ca khúc chủ đề của loạt phim điệp viên 007 trong giai đoạn này đều do bà ghi âm. Trong đó có nhạc phẩm Diamonds are Forever, phát hành vào năm 1971, tức là hầu như cùng thời với nhạc phẩm Chuyện tình. Một giọng hát trau chuốt mài rũa tựa như một viên đá quý. Cũng từ đó mà giới chuyên ngành đặt cho Shirley Bassey cho cái biệt danh Diva kim cương (Diamond diva).
            Trước khi nổi tiếng là một bản tình ca ướt đẫm nước mắt, nhạc phẩm Love Story trước hết là giai điệu chủ đề của bộ phim của đạo diễn Arthur Hiller. Bộ phim ra mắt khán giả vào cuối năm 1970 (nói cho chính xác là vào ngày 16/12/1970), dựa theo quyển tiểu thuyết vô cùng ăn khách của Erich Segal. Đối với ngành xuất bản, Erich Segal là nhà văn nổi tiếng nhờ một tác phẩm duy nhất, cho dù ông đã sáng tác nhiều cuốn truyện sau đó.

Từ tiểu thuyết phóng tác thành phim
            Ban đầu được viết như một kịch bản phim, Love Story không được một hãng phim nào mua bản quyền, nên mới được viết lại thành truyện ngắn đăng trên báo, rồi được hoàn chỉnh thành một quyển tiểu thuyết dày 127 trang, phát hành đúng vào Ngày lễ tình yêu Valentine năm 1970. Khi được hãng phim Paramount chuyển thể lên màn ảnh lớn, bộ phim Love Story làm thổn thức rung động hàng triệu con tim trên thế giới với câu chuyện thương tâm của đôi tình nhân trẻ, yêu nhau ở trường đại học, nhưng lại bị gia đình cấm cản ngăn cách.
            Mối tình dang dở ngang trái giữa Jenny một nữ sinh nhà nghèo với Oliver, chàng trai con nhà giàu trở thành tấn bi kịch đẫm lệ, khi căn bệnh ung thư máu cướp đi sinh mạng của cô gái hiền lành. Một lời thoại ở trong phim (“Love means never having to say you’re sorry”…) trở thành một trong những câu nói bất hủ của lịch sử điện ảnh Mỹ. Cũng như câu ghi chú ở trang bìa quyển tiểu thuyết: Nàng yêu Mozart, Bach, nhóm Beatles… và Tôi. Có người nói đùa rằng: Nhờ phim này mà tác giả hái ra bạc triệu, các nhà sản xuất khăn mùi xoa cũng vậy.
            Nhạc phẩm Love Story do được sáng tác cho bộ phim Mỹ cùng tên với Ali MacGraw và Ryan O’Neal trong vai chính và do đạo diễn Arthur Hiller thực hiện vào năm 1970, nên vẫn được xem là một ca khúc của làng nhạc Anh Mỹ. Thật ra, đây là một bản nhạc Pháp (Une histoire d’amour) do nhạc sĩ Francis Lai sáng tác. Ông nổi tiếng trong làng nhạc phim, từng sáng tác cho 70 phim truyện, trong đó có Un homme et une femme (Một người đàn ông và một người đàn bà) và Le passage de la pluie (Lữ khách đêm mưa).

Thân thế tác giả bài hát
            Nổi danh cùng thời với các tác giả Pháp Maurice Jarre (Bác sĩ Zhivago, Lawrence of Arabia) và Michel Legrand (Thomas Crown – Les moulins de mon coeur), tên tuổi của ông đi vòng quanh thế giới sau khi các bài hát được chuyển lời sang nhiều thứ tiếng. Nhạc phẩm Chuyện tình đoạt cùng lúc hai giải Oscar và Quả cầu vàng dành cho ca khúc nhạc phim hay nhất năm 1971, tức cách đây vừa đúng 40 năm. Phiên bản tiếng Việt là do nhạc sĩ Phạm Duy đặt lời.
            Sinh năm 1932 tại miền nam nước Pháp, nhạc sĩ Francis Lai tốt nghiệp nhạc viện thành phố Nice, trước khi đến Paris để lập nghiệp. Thời thanh niên, ông trao dồi thêm nhạc lý với nhiều bậc đàn anh, trong đó có tác giả Bernard Dimey, người đã hướng dẫn ông trong lãnh vực sáng tác nhạc phim. Nổi tiếng trên khắp thế giới từ những năm 1960 như là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái lãng mạn, Francis Lai tách ra khỏi xu hướng hiện thực của dòng nhạc Pháp những năm 1950.
            Tác giả Francis Lai quan niệm rằng âm nhạc là một ngôn ngữ không biên giới, chẳng cần đến ca từ mà vẫn có thể ăn sâu vào lòng người. Hầu hết các bản nhạc (kể cả bài Love Story) do ông sáng tác đều không có lời, ca từ tiếng Pháp hay tiếng Anh chỉ được đặt sau đó. Ảnh hưởng này phần lớn xuất phát từ việc ông rất mê nhạc jazz, thời còn trẻ ông ngưỡng mộ hai cây đại thụ là Charlie Parker và Stan Getz.
            Trái với điều mà nhiều người lầm tưởng, nhạc khí sở trường của Francis Lai là phong cầm chứ không phải dương cầm hay vĩ cầm, cho dù ông dùng khá nhiều bộ đàn dây để phối khí hòa âm các sáng tác của mình. Bên cạnh đó, ông còn sáng tác rất nhiều ca khúc ăn khách trong làng nhạc nhẹ. Tính tổng cộng, có trên dưới 60 nghệ sĩ tên tuổi từng hát nhạc của ông, kể cả Edith Piaf, Dalida, Aznavour, Patricia Kaas, phía Pháp, Ella Fitzgerald, Elton John hay Carly Simon phía Anh Mỹ.

Giai thoại sáng tác, huyền thoại tình ca
            Tính đến nay, Francis Lai đã soạn hơn 600 bản nhạc, hơn một nửa là nhạc phim không lời. Nhưng trong hoàn cảnh nào ông đã sáng tác giai điệu chủ đề của bộ phim Love Story? Thật ra, ông đã thành danh trong làng nhạc quốc tế từ năm 1966, nhờ soạn ca khúc chủ đề của bộ phim Un Homme et une Femme của đạo diễn Claude Lelouch. Phim này từng đoạt Cành cọ vàng tại Cannes và 4 giải Oscar. Từ năm đó trở đi, ông rất bận rộn với công việc do được nhiều đạo diễn mời hợp tác.
            Chính cũng vì thế mà ông đã hai lần từ chối khi hãng phim Paramount có dự án chuyển thể tiểu thuyết Love Story lên màn bạc, bởi vì vào thời điểm đó ông đang phải soạn nhạc chủ đề cho bốn phim khác nhau. Nhà sản xuất người Mỹ Bob Evans mới gọi điện thoại cho nam tài tử Alain Delon nhờ anh thuyết phục tác giả, vì biết rằng hai người là bạn thân của nhau. Vì nể tình bạn, nên Francis Lai lúc đó mới nhận lời, nhưng loay hoay mãi vẫn không tìm ra được một giai điệu ưng ý.
            Theo lời kể của chính tác giả thì ông tìm được khúc nhạc Love Story vào lúc nửa khuya, ban đầu sáng tác trên 4 nốt nhạc căn bản, nhưng làm như vậy thì lại gần giống với cấu trúc của một giai điệu vô cùng ăn khách hai năm về trước là nhạc phẩm chủ đề của bộ phim Romeo & Juliette (A Time For Us của Nino Rota). Do vậy trong câu mở đầu của mỗi đoạn ông cho thêm một nốt nhạc, biến thành 5 trong khi các câu kế tiếp chỉ có 4, nhưng có lẽ cũng vì thế mà giai điệu trở nên lâm ly hơn. Hàng thập niên sau, bản nhạc này vẫn không có một vết nhăn, phần lớn cũng vì giai điệu tự nó đã đứng vững, không lời mà vẫn lôi cuốn. Nhìn lại, mỗi bài hát thường có một giai thoại. Trong trường hợp của Love Story, bản tình ca này đã đi vào huyền thoại.


TUẤN THẢO
Tháng 3/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20110319-giai-thoai-tinh-ca-40-nam-nhac-pham-love-story

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 25/05/2017, 17:27:58
Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie

Được mệnh danh là nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám, Agatha Christie là nhà văn người Anh ăn khách nhất trên thế giới trong thể loại này. Theo sách kỷ lục Guinness, tính đến nay đã có hơn 2 tỷ quyển sách của bà đã được xuất bản trên thế giới. Lần đầu tiên tại Pháp, nhà xuất bản Editions du Masque cho ra mắt Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/agatha%20christie%202011%20OK%20OK%20Sans%20titre%20-%201%20copie.jpg)
Tiểu thuyết Agatha Christie đã được dịch sang hơn 100 thứ tiếng

HƠN BA THẬP NIÊN sau ngày bà qua đời, dường như chưa có tác giả nào soán ngôi Agatha Christie, trong lãnh vực tiểu thuyết trinh thám. Nhà văn này được xem như là một hiện tượng văn học và được giới chuyên gia dày công nghiên cứu không kém gì tác giả Arthur Conan Doyle, cha đẻ của thám tử tài ba Sherlock Holmes. Vào lúc mà mọi người tưởng chừng như đã biết hết mọi chuyện về bà, thì bất ngờ thay vào năm 2004, người cháu ngoại của bà (Matthew Prichard) phát hiện ra các quyển sổ tay bị bỏ quên trong một chiếc rương tại ngôi nhà của bà là Greenway House, ở vùng Devon.
            Tính tổng cộng có đến 73 quyển tập như vậy, trong đó nhà văn ghi chép tất cả những chi tiết trong cuộc sống thường ngày, những ý tưởng vừa nẩy sinh trong tâm trí, cách phác họa một câu chuyện, lối tạo dựng các nhân vật hư cấu. Do là sổ chép tay, cho nên có những đoạn rất khó đọc, khi thì bị gạch xóa, lúc thì viết tắt, đánh dấu hay chú thích bằng ký hiệu. Điều đó cũng có nghĩa là tất cả những quyển sổ tay này không có mục đích được phổ biến cho người đọc.
            Vì thế cho nên nhà nghiên cứu John Curran đã mất khá nhiều thời gian để giải mã tất cả các quyển sổ tay, rồi chắt lọc tập hợp lại thành một quyển sách dày hơn 500 trang. Sau khi được phát hành bằng tiếng Anh dưới tựa đề Agatha Christie’s Secret Notebooks, nay quyển sách này mới được dịch sang tiếng Pháp. Bà Marie Caroline Aubert, giám đốc nhà xuất bản Editions du Masque cho biết cảm nhận của mình về Những quyển sổ tay bí mật của Agatha Christie (Les carnets secrets d’Agatha Christie).

            Khi đọc quyển sách này, tôi khám phá tác giả Agatha Christie dưới một góc độ mới. Người ta thường nói các nhà văn ít nhiều đưa mình vào trong các nhân vật mà họ tạo dựng. Đằng này, tánh tình phong cách các nhân vật chính trong tiểu thuyết rất khác với bà ở ngoài đời. Ở trong truyện, thám tử người Bỉ Hercule Poirot luôn luôn tuyên bố: ông làm việc có trật tự và phương pháp, mọi cuộc điều tra phải được tiến hành đúng theo quy trình. Đọc sổ tay của Agatha Christie, tôi mới nhận thấy là bà không có phương pháp làm việc, một nhà văn dồi dào tư tưởng sáng tạo, nhưng lại không biết thế nào là trật tự ngăn nắp. Do hay mau quên, cho nên bà ghi chép tất cả những gì cần phải nhớ vào sổ tay, từ chuyện đi chợ cần mua những gì, cho đến ngày sinh nhật của một người bạn, những chi tiết đôi khi nhỏ nhặt, nhưng bà sợ quên nên vẫn ghi.
            Vấn đề ở đây là bà không chỉ có một quyển sổ tay, mà lại có đến hàng chục quyển khác nhau. Có quyển thì để ở trong phòng khách, một quyển khác ở trong nhà bếp, rồi phòng ngủ, phòng tắm, hay ở ngoài vườn. Khi cần phải ghi chép thì bà lấy ngay cái quyển sổ tay nào gần nhất, nằm ngay ở trước mắt chứ không hề có ghi ngày tháng, hay đi theo một trình tự nhất định nào cả. Do đó, nhà nghiên cứu John Curran buộc phải sàng lọc lại, sắp xếp các lời ghi chép theo chủ đề và giữ lại những gì quan trọng nhất đối với người đọc, chẳng hạn như các ý tưởng liên quan đến diễn tiến hay bối cảnh của một câu chuyện, tâm lý cũng như cá tính của từng nhân vật mà Agatha Christie đang xây dựng trong tiểu thuyết của bà
.

Tác giả thích giết người bằng thuốc độc
            Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều quyển tiểu thuyết trinh thám của Agatha Christie được dựng thành phim. Cốt truyện hấp dẫn nhờ nhiều tình tiết thú vị, kịch bản gói ghém chặt chẽ nhờ diễn biến liền mạch, lối mô tả chi tiết của bà cũng giúp cho các nhà làm phim dễ hình dung ra bối cảnh và mô-típ nhân vật. Theo bà Marie Caroline Aubert, tất cả những ưu điểm đó là do óc sáng tạo khác thường của nhà văn người Anh.

            Như tôi đã nói, nhà văn Agatha Christie không làm việc theo phương pháp. Nơi bà không hề có chuyện ngồi vào bàn giấy mỗi buổi sáng rồi viết tay hay đánh máy trong vòng vài tiếng đồng hồ. Ngược lại, bà viết theo ngẫu hứng bất chợt, tư tưởng sáng tạo của nhà văn này dựa trên trực giác và linh cảm vì bà quan niệm rằng nếu quá bám theo lô-gíc của câu chuyện, thì sự hợp lý đó đâm ra dễ suy đoán. Cảm hứng của Agatha thường nẩy sinh trong những tình huống mà bà bắt gặp trong đời thường, bà ghi chép nó vào sổ tay chứ không dùng ngay, và đến một lúc nào đó thì chi tiết này lại được đưa vào tiểu thuyết như thể nó cần một thời gian để được tiêu hóa nghiền ngẫm.
            Lối quan sát tinh tế tỉ mỉ của nhà văn giống như là một cái tật, buộc bà phải bà ghi chép đủ mọi thứ. Thời còn trẻ, bà làm việc trong một bệnh viện rồi sau đó trong một cửa hiệu bán thuốc tây. Điều đó có thể giải thích vì sao nhiều vụ án mạng trong tiểu thuyết của bà thường là bằng thuốc độc. Trong quyển sổ tay, Agatha lập ra một danh sách của đủ loại thuốc độc có thể tìm thấy, ở trang 21 của quyển sách bà liệt kê tất cả những nhân vật có thể trở thành nạn nhân, cũng như những nguyên nhân thúc đẩy thủ phạm ra tay giết người. Bằng cách này, tác giả muốn tạo ra sự bất ngờ nơi người đọc, bởi vì bất cứ nhân vật nào cũng có thể là hung thủ, cũng có đủ lý do để gây ra án mạng. Quyển sổ tay cũng cho thấy là đôi khi bà bỏ hẳn nhiều đoạn để viết lại từ đầu, có lẽ cũng vì Agatha Christie muốn chọn cái kịch bản khó suy đoán nhất, và như vậy buộc độc giả phải tự suy nghĩ cùng một lúc về nhiều giả thuyết khác nhau
.

Giai thoại ly kỳ về sự mất tích của Agatha
            Sinh thời, Agatha Christie tuy rất nổi danh nhưng lại có một phong cách khiêm tốn kín đáo. Tác giả này ít khi nào khoe khoang hay phô trương đời tư của mình. Nhưng theo bà Marie Caroline Aubert, nhà văn người Anh thật ra là một phụ nữ đầy cá tính. Bề ngoài có vẻ dửng dưng lạnh lùng, nhưng bên trong lại đầy nhiệt huyết đam mê, một mạch nước ngầm dữ dội dưới mặt hồ phẳng lặng.

            Có một giai thoại được giữ kín trong cuộc đời của Agatha Christie mà cho đến sau này người ta mới biết. Nhưng giai thoại ấy đủ để nói lên bản lĩnh của một người đàn bà cầm bút. Số là Agatha không có nhiều hạnh phúc trong đời tư. Thời còn trẻ bà thành hôn với một sĩ quan không quân (đại tá Archibald Christie), hai người chỉ có một đứa con gái duy nhất trong vòng 14 năm chung sống. Vào cuối năm 1926, Agatha phát hiện chồng mình có quan hệ ngoại tình với một phụ nữ khác. Nhưng thay vì đánh ghen và trả đũa ông chồng ăn vụng, Agatha Christie đột nhiên mất tích trong vòng nhiều ngày liền. Vào thời đó, sự kiện này đã khiến cho dư luận bàn tán xôn xao. Báo chí tìm thấy chiếc xe của bà bị đổ ở ngoài đồng, cửa xe mở toang như thể bà bị kẻ lạ mặt bắt cóc.
            Đến 10 ngày sau, người ta mới tìm thấy bà đang ở trọ trong một khách sạn. Bà mướn phòng trọ dưới một cái tên khác lạ. Khi được hỏi vì sao, Agatha nói rằng tinh thần của bà bị suy sụp sau cái chết của người mẹ, đến nỗi mất trí nhớ. Nhưng thật ra cái tên mà bà đã dùng để mướn phòng khách sạn chính là cái tên của người phụ nữ dan díu với chồng mình. Do sự kiện này được đăng tải trên báo chí, nên dĩ nhiên là chồng của bà Agatha khi đọc báo hoảng hồn hiểu ngay là vợ ông muốn nói gì. Vào lúc đó, chỉ có những người ở trong cuộc mới hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện. Hai vợ chồng ly dị đúng hai năm sau. Giai thoại này cho thấy trí tưởng tượng khác thường của Agatha Christie. Bà thường hay nói là bà bị ám ảnh bởi các nhân vật trong tiểu thuyết, và bà so sánh lối sáng tác của mình như một cái nồi đang để ở trên bếp đun lửa nhỏ, thức ăn trong nồi không bao giờ bị khét nhưng điều đó luôn buộc bà phải quan tâm canh chừng
.

            Ngoài các mẩu chuyện thú vị, cũng như các chi tiết liên quan đến hai nhân vật chính trong tiểu thuyết của Agatha Christie là hai thám tử Hercule Poirot và Miss Marple, các quyển sổ tay bí mật chủ yếu giúp độc giả hiểu thêm về tác giả, với một góc nhìn từ hậu trường. Trong các quyển sổ tay, bà thường ghi chép nhiều dòng cảm nghĩ về các nhân vật chính cũng như nhân vật phụ mà bà đang tạo dựng, từ thân thế, tiểu sử cho đến tánh tình và sở thích. Điều đó phần nào cho thấy nỗi ám ảnh của tác giả đối với các nhân vật hư cấu, họ có bề dày và chiều sâu y như là người thật mà ta có thể bắt gặp ở ngoài đời.

Tưởng chừng viết thử, nào ngờ quá hay
            Trí tưởng tượng phong phú dồi dào Agatha Christie khiến cho người đọc có cảm tưởng có mặt tại chỗ như trong quyển Án mạng trên sông Nil, (Death on the Nile) hay trong tác phẩm Vụ án trên chuyến tàu tốc hành phương Đông (Murder on the Orient Express). Các cuộc điều tra ly kỳ của Hercule Poirot hay của Miss Marple tạo ra nhiều sự gay cấn hồi hộp, khiến người đọc khi cầm sách trong tay muốn đọc liền một mạch, như thể cặp mắt bị dán vào các dòng chữ sinh động. Bà vào nghề sáng tác một cách khá ngẫu nhiên: từ thời còn nhỏ Agatha Christie được gia đình khuyến khích viết văn, nhưng chỉ thật sự cầm bút sáng tác sau khi bị người chị ruột thách thức có dám chọn nghề viết lách hay chăng.
            Tưởng chừng làm thử một cú, nào ngờ trở thành bậc thầy. Khi còn sống, tác giả đã cho phát hành gần 70 quyển tiểu thuyết, hơn 50 truyện ngắn, 30 vở kịch cũng như hai tập hồi ký và nhật ký. Quyển sách vừa được trình làng của nhà xuất bản Editions du Masque còn bao gồm thêm hai truyện ngắn chưa từng được phổ biến của Agatha Christie. Điều đó làm giàu thêm tủ sách của tác giả này. Sinh thời, bà đã được đăng quang, lên ngôi nữ hoàng tiểu thuyết trinh thám. Đúng 35 năm sau ngày qua đời, ngòi bút đầy ma lực của Agatha tiếp tục hớp hồn nhiều thế hệ độc giả, trẻ cũng như già.


TUẤN THẢO
Tháng 5/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20110527-nhung-quyen-so-tay-bi-mat-cua-agatha-christie
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 30/05/2017, 20:56:12
Thi sĩ Bùi Giáng, nhà thơ kỳ lạ

Bùi Giáng sinh ngày 17 tháng 12 năm 1926 tại làng Thanh Châu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Ông là một nhà thơ, dịch giả và nghiên cứu văn học của Việt Nam, ông nổi tiếng từ thập niên 1960 với thi tập Mưa Nguồn.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Bui-giang-a-mysteriuos-poet-mlam-10182008123006.html/bui-giang-200.jpg/image)
Thi sĩ Bùi Giáng (1926-1998)

Nhà thơ đa tài
            Thuở nhỏ ông theo học tại học Trường Bảo An tại Ðiện Bàn (Quảng Nam), học trung học ở trường Thuận Hóa (Huế). Tháng 5 năm 1952 Bùi Giáng về Huế thi Tú Tài tương đương và vào Sài gòn ghi danh Ðại Học Văn Khoa. Cũng trong năm này Bùi Giáng quyết định chấm dứt việc học ở trường và bắt đầu viết khảo luận, sáng tác, dịch thuật và đi dạy học tại các trường tư thục.
            Từ 1957 đến 1997, Bùi Giáng có khoảng 55 tác phẩm đã in về thơ, dịch và triết học trong đó tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tập thơ “Mưa Nguồn”, xuất bản năm 1963. Bùi Giáng mất ngày 7 tháng 10 năm 1998, tại Sài Gòn, thọ 72 tuổi.
            Nhà văn Phạm Xuân Đài, người có liên hệ mật thiết và chia sẻ kỷ niệm với nhà thơ cũng như đã viết nhiều bài về Bùi Giáng nói về tập thơ Mưa Nguồn như sau:

Trang trọng tỉnh táo
Nhà văn Phạm Xuân Đài: Ngôn ngữ của Mưa Nguồn trang trọng và tỉnh táo. Đây là một tập thơ được xuất bản đầu tiên của Bùi Giáng vào năm 1963, trong đó chứa đựng cả những bài thơ làm từ mười mấy năm trước đó, tức là khi tác giả còn khá trẻ, chỉ ở trong lứa tuổi hai mươi của cuộc đời thôi. Ta có thể thấy từng bài được chăm chút rất là kỹ lưỡng, và tác giả đã lựa chọn để đưa vào tập thơ.
            Trong Mưa Nguồn bây giờ chúng ta có thể tìm thấy những bài thơ vào hạng nổi tiếng nhất của Bùi Giáng, chẳng hạn như bài “Chào Nguyên Xuân” với những câu bất hủ:

                        Xin chào nhau giữa con đường
                        Mùa Xuân phía trước miên trường phía sau
                        Tóc xanh dù có phai màu
                        Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng…


hoặc là câu:

                        Hỏi rằng người ở quê đâu
                        Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà


            Đó là những câu nhiều người biết.
            Hay là bài “Nỗi Lòng Tô Vũ” là một hoạt cảnh bầy dê giữa núi đồi. Bài này hiếm thấy trong thi ca Việt Nam với tâm tình cảm động của người chăn dê với đàn dê của mình. Bài này khá dài, tôi xin đọc bốn câu:

                        Và giờ đây một lời thề đã thốt
                        Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
                        Cao lời ca bê hê em cùng thốt
                        Hòa cùng lời anh nhạc nỗi thiết tha.


Âm hưởng Phạn Ngữ lẫn Pháp Hoa kinh
            Có lẽ nền văn học Việt Nam sẽ thiếu thốn biết bao nếu không có tên của một thi sĩ mà cuộc đời ông gắn liền với giai thoại, với hào quang, và cả với bóng tối. Tài thơ của ông cũng khác lạ như tính cách sống của ông: ngập ngừng với người này nhưng lại sang sảng và hào phóng với người kia.
            Với ai đồng cảm với thi sĩ thì từng chữ từng lời có ma lực quấn quýt không rời, nhưng ngược lại, với những trái tim nhạy cảm với thi ca, quen thuộc với những con sóng thơ mới thì ngôn ngữ của Bùi Giáng sẽ nhanh chóng nạt nộ người đọc bằng những con chữ lạ lẫm dày đặc ma âm của Phạn Ngữ lẫn Pháp Hoa kinh.

                        Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu
                        Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu rất xa.
                        Gọi tên là một hai ba,
                        Ðếm là diệu tưởng, đo là nghi tâm.


            Bốn câu nổi tiếng của Bùi Giáng mới đọc lên khác nào tiếng kệ của một chú tiểu ranh mãnh trả lời khách thập phương, nhưng lại man mác hình bóng của Nguyễn Du trong từng góc chữ.
            Đó là Bùi Giáng. Là bắt đầu một hành trình mà không thể dùng một từ ngữ nào chính xác hơn: hành-trình-Bùi-Giáng.
            Cuộc hành trình này kéo dài cả một kiếp người của thi sĩ trong trạng thái thờ thẫn, mông quạnh dưới sức nóng của một xã hội bị biến đổi đến tận gốc và cô đơn trong trạng thái u uẩn không thể rời ra. Nguyễn Du tự hỏi ba trăm năm sau biết ai còn nhớ tới ông chăng, thì Bùi Giáng lại có một câu trả lời ngộ nghĩnh cho chính mình:

                        Em về mấy thế kỷ sau
                        Nhìn trăng có thấy nguyên màu ấy không
                        Ta đi gửi lại đôi dòng
                        Lá rơi có dội ở trong sương mù


            Và đó là Bùi Giáng.

Phiêu bồng lãng bãng
            Bốn câu sau đây của Bùi Giáng nghe ra khó khăn hơn, u thần hơn nhưng với nhà thơ Đỗ Quý Toàn thì lại có khả năng mở ra một cõi khác trong nhân gian này, cõi của phiêu bồng, của thơ thới, và bãng lãng thu trôi:

                        Bây giờ xin ngó cụm cây
                        Chắp hàng viết nốt áng mây về trời
                        Phiêu bồng sáu cõi thu trôi
                        Ngàn mưa nhỏ giọt trang đời lạnh ghê!


Nhà thơ Đỗ Quý Toàn: Bây giờ nếu quý vị đọc bốn câu thơ đó thì quý vị đọc nó giống như là đọc một bài cách trí, một bài luận văn, bảo rằng câu này nghĩa là gì, câu này ý nói sao, thì làm như vậy là quý vị đã giã từ Bùi Giáng rồi, từ chối không có nhận Bùi Giáng vô trong lòng mình nữa rồi. Là bởi vì, tôi xin phép phân tích bốn câu thơ đó, như là một bác sĩ mổ xẻ thì chúng ta sẽ không cảm được cái thơ của Bùi Giáng.
            Bây giờ xin ngó cụm cây: Ai là chủ từ của chữ “xin” đó? Ai là chủ từ của động từ “ngó” đó? Có phải là thi sĩ đang xin người đọc hãy ngó cụm cây? Hay là chính người đọc đang tự nhủ mình là “ta hãy ngó cụm cây”, hay là chính thi sĩ đang nói chuyện với cây rằng “cho tôi ngó một chút”.
            Tất cả câu thơ sáu chữ đó chúng ta mà đem phân tích ra và đặt câu hỏi như vậy thì là giết luôn cả thơ. Chúng ta thử đọc “Bây giờ xin ngó cụm cây – Chắp hàng viết nốt áng mây về trời” thế là chúng ta để cho mây bay vào lòng mình, để cho mây bay về trời và tự nhiên trong lòng mình mở rộng ra với cả ông trời.
            “Chắp hàng viết nốt”, ai đang chắp hàng viết nốt? Có lẽ chính chúng ta đang đọc thơ và chúng ta đang viết câu thơ đó. Chúng ta viết mấy câu thơ đó lên trên mấy áng mây, chúng ta đưa mấy câu thơ đó theo áng mây về trời. Cảm nhận như vậy chúng ta mới tiếp cận được thi sĩ Bùi Giáng.
            “Phiêu bồng sáu cõi thu trôi”, tại sao lại sáu cõi mà không phải là bốn cõi, mười cõi, mười phương chư Phật? Tại sao lại thu trôi? Thế mùa thu nó trôi từ bao giờ? Cái mùa thu có ở đó hay là nó có vĩnh viễn từ ngàn năm và lúc nào cũng trôi ở trên bầu trời?
            “Ngàn mưa nhỏ giọt”, mưa ở đâu tới? Tự nhiên mình có thể mở lòng ra và nhận hàng ngàn giọt mưa suốt bao nhiêu đời trong cái vũ trụ này.
            Và cuối cùng “trang đời lạnh ghê”, “Ngàn mưa nhỏ giọt trang đời lạnh ghê” tự nhiên chúng ta đang bay đi theo mây, theo thơ về trời, theo thời gian về ngàn năm, chúng ta lại trở lại với cái tấm lòng của mình và cảm thấy run lạnh giống như chúng ta run lạnh trước cái vũ trụ bao la.
            Và thi sĩ tặng chúng ta tất cả những cái cảm giác đó với bốn câu thơ lục bát, nếu chúng ta không tiếp nhận một cách phiêu bồng, một cách thơ thới thì chúng ta không bao giờ hòa mình được với cái thơ của Bùi Giáng.

Tính cách thơ lục bát mới
            Nhà phê bình văn học Thụy Khuê có những nhận xét tuy ngắn về Bùi Giáng nhưng đã mô tả được nét tổng thể của tài thơ này:

Nhà phê bình văn học Thụy Khuê: Nói chung nếu khi mà mình đã lựa lọc ra trong tất cả những sáng tác của Bùi Giáng về thơ thì bao giờ cũng kiếm ra được những câu thơ có thể gọi là tuyệt tác. Cái hay của Bùi Giáng trong thơ, tức là ông đã đưa ra một hình thức thơ lục bát rất mới, nó không còn là ca dao nữa mà nó đi vào cái tiến trình triết học hiện sinh.
            Thành ra là một phần của Bùi Giáng chúng ta có thể nói như là một cái sự hòa hợp được hai cái dòng tư tưởng Đông phương và Tây phương với nhau trong cái lục bát của Bùi Giáng.
            Trong thơ của ông, ông vừa vận dụng ca dao, ông vừa vận dụng những hình ảnh của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, nhưng mà đồng thời ông lại cũng đưa thêm vào những hình ảnh rất là hiện sinh, rất là siêu thực; thành ra cái tính cách thơ lục bát của Bùi Giáng đã khác hẳn với lại những cái gì mà chúng ta quen đọc và quen thấy trong ca dao hay là trong thơ lục bát bình thường. Cái công của Bùi Giáng trong thi ca là như vậy.

Một đời khổ hạnh lãng tử
            Bùi Giáng sống một đời cùng khổ, bất hạnh dưới cái nhìn của những người bình thường, nhưng lại phiêu hốt lãng tử và hỉ xả với tha nhân dưới cái nhìn của những thiền tông. Cách nhìn nào thì vẫn có cái mộc đóng tên Bùi Giáng bên dưới, Bùi Giáng không thể bắt chước, và cũng không thể bị từ chối. Đó cũng là đặc trưng Bùi Giáng trong đời sống thật cũng như trong thi ca của ông.
            Nhà phê bình Đặng Tiến ghi nhận những đóng góp của Bùi Giáng trong thời gian đầu trước khi ông lâm vào trạng thái chìm đắm sâu dần vào hôn mê tri thức:

Nhà phê bình Đặng Tiến: Khoảng từ 1950 đến 1960 thì ông Bùi Giáng làm thơ lúc đầu óc ông rất là sáng suốt. Chỉ từ cuối thập niên 1960 thì ông mới bị tâm thần một phần nào đó. Trong khi ông bị tâm thần thì cũng có lúc sáng suốt. Nhưng mà những bài thơ nổi tiếng nhất của ông là những bài thơ làm lúc sáng suốt và những bài thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao và giá trị tư tưởng cao. Tôi đánh giá cao ông Bùi Giáng.

                        Chiều bên lá lung lay vàng cửa khép
                        Bóng trời sa trùm phủ tiếng em cười
                        Vườn cỏ lạnh hoa buồn không nói xiết
                        Bước chân dừng nghe rã lệ hai nơi

                        Lời hẹn ước em nghiêng đầu tóc xõa
                        Ðể than van sầu thiên cổ theo nhau
                        Hồn tuổi trẻ bay trở về giữa dạ
                        Nhờ dung nhan em bất tuyệt xuân đầu

                        Trời thuở đó ngần nào em khổ sở
                        Khóc khi nhìn gió thổi nước sương buông
                        Tìm xa vắng bên kia bờ đổ vỡ
                        Giòng sông em đâu có biết ngọn nguồn.


            Bài Dòng Sông mà quý vị vừa nghe qua giọng đọc của Việt Long xin được làm câu kết vì nói về Bùi Giáng thì biết sao cho hết, nhất là đi sâu vào những uẩn khúc ngữ nghĩa mà ông còn liến thoắng móc vào những câu lục bát thần tình của ông.


* * *

VĂN HỌC VIỆT NAM qua các biến cố lịch sử đã chứng kiến nhiều lần sự xuất hiện các nhân vật cự phách trong lãnh vực thi ca.
            Mỗi khuôn mặt mang một thần thái riêng, một nhân cách hay tài năng vượt trội và nhất là sự đóng góp của họ vào nền văn học Việt ngày một giàu có hơn. Trong số này, Bùi Giáng là một.
            Tài năng của ông biểu lộ xuyên suốt qua hơn nửa thế kỷ, an nhiên chiếm một chỗ rất lớn trong lòng người yêu thơ của nhiều thế hệ và những câu thơ tuyệt đẹp của ông vẫn còn khả năng gây tranh luận trong nhiều năm nữa.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Bui-giang-a-mysterious-poet-part-two-mlam-10262008114519.html/bui-giang-305.jpg/image)
Nhà thơ Bùi Giáng và bạn bè

Thi phẩm Mưa Nguồn
            Bùi Giáng lừng lững tiến vào khu vườn văn học Việt Nam với tư thế của một nhà thơ lớn ngay từ thi phẩm Mưa Nguồn đầu tiên cho in vào Năm 1963, và chỉ một thời gian rất ngắn, Mưa Nguồn trở thành một hiện tượng, một vùng sáng trắng chớp lên trong văn đàn Miền Nam.
            Những dòng thơ lục bát quen thuộc của thi ca bình dân qua cách tung hứng của Bùi Giáng trở thành lóng lánh âm thanh của một thứ ngôn ngữ lạ lùng nhưng lại thân quen của nhiều vùng quê Việt. Đặc biệt là xứ Quảng, nơi nhà thơ gửi lại cuống nhau trước khi vui chơi cùng hương đồng gió nội.

                        Ruộng đồng mọc cỏ hôm nay
                        Mừng vui thiên hạ bên này quên nhau
                        Bãi vui tự bữa hôn đầu
                        Máu se tàn lạnh triều đâu chia ngành
                        Bây giờ phố rộng xa anh
                        Mù sương quấn cỏ quận thành Phủ Chiêm
                        Cõi bờ con mắt hoa nghiêm
                        Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng.


Quyến rũ với thơ tự do
            Lục bát Bùi Giáng có ma lực của một bài kệ vang lên trong buổi tàn thu. Âm hưởng của lời thơ quấn quýt trong không gian có khả năng gây xao động những sợi tơ thi ca mong manh nhất của người thưởng thức.
            Ngôn ngữ trong thơ Bùi Giáng vừa quen vừa lạ, không những trong lục bát mà còn quyến rũ cả ở những dòng thơ tự do mà hơn một lần nhà thơ Thanh Tâm Tuyền cũng phải buột miệng trầm trồ:

                        Em hé cành cây xanh ngó lạ cười nhau rộng mở
                        Hàm răng. Thu qua em khóc bốn mùa sương ướt
                        tóc buồn bàn chân định bước về phía núi xa
                        xanh sớm tím chiều hoang gió dại thu rừng thu
                        rừng em ngó mắt nghe tai nắm cầm năm ngón
                        nhỏ nghe bốn phía lạnh nằm trong trái tim.
                        Máu xương lổ đổ biết mần răng đợi bóng sáng hôm
                        sau tuyết trắng như sầu băng thương nhớ

                        Em hé cành cây xanh cánh cửa bước vào trong
                        cõi ấy bờ xa gió rộng chạy dài. Em khóc cho
                        người nghe thổn thức sau khi cười cho thật
                        sung sướng người nghe. Miệng em và. Trái anh
                        đào lay lắt suối trong soi suốt một sớm mai tiên
                        nữ đi về gót vang lồng lộng em ồ em! ta định nói
                        hai tay năm ngón một lời man dại yêu thương

                        Kết vòng múa quanh vừng thu vời cành rơi lõa
                        xõa ngang đầu vai em mở ngực đợi chờ đã đến
                        phút rồi giây giờ xem vĩnh viễn xanh như trời
                        như đất đỏ cây xanh

                        Em hé cành cong xuống nghe bàn tay động vỡ
                        sương băng nói nhỏ nghe chừng như hơi thở
                        môi cười kia răng mở sẽ mai sau cùng chúng
                        bạn thưa rằng.


            Khó có thể phân biệt bài thơ “Xuân Xanh” mà chúng ta vừa nghe với những dòng lục bát mang đậm dấu ấn Bùi Giáng. Không còn vần điệu quen thuộc của câu sáu câu tám, nhưng trong Xuân Xanh vẫn ẩn hiện rất rõ những cách điệu, cùng những ẩn dụ và ngôn ngữ rất Bùi Giáng.

Thế giới hoang tưởng của Bùi Giáng
            Tiếc một điều, Bùi Giáng không ở lâu cùng một thế giới với chúng ta. Ông thuộc về một thế giới khác, thế giới ngập tràn ánh sáng của những hoang tưởng cực đại và cũng không thiếu những vùng tối cô đơn rợn người mà y khoa đặt chung một tên gọi là bệnh tâm thần.
            Nhà văn Phạm Xuân Đài kể lại:

            Về chứng bệnh tâm thần của Bùi Giáng, theo như tôi biết, chứng bệnh tâm thần của ông là có tính cách di truyền. Hồi nhỏ, trên bước đường đi tản cư, tôi được sống gần gia đình ông ở một vùng núi của Quảng Nam, và tôi đã chứng kiến chứng bệnh này nơi thân phụ của ông.
            Nói về cái điên của Bùi Giáng thì những cái hình ảnh của ông, ngôn ngữ và cử chỉ của ông trong lúc điên trở thành cái gì quá thông thường trên đường phố Sài Gòn suốt mấy thập niên của cuộc đời ông và được rất nhiều người đã biết. Nhìn gần hơn thì tôi có thể đọc lại một số câu mà tôi đã viết từ Năm 1992 trong bài “Kẻ cuồng sĩ trong vườn cây” để nói về cái điên của ông:
            “Bây giờ anh ít làm thơ lắm, còn cái tên điên thì viếng anh gần như định kỳ. Những lúc ấy anh đi nhiều nơi, nhưng thường xuất hiện tại vùng Chợ Trương Minh Giảng, tức chỗ Đại Học Vạn Hạnh là nơi ngày xưa anh trú ngụ, đứng giữa đường vung tay điều khiển xe cộ, cử chỉ rất linh động, đặc biệt đôi mắt sáng quắc bừng bừng. Anh đang thể hiện một năng lực nào đấy đang đầy ắp trong người anh.
            Có khi anh múa may trong một lớp áo loè loẹt, động tác mạnh mẽ, chính xác, gần như múa võ, miệng hò hét như đang nạt nộ một đối tượng vô hình đang hiện diện ngay trước mặt mình. Đêm khuya, một hai giờ sáng, người ta nghe thấy một người vừa đi vừa tranh luận với chính mình, lời lẽ khó hiểu, thì ai nấy đều biết đó là Bùi Giáng.
            Chỉ có các em nhỏ là im thin thít. Đối với chúng, ông Bùi Giáng là ông ba bị thực sự hiện diện trên cõi đời này, gầy gò, dơ bẩn, tóc hoa râm có khi dài chấm vai, áo quần tả tơi, hay múa may la hét, đôi mắt sáng rực một cách ma quái sau cặp kính trắng.
            Tất cả thành viên các nhà trẻ vùng Chợ Trương Minh Giảng đều thất kinh trước hình ảnh ấy. Hình như nhà nào ở khu vực này cũng biết dọa con nít khóc nhè bằng câu “Ông Bùi Giáng đó! Nín đi!” Và câu dọa có hiệu lực tức thì. Nhưng, nhiều người lớn khi nói câu ấy thì cảm thấy một nỗi xót xa vô hạn, thương cho một người mà họ biết là trí thức và tài hoa nhưng định mệnh đã buộc anh phải tự thể hiện một cách dữ dội và khác thường như thế
”.

Tình yêu dành cho Kim Cương
            Bao vây Bùi Giáng là những giai thoại và thật khiếm khuyết nếu không nhắc đến một cái tên mà ông đã gắn bó trong hơn bốn mươi năm, đó là kỳ nữ Kim Cương. Mặc dù Bùi Giáng luôn cao giọng tung hô Marylin Monroe lẫn Brigitte Bardot, nhưng người mà ông yêu thương đắm đuối và bền bỉ nhất vẫn là Kim Cương.
            Trong một lần nói chuyện dành riêng cho chúng tôi, nữ nghệ sĩ Kim Cương kể lại:

            Cái huyền thoại của ông Bùi Giáng nhiều và vui lắm. Trong cái điên của ảnh (thì) nhiều cái cũng dễ thương lắm. Ảnh đứng làm chim bay cò bay đầu đường (làm) kẹt xe, đi không được, không ai kêu ảnh vô được hết. Mấy ký giả đi ngang mà thấy ảnh đứng như vậy, nhứt là đám nhỏ nhỏ nói “Kim Cương kêu ông ở đẳng đó”, thế là ảnh xách giỏ, xách nón chạy đi liền.

            Khi nhớ về những tình cảm mà nhà thơ dành cho mình trong suốt 40 năm, nghệ sĩ Kim Cương không khỏi ngậm ngùi:

            Đối với anh Bùi Giáng, (ảnh) đối với tôi trân trọng một mối tình như vậy cho dẫu ảnh không có bình thường, ảnh có khi điên khi tỉnh, mà tới khi ảnh nổi cơn điên thì tôi khổ với ảnh lắm, anh biết không!
            Ổng lại nhà kêu cửa mà không mở là ổng vác gạch ổng chọi mà ổng chửi tùm lum. Chịu đựng với ảnh bốn chục năm như vậy.
            Với tình cảm nghệ sĩ đối với nghệ sĩ thì tôi đối với ảnh cũng tương đối là ảnh vui, mặc dầu chắc chắn là giữa tôi với ảnh không bao giờ có chuyện yêu thương gì đến
.

Khi thơ là không khí để hít thở
            Bùi Giáng liên lỉ làm thơ như cần không khí để thở. Ông làm thơ khi tỉnh lẫn khi không tỉnh, và những bài thơ trong trạng thái tâm thần bất định này đôi khi làm nhiều nhà phê bình bối rối. Nhà phê bình Đặng Tiến nhìn lại những tác phẩm bất bình thường này như sau:

            Khoảng từ 1950 đến 1960 thì ông Bùi Giáng ổng làm thơ lúc đầu óc ổng rất là sáng suốt. Chỉ từ cuối thập niên 1960 thì ổng mới bị tâm thần một phần nào đó. Trong khi ổng bị tâm thần (thì) cũng có lúc sáng suốt. Nhưng mà những bài thơ nổi tiếng nhất của ổng là những bài thơ làm lúc sáng suốt là những bài thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao.
            Trong những bài thơ tâm thần của ổng có những câu hay, nhưng mà nói rằng thơ tâm thần là hay nhứt của ổng thì cũng không đúng.
            Ở Việt Nam mình chưa có truyền thống đánh giá những nhà thơ, những nhà văn tâm thần như là ở Tây phương, thành thử những người đánh giá cao thơ tâm thần của ổng thì thường thường cũng chỉ là tùy hứng thôi chứ không phải là dựa trên những phương pháp chặt chẽ về y học, về nghệ thuật, về ngôn ngữ để mà phân tích cho cẩn thận, mà nói cho khác người vậy thôi.
            Thơ tâm thần của ông Bùi Giáng dĩ nhiên là cái thơ khác đời, và những người khen thơ tâm thần của Bùi Giáng cũng muốn làm cho khác đời vậy thôi chớ còn không có một lý luận nào cho mạch lạc, hay nói cho đúng hơn là tuy tôi chưa đọc một bài báo nào mà có thể nói là thuyết phục về những thơ tâm thần của Bùi Giáng.
            Những bài hay nhứt về Bùi Giáng là những bài của Thanh Tâm Tuyền hay là Tuệ Sĩ thì chỉ dựa trên những câu thơ bình thường của ông ấy thôi, trong lúc ổng sáng suốt thôi
.

Ra đi trong thương tiếc
            Bùi Giáng ra đi trong niềm luyến tiếc của nhiều người yêu thơ ông và trong đó người chia sẻ niềm đau với ông lâu dài nhất không ai hơn được nữ kịch sĩ Kim Cương. Trong bài phát biểu cuối cùng trước linh cửu nhà thơ đúng mười năm về trước bà cho biết:

            Có lẽ là ba cái câu mà tôi cảm ơn ảnh có thể khái quát hết cái quá trình ảnh đối với tôi. Điều thứ nhứt tôi cảm ơn ảnh là ảnh đã để cho đời những tác phẩm rất là hay, là bất hủ trong cuộc đời. Thứ hai là ảnh đã cho tôi một mối tình đơn phương mà bốn chục năm không thay đổi. Và cái cảm ơn thứ ba là ảnh cho tôi một bài học là dù điên dù khùng hay là dù tỉnh, dù già, dù trẻ, con người ta sống cũng phải có một mối tình, một cái gì để dựa vô mà sống.

            Hình ảnh Bùi Giáng vai mang tay xách những thứ hỗn độn của đời sống trên đường phố Sài Gòn chừng như vẫn còn in đậm trong tâm trí nhiều người đã từng biết ông.
            Còn những ai chưa có cơ hội gặp gỡ nhà thơ thì những vần lục bát thần tình của Bùi Giáng vẫn đủ ma lực mang đến cho người đọc những cảm giác thảnh thơi, chiêm nghiệm đời sống chung quanh bằng ngôn ngữ của một trích tiên vốn coi đời chỉ là cõi tạm.


MẶC LÂM
Tháng 10/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Bui-giang-a-mysteriuos-poet-mlam-10182008123006.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 01/06/2017, 22:51:38
Trần Hưng Đạo: Tinh hoa quân sự Việt Nam

Lịch sử Việt Nam là một chuỗi dài những cuộc chiến chống ngoại xâm. Về mặt số lượng và trang bị vũ khí, quân đội Việt Nam chưa bao giờ ở trong thế “cân sức” với kẻ thù xâm lược. Ấy thế mà, kẻ thù luôn thất bại, độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia Việt Nam luôn được giữ vững. Một tấm gương tiêu biểu: Trần Hưng Đạo hồi thế kỉ 13 đã ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/tran%20hung%20dao.jpg)
Trần Hưng Đạo trong tranh dân gian Đông Hồ

NGUYÊN LÝ là: Dù nước Việt không hùng mạnh, quân Việt không đông, không có nhiều vũ khí, nhưng người Việt có nghệ thuật quân sự bách chiến bách thắng của riêng mình. Đó là một nghệ thuật quân sự dựa vào dân, lấy đoàn kết và quyết tâm làm sức mạnh, lấy “đoản binh để thắng trường trận”, “quí ở tinh nhuệ chứ không ở số quân nhiều hay ít”, một nghệ thuật quân sự mà hồi thế kỉ 13 đã được danh tướng Trần Hưng Đạo “trình diễn” trong ba lần đánh bại quân xâm lược Nguyên Mông.

Tấm gương học hỏi, tự rèn luyện
            Đến với Trần Hưng Đạo trước tiên là đến với một tấm gương tự rèn luyện và học hỏi không ngừng để hoàn thiện bản thân đem trí tài phục vụ cho dân cho nước. Về vấn đề này, chúng tôi có dịp tiếp xúc với nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần tại thành phố Hồ Chí Minh, người có nhiều công trình lịch sử Việt Nam có giá trị, ông nhận định:

            “Trần Hưng Đạo sinh ra trong một bối cảnh khá đặc biệt. Ông chào đời có lẽ là vào năm 1231. Tôi nói là có lẽ bời vì đến hiện nay tôi đã tập hợp được nhiều tài liệu Hán cổ, nhưng chưa một tài liệu nào xác định một cách chính xác năm sinh của ông. Có điều, dựa trên sự phân tích sử liệu, chúng ta có thể đoán chừng ông sinh năm 1231 và mất năm 1300, hưởng thọ 70 tuổi ta, 69 tuổi tây.
            Bối cảnh ra đời của Trần Hưng Đạo như thế nào? Ông chào đời vào lúc nhà Trần vừa mới được thành lập, kinh tế rất đổ nát, chính sự rất rối ren bởi những di hại của triều Lý để lại.
            Về đối nội, phong trào chống lại họ Trần cũng bùng nổ khá mạnh mẽ, đó là lực lượng của Đoàn Thượng, lực lượng của Nguyễn Nộn. Và chưa kể rằng nội bộ nhà Trần tuy mới bắt đầu cầm quyền nhưng những vết rạn nứt cũng bắt đầu hình thành, và đặc biệt là vết rạn nứt giữa Trần Liễu và em ruột là Trần Cảnh. Trần Liễu là thân sinh của Trần Hưng Đạo còn Trần Cảnh là vị hoàng đế đầu tiên của triều Trần.
            Về đối ngoại, nhà Trần cũng gặp không ít trở ngại. Trước hết, nhà Tống tuy suy yếu nhưng vẫn tiếp tục tác oai tác quái với nước Đại Việt. Và ở phía bắc của nhà Tống thì đế chế Mông Cổ đang trên đường nhanh chóng xác lập và sau đó đã thật sự là một đế chế hùng mạnh và gây hấn ở khắp cả châu Âu và châu Á. Lúc bấy giờ ở phía Tây và nam Đại Việt ta, Ai Lao, Vạn Tượng và Chiêm Thành đều gây những vụ bất ổn ở biên giới. Tóm lại, nhà Trần non trẻ phải đối mặt với những khó khăn trong cũng như ngoài nước.
            Trong bối cảnh đó, Trần Hưng Đạo đã chào đời, và ông đã tìm cách xác lập vị thế của mình. Trước hết là bằng con đường tự học hỏi để nâng cao nhận thức và kỹ năng sống của mình. Ông học văn, văn rất giỏi. Ông học võ, võ rất tài. Chính Trần Hưng Đạo là người đã có công khai sáng nền khoa học quân sự của Việt Nam. Trần Hưng Đạo đã tiến hành quảng giao. Ông đã tiếp xúc với những người trong cũng như ngoài nước. Điều đáng nói là ông giỏi tiếng Trung Quốc đến nỗi mà khi người Trung Quốc nói chuyện với ông họ không nghĩ rằng ông lại là người Việt
”.

            Ý chí học hỏi rèn luyện đó đã tạo ra một đại danh tướng Trần Hưng Đạo đánh bại quân Mông Cổ, đội quân mà vó ngựa từng giẫm nát khắp Á Âu.

Ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông
            Danh tiếng lẫy lừng của Trần Hưng Đạo gắn liền với cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại hồi thế kỉ 13 chống quân xâm lược Nguyên Mông, một đế chế hùng mạnh từng một thời hoành hành khắp Á Âu.
            Vào đầu thế kỉ 13, Thiết Mộc Chân thành lập một nước Mông Cổ hùng mạnh và bắt đầu bước đường xâm lược tứ phương. Năm 1215, Mông Cổ chiếm kinh đô nước Kim. Năm 1218, Mông Cổ chiếm được vùng phía đông của Turkestan ngày nay. Năm 1219, kỵ binh Mông Cổ tiến về Trung Á. Tại đây, một loạt những thành phố nổi tiếng lần lượt bị tấn công và bị triệt hạ. Năm 1221, các vương quốc như Azerbaijan, Gruzia và nhiều thành phố lớn của Nga bị vó ngựa Mông Cổ giẫm lên. Năm 1223, Nga bị quân Mông Cổ chiếm đóng. Năm 1225, Mông Cổ đánh chiếm Tây Hạ. Năm 1241, quân Mông Cổ đánh chiếm Hungari, đuổi vua của Hungari đến tận biên giới nước Ý. Bấy giờ, cả Âu châu bị chấn động bởi vó ngựa hung hãn của quân Mông Cổ. Nỗi lo sợ trùm phủ khắp nơi.
            Năm 1251, Mông Kha lên ngôi hoàng đế Mông Cổ. Quân Mông Cổ đẩy mạnh bành trướng xuống phương Nam. Năm 1252, ngay khi cuộc thôn tính Trung Quốc còn đang dở dang, Mông Kha ra lệnh cho em là Hốt Tất Liệt đánh xuống nước Đại Lý. Chỉ trong một thời gian ngắn, vua nước Đại Lý là Đoàn Hưng Trí đầu hàng, nước Đại Lý bị diệt. Năm 1260, Hốt Tất Liệt lên ngôi Hãn. Năm 1278, nhà Tống bị quân Mông Cổ tiêu diệt, Hốt Tất Liệt hoàn tất cuộc thôn tính Trung Quốc.
            Sau khi thôn tính xong Trung Quốc, đế quốc Mông Cổ tập trung lực lượng đánh Đại Việt. Trong ba mươi năm (1257-1288), đế quốc Mông Cổ đã ba lần ào ạt cho quân tràn xuống xâm lược nước Việt, mỗi lần lực lượng mỗi to lớn hơn lần trước, chuẩn bị công phu hơn và quyết tâm cũng cao độ hơn.
            Cuộc xâm lăng lần thứ nhất của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1257 do tướng Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy với ba vạn kỵ và bộ binh. Cuộc tấn công này xuất phát từ nước Đại Lý. Ngột Lương Hợp Thai bắt vua nước Đại Lý mới đầu hàng là Đoàn Hưng Trí dẫn đường, nhưng Đoàn Hưng Trí chết khi chưa kịp đến Đại Việt. Kết quả cuộc xâm lượt này: Giặc thua to.
            Cuộc xâm lăng lần thứ hai của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1285 do con trai Hốt Tất Liệt là Thoát Hoan đem năm mươi vạn quân tràn sang nước ta. Ngoài ra còn có đạo quân 10 vạn do tướng Toa Đô chỉ huy, trước đó đã có mặt ở Chiêm Thành cũng được lệnh rời Chiêm Thành tiến lên đánh nước ta, hai mặt giáp công. Tính ra, cứ khoảng sáu người dân Đại Việt (bất kể già trẻ trai gái), phải đương đầu với một tên giặc Nguyên hung hăng, tàn bạo và thiện chiến.
            Lịch sử kim cổ đông tây quả thật cực kỳ hiếm có một cuộc đối đầu nào hoàn toàn không cân xứng như vậy. Thế mà kết quả cuộc xâm lược này là: Giặc thảm bại, quân chết vô số kể, Toa Đô bị chém, Thoát Hoan chui vào ống đồng để lính khiêng trốn chạy về Trung Quốc, Ô Mã Nhi và các tướng khác trốn thoát được theo đường thủy chạy về Trung Quốc.
            Cuộc xâm lăng lần thứ ba của quân Mông Cổ diễn ra vào năm 1287. Hốt Tất Liệt quyết ý phục thù hai lần thất bại trước. Để tiến hành cuộc xâm lược này, Hốt Tất Liệt huy động năm mươi vạn quân tiến vào Đại Việt qua ba hướng khác nhau: Thoát Hoan làm tổng chỉ huy, tiến theo đường bộ, tướng Áo Lỗ Xích chỉ huy cánh quân thứ hai cũng tiến theo đường bộ. Ô Mã Nhi và Phàn Tiếp chỉ huy thủy binh hỗ trợ cho bộ binh và kỵ binh. Trương Văn Hổ vận chuyển lương thảo theo sau.
            Kết quả cuộc xâm lược này: Giặc thảm bại, quân chết vô số kể, đội quân Trương Văn Hổ bị đánh tan không thể vận lương đến, Ô Mã Nhi bị chém, đội thủy binh hoàn toàn bị tiêu diệt, Thoát Hoan và các tướng khác trốn về đến Trung Quốc đều bị trị tội theo quân pháp, Thoát Hoan bị cha là Hốt Tất Liệt đuổi đi không thèm nhìn mặt nữa.
            Ta thấy rằng, khi ấy, so với nhà Tống, Đại Việt chỉ là nước nhỏ. Ấy thế mà đội quân Mông Cổ đã đánh bại nhà Tống, đã từng làm rung chuyển khắp Á Âu, lại đại bại ở nước Đại Việt nhỏ bé.
            Trong ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông này, công lao của Trần Hưng Đạo là vô cùng to lớn. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần tóm lược như sau:

            “Trần Hưng Đạo đã tham gia việc cầm quân và huấn luyện quân sĩ. Khi chưa đầy 30 tuổi Trần Hưng Đạo đã là tổng chỉ huy quân đội của nhà Trần ở vùng đông bắc và có công rất lớn trong sự nghiệp chống quân xâm lăng Mông Cổ năm 1257-1258. Ông đã huấn luyện quân đội ngày càng tinh nhuệ, và chủ trương của Trần Hưng Đạo là một chủ trương rất tiến bộ mà giá trị câu nói của ông lúc sinh thời vẫn còn bất diệt với non sông, đó là “binh quí hồ tinh bất quí hồ đa”, nghĩa là “binh quí ở chỗ tinh nhuệ chứ không phải ở số đông”. Chủ trương đó thật sự đúng đắn, đã phát huy được tác dụng to lớn trong sự nghiệp bảo vệ độc lập thế kỉ 13.
            Trần Hưng Đạo là tướng tổng chỉ huy lực lượng vũ trang của quân đội Đại Việt trong hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại thế kỉ 13 chống quân xâm lược Nguyên Mông. Đó là lần thứ hai vào năm 1285 và lần thứ 3 vào năm 1287-1288. Trần Hưng Đạo đã chọn đúng người đúng việc. Trần Hưng Đạo đã tự tin và chuyển tải niềm tự tin đó đến với mọi người, dù đó là binh sĩ, dù đó là tướng lĩnh, thậm chí đến thái thượng hoàng hay hoàng đế cũng được ông chuyển tải niềm tự tin ấy mới có thể vững vàng trước thử thách của non sông.
            Trần Hưng Đạo đã khai thác hết mọi tài năng của con người, kể cả những người dưới đáy xã hội, đặc biệt là lực lượng gia nô. Chính ông đã có lời nói về hành vi của Yết Kiêu và Dã Tượng khi mà những người này bộc lộ niềm trung thành lớn lao và đức hi sinh cao cả. Ông nói rằng: “Chim hồng chim hộc sở dĩ bay cao bay xa là nhờ vào sáu trụ xương cánh. Nếu không có sáu trụ xương cánh thì chim hồng chim hộc cũng chỉ là chim thường thôi”.
            Ở đây chim hồng chim hộc chính là Trần Hưng Đạo và quý tộc họ Trần, những vị tướng cao cấp của quân đội nhà Trần, còn sáu trụ xương cánh ấy chính là những người như Yết Kiêu, Dã Tượng, Nguyễn Địa Lô và nhiều gia nô khác.
            Ông là nhà chỉ huy thiên tài, và thắng lợi trong cuộc chiến vệ quốc vĩ đại đã chứng tỏ thiên tài của Trần Hưng Đạo. Vì chúng ta biết rằng, đế quốc Mông Nguyên có diện tích khổng lồ, mình như con ác thú phủ kín từ Hắc Hải cho đến Thái Bình Dương
”.

Khai sáng nền khoa học quân sự Việt Nam
            Bên cạnh việc trực tiếp chỉ huy đánh trận, xông pha trên sa trường, Trần Hưng Đạo còn là một nhà khoa học quân sự xuất sắc. Các nhà sử học xem ông là người khai sáng nền khoa học quân sự Việt Nam. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần ghi nhận:

            “Trần Hưng Đạo không phải chỉ có huấn luyện quân đội, không phải chỉ tập luyện võ nghệ, mà quan trọng hơn là ông đã nghiên cứu binh pháp, và đã biên soạn ra một bộ binh pháp hoàn toàn mới. Trước đó, tướng lĩnh của nhà Trần phải học ít nhất 15 bộ binh pháp của Trung Quốc. Tất cả những bộ binh pháp đó được trình bày rất sắc xảo, và có những ý kiến rất xuất sắc, nhưng nó chỉ phù hợp với những cuộc chiến tranh xung đột nội bộ, mà không phù hợp với cuộc chiến tranh vệ quốc của dân ta. Vì thế, Trần Hưng Đạo đã biên soạn bộ “Binh Thư Yếu Lược”, và đó chính là tác phẩm khai sinh của nền khoa học quân sự Việt Nam.
            Trước Trần Hưng Đạo, chúng ta có rất nhiều vị tướng giỏi, nhưng đó chỉ là những vị tướng có công đưa nghệ thuật cầm quân lên một trình độ cao, chứ chưa phải khoa học quân sự. Tôi không hề có ý nói rằng nghệ thuật thấp hơn quân sự, mà chỉ muốn nói: đến đây khoa học quân sự Việt Nam mới thật sự được khai sinh.
            Sau khi đã biên soạn binh pháp, thì trong huấn luyện quân đội, Trần Hưng Đạo đã tìm đủ mọi cách để kích lệ tinh thần của quân sĩ, và tác phẩm nổi bật nhất của ông trong lĩnh vực này chính là bài “Hịch Tướng Sĩ Văn”. Đây là một trong những áng thiên cổ hùng văn có giá trị bất diệt, và chỉ cần là tác giả của Hịch Tướng Sĩ Văn thôi thì tên tuổi của Trần Hưng Đạo đã trở nên bất diệt với non sông. Huống chi ông còn là tác giả của nhiều tác phẩm lớn. Huống chi việc cầm bút chỉ là một phần nhỏ trong sự nghiệp to lớn của ông
”.

Dĩ công vi thượng
            Trần Hưng Đạo vốn là con của An Sinh Vương Trần Liễu. Trần Liễu là anh ruột của Trần Cảnh. Năm lên bảy tuổi, Trần Thủ Độ sắp đặt cho Trần Cảnh cưới vị hoàng đế cuối cùng của triều Lý là Lý Chiêu Hoàng khi ấy cũng lên bảy tuổi. Cùng năm đó, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh. Thế là triều Trần được thành lập khi Trần Cảnh lên ngôi lấy miếu hiệu là Trần Thái Tông.
            Năm 1237, do không sinh được con nên Lý Chiêu Hoàng bị giáng làm công chúa, rồi Trần Thủ Độ ép chị gái Lý Chiêu Hoàng là công chúa Thuận Thiên Lý Thị Oanh lấy Trần Thái Tông. Trớ trêu là khi đó Lý Thị Oanh là vợ của Trần Liễu và đang có mang với Trần Liễu.
            Vì chuyện này mà Trần Liễu ghi hận trong lòng và nổi binh tạo phản nhưng thất bại. Thái Tông không trị tội và lấy thân mình bảo vệ cho ông trước Trần Thủ Độ. Thế nhưng Trần Liễu vẫn còn ghi hận. Trước phút lâm chung, Trần Liễu trăn trối lại với Trần Hưng Đạo phải báo thù cho ông. Trần Hưng Đạo giả vờ vâng mệnh để cho cha an lòng nhắm mắt nhưng không cho lời cha là phải nên Trần Hưng Đạo đã không làm theo, và còn tỏ ra một lòng trung nghĩa với triều Trần vì lợi ích quốc gia dân tộc.
            Nhiều câu chuyện được sách sử ghi lại về lòng trung nghĩa, “đặt việc nước trước tình nhà” của Trần Hưng Đạo. Sử cũ chép, một hôm Trần Hưng Đạo vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương: “Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thế nào?” Hưng Vũ vương thưa: “Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!” Trần Hưng Đạo ngẫm cho là phải.
            Lại một hôm ông đem chuyện ấy hỏi người con thứ là Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng. Quốc Tảng tiến lên thưa: “Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơ dấy vận nên có được thiên hạ”. Trần Quốc Tuấn rút gươm kể tội: “Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra” và định giết Quốc Tảng, Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, Trần Quốc Tuấn mới tha. Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: “Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng”.
            Sử cũ cũng kể rằng bấy giờ Hưng Vũ Vương được lấy Công chúa Thiên Thụy, thế nhưng tướng Trần Khánh Dư lại thông dâm với Thiên Thụy, khiến nhà vua phải xuống chiếu, trách phạt và đuổi Khánh Dư về Chí Linh. Vậy mà khi quân Nguyên Mông sang xâm lược Đại Việt lần thứ 3, Trần Hưng Đạo đã gạt bỏ hiềm riêng, tin cậy giao hết công việc biên thùy cho Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư. Ngoài ra, khi soạn xong Vạn Kiếp tông bí truyền thư, thì Trần Khánh Dư cũng là người được ông chọn để viết bài Tựa cho sách.
            Cũng có chuyện kể rằng, Trần Hưng Đạo là bậc kỳ tài, lại còn mối hiềm cũ của An Sinh Vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần Hưng Đạo theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườm mắt nhìn. Trần Hưng Đạo liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậy không mà đi.
            Trần Hưng Đạo cũng chủ động đề cao tình đoàn kết trong quí tộc họ Trần để tạo thành sức mạnh chống ngoại xâm. Sử cũ chép Trần Hưng Đạo là quốc công tiết chế thống lãnh binh quyền, thế mà đã chủ động hạ mình tắm gội cho Trần Quang Khải. Trần Quang Khải chính là con ruột của Trần Thái Tông Trần Cảnh, tức em chú bác với Trần Hưng Đạo.
            Trần Hưng Đạo đã đạt đến tột đỉnh vinh quang. Bản thân ông đã được phong đến quốc công tiết chế nắm hết binh quyền. Vua Trần còn sai lập sinh từ cho ông, tức đền thờ dành cho ông ngay khi ông còn tại thế.
            Vợ Trần Hưng Đạo là Công chúa Thiên Thành, con gái lớn của Trần Thái Tông. Bà được phong tước là Nguyên Từ quốc mẫu. Bà có với Trần Hưng Đạo 5 người con, gồm 1 gái và 4 trai:
            1) Một gái đầu lòng tên là Trinh, thường gọi là Trinh Công chúa, sau trở thành vợ của vua Trần Nhân Tông, tức Khâm Từ Bảo Thánh Hoàng hậu, mẹ của vua Trần Anh Tông sau này.
            2) Trần Quốc Nghiễn, tước Hưng Vũ Vương: Ông cưới Công chúa Thiên Thụy, trở thành Phò mã của vua Trần Thánh Tông. Sau khi đánh đuổi quân Nguyên Mông, tháng Tư (âm lịch) năm 1289, ông được phong làm Khai Quốc Công.
            3) Trần Quốc Hiện, tước Hưng Trí Vương: Ông là người có công tổ chức khẩn hoang nhiều vùng đất hoang vu của khu vực tỉnh Hải Dương ngày nay.
            4) Trần Quốc Tảng, tước Hưng Nhượng Vương: ông được phong làm Tiết độ sứ. Ông có con gái gả cho vua Trần Anh Tông, tức Thuận Thánh Hoàng hậu.
            5) Trần Quốc Uất, tước Minh Hiến Vương: từng tham gia đánh giặc Nguyên Mông cùng các anh em dưới sự điều khiển của Trần Hưng Đạo.
            Chúng ta thấy với gia thế vương giả đến như vậy, quyền uy đến như vậy, bản thân Trần Hưng Đạo nắm hết binh quyền, con gái thì là hoàng hậu, 4 con trai đều mang tước vương. Ở vào thế đó, thì việc lật đổ triều đình đối với Trần Hưng Đạo là chuyện trong tầm tay. Ấy thế mà, qua những mẩu chuyện nêu trên ta thấy rằng ông vẫn luôn đặt việc chung lên trên việc riêng, đặt thù nước trên thù nhà. Một tinh thần đáng quí lắm thay!

Lấy dân làm gốc
            Bàn về chính sách giữ nước, Trần Hưng Đạo là người theo tư tưởng “Dân vi quí”, lấy sức dân làm nền tảng xây dựng sức mạnh của chế độ. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê chép:

            “Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng: “Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào”. Vương trả lời: “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế “thanh dã” (tức Vườn không nhà trống – LP), đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binh thì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới một dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đó lại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng Lý Thường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế.
            Vừa rồi Toa Đô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nó cậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản [binh] chế trường [trận] là sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, như gió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như cách tằm ăn, không cầu thắng chóng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, như đánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được. Vả lại, khoan thứ sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước vậy
”.

            Qua cách lý luận trên ta thấy rằng Trần Hưng Đạo đã nắm hết những chỗ tinh yếu của binh pháp cổ kim, quả đúng là một bậc kỳ tài của thiên hạ. Ông đã nhấn mạnh đến việc dùng đoản binh thắng trường trận, dùng ngắn đánh dài, dùng ít thắng nhiều, dùng sức mạnh đoàn kết thắng kẻ thù tàn bạo. Điều đó hoàn toàn phù hợp với địa thế, lực lượng và truyền thống Việt Nam, đã được chứng minh tính hiệu quả qua biết bao chiến thắng kẻ thù xâm lược trong suốt mấy ngàn năm nay.
            Đặc biệt điều đáng chú ý nhất đó là tư tưởng “lấy dân làm gốc” của Trần Hưng Đạo: dựa vào dân để xây nghiệp dài lâu, đây là đạo lý giữ nước, giữ chế độ ngàn đời nay không chỉ của riêng dân tộc Việt Nam mà của tất cả các dân tộc trên thế giới, bởi vì có dân là có tất cả, mà mất lòng dân thì sẽ mất tất cả vậy.

Một tấm lòng son chiếu sử xanh
            Tài năng và đức độ của Trần Hưng Đạo đã đi vào thanh sử, được dân chúng bao thế hệ nay tôn thờ gọi ông là “Đức Thánh Trần”. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần tóm lược:

            “Bởi tấm lòng ấy, bởi tài năng ấy, Trần Hưng Đạo khiến cho muôn đời cảm phục. Vũ Phạm Hàm (từng đỗ tam nguyên thời nhà Nguyễn – LP) đã có đôi câu đối để ở đền thờ Vạn Kiếp rằng:
                        “Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
                        Bạch Đằng vô thủy bất thu thanh”.
            Nghĩa là:
                        Núi Vạn Kiếp chẳng nơi đâu là không có kiếm khí
                        Sông Bạch Đằng không có ngọn sóng nào không có hơi vũ khí.
            Tức ca ngợi võ công oanh liệt của Trần Hưng Đạo.
            Và tôi đã đọc được những câu đối, kể cả những câu đối của người Trung Quốc đã ca ngợi Trần Hưng Đạo hết lời. Xin chọn một câu làm ví dụ:
            “Địa chuyển ngã Việt chủng cư Bắc phương, Âu châu cảnh nội vô Mông kỵ tung hoành thiên vạn lý – Thiên sinh thử lương tài ư Tống thất, Trung Quốc sử tiền miễn Nguyên triều đô hộ nhất bách thiên”.
            Nghĩa là: Đất mà hoán chuyển cho người Việt lên ở phương Bắc, thì ngựa Mông Cổ không thể nào tung hoành ngàn vạn dặm đất châu Âu – Trời mà sinh đấng lương tài này
(tức Trần Hưng Đạo – LP) trên đất Tống thì lịch sử Trung Quốc không có chuyện bị Nguyên triều cai trị 100 năm.
            Lời ca ngợi như thế là tột đỉnh của sự ca ngợi, và Trần Hưng Đạo xứng đáng nhận được những lời ca ngợi đó, không phải của người đương thời mà là của người hậu thế.
            Đến hôm nay, tượng Trần Hưng Đạo được dựng lên ở khắp nơi, đền thờ Trần Hưng Đạo được dựng lên ở khắp nơi, và những bức tượng ấy, đền thờ ấy là kết tinh của sự sự kính trọng của người Việt Nam đối với Trần Hưng Đạo. Tên tuổi của Trần Hưng Đạo còn được dùng để đặt cho nhiều đường phố, trường học và công sở khác. Tên ông còn sống mãi với non sông này, đất nước này
”.

Ba bài học quí
            Đề cập đến những bài học rút ra từ cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo, sử gia Nguyễn Khắc Thuần nhấn mạnh đến tình thần “lấy dân làm gốc” và “Dĩ công vi thượng” của ông:

            “Trong bối cảnh hiện nay, cuộc đời và sự nghiệp của Trần Hưng Đạo để lại cho chúng ta rất nhiều điều đáng suy ngẫm. Trước hết là ý chí tự lập và không ngừng vươn lên. Đó là ý chí chung của tất cả mọi người. Và trước hết, tuổi trẻ muốn khẳng định mình thì phải không ngừng nuôi dưỡng chí lớn đó.
            Thứ hai, hãy một lòng thương yêu mọi người, đoàn kết, bởi vì chỉ có đoàn kết mới có thể thành công, nếu không đoàn kết thì không bao giờ có thành công. Tâm thành của Trần Hưng Đạo xứng đáng cho ngàn đời sau noi theo.
            Thứ ba, Trần Hưng Đạo là người đã không ngừng tìm tòi sáng tạo. Và chỉ có sự tìm tòi sáng tạo vì mục đích là bảo vệ cho nhân dân, cho dân tộc thì sự nghiệp tìm tòi sáng tạo ấy sẽ được đời đời tôn vinh, đời đời ghi nhớ.
            Điều quan trọng là tấm lòng đối với nhân dân. Như tôi đã nói, một người sở dĩ có thể trở nên bất diệt là bởi vì người đó luôn chăm lo cho dân, nói theo cách nói của Trần Hưng Đạo là: “Khoan sức dân làm kế rễ sâu gốc vững ấy mới là thượng sách để giữ nước”. Lòng thương dân là biểu hiện của một tâm hồn trong sáng, đồng thời cũng là một di sản lớn mà Trần Hưng Đạo để lại cho thế hệ chúng ta
”.

            Đến đây ta có thể kết luận rằng: Nghệ thuật quân sự của Trần Hưng Đạo tựu chung lại có ba điểm chính sau đây: 1) Lấy đoản binh thắng trường trận, lấy ít thắng nhiều, đánh phục kích bất ngờ; 2) Nêu cao tinh thần đoàn kết, đoàn kết trên thượng tầng lãnh đạo, đoàn kết trong quân, đoàn kết trong dân, gạt bỏ tình riêng để cùng chiến đấu vì lợi ích chung của cả quốc gia dân tộc; 3) Thứ ba cũng là điểm quan trọng nhất đó là: “lấy dân làm gốc”, dựa vào dân để chiến đấu, để chiến thắng, để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, để làm nền tảng tồn tại của chế độ.
            Tóm lại, nghệ thuật dùng binh của Trần Hưng Đạo là tinh hoa quân sự của dân tộc Việt Nam, đã được chứng minh tính hiệu quả qua biết bao chiến thắng trước những kẻ thù hùng mạnh suốt mấy ngàn năm lịch sử. Đó chính là sức mạnh quân sự của dân tộc Việt Nam, nó không nằm ở sự lớn mạnh về vũ khí và số lượng, mà là ở tinh thần đoàn kết trên dưới một lòng, biết gạt hiềm khích riêng tư vì lợi ích quốc gia, biết đề cao tinh thần “dĩ công vi thượng”, và đặc biệt là biết khoan sức dân, biết thấm nhuần tinh thần “lấy dân làm gốc”.


LÊ PHƯỚC
Tháng 12/2012


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20121207-tran-hung-dao-tinh-hoa-quan-su-viet-nam

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 06/06/2017, 11:30:05
Nhạc Pháp lời Việt: Solenzara nào có Nắng Xuân

Có những địa danh đi vào huyền thoại nhờ vào bản nhạc, bài ca. Có những thắng cảnh vương vấn tâm hồn một khi đã qua. Syracuse ở Sicilia mê hoặc thấm mềm con tim sắt đá, Capri của Ý say đắm trọn đời tiếng vọng tình ca. Còn Solenzara tại Pháp xao xuyến nỗi niềm lòng người đi xa.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/enrico%20macias%2065199.jpg)
Enrico Macias ghi âm Solenzara, bản tiếng Pháp vào năm 1967

NẰM TRÊN Bờ biển Xà cừ (Côte de Nacre), thành phố Solenzara được liệt vào hàng danh lam thắng cảnh của đảo Corse, ở ngoài khơi miền nam nước Pháp. Tuy chưa từng đặt chân đến nhưng nhiều du khách trên thế giới đều từng nghe nhắc tới địa danh nhờ vào một bài hát ăn khách vào năm 1967.
            Người đầu tiên ghi âm bài này trong tiếng Pháp là ca sĩ Enrico Macias. Ca khúc của anh tuy rất nổi tiếng trên thế giới nhưng lại không phải là phiên bản chính gốc. Trong nguyên tác, đây là một bài ca của đảo Corse, do nhạc sĩ Dominique Marfisi sáng tác vào năm 1961, tức cách đây vừa đúng nửa thế kỷ.
            Sinh trưởng tại Oletta, một ngôi làng ở miền núi hẻo lánh, tác giả Dominique Marfisi (sinh năm 1902 – mất năm 1973) rời đảo Corse đến Pháp lập nghiệp năm ông 18 tuổi. Thời còn nhỏ, ông đã có năng khiếu âm nhạc, học đàn piano với thầy là Michel Costa, một giáo sư trường quốc gia âm nhạc đã về hưu. Tuy giỏi sáng tác, nhưng đối với Dominique Marfisi, công việc soạn nhạc chỉ là một nghề tay trái vì trong hơn 35 năm liền ông làm việc cho Cơ quan kiểm lâm.

Solenzara: bản ngợi ca tình quê hương
            Do xa quê mẹ từ lúc ông mới trưởng thành, cho nên sáng tác của ông gắn liền với đảo Corse. Chủ đề ưng ý của tác giả này trước sau vẫn là tình quê hương. Vào năm 1965, ông từng đoạt giải nhì trong cuộc thi sáng tác của thành phố Nice nhờ một tập thơ song ngữ viết bằng tiếng Corse lẫn tiếng Pháp.
            Về mặt ca khúc, số lượng bài hát do ông sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ khá nhiều, trong đó có các bài như Sirinata (Dạ khúc) hay U Mio Mulinu (Cối xay đầu làng). Nhưng bản nhạc Solenzara vẫn nổi tiếng hơn cả do đã được chuyển dịch sang hàng chục thứ tiếng khác nhau.
            Vào năm 1961, tác giả Dominique Marfisi đến tuổi về hưu, dọn nhà về sống luôn trên đảo Corse. Nhân một buổi ăn mừng sinh nhật của một người bạn tại Solenzara, ông tổ chức một bữa tiệc tại quán nhạc Mare e Festa. Cả nhóm bạn rủ nhau đi du thuyền trước giờ ăn tối.
            Thuyền vừa ra khơi lúc mặt trời bắt đầu lặn, ánh nắng chiều tà phủ ánh ngân quang, ngả bạc màu sóng biển. Ngoảnh mặt lại nhìn đằng sau lưng khung cảnh nên thơ của một ngôi làng trải khắp chân đồi, ông mới thốt lên câu nói: Không tìm thấy nơi nào đẹp bằng Solenzara (A Solenzara, piu bella un si po sta). Cũng từ giai thoại này mà ông chấp bút viết thành bản nhạc nổi tiếng cùng tên.
            Trong vòng nhiều năm, Solenzara là một ca khúc rất thịnh hành trên đảo Corse nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi. Mãi đến năm 1967, bản nhạc này mới lọt vào tai của ca sĩ Enrico Macias. Do rất thích giai điệu của bài hát, nên anh mới nhờ người khác chuyển dịch lời ca sang tiếng Pháp.

Điệu ru trên vành nôi Địa Trung Hải
            Phiên bản do Enrico Macias ghi âm trở thành một trong những tình khúc ăn khách nhất mùa hè năm 1967. Trong nguyên tác, bản nhạc được đánh bằng một bộ đàn dây, nhưng rõ nét nhất vẫn là đàn mandolin. Khi chuyển thể, bài hát chủ yếu dùng đàn ghita, thông dụng hơn nên càng dễ trở nên phổ biến.
            Chỉ một năm sau, nhạc phẩm Solenzara trở thành điệu ru của vành nôi Địa Trung Hải, khi bài ca được đặt thêm lời tiếng Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha. Cuối những năm 1960, bản nhạc có cả lời tiếng Đức, Hà Lan rồi Đan Mạch. Nhưng đáng ngạc nhiên hơn nữa là phiên bản tiếng Ả rập, Thổ Nhĩ Kỳ và tiếng Ba Tư (tiếng farsi của người Iran).
            Một khi du nhập qua các nước này, bài Solenzara do là tên riêng, cho nên biểu tượng của tình quê hương thông qua một địa danh không còn được giữ lại. Phần hòa âm cũng ít dùng ghita và lại nhấn mạnh với bộ gõ. Trội nhất là phiên bản của Vigen (Barge Khazan), ca sĩ người Iran, còn được mệnh danh là ông hoàng nhạc nhẹ phương Đông.
            Có một điều rất lạ là mãi đến năm 1993, tức là hơn ba thập niên sau ngày ra đời, bài hát Solenzara mới được đặt lời tiếng Anh, để trở thành bản nhạc In the Death Car. Lạ lùng hơn nữa, đây là một phiên bản hoàn toàn phá cách do ca sĩ nhạc rock Iggy Pop ghi âm với ban nhạc Goran Bregovic.
            Đây là ca khúc chủ đề của bộ phim Arizona Dream của đạo diễn Emir Kusturica từng đoạt giải Gấu Bạc tại liên hoan phim Berlin. Được chuyển đổi theo một nhịp điệu gần giống với reggae, bài hát lại đượm thêm hơi hướng của các bài dân ca du mục. Thành thử ra, thoạt nghe lần đầu, nhiều người nhận thấy là bài ca rất quen thuộc nhưng không nhớ rõ là bài nào.

Khoác thêm lời Việt cho giai điệu đẹp
            Riêng tại châu Á, Solenzara cũng như bài Tombe la neige (Tuyết Rơi) của Adamo nằm trong số những ca khúc Pháp đầu tiên được đặt lời tiếng Nhật, ban đầu không phải là để cho người Nhật hát mà chủ yếu vì các ca sĩ Pháp thời đó đều có cái mốt ghi âm một phiên bản tiếng Nhật từ những ca khúc nổi tiếng của họ, hầu chinh phục dễ dàng hơn thị trường Nhật Bản. Cũng từ xứ hoa anh đào mà nhiều ca khúc tiếng Pháp du nhập Đài Loan, Hồng Kông hay Hàn Quốc.
            Còn tại Việt Nam, bài Solenzara được tác giả Phạm Duy “chuyển ngữ” từ tiếng Pháp thành nhạc phẩm Nắng Xuân. Gọi là chuyển ngữ chứ không phải là chuyển dịch vì thật ra lời tiếng Việt không ăn nhập gì với phiên bản tiếng Pháp và càng xa hơn nữa với nguyên tác viết bằng tiếng Corse. Tình quê hương ban đầu đã nhường chỗ lại cho tình yêu đôi lứa và đổi hẳn luôn nhân vật cũng như bối cảnh câu chuyện.
            Cũng như trường hợp của bài Lạc mất mùa xuân (lời việt của tác giả Lữ Liên đặt theo bài Le Géant de papier), các tác giả Việt Nam mượn một giai điệu đẹp của làng nhạc nước ngoài, để rồi khoác thêm áo mới cho hợp với phong cách và gần gũi với thị hiếu của người nghe nhạc Việt.
            Suy cho cùng, Solenzara qua việc ngợi ca phong cảnh tuyệt đẹp của một địa danh, trong mắt của tác giả lại trở thành biểu tượng của tình hoài hương. Bài ca nói lên tất cả những thổn thức rung động của một chàng trai mới lớn khi phải lìa xa mái ấm gia đình, chia tay mối tình đầu đời, khung trời hạnh phúc tuổi thơ. Nhưng do được viết bởi một tác giả đến tuổi về chiều, Solenzara còn là một giai điệu hoài niệm lưu luyến, tiết tấu nặng lòng kẻ đi xa dù vẫn nhẹ nhàng xao xuyến. Tuổi thơ càng ngập tràn kỷ niệm, tuổi cao càng nhức nhối nỗi niềm.


TUẤN THẢO
Tháng 9/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20110903-nhac-phap-loi-viet-solenzara-nao-co-nang-xuan

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 08/06/2017, 08:45:59
Triển lãm Lão giáo tại Paris trong mắt khách tham quan

“Con đường của Đạo. Một hành trình khác của sự sống”. Đây là nhan đề của cuộc triển lãm lớn đầu tiên về đạo Lão, được mở ra từ cuối tháng ba và kết thúc vào ngày 5 tháng 7 tới, tại các gian trưng bày của Grand Palais (Paris). Bên cạnh các hiện vật đến từ bảo tàng nghệ thuật châu Á Guimet, rất nhiều các hiện vật khác đến từ Đức, Hoa Kỳ, Anh quốc và Đài Loan.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/EXPO%20TAOISME_web__2.jpg)
Lối vào triển lãm Đạo giáo tại Grand Palais – Paris

THEO ÔNG Thomas Grenon, người điều hành Liên hiệp các bảo tàng quốc gia Pháp và ông Jacques Giès, giám đốc bảo tàng Guimet, hai cơ sở đồng tổ chức cuộc triển lãm này, đạo Lão có thể được coi là một truyền thống tôn giáo đặc biệt của Trung Quốc, một triết học và tập hợp các thực hành liên quan đến dưỡng sinh, dựa trên các kỹ thuật ẩm thực, thể dục và hít thở, để tìm kiếm các kết hợp hài hòa và bền vững giữa con người và vũ trụ. Đó là một nghệ thuật tôn vinh sự sống và nghệ thuật tìm kiếm hạnh phúc của con người trên thế gian này và cả cõi bên kia.
            Tuy nhiên, lịch sử của Lão giáo rất phức tạp. Từ trước công nguyên, truyền thống này đã được thực hành như một tôn giáo, với một hệ thống thần linh, chức sắc tôn giáo, được tổ chức theo địa bàn dân cư, với các đền thờ và các tổ chức tín đồ. Nền văn hóa đạo Lão đã thấm vào chiều sâu tư duy và các phương thức sáng tạo nghệ thuật của xã hội Trung Hoa này. Ảnh hưởng của Lão giáo hiện nay vẫn còn rất sống động trong thế giới văn hóa Hán.
            Sự ra đời và phát triển của đạo Khổng, rồi đạo Phật tại Trung Quốc cũng làm lu mờ phần nào ảnh hưởng của tôn giáo này. Trong một thời gian dài của thế kỷ XX, truyền thống này đã bị các chiến dịch chống mê tín dị đoan tại Trung Quốc tấn công, cùng với những gì dính dáng đến chế độ cũ. Vài chục năm gần đây, chúng ta được biết, truyền thống này đang dần dần trở lại. Cuộc triển lãm lần này tại Paris là cơ hội để công chúng Pháp và châu Âu tiếp xúc với một cách trực tiếp và đầy đủ hơn với các biểu hiện khác nhau của đạo Lão.

Tại cuộc triển lãm, một thanh niên trẻ đã cho chúng tôi biết ngắn gọn cảm tưởng của anh:
            “Tôi thấy rất hay… Tôi thấy trong triển lãm này vô cùng nhiều thứ và không dễ gì mà hiểu được trong lần xem đầu tiên. Tôi cho rằng triển lãm này được trình bày tốt, bởi lẽ có nhiều hiện vật được nhóm theo nhiều chủ đề, nhiều đề tài lớn. Nhưng mà, thực tế là có quá nhiều biểu tượng cần nắm bắt, do đó, không dễ dàng gì mà lĩnh hội được. Không, không, hoàn toàn không phải là dở. Triển lãm này làm tôi quá sức ngạc nhiên, tôi rất tò mò muốn tìm hiểu thêm về đạo Lão.”

Còn anh Stéphane, đến từ Normandie, cho biết:
            “Đối với tôi, triển lãm này rất ấn tượng về nhiều mặt, ví dụ về phương diện mối quan hệ giữa Trời và Đất. Có rất nhiều thứ mở ra cho tôi một con đường rất mới mẻ đối với tôi. Đạo là một triết học phức tạp, nhưng mang tính tâm linh, rất bổ ích cho sự cân bằng cho mỗi con người. Đây là điều rất ấn tượng đối với tôi. Tiếp theo đó, ví dụ như khía cạnh ẩm thực, mối liên hệ với các khía cạnh cơ thể, cũng như sự cân bằng tinh thần, điều làm cho con người được trở nên cân bằng. Điều này làm cho tôi rất xúc động.”

Theo giới thiệu của người phụ trách gian triển lãm, chúng tôi được làm quen với một vị khách đã nhiều lần đến thăm cuộc trưng bày này. Ông rất nhiệt tình chia sẻ những cảm nhận và suy nghĩ của ông:
            “Triển lãm này rất thú vị, vì nó giúp cho tôi phát hiện thêm một khía cạnh nữa của nền văn hóa Trung Hoa, chưa hề được trưng bày tại bảo tàng Guimet. Tôi rất yêu bảo tàng Guimet, tôi là khách thăm thường xuyên của bảo tàng này. Ở đó, có nhiều thứ về Khổng giáo, về Phật giáo, nhưng không có gì về Lão giáo. Triển lãm này là dịp đầu tiên. Điều thứ hai là nhờ triển lãm này, chúng ta được xem nhiều hiện vật, mà chúng ta không thể nào nhìn thấy được ở nơi khác. Đặc biệt là những cuộn tranh đẹp tuyệt vời, về các vị thần khác nhau trong điện thần của đạo Lão. Đây là điều thứ hai. Điều thứ ba, tôi muốn nói là, để hiểu được đạo Lão hoàn toàn không dễ dàng gì, đối với một người Pháp, tức là với một người châu Âu. Tôi đã đến xem triển lãm này sáu đến bảy lần rồi, nhưng tôi vẫn không hiểu được thực sự. Ngoài “âm” và “dương”, phần còn lại… thật không dễ dàng gì. Tất cả các thần thánh này, các cấp độ khác nhau của Trời, các đặc tính cơ bản được gắn với các tinh tú, v.v… Thật sự là rất rắc rối. Tôi cho rằng, những người đến xem, sau khi ra khỏi triển lãm này, đều bàng hoàng. Và tôi cũng cho rằng, nếu có hỏi họ, nhận thức thu được chắc chắn sẽ không rõ ràng. Theo tôi, ngay cả đối với người Trung Quốc cũng vậy. Đấy là theo ý kiến của tôi. Bởi vì, đạo Lão, tôi thấy là một cái gì đó thật sự rất rắc rối.”

Hỏi: Có nhiều điều ông không hiểu, nhưng có gì ông thực sự hiểu?
            “Tôi hiểu rằng, đây là một tôn giáo ra đời từ rất xưa. Không chắc là Lão tử đã là một người thật. Đây là một tôn giáo giống như Thần đạo ở Nhật Bản. Tôn giáo này thoát ra khỏi truyền thống, vào lúc Trung Hoa mới nổi lên ở quanh khu vực sông Hoàng Hà, với những ngọn núi trong vùng được coi là những điểm tựa chính. Đây là một tôn giáo rất cổ, dần dần từng tí một các kinh sách được bổ sung thêm vào, và dần dần tôn giáo này trở nên có chiều sâu hơn, với cả một hệ thống vũ trụ quan, với tập hợp những liên tưởng giữa các thần linh và các khu vực của thế giới thiên đình, các vì tinh tú. Nhưng tôi không thể nào ngay lập tức tóm lại những điều tôi đã xem, bởi vì thật sự rất là khó.”

Chị Anne, làm nghề hướng dẫn du lịch tại Paris. Chị dẫn con trai đến đây để tìm hiểu về văn hóa Trung Hoa. Con trai của chị cho biết:
            “Tôi học được các nguyên tắc cơ bản làm nên tôn giáo này. Các vị thần, các nghi lễ. Tôi thích nhất là các vật thờ cúng, rất tinh xảo, rất đẹp. Điều cơ bản là sự thay đổi là liên tục, hay nói một cách khác, thế giới liên tục vận động. Chúng ta thấy mỗi thứ đều phân thành hai, mỗi vật, cũng như mỗi người đều có hai phần, âm và dương, năng lượng tích cực và năng lượng tiêu cực, nam và nữ. Sự hòa trộn những thứ đối lập tạo ra các sắc thái khác nhau, và điều này làm nên nền tảng của sự biến đổi của sự vật và của con người. Đây là một cách nhìn khác với cách nhìn vốn có của tôi, tôi hiểu nhưng… tôi không lấy nó làm của mình.”

Hỏi: Bạn có thể nói rõ vì sao bạn không muốn chấp nhận quan điểm này là của mình không?
            “Đây là một triết học rất thú vị. Thực ra tôi cũng thấy nó có điểm đúng. Nhưng tôi thấy những cái tên mà người ta dùng để gọi hai thái cực này có thể thay đổi tùy theo mỗi nền văn hóa. Chúng ta có thể nhìn như là nước và lửa, như cái thiện và cái ác, như hai cực đối lập, nhưng không bắt buộc nhất thiết phải là âm và dương. Tôi nghĩ rằng, đây có thể là một cách nhìn đặc thù về những điều mà chúng ta có thể coi như là phổ quát. Riêng tôi, tôi thích nhìn nhận sự vật từ một quan điểm khách quan hơn, và thích hợp cho tất cả mọi người hơn.”

Một phụ nữ đứng tuổi, sau khi xem triển lãm, tỏ ra rất hài lòng. Chị chia sẻ các cảm nghĩ chính của chị:
            “Tôi thấy đây là một triển lãm rất đẹp. Trước hết là các đồ vật được trưng bày khá là phong phú và thể hiện được chính xác thế nào là đạo Lão. Theo cảm nhận của tôi, những hoạt động được thể hiện ở đây nói lên một cách sống, về bản chất cuộc sống, thì đúng hơn là một tôn giáo, cho dù sau đó chúng có diễn ra tại các địa điểm tôn giáo. Cái mà tôi yêu thích chủ yếu ở đây là: tất cả những vị thần, những niềm tin, những cách sống khác nhau, được thể hiện qua đạo Lão và Lão tử. Tôi cho rằng biết về những điều này rất quan trọng, vì đây là một truyền thống còn rất ít được biết đến. Chúng ta có thể biết đến đạo Khổng và có thể các truyền thống khác. Nhưng thực sự rất hiếm thấy có triển lãm nào về đạo Lão. Thật thú vị khi được xem triển lãm này tại Grand Palais.”

Hỏi: Theo chị, “đạo” có nghĩa là gì?
            “Đạo, theo tôi, có nghĩa là làm thế nào để sống một cách trong lành, với một cách ăn uống, vận động lành mạnh, với cách hít thở, việc tôn trọng cơ thể. Tôi thấy là trong cuộc sống khó khăn ngày hôm nay, đây là các nguyên tắc rất tốt, có thể được dùng trong bất cứ tôn giáo hay bất cứ truyền thống nào. Bắt đầu xuất hiện từ năm thế kỷ trước công nguyên, nhưng tinh thần của đạo Lão hoàn toàn không lỗi thời so với cuộc sống của chúng ta hiện nay.
            Bản thân tôi không áp dụng trực tiếp những điều trong đạo Lão, nhưng tôi nhận thấy, qua triển lãm này, sự chú ý dành cho cơ thể và tinh thần, hơi thở, sự hô hấp – là những điều cơ bản làm nên hạnh phúc của ta. Những điều này khiến ta nghĩ đến chính bản thân sự tồn tại của mình, đến con đường giải thoát của mình, khiến ta nghĩ đến cơ thể của ta hơn. Điều này lại càng quan trọng hơn khi ta sống ở Paris.”

Một người xem khác là chị Lalonde. Sự chú trọng đặc biệt đến cơ thể và tinh thần trong truyền thống này khiến chị rất thích thú. Chị cho biết đã bước vào thực hành tập luyện khí công từ một năm nay.
            “Tôi nói ngay nhé, tôi thấy triển lãm này rất thành công. Điều dễ chịu là có rất ít người vào giờ xem buổi tối khiến mình có thể thưởng thức các tác phẩm ở đây một cách thư thái. Điều tôi thấy sảng khoái là được nghe âm nhạc châu Á trong khi xem. Tôi rất yêu âm nhạc, tôi cảm nhận được âm điệu châu Á trong triển lãm này. Tôi lấy một cái máy hướng dẫn nghe, nên tôi có thể hiểu thêm được nhiều hơn nữa. Tôi rất thích các cuộn tranh, những bức tranh lớn ở đây trông thật tuyệt vời.
            Tôi không quá chú ý đến riêng một khía cạnh nào của triển lãm. Nhưng điều làm tôi hài lòng là sự ngưng lại của thời gian… cả cái phần ma thuật nữa, khi nghĩ đến các vị thần tiên bất tử. Trước kia, tôi không nghĩ rằng trái đào là tượng trưng cho sự bất tử, con dơi tượng trưng cho niềm hạnh phúc. Tôi cũng rất thích cả các hiện vật bằng gốm, bằng sứ. Nhưng tôi có cảm giác là tôi chỉ nhận ra được một chút cái “đạo” trong những cái đó. Đây thực ra chỉ là món khai vị. Tôi không biết nhiều về “đạo”. Nhưng việc được đi vào trong vũ trụ châu Á khiến tôi rất mê. Ở đây, tôi thấy rất bình yên. Những nhân vật được vẽ rất chi tiết. Có rất nhiều nhân vật đi liền với các biểu trưng. Thật sự là thú vị.”

Hỏi: Đối với chị, “đạo” có nghĩa là gì?
            “Ồ, đây là một câu hỏi rất lớn. Tôi không nghĩ là tôi có thể trả lời được.”

Hỏi: Cái “đạo”, chị hiểu sau khi xem triển lãm này thôi?
            “Tôi nghĩ rằng trong đó, có phần của cơ thể, vì ta thấy các bức tranh thể dục, có phần của tinh thần. “Đạo” liên quan đến tinh thần và cơ thể. “Đạo” cũng liên quan đến những tìm kiếm trong cuộc sống hàng ngày, một thứ triết học của đời sống, ta có thể nói như vậy. Năm ngoái, tôi đã bắt đầu học khí công. Tôi rất thích khí công. Tôi được học cách thở, tập trung năng lượng. Trong triển lãm này có nói đến châm cứu, đến các huyệt trên cơ thể. Có thể nói, “đạo” là một cách nhìn bình lặng hơn, và cũng rất chính xác nữa. Rất chính xác và nghiêm ngặt, về những gì liên quan đến cơ thể và tinh thần. Tôi rất hài lòng đã được xem triển lãm này.”


TRỌNG THÀNH
Tháng 7/2010


http://vi.rfi.fr/phap/20100702-trien-lam-lao-giao-tai-paris-trong-mat-khach-tham-quan

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 13/06/2017, 18:21:30
Về một bài thơ của Phạm Công Thiện

                              Gửi thăm bạn cũ xa xưa
                              Ấy là Công Thiện tự mùa đầu tiên

                                                     ― Bùi Giáng

            Thiện xem mình là triết gia. Tôi nhìn Thiện như một thi sĩ.
            Năm ấy, 1966. Tình cờ đến quán ăn nhỏ Lạc Hồng nằm sau lưng điện Panthéon ở xóm La tinh, quận 5 Paris, gặp lại Trần Hiếu. Hiếu là họa sĩ mà mười năm trước sang Paris tôi có giúp đỡ việc nhập học Trường Hội họa Quốc gia ở Paris. Hiếu đang ngồi ăn với một người trông lạ, mặt đỏ gay, mắt lừ đừ. Hiếu giới thiệu tôi với người lạ. Nghe tên tôi anh đứng phắt dậy vui mừng la lớn: “Trời ơi, ông Nguyễn Thái! hai tuần nay tôi tìm ông muốn chết”. Nguyễn Thái là bút hiệu thời tôi bỉnh bút cho tạp chí Liên Hoa ở Huế thập niên 50. Tôi lấy làm lạ cho cách ăn mặt xi-vin của anh ta, vì trước đó nghe anh đi tu lấy pháp danh Thích Nguyên Tánh.


(http://www.bienkhoi.com/so-50/index_clip_image003.jpg)
Thi Vũ và Phạm Công Thiện (bên phải) tại tòa soạn Quê Mẹ / Paris thập niên 80

            Đó là Phạm Công Thiện. Chúng tôi biết nhau từ đây. Anh bỏ học ở Hoa Kỳ sang Pháp tìm người anh du học từ lâu trước. Nhưng chuyện gia đình sao đó Thiện bỏ thành phố Rennes về sống lang thang nơi vỉa hè Paris, ngày ngày làm đuôi theo đám clochard xin những bữa ăn xã hội. Gặp Trần Hiếu đem về nuôi được mấy hôm. Sau lần gặp ở quán cơm Thiện về ở với tôi. Thời ấy tôi chuẩn bị luận án ở Sorbonne đồng thời làm thư ký cho giáo sư Filliozart ở Collège de France như kế sinh nhai. Chúng tôi chỉ gặp nhau về đêm, đêm nào cũng kéo nhau ra quán cà phê nơi công trường Contrescarpe ồn ào những mộng mị văn chương cho đến ba, bốn giờ sáng. Hoặc cháy túi, hoặc quán đóng cửa mới về, mà tửu lượng Thiện không cao nhưng vô bờ.
            Suốt ngày Thiện nằm dài đợi tôi đi làm về kéo nhau ra quán. Thấy vậy tôi bày kế cho Thiện viết khi đề nghị phát hành một tạp chí văn học. Thiện hứng khởi đề nghị lấy tên một tập thơ của tôi làm tên tạp chí: Hoa Nắng. Dự tính hai đứa tôi viết bài, kêu thêm bài trong nước rồi nhờ Thanh Tuệ coi sóc in và phát hành bên nhà. Chúng tôi viết quảng cáo gửi về Bách Khoa nhờ đăng giúp, anh Lê Ngộ Châu giúp đi mấy kỳ không tính tiền. Hàng trăm thư từ trong nước gửi sang hoan nghênh với nhiều sáng tác xin đăng. Tôi mong mỏi tập họp mọi cây bút đưa văn học chồm tới giữa thời khói lửa bạo tàn. Thiện chống lại, bảo: “Ông ở nước ngoài lâu không biết bọn làm văn trong nước bè phái, tị hiềm, dìm đè dân viết mới”, nên khăng khăng chủ trương tạp chí sẽ không đăng bất cứ tên tuổi nào đã thành danh. Thời gian này có Nguyễn Đức Sơn trong nước gửi thơ sang tặng, mang cùng tư tưởng chống hết “bọn caïd văn nghệ”.


(http://www.vanchuongviet.org/data/images/201303/hinhanh/08184912_pham%20cong%20thien%203.jpg)
Thanh Tuệ – Bửu Ý – Vĩnh Ấn, Paris 1989

            Kể từ đó, Thiện bật tỉnh người, không nằm co hằng ngày như trước. Ngày ngày chờ tôi về để ra cà phê, hai đứa thi nhau viết. Đêm đêm ở quán Contrescarpe, cuối tuần kéo nhau ra quán Dôme ở Montparnasse. Chúng tôi chia nhau viết theo hai con đường TínhTình, qua mọi thể tài. Thiện đi con đường Tính, tôi theo con đường Tình. Một tháng, chúng tôi xong Hoa Nắng số một, dày vài trăm trang.
            Bài sáng tác đầu tiên của Thiện là bài thơ “Quế Hương”, sau đó Thiện viết tiểu luận “Đặt lại căn bản học vấn của Nguyễn Văn Trung – Phê bình luận án Tiến sĩ của Nguyễn Văn Trung hay là tìm hiểu một thủ đoạn phá hoại Phật giáo”.
            Bài vở chuẩn bị gửi về Saigon cho Thanh Tuệ in, thì đột nhiên Thượng tọa Thích Minh Châu đến thăm. Hôm ấy đang ngồi tán gẫu với Thiện ở căn nhà tôi cư ngụ số 8 rue Guy de la Brosse xóm La tinh, nghe tiếng gõ cửa gấp. Mở ra thấy Thượng tọa Thích Minh Châu đi cùng giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch. Thượng tọa vừa nói vừa thở hắt sau hai tầng gác: “Tôi biết Nhất Hạnh đang ở với anh, nhưng tôi cứ đến vì cần bàn chuyện khẩn”. Hai vị sư này có chuyện không vui với nhau từ Saigon. Tôi đáp cho Thượng tọa yên lòng: “Nhất Hạnh đi Úc rồi, mời Thầy vô chơi”. An tọa xong, Thượng tọa Minh Châu, vị Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh vừa thành lập tại Saigon, nói: “Tôi sang dự hội nghị UNESCO, nhưng cố ý gặp anh mời anh về giúp Đại học Vạn Hạnh. Đại học mới mở trăm công nghìn việc khó khăn, nhiêu khê, phá phách, mình thiếu người quá, anh ráng về giúp cho một tay…” Tôi nhận lời. Thiện ngồi cạnh mặt đỏ gay vì rượu, tóc mọc dài hippie, có lẽ vì vậy Thượng tọa không để ý. Nhận lời xong, tôi tiếp: “Xin Thầy mời luôn Thiện về cho vui”. Thượng tọa Minh Châu mặt đỏ rầng ấp úng: “Ủa, chú… chú…?!” Tôi đỡ lời: “Dạ, chú Nguyên Tánh đó!” Thầy Minh Châu với nụ cười hiền giải thoát hai mươi năm trước, thời tôi còn gọi chú Minh Châu ở Tổng trị sự đầu đường Thượng Tứ, Huế, gật đầu: “Ừ thì chú Nguyên Tánh về luôn hí”.
            Cả hai chúng tôi chuẩn bị lên đường vào tuần sau. Thế nhưng lên Sứ quán xin chiếu khán nhập nội, tòa chỉ cấp cho Thiện, còn tôi họ bảo do những lời tuyên bố trên Truyền hình Pháp nên tòa không dám ký, xin Thượng tọa thương lượng với Bộ Nội vụ bên nhà. Số là tôi từng nói lên quan điểm Phật giáo về một nền hòa bình không chiến tranh trên báo chí, truyền hình, đài phát thanh Pháp lúc bấy giờ nên đụng chạm các quan.
            Về đến Saigon Thượng tọa can thiệp với Bộ Nội vụ cho tôi về, nhưng tôi bỏ ý định hồi hương. Thế là Thiện ra đi một mình trên chuyến bay ngày ấy, sau này anh làm khoa trưởng một phân khoa Đại học Vạn Hạnh. Thiện mang bản thảo Hoa Nắng số một về in. Chẳng biết khó khăn gì Thiện không cho Hoa Nắng ra đời như dự tính, mà chỉ rút những bài Thiện viết in thành hai tập sách “Im Lặng của Hố Thẳm” và “Bay đi những cơn mưa phùn”.


(http://www.bienkhoi.com/so-50/index_clip_image010.jpg)
Thủ bút Phạm Công Thiện đề tặng Thi Vũ (tức Nguyễn Thái) và Vĩnh Ấn
tập truyện “Những Ngày Những Đêm” chưa bao giờ xuất bản

            Nói về bài thơ đầu tiên làm sống lại cuộc đời sáng tác của Thiện khi đến Pháp sau một thời gian dài khủng hoảng. Bài “Quế Hương” mà trôi nhắc bên trên, có chi tiết nhỏ cũng nên ghi. Khi đến Pháp, Thiện đã hoàn tục. Vì vậy hai câu thơ thứ tám và chín Thiện viết trên gác trọ nhà tôi ở Guy de la Brosse:

                        Em còn ca hát
                        Anh không còn làm tu sĩ


            Báo hiệu cho câu thơ thứ 15 sau đó: Tóc anh mọc dài để che chở em những lúc mưa rơi.
            Nhưng từ gặp Thượng tọa Minh Châu mời về Saigon cùng tôi, thì ngày hôm sau, Thiện nhờ tôi cạo đầu và tìm bộ y vàng Nam tông cho Thiện mặc. Người thay đổi hẳn, nghiêm trọng, ít nói năng, chỉ trầm tư mặt tưởng đăm chiêu không dứt. Khác hẳn những ngày trước đó ăn nói ồn ào, nhậu nhẹt, chửi thề vung mạng. Chuyện đầu tiên là Thiện sửa lại hai câu trên thành:

                        Em còn ca hát
                        Anh không còn làm thi sĩ


            Một hôm sau Thiện bảo tôi bỏ bài Quế Hương khi in. Lúc ấy tôi đang chuẩn bị in cho Thiện tập “Ngày Sinh Của Rắn”. Tôi cự lại: “Ông đi tu cứ đi tu, chuyện văn học để tôi. Bài này là một trong những bài hay của ông, không bỏ được”. Rồi tôi cứ cho in bài thơ ấy vào tập “Ngày Sinh Của Rắn” ấn hành tại Paris năm 1966. Sau này tập thơ được in lại nhiều lần và dường như Thiện có sửa đổi qua nhiều bài, nhiều câu hay ý.

(http://www.bienkhoi.com/so-50/index_clip_image006.jpg)
Bìa tập thơ Ngày Sinh Của Rắn của Phạm Công Thiện do Thi Vũ trình bày
và Nhà xuất bản Hoa Nắng, in lần thứ nhất ở Paris, 1966

            Hôm qua từ Jakarta bên Nam Dương trở về Paris, mở Internet thấy tin Phạm Phong Sương, vợ hiện nay của Thiện, khấp báo Thiện qua đời tại một thị trấn gần thành phố Houston, bang Texas, lúc 6 giờ 30 chiều thứ ba 8.3.2011, thọ 71 tuổi. Thiện sinh ngày 1.6.1941, âm lịch tuổi Tỵ. Nhân có ghi số điện thoại, tôi gọi chia buồn vợ Thiện, thì lại gặp Loan người vợ trước đó. Loan cho biết sang thăm Thiện bốn ngày qua nên chứng kiến phút ra đi khá nhẹ nhàng của Thiện, chẳng đau yếu gì ngoài sự mệt nhọc lúc tuổi già. Loan kể năm năm qua anh Thiện em xa lánh cộng đồng, sống ẩn mật trong vùng u tịch tựa như Dalat. Chỉ đọc sách, không viết chi nhiều. Chiều thứ ba hôm ấy, Thiện ngồi nghe bài Mùa Thu Chết do Julie Quang hát và khen hay. Sau thấy mệt đi nằm, một lát nghe Thiện trăn trở trên giường, Sương và Loan chạy ra lấy khăn thấm mồ hôi trên trán. Chốc sau Thiện im lặng ra đi theo hoàng hôn. Loan và Sương cho biết Thiện dặn chỉ làm đám giới hạn trong gia đình rồi hỏa thiêu. Tro cốt đưa về để ở chùa Viên Thông, một ngôi chùa đạm bạc ở Longbeach bên California.

(http://www.bienkhoi.com/so-50/index_clip_image008.jpg)
Thủ bút hai câu thơ Bùi Giáng viết cho Phạm Công Thiện gửi qua Thi Vũ

            Trả lời phỏng vấn trên Gió O về “những đóng góp nổi bật nào của văn hóa Phật Giáo vào trong văn hóa Việt Nam từ trước đến nay?” ở thời cận đại suy nghĩ của tôi là:

            “Ảnh hưởng cận đại thì căn bản là tâm tư người Phật tử Việt Nam biến thành thái độ chính trị để rộ nở ra văn học nghệ thuật. Đỉnh mốc của ảnh hưởng Phật giáo trong lòng dân tộc rõ nét nhất từ 1963 trở đi. Một sinh-thức-mới phi nhị tướng cũng gọi là bất nhị (non-duality) ra đời đối diện nhằm hóa giải tư tưởng khủng hoảng của Tây phương mà chiến tranh lạnh làm đầu mối cho sự sụp đổ toàn triệt của phương Tây mà chúng ta sẽ chứng kiến vào cuối thế kỷ XXI”.

            Trong lớp người làm văn học mới ở thời đại hậu Tây và hậu Đông Âu, Phạm Công Thiện có đóng góp lớn.

(http://www.bienkhoi.com/so-50/index_clip_image004.jpg)
Thủ bút đầu tay bài Quế Hương qua 2 lần sửa ở câu 9 (bên phải) lần đầu và câu 7 lần hai (bên trái)

            Trở lại bài thơ “Quế Hương” nói trên, xin in lại làm kỷ niệm bản đầu tay của Thiện mà sau này Thiện sửa đi chữa lại nhiều lần dù tứ thơ không đổi, kể cả bản chữa lần đầu chọn in trong “Ngày Sinh Của Rắn” gồm 12 bài do Nhà xuất bản Hoa Nắng – 8 rue Guy de la Brosse – Paris 5, ấn hành lần thứ nhất vào Mùa Thu năm Bính Ngọ, 1966:


                        QUẾ HƯƠNG

            Trời mưa Nữu Ước cây mọc
            Nhớ em trời mưa ngày tháng
            Nhớ em đường hoang mái vắng
            Nữu ước chỉ còn em trong giấc ngủ
            Trên bến điện nghiến nát
            Tim anh tràn máu
            Con chim đã bay về rừng đạn
            Em còn ca hát
            Anh không còn làm thi sĩ
            Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
            Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em
            Quê hương anh làm hỏa ngục yêu quí
            Thiên đàng làm lá đổ trên những đường mòn
            Trên bước chân em trong giấc ngủ
            Trên đôi mắt cà phê đen của Greenwich Village
            Tóc anh mọc dài để che chở em những lúc mưa rơi
            Những lúc đông lạnh
            Những lúc lá rụng
            Những lúc chim chiều đi mất
            Những lúc anh chỉ còn em
            Quế hương là em trên hồ quế mọc
            Trên hồ thơm cây quế
            Cây Quế Hương
            Mười năm rồi
            Cây Quế Hương vẫn nở hoa trên tim anh
            Trên hơi thở anh
            Trên những bước chân buồn phố mẹ ngày xưa
            Trên những bước chân chiều phố lạ hôm nay

            Mưa làm tóc anh thơm
            Thơm mùi cây quế
            Nở hoa chiều ba mươi Tết
            Khi em còn nhỏ
            Khi anh còn trẻ
            Cây quế mọc
            Như mặt trời mọc
            Mặt trăng mọc
            Mặt em mọc
            Và nở hoa
            Trên đôi mắt anh khi còn trẻ
            Khi anh còn ca hát
            Bây giờ em còn ca hát
            Hay em đã quên
            Như anh đã quên
            Cây quế
            Cây quế hương
            Mọc mười năm trước
            Và vẫn mọc hôm nay
            Giữa quán cà phê Ý Đại Lợi
            Tại phố Greenwich Village
            Giữa lúc đêm mưa
            Khi anh còn nhớ
            Khi anh không còn khóc được
            Nhưng anh vẫn còn máu để đổ vào những đêm khuya
            Để đổ vào tám tách cà phê đen
            Mà anh thường uống mỗi đêm
            Tại Greenwich Village
            Tại làng thi sĩ
            Tại đường khói bay
            Tại em trong giấc ngủ
            Tại chiều ba mươi ở Việt Nam
            Bây giờ anh ở xa Việt Nam
            Đến mấy đại dương xanh
            Anh xa Quế hương đến mấy phương trời cỏ mọc
            Mấy phương trời quế mọc
            Mấy phương trời em khóc
            Em ơi
            Em còn nói
            Em còn phơi áo
            Em còn đứng giữa phố buồn
            Em còn cười
            Cây Quế Hương vẫn mọc
            Trên đầu anh
            Trên mắt anh trong giấc ngủ
            Trên môi anh
            Trên mười ngón tay
            Trên hai bước chân anh
            Giữa đêm khuya ở Greenwich Village
            Giữa lúc mưa
            Giữa lúc anh buồn
            Và hỏi
            Anh đã làm gì cho chim
            Anh đã làm gì cho lá
            Anh đã làm gì cho cỏ
            Anh đã làm gì cho những con đường
            Anh đã làm gì cho những cánh đồng
            Anh đã làm gì cho cây quế
            Cây quế hương giữa chiều ba mươi Tết
            Anh đã làm gì cho đời anh
            Trả lời đi
            Chim rừng
            Lá rừng
            Đường rừng
            Cây Quế rừng
            Mọc giữa hồ
            Giữa Hồ Quế Hương
            Anh vẫn ngồi đây
            Anh vẫn còn thở
            Vẫn uống cà phê
            Vẫn nghe nhạc buồn
            Vẫn trời mưa
            Mưa trên phố đêm
            Mưa trên quán cà phê Ý Đại Lợi
            Mưa trên cây quế giữa hồ
            Mưa trên chiến tranh
            Của quê hương
            Của Quế Hương
            Của anh
            Còn em.

                        PHẠM CÔNG THIỆN


Paris, 11.3.2011
THI VŨ


http://www.bienkhoi.com/so-50/ve-mot-bai-tho-cua-PCT.htm

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 15/06/2017, 14:51:55
Trầm Tử Thiêng – Một đời “Tưởng Niệm”

Có một người nhạc sĩ mà gia tài âm nhạc ông để lại rất đa dạng và phong phú. Những sáng tác của ông là một mảng ghép giữa cuộc đời, tình yêu, và thân phận. Chúng ta sẽ thấy một “Kinh khổ” hoàn toàn không có tương quan với “Mười năm yêu em”. Hay một “Mộng sầu” sẽ hoàn toàn khác hẳn với “Một đời áo mẹ áo em”. Đó là cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, tác giả của những ca khúc bất hủ về tình yêu và chiến tranh. Cuối đời mình, ông đã cùng với nhạc sĩ Trúc Hồ viết lên những bản hợp ca oai hùng nói về tình yêu quê hương, nhân loại.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/singer-compos-ttthieng-11082015073733.html/Tram-tu-Thieng.jpg/@@images/597bd49d-b548-42fe-aea6-4b31279cf860.jpeg)
Trầm Tử Thiêng (1937-2000) là một nhạc sĩ của dòng nhạc vàng
 và tình ca giai đoạn 1954-1975 tại miền Nam Việt Nam

TRONG CHƯƠNG TRÌNH, mời quí vị cùng nghe những lời chia sẻ của nhà thơ Du Tử Lê, người có một tình thâm với cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng từ khi còn ở Sài Gòn cho đến ngày ông mất ở quê người.

Ca sĩ Khánh Ly: Hôm nay, anh trình bày cùng với Khánh Ly bài “Mây hạ”. Xin anh cho biết bài hát này anh viết từ năm nào?
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng: Bài hát này anh viết năm 1967, lúc đó anh vào quân đội được một năm rồi… Khi một ca khúc, khi một tình khúc được ra đời thì nó mang nhiều ý nghĩa, và trong đó cũng có phảng phất một tình yêu của mình.

            Em đi chiều nay, đường nắng duỗi thân dài.
            Chân chưa vội lay, lại đau từng bước mọn.
            Em ca bài ca, chiều nay buồn hơn khóc.
            Nghe từng ngày mai thẫn thờ, một mình đây.

            Trời chiều nay, mây buông thành khói.
            Bóng anh sẽ mờ, còn đâu em nhớ.
            Ngày dìm em khuất trong màn sương.
            Mờ ảnh cuối đường… Vàng võ niềm thương…

            Em lên tàu đây, sầu kín suốt toa dài.
            Tay ôm niềm đau. Còn tay nào dấu mặt.
            Khóc cũng đành thôi, thời gian làm sao nắm.
            Thương từng hoàng hôn, mây về chở sầu theo.

            Em mãi còn đi, sầu giăng dầy đêm tối.
            Thương từ ngoài hiên, dấu hài chìm vào mưa.

            (Mây Hạ – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Tiếng nói, tiếng hát trầm, ấm, chân tình như chính bút hiệu của ông, Trầm Tử Thiêng. Một bút hiệu mà khi gọi lên, gợi cho người nghe những suy tưởng về một cuộc đời cô độc và có chút gì… ai oán.
            Thế nhưng, không. Người bạn vong niên từ thuở còn ở Sài Gòn của Trầm Tử Thiêng cho đến suốt những năm sống ở quê người là nhà thơ Du Tử Lê nói rằng, bạn của ông là một người có cuộc sống khép kín chứ không cô độc, không lẻ loi.

Nhà thơ Du Tử Lê: Ông ấy ít tâm sự với bằng hữu về đời sống tình cảm, chỉ một vài người biết thôi. Ông ấy là người đối xử với bằng hữu rất tử tế, như bát nước đầy. Đó là một người đối với bằng hữu hay lắm, nhưng lại là một người rất kín đáo về đời sống riêng.

            Trầm Tử Thiêng để lại cho đời khoảng 200 ca khúc về tình yêu, thân phận, quê hương và chiến tranh. Hành trình sáng tác cũng như tác phẩm của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng gắn liền với thời cuộc của đất nước và của chính cuộc đời ông. Từng giai đoạn, từng biến cố của đất nước đều ảnh hưởng rất lớn đến ca khúc của họ Trầm. Cuộc đời sáng tác của Trầm Tử Thiêng có thể nhìn ở ba giai đoạn quan trọng, trước ngày 30 Tháng Tư năm 75, sau năm 1975 và thời gian ông lưu lạc ở quê người. Cả ba giai đoạn đều là một Trầm Tử Thiêng đau nỗi đau quê hương và một Trầm Tử Thiêng tôn thờ tình yêu thủy chung.
            Trong một lần trả lời cố nhà báo Trường Kỳ, cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng có nói rằng: “Mỗi giai đoạn trong tác phẩm của ông đều có sự hiện diện của tình yêu, hoặc thân phận của con người qua mọi biến chuyển của cuộc sống. Dĩ nhiên, nó xen lẫn nỗi đau thương và niềm hạnh phúc.” (trích Tuyển tập Nghệ sĩ 3 xuất bản năm 1998).


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/singer-compos-ttthieng-11082015073733.html/Tram-tu-Thieng-350.jpg/image)
Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng (1937-2000)

Trầm Tử Thiêng, người đau nỗi đau quê hương
            Cuối thập niên 1950, rất khó, hay nói đúng hơn là không có một nhạc sĩ nào dùng tên riêng của một người con gái để gửi vào nhạc phẩm của mình. “Hương ca vô tận” đã đánh dấu một cái nhìn mới, rất phóng khoáng của chàng thanh niên trẻ Trầm Tử Thiêng.

Nhà thơ Du Tử Lê: Thứ nhất là những sáng tác ông ấy viết khi còn ở Việt Nam, tức là tính đến Tháng Tư năm 1975. Trong thời gian này, ông ta có hai loại nhạc. Loại nhạc thứ nhất là nhạc tình cảm. Một bài nổi tiếng của ông ấy mà tôi tin nhiều người biết đó là “Hương ca vô tận”.
            Thời đó, tính đến cuối năm 1975, thì các nhạc sĩ không muốn đem tên người vào trong nhan đề, cũng như ca khúc, vì họ cho như vậy là cá nhân quá, tư riêng quá. Khi mà bà Thái Thanh chọn hát thì mình cũng hiểu là nó có một giá trị nghệ thuật nào đó, và bà đã rất thành công với bài “Hương ca vô tận”.

            Hát nữa đi Hương hát điệu nhạc buồn, điệu nhạc quê hương
            Hát nữa đi Hương hát lại bài ca tiễn anh lên đường
            Ngày đao binh chưa biết còn bao lâu
            Cuộc phân ly may lắm thì qua mau
            Hát nữa đi Hương hát để đợi chờ

            Hát chuyện vai em, tóc xõa bồng mềm, dịu ngọt môi em
            Hát mãi nghe Hương cho hồng làn da kẻo đời chóng già
            Ngày xa xưa em vẫn nằm trong nôi
            Mẹ ru em câu hát dài buông lơi
            Hát để yêu cha, ấm lại ngày dài

            Hát nữa đi Hương câu nhạc thành nguồn, gợi chuyện đau thương
            Hát kể quê hương núi rừng đầy hoa bỗng thành chiến trường
            Ðồng tan hoang nên lúa ngại đâm bông
            Thuyền ham đi nên nước còn trông mong
            Khiến cả đêm thâu, tiếng em rầu rầu

            Hương ơi! sao tiếng hát em
            Nghe vẫn dạt dào nghe vẫn ngọt ngào
            Dù em ca những lời yêu đương
            Hay chuyện tình, gẫy gánh giữa đường
            Dù em ca, nỗi buồn quê hương
            Hay mưa giăng thác đổ đêm trường

            Hát nữa đi Hương hát đi Hương, hát mãi đi Hương

            (Hương ca vô tận – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Năm 1968, Trầm Tử Thiêng kể lại câu chuyện cây cầu Trường Tiền bị gật sập trên sông Hương như thể ông đang chia sẽ nỗi đau với người dân xứ Huế, một nơi rất gần với Quảng Nam, miền đất quê ông. Đây cũng là ca khúc đầu tiên của Trầm Tử Thiêng đánh dấu việc ông chính thức dùng âm nhạc để phản ảnh biến cố lịch sử.

            Một ngày vào thuở xa xưa trên đất thần kinh người bỏ công lao xây chiếc cầu xinh
            Cầu đưa lối cho dân nối liền cuộc đời
            Khắp cố đô dân lành an vui ca thành điệu Nam Bình
            Niềm vui bao lâu ước mơ giờ trên xứ thơ cầu nối liền bờ
            Thỏa lòng người dân hằng chờ có ngày hẹn hò tình đẹp như mơ

            Ngày ngày cầu đã đưa em qua nhóm chợ khuya cầu đã đưa anh qua xới ruộng nâu
            Giờ êm ái quen nghe tiếng hò Ngự Bình
            Nước dưới cầu nước vẫn trong xanh như lòng người dân lành
            Cầu đưa ta đi sớm trưa tìm trong nắng mưa niềm vui ngày mùa
            Hết lòng gìn giữ nhịp cầu nối liền tình người đẹp đời mai sau

            Từng đoàn người dệt tương lai đi nắng về sương dập dìu trong tay chan chứa tình thương
            Cầu êm bóng xa xa nón che rợp đường
            Áo trắng về trắng cầu quê hương mỗi lần chiều tan trường
            Cầu quen đưa bao chuyến xe nhiều khi vẫn nghe buồn vui tràn trề
            Âm thầm người đi, người về trót ghi lời thề ngoài miền sơn khê

            Ngày nào cầu đã đưa anh qua phố tìm em cầu đã đưa ta sang chỗ hẹn nhau
            Cầu tha thiết khuyên anh giữ trọn tình đầu
            Nước dưới cầu vẫn trong veo như cuộc tình duyên nghèo
            Tình yêu ta như nước trong dù qua mấy sông lòng vẫn một lòng
            Thương người nhìn qua đầu cầu hứa hẹn ngọt ngào tình bền duyên lâu

            Tình người về giữa đêm xuân chưa dứt cuộc vui giặc đã qua đây gây cảnh nổi trôi
            Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
            Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài
            Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu
            Mối thù chờ sang ngày nào nối lại nhịp cầu rửa hờn cho nhau

            (Chuyện một chiếc cầu đã gãy – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Nhà thơ Du Tử Lê: Nói về đặc thù của nhạc Trầm Tử Thiêng tôi nghĩ chúng ta nên đề cập đến bài “Kinh Khổ”, là bài ông ấy rất tự hào, chỉ xây dựng trên ba nốt nhạc mà thôi. Tôi cho rằng trong vòng tân nhạc Việt Nam chưa có người nhạc sĩ nào sáng tác một ca khúc mà chỉ với ba nốt nhạc mà thôi.

            Mẹ ngồi nguyện cầu hằng bao đêm
            Lời kinh vọng xa thật êm đềm
            Mẹ cầu cho con. Vượt qua ngày tròn
            Mẹ cầu cho em với tuổi xanh còn nguyên đừng biến mất
            Người về một ngày một lưa thưa
            Người đi càng đêm càng đông dần
            Từng dài âu lo. Từng quen đợi chờ
            Mộng thật cam go miễn là mai niềm đau thành nụ cười

            Xin cho me. Tròn lời kinh đêm nay
            Người sẽ về. Trước khi trời muốn tối
            Xin cho me. Một giờ im kinh động
            Người sẽ về. Dù rách rưới tả tơi
            Người về một ngày một đông thêm
            Người đi càng đêm càng thưa dần
            Một thời điêu linh. Một phen hoạn nạn
            Còn lại hôm nay với vòng tay tình yêu người và người

            Lời nguyện cầu này dành cho nhau
            Từ khi loạn ly vào đêm đầu
            Tình người tiêu hao. Niềm tin bội bạc
            Gà giục sang canh mãi ngoài hiên đầu tơ tròn tiếng gáy
            Lạnh lùng một ngày một qua mau
            Lời kinh mù sương mờ trên đầu
            Mộng chờ sau đêm. Ngày mai thật lạ
            Thù hằn anh em bỗng nhìn nhau gọi nhau thật đậm đà

            Xin cho me. Trọn niềm tin đêm nay
            Người sẽ về. Trước khi mẹ khuất núi
            Xin cho me. Ngoài trời im kinh động
            Người sẽ về. Dù rách rưới tả tơi
            Người về một giờ một đông thêm
            Người đi càng giây càng không còn
            Rồi ngày sinh ly. Rồi đêm từ biệt
            Còn lại hôm nay những lời kinh tình yêu đầy nhiệm mầu

            (Kinh Khổ – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Từng đoàn người lũ lượt kéo nhau đi, rồi lũ lượt kéo nhau trở về trong tiếng cầu kinh. Đi đâu? Ai đi? Ai trở về? Trầm Tử Thiêng không hề nhắc đến. Chỉ thấy rằng trùm phủ trong ba nốt nhạc ấy là thân phận của dân tộc Việt Nam, qua hình ảnh của người Mẹ đêm đêm vọng cầu lời kinh khổ.
            Ba nốt nhạc vang lên đều đặn như tiếng gõ mõ cầu kinh, hiền lành nơi cửa từ bi nhưng tiếng vọng thì ai oán xé nát màn đêm.
            Trầm Tử Thiêng yêu quê hương như chính thân phận mình. Ông ngồi đấy, nghiêng tai, soi lại đời mình, cũng chính là lúc ông nhìn lại hoàn cảnh thân phận của người Việt Nam, tuổi trẻ Việt Nam, gặm nhấm những kỷ niệm dù là không đầm ấm.

            Ta nghiêng tai nghe lại cuộc đời, thì hãi hùng hoàng hôn chợt tới
            Ta nghiêng vai soi lại tình người, thì bóng chiều chìm xuống đôi môi
            Đang mân mê cho đời nở hoa, chợt bàng hoàng đến kỳ trăn trối
            Đang nâng niu cuộc tình lộng lẫy, bỗng ngỡ ngàng hụt mất trong tay

            Ta khổ đau một đời, để chết trong tình cờ
            Ta tìm nhau một thời, để mất nhau vài giờ
            Bàn tay làm sao níu, một đời vừa đi qua
            Bàn tay làm sao giữ, một thời yêu thiết tha

            Mang ơn em trao tình một lần, là kỷ niệm dù không đầm ấm
            Mang ơn em đau khổ thật đầy, là nắng vàng dù nhốt trong mây
            Mang ơn trên cho cuộc đời ta, vài vạn ngày gió cuồng mưa lũ
            Trong cơn đau một vùng nhang khói, kéo ta về, về cõi hư vô

            (Tưởng niệm – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Trầm Tử Thiêng, người tình thủy chung
            Kỷ niệm là những gì đã trôi qua tầm tay, thuộc về một sân ga có tên là quá khứ. Mỗi một ngày là sân ga ấy lại xa hơn so với con đường phía trước. Thế nhưng, như định luật không thành văn, mỗi khi tình cờ nhìn lại một kỷ vật, hay đôi khi chỉ cần nghe một tiếng cười, đi qua một mùi hương thoảng quen nào đó, thì tất cả ký ức như ngọn lửa cuồn cuộn tràn về. Có ai đã từng một lần nhìn vào tấm ảnh úa vàng có in dấu những mảng vụn vỡ của Sài Gòn ngày cũ, rồi thẫn thờ nhớ về tháng ngày đã qua, thấy mình như đứa trẻ mồ côi lạc loài? Trầm Tử Thiêng đã từng như thế.

Nhà thơ Du Tử Lê: Khi ông ấy nhớ lại một cuộc tình, hơi bi thảm, và tôi cho rằng vì cuộc tình ấy mà gần như cả cuộc đời ông ấy không có gia đình. Cái bài tiêu biểu cho cuộc tình bi thảm và thủy chung của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng, đó là “Đêm nhớ về Sài Gòn”.

            Với đất nước, ông chọn cho mình là một người viết sử bằng âm nhạc. Với tình yêu, ông chọn làm người tình thủy chung, dù là mười năm, hay mười lăm năm, hay nhiều hơn nữa.

            Mười năm yêu em em thấm đời mộng mị
            Mười năm yêu em ta thấu tình cuồng si
            Mười năm yêu em ta hóa thành chiếc lá
            Trôi theo từng cơn lũ của kiếp sống

            Tình chưa yên vui bên sóng đời cuồng nộ
            Chợt đêm chia phôi ngăn cách một đại dương
            Từng đêm gian nan ta ngỡ mình sắp đuối
            Nhưng em tình vẫn hát từ bến trời

            Ôi ta nhớ những đêm nằm mộng biển
            Hồn ta bay trên đôi cánh reo mừng
            Giữa cằn cỗi chợt nghe tình xao xuyến
            Ngỡ môi em thầm đợi những mùa Xuân

            Dường như trong ta em có điều tuyệt vọng
            Dường như trong em ta vẫn tình hoài mong
            Mười năm yêu em cũng sẽ là mãi mãi
            Xin em cùng ta hát để nhớ hoài

            (Mười năm yêu em – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

Nhà thơ Du Tử Lê: Linh hồn của hai bản nhạc ấy là một người thôi. Ông ấy viết “Mười năm yêu em” là vì khi ông ấy qua đây là mười năm, cũng là thời điểm ông ấy viết “Đêm nhớ về Sài Gòn”. Như tôi hiểu, như tôi biết, sở dĩ ông ấy trân trọng như vậy là bởi vì người phụ nữ đó cho đến ngày ông ấy mất thì vẫn không có lập gia đình. Vì vậy ông ấy rất trân trọng mối tình ấy.

            Cho đến những ngày cuối đời, có thể gọi là giai đoạn thứ ba trong cuộc đời sáng tác của Trầm Tử Thiêng, là giai đoạn ông cùng với nhạc sĩ Trúc Hồ ghi dấu ấn với những bản hợp ca hùng tráng như “Bước chân Việt Nam”, “Bên em đang có ta”…
            Trái tim của Trầm Tử Thiêng suốt một đời đập cùng nhịp đập của đất nước. Hơi thở của ông đầy, vơi theo con nước thủy triều trong dòng sông vận mệnh của nước Việt. Bao nhiêu năm sống lưu lạc xứ người, cho đến cuối đời mình, ông vẫn đau đáu nghĩ về “Một đời áo mẹ áo em”

            Từng mùa ấm lạnh nhớ áo em bao thời rách lành
            Nhìn màu tươi đậm sẽ biết em đang buồn hay vui
            Một thời non dại chung quanh em màu trắng thơ ngây
            Để chiều hôm nào anh say sưa nhìn áo em bay
            Nhưng em có biết, chiếc áo em đổi thay qua từng thời
            Chiếc áo em vui buồn vẫn đầy vơi…

            Dù người sang trọng, dẫu em tôi sống đời quê mùa
            Dù gì dẫu gì, miễn sao em thơm lành tấm áo
            Từng mùa hy vọng, sau mưa đông trời nắng cho xuân
            Dập dìu áo màu đêm reo vui giày guốc tưng bừng
            Ai xinh xắn quá, áo tứ thân ngồi ca Quan Họ
            Áo thắt lưng lụa đào, áo đời xưa…

            Hẹn tình chung tình, thế gian ca áo nàng Tô Thị
            Chờ người không về, áo ôm con hóa thành tượng đá
            Hận thù Tô Định đem quân sang dày xéo quê ta
            Lời nguyền vang vọng, gươm anh thư một trời sáng lóa
            Áo phất trên lưng voi, tiếng thét đêm Mê Linh
            Đã nêu uy danh Trưng Vương qua nghìn đời
            Rồi hồn thiêng sông núi im trôi trên giòng Hát Giang
            Mộng chìm sâu trong tối, nước non thêm những lầm than!

            Mượt mà áo dài, nét cao sang em là hoa hậu
            Tỏ mờ ánh đèn, áo lung linh hỡi nàng ca sĩ
            Thời vào trung học em thanh tân lộ dáng hoa khôi
            Chờ mùa tựu trường me cho thêm vài chiếc áo dài
            Em đi ra phố, có biết đâu trăm mắt thiên hạ nhìn
            Áo thắt eo dậy thì, áo thời nay…

            Thường thường đất trời, tiết sang xuân hoa rừng sẽ nở
            Được mặc áo dài, thoáng đôi năm em đẹp ngẩn ngơ
            Một ngày nắng hồng em sang ngang mặc áo thiên thanh
            Tình nào lỡ làng, ai yêu em một lời dấu kín!
            Áo bước lên xe hoa, nút tháo đêm tân hôn
            Áo trao anh nguyên hương trinh đêm vợ chồng
            Phận mười hai bến nước, em xin chia tròn ấm lạnh
            Đời trải bao mưa nắng, áo phai nhưng tình nào phai
            Đến giáp xuân năm sau, áo vén lên nuôi con!
            Thiết tha ôm ru tương lai, ơi mầm non!
            À… ơi à ơi! Ru con ru hỡi ru hời…
            Ngày nào con khôn lớn sẽ dâng lên mẹ niềm vui…

            Đầu mùa chiến trận, áo ôm con tiễn chồng lên đường
            Cuộc đời đâu ngờ, giữa yên vui đất bằng nổi sóng!
            Ngùi ngùi chinh phụ, bao canh thâu vò võ ru con
            Một ngày mưa buồn nghe tin xa người vừa ngã xuống!
            Áo thét lên như điên. Áo níu lui xe tang
            Áo run run lên, ôi duyên em dở dang!!!
            Chiều đổ nghiêng đôi bóng, cô nhi trong lòng góa phụ
            Gục đầu bên mộ chí, áo tang ru hỡi tình ru!

            Dù trời thái hòa, vẫn đau thương nên áo bỏ quê nhà
            Vượt trùng dương rộng, áo lênh đênh phơi tà trên sóng
            Vào được bến bờ, ôi tang thương vạt trước thân sau
            Lòng mình quê người! Hai mươi năm tưởng mới hôm nào
            Thương thay chiếc áo! Chiếc áo mẹ và em suốt một đời
            Dấu kín trăm nỗi niềm, dẫu buồn vui…
            Áo khóc thân lưu vong, Nhớ lúc xưa bên me
            Áo đua bay theo trăm hoa đêm hội hè…
            Dù cuộc đời xô tới xô lui, em về nơi nào
            Đừng để em với áo xót xa chia lìa tình nhau
            Đừng để em với áo xót xa chia lìa tình nhau…

            (Một đời áo mẹ áo em – Nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng)

            Tạp chí âm nhạc cuối tuần đến đây là hết. Cát Linh xin chào tạm biệt. Hẹn gặp lại quý vị trong chương trình kỳ sau.


CÁT LINH
Tháng 11/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/singer-compos-ttthieng-11082015073733.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 20/06/2017, 21:19:42
Chu Văn An – Sáng ngời đức độ nhà giáo Việt

Hơn 600 năm trước, nhà Nho Chu Văn An đã một thời làm rạng danh cho giới sĩ phu, nêu cao khí tiết thanh cao và thể hiện tinh thần chính trực “uy vũ bất năng khuất”. Sự nghiệp của Chu Văn An là sự nghiệp của một nhà giáo, khi còn ở quê thì ông mở trường dạy học, khi làm quan thì làm Tư Nghiệp Quốc Tử Giám, dạy thái tử và đào tạo nhiều học trò thành những người giữ trọng trách quốc gia, khi từ quan lại trở về quê dạy học. Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, Chu Văn An luôn được xem là biểu tượng của người thầy mẫu mực.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/Van_Mieu_Hanoi_23.jpg)
Tượng thờ Chu Văn An trong Văn Miếu – Quốc Tử Giám Hà Nội

Đọc sách Thánh hiền không phải để tìm kiếm công danh
            Chu Văn An tên thật là Chu An, tên chữ là Linh Triệt, sau về ẩn cư thì xưng hiệu là Tiều Ẩn. Khi ông mất, được vua phong tước Văn Trinh Công, nên người đời sau mới gọi là Chu Văn An. Ông sinh ra tại làng Văn Thôn, xã Quang Liệt, huyện Thanh Đàm (nay thuộc xóm Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà Nội). Sử sách không chép rõ ông sinh năm nào, nhưng theo thần tích tại đình làng Thanh Liệt, nơi thờ ông làm Thành Hoàng, thì ông sinh năm Nhâm Thìn 1292 và mất năm Canh Tuất 1370.
            Chu An là người chính trực, không màng danh lợi. Ông đỗ Thái học sinh (tức Tiến sĩ), nhưng không ra làm quan mà ở lại quê nhà mở trường dạy học. Ông có công lớn trong việc truyền bá giáo dục tư tưởng Khổng giáo ở Việt Nam. Học trò của Chu An lên đến vài ngàn người, xa gần đều biết tiếng. Đến mức mà vua Trần Minh Tông vời ông ra làm Tư nghiệp Quốc tử giám (tức Hiệu trưởng).
            Chu An là thầy dạy của hai vị hoàng tử mà sau này đều trở thành vua là Trần Hiến Tông và Trần Dụ Tông. Minh Tông làm vua từ năm 1314 đến năm 1329 thì nhường ngôi cho con trai và lên làm thái thượng hoàng đến khi mất vào năm 1357. Kế nhiệm Minh Tông là vua Hiến Tông, trị vì từ năm 1329 đến năm 1341 thì mất. Sau đó, em trai Hiến Tông là Dụ Tông lên ngôi, trị vì từ năm 1341 đến năm 1369.
            Như vậy, Chu An làm Tư nghiệp Quốc tử giám trải ba triều: Minh Tông, Hiến Tông và Dụ Tông. Thế nhưng, đến năm 1357, sau khi thượng hoàng Minh Tông băng hà, thì vua Dụ Tông được nắm trọn đại quyền nên bắt đầu lao vào cuộc ăn chơi, nghe lời xúc xiểm của đám nịnh thần, triều đình trở nên thối nát. Trong khi chính sự suy đồi, tình thế nhiễu nhương, Chu An đã nhiều lần can gián vua và cũng là học trò của mình. Cuối cùng ông đã hiên ngang dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần mà sử sách gọi là “Thất trảm sớ”. Sớ này ngày nay đã thất lạc nên không biết rõ chính xác tên của 7 tên nịnh thần mà Chu An xin chém. Nhưng qua việc vua Dụ Tông từ chối lời đề nghị của thầy mình là Chu An, cũng đủ thấy thế lực và ảnh hưởng của 7 tên nịnh thần ấy lớn dường nào.
            Thỉnh cầu không được vua chấp nhận, quan Tư nghiệp Chu An lập tức cáo quan về ở ẩn tại núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều Ẩn, dạy học, viết sách cho tới cuối đời. Bên cạnh việc dạy học để truyền bá đạo Thánh hiền, Chu An còn sáng tác nhiều sách vở trong đó có Tứ Thư Thuyết Ước, Tiều Ẩn Thi Tập và Quốc Ngữ Thi Tập, nhưng đều bị người Tàu thời Minh cướp lấy mang về Kim Lăng cả. Ông còn soạn một cuốn sách thuốc có tên là Y Học Yếu Giải Tập Chu Di Biên.

Đóng góp to lớn cho nền giáo dục nước nhà
            Thời đại Chu An là giai đoạn hậu chiến tranh chống quân ngoại xâm Nguyên-Mông. Sau chiến tranh, thì việc dùng văn trị để định quốc an bang là điều tất yếu. Thế nhưng câu hỏi đặt ra là phải dùng gì đây giữa ba tôn giáo khi ấy là: Nho, Phật, Lão?
            Nên nhớ rằng, khi Phật giáo được các vua đầu nhà Trần coi trọng và thịnh hành, thì Nho giáo đóng vai trò thứ yếu. Ban đầu chỉ có nhà chùa là nơi dạy chữ Nho và sách sử. Tuy nhiên, ở thời đại Chu An, Nho học bắt đầu từng bước lớn mạnh. Nhiều nhà Nho và thái học sinh không làm quan, về mở trường dạy sách Nho như trường hợp của Chu An. Hệ thống trường lớp tại các địa phương được hình thành. Đó là những tiền đề quan trọng để Nho giáo dần tiến lên vai trò độc tôn trong hệ tư tưởng giáo dục và chính trị thời Hậu Lê thế kỷ 15.
            Và đương nhiên Chu An có công không nhỏ trong công cuộc phát triển Nho giáo này bởi trong hệ thống trường lớp như đã nói, thì ta biết rằng trường của Chu An là nổi tiếng và có đến hàng ngàn học trò, và bởi mấy chục năm lèo lái con tàu giáo dục của quốc gia trên cương vị lãnh đạo Quốc Tử Giám. Trước tác Tứ Thư Thuyết Ước của Chu An rất có thể được xem là một trong những diễn dịch, bình luận và giải thích Nho giáo sớm nhất của Việt Nam. Thầy Chu An đào đạo đến hai thái tử và đều trở thành vua nhà Trần. Học trò của ông cũng có người làm quan cao như Phạm Sư Mạnh, Lê Quát giữ đến chức hành khiển (tể tướng).
            Với công đức đó, khi ông mất, vua Trần Nghệ Tông đã đặt tên thụy là Văn Trinh, truy tặng tước Công (tước lớn nhất trong năm tước mà người ngoài hoàng tộc có thể được phong dưới thời phong kiến), ban hiệu là Khang Tiết Tiên Sinh và được đem vào thờ trong Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử. Danh sĩ nổi tiếng thế kỷ 19 là Ngô Thế Vinh trong bài văn bia ở đền thờ Chu Văn An đã giải thích hai chữ “Văn Trinh” như sau: “Văn, đức chi biểu dã; Trinh, đức chi chính cố dã”, tức: Văn là cái vẻ đẹp bên ngoài của đức, Trinh là sự bền vững bên trong của đức, nghĩa là ngoại mạo và tâm hồn Chu An đều đẹp cả. Qua đó mới thấy vua nhà Trần ngưỡng vọng Chu An đến mức độ nào.

Vạn Thế Sư Biểu
            Các sử gia phong kiến Việt Nam thời hậu Chu An đều không tiếc lời ca tụng đức độ của ông, và luôn xem ông là Biểu tượng mẫu mực của người thầy giáo Việt:
            – Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định về Chu An trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư như sau:

            “Người hiền được dùng ở đời thường lo vua không thi hành điều sở học của mình. Vua thì dùng người hiền mà hay lo người hiền không theo ý muốn của mình. Cho nên, vua tôi gặp nhau, từ xưa đã là rất khó.
            Nho gia nước Việt ta được dùng rất nhiều, nhưng kẻ thì chỉ nghĩ đến công danh, kẻ thì lo làm giàu, kẻ chỉ xu phụ, kẻ chỉ cốt ăn lộc giữ thân, ít ai chịu để tâm đến đạo đức, lo nghĩ việc giúp vua nêu đức tốt để cho dân được nhờ. Tô Hiến Thành thời Lý và Chu Văn Trinh đời Trần có lẽ cũng gần được. Nhưng Hiến Thành gặp được vua sáng nên công danh sự nghiệp được thấy ngay đương thời, còn Chu Văn Trinh đời Trần không gặp được vua anh minh nên chính học của Ông phải đến đời sau mới thấy được.
            Văn Trinh thờ vua thẳng thắn mà can ngăn, xuất xử thì làm theo nghĩa lý, đào tạo người tài thì công khanh đều ở cửa nhà ông mà ra, tiết tháo của ông cao thượng đến thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Huống chi, tư thế đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn nịnh hót phải sợ. Ngàn năm về sau, nghe phong độ của ông, há kẻ điêu ngoa lại không thành liêm chính, kẻ yếu hèn lại không biết tự lập hay sao?


            Ta thấy rằng, một sử gia nổi tiếng là khắc khe trong đánh giá lịch sử, nổi tiếng là kỹ lưỡng, kén chọn từng chữ từng lời như Ngô Sĩ Liên cũng đã dành bấy nhiêu câu khen ngợi đủ thấy Chu An được kính trọng đến thế nào.
            – Trong Việt Giám Thông Khảo Tổng Luận, sử gia Lê Tung thế kỷ 15 thì ca tụng Thất Trảm Sớ của Chu An là: “Thất trảm chi sớ, nghĩa động càn khôn”, tức là: Bài sớ xin chém bảy tên nịnh thần, nghĩa khí động tới trời đất.
            – Phan Huy Chú – một học giả lừng danh triều Nguyễn ca ngợi Chu An rằng: “Học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, làng Nho nước Việt ta trước sau chỉ có mình ông, các ông khác không thể so sánh được”.
            – Vua Tự Đức trong Việt Sử tổng vịnh viết về Chu An như sau:

                        Thượng tường sơn đẩu thế gian sư,
                        Tâm dự nhân quai nhất khứ trừ.
                        Thất trảm sớ thành thiên địa giám,
                        Trực thanh bất cộng hữu Trần suy
.

            Nghĩa là:
                        Gian tà đâu để tung hoành,
                        Khí cao vằng vặc lưu danh sáng ngời.
                        Sớ dâng chứng với đất trời,
                        Không đang tâm sống cảnh đời suy vi.

Đức độ khiến được cả quỷ thần
            Đức độ của Chu An không chỉ được các bậc túc Nho ca ngợi, mà dân gian cũng dành niềm kính ngưỡng. Một trong những minh chứng cho sự kính ngưỡng đó là câu chuyện dân gian mang màu sắc dã sử về sự tích Đầm Mực được sử sách chép lại như sau:
            Tương truyền khi ông mở trường dạy học, rất đông học trò tìm đến thụ nghiệp. Trong số học trò có một thanh niên, mặt mũi sáng sủa hôm nào cũng đến thật sớm. Ông khen là chăm chỉ nhưng hỏi thì ngập ngừng không nói quê quán ở đâu. Ông cho người đi theo thấy người đó đi đến đầm Đại (nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất nên ngờ là thủy thần.
            Năm đó, trời đại hạn, dân chúng khổ sở lắm. Một hôm, thầy Chu mới mở lời nhờ người học trò nọ làm mưa cứu dân. Người học trò ấy tuân lời thầy mới ra đứng giữa sân, lấy nghiên mực, ngửa mặt lên khấn, lấy bút thấm mực vãi ra bốn phương. Lúc hết mực tung bút và nghiên lên trời. Lập tức, mây đen kéo đến, sấm chớp ầm ầm, trời đổ một trận mưa thật lớn. Người học trò đội mưa đi về, ra đến cửa thì biến mất. Sáng hôm sau, không thấy y trở lại học, Chu An cho người đến đầm Đại tìm thì thấy một con thuồng luồng thật to chết nổi trên mặt nước. Ông thương xót, sai học trò vớt xác mang về mai táng tử tế.
            Dân làng thấy vậy lập đền thờ, nay vẫn còn. Chỗ nghiên mực ném lên rơi xuống nay thành đầm nước lúc nào cũng đen, gọi là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai, sau này là một làng văn học nổi tiếng (quê hương Ngô Thời Sĩ, Ngô Thời Nhiệm triều Hậu Lê). Trong đền thờ còn một đôi câu đối ghi lại sự tích này như sau:
            Mặc nghiễn khởi tường vân, nhất bút lực hồi thiên tự thuận, chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vọng thiếp địa phồn khô. (Mây lành từ nghiên mực bay lên, một ngọn bút ra công trời thuận theo lẽ phải, mưa tốt giữa sân son đổ xuống, nghìn cánh đồng dội nước, đất đang khô cũng trổ mùa).

Tấm gương sáng ngời cho hậu thế
            Niềm tôn kính của người xưa đối với thầy Chu Văn An là vậy. Thế ở thời đại chúng ta ngày nay thì sao? Tấm gương đạo đức của thầy Chu có còn giá trị hay không? Sau đây, Phó giáo sư-Tiến sĩ Sử học Hà Minh Hồng sẽ minh thị đôi điều về những vấn đề này. Sử gia Hà Minh Hồng hiện là Trưởng Khoa Lịch sử của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Lê Phước: Thưa Phó giáo sư, với tư cách là một nhà sử học đương đại, trước tiên xin Phó giáo sư nhận định đôi điều về vai trò của Chu Văn An trong nền giáo dục nhà Trần cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14?
Phó GS-TS Hà Minh Hồng:
            Trong giai đoạn cuối thế kỷ 13 sang thế kỷ 14, ở Việt Nam, để phát huy được hào khí Đông Á sau khi nhà Trần ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông, việc đề cao đạo học, mà trước hết là Nho giáo, tức là tôn sùng đạo Khổng-Mạnh để trị nước, là hết sức cần thiết. Người có học Nho và đỗ Thái học sinh (tương đương tiến sĩ) như Chu Văn An khi ấy không phải là thiếu. Và việc khoa cử và con đường quan lộ đối với các Nho sĩ gần như là con đường không thể nào khác được. Nhưng Chu Văn An có học hành, có đỗ đạt, mà không ra làm quan lại ở nhà mở trường dạy học để truyền bá tư tưởng Khổng-Mạnh, trường hợp như vậy thì rất hiếm.
            Thực ra thì Chu Văn An cũng có ra làm quan: làm Tư nghiệp Quốc Tử Giám. Nhưng ông làm quan trong mục đích là đóng góp sức lực vào sự nghiệp giáo dục đào tạo nước nhà, đào tạo những người có trọng trách quốc gia, như làm thầy dạy các thái tử. Nếu không phải vì mục đích đó thì ông cũng chẳng ra làm quan.
            Chu Văn An đã xây dựng cho mình 4 quan điểm về đạo đức nhà giáo, mà cho đến bây giờ những quan điểm này vẫn còn nguyên giá trị, vẫn còn rất cần thiết. Bốn quan điểm đó là: cùng lý, chính tâm, tịch tà và cự bí (Cùng lý là hiểu phải cho đến nơi đến chốn, chính tâm là giữ lòng cho ngay thẳng, tịch tà là trừ bỏ thói hư, tật xấu, chống lại tà thuyết và cự bế là ngăn ngừa cái dở), tức đề cập đến những vấn đề về kiến thức, về lương tâm đạo đức, về bản lĩnh của người thầy. Thời đó, mà ông đưa ra vấn đề này có vẻ còn hơi sớm, bởi ở cuối thế kỷ 13 đầu thế kỷ 14, Nho giáo chỉ trong giai đoạn đang lên, nhưng chưa đến hồi cực thịnh. Chu Văn An đã đi trước thời đại, và chính nhờ điều đó đã giúp ông trở thành người thầy giáo có tính chất tiên phong
.

Lê Phước: Chu Văn An được sử sách xem là một mẫu mực của nhà giáo. Vậy xin Phó giáo sư tóm lược những nét chính trong đức độ nhà giáo của thầy Chu Văn An.
Phó GS-TS Hà Minh Hồng:
            – Thứ nhất: Chu Văn An là một người thầy rất giỏi. Ông giỏi nên ông mới dạy được các lớp học trò từ bậc quyền quý nhất như thái tử đến những người bình thường ở làng quê. Đặc biệt, ở trường làng, ông có hàng ngàn môn sinh. Nức tiếng đến tận triều đình. Thậm chí đến thủy thần cũng tìm đến học. Câu chuyện quỷ thần chỉ là chuyện dã sử, nhưng qua đó cho thấy rằng ai cũng muốn đến học với thầy Chu Văn An. Ông là nhà giáo đầu tiên của nước Đại Việt có nhiều học trò giỏi. Từ đó tạo điều kiện cho cái học Khổng-Mạnh dần dần chiếm vị trí độc tôn trong nền giáo dục Đại Việt.
            – Thứ hai: Chu Văn An là nhà giáo rất nghiêm nghị và mẫu mực. Học trò của ông có người làm quan to, như Phạm Sư Mạnh hay Lê Quát làm đến tể tướng, thế mà khi khi đến với thầy Chu Văn An các ông này vẫn phải khép nép và thậm chí có khi còn được nhắc nhở, dạy bảo những gì mà thầy Chu Văn An thấy cần phải nhắc nhở học trò.
            – Thứ ba: Chu Văn An là một thầy giáo có phong thái trong sạch và tiết tháo. Thấy quyền thần làm điều trái đạo thì ông can gián và viết thất trảm sớ xin chém bảy tên nịnh thần. Vua không nghe thì ông lập tức từ quan chứ không màng chi công danh lợi lộc. Ông từ quan về quê dạy học, dạy dân, làm thuốc, viết sách… Chu Văn An làm như vậy là để giữ nguyên cái đức sáng ngời, làm cho đạo học được thâm sâu hơn ở chính ông và những người được ông tiếp tục đào luyện. Chính phẩm chất thanh cao tuyệt vời ấy mà ông đã được người đương thời và đời sau ca ngợi, tôn là “Vạn thế sư biểu”.
            Sau khi ông qua đời, triều đình đã đưa ông vào thờ ở Văn Miếu, xem ông ngang hàng với các bậc thánh hiền ngày xưa. Đó là một điều hết sức hiếm có. Người dân ở làng quê của ông thì tôn thờ ông làm Thành hoàng. Người ta gọi ông là “Đức thánh Chu”, “Đức Thánh Văn”. Qua đó mới thấy, ngay cả khi đã qua đời, đạo đức của Chu Văn An vẫn tiếp tục sáng ngời.
            Trước triều Trần, có những người có cống hiến rất lớn lao. Sau triều Trần, cũng có không ít những bậc tôn sư đạo cao đức trọng. Nhưng nhân cách thanh khiết, thuần nhã, khí phách, chính trực, kiên cường như Chu Văn An thì không ai có thể sánh. Ông là một người thầy mẫu mực cho nền “lương sư hưng quốc” Đại Việt. Lịch sử giáo dục Việt Nam từ xưa đến nay vẫn một niềm tôn kính đối với Chu Văn An, đặt ông ở địa cao quý nhất, khả kính nhất, người đứng đầu các bậc nhà giáo danh nhân đất Việt từ ngàn xưa
.

Lê Phước: Thưa Phó giáo sư, thế hệ nhà giáo ngày nay cần học tập gì từ tấm gương đạo đức của Thầy Chu Văn An?
Phó GS-TS Hà Minh Hồng:
            Chúng tôi nghĩ rằng, bản lĩnh nhà giáo là hết sức quan trọng. Bản lĩnh ở đây là thể hiện được cái thanh liêm, tính biết nêu gương ở người thầy. Toàn bộ đức độ của người thầy, toàn bộ ứng xử của người thầy, toàn bộ kiến thức của người thầy: Tấm gương của người thầy phải thể hiện được những mặt như vậy. Tôi nghĩ đây cũng là ba vấn đề đang hết sức nóng bỏng, những vấn đề đang rất cần phải có trong đạo đức của người thầy giáo hiện nay.


***

            Thầy Chu Văn An đã mất cách đây gần bảy thế kỷ, giáo dục giữa thời đại của thầy Chu và thời đại ngày nay của Việt Nam cũng hoàn toàn khác. Thế nhưng, như sử gia Hà Minh Hồng nhận định, đức độ Chu Văn An vẫn còn những giá trị quý giá để thế hệ nhà giáo hiện tại soi rọi. Mà một trong những điều đáng chú ý nhất đó chính là tính gương mẫu của người thầy.
            Một trong những lợi ích chính của lịch sử đó chính là cung cấp cho thế hệ sau những bài học kinh nghiệm và những tấm gương cần noi theo thông qua việc “ngẫm lại chuyện xưa”. Thời gian qua, trong xã hội Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ học trò tấn công cả thầy cô, khiến cho dư luận phẫn nộ. Thế nhưng, nói đi cũng phải nói lại, bên cạnh cái lỗi của học trò còn có cái lỗi thiếu gương mẫu của không ít thầy cô với biết bao vụ việc thầy cô nhũng nhiễu học trò, bạo hành học trò… tức không biết nêu gương để được học trò kính trọng. Trong bối cảnh đó, thiết nghĩ, đọc lại cuộc đời và sự nghiệp của thầy Chu Văn An cũng có lắm điều bổ ích.


LÊ PHƯỚC
Tháng 5/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130510-chu-van-an-sang-ngoi-duc-do-nha-giao-viet

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 22/06/2017, 14:13:59
Rodin, người thổi hồn cho nghệ thuật điêu khắc

Với gần một triệu lượt khách viếng thăm hàng năm, Musée Rodin lọt vào danh sách 10 viện bảo tàng quan trọng nhất Paris. Nằm cách điện Invalides vài trăm thước, viện bảo tàng này giống như một tòa dinh thự tọa lạc trong một khu vườn trồng nhiều cây xanh. Kho lưu trữ cũng thuộc vào hàng nhất nhì nước Pháp với hơn 30 ngàn tác phẩm đủ loại. Từ Nụ hôn (Le Baiser) đến Người suy tư (Le Penseur) hay Cổng địa ngục (La Porte de l’enfert)… chỉ nhắc đến những tác phẩm này, người ta nghĩ ngay đến Auguste Rodin (12/11/1840 – 17/11/1917). Bên cạnh một Rodin nghệ sĩ điêu khắc nổi tiếng từ đầu thế kỷ XX, là một Rodin họa sĩ, nghệ sĩ lắp ráp–cắt dán… ít được đề cập hơn khi nhắc đến sự nghiệp của ông.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/34/334/967/544/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/auguste_rodin_sculpteur_photographie_.agence_de_btv1b9018956j.jpeg)
Chân dung Nhà điêu khắc Auguste Rodin năm 1909

GIỚI THIỆU trọn vẹn sự nghiệp của Rodin trên các loại hình nghệ thuật khác nhau là mục đích của triển lãm cùng tên diễn ra tại Grand Palais (Đại Điện) ở Paris, từ ngày 22/03 đến 31/07/2017 nhân kỷ niệm 100 năm ngày mất của nghệ sĩ người Pháp. Đặt Rodin vào bối cảnh thế kỷ XXI, ban tổ chức cũng muốn chứng minh rằng, qua phong cách sáng tạo mang tính tiên phong, nhà điêu khắc vẫn còn khiến nhiều nghệ sĩ ngày nay ngạc nhiên và thán phục trước tính táo bạo trong những tác phẩm của ông.
            Khoảng 170 tác phẩm được trưng bày trong ba khu vực triển lãm: Rodin theo trường phái biểu hiện, Rodin nhà thí nghiệm và làn sóng ảnh hưởng của nghệ sĩ sau năm 1945. Mỗi khu vực trưng bày lại được bài trí theo cùng một kiểu: tác phẩm của Rodin, những tác phẩm được ưu ái khi ông còn sống và cách nhìn nhận về ông của thế hệ nghệ sĩ sau này, cũng như sự tiếp thu một số phương diện từ tác phẩm của ông.


(http://www.musee-rodin.fr/sites/musee/files/styles/zoom/public/oeuvre_160/porte-enfer.png?itok=UyoIo_Eo)
Bức phù điêu Cổng địa ngục (La Porte de l’enfert)

Rodin, cha đẻ của nghệ thuật điêu khắc hiện đại
            Rodin được coi là cha đẻ của nghệ thuật điêu khắc hiện đại, như nhận xét của bà Catherine Chevillot, giám đốc bảo tàng Rodin và là người phụ trách triển lãm:

             “Dấu ấn sáng tạo chính của Rodin chính là mặt thực nghiệm. Rodin là một nghệ sĩ điêu khắc luôn tìm cách tái hiện sự sống qua tác phẩm nặn tượng hay điêu khắc của mình. Ông từng nói chẳng có gì là thái quá trong điêu khắc. Chính ông là người sáng tạo ra loại hình biểu hiện này vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Đối với mọi lời phê bình, mọi bài báo vào thời kỳ đó, Rodin là người đã mang lại sự sống cho nghệ thuật điêu khắc”.

            Cơ thể con người, hoàn toàn khỏa thân, là chủ đề chính trong các tác phẩm của Rodin. Ông muốn để cơ thể lên tiếng vì với ông, “Cơ thể là một khuôn đúc nơi đam mê hằn sâu”. Vì thế, Rodin đề cao nét tự nhiên của cơ thể, loại bỏ mọi quy chiếu lịch sử hay văn hóa ra khỏi các tác phẩm Quý tộc Calais (Les Bourgeois de Calais, 1895) hay Cổng địa ngục (La Porte de l’enfer, 1880-1890).
            Bức tượng Đứa con hư trở về (L’Enfant prodigue, 1905) nằm trong khối Cổng địa ngụcGiấc ngủ (Le Sommeil, khoảng 1894) luôn là hai tác phẩm quyến rũ bà Marie-Madeleine Lardoux và bà Brigitte Mouterde, hai khách thăm quan triển lãm:

             “Tác phẩm Đứa con hư trở về làm chúng tôi say mê. Cậu bé có hành động, vừa giống như đang mở rộng với thế giới, vừa như đang thỉnh cầu, rất xúc động nhưng đồng thời cũng tràn đầy sinh lực. Tác phẩm Giấc ngủ là một khối đá, chỉ có mỗi khuôn mặt phụ nữ đang thiu thiu ngủ lộ ra, nhưng lại mang một nét trong trắng và giản dị tuyệt vời.
            Chúng tôi luôn thích những tác phẩm bằng đá của Rodin hơn là tác phẩm bằng đồng, dù “Đứa con hư trở về” được làm bằng đồng, đây là trường hợp đặc biệt. Chúng tôi cũng rất thích ngắm những tác phẩm bằng đá cẩm thạch thể hiện bàn tay, bàn chân. Đá cẩm thạch trắng luôn có nét gì đó tinh tế hơn và luôn dễ chịu hơn khi ngắm toàn khối tác phẩm. Ngoài ra, chúng tôi thấy đá cẩm thạch thể hiện sự trong trẻo, thuần khiết và êm dịu hơn là chất liệu đồng
”.


(http://www.musee-rodin.fr/sites/musee/files/styles/zoom/public/oeuvres/visuels/porte-enfer_detail_0.png?itok=8XOVw97K)
Bức phù điêu Cổng địa ngục (La Porte de l’enfert)

            Đá cẩm thạch và đồng là những nguyên liệu sáng tạo chính của Rodin. Nhưng bà Catherine Chevillot còn muốn giới thiệu nhiều tác phẩm được làm từ thạch cao được lắp ghép hay cắt dán, mà ít được công chúng biết đến.

             “Đối với những tác phẩm được cho là hoàn thiện, như các tác phẩm sẽ được giao cho khách hàng, nhà sưu tầm, có hai vật liệu chính được cho là sang trọng thời kỳ đó mà ông thường dùng, đó là đá cẩm thạch và đồng. Ông sử dụng chúng khá khác nhau: đồng là một vật liệu có vẻ gần hơn với tư tưởng sống, với lớp da ngoài mà ông gắn bó. Còn đá cẩm thạch, người ta nói đến điều gì đó vô cùng hoàn hảo để rộng mở cho những vật liệu thô và không mài rũa trong suốt nhiều thập kỷ qua. Như vậy, người ta có những quan niệm thẩm mỹ khá khác nhau tùy theo các vật liệu được sử dụng.
            Kỹ thuật cơ bản của Rodin là nặn đất. Nhưng Rodin cũng nhanh chóng chuyển sang làm việc với thạch cao tươi. Điều này độc đáo hơn. Đó là những kỹ thuật trong xưởng nhưng cuối cùng được biến thành kỹ thuật sáng tạo. Rodin nặn đất và thường xuyên làm thành nhiều mảnh. Sau đó, từ những mảnh này, ông lắp chúng lại với nhau, ông cắt xén, ông chia chúng rồi làm lại. Đó là kiểu phối hình liên tục
”.

            Ngoài một Rodin nhà điêu khắc nổi tiếng, người xem còn được khám phá một Rodin họa sĩ “ít nổi tiếng hơn, ít hoàn hảo hơn” nhưng vô cùng sáng tạo. Tuy nhiên, hai nữ khách thăm quan Marie-Madeleine Lardoux và Brigitte Mouterde lại không tỏ ra ngạc nhiên khi khám phá tài năng ít được nhắc đến của nghệ sĩ:

             “Chúng tôi không ngạc nhiên vì thường xuyên, người nghệ sĩ điêu khắc cũng là những nhà vẽ tranh, họa sĩ, họ thử mỗi thứ một ít vì để chuẩn bị cho công việc điêu khắc của mình. Điều này giải thích việc trưng bày các tác phẩm hội họa của Rodin ở triển lãm. Tuy nhiên, có thể hơi thất vọng ở điểm hội họa so với các tác phẩm điêu khắc. Với chúng tôi, Rodin là nhà điêu khắc hơn là họa sĩ”.


(http://musee-rodin.fr/sites/musee/files/styles/zoom/public/oeuvres/visuels/lage_dairain_s986_800.jpg?itok=kxj0q44O)
Pho tượng Thời đại đồng thau (L’Âge d’airain)

“Nếu chọn là nghệ sĩ, phải là người giỏi nhất!”
            Khi còn nhỏ, Auguste Rodin là một học trò xoàng, nếu không muốn nói là tầm thường. Ngoài môn toán, cậu chẳng giỏi chính tả lẫn cú pháp và thường cau có khi phải phát biểu. Cách biểu hiện ưa thích của cậu là đất và cây bút chì. Thế nhưng, dù có khiếu về hội họa, Rodin vẫn ba lần thi trượt vào trường Mỹ Thuật, không được nhận giải thưởng danh giá Roma, được coi là “bảo bối” cho các nghệ sĩ. Không một xu dính túi, Rodin phải làm nhiều việc vặt để kiếm sống và trường đời đã giúp ông trưởng thành.
            May mắn là cha mẹ của Rodin ủng hộ cậu con trai khi ông nói muốn trở thành nghệ sĩ. Cha ông chỉ ra một “điều kiện”: “Nếu con muốn là nghệ sĩ, thế thì phải là người giỏi nhất!” Tác phẩm đầu tiên của Rodin chính là cha của nhà điêu khắc, Jean-Baptiste Rodin, được hoàn thành vào năm 1860.
            Tên tuổi Auguste Rodin trở nên nổi tiếng vào năm 1877 với tác phẩm bằng đồng đầu tiên mang tên Thời đại đồng thau (L’Âge d’airain, 1877). Tác phẩm thật và đẹp đến nỗi trở thành chủ đề tranh cãi: người ta đồn rằng nghệ sĩ đã nặn khuôn trên người mẫu sống. Sau thành công đầu tiên này, Rodin thực hiện nhiều tác phẩm khác làm nên tên tuổi của ông trong những năm 1880 như Người suy tư, Nụ hôn, Cổng địa ngục hay Quý tộc Calais.


(http://www.musee-rodin.fr/sites/musee/files/editeur/Parcours%20en%20ligne/L'%C3%82ge%20d'airain/s.468_numHL004.JPG)
Pho tượng Thời đại đồng thau (L’Âge d’airain)

            Khoảng năm 1884, ông gặp Camille Claudel, cô học trò trẻ trung và xinh đẹp, người sau này trở thành cộng sự, người tình và nàng thơ của ông trong suốt nhiều năm, dù lúc đó ông đã kết hôn với Rose. Cuối cùng, Rodin muốn giữ mái ấm gia đình và phụ tình Camille Claudel. Cô học trò của ông phát điên và phải vào bệnh viện tâm thần năm 1913. Rodin cũng chìm trong đau khổ và giằng xé vì cuộc tình sâu đậm này.
            Thành phố Meudon nhỏ bé, thanh bình ở ngoại ô Paris trở thành nơi sinh sống của ông và gia đình từ năm 1895. Đây cũng là nơi yên nghỉ của người đã thổi hồn vào những bức tượng. Sau khi Rodin mất, Judith Claudel, nhà viết tiểu sử đầu tiên của Rodin, đã kiểm kê kho tác phẩm ông để lại, trong đó có khoảng 7.000 bức tranh. Bà cũng tìm thấy một thùng cac-tông, phía trên ghi “Bảo tàng bí mật”. Từ này khiến người ta liên tưởng đến bảo tàng bí mật Napoli, từ năm 1821 là nơi giấu những tác phẩm khiêu dâm được phát hiện ở Herculanum và Pompei.
             “Bảo tàng bí mật” của Rodin gồm 121 bức vẽ và tranh mầu nước do chính tay nghệ sĩ vẽ, tập trung chủ yếu vào bộ phận sinh dục nữ và những cảnh ái ân giữa hai phụ nữ đồng tính… Từ lâu được giữ kín ở Meudon khỏi những ánh mắt tò mò, cuối cùng những tác phẩm này đã trở thành chủ đề của một bản công bố khoa học.


(http://pemptousia-2.wpengine.netdna-cdn.com/wp-content/uploads/2015/07/Depositphotos_11923326_l-20152.jpg)
Pho tượng Người suy tư (Le Penseur)

Đến Paris xem viện bảo tàng điêu khắc Rodin
            Được khánh thành vào năm 1919, tức là hai năm sau ngày nhà điêu khắc Auguste Rodin qua đời, viện bảo tàng chủ yếu bảo tồn và trưng bày các tác phẩm của nghệ sĩ bậc thầy. Sinh thời, Rodin đã nổi danh như một trong những tên tuổi hàng đầu của ngành điêu khắc. Theo đánh giá của Viện bảo tàng MET (Metropolitan Museum of Art tại New York) trong số 10 pho tượng nổi tiếng nhất trên thế giới, có đến ba bức là nằm trong tay của Viện Bảo tàng Rodin.
            Lừng danh hơn cả là bức điêu khắc Le Penseur (Người suy tư) ở trong thế ngồi chống cằm trầm tư suy ngẫm. Kế đến là bức tượng Le Baiser (Nụ hôn), qua đó một cặp tình nhân đang say đắm hôn nhau, quấn quýt ghì chặt, vòng tay tha thiết. Bức thứ ba mang tựa đề L’Âge d’Airain (Thời đại đồng thau) thể hiện cho sự khỏe khoắn, rắn rỏi của tuổi trẻ qua hình tượng của một thanh niên khỏa thân.
            Khác với truyền thống của trường phái cổ điển, những bức điêu khắc của Rodin không dùng nét tiểu tiết chạm khắc tinh xảo (đá cứng vẫn mềm nhờ bàn tay chạm trổ của con người) để mô tả ngoại hình tột cùng cân đối, tuyệt đỉnh hài hòa, mà lại nhào nặn cơ thể con người một cách tinh tế hiện thực, để diễn đạt sắc thần và trạng thái nội tâm. Bằng hoa cương, ngọc thạch, đất nung hay đồng sắt, các bức điêu khắc của Rodin gọi là tượng nhưng lại sinh động như thật, có thêm chiều sâu tư tưởng, tiềm tàng sức sống mãnh liệt.


(http://4.bp.blogspot.com/-fz5ROhAaPRk/VEf25HOnWUI/AAAAAAAAHZ8/R_eYIr4QD-U/s1600/lepenseur.jpg)
Pho tượng Người suy tư (Le Penseur)

            Đến thăm Viện bảo tàng Rodin, du khách sẽ được xem ba bức tuyệt tác này trong số cả ngàn tác phẩm được trưng bày. Nhưng nghệ thuật và tư tưởng sáng tạo của Rodin không chỉ dừng lại ở các pho tượng và các bức phù điêu, mà còn mở rộng sang nhiều lãnh vực nghệ thuật khác nữa, theo như lời giải thích của cô Nadine Leny, ủy viên điều hành Viện bảo tàng Rodin:

            Nhắc tới nhà điêu khắc Auguste Rodin (1840-1917), người ta chỉ nghĩ đến hình ảnh của một nghệ sĩ lớn của thế kỷ XIX thuộc trường phái biểu tượng. Tên tuổi của ông gắn liền với những tuyệt tác như pho tượng Le Penseur (Người suy tư), Le Baiser (Nụ hôn), loạt bức phù điêu La Porte de l’Enfer (Cổng Địa Ngục) gợi hứng từ tác phẩm La Divina Commedia (Thần Khúc) của nhà thần học Dante.
            Nhưng thật ra, sự nghiệp sáng tác của Rodin rất đa dạng, ngoài điêu khắc còn bao trùm các lãnh vực như hội họa, kiến trúc, nghệ thuật trang trí và bất ngờ hơn nữa là nhiếp ảnh. Trong lãnh vực hội họa chẳng hạn, Viện bảo tàng hiện lưu trữ khoảng 8 ngàn tác phẩm của ông, chủ yếu là các tấm tranh chân dung, các bức phác họa các và các bức vẽ phong cảnh. Lúc sinh tiền, Rodin còn là một nhà sưu tầm đồ cổ: ông yêu chuộng các báu vật đến từ Hy Lạp, Ai Cập, Trung Đông. Viện bảo tàng Rodin hiện có khoảng 7 ngàn cổ vật như vậy và chỉ trưng bày một phần mười bộ sưu tập của ông. Kế đến nữa, có nghệ thuật nhiếp ảnh và ít ai biết rằng nhà điêu khắc Rodin rất say mê bộ môn này.
            Cũng cần biết rằng Rodin sinh ra và lớn lên hầu như cùng thời với phát minh nhiếp ảnh (Rodin sinh năm 1840 – nhiếp ảnh được phát minh vào năm 1839). Kể từ những năm 1880 trở đi, Rodin hợp tác với nhiều nhà nhiếp ảnh nổi danh thời đó. Đa số những người này thuộc phong trào pictorialisme, theo đó họ quan tâm đến các hiệu ứng nghệ thuật của nhiếp ảnh nhiều hơn là đề tài hay nhân vật được chụp hình. Hiện nay có khoảng 8 ngàn bức ảnh chụp như vậy trong kho lưu trữ của Viện bảo tàng Rodin. Tất cả những điều này cho thấy là nhà điêu khắc Rodin trước khi trở thành một nghệ sĩ tiên phong rất am tường về thế giới xung quanh mình. Tác phẩm của ông không chỉ phản ánh cái thời ông đang sống mà còn mở ra nhiều cuộc ‘‘đối thoại’’ với các lãnh vực nghệ thuật khác. Có lẽ cũng vì thế mà Rodin còn được mệnh danh là nhà điêu khắc nối liền mọi thời đại
.


(https://upload.wikimedia.org/wikipedia/commons/d/d7/Le_Baiser_%28mus%C3%A9e_Rodin%29_%284528251664%29.jpg)
Pho tượng Nụ hôn (Le Baiser)

            Nằm ở trong khuôn viên, gần ngay lối vào cửa viện bảo tàng, chễm chệ bức tượng điêu khắc vô cùng nổi tiếng của Rodin mang tựa đề Le Penseur (Người suy tư). Nguyên gốc pho tượng nằm tại Paris, trong khi nhiều phiên bản khác được đặt tại các viện bảo tàng trên thế giới cộng thêm một bức khác, được dựng trên mộ phần của Rodin, theo lời di chúc. Theo ông Dominique Vieville, giám đốc Viện bảo tàng Rodin, chiều sâu của tác phẩm này đã ảnh hưởng mạnh đến thế hệ nghệ sĩ sau này, cho dù họ có nối bước bậc thầy hay không.

            Nhà điêu khắc Rodin, qua những đỉnh cao sáng tác của ông, đã gợi hứng cho nhiều thế hệ đi sau. Một số nghệ sĩ nổi tiếng thời nay công nhận tầm ảnh hưởng trực tiếp của tác giả bậc thầy trong lối điêu khắc của họ. Một số khác tuy không thừa nhận tầm ảnh hưởng này, nhưng họ cũng khâm phục tính chất hiện đại trong các tác phẩm của ông, đặc biệt là trong loạt tác phẩm Cổng địa ngục.
            Chẳng hạn như cách đây hai năm, viện bảo tàng Orsay đã tổ chức một cuộc triển lãm mang tựa đề Oublier Rodin, cho thấy là trong giai đoạn 10 năm từ 1905 đến 1914, các nhà điêu khắc sống ở Paris (như Maillol, Brancusi, Lehmbruck) đã tìm cách thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của Rodin để đi tìm một ngôn ngữ khác trong ngành điêu khắc. Điều đó không có nghĩa là tầng lớp nghệ sĩ này đoạn tuyệt với quá khứ hay chối bỏ giá trị của các tác phẩm đi trước. Ngược lại, theo tôi nghĩ, họ phải thấu hiểu nghệ thuật của Rodin để từ đó có thể sáng chế ra một phương thức mới, một ngôn ngữ khác.
            Mãi đến sau Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều nghệ sĩ mới dần dà nối lại với tư tưởng sáng tạo của Rodin. Gần đây hơn nữa, các nghệ sĩ thời nay (như Bruce Nauman hay Vito Acconci) có nhiều nét gần giống với Rodin trong cách tiếp cận nghệ thuật dù là hội họa, video, điêu khắc hay sắp đặt. Hình tượng của cơ thể không được thể hiện theo lối phản ánh đơn thuần, tái tạo sao chép thực tế. Tạc một pho tượng hay chụp một tấm ảnh không phải là để phản ánh y hệt những gì con mắt trông thấy mà là để diễn đạt cảm xúc chân thật trong khoảnh khắc. Cũng nhờ vào tư tưởng này mà tác giả Rodin được xem như là người đã khai phóng nghệ thuật điêu khắc hiện đại
.


(http://s.libertaddigital.com/2014/12/02/estatuasfamosas-elbeso.jpg)
Pho tượng Nụ hôn (Le Baiser)

            Tuy có đủ tác phẩm để có thể luân phiên cách trưng bày, nhưng Viện bảo tàng Rodin không chỉ dựng triển lãm với các tác phẩm của nhà điêu khắc người Pháp, mà còn mở cửa tiếp đón nhiều nghệ sĩ quốc tế thời nay. Theo cô Amélie Lavin, quản đốc kho lưu trữ, tính chất hiện đại trong các bức điêu khắc của Rodin càng rõ nét khi tác phẩm của ông được trưng bày song song và được đối chiếu so sánh với các tác phẩm nghệ thuật đương đại.

            Khi xúc tiến một dự án triển lãm, điều quan trọng đối với chúng tôi không hẳn là trưng bày bộ sưu tập của Rodin cùng với các tác phẩm của những nghệ sĩ đi sau xứng đáng thừa kế bậc thầy. Mục tiêu của chúng tôi là đối chiếu Rodin với nhiều nghệ sĩ khác không nhất thiết là phải cùng thời hay có cùng một trường phái. Bằng cách này, ban tổ chức triển lãm muốn cho thấy lịch sử nghệ thuật lặp lại theo từng chu kỳ. Hai nghệ sĩ không sống cùng thời, đôi khi họ cách nhau đến nhiều thế kỷ, nhưng lại có những ý tưởng sáng tạo giống nhau: họ có thể không sử dụng cùng một chất liệu, nhưng trong sáng tác lại đề cập đến cùng một chủ đề. Chẳng hạn như tác giả đương đại người Mỹ Bruce Nauman vừa thử nghiệm nghệ thuật sắp đặt, phim video kết hợp với hội họa và kiến trúc.
            Do tốt nghiệp ngành toán học, các tác phẩm điêu khắc của ông thường sử dụng các khối hình học, dùng những chất liệu tổng hợp nhân tạo như nhựa mủ, plastic, nylon. Có thể nói là các tác phẩm của ông chẳng ăn nhập gì với các bức điêu khắc của Rodin. Nhưng thật ra về họ lại đề cập đến cùng một chủ đề: sự dằn vặt ray rức trong tâm trí, xa hơn nữa là sự chiêm nghiệm suy ngẫm về thân phận con người. Ở hai thời điểm khác nhau, nhưng cả hai nghệ sĩ cùng tìm cách diễn đạt điều làm cho họ trăn trở suy tư. Hình thức có thể khác, nhưng nội dung vẫn có giá trị do tính phổ quát
.

            Pho tượng Người suy tư có thể được chiêm ngưỡng như một tác phẩm độc lập, nhưng thật ra ban đầu đó là một phần trong loạt tác phẩm Cổng địa ngục. Trong tác phẩm đầu mang tựa đề Les Trois Ombres (Ba bóng người), nhà điêu khắc tạc hình ba tượng người đàn ông xúm quanh lại thành vòng tròn. Cả ba đều cúi đầu hướng nhìn xuống phía dưới, nơi mà những con người đang bị xô vào địa ngục. Ở phía trên là bức tượng khổng lồ của một người đang chìm đắm trong suy tư, tìm câu giải đáp cho thân phận con người.
            Tuy chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Phục Hưng, nhưng lần đầu tiên trong ngành điêu khắc người ta mới thấy được cái tư thế ngồi chống cằm như vậy. Toàn bộ bức tượng thể hiện cho sự trầm ngâm suy ngẫm, từ điệu bộ, cử chỉ cho đến dáng vẻ nét mặt. Uy tín của tác phẩm này có thể giải thích vì sao khi đến thăm Paris, ngoài bức tranh La Joconde (Mona Lisa) trưng bày ở cung điện Louvres, du khách còn muốn xem tận mắt bức tượng Người suy tư.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/0/4320/2433/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/img_0499.jpg)
Tượng bán thân Victor Hugo (mẫu lớn năm 1902),
Auguste Rodin, Triển lãm ‘‘Rodin’’ tại Grand Palais, Paris

Pháp kỷ niệm 100 năm ngày giỗ của Rodin
            Lúc sinh tiền, nhà điêu khắc Auguste Rodin (1840-1917) đã là một nhân vật nổi tiếng. Trước khi qua đời, ông đã tặng toàn bộ tác phẩm cho nhà nước Pháp. Tuy nhiên, do Rodin mất trong giai đoạn căng thẳng của thời Đệ Nhất Thế Chiến, cho nên tang lễ của ông đã không diễn ra đúng theo ước nguyện của gia đình.
            Để ghi nhận sự đóng góp của một tài năng lớn, nước Pháp trong năm 2017 tổ chức chương trình trọng thể gồm nhiều sinh hoạt để kỷ niệm 100 năm ngày giỗ của Rodin, vì dù muốn hay không, ông vẫn là nhà điêu khắc người Pháp nổi danh nhất ở nước ngoài.
            Kể từ ngày 23/03 cho tới cuối tháng 7, hơn 200 tác phẩm điêu khắc được trưng bày tại viện bảo tàng Grand Palais. Cuộc triển lãm lớn chưa từng thấy này làm nổi bật cuộc đối thoại giữa Rodin với các nghệ sĩ cùng thời, cũng như tầm ảnh hưởng của ông đối với hàng hậu bối.
            Bên cạnh các bậc thầy như các điêu khắc gia Antoine Bourdelle hay Giacometti, còn có nghệ sĩ người Anh Henry Moore hay Barry Flanagan, người Ailen, Max Beckmann hay Joseph Beuys, người Đức và nhất là Markus Lupertz thuộc trường phái ‘‘tân biểu hiện’’, những nghệ sĩ thuộc thế hệ con cháu đều thừa nhận họ từng gợi hứng từ tư tưởng sáng tác của Rodin.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/21/160/1349/759/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/funerailles_de_rodin_meudon_24_.agence_rol_btv1b530042813.jpeg)
Tang lễ Auguste Rodin, ngày 24/11/1917 tại Meudon

            Có thể nói là Viện bảo tàng Rodin ở Paris quận 7 là kho lưu trữ đầy đủ nhất, do tập hợp các tác phẩm quan trọng của Auguste Rodin về cùng một nơi. Thế nhưng, lần này Viện bảo tàng Rodin đã hợp tác với tổ chức RMN bao gồm khoảng 20 Bảo tàng Quốc gia để đối chiếu các bức điêu khắc của Rodin với các tác phẩm thuộc nhiều trào lưu nghệ thuật qua nhiều giai đoạn khác nhau.
            Có lẽ cũng vì thế mà các sinh hoạt tưởng niệm Rodin không chỉ diễn ra ở thủ đô Paris, mà còn được tổ chức tại nhiều thành phố khác ở Pháp, trong đó quan trọng nhất vẫn là Viện Bảo tàng Mỹ thuật Calais, rồi sau đó là Viện bảo tàng của các thành phố như Nantes, Aix les Bains hay Montpellier…
            Cũng trong chiều hướng này, nước Pháp cũng dự trù phát hành một bộ tem sưu tầm cũng như đồng tiền 2€ có tạc hình Auguste Rodin nhân 100 năm ngày giỗ của nhà điêu khắc. Trong khi đó, đạo diễn Jacques Doillon chuẩn bị quay một bộ phim tiểu sử về Rodin với Vincent Lindon trong vai chính, bộ phim nói về giai đoạn nhà điêu khắc Pháp thực hiện bức kiệt tác Porte de l’Enfer (Cổng Địa Ngục).
            Còn trên thế giới, viện bảo tàng Metropolitan, New York là nơi đầu tiên ở nước ngoài tổ chức triển lãm lớn về Rodin, kế theo sau có Barnes Foundation ở Philadelphia. Từ giữa tháng Sáu 2017 trở đi sẽ có thêm các viện bảo tàng của Buenos Aires, Sydney, Thượng Hải đồng tham gia vào chương trình sinh hoạt.
            Sở dĩ Rodin rất nổi tiếng ở nước ngoài là vì tài năng của ông được thế giới công nhận từ lúc ông còn sống. Ông là nhà điêu khắc Pháp đầu tiên được Viện bảo tàng Met (Metropolitan) của New York chọn để đặt tên cho một gian phòng triển lãm nghệ thuật điêu khắc vào năm 1912. Ông cũng là gương mặt Pháp đầu tiên có nhiều tác phẩm được trưng bày lúc sinh tiền tại Viện bảo tàng thủ đô Tokyo.
            Từ các bức kiệt tác như Le Baiser (Nụ Hôn), Le Penseur (Người suy tư) hay L’Âge d’airain (Thời đại đồng thau), các tác phẩm của Auguste Rodin đều mang đậm nét biểu hiện, nhào nặn cơ thể con người một cách tinh tế hiện thực để nhấn mạnh trạng thái nội tâm, thần sắc linh động.
            Cho dù Auguste Rodin không có chủ ý phá vỡ những quy ước cổ điển nhưng nỗ lực tìm tòi đeo đuổi sáng tạo của ông tự nó đã khai phóng cho ngành điêu khắc hiện đại. Dưới bàn tay của Rodin, ‘‘đồng thau’’ vẫn mềm dù có rắn rỏi cách mấy, ‘‘khuôn vàng thước ngọc’’ bị khuynh đảo từ lúc nào không hay…


THU HẰNG & TUẤN THẢO
Tháng 3/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170331-rodin-nguoi-thoi-hon-cho-nghe-thuat-dieu-khac
http://vi.rfi.fr/phap/20170321-phap-ky-niem-100-nam-ngay-gio-cua-rodin

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 27/06/2017, 14:11:26
Nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải sinh năm 1952 tại Biên Hòa, sau tháng 5-1975 sống tại Hoa Kỳ. Ông mất ngày 3-8-1992 tại California.

(https://3.bp.blogspot.com/-nmTZqFZAAGI/VxHnUS_43BI/AAAAAAACJ7k/dK0_jISHIo8AWjL-EBJfUJp53rISmeLMACKgB/s1600/NguyenTatNhien-001.jpg)
Cố thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên

Làm thơ năm 14 tuổi
            Theo lời những người bạn cùng trường thì Nguyễn Tất Nhiên làm thơ rất sớm khi mới 14 tuổi. Năm 1966, cùng với Đinh Thiên Phương, Nguyễn Tất Nhiên dùng bút hiệu Hoài Thi Yên Thi cho ra đời thi phẩm Nàng thơ trong mắt. Nhà thơ Du Tử Lê nhớ lại kỷ niệm mà ông có với Nguyễn Tất Nhiên trong giai đoạn này như sau:

            “Giữa năm 1970, khi tôi đang ngồi ở cà phê La Pagode ở Sài Gòn cùng với mấy người bạn của tôi là các anh Nguyễn Đình Toàn, Huỳnh Phan Anh, Nguyễn Quốc Trụ thì có một cậu học trò đẩy cửa đi vào hỏi tôi có phải là Du Tử Lê không, thì tôi nói là: “phải”. Sau đó cậu ấy tặng cho tôi một tập thơ nhan đề là Thiên Tai, và tác giả tập thơ đó tên là Hoài Thi Yên Thi. Cậu ấy cho biết là cậu đang học ở trường Ngô Quyền, Biên Hòa. Sau đó chúng tôi trở thành tình anh em rất là thân thiết. Đến lần gặp thứ hai thì cậu nói với tôi là cậu muốn có một tên hiệu khác, tức là một bút hiệu khác, vì bút hiệu Hoài Thi Yên Thi có vẻ thi văn đoàn quá. Tôi có chọn cho cậu ấy cái tên”Nguyễn Tất Nhiên”. Đó là kỷ niệm mà tôi rất nhớ.

Khúc Tình Buồn
            Trong những năm đó sinh viên học sinh miền Nam có phong trào thành lập Thi văn đoàn và những người có năng khiếu văn chương cùng tụ tập nhau lại để in những bài thơ, hay văn xuôi chung với nhau. Kỹ thuật quay ronéo để xuất bản tác phẩm của những người trẻ trong giai đoạn này rất phổ biến. Nguyễn Tất Nhiên nổi lên như một ngôi sao khi bài thơ Khúc Tình Buồn của ông được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc. Khúc Tình Buồn được đặt lại tên “Thà như giọt mưa” và trong nhiều tuần lễ sau đó, nhạc phẩm này hầu như ngày nào cũng phát trên đài phát thanh Sài Gòn được giới sinh viên học sinh chuyền tay nhau tập thơ của ông với tất cả sự thích thú vốn có của tuổi trẻ:

                        Người từ trăm năm
                        về qua sông rộng
                        ta ngoắc mòn tay
                        trùng trùng gió lộng

                        (thà như giọt mưa
                        vỡ trên tượng đá
                        thà như giọt mưa
                        khô trên tượng đá
                        có còn hơn không
                        mưa ôm tượng đá)

                        Người từ trăm năm
                        về khơi tình động
                        ta chạy vòng vòng
                        ta chạy mòn chân
                        nào hay đời cạn

                        (thà như giọt mưa
                        vỡ trên tượng đá
                        thà như giọt mưa
                        khô trên tượng đá
                        có còn hơn không
                        mưa ôm tượng đá)

                        Người từ trăm năm
                        về như dao nhọn
                        ngọt ngào vết đâm
                        ta chết âm thầm
                        máu chưa kịp đổ

                        (thà như giọt mưa
                        vỡ trên tượng đá
                        thà như giọt mưa
                        khô trên tượng đá
                        có còn hơn không
                        mưa ôm tượng đá)

                        Thà như giọt mưa
                        gieo xuống mặt người
                        vỡ tan vỡ tan
                        nào ta ân hận
                        bởi còn kịp nghe
                        nhịp run vồi vội
                        trên ngọn lông măng

                        (người từ trăm năm
                        vì ta phải khổ)

                        Khúc tình buồn

Người con gái tên Duyên
            Bài thơ “Khúc Tình Buồn” không nhắc tới tên Duyên như trong nhạc phẩm “Thà Như Giọt Mưa” của Phạm Duy. Cô gái tên Duyên này là một nhân vật có thật và học chung lớp với nhà thơ tại trường trung học Ngô Quyền thành phố Biên Hòa, và tình cảm của ông đối với cô chính là nguồn cảm hứng khiến ông liên tục sáng tác những bài thơ nổi tiếng một thời chỉ để riêng tặng cho cô. Tuổi trẻ thời ấy thích thú với những dỗi hờn rất con nít của tác giả bài thơ khi mong cho người con gái tên Duyên sẽ đau khổ muôn niên, sẽ đau khổ trăm năm… lời lẽ như là chính cô gái đã phụ tình tác giả.
            Cô gái xứ Bắc mang tên Bùi Thị Duyên ngày nào nay sống tại Michigan, Hoa Kỳ. Cô nhớ lại những kỷ niệm thật đẹp của tuổi học trò áo trắng:

            “Tụi này học chung với nhau từ năm đệ tứ. Trường đó là trường nam-nữ học chung. Đến khi học sinh đông quá thì họ phân lớp ra, trong đó có một lớp đệ tứ “mix” giữa con trai với con gái. Sau đó tôi lên học ban B thì tôi học luôn đến lớp đệ nhất, học chung với tụi con trai, trong lớp chỉ có vài cô con gái thôi. Tụi này biết nhau từ hồi nhỏ, lúc đó cũng ngây thơ, tôi chưa nghĩ gì hết, còn Nguyễn Tất Nhiên nghĩ gì hay không thì tôi không biết. Gặp nhau, biết nhau từ lúc 14, 15 tuổi. Tôi được tặng một quyển thơ mà Nguyễn Tất Nhiên nói là có ba bản chính. Một bản của Nhiên, một bản cho tôi và một bản cho ai tôi quên mất rồi. In ra khoảng chừng 100 quyển thôi. Tôi biết sự hình thành quyển thơ của Nguyễn Tất Nhiên chứ không phải không, nhưng thật ra là chẳng có gì hết, tất cả bạn bè trong lớp ai cũng biết, nhưng đó là chuyện hồi nhỏ.

            Thật ra chính cái tên Duyên mới làm bài thơ nổi tiếng. Trong tập thơ Thiên Tai, Nguyễn Tất Nhiên có rất nhiều bài nói về người thiếu nữ tên Duyên và tập thơ này viết bởi nguồn cảm hứng duy nhất đó.

            “Dĩ nhiên là phải xúc động bởi nguyên một quyển thơ viết cho tôi. Nhưng tôi đã nói với Nguyễn Tất Nhiên ngay từ đầu là mình làm bạn thôi, nếu có ý gì đó thì tôi không gặp nữa. Về sau anh ấy phải công nhận là muốn làm bạn, để còn được tiếp tục gặp một người bạn như tôi. Chắc anh ấy cũng quý tôi lắm.

Nguồn cảm hứng tôn giáo
            Thời gian trôi qua, những vần thơ nói về Duyên hay ám ảnh bởi Duyên không còn là nguồn cảm hứng chính trong thơ Nguyễn Tất Nhiên nữa. Thay vào đó nguồn hứng khởi tôn giáo bắt đầu đi vào thơ ông một cách tình cờ, bắt đầu từ bài “Hai năm tình lận đận”:

                        Chuông nhà thờ đổ mệt
                        Tượng Chúa gầy hơn xưa
                        Chúa bây giờ có lẽ
                        Rơi xuống trần gian mưa

                        Anh bây giờ có lẽ
                        Thiết tha hơn tín đồ
                        Nguyện làm cây thánh giá
                        Trên chót đỉnh nhà thờ

                        Cô đơn nhìn bụi bậm
                        Làm phân bón rêu xanh
                        Dù sao cây thánh giá
                        Cũng được người nhân danh


            Càng về sau Nguyễn càng thấy hình tượng của Chúa, của Linh Mục, Ma Soeur gần gũi với ông hơn mặc dù nhà thơ là người ngoại đạo. Vì ngoại đạo nên thơ ông không chịu sự ràng buộc của tín lý, của đức vâng lời, tôn kính. Nguyễn Tất Nhiên tung tăng trong ngôn ngữ đức tin và bởi vô úy nên những lời thơ truyền thẳng vào tâm tình người đọc, bùng lên thứ cảm nhận vừa xuýt xoa ngạc nhiên vừa lâng lâng niềm khoái cảm của người ăn trái cấm:

                        vì tôi là linh mục
                        không mặc chiếc áo giòng
                        nên suốt đời hiu quạnh
                        nên suốt đời lang thang!

                        vì tôi là linh mục
                        giảng lời tình nhân gian
                        nên không có thánh kinh
                        nên không có bổn đạo
                        nên không có giáo đường
                        (một tín đồ duy nhất
                        vừa thiêu hủy lầu chuông!)

                        vì tôi là linh mục
                        phổ lời tình nhân gian
                        thành câu thơ buồn bã
                        nên hạnh phúc đâu còn
                        nên người tình duy nhất
                        vừa thiêu hủy lầu chuông


            Nguyễn Tất Nhiên chậm rãi dìu người tình của mình nay hóa thân thành một Ma Soeur đằm thắm. Ma-Soeur-Người-yêu này nhẹ nhàng xưng tụng niềm thống hối như tín đồ xưng tội. Kẻ ngoại đạo cảm thấy Thượng Đế mỉm cưởi với mình qua ẩn dụ tràn ngập chân phước. Tình Yêu trở thành bất tử, và thánh hóa dưới ánh mắt hiền hòa của Chúa qua những vần thơ xưng tụng.

                        Ðưa em về dưới mưa
                        Nói năng chi cũng thừa
                        Phất phơ đời sương gió
                        Hồn mình gần nhau chưa?

                        Tay ta từng ngón tay
                        Vuốt lưng em tóc dài
                        Những trưa ngồi quán vắng
                        Chia nhau tình phôi thai

                        Xa nhau mà không hay
                        Hỡi em cười vô tội
                        Ðeo thánh giá huy hoàng
                        Hỡi ta nhiều sám hối
                        Tính nết vẫn hoang đàng!

                        Em hiền như ma soeur
                        Vết thương ta bốn mùa
                        Trái tim ta làm mủ
                        Ma soeur này ma soeur

                        Có dịu dàng ánh mắt
                        Có êm đềm cánh môi
                        Ru ta người bệnh hoạn
                        Ru ta suốt cuộc đời


Những năm cuối đời
            Nguyễn Tất Nhiên ở những năm cuối đời đã có những biểu hiện của chứng trầm cảm. Người thơ thường đặt những câu hỏi gần gụi với cái vĩnh hằng, là sự chết. Chết trở thành một câu hỏi lớn theo đuổi nhà thơ, như bóng ma thời gian ám ảnh sự sống không ngừng. Trong bài Thiên Thu, nhà thơ thở dài buồn bã nhận ra bóng mình in trên bức tường vôi luống tuổi mang tên “Con người”:

                        sao thiên thu không là chôn sâu?
                        nên nắng xưa còn hanh mái tóc nhầu
                        tôi đứng như xe tang ngừng ngập
                        và một họ hàng khăn trắng buồn đau!

                        sao thiên thu không là đường chim?
                        nên mây năm xưa còn trên tay phiền
                        tôi đứng như tường vôi luống tuổi
                        và những tàng xanh chùm gởi quê hèn!

                        sao thiên thu không là lãng quên?
                        nên tình xưa còn cháy âm thầm
                        tôi đứng như căn nhà nám lửa
                        và những người thân trốn chạy vội vàng!

                        sao thiên thu không là sương tan?
                        nên mặt trời xưa còn gượng huy hoàng
                        tôi đứng như dòng sông yên lặng
                        và những cánh buồm kiệt sức lang thang!


             “Cánh buồm kiệt sức” ấy không còn lang thang nữa, theo như lời kể của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, người quen thân với nhà thơ từ thuở thiếu thời:

             “Một tuần lễ trước ngày Nguyễn Tất Nhiên quyết định con đường ra đi, tôi và Nhiên ngồi với nhau ở ngoài lề đường. Tôi nói Nguyễn Tất Nhiên đi vào ăn cơm thì Nhiên nói rằng: “Cái thằng sắp chết không ăn”. Biết tính Nhiên từ lúc còn bé chơi với nhau, nên tôi cũng không để ý câu nói đó, tôi hỏi: “Vậy thì hút thuốc không?” Nhiên cũng nói rằng: “Cái thằng sắp chết không hút thuốc lá”. Và đó là lần chót mà hai đứa có trao đổi với nhau. Và tuần lễ sau thì Nhiên mất. Thực sự ra thì từ lúc chơi với nhau ở Sài Gòn trước 75, và sau 75 thân thiết hơn, thì lúc nào Nhiên cũng mang một ý định muốn tự quyết định cuộc đời mình. Mãi sau, những người bạn thân với Nguyễn Tất Nhiên đều hiểu rằng có thể đó là một lúc mà tinh thần không được ổn định thì Nhiên nói thế thôi. Anh em không còn để ý và xem đó như là một lời nói có tính cách nghiêm trọng nữa. Không ngờ một tuần lễ trước khi Nhiên quyết định tự tử, Nhiên lại nói với bản thân tôi hai lần câu: “Người sắp chết không ăn cơm và người sắp chết không hút thuốc lá.

            Nguyễn Tất Nhiên ra đi ở tuổi 40 khi còn rất trẻ, khi mầm sống thi ca đến độ chín muồi nhất. Thế nhưng đối với trường hợp riêng ông thì quyết định chọn được nằm im để hòa mình vào nguồn minh triết của suy tưởng bất diệt có lẽ là một quyết định đúng với nhà thơ khi ông chợt nhận ra cõi đời đã trở nên vô nghĩa…


MẶC LÂM
Tháng 11/2009


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Poet-nguyen-tat-nhien-mlam-11082009085257.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 29/06/2017, 16:03:07
“Tiếng hát quay tơ” Mai Hương, nửa thế kỷ tình tự ca

Năm 2008, cách đây 8 năm, ở Montreal, Canada, tôi đã hát từ biệt khán giả. Bên Mỹ này thì tôi cứ âm thầm giải nghệ, vì mình không xuất hiện trên sân khấu nữa thì người ta cũng hiểu. Thời gian phụng sự nghệ thuật đã đủ dài – Ca sĩ Mai Hương.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/mai-huong-cl-09032016204227.html/2-622.jpg/image)
Poster đêm diễn cuối cùng của Ca sĩ Mai Hương ở Montreal, Canada 2008

                        “Cành hoa tim tím bé xinh xinh báo xuân nồng
                        Đượm đà phong kín cánh mong manh hé hoa lòng
                        Hà Nội chờ đón tết vắng bóng người đi liễu rũ mà chi
                        Đêm tân xuân Hồ Gươm sao long lanh
                        Hoa mai rơi rủ nhau nơi phương xa
                        Đường phố vắng bóng đèn chạnh lòng tôi nhớ tới người em…

                        (Gửi người em gái)

            Gửi người em gái của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn – Từ Linh là bài hát được ca sĩ Mai Hương trình bày để từ biệt khán thính giả trên sân khấu Montreal, Canada năm 2008, sau hơn 50 năm, từ ngày bà bước lên sân khấu lần đầu tiên năm 12 tuổi.
            Rất nhiều người đã đề nghị bà có một buổi diễn cuối cùng để từ biệt sân khấu, nhưng bà từ chối. Và đêm diễn ở Montreal, Canada vào dịp 30 tháng Tư năm 2008 đã được xem là buổi diễn cuối cùng.

Từ năm 12 tuổi
            Câu chuyện về cuộc đời nghệ sĩ của ca sĩ Mai Hương bắt đầu từ cuộc tuyển lựa tài tử của Đài phát thanh Pháp Á. Bà ghi danh dự thi với sự khuyến khích của thân mẫu là kịch sĩ Kiều Hạnh, thân phụ là Phạm Đình Sỹ, và người cô là danh ca Thái Thanh.

Ca sĩ Mai Hương: Năm 1952, 53 gì đó, tôi mới 11, 12 tuổi thôi, ở Hà Nội vào Sài Gòn. Tôi lúc đó được cô ruột là cô Thái Thanh khuyến khích ghi tên vào chương trình thi tuyển lựa tài tử dưới thời ông giám đốc đài phát thanh Pháp Á, chương trình Tiếng Việt là ông Hoàng Cao Tăng, hát bài Chú Cuội của Phạm Duy. Vào đến chung kết mà qua bốn thời kỳ như vậy là cũng không phải dễ. Qua thời kỳ thi tuyển, tôi trúng tuyển ngay. Tuần tự như vậy vào chung kết, cô Thái Thanh tập cho bài Xuân và Tuổi Trẻ của nhạc sĩ La Hối, lời Thế Lữ. Tất cả mọi người ngồi ban giám khảo nói rằng một con bé 12 tuổi hát bài ấy là quá khó, thế là chấm đậu luôn.

            Từ cuộc thi tuyển lựa tài tử năm đó, một chương trình riêng cho thiếu nhi gọi là Thiếu sinh nhi đồng được thành lập gồm ba giọng hát là Mai Hương, Bửu Minh (Anh Minh) và Đào Nguyệt Ánh. Ban nhạc nhi đồng ấy lớn lên theo thời gian và trở thành ban nhạc Tuổi Xanh.

Ca sĩ Mai Hương: Đến lúc độ 16, 17 tuổi thì mình hát cũng khá rồi, thế là các ông ấy (trưởng ban Đài phát thanh Sài Gòn) cho lên hát ban người lớn. Từ đó tôi bắt đầu được coi là một trong những ca sĩ thường trực của đài phát thanh. Rồi sinh hoạt của tôi ngày càng mở rộng thêm. Các ông trưởng ban lúc đó là Hoàng Trọng, Văn Phụng, Y Vân…

                        “Bàng hoàng giờ phút từ ly
                        Tuy lòng đau nhưng cố quên thê nhi
                        Tần ngần chàng bước chân đi
                        Ði tới nơi xa xăm bao hình mơ…

                        (Phút chia ly)


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/mai-huong-cl-09032016204227.html/1-400.jpg/@@images/66d73370-45a8-4dbc-8036-f9597baf0ec0.jpeg)
Ca sĩ Mai Hương

Đến tiếng hát ở Đài phát thanh Sài Gòn
            Những ca khúc bà trình diễn ở Đài phát thanh Sài Gòn mang nhiều giá trị của thời gian và đòi hỏi sự thấu hiểu nhạc lý vững vàng.

Ca sĩ Mai Hương: Năm Mậu Thân, năm Mùa hè đỏ lửa 72, tôi với cô Quỳnh Giao là hai người hát tương đối nhanh và đọc được các nốt nhạc. Các nhạc sĩ làm cho đài phát thanh Sài Gòn có các loại nhạc gọi là nhạc chiến dịch. Cho nên phải có ngay ca sĩ để hát. Nhiều khi tôi đang ở nhà thì một trong những người của đài phát thanh quân đội nói rằng phải mời Mai Hương và Quỳnh Giao hát bài này ngay lập tức.
            Nếu gọi là một ca sĩ mà không có nhạc lý vững chắc thì ai có thể tập cho mình? Lên đến đài thì ông trưởng ban hoặc nhạc sĩ đưa bài hát đi sát thời cuộc, mắt nhìn nốt nhạc, mắt nhìn lời, hát và thâu ngay lập tức.


            Tháng Tư năm 1975, như hàng triệu người Việt Nam khác, bà cùng với gia đình rời Việt Nam. Từ đó, tiếng hát của Đài phát thanh Sài Gòn bắt đầu cất cao ở xứ người.
            Mai Hương bắt đầu đi hát cho những buổi đại nhạc hội hoặc trình diễn ở những chương trình rất chọn lọc như của Cung Tiến, Vũ Thành, Lê Văn Khoa, Ngàn Khơi, ban đại hợp tấu và hợp xướng Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng.
            Những nhạc phẩm bà thể hiện mang những nét rất riêng, rất Mai Hương. Tiếng hát thiên phú là đã đành, một lý do khác là do bà rất chọn lọc ca khúc để trình bày.

Ca sĩ Mai Hương: Những bài Mai Hương hát thì ít những ca sĩ khác họ hát. Cho nên khi mình muốn lưu lại một cái gì đó thì mình không hát những bài hát mà những ca sĩ khác đã hát, đã thâu nhiều rồi. Cho nên khi tôi hát, tôi tự chọn những bản nhạc của những nhạc sĩ tiền chiến mà rất ít người hát để làm kỷ niệm, lưu lại những tác giả, tác phẩm.

            Dòng nhạc bà chọn chắc chắn phải phù hợp với chất giọng và những quãng cao rất đặc biệt, rất quyến rũ của bà. Nghe Mai Hương hát một một nhạc khúc về quê hương, có thể nhìn thấy một miền quê yêu dấu đang nhẹ nhàng hiện dần lên trước mắt, gợi cho người tha phương một nỗi nhớ dạt dào.
            Nghe bà hát một ca khúc xuân, có thể thấy như nắng xuân đang rộn rã hòa vào da thịt. Mùa thu qua tiếng hát của bà là một bức tranh vàng lá cùng với cái se lạnh của mùa đông.

                        “Nghe bước chân người sương gió
                        Xa dần như tiếng thu đang tàn
                        Ôi người gió sương em mơ thương ái bao lần
                        Và chờ tin hồng đến
                        Đem mùa thu chết
                        Nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng…

                        (Buồn tàn thu)

Ca sĩ Mai Hương: Khi muốn trình bày một bản nhạc nào đó không phải chỉ nhìn lời hát cho qua đi. Mình phải gửi gắm tình cảm, tâm trạng của mình vào bài hát. Khi khán giả, thính giả nghe được thì họ rất cảm thông với các lời và cũng cảm thông với người ca sĩ là nhịp cầu nối giữa nhạc sĩ và người nghe. Không phải mình hát cho qua ngày qua buổi.

            Đúng như tấm lòng của người ca sĩ hơn nửa thế kỷ mang những bản tình ca đến cho cuộc đời, người nghe qua bao thế hệ vẫn nhớ mãi hình ảnh dịu dàng, gần gũi của bà khi bước lên sân khấu.
             “Tiếng hát quay tơ” nồng nàn của nữ ca sĩ Mai Hương để lại cho nền âm nhạc Việt Nam những sợi thương sợi nhớ về hình ảnh đất nước những ngày khói lửa chiến tranh, cũng như một quê hương xa ngàn dặm đã thuộc về quá khứ.


CÁT LINH
Tháng 9/2016



http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/mai-huong-cl-09032016204227.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 04/07/2017, 16:33:50
Nguyễn Trường Tộ: Bài học về sự phối hợp giữa trí thức và nhà cầm quyền

Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, Việt Nam chủ yếu phải vất vả đối phó với tham vọng bá quyền của anh bạn láng giềng phương Bắc. Thế nhưng, đến giữa thế kỷ 19, một “cú sốc giữa các nền văn minh” đã xảy đến giữa hai nền văn hóa Đông-Tây. Trí thức Việt Nam khi ấy là các nhà Nho đã ra sức tư duy tìm kiếm phương sách cứu quốc. Dù suy nghĩ của họ có đúng hay không, thì rõ ràng họ đã thể hiện được trách nhiệm xã hội của mình. Điển hình cho thế hệ trí thức này là Nguyễn Trường Tộ với trên 57 bản điều trần gửi cho triều đình Tự Đức. Tiếc rằng những bản điều trần đó không được nghe theo, tiếc rằng cuối cùng Việt Nam vẫn mất chủ quyền vào tay Pháp, và đó cũng là một bài học cho hậu thế về sự phối hợp giữa giới trí thức và nhà cầm quyền.

(http://www.vatgia.com/pictures_fullsize/kyk1374218021.jpg)
Một công trình đầy đủ nhất về các điều trần của Nguyễn Trường Tộ

Một trí thức “có tâm và có tầm”
            Nguyễn Trường Tộ quê làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Năm sinh của ông hiện chưa đủ tài liệu để khẳng định rõ ràng, nhưng vào khoảng các năm 1828 hoặc 1830. Dù là người theo Công giáo, một tôn giáo bị triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ ngăn cấm, nhưng cũng giống như hết thảy con em người Việt lúc bấy giờ, Nguyễn Trường Tộ từ nhỏ đã được giáo dục trong các lò Nho học. Ông nổi tiếng học giỏi từ nhỏ và được gọi là “Trạng Lộ”.
            Tuy nhiên, ngoài Nho học, do là người Công giáo, Nguyễn Trường Tộ khi ở quê nhà đã được tiếp xúc với giám mục Gauthier (tên tiếng Việt là Ngô Gia Hậu) và được người này giúp đỡ cho học chữ Pháp và một số môn khoa học thực dụng phương Tây.
            Đến cuối năm 1858, Nguyễn Trường Tộ theo cha Hậu vào Đà Nẵng, và sau đó đi chu du nhiều nơi hải ngoại như Hồng Kông (tức Hương Cảng), Malaysia, Singapore, Pháp, Roma… Ông được tiếp kiến giáo hoàng lúc bấy giờ và được giáo hoàng tặng nhiều sách về khoa học phương Tây. Đầu năm 1861, Nguyễn Trường Tộ về nước và được mời làm phiên dịch cho Pháp. Tuy nhiên, ông làm phiên dịch cho Tây trong mục đích là góp phần cho cuộc hòa đàm giữa triều đình Huế với Pháp. Đến cuối năm 1861, nhận thấy Pháp đã quyết tâm đánh chiếm Việt Nam, nên Nguyễn Trường Tộ xin thôi việc và lui về quê nhà.
            Ông không ra làm quan chính thức, dù có đôi lần nhận lời giúp triều đình Huế trong một số việc công cán, nhưng Nguyễn Trường Tộ lúc nào cũng thể hiện đúng tinh thần xã hội của một chân nho là “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”. Từ những kinh nghiệm bản thân góp nhặt được trong các chuyến chu du, từ kiến thức Hán học sâu rộng của mình, Nguyễn Trường Tộ đã liên tiếp gửi đến triều đình Huế của vua Tự Đức những đề xuất canh tân đất nước.
            Chỉ trong 10 năm từ 1861 đến 1871, Nguyễn Trường Tộ đã gửi đến triều Tự Đức khoảng trên 57 bản kiến nghị canh tân gọi là “Điều trần”. Các bản điều trần kêu gọi triều đình chấn hưng đất nước bằng cách phát triển khoa học hiện đại như các nước phương Tây, thoát khỏi những giáo điều quá ư hủ lậu của Nho giáo, kêu gọi mở rộng ngoại giao với nhiều nước khác nhằm tạo thế đa cực trong các mối quan hệ quốc tế… Bên cạnh đó, các bản điều trần cũng vẽ nên một thực trạng xã hội Việt Nam khi ấy với bộ máy hành chính cồng kềnh, nạn quan liêu hoành hành, quốc khố trống rỗng, kinh tế èo ọt, học thuật suy yếu…
            Những đề xuất của Nguyễn Trường Tộ đã không được triều Tự Đức quan tâm bởi quan lại lúc bấy giờ vị nào cũng đứng trên lập trường Nho giáo xa xưa mà lý luận về hiện trạng đất nước. Bởi vị chức sắc triều đình nào hễ bàn việc nước đều trích dẫn kinh điển Nho giáo ra làm bằng, lấy Tống Nho làm chỗ dựa, lấy chuyện đời Chu đời Đường làm khuôn vàng thước ngọc. Ngay cả vua Tự Đức, dù được cho là một ông vua sáng suốt, nhưng đối với những đề xuất canh tân của Nguyễn Trường Tộ, có khi vua Tự Đức còn tự hào cho rằng triều đình đã có đủ phương tiện để chấn hưng đất nước và rằng Nguyễn Trường Tộ quá tự tin vào sở học của mình.
            Dù không được triều đình phúc đáp, nhưng người trí thức Nguyễn Trường Tộ vẫn không nản lòng, vẫn kiên trì gửi kiến nghị lên cho triều đình. Và cứ thế, ông cứ mãi bận lòng vì việc nước. Đến cuối năm 1871, ông mất tại quê nhà.

Nguyễn Trường Tộ, tấm gương trí thức sáng ngời
            Cuộc đời và sự nghiệp của nhà trí thức Nguyễn Trường Tộ với trên 57 bản điều trần thật sự quá đồ sộ để có thể tóm lược trong vài dòng cho được. Để bao quát những tinh hoa của ông để từ đó rút ra bài học cho hậu thế, RFI Việt Ngữ đã tìm đến Giáo sư Sử Học Trịnh Văn Thảo thuộc Đại học Aix-Marseille (Cộng hòa Pháp), người có nhiều công trình khảo cứu có giá trị đã được xuất bản tại Pháp về trí thức Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20.

Lê Phước: Thưa Giáo sư, đầu tiên xin Giáo sư tóm lược đôi điều về nhà trí thức Nguyễn Trường Tộ.
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Về ông Nguyễn Trường Tộ, người ta thường nhắc đến tên ông mỗi khi vận nước gặp khó khăn, thời đại nào cũng vậy. Vậy ta có thể nhấn mạnh về khía cạnh di sản của ông. Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật lịch sử thế kỷ 19 được các nhà sử học Việt Nam và ngoại quốc nghiên cứu rất nhiều nên không thể tóm tắt dễ dàng. Riêng tôi chỉ xin đề cập đến con người và sự nghiệp Nguyễn Trường Tộ dưới ba khía cạnh:
            Thứ nhất: Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật lịch sử cận đại có tư thế đặc biệt trong thời đại giao thoa giữa hai nền văn hóa Tây phương và Đông phương, nhất là một lối giao thoa rất phức tạp và đối kháng. Trong bối cảnh đó, Nguyễn Trường Tộ nổi lên là một nhân vật lịch sử then chốt vì ba lý do: 1) Ông xuất thân trong một gia đình Nho giáo nhưng bản thân ông lại theo Thiên Chúa giáo; 2) Ông vừa thâm sâu về Hán học và Tây học; 3) Con người của ông rất phong phú. Nguyễn Trường Tộ là một nhà trí thức dấn thân tiêu biểu của giai đoạn lịch sử đó. Ông nắm được hai lợi khí là ngôn ngữ (thạo tiếng Hán và tiếng Pháp) và hiểu rõ sự khác biệt giữa hai nền tôn giáo lớn của thế giới lúc bấy giờ là Nho giáo và Thiên Chúa giáo. Ông không có thái độ mặc cảm gì cả. Ông xem vấn đề theo đạo Thiên Chúa là một vấn đề cá nhân. Nhưng đứng về mặt tư tưởng thì ông luôn là một nhà Nho có tư tưởng Đông phương rất sâu sắc.
            Thứ hai: Nguyễn Trường Tộ tiêu biểu cho nhà trí thức dấn thân của thời đó. Ông lên tiếng cảnh báo và cảnh tỉnh nhà cầm quyền Việt Nam về hiểm họa mất nước nếu không tiến hành một công cuộc cải lương toàn diện và sâu sắc. Tôi nghĩ rằng, hơn 57 bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ gửi cho vua Tự Đức không phải là một lời gào thét, kêu gọi thấm thiết, mà là một phân tích rất sâu sắc và khách quan về sự cách biệt giữa Đông và Tây. Tôi nghĩ rằng, đó là một thái độ rất tiêu biểu của một người trí thức dấn thân, vừa cận với chính quyền mà không tham dự vào chính quyền, mà cũng không xa với chính quyền để giúp đỡ chính quyền.
            Thứ ba: Có thể xem Nguyễn Trường Tộ là một nhân vật có nhiều ảnh hưởng đối với lịch sử của xứ mình. Công trình nghiên cứu của tôi về 3 thế hệ trí thức Việt Nam thời đại đó có nhấn mạnh đến ảnh hưởng của Nguyễn Trường Tộ thứ nhất là đối với Nguyễn Lộ Trạch, ngoài ra còn có những nhân vật khá quan trọng trong phong trào cải lương của triều đình Huế thời đó như Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ…
            Ảnh hưởng của Nguyễn Trường Tộ là tuyệt đối đối với thế hệ nhà Nho duy tân 1907. Tiêu biểu qua trường hợp của hai cụ Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu có thể thấy được ảnh hưởng của Nguyễn Trường Tộ đối với Nho sĩ yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ 20 như thế nào.
            Đối với thế hệ Tây học về sau, tôi nghĩ rằng, sử gia Việt Nam và ngoại quốc chưa đánh giá đúng và đầy đủ vai trò của tư tưởng cải lương Nho giáo Nguyễn Trường Tộ. Đứng về mặt tư tưởng, Nguyễn Trường Tộ là một người Nho giáo vì ông đứng trên lập trường Nho giáo để phân tích và đánh giá tình hình. Theo tôi, Nguyễn Trường Tộ ít nhất cũng có ảnh hưởng đến Hồ Chí Minh, Phan Văn Trường hay Gibert Trần Chánh Chiếu. Ở đây, tôi chỉ nói những nhân vật mà tôi cho là quan trọng nhất, tiêu biểu nhất của thời đại đó. Nhưng tôi chắc chắn, nếu có nghiên cứu sâu rộng thì sẽ thấy rằng vai trò và tính thời sự của tư tưởng và tác phong của Nguyễn Trường Tộ là rất mạnh mẽ, cần đáng được ghi chép lại.
            Tóm lại, tôi xem Nguyễn Trường Tộ là một tấm gương sáng không chỉ của hôm qua mà còn của cả ngày nay nữa.

Lê Phước: Thưa Giáo sư, vì sao đề xuất của Nguyễn Trường Tộ lại không được áp dụng?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            So sánh về những khó khăn của phong trào cải lương Nho giáo ở bên Tàu cũng như ở ta thì thấy rằng thất bại của họ cũng là tương đối thôi. Bên Tàu, những phong trào của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu là những phong trào nổ lên một lúc rồi cũng bị dập tắt dưới sự đàn áp của các thành phần bảo thủ.
            Thật ra, không phải tư tưởng Nho giáo bản thân nó đóng chặt lại trước những ý kiến đề xuất thay đổi, nhưng mà những người dựa vào Nho giáo để nắm quyền bính trong tay thì họ thấy rằng cải lương là một cái gì đó đi ngược lại lợi ích của họ, vì thế họ sẽ làm cho nó thất bại. Xứ Nhật có may mắn là có được thời đại Minh Trị, hoặc một xứ khác là Thái Lan có được những ông minh vương, biết cải cách đúng lúc để thoát khỏi gông cùm của đế quốc.
            Tôi nghĩ rằng, một phần là do tính chất bảo thủ của nhà cầm quyền. Tôi không cho cái bảo thủ đó là bao trùm cả bảo thủ của tư tưởng Nho giáo, bởi vì trong lịch sử nội bộ của Nho giáo, ta thấy có nhiều phong trào cải lương rất quan trọng, chứ không phải là chỉ có ở cuối thời Nhà Thanh mà thôi.

Lê Phước: Thưa Giáo Sư, có người cho rằng đề xuất của Nguyễn Trường Tộ đã vượt quá xa thời đại của ông nên đã thất bại?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Nếu so với phòng trào Duy Tân bên Trung Quốc hay phong trào Minh Trị bên Nhật, thì rõ ràng là nó không xa đâu. Một số sử gia, như ông Tsuboi của Nhật Bản, họ chứng minh rằng, ngược lại so với Trung Quốc, vua chúa Việt Nam mình thông minh hơn nhiều, thấy rõ vấn đề hơn nhiều. Nhưng tại sao họ lại bó mình trong chính sách bế quan tỏa cảng? Tôi nghĩ rằng, phần lớn lý do mang tính địa lý lịch sử. Việt Nam mình không thoát ly khỏi vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, bởi vậy khi thiên triều Trung Quốc không sửa đổi, thì thiên triều của ta cũng không dám thay đổi. Đó là lý do căn bản.

Lê Phước: Thưa Giáo sư, trường hợp của nhà trí thức Nguyễn Trường Tộ để lại bài học gì cho trí thức Việt Nam ngày nay?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Tôi hy vọng rằng, người Việt ngày nay thấy rõ tác phong mẫu mực của Nguyễn Trường Tộ để rút kinh nghiệm. Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ là thất bại của cả giới sĩ phu Việt Nam khi ấy. Phải làm thế nào để sĩ phu chúng ta xưa cũng như nay sáng suốt, mở mắt để đáp ứng được tình thế.

Lê Phước: Giữa nhà cầm quyền và trí thức dấn thân cần có sự phối hợp?
Giáo sư Trịnh Văn Thảo:
            Đúng. Nếu nhà cầm quyền tự thức tỉnh thì sướng quá rồi. Trí thức thức tỉnh mà đi trước nhà cầm quyền thì không thể nào thành công được vì họ không có quyền bính trong tay. Vấn đề là làm sao phối hợp nguyện vọng và sự sáng suốt của người trí thức (nếu họ có sáng suốt) với tư thế minh chủ của nhà vua. Nếu hai yếu tố đó phối hợp thì sẽ thành công, nếu hai yếu tố đó mâu thuẫn thì ta sẽ bị đặt vào một tình thế rất khó xử.
            Ta thấy rằng, trong vô vàn nguyên nhân được nêu ra cho sự thất bại của các điều trần của Nguyễn Trường Tộ, thì nguyên nhân triều đình Tự Đức bảo thủ luôn được nhấn mạnh hàng đầu. Nói cách khác, nhà cầm quyền Việt Nam khi ấy cứ khư khư bám vào ngôi nhà sắp đổ là Nho giáo để bảo vệ lợi ích bản thân và dòng tộc mà không thiết tha với mọi cải cách canh tân.
            Nói đúng ra, không phải cứ trí thức đề xuất thì thì là đúng, là sáng suốt. Nhưng vấn đề là, nếu đề xuất của trí thức quả thật là đúng, là sáng suốt thì sự được thua lại nằm ở thái độ của nhà cầm quyền. Đối với trường hợp của Nguyễn Trường Tộ, thời gian đã chứng minh tinh thần canh tân của ông là đúng đắn, và thế hệ sau của ông đã liên tục kế thừa và phát huy. Trong một xã hội Nho giáo như vậy, hành động của Nguyễn Trường Tộ là hành động của một trí thức dũng cảm, mang tính tiên phong. Thế nhưng, nhà cầm quyền khi ấy là triều đình Huế đã không tận dụng được sự sáng suốt của giới tinh hoa trong xã hội là tầng lớp trí thức để sau đó đất nước tiếp tục suy yếu và mất chủ quyền.
            Nói cách khác, trong trường hợp Nguyễn Trường Tộ thì giữa nhà cầm quyền và giới trí thức đã thiếu sự phối hợp. Bài học về sự phối hợp này giữa trí thức và nhà cầm quyền đến hiện tại vẫn còn nguyên giá trị không chỉ trong xã hội Việt Nam mà là ở bất kỳ xã hội hiện đại nào trên thế giới.


LÊ PHƯỚC
Tháng 5/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130531-nguyen-truong-to-bai-hoc-ve-su-phoi-hop-giua-tri-thuc-va-nha-cam-quyen

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 06/07/2017, 15:47:37
100 năm ngày sinh của nhà văn Pháp Jean Genet

Ngày 19 tháng 12 vừa qua, nước Pháp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của nhà văn Jean Genet. Nhân dịp này, toàn bộ tác phẩm của ông được tái bản nhưng bên cạnh đó cũng có nhiều quyển sách của giới chuyên gia nghiên cứu về Jean Genet, một đóa “tà hoa” hiếm thấy trong khu vườn văn học Pháp, thế kỷ 20.

(https://s-media-cache-ak0.pinimg.com/736x/38/77/a7/3877a775ae02e6283492a38dd461d131--images-photos-essayist.jpg)
Nhà văn Jean Genet (NXB. Gallimard)

JEAN GENET qua đời vì tai nạn vào ngày 15 tháng tư năm 1986, hưởng thọ 76 tuổi. Nhà văn lúc đó đang lâm bệnh ung thư cổ họng. Khi ra đi, ông để lại trên dưới 50 tác phẩm đủ loại: thi phẩm, tiểu thuyết, tiểu luận, kịch nói cộng thêm hàng loạt bài viết đăng trên báo và nhiều thư từ trao đổi với các nghệ sĩ cùng thời, hiện nằm trong tay Viện lưu trữ các ấn bản văn học IMEC của Pháp. Hầu hết các nhà phê bình đều công nhận cái vị trí riêng biệt và độc đáo của Genet trong văn học Pháp. Các tác giả Anh Mỹ như William S. Burroughs hay Edmund White thì vinh danh Jean Genet như một trong những ngòi bút hàng đầu của thế giới.

Tuổi thơ bị nguyền rủa
            Sinh năm 1910 tại Paris, Jean Genet bị mẹ bỏ rơi từ khi mới 7 tháng tuổi. Sau một thời gian sống trong viện mồ côi, ông được giao cho một gia đình lãnh nuôi ở vùng Morvan, miền trung nước Pháp. Thời còn nhỏ, Jean Genet học hành chăm chỉ siêng năng, nhưng sau đó ông lại không được cho đi học tiếp. Năm 13 tuổi, lần đầu tiên cậu thiếu niên trốn khỏi nhà cha mẹ nuôi. Bị bắt rồi bị xử phạt về tội ăn cắp vặt, Jean Genet phải lớn lên trong trại giam dành cho thiếu niên phạm pháp. Trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1981 do đạo diễn Antoine Bourseiller thực hiện, nhà văn Jean Genet hồi tưởng lại thời niên thiếu của mình:

            “Viết văn, đối với tôi, tựa như một phương cách cuối cùng. Từ thuở thiếu thời, lúc đó tôi mới 14, 15 tuổi, tôi đã linh cảm là khi lớn lên tôi có thể trở thành một kẻ phạm pháp: tốt lắm thì cũng chỉ là một kẻ lang thang khất thực, tệ lắm là một tên du đảng trộm cắp. Sau cấp bậc tiểu học, người ta không cho tôi đi học thêm chữ nghĩa mà lại buộc tôi đi học nghề. Có thể nói là về mặt thăng tiến xã hội, cùng lắm thì tôi chỉ có thể trở thành một tài xế xe đò, một kẻ buôn hàng thịt hay một người đi khuân vác. Nói cách khác, đó chỉ toàn là những công việc chân tay, chứ không hề có chuyện sáng tạo bằng trí óc. Tôi căm ghét cái lớp áo nghèo hèn mà người ta muốn khoác trên lưng tôi. Tôi căm ghét cái tương lai mà người khác sắp đặt cho mình. Từ thuở nhỏ, tôi chỉ muốn làm chủ cuộc đời, tự định đoạt cho bản thân. Vì thế cho nên, tôi nuôi dưỡng những cảm xúc mãnh liệt nhất trong tâm trí, và chỉ có việc cầm bút mới có thể diễn đạt nổi những gì tôi cảm nhận. Sáng tác đối với tôi là chuyện sống còn, đó là phương cách cuối cùng để giúp tôi thoát khỏi cái khuôn khổ áp đặt”.

            Jean Genet chỉ rời trại giam dành cho trẻ vị thành niên phạm pháp năm ông 18 tuổi. Một khi ra tù, ông liền đăng trình nhập ngũ, đi lính lê dương tại các nước thuộc địa ở Bắc Phi nên cũng từ đó mà ông có cảm tình đặc biệt với con người cũng như văn hóa Ả Rập. Một khi trở về quê nhà, ông lại không có điểm tựa, kiếp sống lang thang nay đây mai đó, nhiều lần ăn cắp vặt nên lại bị kết án tù giam. Nhưng cũng chính ở trong tù mà Jean Genet lại bắt đầu viết những tác phẩm mà sau này được xem như là quan trọng nhất. Trong đó có thi tập Le comdamné à mort (Kẻ tử tù – 1942), Querelle de Brest (1947), Pompes funèbres (tạm dịch là Nhà đòn – 1948), Le Journal du voleur (Nhật ký của thằng ăn trộm – 1949).

Nội dung táo bạo, bút pháp độc đáo
            Jean Genet nổi tiếng ngay tức khắc với tiểu thuyết đầu tay là Notre Dame des Fleurs (Đức Bà Muôn Hoa) phát hành vào năm 1944, nhờ vào sự dìu dắt và gửi gấm của nhà văn Jean Cocteau. Theo ông Albert Dichy, chuyên gia nghiên cứu về Genet và hiện là giám đốc quản lý Viện lưu trữ văn học IMEC (l’Institut Mémoire de l’Edition contemporaine), nếu không có văn chương, thì Jean Genet có lẽ sẽ không còn lối thoát. Nhờ vào sáng tác mà nhà văn đã thoát khỏi án tù chung thân.

            “Nếu không có sáng tác, có lẽ số phận của nhà văn Genet sẽ giống như bao thiếu niên phạm pháp khác, rơi vào cái vòng lẩn quẩn của ngục tù, bị tuyên xử kết án, sau đó được trả tự do để rồi tái phạm. Vào năm 1943, sau 3 lần bị kết án tù giam cho dù mỗi lần ông chỉ bị xử phạt nhẹ vì tội trộm cắp, nhưng do luật pháp thời đó rất nghiêm khắc, cho nên nhà văn này khi tái phạm suýt nữa lãnh án tù chung thân. Cũng may cho ông là gần nửa năm trước đó (vào tháng 9 năm 1942), tập thơ Le comdamné à mort (Kẻ tử tù) đã được in lén nhờ vào sự gửi gấm của nhà văn kiêm đạo diễn Jean Cocteau. Chính ông Cocteau đã chi tiền mướn luật sư biện hộ để giúp cho Jean Genet thoát khỏi án tù chung thân. Sở dĩ ông Cocteau làm như vậy bởi vì ông ý thức về tiềm năng sáng tác của Genet. Nhà văn Cocteau từng đọc một số bản thảo của Genet, trong đó có quyển tiểu thuyết Notre Dame des Fleurs (tạm dịch là Đức Bà muôn hoa). Một tác phẩm mà Cocteau đánh giá là táo bạo và xuất sắc, vì Genet dám thò tay bốc lên tất cả những gì mà người khác không thể nào ngửi nổi”.

            Nhờ quyển tiểu thuyết Notre Dame des Fleurs (Đức Bà muôn hoa), mà Jean Genet nổi tiếng trên văn đàn. Theo chuyên gia Caroline Daviron, có thể xem tác phẩm này là quyển tiểu thuyết đầu tiên mô tả cuộc sống về đêm của giới travesti (tức là những người đồng tính chuyên giả gái) trong bối cảnh của thủ đô Paris những năm trước đệ nhị thế chiến.
            Jean Genet nhanh chóng trở thành một hiện tượng văn học vì ngoài chủ đề táo bạo, ông còn có một bút pháp độc đáo. Trong tác phẩm, Genet nâng lên hàng anh hùng các thiểu số bị đàn áp, tôn vinh những mẫu người bị gọi là cặn bã xã hội: những tên trộm cướp, những kẻ sát nhân, hay gái mại dâm. Tuy nhiên theo bà Daviron, không thể gán cho Genet cái danh hiệu “hạn hẹp” của một nhà văn đồng tính, vì sinh thời ông từng tuyên bố rằng: ông viết sách không phải là để giải phóng những người đồng tính, mà chỉ vì tình yêu chữ nghĩa.
            Trong tác phẩm của mình, nhà văn Genet đã sáng chế một bút pháp lộng lẫy, cầu kỳ, đầy dẫy tiếng lóng đậm đặc chất thơ và phương ngữ đặc sắc. Ngoài việc thay đổi theo từng vùng miền, ngôn ngữ còn biến thể theo cách dùng của mỗi tầng lớp xã hội. Qua cách dùng phương ngữ độc đáo, Jean Genet lại trao tiếng nói cho những kẻ thấp cổ bé miệng, thành phần luôn bị bóp họng, chèn ép.

Cầm bút: gỡ bỏ mọi sự kiểm duyệt
            Về phần mình, nhà phê bình Louis-Paul Astraud là tác giả quyển sách mang tựa đề Jean Genet, tuổi xuân đánh mất (Jean Genet, une jeunesse perdue) của nhà xuất bản Diable Vauvert. Theo ông, tinh thần nổi loạn là một trong những sợi chỉ đỏ xuyên suốt các tác phẩm của Jean Genet. Các hành vi phạm pháp cũng như thái độ bất phục tùng của Genet là một cách để cho nhà văn đập phá khuôn thước gia đình, trật tự xã hội. Điều đó theo nhà phê bình Astraud bắt nguồn từ những vết thương trong tâm hồn của nhà văn Genet thời ấu thơ.

            “Một trong những kỷ niệm tuổi thơ mà sau đó Jean Genet có kể lại, là khi nhà văn còn đang ở trường tiểu học. Thầy giáo cho một bài tập làm văn, theo đó các học trò phải mô tả căn nhà và người thân trong gia đình. Thời còn nhỏ, ông Genet rất siêng năng và học giỏi, bài tập của cậu học trò này do được chấm điểm cao nhất lớp, nên được thầy giáo đọc cho các học sinh khác cùng nghe. Đến khi thầy đọc bài, cả lũ học trò nháo nhào hẳn lên, mách với thầy rằng: thằng Jean Genet chỉ biết nói láo, vì căn nhà được mô tả đâu phải là của hắn, và gia đình hắn đời nào mà yên ấm sung túc như vậy. Đến khi lớn lên, Genet cho biết là kỷ niệm này đặt nền móng cho sáng tác của ông.
            Với thời gian, nhà văn không còn oán ghét những lời nói cay độc của lũ bạn cùng trường, mà lại căm thù các định chế của nhà nước, từ việc toà án phạt ông 3 tháng tù giam dù ông chỉ ăn cắp một cuốn sách, cơ quan cứu tế xã hội không cho ông học chữ chỉ vì một khi học nghề, đi làm sớm thì họ khỏi phải trợ cấp thêm. Quan trọng hơn nữa là các cơ quan có thẩm quyền ngăn không cho ông tham khảo hồ sơ để tìm lại người mẹ ruột. Nơi nhà văn Genet, không chỉ có mặc cảm của một đứa bé bị bỏ rơi, mà còn là nỗi uẩn ức của một người không được xã hội công nhận ngay từ ban đầu. Có lẽ cũng vì thế mà Genet trong sáng tác hay trong đời thường luôn thương những kẻ bị gạt ra bên lề, về già ông dấn thân đấu tranh bên cạnh triết gia Michel Foucault cho các tù nhân, hay lên tiếng ủng hộ lập trường của người Palestine và các dân tộc nhược tiểu. Có thể nói là động lực sáng tác bắt nguồn rất nhiều từ thời thơ ấu của nhà văn
”.

            Nỗi bất hạnh tuổi thơ khiến cho nhà văn Genet nhiều lần bỏ nhà chạy trốn. Lần đầu tiên là vào năm 13 tuổi, đến lần thứ ba ông bị phạt và bị nhốt vào trại giam dành cho thiếu niên phạm pháp tại Mettray ở vùng Indre et Loire, miền Trung nước Pháp. Chính tại trại giam này, Jean Genet trải nghiệm những rung động đầu đời của lứa tuổi mới lớn và phát hiện định hướng đồng tính của ông. Giai đoạn ngục tù đối với người khác có thể là một địa ngục, nhưng trong hồi tưởng của Jean Genet lại là một thiên đường. Sinh thời, nhà văn Jean Genet cho biết:

            “Một cách ngược đời, tôi lại cảm thấy hạnh phúc khi sống trong cái cảnh địa ngục trần gian. Điều này quả thật là lạ lùng, vì tôi học được những điều bổ ích từ những người ở trong cùng một hoàn cảnh với mình hơn là học hỏi từ những người cải huấn. Đáng lẽ ra, họ có nhiệm vụ rèn luyện nhân cách cho chúng tôi, nói theo họ là giúp cho chúng tôi chọn đúng đường, đi đúng hướng. Nhưng càng gần gũi với họ, thì tôi lại càng nhìn thấy sự khinh rẻ, miệt thị. Trong mắt họ thì chẳng bao giờ, tôi có thể trở thành một con người có giá trị. Ngược lại với những người bạn tù cùng lứa tuổi, tôi lại học được cách đối xử với nhau: người bị té ngã cần được nâng đỡ, người đang chết chìm thì đừng nên nhún đầu họ xuống sâu hơn. Theo tôi, giới du côn phạm pháp lại dạy cho tôi nhiều bài học có ý nghĩa hơn là đạo đức mà những người thánh thiện luôn rao giảng. Điều mà sau này tôi sẽ cố gắng đưa vào các tác phẩm của mình”.

Người truy tìm vẻ đẹp trong ác tính
            Theo chuyên gia Albert Dichy, thuộc Viện lưu trữ văn học IMEC, những tháng ngày trong ngục tù cũng là giai đoạn manh nha rất nhiều tác phẩm lớn sau đó của nhà văn Jean Genet. Thơ vần hay văn xuôi, khá nhiều tác phẩm của Genet lấy cảm hứng từ những kinh nghiệm từng trải, kể cả những quan hệ tình dục trong tù, một chủ đề còn nhạy cảm thời nay huống chi là vào đầu những năm 50, thời mà xã hội Pháp còn chưa được cởi trói.

            “Đây là một trong những nét đặc thù của Jean Genet. Trong lịch sử văn học Pháp, có nhiều tác giả đã từng chịu cảnh ngục tù. Đó là trường hợp của các tác giả như Paul Verlaine, Guillaume Apollinaire hay François Villon, nhưng không có tác giả nào xây dựng hầu như toàn bộ tác phẩm của mình xung quanh chủ đề nhà tù, từ nội dung, cách xây dựng nhân vật cho đến cách đặt tựa cho tác phẩm. Tiêu biểu nhất là quyển Journal du voleur (Nhật ký của thằng ăn trộm), L’enfant crimninel (Đứa bé phạm tội), Haute surveillance (Canh gác nghiêm mật), La douceur du bagne (Sự êm dịu của nhà tù khổ sai). Ngay cả chủ đề tình dục trong tác phẩm của Genet cũng thường được gắn liền với cái bối cảnh này. Trong tác phẩm đầu tay của mình là tập thơ Le Comdamné à mort (Kẻ tử tù), đã manh nha tất cả những chủ đề ưng ý mà Genet sẽ phát triển sau đó…
            Trong tập thơ tình này, Genet ngợi ca cái chết với những vần thơ tuyệt vời nhục cảm. Ông dùng những hình tượng tuyệt đẹp nhưng ngôn từ vẫn không hoa mỹ khuôn sáo chẳng hạn như hình ảnh của kẻ sắp bị hành quyết cúi đầu chờ đợi lưỡi dao ngọt ngào của máy chém rơi trên cổ, như thể đang mong chờ vết cắn của tình nhân. Suốt đời, Jean Genet muốn sống với ý nguyện: tuyệt đối không che giấu, không nói dối với chính mình. Trong cái xã hội đầy phép tắc xã giao mà ông đang sống, đó đã là một hình thức nổi loạn. Sinh thời Genet đã từng tuyên bố, lúc còn nhỏ người ta định đoạt mọi thứ cho ông, khi lớn lên ông sẽ không để cho ai quyết định thay cho mình. Suy cho cùng, Genet một con người nhiều lần bị ngồi tù thấu hiểu hơn ai hết hai chữ tự do. Theo ông, ta phải tự giành lấy tự do, chứ không ai cho ta quyền tự do cả
”.

            Chính cũng vì tư tưởng của tác giả đi trước thời đại ông đang sống, mà Jean Genet được nhiều người gọi là một nhà văn nằm trong “sự canh chừng nghiêm mật của xã hội”. Theo nhà phê bình Pascal Fouché, đồng tác giả của quyển sách Jean Genet matricule 192.102 (Jean Genet số tù 192.102) nghiên cứu giai đoạn từ những năm 1910 cho đến 1944, tức là từ thuở ấu thơ cho đến những năm phát hành các sáng tác đầu tay, mỗi tác phẩm của Jean Genet tựa như một bản tuyên ngôn nhằm đập phá trật tự xã hội.

Khuynh đảo đa số bằng nghịch lý thiểu số
            Theo quan niệm của Genet: cầm bút là gỡ bỏ mọi hình thức kiểm duyệt. Sự kiểm duyệt đến từ bên ngoài là điều dễ nhìn thấy, nhưng hình thức tự kiểm duyệt do tâm trí đã bị nhồi sọ từ thuở nhỏ với luân lý giáo điều, mới thật sự là vô hình. Có lẽ cũng vì thế mà khi sáng tác, Genet rất triệt để trong cách trực diện vấn đề, không che giấu mà cũng chẳng tự kiểm duyệt.
            Nhà nghiên cứu Michel Corvin thì đi xa hơn nữa khi nhận định rằng: Nhà văn Jean Genet là người đi truy tìm vẻ đẹp trong cái xấu. Ông dùng nghịch lý của thiểu số để khuynh đảo quan niệm phải đạo của đa số. Người khác thì hướng thiện, Genet thì chỉ thích tôn vinh cái ác. Michel Corvin cho rằng: điều này càng nổi bật hơn trong các vở kịch của Genet, có những điểm gần giống với kịch của Antonin Artaud, chuyên đề cao sự độc ác của con người.
            Theo ông, để hiểu Genet thì nên đọc sách của Jean Paul Satre. Nhà văn Sartre đã từng viết hơn 500 trang (quyển Saint Genet: comédien et martyr) để giải mã hiện tượng Genet và làm lộ rõ chân tướng của nhà văn đồng tính, qua việc đối chiếu hai hình tượng: một bên là “thánh nhân” và bên kia là “tội phạm”. Chỉ khi nào họ chết một cách thảm thương thì họ mới được phong thánh tử vì đạo.
            Có lẽ cũng vì vậy mà yếu tố dục vọng không thể thiếu trong tác phẩm của Genet vì đối với nét thanh cao chỉ là sự thăng hoa của cái tục, linh hồn học hỏi từ trải nghiệm xác thịt. Nói theo Oscar Wilde, một nhà văn đồng tính khác: đạo đức thanh khiết chỉ là một loại thuốc tẩy, để rửa sạch linh hồn.


TUẤN THẢO
Tháng 1/2011


http://vi.rfi.fr/phap/20110107-100-nam-ngay-sinh-cua-nha-van-phap-jean-genet

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 11/07/2017, 11:39:46
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn

Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn sinh năm 1937 tại Dư Khánh, Ninh Thuận. Ông còn được biết qua bút hiệu Sao Trên Rừng. Ông làm thơ rất sớm và đã in ra nhiều tập thơ và truyện ngắn từ đấu những năm 60 cho tới năm 1973. Ông có bài viết đăng trên những tạp chí hay các tờ chuyên đề rất nổi tiếng của miền Nam như Thế Kỷ Hai Mươi, Khởi Hành, Bách Khoa, Sáng Tạo, Thời Tập, Thời Nay, Trình Bày, Đối Diện, Mai, Văn, Văn Nghệ…

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/poet-nguyen-duc-son-ml-05232015072118.html/ngducson-400.jpg/@@images/ca55a843-dde0-4c5d-bb40-332c514bee2d.jpeg)
Nhà thơ Nguyễn Đức Sơn (trái) và Tâm Nhiên

Một trong bốn tứ trụ thơ
            Giới văn nghệ miền Nam lúc ấy xem ông là một trong bốn tài năng thi ca mà có người gọi là tứ trụ thơ gồm: Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn, Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Bên cạnh đó ông còn nổi tiếng với tính lập dị và rất nhiều người cho rằng ông với Bùi Giáng và Phạm Công Thiện nhập lại thành những dị nhân trong văn học.
            Thơ Nguyễn Đức Sơn hầu như trái lại với cá tính của ông một cách đáng ngạc nhiên. Nếu khi nói ông thường tỏ ra bất cần đời thì khi viết ông lại trân trọng, trau chuốt từ con chữ một, ngay cả con chữ có dáng vẻ không thanh bai, cao quý mà nhiều nhà thơ tránh né ông vẫn dùng chúng một cách thông minh, hóm hỉnh và không thiếu chất triết học trong ấy.
            Là bạn với Phạm Công Thiện và Bùi Giáng, ba người chia sẻ với nhau những khác biệt nhưng cũng ôm ấp nhiều cái chung mà đôi lúc chính họ không nhận ra. Phạm Công Thiện lừng lững đi vào triết học nhìn hiện tượng tồn sinh như một bất chấp của con người trong lúc vẫy vùng để sống. Bùi Giáng đam mê cái bóng chính mình trên những vuông giấy lạnh lẽo dơ bẩn của bụi đường, của rác rưởi cuộc đời, trong khi đó Nguyễn Đức Sơn ngong ngóng nhìn đời, nhìn mình với những câu hỏi vừa ngây thơ vừa cao siêu không lời giải thích. Sơn bỏ chạy khắp bốn phương, giạt trôi như rơm khô trên từng con rạch cuộc đời mà hành trang chỉ là những thanh âm ngọng nghịu, không đủ để trở thành một tuyên ngôn của kẻ bỏ cuộc nhưng trong từng bài thơ của ông vẫn còn đó những dáng dấp của một thời hưng phấn:

            “Chửi ông cố nội tôi, chửi cha tôi tôi không giận chứ nói tôi giống Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, nhất là Bùi Giáng (nha… nha…) tôi mừng lắm mà tôi tin rằng Bùi Giáng nếu mà còn sống sẽ không đụng gì với tôi cả mà sau ngày phỏng dai… sau ngày giải phóng thì chính Bùi Giáng đã phá cái luật đó (nha… nha…) chứ tôi coi Bùi Giáng là cái thằng này ba sạo quá (cười) sạo quá đi, sạo quá mà. Mà quần chúng xin lỗi chứ nó ngu quá đi nó tường như vậy là hay (nha… nha…) Thằng Phạm Công Thiện hồi đó hồi trước giải phóng đi qua Mỹ lái máy cày mà nổi tiếng (cười). Nói tắt tôi định viết nhiều chuyện nhưng chưa được phép nói ra đây chắc có lẽ không đến nỗi xuống lỗ rồi mới viết”.

            Những lời lẽ giỡn hớt, đùa bỡn của nhà thơ như đọng lại một nỗi niềm mà nếu tinh ý người nghe có thể nhận ra trong đó là giễu cợt chính mình qua những khuôn mặt cố tri một thời cùng sống. Giễu cợt cả mình và cả thiên nhiên khi chạm phải sự dữ dội lạnh lùng của trời đất. Bài thơ “Một mình đi luồn vô luồn ra trong núi chơi” có lẽ đáng là một đặc trưng cho tính cách Nguyễn Đức Sơn:

                        Khi thấm mệt tôi đi luồn ra núi
                        Cuối chiều tà chỉ gặp cỏ hoang sơ
                        Bước lủi thủi tôi đi luồn vô núi
                        Nghe nắng tàn run rẩy bóng cây khô
                        Chân rục rã tôi đi luồn ra núi
                        Hồn rụng rời trước mặt bãi hư vô


            Nguyễn Đức Sơn không phải lúc nào cũng “luồn vô luồn ra” như một thiền sư, rất nhiều lúc ông lặng lẽ làm một công việc mà bất cứ một chàng trai nào cũng từng làm, mơ mộng và yếu đuối trước giai nhân:

                        Một đêm trăng mờ ảo
                        anh tìm về thăm em
                        phố buồn như hoang đảo
                        gió ngừng ru bên thềm
                        ánh đèn sao le lói
                        căn phòng sao đìu hiu
                        anh lặng người thầm hỏi
                        kiếp người sao tiêu điều

                        Anh đi vòng sau nhà
                        một mình như bóng ma
                        giật mình anh nghe thấy
                        có tiếng gì bay xa

                        Rồi đêm trăng mờ ảo
                        anh lại về thăm em
                        như lá vàng lảo đảo
                        anh lui về trong đêm


            Nhà thơ, người luôn thắc mắc với trời đất, với sự quanh hiu lẫn mang mang hư vô của cõi nhân gian. Hãy nghe Nguyễn Đức Sơn diễn tả cái xúc cảm mang mang ấy:

                        Mang mang trời đất tôi đi
                        Rừng im suối lạnh thiếu gì tịch liêu
                        Tôi về lắng cả buổi chiều
                        Nghe chim ăn trái rụng đều như kinh
                        Còn một mình hỏi một mình
                        Có chăng hồn với dáng hình là hai
                        Từng trưa nằm nghĩ đất dài
                        Phiêu phiêu nhẹ cái hình hài bay lên
                        Mù sương âm vọng tiếng huyền
                        Có con dơi lạ bay trên cõi đời
                        Sau xưa mắt đã ngợp rồi
                        Tôi nghe tôi chết giữa trời thinh không


Chủ đề quê hương
            Nếu nhắc tới thi sĩ từ thập niên 40 trở về sau mà không nhắc tới chủ đề quê hương của họ thì thật có lỗi. Nguyễn Đức Sơn cũng không ngoại lệ. Khi nói tới quê hương hình như bất cứ thi sĩ nào dù ngông nghênh cách mấy cũng thấy lòng lắng xuống nhường chỗ cho những dịu dàng, trân quý nhất dành cho nó. Nguyễn Đức Sơn hỏi han, vỗ về và nhắc lại kỷ niệm như một cậu bé về làng hơn là một gã thi sĩ điên khùng nói về quê cũ:

                        Tháng bảy dì về đơm nhãn
                        nhớ mang ra ít giạ chiêm
                        ruộng xưa cò bay thẳng cánh
                        gặt hái vừa độ trăng liềm

                        mười mấy năm rồi dì nhỉ
                        lạc loài xa mãi cố hương
                        giờ đây ngồi mà suy nghĩ
                        lòng dạ ai người không thương

                        quê mình ai còn ai mất
                        đi rồi gươm súng mùa thu
                        khóc mãi từng đêm lưu lạc
                        nói ra thêm oán thêm thù

                        ngõ về làm sao ngài ngại
                        xe cộ có dễ dàng không
                        kháng chiến người đi chưa lại
                        lúa khô héo cả ruộng đồng

                        ông ngoại chắc già ghê lắm
                        mấy người dì nữa nhưng thôi
                        đất cằn quê hương nứt rạn
                        kể thêm đau lòng dì ơi

                        dù sao cũng là xứ sở
                        đói nghèo đừng lạt tình thương
                        mười năm không cúng không giỗ
                        dì về ấm lại khói hương

                        tháng bảy dì về đơm nhãn
                        nhớ mang ra ít giạ chiêm
                        ở đây làm gì có bán
                        thấy người ta ăn bắt thèm.


            Đôi lúc Nguyễn Đức Sơn có nét tương đồng với Nguyễn Bính, hết tâm sự với người dì tới nhỏ nhẹ hỏi han tới chị. Trong từng khuôn chữ ấy người đọc gợn lên mối cảm hoài mà nhiều chục năm sau không còn thấy nữa.

                        Giữa mùa nắng vàng hiu hắt
                        Về đây đôi mắt dịu hiền
                        Về đây cả bàn tay đẹp
                        Đi tìm thăm xứ người em

                        Ngõ hẹp lối vào gác trọ
                        Chiều trưa nhạt nắng bên thềm
                        Bỗng dưng sao lòng se thắt
                        Vương vương đếm mấy nỗi niềm

                        Gặp nhau sao mà không nói
                        Tuổi hiền mà cũng lao đao
                        Ơ kia làm sao chị khóc
                        Tình em vẫn như dạo nào

                        Chị bảo rằng đây mưa nắng
                        Bốn mùa em có buồn không
                        Em cười làm sao cay đắng
                        Chị ơi lệ ở trong lòng


            Thi sĩ, những kẻ nghịch đời. Cuộc sống chung quanh của một thi nhân hình như được tạo hóa nặn ra cho một mình anh ta. Cành hoa lìa cuống cũng làm họ khóc huống chi cả một cuộc phân ly và hơn thế là cuộc chiến tương tàn. Nguyễn Đức Sơn sinh ra trong thời đại của đói nghèo ly tán cùng chết chóc lầm than của chiến tranh, bằng ấy thứ cộng lại trên đôi vai người Việt khiến ông như hầu hết các thi sĩ khác tất cả đều có chung một ước mơ, ước mơ thanh bình. Vậy mà cách diễn đạt cái ước mơ ấy của Nguyễn Đức Sơn cũng rất khác với mọi người. Cái khác ấy làm nên một Nguyễn Đức Sơn khác biệt.

                        Mai kia tan biến hận thù
                        Giữa đêm sao chiếu mịt mù phương đông
                        Cha về ôm cả biển sông
                        Duỗi chân duỗi cẳng nằm không một đời
                        Cho con cha hứa một lời
                        Đuổi mây thiên cổ rong chơi tối ngày
                        Thu nào tóc bạc òa bay
                        Có con chỉ trỏ mới hay tuổi già
                        Cúi hôn trời đất đậm đà
                        Cha tan theo bóng trăng tà vạn niên


            Trả lời tạp chí Bách Khoa trước năm 1975 Nguyễn Đức Sơn thú nhận: “Tôi viết vì bị thúc đẩy bởi một lực ở đằng sau và được thu hút bởi một lực ở phía trước. Ðó là những ma lực làm tôi cảm khoái huyền diệu xa xăm. Thứ cảm khoái này kéo dài được chứ không ngắn như nhục cảm. Viết được một đoạn hay tôi đi lên đi xuống thưởng thức và khoái chí. Nên tôi nghĩ rằng sáng tác cho mình trước hết.”
            Hơn 40 năm sau Nguyễn Đức Sơn hình như không còn cái hạnh phúc của “đi lên đi xuống” đó nữa, ông trả lời cùng một câu hỏi của trước đây 40 năm mà như tự hỏi lại mình:

            “Tôi ngay bây giờ tôi định làm chương trình một bãi thơ lớn lắm, bãi thơ không phải bãi c… không biết có được không (nha… nha…) bây giờ không thể trả lời ngắn được. Tôi không biết tôi viết cho bây giờ hay cho mai sau, tôi không biết được đâu vì nói sao cũng đúng hết mà nói sao cũng trật hết (nha… nha…) Bây giờ tôi đang đứng giữa đồi lên nhà xa lắm mà móc cái điện thoại ra từ trong túi áo, kim băng (nha… nha…) cây kim băng còn dính lòng thòng…
            Tôi chỉ muốn làm một người bình thường thôi ngay những người Mỹ tới đây tôi dã dặn trước con cái đừng cho họ vô nhà (nha… nha…) để cho họ khỏi hiểu lầm gì hết tôi muốn bình yên. Hiện bây giờ tôi đang bị giời leo cái bệnh ở dơ trong bụi bặm, giời leo nó khó chịu vô cùng bây giờ nhức nhối đôi khi bực bội không thể chịu được. Giời leo nha anh biết không? Không phải bà leo không phải trời leo nha…


            Nguyễn Đức Sơn có thể là một dị nhân của thi ca Việt Nam qua tính cách, đời sống cũng như nói năng trong ngôn ngữ đời thường, tuy nhiên ông không thể là một dị nhân trong sáng tác của mình vì trong mỗi vuông đất thi ca của riêng ông con người Việt Nam thấy in đậm bóng của họ trong đó. Thơ ông không tách ra khỏi cuộc đời để trở thành dị thường, nó bình thường dễ cảm và đáng ngạc nhiên nhất là rất đậm chất trữ tình của những tâm hồn dân dã.


MẶC LÂM
Tháng 5/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/poet-nguyen-duc-son-ml-05232015072118.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 13/07/2017, 17:40:24
Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa...”

Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thụy du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”... Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.

(http://www.rfa.org/vietnamese/vietnamnews/musician-anh-bang-passes-away-11132015092217.html/nhac-si-anh-bang-622.jpg/image)
Nhạc sĩ Anh Bằng

“Dòng nhạc Anh Bằng”
            Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.

            “Hãy nói về cuộc đời khi tôi không còn nữa
            Sẽ lấy được những gì về bên kia thế giới
            Ngoài trống vắng mà thôi Thụy ơi và tình ơi

            Như loài chim bói cá trên cọc nhọn trăm năm
            Tôi tìm đời đánh mất trong vũng nước cuộc đời
            Trong vũng nước cuộc đời Thụy ơi và tình ơi

            Đừng bao giờ em hỏi vì sao ta yêu nhau
            Vì sao môi anh nóng vì sao tay anh lạnh
            Vì sao thân anh run vì sao chân không vững
            Vì sao và vì sao

            Hãy nói về cuộc đời tình yêu như lưỡi dao
            Tình yêu như mũi nhọn êm ái và ngọt ngào
            Cắt đứt cuộc tình đầu Thụy bây giờ về đâu

            Thụy bây giờ về đâu anh là chim bói cá
            Em là bóng trăng ngà chỉ cách một mặt hồ
            Mà muôn trùng chia xa

            (Khúc Thụy du)

            Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thụy Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.
            Lại thêm một người nữa ra đi…
            Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ…
            Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.

            “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
            Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều
            Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?
            Ai đứng trông ai ven hồ
            Khua nước trong như ngày xưa…

            (Nỗi lòng người đi)

            Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bây giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.

Nửa đêm biên giới
            Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hòa tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.

            “Mẹ ơi biên cương giờ đây
            Trời không mưa nhưng nhiều mây
            Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
            Nghe gió rung cây đổ lá vàng
            Sương xuống mênh mang
            Khèn trong buôn xa còn vang
            Nhịp chim tiêu sơ nhặt khoan
            Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
            Con hát ca vui lều tranh nghèo
            Ôi đẹp làm sao…

            (Nửa đêm biên giới)

            Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.

            “Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
            Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
            từng lũy tre muộn phiền.
            Tôi có người vợ ngoan.
            Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…

            (Chuyện giàn thiên lý)

            Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.

            “Anh còn yêu em như rừng lửa cháy
            Anh còn yêu em như ngày xưa ấy
            Chiều xuống mờ sương
            Cửa đóng rèm buông
            Gối kề bên gối
            Môi kề bên môi
            Anh còn yêu em đường xanh ngực nở
            Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ
            Bạch đàn thâu đêm
            Bạch đàn thâu đêm
            Thầm thì tóc rũ
            Anh còn yêu em…

            (Anh còn yêu em)

            Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.

            “Khi áng mây cao dừng trên nếp trán
            Anh chợt nghe tình vỗ cánh bay
            Trái tim anh hờn dỗi trên vai
            Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy
            Bỗng mùa xuân về trên năm ngón
            Trên bàn tay lộc biếc lá non
            Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em
            Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…

            (Kỳ diệu)

Anh còn nợ em
            Rồi cũng có khi ông hóa thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.

            “Anh còn nợ em
            Công viên ghế đá
            Công viên ghế đá
            Lá đổ chiều êm
            Anh còn nợ em
            Dòng xưa bến cũ
            Dòng xưa bến cũ
            Con sông êm đềm
            Anh còn nợ em
            Chim về núi nhạn
            Trời mờ mưa đêm
            Trời mờ mưa đêm…

            (Anh còn nợ em)

            Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hòa với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:

             “Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như Khúc Thụy du, Nỗi lòng người đi…
            Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.


            Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.
            Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn… Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.


CÁT LINH
Tháng 11/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/vanct-111515-cl-11142015211228.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 18/07/2017, 21:15:06
850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris

Cách đây hơn 8 thế kỷ, vào năm 1163, vua nước Pháp thời bấy giờ là Louis VII và Đức Giáo hoàng Alessandro III đặt viên đá đầu tiên để khởi công xây cất Nhà thờ Đức Bà Paris. Giai đoạn đầu là xây dựng chính điện thánh đường do giám mục Maurice de Sully điều hành. Mãi đến hai thế kỷ sau, công trình xây cất mới chính thức hoàn tất. Năm 2013, nước Pháp tổ chức lễ hội ăn mừng sinh nhật lần thứ 850 của Nhà thờ Đức Bà Paris.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/2012-12-12T132940Z_684545298_PM1E8CC10MO01_RTRMADP_3_FRANCE-NOTREDAME-ANNIVERSARY.JPG)
Nhà thờ Đức Bà Paris thu hút hàng năm 14 triệu lượt du khách,
nhân 850 tuổi dự trù đón tiếp 20 triệu khách thăm viếng

CHƯƠNG TRÌNH lễ hội sẽ kéo dài một năm, từ trung tuần tháng 12 năm 2012 cho đến ngày cuối năm 2013. Kể từ đầu năm nay, quảng trường và mặt tiền Nhà thờ Đức Bà Paris đã được tân trang lộng lẫy, huy hoàng. Sự kiện một công trình kiến trúc đồ sộ như vậy vẫn còn đứng vững có thể được xem như nhờ có phép lạ. Nhà thờ Đức Bà vẫn tồn tại sau bao thăng trầm lịch sử, trải qua giai đoạn đập phá thời Cách mạng Pháp hay xung đột giao tranh thời Đệ Nhị Thế Chiến.
            Từ ngày đặt viên đá xây dựng đầu tiên cho tới tận ngày hôm nay, hình tượng của Nhà thờ Đức Bà Paris đã gắn liền với lịch sử nước Pháp. Chính tại nơi này mà vào năm 1230, vua Saint-Louis đã làm lễ rước vòng gai của Đức Chúa. Đội quân Thập Tự Chinh đã đưa thánh tích này từ Constantinople về Paris. Năm 1455, phiên xử nhằm minh oan và phục hồi danh dự của thánh Jeanne d’Arc đã diễn ra tại chính điện Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Hơn ba thế kỷ sau, hoàng đế Napoléon Đệ Nhất đã chọn nơi này làm lễ đăng quang vào năm 1804, với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng Pie VII. Vào cuối tháng 8 năm 1944, chuông nhà thờ đã ngân vang khi tướng De Gaulle bước vào chính điện để tưởng niệm các binh sĩ trận vong nhân ngày giải phóng thủ đô Paris khỏi ách chiếm đóng của quân đội Đức Quốc Xã.
            Vào ngày 12 tháng 12 vừa qua, Tổng Giám Mục Paris Đức Hồng y André Vingt-Trois, đã khai mạc chương trình sinh hoạt với sự hiện diện của bộ trưởng bộ Nội vụ Pháp Manuel Valls và thị trưởng Paris, ông Bertrand Delanoë. Quảng trường mặt tiền của Nhà thờ đã được thiết kế thành Lộ trình của Đức Bà, và toàn bộ các sinh hoạt đều đặt dưới sự phối hợp của tổ chức mang tên “Notre Dame de Paris 2013”. Ông Jean François Lemercier, tổng thư ký ban tổ chức chương trình kỷ niệm sinh nhật lần thứ 850 của Nhà thờ Đức Bà Paris cho biết vài nét chính:

            Trong khuôn khổ chương trình sinh hoạt nhằm kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, mục tiêu đầu tiên của chúng tôi là đón tiếp 20 triệu khách, bao gồm các đoàn thăm viếng và khách hành hương. Ngoài công việc hướng dẫn du khách, văn phòng thông tin của chúng tôi còn có nhiệm vụ phối hợp điều hành các sinh hoạt. Chẳng hạn như chúng tôi lập ra nhiều lộ trình viếng thăm: mục đích là tạo điều kiện cho khách tham quan và khách hành hương khám phá Nhà thờ Đức Bà Paris dưới nhiều góc độ khác nhau: nghệ thuật kiến trúc, lịch sử công trình, các buổi lễ thánh nhạc, các sinh hoạt tín ngưỡng, tâm linh.
            Rất nhiều ấn phẩm được xuất bản nhân dịp này để phản ánh công việc bảo tồn Nhà thờ Đức Bà Paris qua bao giai đoạn lịch sử. Chương trình kỷ niệm 850 năm Nhà thờ Đức Bà Paris kéo dài trong vòng một năm, trong đó có nhiều sự kiện quan trọng, trùng hợp với những ngày lễ lớn của người Công giáo như lễ Phục Sinh, lễ Thăng Thiên, lễ Chư Thánh… Ngoài ra, Tổng giáo phận Paris còn chủ trì nhiều sinh hoạt biểu tượng gắn liền với lịch sử của Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Vào ngày 9 tháng Hai năm 2013, sẽ có lễ rước chuông. Sau khi trùng tu mặt tiền Nhà thờ Đức Bà Paris, chúng tôi sẽ rước 9 quả chuông đồng từ vùng Normandie về Paris, rồi gắn lên tháp chuông nhà thờ. Còn ngày 6 tháng Năm năm 2013, là ngày hội thế giới của đàn ống (orgue), nhân dịp này chúng tôi phối hợp với rất nhiều thánh đường trên toàn cầu, để cùng tổ chức 850 buổi lễ thánh nhạc trên năm châu lục. Một cách tượng trưng, chúng tôi muốn thắp sáng 850 ngọn nến để mừng sinh nhật 850 tuổi của Nhà thờ Đức Bà Paris
.

            Không phải ngẫu nhiên mà Nhà thờ Đức Bà Paris đã chọn trung tuần tháng Hai năm 2013 làm lễ rước chuông. Các quả chuông đồng được trùng tu tại thị trấn Villedieu les Poêles, ở vùng Normandie, nơi có truyền thống lâu đời rèn đúc chuông nhà thờ. Sau khi làm lễ phước lành, các quả chuông đồng sẽ được đưa về tháp chuông Nhà thờ Đức Bà. Giáo sư Jean Pierre Cartier, chuyên nghiên cứu về nghệ thuật và lịch sử Paris cho biết ý nghĩa của sự kiện này:

            Vào ngày 10 tháng Hai năm 1638, tức cách đây gần bốn thế kỷ, vua Louis XIII đã ký một chỉ dụ, qua đó nhà vua thề nguyện lòng mộ đạo cũng như sự trung thành đối với Giáo hội. Cũng cần biết rằng vào thời đó, nước Pháp chưa có thể chế tam quyền phân lập, và vương triều thời bấy giờ khẳng định Công giáo như một quốc giáo. Nhưng điều quan trọng hơn nữa, là qua văn thư này, nhà vua Louis XIII đã cho tiến hành một kế hoạch trùng tu quan trọng, không những nhằm mục đích bảo tồn mà còn góp phần xây dựng thêm để khuếch trương tầm vóc của Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Tính chất nguy nga, đồ sộ của Vương cung Thánh đường không phải được xây cất một sớm một chiều, mà là nhờ vào sự kết hợp của nhiều kiến trúc sư (Jean de Chelles, Pierre de Montreuil, Pierre de Chelles, Jean Ravy, Jean le Bouteiller, Viollet le Duc…) qua nhiều thời kỳ khác nhau, nâng công trình xây dựng này lên hàng đầu nghệ thuật kiến trúc gothic. Điều mà khách tham quan cũng như khách hành hương nhìn thấy tận mắt là kết quả chung cuộc của một công trình xây dựng, nhưng đa số chúng ta ít nhận thức được tất cả những giọt mồ hôi và nước mắt đã đổ xuống để giúp cho Nhà thờ Đức Bà Paris đứng vững để rồi tỏa sáng cho tới tận ngày nay.
            Chỉ dụ của vua Louis XIII đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng, vì các triều vua sau đó tiếp tục tài trợ việc bảo tồn công trình này. Ngay bên trong Nhà thờ Đức Bà Paris, có rất nhiều tác phẩm nghệ thuật lớn, trong số này có một bức tượng điêu khắc nổi tiếng đặt ở bàn thờ chính điện. Bức tượng cho thấy vua Louis XIII quỳ gối bên phải Đức Mẹ Maria, nhà vua ở trong tư thế dâng hiến vương miện cho Thánh Nữ Bác Ái (La Pieta) để thề nguyện lòng trung thành với Đức Mẹ
.

            Một trong những sinh hoạt nổi bật của chương trình kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, chính là các buổi lễ thánh nhạc. Hàng năm, Nhà thờ Đức Bà Paris tổ chức khoảng 100 buổi trình diễn thánh ca kết hợp dàn đàn ống với các ca đoàn nhà thờ cũng như với các học sinh nhạc viện Nhà thờ Đức Bà Paris. Ông Simon Cnockaert, giám đốc khoa Thánh nhạc cho biết:

            Ngay từ thời khởi công xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, đã nảy sinh một phong trào sáng tác thánh nhạc. Phong trào này đánh dấu ngày khai sinh thể loại thánh ca đa âm phức điệu không những ở Pháp mà còn trên toàn châu Âu. Trước đó, vào thời Trung Cổ, thánh ca nhà thờ thường theo truyền thống đơn âm như thánh ca Gregory, ban đầu chỉ phổ biến trong các tu viện. Phong trào này sẽ phát triển rất mạnh, hình thành nguyên một trường phái riêng biệt hẳn hoi trong âm nhạc hàm lâm, cổ điển và nhiều tác giả lớn trải qua nhiều thế kỷ sau đó tại châu Âu từ Johannes Brahms, Anton Bruchner đến Félix Mendelson, từ Wolfgang Amadeus Mozart đến Johann Sebastian Bach đều đã góp công sáng tác làm giàu thêm bộ vựng tập.
            Khoa thánh nhạc của Nhà thờ Đức Bà Paris chẳng những duy trì truyền thống này mà còn tìm cách khuyến khích các soạn giả thời nay tiếp tục con đường sáng tác thánh nhạc như trường hợp của nhạc sĩ Yves Castagnet. Ngoài ca đoàn của Nhà thờ Đức Bà Paris, chúng tôi còn mời nhiều ca đoàn đến từ các quốc gia khác sang Paris biểu diễn. Các buổi trình diễn ở đây đều miễn phí vì mục tiêu hàng đầu không phải là kinh doanh lợi nhuận hay nhằm mục đích tiêu khiển giải trí, mà là làm giàu đời sống tâm linh của khách hành hương hay người thăm viếng đến từ thập phương
.

            Về phần mình, đô trưởng Paris, ông Bertrand Delanoë, sau khi tham gia buổi lễ khai mạc chương trình Notre Dame de Paris 2013, cho biết cảm nhận của ông cũng như ý nghĩa của chương trình sinh hoạt trong vòng 12 tháng liên tục nhằm kỷ niệm 850 năm ngày xây dựng Nhà thờ Đức Bà đối với Tòa Đô chính Paris:

            Tại thành phố Paris, ít có một địa điểm nào mà lại thấm nhuần cái hồn của thủ đô nước Pháp cho bằng Nhà thờ Đức Bà. Khoản thời gian dài 850 năm đã tạo cho công trình này một bề dầy lịch sử đáng kể, nhưng bên cạnh đó còn có cái quan hệ tình cảm gắn bó mật thiết của người dân thủ đô đối với Nhà thờ Đức Bà Paris. Một sự kiện quan trọng khác là Nhà thờ Đức Bà Paris là một trong những công trình kiến trúc lịch sử thu hút nhiều lượt du khách nhất.
            Tính trung bình, hàng năm, Nhà thờ Đức Bà Paris lôi cuốn 14 triệu lượt du khách, và đặc biệt năm nay, nhân dịp sinh nhật 850 tuổi, công trình này sẽ thu hút khoảng 20 triệu lượt khách thăm viếng. Đối với tôi, điều này rất có ý nghĩa: cho dù khách thăm viếng đến từ các vùng miền khác của nước Pháp hay là du khách nước ngoài, cho dù đối tượng này là người không theo đạo Chúa hay là khách hành hương mộ đạo, thì tất cả đều muốn chiêm ngưỡng tận mắt Nhà thờ Đức Bà Paris. Vẻ đẹp lạ thường cũng như tầm vóc đồ sộ của công trình đã biến Nhà thờ Đức Bà Paris thành một kiệt tác, một kỳ quan, điều đó vượt lên trên sự khác biệt quan điểm.
            Nhà thờ mở rộng cánh cửa để tiếp đón mọi người, bất kể quốc tịch, màu da, địa vị xã hội, hay khác biệt tín ngưỡng. Rất có thể là nhà văn Victor Hugo trong tác phẩm văn học của ông (thằng gù Nhà thờ Đức Bà Paris) đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng trong tâm trí của du khách một hình ảnh rất đẹp: Nhà thờ Đức Bà Paris do vua chúa xây cất nhưng không phải thuộc quyền sở hữu đế vương mà lại dành cho tất cả mọi người. Thông điệp ấy vẫn còn giá trị biểu tượng cho tới tận ngày nay
.


TUẤN THẢO
Tháng 2/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130201-nha-tho-duc-ba-paris

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 20/07/2017, 11:39:53
Cảm nhận sau khi coi phim Buddha 54 tập trên Internet

Từ hai ba tháng qua, hầu như ngày nào tôi cũng dành thì giờ ôn lại các bài học của Bụt Thích Ca trong tập phim Buddha, do nhà sản xuất Modi đưa lên mạng Youtube từ năm 2016. Khi được bạn bè giới thiệu cuốn phim này, tôi coi mấy đoạn đầu, rồi nhảy cách tới đoạn Buddha thành đạo (tập 34), và coi tiếp sau đó tập 41 tả cảnh Buddha về thành Ca Tỳ La Vệ thăm gia đình. Ðoạn 41 này rất hay, đạo diễn và tài tử đều diễn tả được tình cảm của Buddha và bà vợ mà ông rất thương yêu trước khi đi tu.

(https://i1.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2017/06/Duc-Phat.jpg?resize=696%2C453)
Một cảnh trong phim Buddha

TỪ ĐÓ, cuốn phim có đủ yếu tố hấp dẫn khiến tôi phải coi lại toàn bộ, song song với việc đọc lại cuốn truyện “Ðường Xưa Mây Trắng” (Lá Bối xuất bản lần đầu 1988), kể về cuộc đời và giáo pháp của đức Bổn Sư Buddha Sakyamuni.
            Cuốn phim Buddha do nhà tỷ phú B. K. Modi người Ấn Ðộ sản xuất, có thể nói đã bắt nguồn từ việc ông được đọc cuốn truyện “Ðường Xưa Mây Trắng” của Thiền Sư Nhất Hạnh, vào đầu thiên kỷ 2000. Sau khi biết tác giả Thích Nhất Hạnh vẫn còn tại thế, ông Modi đã liên lạc với nhà xuất bản Paralax lấy địa chỉ và gửi một luật sư tới Làng Mai (miền Tây Nam nước Pháp) để thương thuyết về bản quyền. Thiền Sư Nhất Hạnh từ chối không thảo luận những con số từ nửa triệu Mỹ kim được đưa ra, nhưng tỏ ý muốn gặp người làm phim. Vì vậy ông Modi đã đến gặp ông thầy trong ba ngày, từ 27 tới 29 Tháng Ba, 2006. Sau cuộc gặp gỡ, Thiền Sư Nhất Hạnh tỏ ý muốn cúng dường chư Phật, không lấy tác quyền, chỉ đề nghị ông tặng một phần tiền thu lợi (1%) giúp cho các trẻ em đói khổ của xứ Ấn Ðộ. Hiểu và cảm thông sâu xa được tâm nguyện này ông Modi rất cảm động, nên đã xin được góp thêm 1% nữa vào quỹ từ thiện cho trẻ em Việt Nam và các nước khác.
            Phóng viên Tiểu Ký đã viết trong nhật báo Người Việt: “Thiền Sư Nhất Hạnh ký hợp đồng phim “Ðường Xưa Mây Trắng” mà không lấy tiền bản quyền!”
             Nhiều người rất ngạc nhiên khi thấy báo chí loan tin về Ðại Hội Ðiện Ảnh Cannes (Pháp) ngày 23 Tháng Năm, 2006 có đăng hình Thiền Sư Nhất Hạnh và các vị đệ tử đứng tươi cười, chụp hình cùng ông Modi và phụ tá của ông. Tăng đoàn đã được mời tới Cannes trong buổi công bố việc ký kết hợp đồng cho phép làm phim về cuộc đời đức Phật dựa trên cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” của Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Cuốn phim sẽ do một nhà tư bản Ấn Ðộ, ông Bhupendra Kumar Modi, bỏ vốn. Nhưng chưa có báo nào nói về hợp đồng lạ lùng giữa Thiền Sư Nhất Hạnh và nhà đầu tư B. K. Modi, vì tác giả không lấy tiền bản quyền.
            Ðây là một hợp đồng rất đặc biệt vì không những tác giả Nhất Hạnh không nhận tiền bản quyền như thông lệ, vị thầy tu già 81 tuổi chỉ đòi hỏi một điều kiện – có lẽ duy nhất trong lịch sử phim ảnh thế giới. Ðó là: Từ người bỏ vốn (ông B. K. Modi), đến giám đốc sản xuất, người viết phim, phân cảnh, cho tới các tài tử, tất cả phải dự một khóa tu tập cùng thiền sư và tăng đoàn Làng Mai tại làng hay tại một tu viện của Làng Mai, ở Pháp, hoặc ở Hoa Kỳ (California, Vermont) hay ở Việt Nam, nếu tình cờ thiền sư có mặt ở xứ nào đúng thời gian mà nhóm làm phim đã chọn xong người, muốn tới thực tập.
            Riêng ông giám đốc sản xuất Michel Shane (từ Holywood) và người viết phân cảnh (Script writer) từ cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” sẽ phải tới Làng Mai ở hai tuần lễ để biên soạn và đưa tác giả duyệt lại chuyện phim, ngõ hầu diễn tả đúng với của ý của người viết cuốn sách. Ông Michel Shane cho báo chí biết ông muốn làm cuốn phim thành một thiên “anh hùng ca vĩ đại”. Thiền Sư Nhất Hạnh đề nghị nhóm người thực hiện cuốn phim sẽ sinh hoạt với tăng đoàn Làng Mai như một gia đình lớn, tập hạnh lắng nghe và dùng ái ngữ để thông đạt những ý kiến bất đồng nếu có. “Khi có thể hiểu nhau, thương nhau và chung sức làm phim, chúng ta mới có thể cống hiến cho thế hệ tương lai những tuệ giác của Bụt, Buddha”.
            Ông Modi rất đồng ý với Thiền Sư Nhất Hạnh. Ông cũng có ý làm một phim về cuộc đời Ðức Phật để nhân loại nhìn vào tấm gương từ bi trí tuệ của ngài mà giảm được các khổ đau, bớt chiến tranh, khủng bố.
            Ông Modi tuyên bố với báo chí trong Ðại Hội Ðiện Ảnh Cannes vừa qua rằng, sau gần 20 năm chờ đợi tìm cốt truyện hay về Ðức Phật, nay ông mới có thể thực hiện mộng ước của mình. Tuy theo Ấn Ðộ Giáo, ông Modi rất phục Bụt Thích Ca, là nhân vật có thật trong lịch sử, một đại sư vô cùng tôn kính của xứ Ấn Ðộ. Ông từng được nhiều nhà Phật học danh tiếng đề nghị các văn bản viết về cuộc đời Ðức Phật theo truyền thống Nam tông có, Bắc tông có, nhưng cho tới nay, ông mới tìm được cuốn sách hay nhất, đó là cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”.
            Ông Modi cho biết là công việc làm phim về cả cuộc đời Ðức Phật, tóm gọn trong 2 giờ đồng hồ, là chuyện vô cùng khó khăn. Nhưng ông có quyết tâm muốn làm nên hy vọng sẽ ra mắt phim tại Ðại Hội Ðiện Ảnh Cannes năm 2008!
            Vì không đầy đủ nhân duyên và có thể vì không đáp ứng được yêu cầu “tu tập” của Thiền Sư Nhất Hạnh, nên cuốn phim “Ðường Xưa Mây Trắng” không được thực hiện như ông Modi dự tính. Trong 54 tập phim mới sản xuất đây, ông Modi không làm phim theo câu chuyện “Ðường Xưa Mây Trắng” nữa, mà ông đã kể chuyện cuộc đời Buddha theo thứ tự thời gian, từ khi sinh ra tới lúc nhập diệt. Ðồng thời ông đã đưa vào phim nhiều cảnh bạo động (như Thái Tử Tất Ðạt Ða đánh nhau với Ðề Bà Ðạt Ða, các cảnh đâm chém trong chiến tranh, cùng nhiều cảnh trong các âm mưu của người em họ muốn ám hại thái tử)…
            Ông Modi đã dùng rất nhiều chi tiết trong cuốn sách cho vào phim, nhất là các chương sách diễn tả giấc mơ kỳ lạ và tâm tư của Thái Tử Tất Ðạt Ða, khi ngắm nhìn chiếc lá mà giác ngộ về toàn thể vũ trụ… chi tiết các trẻ em xin gọi thái tử là Bụt (Bud – Buddha) khi chúng gặp được con người mới giác ngộ đạo tỉnh thức, ngay trong buổi sáng ngài đắc đạo, v.v… Chi tiết Ðức Phật sau ngày thành đạo, đã dạy chú bé chăn trâu và cô gái tặng sữa cho ngài về cách ăn quýt trong Chánh Niệm, là một chi tiết độc đáo của cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”, do Thiền Sư Nhất Hạnh sáng tạo. Bài dạy ăn quýt một cách có ý thức đã được thiền sư viết trong cuốn “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức” (Lá Bối 1975), hiện nay lan truyền trong hầu hết các sách tâm lý học của Âu Mỹ, khi họ nói tới chuyện sống tỉnh thức để chữa bệnh. Một số tác giả Tây phương biến đổi bài học ăn quýt này thành ra bài học ăn trái nho khô, hay ăn cam, ăn táo, v.v…
            Chỉ tiếc cho ông Modi, nay làm bộ phim 54 tập cho TV Ấn Ðộ, ông đã không một lần nhắc tới cuốn sách “Ðường Xưa Mây Trắng” hay tác giả Nhất Hạnh, khi nói về công trình do ông sản xuất. Cố tình quên đi nguồn cảm hứng ban đầu và vẫn dùng rất nhiều chi tiết trong sách, ông Modi có lẽ sẽ “mang một món nợ” đối với tác giả. Nhưng chúng tôi nghĩ, Thiền Sư Nhất Hạnh khi biết chuyện này, cũng sẽ mỉm cười khuyên học trò, như khi xưa, họ “mách” thầy về những cuốn sách in lậu, không xin phép của nhiều nhà xuất bản vô danh, trong hai thập niên 1980 và 1990: “Ðừng bận tâm những chuyện đó con à, giáo pháp của Bụt được loan truyền rộng rãi là điều đáng vui mừng rồi”.
            Ðể độc giả biết thêm về câu chuyện “Ðường Xưa Mây Trắng” và chuyện ông Modi dự tính làm phim Buddha, chúng tôi xin đăng lại một đoạn mà báo chí quốc tế nói về ông năm 2006 như sau:

            Ông đã tổ chức nhiều hội luận khắp thế giới về hòa bình, chân lý, từ bi, và bất hại. Ông Modi được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma coi là một người bạn tốt của ngài. Dự án cuốn phim về cuộc đời Ðức Phật, theo cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng”, đã được ngài ban phép lành, và ngài sẽ có mặt tại Hollywood vào ngày 11 Tháng Chín năm nay (2006), khi cuốn phim về “Ðường Xưa Mây Trắng” chính thức được khởi công.
            Ông Modi tuyên bố với báo Hollywood Reporter: “Sau nhiều năm nuôi ý làm cuốn phim về Buddha, nay tôi mới có thể thực hiện mộng ước của mình. Tôi tìm được cuốn “Ðường Xưa Mây Trắng” từ hai năm qua, cuốn sách này đã thay đổi đời tôi và nay tôi nghĩ, phải chia sẻ niềm hạnh phúc của tôi với cả thế giới”.
            Ðược biết cuốn phim này sẽ nhắm vào lớp khán giả 15 đến 25 tuổi. Ðây là lần đầu tiên ông bỏ vốn làm phim và ông đã sang ở Hollywood, lập một công ty, Buddha Films.

            Thiền Sư Nhất Hạnh nói với báo chí: “Bụt có thể không vui vì đã bị thần thoại hóa quá nhiều trong những thế kỷ qua. Cuốn phim này có thể giúp ngài trở lại hình ảnh một con người như chúng ta”.

             “Ðường Xưa Mây Trắng” là cuốn sách kể chuyện cuộc đời Ðức Phật Thích Ca qua con mắt của chú bé chăn trâu Svasti, sau khi xuất gia, trở thành một vị đệ tử của Phật. Ðó là chú bé cúng dường cỏ bồ đề cho sa môn Tất Ðạt Ða tĩnh tọa suốt 49 ngày trước khi thành đạo. Nhiều độc giả Việt Nam cho rằng “Ðường Xưa Mây Trắng” kể chuyện đời Ðức Phật mà hấp dẫn không thua gì truyện chưởng! Các độc giả quốc tế coi đó là cuốn sách rất hấp dẫn và có phẩm chất tâm linh khiến người ta phải đọc liền, trang này sang trang khác và thấy lòng chuyển hóa.
            Xuất bản lần đầu tiên bằng Việt Ngữ năm 1988, “Ðường Xưa Mây Trắng” tiếp tục thuộc vào loại sách bán chạy nhất tại Bắc Mỹ và các xứ Âu, Á khác, đã dịch ra 20 ngôn ngữ khác nhau. Tại Trung Quốc, nhà nước Cộng Sản đã cho phép in và tái bản nhiều lần cuốn sách này bằng Hoa ngữ, từ khi họ chính thức thỉnh mời Thiền Sư Nhất Hạnh qua giảng dạy cho các tăng ni từ năm 1997 và nhiều lần các năm sau đó, cho tới năm 2007, sau khi thiền sư lên tiếng bênh vực Ðức Ðạt Lai Lạt Ma trong một buổi tiếp xúc với báo giới tại Rome, Ý.
            Tờ báo chuyên điểm sách Library Journal viết: “Ðó là cuốn sách tác giả viết bằng trái tim của mình, dùng các nguồn tài liệu quan trọng (bằng tiếng Phạn và tiếng Hán) về cuộc đời Ðức Phật. Văn phong mới mẻ, đầy chất thơ của ông có thể làm say mê các độc giả sơ cơ cũng như các Phật tử thuần thành…”


TIỂU HUYỀN
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/cam-nhan-sau-khi-coi-phim-buddha-54-tap-tren-internet/
https://www.youtube.com/watch?v=npeu6bIEf2c&index=1&list=PL6NMUKdYIlHDlmWZrHS2ujKP33FB3GSi0

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 25/07/2017, 10:49:23
Clara, người vợ cùng André Malraux vẫy vùng tại Đông Dương

Trong cuốn tiểu sử mang tựa đề “Clara Malraux” phác họa lại chân dung và cuộc đời vô cùng sôi động, phong phú của Clara Goldschmidt, người đàn bà đã góp phần tạo dựng nên huyền thoại Malraux. Clara đã cùng với tác giả Thân phận Con Người vẫy vùng ở Đông Dương; cùng André Malraux chu du vòng quanh trái đất. Cho đến hơi thở cuối cùng, Clara bao giờ cũng hướng về mối tình duy nhất: André Malraux.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/78640_une-clara-ok.jpg)
Clara và André Malraux trong hành trình về phương Đông, 1930

NGƯỜI PHÁP có câu: “Bên cạnh một người đàn ông thành công, luôn có hình bóng của một người đàn bà”. Đối với văn hào André Malraux, người đàn bà đó chính là người vợ đầu tiên ông đã cưới vào năm 1921: Clara Goldschmidt.
            Trong cuốn tiểu sử mang tựa đề “Clara Malraux” nhà xuất bản Grasset phát hành vào năm ngoái, nhà văn nữ Dominique Bona phác họa lại chân dung và cuộc đời vô cùng sôi động, phong phú của Clara Goldschmidt, người đàn bà đã góp phần tạo dựng nên huyền thoại Malraux. Clara đã cùng với tác giả Thân phận Con Người vẫy vùng ở Đông Dương; cùng ông trải qua nhiều cuộc thăng trầm trong cuộc sống; cùng André Malraux chu du vòng quanh trái đất. Clara cũng là người đàn bà cùng chia sẻ với ông bộ trưởng Văn hóa tương lai của tướng De Gaulle một đoạn đường đời cho đến khi định mệnh đưa Clara và André sang hai ngả rẽ khác nhau. Gần 40 năm chia cách – tính đến năm 1976 khi Malraux qua đời – và cho đến hơi thở cuối cùng, Clara bao giờ cũng hướng về mối tình duy nhất của bà: André Malraux.

(https://www.appl-lachaise.net/appl/IMG/jpg/clara_malraux.jpg)

CLARA GOLDSCHMIDT (1897-1982) sinh trưởng trong một gia đình giàu có. Cha mẹ bà là người Do Thái từ bỏ nước Đức thương yêu để nhận Pháp làm quê hương thứ hai. Sớm mồ côi cha, Clara đã phải tạo cho mình một chỗ đứng riêng biệt trong một gia đình trưởng giả theo khuôn mẫu “Sẩy cha, còn chú”. Bà muốn được tự do và đòi quyền tự định đoạt lấy đời mình, ngay cả khi đã về làm vợ một nhà văn nổi tiếng như André Malraux.
            Huyền thoại André Malraux, sự nghiệp văn chương và cuộc đời ông chắc chắn đã rẽ sang một ngả khác, nếu như không có Clara bên cạnh. Tháng 10 năm 1921 Clara và André làm lễ cưới tại Quận 7, Paris, chỉ vài tháng sau khi họ gặp nhau lần đầu. Thái độ chín chắn, đầy tự tin và suy nghĩ sâu sắc của một cậu thanh niên mới 20 tuổi đầu là vũ khí giúp André chinh phục con tim kiêu hãnh của một cô gái thông minh và có bản lĩnh như Clara.

            “(…) André Gide cũng phải ngạc nhiên trước những lập luận vững chắc và sắc bén của một nhà văn chưa đầy 20 tuổi, mới chập chững bước vào nghề (…) Bộ điệu và gương mặt còn non nớt của André Malraux không thích hợp với cậu thanh niên vô cùng chín chắn, hiểu rộng biết nhiều. André Malraux có sức thuyết phục rất lớn kể cả khi ông nói chuyện với những nhà văn, với các họa sĩ hay các ông chủ nhà in, giám đốc điều hành các tạp chí văn học (…) Malraux từng thảo luận về văn chương, mỹ thuật mà không hề nao núng trước những cây đại thụ của nền văn học Pháp như Gide hay Mauriac, cho dù vào thời điểm đó Gide và Mauriac đáng tuổi cha, chú của Malraux” (Trang 96).

            Về phần mình, không chỉ là cô con gái nhà giàu, Clara Goldschmidt còn là một người bạn đời lý tưởng đối với André Malraux. Bà vừa thông minh, sống động lại thích chia sẻ với André tình yêu nghệ thuật.
            Khi về làm về làm vợ André, Clara hào hứng tham dự các buổi họp mặt thân mật trong giới trí thức Paris. Trong những câu lạc bộ khép kín đó thường xuyên có sự hiện diện của những họa sĩ như Derain, Picasso hay Chagall, và rất nhiều những người bạn văn của họ. Clara và André không chỉ là những khán giả, mà họ được may mắn trực tiếp tham gia vào đời sống sôi động của giới văn nghệ sĩ Pháp thời đó.
            Cũng trong thời gian này, Clara đã sớm hiểu ra rằng, André Malraux không muốn bà lên tiếng trong bất kỳ một cuộc tranh luận nào giữa các nhà trí thức, như thể văn chương, hội họa hay nghệ thuật nói chung là những chủ đề độc quyền được dành riêng cho nam giới. Trong cuộc sống vợ chồng, khi chỉ có hai ông bà, André Malraux lắng nghe và đón nhận những phê phán của Clara một cách cởi mở. Ông hài lòng có một người bạn đời ý hợp tâm đầu. Ngược lại, trước mặt một người thứ ba, thì ông lại chỉ muốn bà im lặng để nhường lời lại cho ông.
            Ba năm đầu chung sống là những chuỗi ngày thanh thản bình an. Đôi vợ chồng trẻ Malraux cùng nhau dạo chơi trên nhiều ngả đường nghệ thuật. Đó cũng là thời gian Clara mở ra cho André những kho tàng văn học và thi ca Đức trong khi Malraux hoàn toàn xa la với ngôn ngữ của Goeth. Giai đoạn kế tiếp là những bước thăng trầm khó đoán trước: trong cuộc hành trình về phương Đông, Clara và André thiếu may mắn. Âm mưu ăn cắp tượng của ngôi đền cổ Angkor không thành. André Malraux bị sa lưới Tư pháp. Tiếp theo đó là thất bại với tờ báo Indochine – Đông Dương ở Saigon.

(https://media1.britannica.com/eb-media/20/109120-004-2105B1D4.jpg)

Hành trình về phương Đông
            Clara đã say mê với nghệ thuật của phương Đông từ bé khi tình cờ đọc được một bài phóng sự về khu quần thể Angkor với phần dẫn giải của Pierre Loti. Năm 1923 cùng với André Malraux, bà được tận mắt thưởng thức vũ điệu cung đình Khmer và cả một chân trời mới đang mở ra trước mắt hai nhà trí thức trẻ này. Khi khánh tận, André Malraux rủ vợ “làm liều”: ăn cắp một số tượng cổ tại khu Benteai Srey nơi có một ngôi đền mà viện Viễn Đông Bác Cổ chưa có thì giờ thám hiểm. Âm mưu bất thành. André Malraux bị bắt và bị tòa án Phnom Pênh kêu án ba năm tù. Clara thì được trả về Pháp.
            Trở lại Paris, Clara Malraux đã bán nốt chút tài sản còn lại. Chắt chiu từng đồng để chu cấp cho chồng còn lưu lạc tận Đông Dương. Tay trắng bà về sống với bà ngoại và với mẹ của André Malraux. Clara dốc toàn lực vào việc vận động để đem Malraux trở lại về Pháp. Đó là lẽ sống của bà. Bản kiến nghị do chính tay bà soạn thảo đã thu thập được tất cả chữ ký của các danh nhân thời đó – trừ Anatole France đang hấp hối trên giường bệnh và Paul Claudel đang vắng nhà.
            Ngày 28/10/1924 Tòa án Saigon ra phán quyết giảm án cho Malraux. Ông chỉ bị một năm tù treo và không bị cấm cửa tại Đông Dương như quyết định của Tòa án Phnom Pênh trước đây. Malraux lập tức lên con tàu Chantilly trở về Pháp.
            Năm tuần lễ sau khi quay lại Paris, André Malraux đưa Clara trở lại Viễn Đông với kế hoạch cho ra đời “Một tờ báo tự do. Một tờ báo đối diện với mọi hình thức kiểm duyệt và đương đầu với mọi định kiến. Một tờ báo để nói lên những hành vi lạm dụng quyền lực của một chính quyền thực dân, vạch trần những vụ tham nhũng gây thiệt hại cho những con người bị đô hộ” (trang 157). Tòa soạn đặt tại số 12 đường Tabert. Với sự cộng tác của luật sư Monin, ngày 17/6/1925 số báo Đông Dương đầu tiên ra đời. Clara rạng rỡ tự tay đi phát báo trên con đường Catinat.
            Một cánh cửa mới vừa mở ra cho cặp vợ chồng Malraux. Clara và André có cùng một lẽ sống: trách nhiệm phải đánh động dư luận trước những bất công đang diễn ra tại một vùng đất thuộc địa xa xôi của Pháp. Mỗi bài xã luận của André Malraux là một nhát gươm chém thẳng vào kẻ thù. Trong mắt của Clara, con mọt sách Malraux hiền lành, trong vai trò nhà báo trên đất Saigon đã trở thành một nhà đấu tranh, một người cầm bút can đảm… Tình yêu, sự kính phục của Clara đối với ông gần như vô bờ bến. Clara hạnh phúc bên cạnh một người chồng cùng chung chí hướng.
            Tờ Đông Dương chết yểu với chưa đầy 50 số báo. Vợ chồng Malraux trở về Pháp gần như với hai bàn tay trắng. Về mặt tài chính, cuộc phiêu lưu Viễn Đông lần thứ nhì là một thất bại. Nhưng họ không ra về tay không: trên con tàu đưa hai ông bà về lại cảng Marseilles, André Malraux bắt đầu sáng tác. Hành trình về phương Đông đã đem lại cho ông những chất liệu quý giá để André Malraux lần lượt cho ra đời bốn cuốn tiểu thuyết nổi tiếng: La “Tentation de l’Occident” (1926, NXB Grasset), “Les Conquérants” (1928, NXB Grasset), “La Voie Royale” (Hoàng Đạo) (1930) và “La Condition Humaine” (Thân Phận Con Người) (1933).
            Với tác phẩm này, năm 1933 André Malraux đoạt giải Goncourt, phần thưởng cao quý nhất của nền văn học Pháp.

Rạn vỡ
            André Malraux càng lên đến đỉnh cao danh vọng, Clara càng thấy xa cách ông.
            Trong cuộc hành trình về phương Đông lần thứ nhất, khi André Malraux bị Tư pháp giữ lại Phnom Pênh, Clara đã làm tất cả để Malraux được tự do. Ngày ông trở về, tại thành phố Marseille: “Trên cảng, Clara đợi chồng dưới mưa. Nàng đợi người yêu dấu nhất trong đời và có lẽ bà cũng chờ đợi một lời cảm ơn của André, để nhìn nhận công lao bà đã cứu Malraux thoát khỏi cảnh tù đày. Nước mắt nhòa với những giọt mưa trên má. Sau này bà tự thuật về cuộc hội ngộ đó như sau: “Tôi mỉm cười khi trông thấy Malraux. Có lẽ ông đã nhìn thấy tôi trước. Từ trên cao, ông tặng cho tôi một nụ cười. Tôi đón nhận nụ cười ấy như một cử chỉ đầy âu yếm, như một vòng tay mở rộng đang ôm tôi vào lòng (…) Trong một thoáng chạnh lòng, tôi chợt nghĩ đến tất cả những gì đã hy sinh: tôi nghĩ đến cha mẹ thương yêu, đến sự an toàn của chính bản thân, đến gia đình êm ấm tôi đã để lại trong quá khứ. Và tôi cảm thấy mình hạnh phúc đến gần như ngạt thở, như ngất đi và tôi đã nhắm mắt lại” (trang 149/151).

            Nhưng Clara đã hoàn toàn thất vọng:

            “Vừa đặt chân đến cảng Marseille và chưa kịp ôm hôn Clara, André Malraux đã nghiêm khắc trách nàng hai điều: thứ nhất, bà đã xích lại gần với nhà văn André Breton. Dưới nhãn quan của Malraux, trường phái siêu thực là “kẻ thù”. Điểm thứ nhì André khiển trách vợ là trong thời gian ông vắng nhà, Clara đã về ở hẳn với mẹ và bà ngoại ông trong một căn hộ nghèo nàn. Có lẽ do André Malraux xấu hổ khi cô con gái nhà giàu này phải chia sẻ đời sống đạm bạc của mẹ và bà ngoại ông”.

            Trong chớp mắt, André Malraux phủ nhận tất cả những hy sinh của người vợ trẻ, coi nhẹ tình yêu tuyệt đối nàng dành cho ông.
            Về lại Pháp sau thất bại ở Saigon với tờ báo Đông Dương, trong căn hộ nhỏ ở Paris, Clara tiếp tục công việc dịch thuật và André say mê sáng tác: “Les Conquérants”, “La voie Royale” và “La Condition Humaine” liên tục nối đuôi nhau ra đời.
            Độc giả đầu tiên và cũng là nhà phê bình khắt khe nhất đối với André Malraux bao giờ cũng là Clara. Bà đang tận mắt trông thấy một nhà văn lớn của Pháp ra đời. Clara công nhận và khâm phục tài năng của một gương mặt mới trong văn đàn Pháp nhưng đồng thời bà bắt đầu cảm thấy xa lạ với tư tưởng của chồng. Trong mắt bà văn phong của Malraux quá xa rời thực tế.
            Đỉnh cao danh vọng đối với một người cầm bút là giải thưởng văn học Goncourt: năm 1933 ban giám khảo vinh danh André Malraux qua tác phẩm “Thân Phận Con Người” (La Condition Humaine). Ngày ông đăng quang, Clara dạo bước trên một bãi sa mạc ở tận Trung Đông. Sau này bà giải thích: Malraux càng nổi tiếng bao nhiêu thì Clara càng cảm thấy xa lạ với người đang chia sẻ cuộc sống của bà bấy nhiêu.
            Có thể nói từ cuối những năm 1920 cho đến cuộc Đại chiến Thứ Hai, cuộc sống của đôi vợ chồng Malraux không phải lúc nào cũng êm thắm. Ý thức được điều đó, hai ông bà đã nhiều lần tạo cho mình những cơ hội để hàn gắn.
            Trên văn đàn Pháp nói riêng và quốc tế nói chung, André được biết đến như một nhà văn lớn. Ông được mời đi tham dự nhiều hội nghị văn học quốc tế, trong số này phải kể đến Hội nghị tại Matxcơva năm 1934. Trước công chúng, Clara chỉ là chiếc bóng bên cạnh Malraux, hay may mắn lắm thì bà mới được biết đến như một nhà dịch thuật, thông dịch viên riêng của André Malraux. Đó là điều Clara không thể chấp nhận. André Malraux đã nhiều lần nghiêm khắc lưu ý vợ: trong gia đình chỉ có một người cầm bút.
            Thế nhưng, ngay từ những ngày mới về làm bạn với Malraux, Clara đã dứt khoát không chấp nhận chỉ là chiếc bóng bên cạnh chồng. Bà không chấp nhận thân tầm gửi trong tất cả mọi lĩnh vực, từ trong cuộc sống vợ chồng đến ngoài xã hội và nhất là trên văn đàn Pháp. Bà đã phải trả giá đắt để được tự do và độc lập.


(http://2015.terres-de-paroles.com/sites/default/files/styles/principale/public/media/malraux_andrec_roger_pic-bnf-web_1.jpg?itok=KBhB6Rc3)
Không còn hình bóng Clara bên cạnh André Malraux

Hai đường thẳng song song
            Năm 1939, vợ chồng Malraux chia tay. Clara hoàn toàn tuyệt vọng. Năm 1947, André Malraux chính thức đòi ly dị. Clara dứt khoát từ chối: dưới thời Đức Quốc Xã, cái họ Goldschmidt (họ thật của bà trước khi lấy Malraux) và gốc Do Thái của bà đủ để đẩy Clara và Florence, cô con gái duy nhất bà có với André Malraux, vào cõi chết.
            Không còn chung bước với Malraux trên đường đời, Clara đã khóc rất nhiều và đã từng tuyệt vọng. Nhưng con tim kiêu hãnh của bà đã tặng cho Clara một cuộc đời thứ trong giai đoạn “hậu Malraux”. Bà được giải phóng để tự do lao vào công việc sáng tác. Clara Malraux liên tục cho ra đời nhiều tác phẩm và tiếp tục dịch sách. Bà viết văn dưới nhiều thể loại, từ tiểu thuyết đến hồi ký. Sau chiến tranh, bà cộng tác với nhiều tạp chí văn học và tự tạo cho mình một chỗ đứng mới trong hàng ngũ giới văn nghệ sĩ sau Thế chiến thứ Hai. Clara say mê viết và sáng tác. Sáng tác trong niềm đau và nỗi nhớ André.
            Về phần mình, André Malraux bỏ dần thể loại tiểu thuyết để hướng về những bài tiểu luận. Đối với Malraux, nghệ thuật là chìa khóa của cuộc đời. Clara chia sẻ với ông tình yêu nghệ thuật, nhưng trong mắt bà, nghệ thuật trước hết, là một ngôn ngữ, một phương tiện để cho con người xích lại gần nhau. Đấy chính là lẽ sống suốt cuộc đời của Clara Malraux.
            Từ khi chia tay Malraux cho đến ngày nhắm mắt, năm 1982, Clara luôn theo dõi sự nghiệp văn chương và các hoạt động của ông trên chính trường. Bà thường cảm thấy chua xót khi nhận thấy rằng, trong cương vị của ông bộ trưởng Văn hóa, André Malraux đã quay lưng lại với những lý tưởng ban đầu: không còn đứng về phía những người bị áp bức, những kẻ yếu đuối để cưỡng lại những bất công trong xã hội. Trong mắt Clara, thay đổi ấy là một sự phản bội.
            Khi chính thức ly dị với Malraux năm 1947, Clara cảm thấy nhẹ nhõm như một tù nhân vừa được trả tự do. Nhưng cho đến chết, gần như không ngày nào bà không nghĩ đến người đàn ông duy nhất bà đã lấy làm chồng: trong số 6 tập hồi ký, có đến bốn tập dành riêng để nói về đoạn đường hơn 15 năm trời bà chia sẻ ngọt bùi với André Malraux. Hình ảnh ông luôn ẩn hiện trong các tác phẩm sáng tác của bà. Trong câu chuyện hàng ngày Clara luôn tập trung để nói về Malraux, dù để khen hay chê.
            Ngược lại, André Malraux hoàn toàn không nhắc đến Clara, từ khi ông đã chọn cho mình một con đường khác. L’Espoir – Hy Vọng (1937) là tác phẩm đầu tiên ông sáng tác xa bà. Từng bước Malraux đã loại hẳn bà ra ngoài cuộc sống. Sau chiến tranh, André Malraux nối lại tình cha con với Florence, cô con gái duy nhất ông đã có với Clara. Nhưng không bao giờ ông nhắc đến bà trước mặt con gái. Malraux đã tiếp tục đi vòng quanh trái đất. Ông đã được gặp bao nhiêu vĩ nhân thời đó, từ Mao Trạch Đông, thủ tướng Ấn Độ Nehru, đến cặp vợ chồng tổng thống Kennedy… Cuộc sống riêng tư của André Malraux không phải là những chuỗi ngày êm ả: Josette Clotis, người vợ chưa bao giờ cưới chết thảm trong một sớm một chiều, hai cậu con trai của Josette với Malraux bất đắc kỳ tử trong một tai nạn xe hơi.
            Clara từng hy vọng thời gian là liều thuốc xoa dịu vết thương trong lòng Malraux. Nhưng nổi tiếng là người thù dai, cho đến hơi thở cuối cùng, ông vẫn không một lần đáp lại những lá thư của bà. Niềm an ủi duy nhất Clara nhận được là khi André Malraux qua đời, trong chúc thư ông có nhắc đến tên bà: ông để lại cho Clara một nửa tác quyền của tất cả những tác phẩm đã viết trong thời gian chung sống với bà. Món quà muộn màng này của Malraux là phần thưởng tinh thần vô giá đối với Clara: André Malraux không hoàn toàn phủ nhận vai trò của người vợ đầu tiên đối với sự nghiệp đồ sộ của mình.
            Cuộc đời Clara Malraux trải dài trên ba phần tư thế kỷ: bà trải qua hai cuộc Đại chiến, trông thấy Liên bang Xô Viết chào đời, rồi cuộc chiến Đông Dương, sự vùng lên của các nước bị đô hộ, cuộc cách mạng năm 1968, chiến tranh Israel… Suốt đời người, bà luôn hướng đến một thế giới đại đồng, và vẫn luôn chung thủy với một tình yêu duy nhất: nghệ thuật và André Malraux.


THANH HÀ
Tháng 3/2011


http://vi.rfi.fr/phap/20110311-clara-nguoi-vo-cung-andre-malraux-vay-vung-tai-dong-duong

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 27/07/2017, 11:53:09
Nhóm “Sáng Tạo” của thập niên 1950

Một nhóm văn nghệ sĩ của thập niên 1950 đã làm nên kỳ tích là thành lập tờ báo Sáng Tạo để rồi sau đó lấy làm tên riêng cho nhóm mình, bắt đầu một chặng đường tuy không dài trong lịch sử văn học nhưng đủ để lại nhiều dấu ấn đáng kể cho dòng văn học còn khá phôi thai của nước nhà.

(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/2008-review-legal-system-in-vietnam-part-2-01272009124344.html/TranThanhHiep2_by-VietTan9-2004.jpg/image)
Luật sư Trần Thanh Hiệp

CUỘC DI CƯ của đồng bào Miền Bắc vào năm 1954 đã để lại nhiều dấu ấn cho dân tộc và sự chuyển đổi này đã hình thành những biến cố có tính chất lịch sử, trong đó phải kể đến sự thành lập nhóm Sáng Tạo. Nhóm gồm những sinh viên từ Miền Bắc di cư vào Nam vào thời gian đầu của năm 1954. Họ họp nhau lại trong một tờ báo, và từ tờ báo này những khai phóng và vận động đổi mới văn học đã ra đời, tạo thành một phong trào kêu gọi sáng tác trong tâm thức mới cho rất nhiều văn nghệ sĩ, không những cho thời bấy giờ mà còn kéo dài nhiều năm sau đó.

Những ngày đầu gặp gỡ
            Luật sư Trần Thanh Hiệp, thành viên chủ chốt của nhóm kể lại những ngày đầu tiên khi nhóm sinh viên từ Bắc vào Nam gặp nhau như thế nào:

LS Trần Thanh Hiệp: Đây là câu chuyện đã xảy ra cho đến nay là hơn 50 năm. Trước tiên, nhóm Sáng Tạo ra đời đúng vào đợt di cư lớn từ Miền Bắc vào Miền Nam năm 1954. Khi đất nước bị chia đôi, một triệu người đã từ Miền Bắc vô Miền Nam mà trong đó có đủ tất cả các thành phần và nhất là thành phần trẻ. Chúng tôi, lúc bắt đầu, không dự định ra tờ báo Sáng Tạo vì phương tiện ít ỏi. Chúng tôi lúc đó mấy anh em cũng tình cờ gặp nhau thôi, đó là anh Nguyễn Sỹ Tế, anh Doãn Quốc Sỹ, anh Thanh Tâm Tuyền và tôi gặp nhau thì chúng tôi bắt đầu bằng việc cộng tác với một tờ nhật báo và tờ nhật báo đó dành cho chúng tôi một trang gọi là “Trang Văn Nghệ” mỗi tuần ra một lần.

            Và sự xuất hiện của nhà văn Mai Thảo đã nảy sinh ý tưởng thành lập nhóm qua lời kể lại của Luật sư Trần Thanh Hiệp:

LS Trần Thanh Hiệp: Trong cái khuôn khổ của sự hợp đồng đó chúng tôi gặp thêm một người mới, đặc biệt, gửi đến cho chúng tôi một tác phẩm đầu tay của ông, đó chính là nhà văn Mai Thảo (và ông đã) gửi tới tập truyện ngắn đầu tiên có tựa đề là “Đêm giã từ Hà Nội”. Khi đọc qua, chúng tôi thấy đó là một nguồn rung cảm mới với một văn phong mới, thì chúng tôi bàn với nhau là mời ảnh đến để xem có thể làm chung với nhau việc gì. Và chính trong cuộc gặp gỡ đó giữa mấy anh em chúng tôi đã nẩy ra ý kiến là ra một tờ nguyệt san lấy tên là Sáng Tạo.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/author_Doan_Quoc_Sy_MLam-06232008172417.html/Doan_Quoc_Sy_vietnamlit.org.jpg/image)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

            Nhà văn cũng là nhà giáo Doãn Quốc Sỹ nhớ lại những hoạt động lúc ấy của cả nhóm:

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Vào Nam, tôi ở trong đoàn gọi là “Sinh viên Hà Nội di cư” mà anh Trần Thanh Hiệp làm chủ tịch. Tôi có đứng ra làm chủ nhiệm một tờ báo lấy tên là “Người Việt”, tôi đứng làm chủ nhiệm, rồi trong đó có Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, v.v… Báo “Người Việt” cũng chỉ ra được mấy số thì đình bản. Thế rồi sau đó chúng tôi gặp thêm được Mai Thảo, xúm lại để ra tờ báo mà có thể gọi đó là nguyệt san Sáng Tạo. Tờ Sáng Tạo của chúng tôi ra cứ một tháng một kỳ, ra được cho đến số – nếu tôi nhớ không lầm là khoảng số 31 thì đình bản. Sau đó cũng lại cố gắng ra được thêm vài số nữa rồi hoàn toàn đình bản hẳn.
            Trong nhóm Sáng Tạo bắt đầu thì có anh Thanh Tâm Tuyền là trẻ và anh cũng là người mà tôi thấy là đem lại đường hướng mới trong lãnh vực thi ca, mới về tư tưởng hay là cách diễn đạt. Cách chấm câu của Mai Thảo cũng đem lại đường nét mới cho văn chương của cái thuở ban đầu lúc chúng tôi di cư vào Miền Nam.


Tự Lực Văn Đoàn
            Ngoài những sáng tác để lại cho đời sau của các tác giả như Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sỹ Tế, Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng hay Cung Tiến, nhóm Sáng Tạo thường tổ chức những cuộc hội thảo nhằm tìm hướng đi cho nhóm của mình. Một trong những cuộc hội thảo đáng chú ý nhất sau này được đặt tên là “Bốn cuộc thảo luận của nhóm Sáng Tạo”. Và một trong bốn đề tài mà nhóm Sáng Tạo mang ra mổ xẻ là Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh lãnh đạo.
            Như chúng ta đều biết, văn học Việt Nam thật sự chuyển mình để trở thành một dòng văn học có bản sắc riêng từ khi Tự Lực Văn Đoàn thành hình, gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh xã hội về cách sống, cách nghĩ và quan trọng hơn cả là sự nhận thức giữa cá nhân đối với cộng đồng. Tự Lực Văn Đoàn gây thành một phong trào rộng lớn và ảnh hưởng sâu sắc tới giới thanh niên trí thức tiểu tư sản, khiến thanh niên sinh viên mạnh mẽ cởi bỏ những gì mà họ bị trói buộc từ trước đến giờ để xung phong vào công tác xã hội, hay tham gia các phong trào có tính bài phong đả thực, tùy theo hoàn cảnh và tâm trạng của từng người. Về mặt văn học, Tự Lực Văn Đoàn đã vạch hẳn một lối đi mới qua các tác phẩm mang tính điển hình mà khuôn mẫu và nội dung của nó vẫn được xem là mẫu mực qua nhiều thời đại.
            Tuy nhiên đối với nhóm Sáng Tạo thì những thành tựu của Tự Lực Văn Đoàn cần phải xét lại. Những thành viên trong nhóm Sáng Tạo cho rằng Tự Lực Văn Đoàn vẫn còn hạn chế trong việc khai phóng một nền văn chương thật sự cho đất nước. Sáng Tạo đã đưa ra nhiều nhận xét mà người đọc khó thể khó chấp nhận, nhưng nhìn trên khung cảnh lịch sử văn học thì những sự chống đối của Sáng Tạo không nằm ngoài phạm vi mong muốn một sự khai phá và đổi mới triệt để. Có thể ngôn ngữ của các thành viên Sáng Tạo hơi quá khích hay chủ quan, nhưng cốt lõi vấn đề được họ đào bới rất khách quan và cần thiết cho bất cứ một nền văn học nào. Khao khát khai phá cái mới, cái cần thiết cho một nền văn học là mục tiêu cũng là lý tưởng của các thành viên trong nhóm.

Văn nghệ tiền chiến
            Trong khi thảo luận đề tài “Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam”, Nguyễn Sỹ Tế, một thành viên trong nhóm Sáng Tạo, cho rằng Nghệ thuật tiền chiến là một nghệ thuật của những rung cảm hời hợt, giả tạo. Một phần bởi hoàn cảnh lịch sử an bình không có những thắc mắc sâu xa (ngoại trừ một số ít người long đong làm việc nước), và lịch sử dân tộc hầu như chưa có được những nối kết chặt chẽ với lịch sử nhân loại. Một phần do sự bỡ ngỡ của con người bấy giờ trước sự tiếp nhận cả một lịch sử tiến hóa lâu dài của văn học nghệ thuật Tây phương, nên bối rối trong sự phán xét và lựa chọn các giá trị.


(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/PoetThanhTamTuyenInCommemoration_TNga-20060403.html/ThanhTamTuyen150.jpg)
Thanh Tâm Tuyền

            Thanh Tâm Tuyền mạnh mẽ hơn khi nói rằng nông cạn của nghệ thuật tiền chiến, lỗi chính vẫn là ở những người sáng tác, không phải ở hoàn cảnh. Sự va chạm mạnh mẽ giữa văn hóa Đông-Tây đầu thế kỷ, các nhà văn Tự Lực Văn Đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm, mà trong đó dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp, không bảo thủ luyến tiếc quá khứ thì họ lại đuổi theo một thứ tình cảm cá nhân để giải quyết cho riêng mình.

Hội họa Việt Nam
            Ở đề tài “Ngôn ngữ mới trong hội họa”, Thanh Tâm Tuyền một lần nữa, rất xuất sắc nhận xét rằng hội họa Việt Nam không có quá khứ, và đây là điều đáng mừng. Ông cho rằng quá khứ không nặng nề nên hội họa Việt Nam tiếp xúc rất dễ dàng với Tây phương. Ông nói “Hội họa Việt Nam” chỉ là một quy định có tính chất địa danh mà thôi.
            Trong hoàn cảnh phôi thai của nền hội họa thời bấy giờ mà nhóm Sáng Tạo đã ý thức được hội họa và văn chương có quan hệ mật thiết như thế nào, đã khởi đầu cho một cuộc vận động toàn diện nhằm hòa nhập thật sự vào dòng chảy văn học thế giới. Sự nhấn mạnh đến những phong trào, những khuynh hướng sáng tác đã tác động đến vấn đề sáng tác và nhận thức mỹ học ra sao đã khiến nhóm Sáng Tạo được nhiều văn nghệ sĩ lẫn trí thức tin tưởng hơn vào chủ trương lẫn lý thuyết của nhóm.


(http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/SpecialProgramForMotherDay_TNga-20060514.html/ToThuyYen150.jpg)
Tô Thùy Yên

Nghệ thuật thi ca
            Về thơ, có lẽ là vấn đề mà nhóm Sáng Tạo quan tâm đến nhiều nhất. Trong bài nói chuyện mang tiêu đề: “Nói chuyện về thơ bây giờ” Tô Thùy Yên phát biểu:

            “Tôi không có tham vọng định nghĩa thơ, nhưng hiểu thơ bây giờ như thế này và gọi là những đức tính của thơ: thứ nhất, Thơ ném sự xáo trộn vào một trật tự, phá hủy những cấp bậc của lý trí (thế nào tốt-xấu, không tốt và không xấu); Thơ là phản nghĩa của sự bình thản, dửng dưng, lạnh nhạt, quân bình và tự nhiên, nó là một cách khiến người ta từ chối những gì đã chấp nhận trước để tạo một thăng bằng chông chênh; thứ hai, tạo một niềm tin không có đối tượng đích xác, không có tín điều, không có úy lạo, không liên tục và cũng không thường xuyên; thứ ba, nghệ thuật (nhất là tiểu thuyết và sân khấu) có một nhiệm vụ là biến cái không thật thành thật; Thơ cũng thế, nhưng còn thêm một nhiệm vụ nữa, trái ngược lại biến cái thật thành cái không thật; Tóm lại, thơ đưa người đọc vào một tình trạng báo động và tất cả những đức tính kể trên của thơ bây giờ đều vô bổ không đâu ngoài sự nghi ngờ nó mang đến cho người đọc những giá trị đã được xếp loại và công nhận”.

            Trong khi đó, Thanh Tâm Tuyền phủ nhận cách nhìn nhận Thơ của Tô Thùy Yên khi ông nói:

            ”Tô Thùy Yên nêu lên quy định chủ quan, riêng cho thơ Yên. Định nghĩa thì trí thức quá. Thơ bây giờ vẫn giữ cái phần tinh túy của thi ca từ xưa đến giờ. Như Hégel đã nói thơ chính là phần nghệ thuật trẻ nhất của nhân loại. Thời đại khi báo một tương lai mới là lúc thơ phát triển mạnh nhất. Thơ là một tiếng nói hòa đồng. Thơ dẫn vào một thế giới hòa đồng. Ở thơ không thể có không khí của một thế giới bất trắc. Thơ bây giờ cũng vậy. Không muốn rơi vào ngõ bí cần phải tìm thấy một niềm tin tưởng dù có thể hết sức ngây thơ. Tô Thùy Yên đã nhìn thấy niềm tin không đối tượng là đã tìm thấy niềm tin đó. Một xã hội báo hiệu điềm chết nếu không có thi ca. Và chính Thi ca báo hiệu sự sống tương lai”.

            Nguyễn Sỹ Tế lại dẫn đề tài về một hướng khác khi ông cho rằng cả Tô Thùy Yên và Thanh Tâm Tuyền đều chủ quan và rất hiền lành:

            “Cả hai ý kiến của Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên đều chủ quan và hiền lành. Các anh đã gán cho thi ca những cứu cánh quá cao xa và hướng vào một thứ thẩm mỹ còn “cổ điển”. Tôi thấy thi ca chỉ là một hiện tượng cá nhân, trong đó những yếu tố trí tuệ, tâm lý, sinh lý của nhà thơ và người đọc thơ bị khuấy động. Tôi nghiêng về một thứ thẩm mỹ của sự chênh vênh, của sự mất cân đối, một thứ thẩm mỹ của sự va chạm”.

            Sự ra đời của nhóm Sáng Tạo trong giai đoạn chuyển tiếp của hai khuynh hướng chính trị đã tạo ra nhiều hào quang cũng như hệ lụy cho các thành viên trong nhóm. Hầu hết các thành viên đều bị lao động cải tạo sau khi Miền Nam bị mất. Một vài người may mắn thoát ra nước ngoài như Trần Thanh Hiệp, Mai Thảo thì không thể tiếp tục làm được gì nhiều ngay cả việc sáng tác cũng gặp khó khăn.

Nhạc sĩ Cung Tiến: Nhóm Sáng Tạo là cái nhóm nổi tiếng nhất, xuất phát từ con người di cư nhưng đó là con đường văn học nghệ thuật của Miền Nam tự do. Hoạt động nhằm mở ra một con đường mới về ngôn ngữ, hình ảnh cũng như về lý tưởng tự do, đó là nhóm Sáng Tạo.

            Điều mà Sáng Tạo để lại cho đời sau đúng như nhạc sĩ Cung Tiến, một thành viên trong nhóm đã nhận xét, đó là điều mà họ cố đạt tới là lý tưởng tự do, tự do trong sáng tạo.


MẶC LÂM
Tháng 3/2009


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/Sang-tao-group-a-beginning-of-innovation-movement-mlam-03012009101014.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 01/08/2017, 13:34:29
Sách khiêu dâm Fifty Shades soán ngôi Harry Potter

Thuật ngữ chuyên ngành xuất bản dùng chữ best seller để chỉ các quyển sách bán chạy nhất. Giờ đây, người ta lại sáng chế thêm một từ mới “sex seller” để nhắc đến trường hợp của bộ tiểu thuyết khiêu dâm Fifty Shades of Grey của nữ tác giả E.L James.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/fifty%20grey%20953ccaac-e089-11e1-b4be-41501785d430-493x328.jpg)
Fifty Shades of Grey sẽ ra mắt độc giả Pháp mùa thu 2012

BỘ TIỂU THUYẾT Fifty Shades of Grey gồm ba tập dày 1.500 trang, quyển đầu tiên được phát hành vào mùa hè năm 2011. Tính đến nay, lượng sách bán ra đã lên tới hơn 40 triệu cuốn chỉ riêng trên thị trường Anh quốc. Theo trang mạng amazon, sau khi qua mặt Da Vinci Code, bộ tiểu thuyết dành cho người lớn này còn phá vỡ kỷ lục phát hành trực tuyến, do bộ sách phù thủy tí hon Harry Potter nắm giữ.
            Số liệu này chỉ liên quan đến nguyên tác tiếng Anh. Ngành xuất bản chờ đợi thêm nhiều kỷ lục mới vì phiên bản chuyển dịch của Fifty Shades of Grey sẽ được tung ra tại 60 quốc gia vào mùa thu sắp tới. Độc giả ở Pháp nếu thật tình muốn đọc quyển này, phải đợi đến 17/10, ngày phát hành bản dịch tiếng Pháp (của nhà xuất bản J.C Lattès).
            Thoạt nghe bút danh E.L James, người ta nghĩ rằng tác giả là đàn ông, chứ không ngờ người kể chuyện “động trời” lại là phái nữ. Điều đáng ghi nhận là trước khi trình làng tiểu thuyết đầu tay dưới dạng sách điện tử, bà E.L James, tên thật là Erika Leonard, ít có kinh nghiệm cầm bút, và không hề có một chút tiếng tăm trên văn đàn. Xuất thân từ ngành sản xuất chương trình truyền hình, tác giả người Anh bắt đầu viết bộ sách Fifty Shades of Grey, như là một câu chuyện tình cảm lãng mạn theo kiểu Twilight, nhưng lại dành cho người lớn.
            Truyện Twilight (của nữ tác giả Stephenie Meyer), nói về mối tình liêu trai giữa người trần gian (Bella Swan) và quỷ hút máu (Edward Cullen). Bộ sách Fifty Shades nếu có thương nhau nhiều, cắn nhau đau, thì hoàn toàn là trong nghĩa đen chứ ít có nghĩa bóng, bởi vì quan hệ bạo dâm luôn thống trị tình cảm của hai nhân vật chính.
            Về nội dung, Fifty Shades of Grey kể lại mối tình giữa Anastasia Steele, một cô sinh viên đại học sắp ra trường và một nhà triệu phú tên là Christian Grey. Ngay từ những giây phút gặp gỡ đầu tiên, cô gái trong trắng, cảm thấy bị cuốn hút bởi ma lực bí ẩn của người đàn ông đào hoa. Hai người trở thành tình nhân, và cũng từ đó mà cô gái ngây thơ khám phá một thế giới đầy rẫy dục vọng, một địa ngục tràn ngập lửa tình, nơi mà tột cùng khoái cảm gắn liền với tra tấn hành hạ, đớn đau thể xác. Dưới bàn tay của nhà triệu phú Christian Grey, Ana trở thành một kẻ nô lệ tình yêu, hết mình phục tùng, tự nguyện dâng hiến, chứ không có chuyện cưỡng bức hay ép buộc tình duyên.
            Tủ sách thiếu nhi có bộ truyện Harry Potter. Giới thanh thiếu nữ thì mê đọc Twilight. Phụ nữ ở lứa tuổi trung tuần giờ đây có Fifty Shades of Grey. Đó là nhận định của ông Gordon Willoughby, giám đốc điều hành công ty Kindle, chuyên sản xuất loại máy tính bảng, dùng để đọc sách điện tử. Theo ông, các nhà văn nữ J.K Rowling và Stephenie Meyer đã tạo ra cơn sốt nơi độc giả trong những năm đầu thế kỷ XXI, thì một cách tương tự bà E.L James là hiện tượng “văn học” của thập niên này. Nhưng vì sao phụ nữ Anh Mỹ lại tìm đọc và đổ xô đi mua quyển Fifty Shades of Grey. Từ đâu lại nảy sinh cái mốt thổ lộ đời tư, phơi bày những chuyện “thầm kín”. Bà Michelle Bassam, chuyên gia người Anh về tình dục học nhận xét:

            Theo tôi nghĩ, bộ sách này thu hút sự quan tâm của nhiều độc giả bởi vì ở các nước Âu Mỹ, phụ nữ giờ đây không còn ngại trực diện với dục vọng. Trong quan hệ đôi lứa, nhiều cặp vợ chồng giờ đây dùng phim ảnh, sách báo hay mạng internet để tránh cho chăn gối nguội lạnh. Phụ nữ cũng vậy, họ dùng rất nhiều cách để nuôi dưỡng trí tưởng tượng. Sau thời kỳ giải phóng tình dục ở các nước Âu Mỹ những năm 1970, xã hội Tây phương giờ đây ít còn đặt vấn đề với điều được gọi là tiểu thuyết khiêu dâm hay phim sex.
            Điều đó nằm trong một bối cảnh chung của xã hội. Nhiều tạp chí, sách báo dành cho đối tượng phụ nữ, không còn ngần ngại minh họa hướng dẫn độc giả, đề cập trực tiếp đến các vấn đề sinh lý, giới tính hay tình dục. Do vậy mà những thập niên gần đây, bắt đầu có hiện tượng nhiều cây bút nữ viết sách vừa để phản ánh tình cảm nội tâm, nhưng đồng thời để nói về dục vọng bản thân, mà không sợ người ngoài xem là họ bị ám ảnh, hay có hành vi lệch lạc
.

            Về phần mình, theo bác sĩ người Pháp Sylvain Mimoun, chuyên nghiên cứu về sinh lý và giới tính, thì sự thành công của bộ tiểu thuyết Fifty Shades of Grey, phản ánh một mặt sự thay đổi trong quan niệm về vai trò của người đàn bà trong gia đình và xã hội. Mặt khác, các phương tiện truyền thông đã giúp cho người đàn bà ít còn bị mặc cảm tự ti, khi đề cập tới tình dục.

            Loại tiểu thuyết này chủ yếu nhắm vào đối tượng phụ nữ đã có gia đình. Họ có thể là nội trợ hay đi làm, nhưng nhìn chung thì một khi họ đã lo cho chồng, con cái bắt đầu khôn lớn, thì họ có thời gian để chăm sóc bản thân mình. Loại sách này đánh vào tâm lý của những phụ nữ không thích một cuộc sống đơn điệu tẻ nhạt, nó khơi gợi tính hiếu kỳ và trí tưởng tượng của người đàn bà. Nhưng không phải là sách nói sao thì làm y như vậy. Tác dụng của câu chuyện là nó mở ra những chân trời, mà phụ nữ khi quanh quẩn với cuộc sống gia đình ít khi nào nghĩ tới.
            Trong chuyện chăn gối, người phụ nữ cần sự âu yếm vuốt ve. Và để so sánh thì tiểu thuyết khiêu dâm có tác dụng “vuốt ve” trí tưởng tượng, để rồi từ đó kích thích sự ham muốn xác thịt. Có thể là do luân lý đạo đức, người đàn bà thường bị chi phối giữa một bên là hình ảnh của người mẹ, thường là “thánh hiền” phải đạo, và một bên là hình ảnh của tình nhân, lãng mạn khao khát. Theo quan niệm truyền thống cố hữu, thì hai vai trò này thường đối chọi nhau. Nhưng theo tôi nghĩ, phụ nữ có thể dung hòa cả hai: họ có thể chăm sóc con cái chu đáo, nhưng đối với chồng hay người bạn đời, họ vẫn có thể là một tình nhân hấp dẫn
.


(http://2.bp.blogspot.com/-Ao0IigoBisc/VVM8rmqydEI/AAAAAAAAC_8/e8uCpf8j84E/s1600/cafemuoichotamhon.jpg)
Ấn bản Việt ngữ

            Theo thăm dò, bộ tiểu thuyết Fifty Shades of Grey được nhiều phụ nữ ở độ tuổi 35-40 hưởng ứng. Có ý kiến khen lẫn chê, nhưng hầu hết các nhà phê bình cho rằng bộ sách này có vẻ rất táo bạo nhưng thật ra chẳng có gì mới lạ. Tờ báo Chicago Tribune đánh giá là Fifty Shades là một cú đột phá của ngành xuất bản chứ không phải là một hiện tượng văn chương. Tờ báo San Francisco Chronicle thì nhận xét rằng: Fifty Shades giống như một kịch bản phim nhiều tập, nhiều hơn là một tiểu thuyết theo đúng nghĩa của nó. Nếu như Fifty Shades làm nổi bật yếu tố bạo dâm, thì thật ra cốt truyện được xây dựng theo mô hình của loại tiểu thuyết tình cảm Barbara Cartland, hay tủ sách hồng Harlequin.
            Phụ trang văn học của báo Le Figaro chia sẻ quan điểm này và cho rằng ảnh hưởng rõ rệt nhất của Fifty Shades không phải là các bộ “dâm thư” nổi tiếng, mà lại là các bộ phim truyện ăn khách của làng điện ảnh truyền hình như Bridget Jones hay là Sex and the City. Phải chăng đó là vì tác giả E.L James trước kia đã từng làm việc cho ngành truyền hình?
            Tờ báo Libération thì cho rằng ngay cả yếu tố bạo dâm cũng không có gì là mới, vì từ cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ thứ XIX, nhà quý tộc người Pháp Marquis de Sade đã viết khá nhiều tiểu thuyết và truyện ngắn về chủ đề khổ dâm và bạo dâm, nhưng đằng sau câu chuyện, ông lại cài thêm nội dung đả kích luân lý tôn giáo, đạo đức xã hội. Tên của ông sau đó được đặt cho chứng bạo dâm (sadisme).
            Nhưng người đàn bà đầu tiên đề cập trực diện với đề tài này là nhà văn người Pháp Dominique Aury (nhũ danh là Anne Desclos). Dưới bút hiệu Pauline Réage, bà đã viết quyển Histoire d’O được phát hành tại Pháp lần đầu tiên vào năm 1954 (nhà xuất bản Jean-Jacques Pauvert). Vào thời đó, quyển sách này gây ra nhiều cuộc bút chiến dữ dội trên văn đàn, phần lớn là do nội dung quá táo bạo, một phần khác là vì tác giả làm chuyện động trời này lại là thành viên của tờ Nouvelle Revue Française (NRF), tạp chí phê bình văn học nổi tiếng của Pháp.
            Hơn 20 năm trước cuộc cách mạng tình dục ở Âu Mỹ, hơn nửa thế kỷ trước khi có hiện tượng Fifty Shades, tác giả người Pháp Pauline Réage đã dùng ngòi bút như lưỡi dao sắc bén để mổ xẻ quan hệ bạo dâm, cách mô tả chi tiết, lối hành văn khá cầu kỳ. Ngược lại, trong bộ tiểu thuyết Fifty Shades of Grey, vấn đề lớn nhất nằm ở trong cách viết.
            Theo tạp chí Lire, tác giả bộ sách này giàu trí tưởng tượng nhưng nghèo nàn văn phong, chữ viết rất nhiều nhưng nghĩa không bao nhiêu. Báo Libération đi xa hơn khi cho rằng: bàn đến giá trị văn học của Fifty Shades, thì cũng như là bán thức ăn nhanh cho người muốn giảm cân. Nói cách khác, khi đọc sách này, phụ nữ Anh Mỹ có thể thẹn thùng đỏ mặt, hừng hực cơn sốt. Người yêu văn chương lại bị dội vào đầu một gáo nước lạnh.


TUẤN THẢO
Tháng 8/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20120817-tieu-thuyet-khieu-dam-soan-ngoi-harry-potter

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 03/08/2017, 16:08:45
Trần Thủ Độ: Đời luận anh hùng

Trong việc đánh giá các nhân vật lịch sử, thường có một câu hỏi tưởng chừng đơn giản mà thật sự không đơn giản chút nào: Có đáng được xem là anh hùng không? Bởi trong thực tế, có không ít nhân vật công tội khó phân. Thêm vào đó, việc đánh giá lại còn tùy thuộc vào từng quan điểm, từng thời đại. Mà cái việc “đời luận anh hùng” này lại lắm phần phức tạp. Trần Thủ Độ là một nhân vật lịch sử điển hình cho trường hợp này.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/tran%20thu%20do%20hinh.jpg)
Khu lăng mộ Trần Thủ Độ tại làng Ngừ, Thái Bình

Gia đình ngư phủ đổi đời
            Trần Thủ Độ sinh năm 1194, mất năm 1264. Sử cũ không thấy chép về cha mẹ của ông, và hiện tại đây vẫn còn là một điểm mờ của làng sử học Việt Nam. Người ta chỉ biết rằng, Trần Thủ Độ từ nhỏ đã được người bác tên là Trần Lý nuôi dưỡng.
            Số là vào đầu thế kỷ 13, vua Cao Tông nhà Lý ăn chơi vô độ, khiến loạn lạc nổi lên khắp nơi và dẫn đến cái loạn của Quách Bốc. Cao Tông bèn dẫn thái tử Sảm bỏ chạy khỏi kinh thành Thăng Long. Sau đó, thái tử Sảm chạy về Hải Ấp, làng Lưu Gia và được gia đình Trần Lý che chở. Gia đình Trần Lý làm nghề chài lưới, nhưng rất giàu có, và nhân buổi loạn lạc cũng tuyển mộ được binh lính riêng. Chính gia đình Trần Lý đã về kinh dẹp loạn, đưa cha con Cao Tông trở lại Thăng Long.
            Đến năm 1210, Cao Tông mất, trị vì được 35 năm, hưởng dương 38 tuổi. Thái tử Sảm lên ngôi lấy hiệu Huệ Tông (1211-1225). Khi tá túc nhà Trần Lý, Huệ Tông đã kết hôn với con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung. Sau khi lên ngôi, Huệ Tông cho rước Trần thị về làm Nguyên phi, và sau đó là hoàng hậu. Bấy giờ Trần Lý đã chết, nên Huệ Tông bèn phong cho con trai thứ của Trần Lý là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu, và sau đó là Phụ chính. Anh trai Trần Tự Khánh là Trần Thừa cũng được phong làm Nội thị Phán thủ.
            Một thời gian sau, Huệ Tông phải bệnh, thỉnh thoảng lên cơn điên dại. Thế là triều chính hoàn toàn do anh em Trần Tự Khánh nắm cả. Năm 1228, Trần Tự Khánh mất. Huệ Tông bèn phong cho Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy. Năm sau, lại phong cho Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Như vậy, Thủ Độ là em họ của Hoàng hậu và Phụ quốc Thái úy. Quyền hành coi như về tay họ Trần cả, chỉ còn việc chính thức thiết lập nhà Trần nữa là xong.
            Sử cũ chép rằng, vào năm 1224, Trần Thủ Độ đã ép Huệ Tông nhường ngôi cho con gái mới lên 7 tuổi là Chiêu Thánh Công Chúa, tức Lý Chiêu Hoàng. Chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên Công Chúa thì được Trần Thủ Độ sắp đặt kết hôn với con trai lớn của Trần Thừa là Trần Liễu. Em trai Trần Liễu là Trần Cảnh, cũng vừa 7 tuổi kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Năm 1225, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là, Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Thái Tông, bắt đầu triều đại nhà Trần. Triều Lý do Lý Công Uẩn lập nên đến đây là dứt, tồn tại được 216 năm, truyền ngôi được 9 đời.
            Bấy giờ, Thái Tông mới có 8 tuổi, nên mọi việc điều do chú họ là Trần Thủ Độ nắm cả. Vừa lên ngôi, Thái Tông đã ban chiếu phong Trần Thủ Độ làm Thái Sư Thống Quốc nắm hết binh quyền. Đối với một ông vua 8 tuổi, thì rõ ràng việc gia phong này là do chủ ý Trần Thủ Độ cả.
            Để củng cố quyền lực nhà Trần, Thủ Độ rắp tâm diệt cỏ tận gốc đối với tôn thất nhà Lý. Năm 1225, Thủ Độ ép Huệ Tông phải tự tử. Sử cũ còn chép, năm 1232, nhân tôn thất nhà Lý về tế lễ, Thủ Độ ngầm sai người đào hầm đặt bẫy chôn sống tất cả. Sau đó, để tuyệt được hậu họa, Thủ Độ còn lấy cớ là tên của tiên tổ Triều Trần là Trần Lý, vì thế phải kiêng húy chữ Lý, và ra lệnh người họ Lý trong nước phải đổi thành họ Nguyễn.
            Còn việc trong nhà, sau khi bức tử Huệ Tông, Thủ Độ ép vua ban chiếu giáng thái hậu Trần Thị Dung xuống làm Thiên Cực Công Chúa và gả cho Trần Thủ Độ. Lý Chiêu Hoàng lấy Thái Tông Trần Cảnh đã 12 năm mà chưa sinh con, Thủ Độ bèn ép Thái Tông giáng xuống làm Công chúa, rồi đem chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, gả cho Thái Tông làm Hoàng hậu. Khi ấy Thuận Thiên Công chúa là vợ của Trần Liễu, và đã có thai với Trần Liễu 3 tháng.

Công và tội?
            Trần Thủ Độ nắm quyền hành nhà Lý và là linh hồn của chính quyền nhà Trần cho đến khi ông mất vào năm 1264, tức trên 40 năm điều hành đất nước. Đánh giá về Trần Thủ Độ, các sử gia Nho giáo đã không tiếc lời chỉ trích.
            Như việc Thủ Độ đổi vợ thay chồng trong tôn thất nhà Trần như đã nêu trên, Ngô Thời Sĩ trong Đại Việt Tiêu Án đã thốt lên: “…con nhà chài lưới chả biết lễ nghĩa là gì, tập tục loạn luân như thế…” Sử gia Phan Phu Tiên nhận định: “Tam cương ngũ thường, đó là luân lý trọng đại của loài người. Thái Tông là vua sáng nghiệp, đáng nên lập ra phép tốt để cho đời sau theo, thế mà lại nghe mưu gian tà của Thủ Độ, cướp vợ anh làm vợ mình, như thế chả phải tự mình làm trái luân thường để mở đầu cái mối dâm loạn đấy ư?” Sử gia Trần Trọng Kim thì cho rằng: “Làm loạn nhân luân như thế thì từ thượng cổ mới có một”.
            Còn việc Trần Thủ Độ dùng hôn nhân cướp ngôi nhà Lý, thì các sử gia Nho giáo cũng phê phán nặng nề. Chẳng hạn như các sử gia nhà Nguyễn đã phê trong bộ Việt Sử Thông Giám Cương Mục rằng: “Huống chi làm những nết xấu như chó lợn, dạ độc như hùm beo, dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được?… Thực là việc lạ, suốt nghìn xưa chưa hề có”.
            Thế nhưng, ngoài việc này ra, nếu nhìn vào giai đoạn sau khi cướp ngôi nhà Lý, thì Trần Thủ Độ lại là người có công lớn không chỉ với nhà Trần mà còn với cả non sông. Như đã nói, ông nắm quyền lèo lái triều đình nhà Trần đến khi mất vào năm 1264. Trong giai đoạn đó, một loạt công việc từ kinh tế, chính trị, quốc phòng… đã được thực hiện.
            Phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, kể từ thời Cao Tông nhà Lý, triều đình bắt đầu lâm cảnh suy vi, vua mải ăn chơi bỏ bê chính sự, loạn lạc khắp nơi nổi lên, kinh tế suy sụp. Sau khi nhà Trần được lập, vua Trần Thái Tông chỉ là cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Chính Trần Thủ Độ đã ngược xuôi dẹp nội loạn, đưa đất nước từ loạn đến trị. Ông cũng đã lèo lái hệ thống chính quyền khôi phục kinh tế, định lại thuế khóa, xây dựng đê điều, mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất, xây dựng và củng cố quân đội, chăm lo học hành…
            Chính vào giai đoạn này, nhà Trần đã mở khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ) đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ngoài việc lập Quốc học viện để giảng Tứ thư Ngũ kinh, Trần Thủ Độ còn cho lập giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Sử gia Trần Trọng Kim là người phê phán gay gắt chuyện Trần Thủ Độ soán ngôi nhà Lý, cũng thừa nhận rằng: “Thủ Độ một tay cáng đáng bao nhiêu trọng sự, giúp Thái Tông bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Nam ta bấy giờ được cường thịnh, ngày sau có thể chống cự được với Mông Cổ, khỏi phải làm nô lệ những kẻ hùng cường”.
            Một công lớn nữa của Trần Thủ Độ đó là ông đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ nhất vào năm 1258. Trần Thủ Độ với vai trò là người nắm đại quyền ở triều chính, đã xúc tiến việc củng cố quân đội. Khi giặc Nguyên-Mông tràn sang, quân đội nước Nam khi ấy có đến 20 vạn người. Đây là một chiến công trong xây dựng quân đội sau giai đoạn trì trệ kéo dài của các vua cuối triều Lý. Trước thế mạnh của giặc, vua tôi nhà Trần phải rút khỏi Thăng Long. Khi ấy không phải không có đại thần toan đầu hàng. Sử cũ chép rằng, vua Thái Tông ngự thuyền đến hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu, vị quan này không trả lời mà cầm sào viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”. Sau đó, khi Thái Tông đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, thì Thủ Độ trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin Bệ hạ đừng lo”. Câu nói này đã cho thấy được tinh thần yêu nước đáng trân trọng của Trần Thủ Độ, vì nếu ông chỉ là người hám quyền hám danh thì đã không có cái chí khí kiên cường đến thế!
            Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê còn chép lại nhiều mẩu chuyện về đức độ làm quan của Trần Thủ Độ:
            – Thấy Thủ Độ quyền át cả vua, có kẻ ngầm vào gặp Vua Thái Tông mà nói rằng: “Bệ hạ còn thơ ấu, mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?” Thái Tông bèn cho bắt người đó giải đến phủ Thủ Độ. Sau khi nghe chuyện, Thủ Độ đáp: “Quả đúng như lời hắn nói”. Xong, đem tiền lụa mà thưởng cho người đó.
            – Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung khi là vợ của Trần Thủ Độ, một hôm ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc với Thủ Độ. Ông tức giận sai người đi bắt người quân hiệu kia. Người quân hiệu thất kinh và tưởng thế nào cũng chết. Nhưng khi đến trình bảo mọi điều với Thủ Độ, thì Thủ Độ lại khen ngợi người lính hiệu đã biết giữ đúng phép nước và ban thưởng cho.
            – Có lần, bà Trần Thị Dung xin với Thủ Độ cho một người được làm câu đương. Thủ Độ nhận lời. Khi gặp người ấy, ông bảo: “Người vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Người nọ hoảng hồn khóc lóc van xin mãi mới được tha và không dám xin chức câu đương nữa. Từ đó không ai dám đến thăm Thủ Độ vì việc riêng nữa.
            – Có lần Thái Tông muốn cho người anh ruột của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ bèn tâu: An Quốc là anh thần, nếu giỏi hơn thần thì thần xin rút lui, còn nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc, nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra sao? Vua nghe nói vậy mới thôi.
            Qua đó, ta thấy rằng Trần Thủ Độ rõ ràng là một vị quan gương mẫu xưa nay hiếm, một người “vĩ công vi thượng”. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong bộ Việt Sử Giai Thoại đã nhận định: “Chính quyền nhà Trần là chính quyền của quý tộc họ Trần. Chính quyền ấy cho phép con em quý tộc được quyền sống dựa vào uy danh và bổng lộc của cha ông. Song, đọc chuyện Trần Thủ Độ, ai dám bảo con cháu ông sẽ dựa hơi ông để ức hiếp người đời!”
            Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê nhìn nhận: “Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tôn lấy được thiên hạ đều nhờ vào mưu sức của ông cả… Thủ Độ tuy làm tể tướng, nhưng mọi việc không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất. Thái Tông có làm bài văn bia ở sinh từ để tỏ lòng đặc biệt quý mến ông. Thế nhưng cái tội giết vua và thông dâm với hoàng hậu thì khó lẩn tránh với đời sau vậy”. Khâm Định Triều Nguyễn cũng cho rằng: “…những việc giết vua triều trước và thông dâm với vợ vua, việc gì Thủ Độ cũng nhẫn tâm làm cả. Như thế Thủ Độ là bầy tôi có công với triều Trần, mà là người có tội với triều Lý”. Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng: “Thủ Độ là một người rất gian ác đối với nhà Lý, nhưng lại là một đại công thần của nhà Trần”.
            Đến đây, ta thấy rằng, việc các sử gia khen và chê Trần Thủ Độ tựu chung có hai điểm:
            – Chê việc ông đã soán ngôi nhà Lý và còn độc ác tận diệt người họ Lý, chê vì ông đã bất chấp luân thường để thay đổi gán ghép hôn nhân của người trong gia tộc họ Trần.
            – Khen ông là một người lãnh đạo có tài và hết lòng vì nước.
            Rõ ràng, ta thấy rằng, tất cả những việc Trần Thủ Độ làm bên trên là vì dòng tộc họ Trần, vì để củng cố triều Trần. Như vậy đối với dòng tộc họ Trần ông là người có công. Sau khi dựng nên nhà Trần, Thủ Độ tay nắm đại quyền đã vực dậy đất nước sau giai đoạn suy tàn thời mạc Lý, để làm tiền đề cho nước Việt đủ sức đương đầu và ba lần đánh lui quân xâm lược Nguyên-Mông, một đội quân chinh phạt mà trước đó đã “làm cỏ” khắp Á Âu. Như vậy, đối với non sông, Thủ Độ cũng lập đại công.
            Một điểm cần lưu ý nữa là, chúng ta không thể không công nhận vai trò của Trần Thủ Độ đối với Trần Quốc Tuấn. Nên nhớ rằng, Trần Thủ Độ nắm đại quyền đến năm 1264, và trong cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên-Mông vào năm 1258, Trần Quốc Tuấn cũng đã có tham gia dưới sự chỉ huy của Trần Thủ Độ, và khi ấy Trần Quốc Tuấn chỉ mới 30 tuổi còn Trần Thủ Độ đã 64 tuổi. Hơn nữa Trần Thủ Độ lại là chú họ của Trần Quốc Tuấn. Không thể nói rằng, cái tinh thần vì sự đoàn kết của họ tộc Trần và vì nước vì dân của Trần Hưng Đạo sau này không có ảnh hưởng của Trần Thủ Độ.

Đời luận anh hùng
            Đương nhiên, sự phê phán của các sử gia Nho giáo ngày xưa là gay gắt bởi nếu đứng trên lập trường Nho giáo, thì rõ ràng việc soán ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ là trái đạo luân thường. Thế nhưng, cũng nên nhớ rằng, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo được khai thác ở những điểm cực đoan nhất nhằm phục vụ cho việc củng cố nhà nước phong kiến. Cái tinh thần trung quân khi ấy đã được đẩy lên mức cực đoan, đến mức mà người ta chỉ thấy vua mà không thấy nước, chỉ biết trung với vua mà không biết trung với nước. Trong khi mà Nho giáo không hề ca ngợi cái “ngu trung”. Á Thánh Mạnh Tử còn nói rằng: “Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù” (Vua xem bầy tôi như tay chân thì bầy tôi xem vua như máu thịt, vua xem bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi xem vua như người lạ trong nước vậy thôi, vua xem bầy tôi như đất cỏ thì bầy tôi xem vua như giặc thù). Nói như vậy thì chữ trung có giới hạn chứ không phải vua thế nào thì bầy tôi cũng phải trung. Bởi vì, Mạnh Tử nói: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Trước có dân sau mới tới nước, rồi mới tới vua). Thế thì dân và lợi ích của dân vẫn là trọng nhất.
            Trở lại trường hợp của Trần Thủ Độ, đặt giả thuyết ông không soán ngôi nhà Lý mà tiếp tục “ngu trung”, thì với cái thế suy vi của nhà Lý lúc bấy giờ liệu nước Việt có thể giữ được chủ quyền quốc gia hay không, chứ chưa nói đến chuyện có thể đánh bại quân xâm lược Nguyên-Mông? Sau hơn bảy thế kỷ nhìn lại, đứng trên phương diện lợi ích quốc gia, ta thấy rằng, Trần Thủ Độ thật sự là người có công với xã tắc. Trường hợp của Trần Thủ Độ cũng là một lời nhắc nhở các thế hệ khi nhận xét đánh giá về bất kỳ một nhân vật lịch sử nào, đó là: không nên đánh giá chỉ dựa vào tiểu tiết mà xem nhẹ những đóng góp lớn lao cho đại cuộc.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130830-tran-thu-do-doi-luan-anh-hung

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: huhu vào 03/08/2017, 18:55:01

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130830-tran-thu-do-doi-luan-anh-hung (http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130830-tran-thu-do-doi-luan-anh-hung)

@nduytai: link của bài viết không thể truy cập được, nhờ bác xem lại link gốc của bài.
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 08/08/2017, 12:46:00
Quầy sách cổ, sách cũ: nét chấm phá dọc bờ sông Seine

Du khách đến với Kinh Đô Ánh Sáng, khi đi dạo dọc bờ sông Seine, ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp tráng lệ của những cây cầu như Pont Neuf, Alexandre Đệ Tam, các công trình kiến trúc-lịch sử danh tiếng như Nhà Thờ Đức Bà Notre Dame de Paris, tháp Eiffel… chắc hẳn không thể làm ngơ trước 250 quầy sách nhỏ, màu xanh lá cây thẫm bày bán vô vàn cuốn sách cổ, tạp chí, bản đồ, bưu thiếp, áp phích quảng cáo phim ảnh, tem thư cổ, quý hiếm hay đơn giản chỉ là những cuốn sách cũ…

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/382/2048/1154/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/bouquiniste_2.jpg)
Các hiệu sách cũ dọc bờ sông Seine, gần nhà thờ Đức Bà Paris

NHỮNG QUẦY SÁCH CŨ dọc bờ sông Seine còn được người dân Paris gọi bằng một cái tên khác là “các tiệm sách sông Seine”. Nhìn thì có vẻ đơn giản, khiêm nhường, nhưng các “tiệm sách sông Seine” nhỏ nhắn đó, cùng với quần thể dọc bờ sông Seine, đã được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới vào năm 1991.
            250 quầy sách cũ nằm dọc 3km kè sông Seine, với khoảng 1.000 thùng sách và số sách được bày bán lên tới khoảng 500.000 cuốn. Đây được coi là khu hiệu sách ngoài trời lớn nhất trên toàn thế giới. Ở tả ngạn, các quầy sách cũ tập trung từ kè Tournel tới kè Voltaire. Ở hữu ngạn sông Seine, các quầy sách lại nằm rải rác từ cầu Marie tới kè Louvre. Về lịch sử, các quầy sách cũ xuất hiện cách đây khoảng 400 năm, vào đầu thế kỷ 17, dưới thời trị vì của vua Henri IV.
            Ông Françis Robert là chủ một quầy sách cũ ở tả ngạn sông Seine, đối diện quảng trường Saint-Michel, gần nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris, đồng thời là thành viên ban đại diện các “hiệu sách sông Seine”. Ông có thâm niên bán sách cũ ở đây được 38 năm, từ năm 1979. Ông bắt đầu biết đến các quầy sách cũ dọc bờ sông Seine khi 15 tuổi. Giờ ông Françis Robert đã 63 tuổi. Có nhiều chủ quầy sách mà ông biết từ khi ông mới 15 tuổi. Gần 50 năm đã trôi qua, họ vẫn còn bán sách ở đây. Khi chuyện trò với RFI Việt ngữ, ông Françis Robert đã giới thiệu với chúng tôi như sau:

             “Các quầy sách cũ đầu tiên xuất hiện trên cầu Pont Neuf (Cầu Mới), phía đằng kia kìa. Pont Neuf là cây cầu đầu tiên ở Paris không có nhà ở hai bên thành cầu. Khi đó, có những người đeo hộp đựng sách sau lưng đi bán dạo trên cầu Pont Neuf. Có khoảng 10 người. Họ được cấp giấy phép bán sách dạo trên cầu. Về sau, số người bán sách dạo tăng lên. Không có đủ chỗ trên cầu nên họ bày bán sách ở đầu cầu, phía tả ngạn sông Seine vì tả ngạn sông Seine là khu vực có nhiều trí thức, trường học, hiệu in, nhà xuất bản và nhiều hiệu sách. Và như thế, các quầy sách cũ bắt đầu có từ đoạn đầu cầu Pont Neuf, xuôi về tả ngạn sông Seine. Ở phía hữu ngạn sông Seine khi đó không có ai bán sách cả. Tôi không nói là người dân ở hữu ngạn sông Seine không có học thức, nhưng khi đó, người ta không bán sách ở hữu ngạn sông Seine”.

            Trong suốt thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII, những người bán sách cũ đã nhiều lần bị cấm rồi lại được cho phép bán hàng trở lại. Phải tới thời Cách Mạng Tư Sản Pháp thì các quầy sách cũ mới phát triển. Năm 1789, từ bouquiniste – “người bán sách cũ” được đưa vào từ điển của Viện Hàn Lâm Pháp. Tới thời Napoléon Đệ Tam, những người kinh doanh sách cũ mới chính thức được cấp giấy phép hành nghề. Và vào năm 1859, thành phố Paris quy hoạch hai bên kè sông Seine. Những người sách cũ có chỗ ngồi cố định dọc kè. Trong những năm nổ ra Chiến Tranh Thế Giới II, một số quầy sách cũ đã trở thành hòm thư liên lạc bí mật phục vụ quân Đồng Minh.

Đam mê và tri thức
            Đối với đa phần chủ quầy sách cũ, đây là nghề “cha truyền, con nối”. Họ coi đó là truyền thống của gia đình. Nhiều người học nghề từ ông bà, cha mẹ. Có những gia đình cả ba thế hệ – ông bà, cha mẹ và con cái đều cùng bán sách cũ ở bờ sông Seine. Họ sinh ra và lớn lên cùng những quyển sách cổ, cũ rồi theo nghề bán sách cũ. Một số khác có vợ, chồng hoặc bạn bè bán sách cũ, rồi dần dần họ đam mê công việc này. Hiếm có người tình cờ, hay vì chẳng có việc gì làm mà đi bán sách cũ! Đặc biệt nhất là gia đình cụ bà Hélène Gérard với 6 thành viên thuộc 4 thế hệ sở hữu mỗi người một quầy sách riêng dọc sông Seine. Bà Hélène Gérard bán sách tới năm 2011. Ở tuổi 93, bà là người cao tuổi nhất trong số các chủ quầy sách cũ. Khi đó, cô cháu gái Charlotte Greppo gọi bà Hélène Gérard là cụ mới 21 tuổi và là thành viên trẻ tuổi nhất trong số 250 người bán sách cũ dọc bờ sông Seine.
            Làm thế nào để sở hữu một “tiệm sách sông Seine”? Ông Francis Robert giải thích:

            “Để có quầy sách ở đây, cần đăng ký với tòa thị chính Paris. Có một cơ quan chuyên phụ trách việc này. Có một ủy ban xét duyệt, không phải năm nào cũng có, có khi phải 2-3 năm mới có một lần. Ủy ban này sẽ xét hồ sơ của các ứng viên. Ủy ban có 3 thành viên là chủ quầy sách, 3 đại diện của thành phố Paris và 3 đại diện cho giới kinh doanh sách. Các ứng viên không cần điều kiện đặc biệt gì, nhưng đương nhiên họ phải am hiểu và đam mê sách. Thường thì họ có nhiều hiểu biết về sách và có bộ sưu tập sách rất đồ sộ. Đôi khi đó là những người đã từng là chủ hiệu sách trên phố nhưng bị phá sản và họ muốn có một quầy sách thế này… Nói chung, đây là lĩnh vực đòi hỏi phải có tri thức”.

            Am hiểu văn chương, đam mê sách, một số chủ quầy sách cũ còn là nhà văn, chẳng hạn chị em bà Laurence và Liliane Korb đã xuất bản 4 tiểu thuyết trinh thám dưới bút danh Claude Izner. Người ta có thể tìm thấy đủ loại sách dọc bờ sông Seine. Một số quầy sách chuyên về truyện tranh, một số khác lại bán chủ yếu sách lịch sử hay tiểu thuyết văn học…


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/126/2048/1154/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/bouquiniste_1.jpg)
Một hiệu sách cũ dọc bờ sông Seine, Paris

Sách hay quà lưu niệm?
            Những người bán sách cũ ven sông Seine không phải nộp thuế kinh doanh, cũng không phải trả tiền thuê mặt bằng cho thành phố Paris, nhưng họ phải tuân thủ những quy định chặt chẽ mà chính quyền thành phố đề ra, từ kích thước thùng sách cho tới số ngày bán sách trong tuần. Theo quy định có từ năm 1993, mỗi quầy sách trải dài tối đa 8,6m, gồm tối đa 4 thùng sách. Mỗi thùng sách dài 2m, rộng 75cm, mặt sau hộp sách, phía sát sông Seine cao 60cm, mặt trước thùng sách cao 35cm. Tất cả các thùng sách đều bằng kim loại, sơn màu xanh lá cây thẫm. Mỗi tuần, các quầy sách phải mở cửa ít nhất 4 ngày/tuần, trừ những ngày mưa, tuyết hay gió bão.
            Tới năm 2009, trước tình trạng các quầy sách bán quá nhiều đồ lưu niệm, đặc biệt ở hữu ngạn sông Seine hay khu trung tâm du lịch gần nhà thờ Đức Bà Notre Dame de Paris, tòa thị chính Paris lo ngại các quầy sách không còn đúng nghĩa là quầy sách như trước đây nên đã ra quy định theo đó mỗi quầy sách chỉ được bày bán tối đa một hộp đồ lưu niệm. Một quan chức phụ trách các quầy sách cũ ven sông Seine giải thích nếu muốn bán đồ lưu niệm thì họ phải đăng ký mở cửa hàng chuyên bán đồ lưu niệm, điều đó có nghĩa là họ phải nộp thuế kinh doanh chứ không được miễn thuế kinh doanh như những người bán sách cũ. Và chính quyền Paris tỏ ra rất cứng rắn, nhất là từ sau năm 2010 vì vào năm đó, chỉ có 22 quầy sách mới mà có tận hơn 100 ứng viên nộp hồ sơ. Chính quyền tin tưởng rằng họ sẽ tìm được những người thực sự chỉ muốn kinh doanh sách cũ.
            Ông Francis Robert cho biết trước đây ông chuyên bán truyện tranh, nhưng từ vài năm nay, do ảnh hưởng của Internet, công việc kinh doanh sách của ông gặp nhiều khó khăn vì khách hàng có nhiều cách mua sách, truyện khác nhau. Vì thế, ông phải bán thêm cả quà lưu niệm. Ông Francis Robert cho biết có hai loại khách hàng. Những khách mua sách lâu năm, họ là người dân Paris, hay là người dân ở tỉnh, nói tóm lại là người Pháp. Còn khách du lịch thì thường mua đồ lưu niệm. Rất ít khách du lịch nước ngoài tới Pháp để mua sách bằng tiếng Pháp. Một số chủ quầy sách cũng cùng ý kiến với ông Francis Robert. Họ cho rằng chỉ bán sách thì không đủ sống.
            Nhưng việc một số quầy sách cũ bán nhiều đồ lưu niệm không chỉ vấp phải sự phản đối của chính quyền Paris, mà còn bị chính một số chủ quầy sách, nhất là những người bán sách ở tả ngạn sông Seine phản đối. Ông Alain, người có thâm niên bán sách cũ từ 30 năm và chỉ trung thành với các cuốn sách, giải thích: “Chất lượng của một quầy sách cũ nằm ở sự lựa chọn sách của chủ quầy và sự am hiểu các tác phẩm mà họ bày bán. Một số quầy sách bán những cuốn sách có giá 20 xu, chỉ để cho có bán mà thôi. Họ bán đủ thứ khác nữa. Có nghĩa là họ đã chuyển sang làm nghề khác mất rồi”. Ông Alain cũng khẳng định: “Nếu bán sách mà không có lãi thì chúng tôi đã không còn ngồi bán ở đây nữa!” Ông Alain say mê với công việc tới mức không mấy khi đi nghỉ. Ông thích vừa ngồi đọc sách, vừa trông quầy hàng hơn là đi nghỉ, kể cả vào mùa hè.
            Từ một, hai năm nay, du lịch mất mùa cũng khiến các quầy sách cũ thất thu. Sau khi xảy ra khủng bố ở Paris, theo ông Francis Robert, số sách cũng như đồ lưu niệm bán được đều đã giảm 50%. Nhưng nhiều người tin rằng với những con người hiểu biết, đam mê, gắn bó với những cuốn sách cổ, sách cũ như gia đình cụ bà Hélène Gérard, ông Alain và ông Francis Robert, những quầy sách cũ dọc kè sông Seine sẽ mãi còn đó, để “Paris vẫn mãi là Paris”! Và hy vọng những người bán sách cũ dọc bờ sông Seine vẫn mãi là “những người bán tri thức, tâm hồn và niềm hạnh phúc” như thi sĩ danh tiếng Anatole France từng viết.


THÙY DƯƠNG
Tháng 7/2017


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20170707-quay-sach-co-sach-cu-net-cham-pha-doc-bo-song-seine

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 10/08/2017, 14:43:17
Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”

Trong một đêm mùa đông cách đây gần 40 năm, những người từng hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên tại Sài Gòn trước năm 1975 gặp nhau tại tư gia của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ở Virginia, Hoa Kỳ. Cố nhạc sĩ Phạm Duy, người hiện diện trong đêm hôm ấy chợt thốt lên: “Bây giờ mà nghe tiếng hát Thái Thanh thì sướng bỏ một đời.”

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/famous-n-timeless-singer-thai-thanh-cl-08072016124822.html/1450086990932.jpg/@@images/079822dc-84f2-4cee-89e5-e7268236d49b.jpeg)
Nữ danh ca Thái Thanh

                       “Đêm về trên bánh xe lăn.
                        Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng.
                        Tìm tôi đèn thắp hai hàng.
                        Lạc nhau cuối phố, sương quàng cỏ cây.
                        Ngỡ hồn tu xứ mưa bay.
                        Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa…

                        (Đêm nhớ trăng Sài Gòn)

LÚC ẤY, nữ danh ca Thái Thanh vẫn còn ở Việt Nam.

Nhà văn Phạm Xuân Đài nhớ lại: Sau 1975, theo tôi được biết thì bà Thái Thanh ở lại trong nước, bà từ chối không hát gì hết. Bà giữ im lặng, không xuất hiện trước công chúng. Tôi có một câu chuyện là khi Thanh Tâm Tuyền ở tù về, Thái Thanh có đến thăm và hát cho Thanh Tâm Tuyền nghe một số bài hát phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, trong tình cảm bạn bè với nhau chứ không xuất hiện trước công chúng.

            Rất nhiều danh xưng được đặt ra dành tặng riêng cho bà, nữ danh ca của Việt Nam từ những năm 50. Người miền Nam thời bấy giờ gọi bà là “đệ nhất danh ca”. Nhà văn Mai Thảo cuối thập niên 60 tặng cho bà cái tên “Tiếng hát vượt thời gian”. Người nghe nhạc Phạm Duy gọi bà bằng hình ảnh của “Tiếng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.

Tiếng hát cho quê hương, cho tình Mẹ

                        “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
                        Mẹ hiền ru những câu xa vời
                        À à ơi ! Tiếng ru muôn đời…

                        (Tình ca)

             “Nghe Thái Thanh hát mới thấy thấm thía thế nào là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi nghe Thái Thanh hát bài Tình ca của Phạm Duy. Mỗi chữ Thái Thanh hát ra như một giọt nước mắt của người Việt Nam sống xa quê hương.
            Đó là tâm trạng của nhà thơ Trần Mộng Tú khi bà nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên ở một nơi không phải là Việt Nam.
            Phải nói ngay rằng, tiếng hát của Thái Thanh, không phải là tiếng hát của u buồn, không sầu bi nức nở. Đó là tiếng hát của sự hoan lạc. Trong tiếng hát ấy chứa đựng cái réo rắt của tiếng suối, pha lẫn sự lan tỏa của ánh sáng, và toát lên cái hạnh phúc của một tình yêu, tình yêu quê hương, tình Mẹ.

Nhà thơ Trần Mộng Tú: Rất nhiều lần tôi đã tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát Thái Thanh đã tác động vào làm cho mình cảm động, rung động như thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, Tình ca, Bà mẹ Gio Linh chẳng hạn.

            Tiếng hát ấy, theo lời nhà văn Phạm Xuân Đài, là cả một thế giới đặc biệt, làm cho người ta rung động một cách kỳ diệu. Và từ sự rung động ấy, mà mỗi một người, trong một hoàn cảnh và thân phận của chính họ, sẽ nhận thấy những cung bậc tình cảm khác nhau dành riêng cho mình.
            Tiếng hát ấy, hơn nửa thế kỷ, kể từ khi bà bắt đầu đi hát 1951 đã trở thành tiếng hát tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam với dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình.

                        “Em tan trường về
                        Đường mưa nho nhỏ
                        Em tan trường về
                        Đường mưa nho nhỏ
                        Ôm nghiêng tập vở
                        Tóc dài tà áo vờn bay…

                        (Ngày xưa Hoàng Thị)

            Nhắm mắt lại và nghe tiếng hát Thái Thanh, người ta sẽ không chỉ nghĩ đến tình yêu lứa đôi thôi, mà người ta sẽ cảm nhận được tình yêu to lớn hơn, thiêng liêng hơn, vĩ đại hơn, đó là tình yêu đất nước.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, phu quân của cố ca sĩ Quỳnh Giao, một người bạn tri âm của bà cảm nhận rằng: Khi nghe tiếng hát của Thái Thanh, thì chúng ta có thể nghĩ đến lời ru của Mẹ. Khi mình không còn ở tuổi yêu đương nữa mà mình nghe mình vẫn còn thấy nức nở thì đó không phải chỉ vì tình yêu không thôi, mà nó còn có tình yêu con người và tình yêu của người Mẹ.

                        “Mẹ già cuốc đất trồng khoai
                        Nuôi con đánh giặc đêm ngày
                        Cho dù áo rách sờn vai
                        Cơm ăn bát vơi bát đầy
                        Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!…

                        (Bà mẹ Gio Linh)

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa: Thái Thanh với tâm hồn của người Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương nhất của thế kỷ 20. Từ một thiếu nữ hát những bản tình ca gây xúc động sang giai đoạn đi hát cũng là giai đoạn có cuộc chiến lầm than nhất của đất nước. Những ca khúc Thái Thanh hát về chiến tranh cho thấy điều quan trọng hơn là quê hương và người Mẹ trong chiến tranh.

            Hạnh phúc, lầm than của dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương của lịch sử được tái hiện trọn vẹn qua tiếng hát Thái Thanh. Bà hát với tất cả tâm hồn, trái tim của người Việt Nam. Những âm thanh của quá khứ, của dân tộc trong các bài dân ca, chầu văn, hát chèo đều được bà bộc tả bằng những cảm xúc tự nhiên nhất.
            Nhà văn Phạm Xuân Đài cho rằng những yếu tố văn hóa dân tộc, âm thanh của dân tộc ấy có sẵn trong con người của Thái Thanh. Khi cần, những yếu tố ấy được bà diễn tả ra một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên làm cho người nghe dù chợt thoáng qua cũng rung động ngay.


(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/famous-n-timeless-singer-thai-thanh-cl-08072016124822.html/dJLEU.png/@@images/7496bf4a-f403-48a3-8eb6-4d7ea9129d52.png)
Bìa CD Hội Trùng Dương của Nữ Danh ca Thái Thanh

“Tiếng hát thông minh”

Nhà văn Phạm Xuân Đài: Khi mà tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh, từ hồi còn trẻ, rồi qua thời gian lớn lên, rồi lúc mình chín chắn hơn… kết luận riêng của tôi, tiếng hát của Thái Thanh là một tiếng hát thông minh. Thái Thanh là một người rất thông minh. Vì khi mình nghe bà diễn tả thì hầu như bài hát nào cũng rung động đến tận tâm can. Hình như mọi ý tình của nhạc sĩ sáng tác thì bà Thái Thanh đã chuyển trọn vẹn đến người nghe qua giọng hát của bà. Phải là người thông minh lắm, hiểu hết sắc thái của người nhạc sĩ, và hiểu âm nhạc, hiểu âm thanh thì mới có khả năng diễn đạt hết tất cả những tinh tế đó.

            Chính nhà văn Phạm Xuân Đài đã nhiều lần tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát của bà đã tác động vào làm cho người nghe cảm động, rung động như thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, tình ca, Bà mẹ Gio Linh…?

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa: Thứ nhất Thái Thanh là người nắm vững nhạc lý. Thái Thanh đàn piano rất hay. Thứ nhì, Thái Thanh có giọng hát thiên phú thì đã đành rồi nhưng có một biệt tài là phát âm rất rõ những lời ca. Nhờ vậy mà cho đến sau này, nếu người ta nghe lại người ta mới biết người Việt lúc đó đã yêu thương, than khóc hay khóc cười theo mệnh nước nổi trôi như thế nào. Có được tiếng hát như vậy thì cũng phải có một đời sống bên trong rất phong phú thì mới có thể diễn tả được, ngoài chuyện có được tiếng hát thiên phú trời cho. Mà tồn tại được mãi như vậy thì phải có một kỷ luật trong đời sống.

Một đời nghệ thuật
            Thái Thanh đối diện với tác phẩm nghệ thuật như là người sắp diễn tả nó chứ không mang sẵn tâm trạng của mình. Bà không để cảm xúc riêng của mình, tình cảm riêng của mình trong một tình cảnh nào đó của đời mình vào trong bài hát. Bà chỉ sống trọn vẹn với bài hát ấy mà thôi.

Nhà văn Phạm Xuân Đài: Thái Thanh khi hát chỉ đối diện vời bản nhạc đó thôi, không để cảm xúc riêng của mình trong đó. Đối với Thái Thanh, nghệ thuật là trên hết khi diễn đạt. Khi nhìn vào một bản nhạc thì biết ngay tác giả muốn nói cái gì, mình đối diện với cái gì, mình sẽ diễn đạt cái gì chứ không phải mình nói tâm trạng của mình. Thái Thanh rất khách quan trong việc trình bày một nhạc phẩm. Khi hát Dòng sông xanh, Mối tình xa xưa, hay Serenade thì Thái Thanh hát trong tâm cảm của một người ở phương trời Tây, của nhạc Tây phương.

            Hơn nửa thế kỷ tiếng hát trôi qua, tiếng hát của bà đã đi cùng lịch sử văn hóa, âm nhạc Việt Nam với những cung bậc thâm trầm khác nhau. Không biết là giờ đây bà có còn khóc cười theo vận nước nổi trôi nữa hay không, nhưng chắc chắn rằng, tiếng hát của bà sẽ mãi mãi vượt thời gian, không gian để trở thành một di sản của nền âm nhạc Việt.

                        “Một yêu câu hát Truyện Kiều
                        Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta
                        Và yêu cô gái bên nhà
                        Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên
                        Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
                        Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
                        Nhìn trùng dương hát câu no lành…


CÁT LINH
Tháng 8/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/famous-n-timeless-singer-thai-thanh-cl-08072016124822.html

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 15/08/2017, 18:23:13
Nhà văn Tennessee Williams, một đời người muôn kiếp sống

Nếu còn sống, năm nay Tennessee Williams sẽ tròn 100 tuổi. Nhân dịp kỷ niệm 100 ngày sinh của nhà văn người Mỹ, nhiều vở kịch của tác giả này được dựng lại trên sân khấu, trong đó có vở Un paradis sur terre (Thiên đường hạ giới). Một số tác phẩm như hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn được tái bản hay lần đầu tiên được phát hành bằng tiếng Pháp.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/Tennessee%20Williams%20sans-titre%20copy.jpg)
Nhà văn người Mỹ Tennessee Williams 1911-1983

TRONG SỐ các quyển sách vừa mới được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, có hai tập đoản bút De vous à moi tập hợp nhiều bài viết ngắn, ít được phổ biến của chính tác giả. Thông qua những bài viết này, mà giới chuyên ngành thường gọi là văn xuôi nhưng không mang tính hư cấu (prose non fictionnelle), nhà văn Tennessee Williams chủ yếu đề cập đến công việc sáng tác của mình. Đó có thể là một lời mở đầu (không được đăng) cho một tựa sách, một bài phân tích mà ông thường viết cho các nguyệt san hay một lời chú thích tác phẩm mà ông gửi cho một diễn viên đang chuẩn bị đóng phim hay đóng kịch.
            Một số nhà phê bình cho rằng những bài viết theo kiểu này không có nhiều giá trị văn học, nhưng ít ra nó cho thấy phần nào quá trình sáng tác cùng những ý tưởng mà nhà văn muốn gửi gấm qua tác phẩm. Các bài viết cũng cho thấy cá tính của nhà văn Tennessee Williams bởi vì một số đoản văn xuôi ở đây không có sự sàng lọc nào cả, do không nhằm mục đích phổ biến cho đại đa số độc giả.
            Bên cạnh nhiều quyển tiểu sử đã được cho ra mắt, gần đây nhà xuất bản Baker Street cho phát hành quyển sách mang tựa đề Tennessee Williams, une vie (tạm dịch Tennessee Williams, một đời người). Tác giả của quyển tiểu sử này là cô Catherine Fruchon-Toussaint, nhà báo phụ trách chuyên mục Phê bình Văn học làm việc cho đài phát thanh quốc tế Pháp RFI. Catherine Fruchon-Toussaint giải thích vì sao cô đã chọn một tựa đề như vậy:

            Quả thật là quyển tiểu sử này có thể được đặt tựa là Mille et une vies, cho thấy muôn mặt cuộc đời của Tennessee Williams. Kinh nghiệm sống của nhà văn Tennessee Williams dày không thể tưởng. Có thể nói là chỉ trong một đời người, ông đã sống nhiều kiếp khác nhau. Để phác họa lại cuộc đời của Tennessee Williams, tôi không kể theo trình tự thời gian, mà lại kể theo nhiều tuyến khác nhau: mỗi chương là một chủ đề. Chẳng hạn như có một chương đối chiếu hai khía cạnh của Tennessee Williams: nhân vật của công chúng và đời tư của tác giả. Một chương sách khác thì lại nói về những đỉnh cao sự nghiệp và thất bại cá nhân.
            Cuộc đời và nghiệp cầm bút của ông đa hình và phức hợp, nên theo tôi nghĩ, rất khó thể nào mà đi theo một tuyến duy nhất. Lúc sinh tiền, Tennessee Williams nổi tiếng là một kịch tác gia, ông đã viết khoảng 30 vở kịch dài và 70 vở kịch ngắn. Đó là chưa kể đến 50 truyện ngắn, cộng thêm các tựa tiểu thuyết, hồi ký, tiểu luận, thơ mới, các kịch bản mà ông từng viết cho điện ảnh và truyền hình, bên cạnh một khối lượng thư từ đồ sộ mà ông đã trao đổi với giới văn nghệ sĩ cùng thời, mà mãi đến bây giờ ngành xuất bản Pháp mới bắt đầu cho chuyển dịch, một kho tàng quý báu đối với các nhà biên khảo nghiên cứu
.

            Những độc giả nào yêu chuộng Tennessee Williams đều không thể bỏ qua quyển Hồi ký của một con cá sấu (Mémoires d’un Crocodile – 1975) mà nhà văn đã viết vào năm 64 tuổi, tức là 8 năm trước khi ông qua đời (1983). Trong quyển hồi ký này, ông từng thú thật là văn chương đã cứu rỗi linh hồn của ông. Còn trong quyển tiểu sử vừa được phát hành Tennessee Williams, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint, đã dành nguyên một chương để nói về tầm quan trọng của chiếc máy đánh chữ, một món quà sinh nhật mà Tennessee Williams đã nhận được từ gia đình, năm mới lên 12 tuổi.

            Đúng thật là như vậy. Đối với người khác, máy đánh chữ chỉ là một dụng cụ, đối với Tennessee Williams, nó tượng trưng cho cả một lẽ sống. Trong quyển hồi ký, nhà văn từng kể lại cái tuổi thơ bất hạnh của mình. Ông lớn lên trong một gia đình mà người cha là một người đàn ông nghiện rượu, vũ phu hay đánh đập vợ con. Mẹ ông, tuy thương con, tuy là một nạn nhân của các vụ bạo hành trong gia đình, nhưng lại không biết che chở cho con cái. Trong gia đình mình, nhà văn Tennessee Williams rất gần gũi với người chị ruột tên là Rose. Hai người cách nhau 16 tháng tuổi nhưng lớn lên như chị em sinh đôi. Rose mắc chứng bệnh tâm thần phân lập, nên sau đó cô bị nhốt vào bệnh viện. Nhà văn lúc đó còn quá nhỏ để cưỡng lại quyết định này của gia đình. Mãi đến sau này, khi ông thành đạt trên đường đời, ông mới có thể đưa người chị ruột về nhà để trông nom chăm sóc.
            Thời còn nhỏ, nhà văn Tennessee Williams lâm bệnh nặng (LTS: bệnh bạch hầu – diphtérie), nên trong một thời gian dài ông không được đến trường lớp. Nhà văn Tennessee Williams được dạy học ở nhà, và theo lời khuyến khích của Rose, ông đọc sách và bắt đầu viết lách. Cũng nhờ vào người chị ruột, mà vào năm 12 tuổi, ông nhận được chiếc máy đánh chữ đầu tiên. Ông cho đăng truyện ngắn đầu tay vào năm 13 tuổi, nhưng sự nghiệp văn chương của nhà văn thật sự bắt đầu năm ông 17 tuổi, khi tác phẩm của ông (LTS: truyện ngắn
The Vengeance of Nitocris – 1928) được một nhà xuất bản chính thức phát hành. Từ đó trở đi, Tennessee Williams sẽ không bao giờ rời xa chiếc máy đánh chữ. Cứ vào mỗi buổi sáng, ông luôn luôn ngồi vào bàn đánh máy ít nhất là ba tiếng đồng hồ.
            Cho dù có rượu chè qua đêm, ăn chơi trác táng từ khuya đến sáng, nhưng Tennessee Williams luôn dành thời gian sáng tác qua việc đánh máy. Có người cho là quan hệ giữa nhà văn với chiếc máy đánh chữ, không phải là một luồng dưỡng khí cần thiết cho sáng tác, mà lại giống như một chất thuốc kích thích, mà người nghiện ngập không thể nào cưỡng lại nổi. Nhà văn Tennessee Williams từng nói rằng: ngoại trừ những lúc ông bị chứng trầm cảm, xuống tinh thần đến mức không thể nào sáng tác, thì ông cần viết hầu như là mỗi ngày vì bằng không ông sẽ hóa điên. Chiếc máy đánh chữ là vật dụng cụ thể gắn liền ông với thực tại và hóa giải những nỗi ám ảnh đeo đuổi ông suốt cuộc đời
.

            Thành danh vào năm 34 tuổi nhờ vào vở kịch The Glass Menagerie (tạm dịch là Bầy thú bằng thủy tinh), Tennessee Williams hai năm sau đó (1947) trở thành một tên tuổi lớn của làng văn học quốc tế nhờ vào vở kịch A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng). Cả hai tác phẩm này được dịch sang nhiều thứ tiếng cũng như được chuyển thể lên màn ảnh lớn với các ngôi sao nổi tiếng nhất màn bạc Hollywood thời bấy giờ. Đầu những năm 1950 là thời kỳ mà Tennessee Williams thường sang châu Âu để tham dự các buổi ra mắt công chúng các tác phẩm của ông. Mời quý thính giả nghe lại một đoạn trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp của Tennessee Williams, qua đó nhà văn gợi lại những kỷ niệm của riêng mình với thủ đô Paris:

            Lần đầu tiên tôi có dịp đến thăm Paris là vào năm 15 tuổi. Vào lúc đó, tôi đi cùng với ông nội của tôi, vì ông thường hay tổ chức các chuyến du lịch cho Hiệp hội các tín hữu đạo Tin Lành. Về sau này, tôi vẫn thường xuyên trở lại Paris để thăm viếng bạn hữu, hoặc để tham dự các buổi ra mắt sách, các buổi diễn đầu tiên các vở kịch của tôi trên sân khấu Paris. Mỗi lần đến Paris, tôi cố gắng tranh thủ thời gian để đi xem một số vở kịch bằng tiếng Pháp.
            Tác phẩm mà tôi được xem lần này là vở kịch Don Juan của Molière được diễn tại nhà hát Comédie Française. Tôi rất thích đi xem kịch ở Paris vì điều đó gợi nhiều cảm hứng cho tôi về mặt ý tưởng, cách dàn dựng, chỉ đạo diễn viên, cách dùng ánh sáng: tôi có thể ứng dụng những điều mà tôi học hỏi vào trong những vở kịch của mình. Hiện giờ, vở kịch
A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng) đang rất thành công tại Mỹ, trên sân khấu Broadway của New York. Tôi hy vọng rằng tác phẩm này sẽ sớm được dịch sang tiếng Pháp, để có thể được dựng lên tại Paris trong thời gian tới.

            Vừa rồi là phát biểu của nhà văn Tennessee Williams nói về Paris. Trong quyển tiểu sử viết về nhà văn người Mỹ, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint dành nguyên một chương sách để nói lên cái quan hệ gắn bó của nhà văn người Mỹ với thủ đô Pháp. Ngoài việc lui tới với giới văn nghệ sĩ, những quan hệ với các đồng nghiệp, Tennessee Williams còn thích Paris ở chỗ hào nhoáng và nhất là cuộc sống về đêm.

            Tennessee Williams nổi tiếng là một nhà văn, nhưng ông lại sống như một siêu sao nhạc rock: với tất cả sự lộng lẫy hào nhoáng của thời kỳ tột đỉnh vinh quang, cũng như những mặt trái và cạm bẫy thường thấy trong ngành công nghiệp giải trí là rượu chè và ma túy. Ta có thể so sánh Tennessee Williams với một tác giả cùng thời với ông là Arthur Miller. Vào thời mà Arthur Miller thành hôn với thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe, thì tác giả này vẫn thể hiện cho một thành phần trí thức thiên tả, sống một cách kín đáo và ít phô trương.
            Còn Tennessee Williams thì hoàn toàn khác hẳn, ông sống trong thế giới hào nhoáng của các ngôi sao màn bạc, xuất hiện bên cạnh Liz Taylor, Montgomery Clift, Marlon Brando. Tại Luân Đôn, ông lui tới với cặp diễn viên Vivian Leigh và Lawrence Olivier. Tại Ý, ông ở nhà của đạo diễn Luscino Visconti. Tại Paris, ông có quan hệ khá gần gũi với nhiều văn nghệ sĩ trong đó có nhà văn nổi tiếng là bà Françoise Sagan, người đã dịch một số tác phẩm của ông sang tiếng Pháp. Ngoài ra còn có diễn viên Charlotte Rampling vào đầu những năm 1970.
            Cũng cần biết rằng Tennessee Williams từng được mời làm chủ tịch ban giám khảo liên hoan Cannes vào năm 1976. Giai thoại kể rằng hầu như nơi nào có lễ hội tiệc tùng, có ăn chơi thâu đêm Tennessee Williams đều có mặt, như thể ông muốn sống hết mình cho khoảnh khắc, bất kể tiệc vui chóng tàn, bất kể sự quá độ có ảnh hưởng đến sức khỏe của mình, như thể ông không cần biết rồi ngày mai sẽ ra sao. Nếu như về mặt tư tưởng, ông ngưỡng mộ các tác giả Pháp như Sartre, Genet, Giraudoux, thì ngoài đời, ông có một cuộc sống hoàn toàn không giống như các nhà văn cùng thời
.

            Đột ngột qua đời vào năm 1983, một cái chết mà cho tới nay vẫn chưa thật sự được làm sáng tỏ, nhà văn Tennessee Williams đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực kịch nghệ của Hoa Kỳ. Các tác phẩm của ông trong đó có The Glass Menagerie (1945), A streetcar named Desire (1947), Cat on hot tin roof (1955), The Night of the Iguana (1961)… đoạt được nhiều giải thưởng lớn như Giải Pulitzer, Tony Awards hay Donaldson Awards của giới phê bình kịch nghệ.
            Trong cách xây dựng cá tính nhân vật, dường như chỉ có ngòi bút độc đáo của Tennessee Williams mới soi rọi thấu đáo những dồn nén dục vọng, lột tả trọn vẹn những ức chế nội tâm. Một khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn, các nhân vật của Tennessee Williams lại càng nóng bỏng lửa tình, hừng hực tội lỗi.
            Tennessee Williams là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên sống công khai với định hướng giới tính của mình, nhưng ta không thể gán cho ông cái danh hiệu “hạn hẹp” của một nhà văn đồng tính. Xuyên qua các nhân vật khổ lụy, đọa đày muốn thoát mà vẫn không thoát ra khỏi vòng dục vọng, Tennessee Williams thật ra muốn nói lên nỗi cô đơn tột cùng của những tâm hồn vì khao khát yêu thương mà phải gánh chịu hay tự chuốc lấy nỗi đau khổ sâu xa.
            Nhưng Tennessee Williams lúc nào cũng có một cái nhìn hết sức trìu mến về những con người yếu đuối mong manh ấy. Dưới ngòi bút của Tennessee Williams, những vết gẫy tâm hồn lại lung linh huy hoàng, phút chốc ngời sáng. Định mệnh oan nghiệt càng vùi dập, đời người càng thăng hoa trong hạnh phúc, dù đó chỉ là những giây phút ngắn ngủi, chợt biến tan trong chớp mắt ngậm ngùi.


TUẤN THẢO
Tháng 11/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111125-tennessee-williams-mot-doi-nguoi-ma-muon-kiep-song

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 17/08/2017, 17:39:55
Minh Ðức Hoài Trinh đã ra đi, vĩnh viễn ra đi!

Nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa qua đời lúc 2 giờ 19 phút chiều Thứ Sáu, 9 Tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach, hưởng thọ 87 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang, phu quân của bà, xác nhận với nhật báo Người Việt.

(https://i2.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2017/06/Trinh.jpg?resize=696%2C517)
Thủ bút và chữ ký của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh
ký tặng sách cho cô giáo Ngọc Diêu. (Hình: Đinh Bá Ái cung cấp)

TÔI BÀNG HOÀNG khi nghe tin này từ một người bạn gửi qua email.
            Lần này thì ra đi vĩnh viễn.
            Tôi được biết cuộc đời của bà là một chuỗi nối tiếp những chuyến đi.
            Nhưng sau khi bước chân nhỏ bé thoăn thoắt trên vạn nẻo đường khắp thế giới, mà thường là những vùng rực lửa đạn… rồi lại quay về để chuẩn bị cho một chuyến hành trình mới.
            Lần này thì không. Không trở về nữa rồi!
            Tôi được mẹ tôi kể về Minh Ðức Hoài Trinh từ khi bà chưa là một nhà văn, nhà thơ, phóng viên chiến trường, thường có chuyến đi vào những nơi gió cát, lửa đạn hiểm nguy.
            Năm 1936, lúc mẹ tôi vừa ra trường Ðồng Khánh – Huế, đi dạy học.
            Kinh tế khủng hoảng, may mắn mới được bổ nhiệm dạy học trên Kontum. Thân gái bơ vơ được chuyển đến một trường mới mở trên cao nguyên.
            Cũng thật may mắn, mẹ tôi được nhận vào ở trọ nhà một người quen và dạy kèm cho hai cô con gái của ông Tổng Ðốc Võ Chuẩn, là Diệu Viên và Hoài Trinh. Sau nầy họ là hai chị em Linh Bảo và Minh Ðức Hoài Trinh.
            Suốt thời thơ ấu, mẹ tôi xem Minh Ðức Hoài Trinh và Linh Bảo vừa là học trò, vừa như con của mình và chúng tôi sau này rất ngưỡng mộ đời sống và tài năng của hai chị em. Chúng tôi vẫn xem hai chị em nhà văn, nhà thơ này như tượng đài của giới văn nghệ văn chương miền Nam: rất trí thức và rất dấn thân. Thật thán phục! Cuộc đời của Minh Ðức Hoài Trinh vẫn tiếp tục dấn thân bôn ba khắp thế giới từ Ðông sang Tây, từ Âu sang Á, để vận động cho Pen Club. Sự kiên trì đáng ca ngợi đã được đền bù thật xứng đáng cho Minh Ðức Hoài Trinh!
            Từ khi nhận được tác phẩm Văn nghiệp và cuộc đời Minh Ðức Hoài Trinh của Nguyễn Quang, phu quân của bà, gửi tặng, mẹ tôi vẫn lấy ra đọc những lúc rảnh rỗi, hoặc những đêm thao thức của tuổi già lúc mẹ tôi đã hơn 100 tuổi.
            Cuốn sách dày và rất nặng đối một cụ già ngoài 100 tuổi hình hạc xương mai như mẹ tôi. Tôi rất thương cảm và ái ngại khi đêm khuya, thấy mẹ tôi khệ nệ “vác” cuốn sách đầy ắp những hình ảnh về cuộc đời năng động bôn ba khắp bốn phương trời của Minh Đức Hoài Trinh ra xem.
             “… để thấy người phụ nữ nhỏ nhắn và mảnh mai như Minh Đức Hoài Trinh có thể làm những điều mà mình nghĩ không thể. Và mẹ cảm thấy được tiếp thêm nghị lực để sống với đời, và sống với các con cháu!”
            Mẹ tôi, cô giáo Ngọc Diêu đã ra đi cách đây hai năm, ở tuổi 102, khi bà đang đọc dang dở phần cuối cuốn Văn nghiệp và cuộc đời Minh Ðức Hoài Trinh.
            Tôi mơ thấy cô học trò Minh Ðức Hoài Trinh theo mây về trời, sẽ gặp lại cô giáo Ngọc Diêu để kể nốt phần cuối cuộc đời mình cho cô giáo nghe.


(https://i2.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2017/06/Trinh-1.jpg?resize=696%2C475)
Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh thời gian ở Paris.
(Hình: minhduchoaitrinh.wordpress.com)

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh của “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”
            Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử, là một trong những văn sĩ nổi tiếng nhất miền Nam Việt Nam, đặc biệt với hai bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” và “Đừng Bỏ Em Một Mình,” đều do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.
            Nhà văn Nguyễn Quang cho biết, bà sinh ngày 15 Tháng Mười, 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1963 đến 1974. Sau đó bà đến định cư tại Orange County, California, từ năm 1980.
            Bà là con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, ông nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình.
            Năm 1945, bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó bà bỏ về Huế tiếp tục học.
            Năm 1964, bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris.
            Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như Algeria và Việt Nam.
            Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris.
            Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975.
            Sau biến cố 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài ORTF, qua chương trình Việt Ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút.
            Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Brazil, vào năm 1979.
            Ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…


(https://minhduchoaitrinh.files.wordpress.com/2015/07/her-life-bc3aca-trc6b0e1bb9bc-small.jpg)

            Nhà văn Nguyễn Quang đã thực hiện một tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.”
            Có đoạn nhà văn viết: “Sau khi đọc quyển sách này người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Bà đã đi trên khắp năm lục địa, vào những vùng chiến tranh lửa đạn. Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.”
            Các tác phẩm của bà gồm có Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris, 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA, 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).


(https://i1.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/2017/06/Trinh-2.jpg?resize=696%2C462)
Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cắt bánh sinh nhật lần thứ 85.
Người đeo nơ đứng phía sau cầm tay cho bà cắt bánh là nhà văn
Nguyễn Quang, phu quân của bà. (Hình: Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ)

            Về bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” rất nổi tiếng của bà, nhà văn Phạm Xuân Đài cho biết: “Đây là bài thơ bà sáng tác khoảng cuối thập niên 1950 hoặc đầu thập niên 1960, lúc đó lấy tên là Hoài Trinh, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc cùng tên.”
             “Còn một bài thơ nữa của bà, cũng rất nổi tiếng, và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc cùng tên, đó là bài “Đừng Bỏ Em Một Mình”,” nhà văn cho biết thêm.
            Theo nhà báo Đinh Quang Anh Thái, phụ tá chủ nhiệm nhật báo Người Việt, một trong những bài thơ nổi tiếng khác của bà là “Ai Trở Về Xứ Việt” (1962). Sau năm 1975, bài thơ được nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc cùng tên.
            Trên trang web dutule.com của nhà thơ Du Tử Lê cũng có lưu lại bài này, và cho biết bà sáng tác tại Paris năm 1962.
            Nói về hoạt động và con người của bà, nhà văn Việt Hải có lần viết: “Trên cao tất cả, tôi quý nhà văn Minh Đức Hoài Trinh vì bà trung thành với đất nước Việt Nam, bà chống bạo lực và ác tính đè nặng lên vai người dân. Bà xin lại tư cách Văn Bút Hội Viên Việt Nam tại diễn đàn Văn Bút Quốc Tế. Trong vai trò phóng viên chiến trường bước chân Minh Đức Hoài Trinh đi qua các địa danh thân yêu từ Sài Gòn ra miền Trung, qua các vùng thân quen của xứ sở như những Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị…”


ÐINH BÁ ÁI & ĐỖ DZŨNG
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/minh-duc-hoai-trinh-da-ra-di-vinh-vien-ra-di/

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 22/08/2017, 08:36:54
1.000 năm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg

Vào mùa hè này, hàng chục triệu du khách nước ngoài sẽ đến thăm nước Pháp. Có một nơi mà có lẽ họ không thể bỏ qua, là thành phố Strasbourg, thủ phủ vùng Alsace, nằm cách thủ đô Paris 500 cây số về phía đông, giáp giới với nước Đức. Đặc biệt năm 2015 là năm kỷ niệm trọng thể Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vừa tròn 1.000 tuổi.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/792px-Strasbourg_Cathedral.jpg)
Nhà thờ Đức Bà Strasbourg: viên đá xây dựng đầu tiên được đặt vào năm 1015

CÒN ĐƯỢC gọi là Nhà thờ chính tòa Strasbourg, công trình kiến trúc đồ sộ bề thế này đã được xây dựng trong vòng nhiều thế kỷ. Thế nhưng, vào năm 1015, hoàng đế Heinrich II đã cùng với giám mục Strasbourg (Werner von Habsburg), đặt viên đá đầu tiên nhằm xây dựng một ngôi nhà thờ lớn, để thay thế cho một đền thờ đổ nát của dòng dõi vua chúa Carolingien.
            Sau bao thế kỷ thăng trầm, mãi tới đầu thế kỷ XX (vào năm 1905), nhóm sử gia làm việc với kiến trúc sư Johann Knauth mới tìm lại được viên đá xây dựng đầu tiên này trong quá trình khai quật. Sau khi tính xác thực được kiểm chứng qua sách sử, viên đá xây dựng đầu tiên này được cất giữ trong hầm mộ ngay ở phía dưới nhà nguyện, bên cạnh chính điện của Nhà thờ Đức Bà Strasbourg.
            Đỉnh điểm của chương trình kỷ niệm 1015-2015 diễn ra trong suốt mùa hè này cho tới ngày 20 tháng Chín. Cô Marie Pierre Sieffert, giám đốc điều hành Sự kiện 1.000 năm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg cho biết những nét chính trong chương trình này, mà thoạt nhìn hoành tráng không kém gì chương trình 850 năm xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, được tổ chức cách đây hai năm (2013).

            Một ngàn năm khởi công xây dựng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg là một sự kiện cực kỳ quan trọng, không chỉ đối với người dân thành phố Strasbourg, mà còn đối với du khách từ khắp nơi đổ về. Viên đá xây dựng đầu tiên cách đây 10 thế kỷ hiện còn được lưu trữ trong hầm mộ, dưới nhà nguyện Saint Laurent. Nhà thờ Đức Bà Strasbourg tuy là một nhưng có tới hai chức năng. Trước hết về mặt tôn giáo, đây là một nơi thờ phụng hành đạo. Kế đến nữa, về mặt lịch sử, đây là một công trình kiến trúc xếp vào hàng di sản văn hóa quốc gia từ năm 1862.
            Chương trình kỷ niệm 1.000 năm xây dựng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg (1015-2015) vì thế phải dung hòa cả hai vế. Về mặt tôn giáo, thì theo Đức Cha Jean-Pierre Grallet, Tổng Giám Mục Strasbourg, có nhiều buổi cử hành phụng vụ vào các dịp lễ đặc biệt trong suốt năm nay như Lễ tiếp nhận dự tòng đầu Mùa Chay, Lễ Truyền Dầu trong Tuần Thánh, Lễ Truyền Chức Linh mục trong tháng Sáu. Lễ Đức Mẹ Lên Trời, ngày 15/08/2015.
            Về mặt văn hóa, có nhiều sự kiện như hòa nhạc thính phòng, biểu diễn múa đương đại, hội thảo thuyết trình theo chủ đề, triển lãm cổ vật với sự hợp tác của các viện bảo tàng thành phố, đỉnh điểm của chương trình này diễn ra trong suốt ba tháng hè với lễ khoác ánh sáng ban đêm lên các mặt nhà thờ, dựng hoạt cảnh cổ trang để tái tạo một số sự kiện lịch sử quan trọng, trong đó có hôn lễ của nhà vua Louis XV (cử hành vào năm 1725 đúng vào ngày lễ Assomption 15/08 tức là ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời)…


            Một trong những sinh hoạt hoành tráng ngoạn mục nhất trong ba tháng hè tại Strasbourg vẫn là lễ thắp sáng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg, hay nói cho đúng hơn là dùng công nghệ hình ảnh video (mapping) để chiếu sáng vương cung thánh đường. Cứ vào mỗi đêm (từ 4 tháng 7 đến 20 tháng 9) , khi trời đã tối hẳn, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg lần lượt được thắp sáng bốn lần, mỗi lần kéo dài khoảng chừng 15 phút đồng hồ. Bà Hélène Richard, giám đốc nghệ thuật công ty Skertzò, đặc trách chương trình thắp sáng nhà thờ chính tòa Strasbourg cho biết thêm chi tiết:

            Thông qua 20 hoạt cảnh ánh sáng khác nhau, chúng tôi đã muốn phản ánh bề dày một ngàn năm lịch sử của Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Đồng thời, chúng tôi cũng tìm cách nói lên những thách thức tương lai trong việc bảo tồn các công trình kiến trúc lâu đời cho thế hệ trẻ thời nay.
            Các hoạt cảnh ánh sáng chiếu lên bề mặt phía Nam của nhà thờ có tính cách minh họa, kể lại quá trình hình thành và xây cất qua bao thế kỷ Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Còn các hoạt cảnh ở phía Tây đậm tính biểu tượng, nhằm gợi ý về những dự án bảo tồn trong tương lai.
            Thành phố Strasbourg khá tiêu biểu cho sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại. Strasbourg có những góc phố cổ hàng trăm năm tuổi, nhưng đồng thời, thành phố Strasbourg là tâm điểm của châu Âu, với nhiều công trình xây dựng hiện đại như tòa Nghị viện châu Âu. Từ khi đặt viên đá xây dựng đầu tiên cho tới nay, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg có đứng vững là nhờ vào những nỗ lực bảo tồn và trùng tu không ngơi nghỉ từ đời này sang đời khác.


            Trong số các du khách từng được dịp xem chương trình thắp sáng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg, nhờ vào công nghệ video và hình ảnh mapping, có một đôi bạn sinh viên đến từ Argentina. Hai cô nữ sinh cho biết cảm tưởng của mình:

            Chúng tôi đến từ Argentina và ghé thăm thành phố Strasbourg sau khi có dịp tham quan thủ đô Paris. Chúng tôi tình cờ được xem lễ thắp sáng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Từ xa, chúng tôi thấy ánh đèn chợp tắt rồi lóe sáng từ phía thánh đường, mãi đến khi tới thật gần, thì chúng tôi mới thấy các hoạt cảnh ánh sáng rực rỡ lung linh trên mặt tiền nhà thờ, phối hợp với âm nhạc, tiếng động cũng như các hiệu ứng âm thanh: tất cả tạo nên nơi người xem một cảm giác phiêu diêu kỳ diệu, thú vị khó tả. Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vốn đã đồ sộ bề thế vào ban ngày, nhờ vào âm thanh và ánh sang ban đêm lại càng thêm hoành tráng lộng lẫy.

            Ngoài các vết tích qua sơ đồ có từ thế kỷ VII, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg thật ra dung hòa hai lối kiến trúc roman và gothic, do công trình xây dựng này kéo dài trên bốn thế kỷ, trải qua 14 đời kiến trúc sư và mãi tới năm 1439 nhà thờ này mới chính thức được hoàn tất. Với chiều cao 142 thước, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg đứng hàng thứ nhì tại Pháp sau Nhà thờ Đức Bà thành phố Rouen được hoàn tất vào năm 1876. Về mặt số lượng khách thăm viếng, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg thu hút 4 triệu rưỡi du khách hàng năm, chỉ thua có Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Do vùng Alsace là vùng lãnh thổ tranh chấp giữa hai nước Pháp và Đức, cho nên việc xây dựng nhà thờ đều có sự đóng góp theo từng giai đoạn của các kiến trúc sư từ cả hai phía. Mái nhà thờ từng bị hư hỏng nặng trong thời gian xung đột giữa Pháp và Đức những năm 1870. Thời kỳ này còn được gọi là Chiến tranh Pháp-Phổ (Vương quốc Phổ là từ để chỉ nước Đức từ năm 1701 đến năm 1918), nhưng sau đó được xây dựng lại. Dù gì đi nữa, sau bao thăng trầm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vẫn còn đứng vững cho tới tận ngày nay.
            Được mệnh danh là một trong những kỳ quan hoàn toàn được xây vào thời Trung Cổ, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg nổi bật nhờ mặt tiền xây theo lối gothic tỏa sáng (rayonnant) nhưng bên trong chính điện lại có nhiều chi tiết kiến trúc xây theo lối gothic lộng lẫy (flamboyant). Trên danh sách các công trình kiến trúc thuộc vào hàng di sản quốc gia, nước Pháp từng xếp Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vào hàng Ngũ Đại, gồm năm nhà thờ tiêu biểu nhất cho cả hai giai đoạn “tiền bán” và “hậu bán” thời kỳ gothic.
            Chẳng hạn như nhà thờ Saint-Étienne ở thành phố Sens (1135-1534) đại diện cho lối kiến trúc nguyên thủy (primitif) còn được gọi là gothic sơ kỳ. Nhà thờ Đức Bà thành phố Reims tiêu biểu cho lối kiến trúc gothic cổ điển (1211-1275). Nhà thờ Đức Bà Paris (1163-1345) điển hình cho lối kiến trúc lối gothic tỏa sáng (rayonnant). Nhà thờ Sainte-Chapelle ở Vincennes (1379-1480) tiêu biểu cho lối kiến trúc gothic lộng lẫy (flamboyant), đôi khi còn được gọi nôm na là gothic muộn màng (tardif).
            Bên cạnh việc hòa quyện nhiều lối kiến trúc với nhau, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg còn nổi tiếng nhờ bộ đàn ống (đại phong cầm) xây theo hình tổ chim én. Nhà thờ còn có tháp chuông với mũi tên chọc trời, bộ chuông đồng ở đây cũng thuộc vào hàng lớn nhất châu Âu, quả chuông nhỏ nhất nặng một tấn rưỡi, còn quả chuông nặng nhất lên tới gần 9 tấn (8.800 kí lô). Với những chi tiết chạm trổ cực kỳ công phu ở mặt tiền cũng như trên tháp chuông, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg còn có một đặc điểm mà không nơi nào có.
            Toàn bộ nhà thờ được xây bằng sa thạch, chất liệu đá cát trầm tích đặc trưng của vùng núi Vosges, miền đông bẳc nước Pháp. Điều đó khiến cho nhà thờ Đức Bà Strasbourg ửng sắc nâu hồng, tùy theo ánh sáng tự nhiên ban ngày mà đôi khi ngã màu cát đỏ.
            Một điểm khác nữa là quảng trường bao bọc Nhà thờ Đức Bà Strasbourg không rộng thoáng như quảng trường mặt tiền Nhà thờ Đức Bà ở Paris, điều đó có nghĩa là đối với những người đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh, họ rất khó thể nào mà thu được nguyên vẹn nhà thờ này vào ống kính máy hình, cho dù có đứng ở góc độ nào do người chụp không đủ khoảng cách thụt lùi.
            Ngược lại khi đứng ở góc đường Mercière ngay ở trung tâm phố cổ, bạn có thể chụp những tấm hình phối cảnh đầy ấn tượng: hàng quán chạy dọc san sát rồi mở ra toàn cảnh mặt tiền đồ sộ của Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Chính cũng vì ông khám phá quang cảnh này mà văn hào Victor Hugo trong quyển nhật ký lữ hành tới vùng sông Rhein, viết vào năm 1839 đã thốt lên câu nói: Nhà thờ Đức Bà Strasbourg là một kỳ công đồ sộ tổng thể, khéo léo mà bề thế, hùng vĩ mà tinh tế…


TUẤN THẢO
Tháng 8/2015


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20150821-1000-nam-nha-tho-duc-ba-strasbourg

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 25/08/2017, 01:00:31
Hoài Khanh, Sài Gòn buổi ấy lạc nhau…

Sài Gòn buổi ấy lạc nhau
Là thôi nước chảy qua cầu nước trôi.

Hai câu thơ trên là hai câu cuối cùng trong tập Lục Bát của Hoài Khanh kỳ in lần thứ ba, 2009, với bài tựa của Tuệ Sỹ, trong đó “có bổ sung một số bài thơ mới” chưa in trong những lần trước, trong có bài thơ nhan đề “Sài Gòn buổi ấy lạc nhau,” một trong những bài thơ khá dài của Hoài Khanh (1933-23 tháng 3. 2016), bài thơ ấy rất cụ thể, hầu như ra ngoài dòng thơ lãng đãng mơ hồ của anh, kể từ thi phẩm đầu tay in năm 1957: Dâng Rừng. Rất ít khi người ta thấy Hoài Khanh cụ thể, mà bài này sự việc rất rõ ràng: “Một hôm trở lại Vũng Tàu…”

(https://i1.wp.com/www.nguoi-viet.com/wp-content/uploads/articlefiles/162091-hoaiKhanh.400.JPG?w=696&ssl=1)
Nhà thơ Hoài Khanh, Giáng Sinh 1968

QUẢ CÓ THẾ. Anh nhắc lại cuộc tái ngộ với một thiếu phụ: “em tôi”, Anh Trâm. Anh cầm tay nàng, nhưng nàng “lặng lẽ rút tay” ra, “dường như muốn nói ‘từ đây hết rồi’.” Nàng đi đâu? Có lẽ là tới một đất nước xa xôi miền lạnh giá “băng tuyết dập vùi biết đâu.” Tôi thích bài thơ này cho dù kể ngược lại quá khứ tôi đã đọc thơ bạn từ năm 1957, trước khi những bài này được in ra trong tập Dâng Rừng, tập thơ do một trong những người bạn khác của tôi vẽ bìa: Phạm Hoán. Hoài Khanh không quen Phạm Hoán, ít người biết tới cái tên này, nhưng đó là em ruột họa sĩ Phạm Tăng, người vẽ tranh minh họa cho các báo Tự Do của nhóm chủ trương “Tam Lang Mặc Đỗ Đinh Hùng Như Phong Mặc Thu,” và báo Bách Khoa của Huỳnh Văn Lang thời mới sáng lập, 1957, với Nguiễn Ngu Í trông coi phần sinh hoạt văn nghệ. Khi Phạm Tăng được học bổng đi tu nghiệp hội họa ở Ý (và không bao giờ trở về) thì Phạm Hoán được mời thay thế anh ở Bách Khoa, nhưng đã từ khước. Cho nên khi nghe tin Hoài Khanh nằm xuống ở tuổi 82, 83 vào tháng trước, trí nhớ tôi lại mơ hồ hiện dần lên những hình ảnh quá khứ ở một vùng có Hoài Khanh: vùng mấy con phố Võ Tánh, đường Gia Long, hẻm Phát Diệm, nơi nhà bà mẹ của Mặc Lan Giao (sau dùng tên thật là Nguyễn Thụy Long), mà đi về phía Trần Hưng Đạo thì sẽ tới nhà in và trụ sở báo Cách Mạng Quốc Gia của nhà nước – nơi đặt luôn tòa soạn tờ báo Văn Nghệ Học Sinh – tôi không viết cho hai tờ này mà làm cho hai tờ khác, nhật báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong; thư ký tòa soạn Giang Tân của Văn Nghệ Tiền Phong lại cũng là thư ký tòa soạn của Văn Nghệ Học Sinh. Đã làm báo người lớn không ai thèm viết cho báo con nít nữa, cho dù có trả nhuận bút. Mà báo con nít thì làm sao mà có nhuận bút.
            Nhớ đến Hoài Khanh là “hai mươi thời của tuổi trẻ” hiện về trong tâm trí, mà thật sự những năm 1955-1957 là thời tuổi trẻ của tôi, những chập chững vào đời và lui tới những địa chỉ văn nghệ, và những ngõ hẻm Sài Gòn, Chí Hòa, Khánh Hội, Xóm Lách… nơi trú ngụ của các bạn trẻ, còn là học sinh, sinh viên. Những tên tuổi hồi ấy, dù chỉ mới là tác giả năm ba bài thơ, một hai truyện ngắn, “xa gần” đều biết nhau. Còn nhớ những Chế Vũ, Mặc Tưởng, Thanh Việt Thanh, Sa Giang Trần Tuấn Kiệt một phía, phía khác có Tạ Ký, Thế Viên, Châu Trị, Y Dịch, Hoài Nam, Huy Phương, Hải Phương, Đinh Cường, có bốn năm người tôi đều gặp ở Xóm Lách Yên Đỗ, Bến Tắm Ngựa. Chẳng hạn Đinh Cường lúc nào cũng tươm tất, cái phòng nhỏ vuông vắn của anh phải leo lên một cái thang ngắn vì nó ở trên gác, nhỏ thế mà có một cái bàn và bốn cái ghế đẩu sáng bóng, cho bốn cô nữ sinh tới học vẽ. Anh ở đầu xóm gần đường Công Lý, tôi ở cuối xóm. Từ cuối xóm có con rạch chảy vòng cắt ngang đường Công Lý qua bên kia khu Yên Đỗ, vì thế có cầu Công Lý để con rạch chảy thong dong phía dưới. Bên tay phải con rạch một quãng sau này mọc lên một ngôi chùa uy nghi bề thế, chùa Vĩnh Nghiêm của Hòa thượng Tâm Giác. Ra vào Xóm Lách từ trên gác nhìn xuống Đinh Cường thấy hết.
            Hãy đọc những câu thơ coi như tự thuật của Hoài Khanh.

                        Tôi lớn lên ven bờ sông Cà Ty
                        Với giữa hai triền núi Cú và Tà Dôn
                        Lưu truyền nhìn biển cả gọi hồn đi tám hướng (…)
                        Cha tôi một nơi mẹ tôi một nơi và súng nổ
                        Làm chúng tôi ôm nhau khóc hoài
                        Giữa cánh đồng mà vài tấm tranh không sao che nổi
                        Cơn gió bấc
                        Cũng như tôi lớn lên sau này không sao che nổi
                        Nỗi buồn đau trên gương mặt rầu rĩ của tôi
.
                        (không rõ nhan đề)(1)

                                    Xa Quê Nghe Gió Nồm
                        Đã mòn chưa núi sông xanh
                        Biển ầm sóng gọi hai ngành phân ly.
                        Ngàn năm một bến Cà Ty
                        Đổ ra cửa biển còn gì thanh xuân.
                        Với chim quốc vọng sau rừng
                        Với tranh tóc xõa nắng bừng ngày trưa
                        Với triều nước lũ theo mưa
                        Sương trên Tà Cú nguồn đưa gió về.
                        Sáo chiều giục giã lê thê
                        Trắng con buồm gió lòng về sớm hôm
                        Chiều sa ngọn cỏ gió nồm
                        Trùng vây bước lạnh một hồn thu thanh
.
                        (Hoài Khanh, theo Trần Tuấn Kiệt)(2)

            Mục Thời Sự Nhân Văn từng nhắc đến Hoài Khanh trong bài viết về tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ do Nhất Hạnh chủ trương, Hoài Khanh làm thư ký tòa soạn. Năm 2013 còn có bài “Bằng Hữu Cuối Trời.” Sau khi báo ra khoảng nửa tháng, một đài phát thanh ở hải ngoại có phỏng vấn thi sĩ, và nhân đó, thi sĩ muốn nói chuyện vài câu với tôi, qua điện thoại, thật là vui thú bất ngờ, dù chỉ ngắn ngủi vài lời. Chúng tôi chỉ hỏi thăm nhau những câu thông thường, biết rằng không có thì giờ để hàn huyên. Chỉ là để nghe tiếng nói, nghe tiếng cười hàng chục năm xa vắng.
            Hoài Khanh là bút hiệu, tên thật Võ Văn Quế, có sách viết ông sinh ngày 13 tháng 9. 1933 tại Đức Nghĩa, Bình Thuận;(2) có sách viết ông sinh năm 1943.(3) Trần Tuấn Kiệt viết: “Viết đến Hoài Khanh tôi lại nghĩ tới một người muốn an phận, không chịu đựng nổi cái đời sống văn nghệ quá hỗn tạp nhưng kém chiều sâu của tư tưởng và nghệ thuật. Anh sống trong một nông trại nuôi gia súc ở Biên Hòa.”
            Những năm đầu thập niên ’50, tôi gặp Hoài Khanh nhiều lần, biết là anh hơn mình tới bốn, năm tuổi, tôi không bàn luận gì để phải kết thúc gì, vả chăng, thấy anh rụt rè, chậm rãi, tôi tự nhiên cảm thấy nơi anh con người nhẫn nhục. Lúc ấy phong trào thơ văn nhập vào thế hệ trẻ, mà thơ văn lúc ấy còn rập dềnh Bến Hải, báo chí lúc ấy luôn luôn nhắc nhở chuyện Sông Gianh, lòng Quốc Hận, thơ Hoài Khanh cũng có ít bài nhắc đến, nên nếu cây bút này tìm hiểu cây bút khác, vấn đề nêu ra lại là thi pháp hay khuynh hướng văn chương, tuổi trẻ lúc ấy không thảo luận đến ý thức hệ trong thơ văn. Sự việc ấy chỉ xảy ra sau này, trong thập niên ’60, sau khi có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tháng 12.1960 và nhất là sau các cuộc đảo chánh. Thi Ca 1955-1957 khi có Dâng Rừng của Hoài Khanh còn đậm đặc tình cảm tâm sự và thiên nhiên, và lớp đương thời là những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân, Đông Hồ, và nhất là cuộc biểu dương của trường phái tự do với Thanh Tâm Tuyền, khởi sự từ 1956 với thi phẩm Tôi Không Còn Cô Độc còn rầm rộ trên văn đàn. Sự hiện diện của Hoài Khanh bắt đầu từ Dâng Rừng, và hiện diện từ đó cho đến khi anh nằm xuống, không nổi bật song vẫn ở đó, với tiếng nói riêng. Ngoài thơ anh còn hiện diện trên văn đàn Miền Nam bằng một nhà xuất bản, Ca Dao, in đa số những tác phẩm do anh dịch thuật.
            Nhiều người viết về nỗi buồn trong thơ Hoài Khanh, chuyện ấy đã đành. Nỗi buồn thơ anh dựng lên những cây cầu, khai mở những dòng sông, chia hai thành những bến những bờ, dẫn về thiên thu mịt mùng hay kiếp sau kiếp trước; nên viết về thơ anh là viết về những cây cầu và những dòng sông. Tôi lại thích thơ Hoài Khanh trong những bài cụ thể, nó cho thấy một thi sĩ rất dung dị rất con người:

                        Một hôm em ghé tìm ta
                        Đường Lê Lợi ấy vốn nhà in thuê
                        Cuộc đời bút mực ê chề
                        Áo cơm từng bận ê chề bấy nay.
                        Bỗng nhiên hạnh ngộ những ngày
                        Gặp người chi hỡi để đày đọa nhau.
                        Sài Gòn buổi ấy lạc nhau
                        Là thôi nước chảy qua cầu nước trôi.
                        Nhưng quên sao đặng hỡi người
                        Tóc mây đờ đẫn tơi bời xiết bao


            Nhưng “em lặng lẽ rút tay” “Dường như muốn nói ‘từ đây hết rồi’,” Đã thế, thi sĩ vẫn còn yêu, dặn vói theo, và đây là những dòng cuối cùng của tập thơ “Lục Bát” của Hoài Khanh mà tôi rất tán thưởng:

                        Hỡi người vóc dáng kiêu sa
                        Dáng trâm anh dáng ngọc ngà giữ cho
                        Ta dù một kiếp bơ vơ
                        Vẫn vui khi biết nàng Thơ vẹn toàn
                        Và vui hạnh phúc chồng con
                        Thì đời ta có lẽ còn vui lây.
                        (Vườn Cô Liêu giữa mùa hoa ngọc lan đầu tiên)
.
                        (Hoài Khanh, Sài Gòn buổi ấy lạc nhau, Lục Bát, trang 109).


VIÊN LINH
Tháng 4/2016

__________________________________________________
(1) Nguyễn Đình Tuyến, Những Nhà Thơ Hôm Nay, trang 113, 1967.
(2) Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, trang 966, 1967.
(3) Cao Thế Dung, Văn học Hiện đại, Thi ca và Thi nhân, 1969. In lại trong Niên Giám Văn Nghệ Sĩ Việt Nam, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, Saigon, 1970, trang 153.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Hoai-Khanh-Sai-Gon-buoi-ay-lac-nhau-1759/

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 29/08/2017, 14:39:26
Thành phố Strasbourg: Biểu tượng hòa giải Pháp-Đức

Khi nói tới các thành phố nổi tiếng về lịch sử và văn hóa của Pháp, không thể không nhắc tới Strasbourg – thủ phủ của vùng Alsace – nằm cách Paris gần 500 km về phía Đông, giáp biên giới với Đức. Bản thân tên gọi Strasbourg có xuất xứ từ từ Straßburg trong tiếng Đức (tạm dịch là “pháo đài bên đường”). Từ biểu tượng cho sự tranh giành và chuyển giao quyền lực giữa hai nước Đức-Pháp, ngày nay, Strasbourg đã trở thành biểu tượng cho sự hợp tác giữa hai nước nói riêng và hòa bình ở châu Âu nói chung.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/0/960/540/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/strasbourg-1.jpg)
Những ngôi nhà đặc trưng cho kiến trúc của Đức tại Petite France, Strasboug, Pháp

XUYÊN SUỐT chiều dài lịch sử hình thành và phát triển trong hơn 2000 năm, Strasbourg đã sớm trở thành một thành phố thịnh vượng nhưng cũng đã trải qua nhiều thăng trầm và các cuộc tranh giành dai dẳng giữa hai nước Pháp và Đức. Ngược dòng thời gian, Strabourg khi thì thuộc lãnh thổ nước Pháp, khi thì về tay nước Đức. Chính vị trí địa lý đặc biệt và những yếu tố lịch sử đã làm nên một Strasbourg với những nét giao thoa văn hóa Pháp-Đức. Có thể nói Strasbourg như một dấu ấn Đức trong lòng nước Pháp.

Strasbourg, sự tranh giành không mệt mỏi giữa Đức và Pháp
            Strasbourg trước đây là khu thành Argentoratum do đế chế La Mã xây dựng vào năm 12 trước Công Nguyên. Argentoratum có nghĩa là “thành phố bên dòng sông”. Khi đế chế La Mã sụp đổ, thành Argentoratum mất vị thế quan trọng. Năm 496, trên mảnh đất này, người Đức xây dựng một thành phố mới với tên gọi Strateburgum (tạm dịch là “thành phố pháo đài”).
            Vào thời Trung Cổ, thành phố phát triển thịnh vượng cả về kinh tế và văn hóa. Năm 1681, dưới thời vua Louis XIV trị vì, Pháp chiếm được thành phố và phiên âm tên thành phố sang tiếng Pháp là Strasbourg. Mặc dù Strasbourg thuộc về tay Pháp nhưng tiếng Đức vẫn là ngôn ngữ phổ thông và thành phố vẫn chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Đức. Sau này, Napoléon đã biến Strasbourg thành thành phố chiến lược trong công cuộc chinh phục châu Âu.
            Chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra năm 1870. Quân Đức đã bao vây và bắn phá dữ dội Strasbourg. Năm 1871 đánh dấu thất bại của Pháp trong chiến tranh Pháp-Phổ. Pháp buộc phải ký Hiệp ước Frankfurt nhượng Strasbourg và vùng Alsace, Loraine cho Đức. Người Pháp coi đây là một thất bại cay đắng. Tuy nhiên, dưới sự cai quản của nước Đức, kinh tế Strasbourg đã phát triển rất mạnh mẽ.
            Năm 1918, Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất kết thúc. Nước Đức đại bại. Theo Hòa ước Versailles 1919, nước Pháp giành lại được Strasbourg.
            Thế nhưng, năm 1939, Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai nổ ra, lại một lần nữa thành phố Strasbourg bị quân đội Đức chiếm đóng. Toàn bộ dân chúng phải di tản. Tiếng Pháp bị cấm sử dụng. Tên các đường phố cũng bị đổi sang tiếng Đức. Vào thời kỳ này, quân Đồng Minh đã dội bom Strasbourg nhiều lần nhưng Strasbourg có một may mắn hiếm có, đó là các công trình kiến trúc có giá trị đã không hề hấn gì: nhà thờ Đức Bà, khu phố cổ Ile de la Cité với hàng trăm ngôi nhà cổ tuyệt đẹp đã may mắn thoát khỏi bom đạn. Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Strasbourg lại thuộc về Pháp.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/strasbourg-cathedrale.jpg)
Nhà thờ Đức Bà Strasbourg, Pháp

Strasbourg, dấu ấn Đức trong lòng nước Pháp
            Khi đến Strasbourg, du khách sẽ dễ dàng nhận thấy dấu ấn của nền văn hóa Đức vẫn còn được lưu lại nơi đây. Strasbourg được chia thành 10 quận. Phần lớn được đặt tên theo tiếng Đức: Meinau, Robertsau-Wacken, Neuhof-Stockfelf-Ganzau… Nếu nhìn trên bản đồ, du khách cũng sẽ thấy có nhiều tên phố, tên đường bằng tiếng Đức: Fritz, Spitz, Kelh, Krutenau, Munch, Prechter, Spielmann, Finkwiller…
            Với những đặc thù về lịch sử như vậy, hiện tại, Strasbourg vẫn còn một số công trình theo phong cách kiến trúc của Đức, tiêu biểu là trong khu vực Neustadt có nghĩa là “thành phố mới”. Neustadt được xây dựng trong thời kỳ Đức chiếm được Strasbourg sau Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870-1871. Vào thời kỳ đó, Neustadt là biểu tượng cho sự thay đổi chế độ và quyền lực đế chế Phổ. Vì thế, người Pháp còn gọi đó là khu phố Đức hay khu phố của Hoàng đế (Hoàng đế Phổ). Neustadt nổi tiếng với quảng trường Hoàng Gia, nay là Quảng trường Cộng Hòa và Cung điện Hoàng Gia, nay gọi là Cung điện sông Rhin. Cung điện Hoàng Gia là nơi trước đây Hoàng đế Phổ thường lưu lại mỗi khi tới Strasbourg.
            Việc xây dựng Neustadt cũng nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho những cư dân mới của thành phố Strasbourg thời đó. Việc sát nhập Strasbourg vào Đức đã tạo nên một làn sóng người dân Đức tới định cư tại thành phố này. Trong vòng hơn 40 năm, từ năm 1871 tới năm 1915, dân số Strasbourg đã tăng hơn hai lần từ 80.000 người lên 180.000 người. So với các tòa nhà khác cùng thời kỳ, các tòa nhà ở khu Neustadt được trang bị rất hiện đại, tầng nào cũng có nước và khí ga. Điều này được ghi rõ trên các biển hiệu tráng men gắn ở mặt trước của các tòa nhà.
            Neustadt là một trong những khu đô thị mở rộng đáng chú ý nhất giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn nhất ở châu Âu. Năm 2015, bộ Văn hóa Pháp đã đệ trình hồ sơ để UNESCO xem xét xếp hạng Neustadt là Di Sản Thế Giới.
            Dấu ấn Đức ở Strasbourg còn thể hiện rất rõ nét qua kiến trúc các ngôi nhà trong khu phố cổ Ile de la Cité. Đây là các ngôi nhà cổ kính khung bằng gỗ theo phong cách kiến trúc Fachwerk đặc trưng của miền Nam nước Đức. Hệ thống kèo, cột đỡ bằng gỗ nguyên khối lộ ra sườn bên ngoài của ngôi nhà tạo cảm giác rất vững chãi nhưng cũng là điểm nhấn trang trí cho ngôi nhà. Khi đến Strasbourg, chắc hẳn ai cũng phải trầm trồ khi ngắm nhìn những ngôi nhà cổ có khung gỗ sẫm màu nổi bật trên nền tường sơn trắng với nhiều ô cửa sổ nhỏ xinh, mái nhà cao và rất dốc.
            Chúng ta có thể bắt gặp những ngôi nhà xây theo phong cách Fachwerk của Đức rải rác đâu đó tại nhiều nước châu Âu khác như Thụy Sỹ, Anh, Áo… Nhưng ở Strasbourg, các ngôi nhà khung gỗ nằm liền kề nhau, nghiêng mình soi bóng bên dòng nước uốn lượn mềm mại đã làm nên một vẻ đẹp rất riêng cho thành phố. Vào mùa hè, vẻ đẹp những ngôi nhà lại được tô điểm thêm bởi những chậu hoa nhỏ, xinh xắn, đủ màu sắc đặt bên các bệ cửa sổ. Tới mùa đông, những ngọn đèn trang trí Giáng Sinh lấp lánh càng làm các ngôi nhà cổ trở nên lung linh, huyền ảo hơn. Tới Strasbourg, đi trên những con phố nhỏ, ngắm nhìn những ngôi nhà khung gỗ cổ kính, du khách sẽ có cảm giác như đang đi lạc vào thế giới cổ tích.


(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/imagecache/rfi_large_600_338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/european-parliament_0.jpg)
Trụ sở Nghị Viện Châu Âu, Strasbourg, Pháp

Strasbourg, biểu tượng cho sự hòa giải Pháp-Đức và thống nhất châu Âu
            Sau Chiến Tranh Thế Giới lần thứ hai, với những nỗ lực của ông Pierre Pflimlin, thị trưởng thành phố, Strasbourg đã trở thành biểu tượng cho sự hòa giải Pháp-Đức và thống nhất châu Âu.
            Năm 1991, hai nước đã hợp tác thành lập kênh truyền hình văn hóa Pháp-Đức ARTE, có trụ sở đặt tại Strasbourg, với mục tiêu kết nối người dân châu Âu. Các chương trình đều được phát bằng hai thứ tiếng Pháp, Đức và phủ sóng toàn châu Âu.
            Cùng với Geneve, Lyon, Montréal, New York, Strasbourg là một trong số ít các thành phố không phải là thủ đô của một nước nhưng lại là thành phố đặt trụ sở của các tổ chức Quốc tế. Strasbourg được coi là “thủ đô” hay “thủ đô Quốc hội” của châu Âu, là nơi đặt trụ sở rất nhiều cơ quan đầu não của Liên Hiệp Châu Âu như Hội Đồng Châu Âu, Quốc Hội Châu Âu, Tòa Án Nhân Quyền Châu Âu…
            Tại Strasbourg, có ba công trình tiêu biểu cho tình hữu nghị Pháp-Đức và thống nhất châu Âu, đó là cây cầu Pont de l’Europe (cầu châu Âu), cây cầu Mimram và công viên Le Jardin des Deux Rives (Công Viên Đôi Bờ Sông).
            Ngược dòng thời gian, từ năm 1388 đã có cây cầu Lange Bruck nối hai bờ sông Rhin. Trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, cầu Lange Bruck đã nhiều lần bị phá hủy rồi lại được xây mới. Trong Thế Chiến Thứ Hai, cây cầu nối hai bên chiến tuyến đã bị phá hủy hoàn toàn. Sau chiến tranh, những cây cầu nổi, cầu gỗ, cầu tạm đã được xây dựng nhưng không trụ được lâu dài. Năm 1951, hai nước Pháp và Đức chính thức thỏa thuận xây dựng một cây cầu đường bộ vững chắc. Cây cầu được đặt tên là Cầu Châu Âu, được khánh thành năm 1960, dài 245m, nối thành phố Strasbourg và thành phố Kehl của Đức, đánh dấu hòa bình trở lại trên lãnh thổ châu Âu và sự hòa giải Pháp-Đức.
            Cây cầu Mimram nằm trong công viên Đôi Bờ Sông. Cầu Mimram là một cây cầu nhỏ được thiết kế theo phong cách nghệ thuật đương đại và chỉ dành cho khách bộ hành và người đi xe đạp. Tại Hội nghị thượng đỉnh NATO lần thứ 21, diễn ra tại hai thành phố Strasbourg của Pháp và Kehl của Đức vào năm 2009, lãnh đạo các nước thành viên NATO do thủ tướng Đức Angela Merkel dẫn đầu đã đi từ phía thành phố Kehl đến giữa cầu Mimram. Tại đó, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, đến từ Strasbourg, đã đợi sẵn và nồng nhiệt đón chào phái đoàn. Bức ảnh chụp trên cầu Mimram đã trở thành bức ảnh đại diện chính thức của Hội nghị thượng đỉnh NATO năm đó.
            Còn công viên Đôi Bờ Sông có diện tích 150 ha là không gian lý tưởng cho các cuộc dạo chơi của người dân Pháp và Đức. Công viên gồm hai nửa được nối với nhau bằng cây cầu Mimram: nửa bên bờ sông thuộc lãnh thổ Pháp thiên về phong cách nghệ thuật với 19 vườn sinh vật theo chủ đề, nửa bên bờ sông thuộc lãnh thổ Đức dành cho các triển lãm hoa và trưng bày các công nghệ trong lĩnh vực môi trường.


THÙY DƯƠNG
Tháng 8/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160805-thanh-pho-strasbourg-bieu-tuong-hoa-giai-phap-%E2%80%93-duc

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 31/08/2017, 10:53:23
Dương Vân Nga: Đời luận anh hùng

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, các nhân vật nữ không được nhắc đến nhiều như cánh đàn ông. Đấy không phải là vì phụ nữ nước ta kém tài, mà vì họ luôn bị ràng buộc trong cái lễ giáo trọng nam khinh nữ của các vương triều phong kiến. Thế nhưng, đến với Lưỡng triều Hoàng hậu Dương Vân Nga thì lại khác. Bà là hoàng hậu của hai Triều Đinh và Lê. Bà là người từng có quyết định ảnh hưởng đến cả vận mệnh dân tộc. Và cũng là người hứng chịu búa rìu của cái việc “đời luận anh hùng”.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/0/480/270/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/duong%20van%20nga.jpg)
Tượng Thái hậu Dương Vân Nga

DƯƠNG VÂN NGA là một nhân vật lớn trong lịch sử Việt Nam. Thế mà, ngay chính bà cũng không thoát được cái vòng “trọng nam khinh nữ” của các sử gia phong kiến. Các bộ sử lớn như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn không hề dành phần riêng nói rõ về thân thế của bà như trường hợp những nhân vật nam khác. Đến thời đương đại này, các sử gia mới ra sức tìm hiểu nguồn gốc xuất thân của bà. Nhưng kết quả thu được chẳng có bao nhiêu bởi sử cũ không chép lại thì thế hệ hiện tại lấy gì mà tra khảo.

Xuất thân của Dương Vân Nga
            Trong thực tế đó, xuất thân của Dương Vân Nga vẫn còn là đều bàn cãi. Bà có lẽ là người của vùng đất Hoa Lư, Ninh Bình. Sử cũ chỉ ghi bà họ Dương, còn tên thì hiện có hai thuyết: Dương Vân Nga và Dương Ngọc Vân. Tuy nhiên, theo như tên ghi ở Đền thờ Vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư, thì bà tên là Dương Vân Nga.
            Có người cho rằng, cái tên Dương Vân Nga được phổ biến trong dân gian và nhờ vào các vở cải lương nói về Dương Vân Nga. Thế nhưng, xét thấy ngôi đền nói trên được xây dựng cách đây trên dưới 300 năm, còn cải lương thì chưa được 100 tuổi, bởi vậy cái tên Dương Vân Nga ắt phải có trước cải lương. Hơn nữa, người Việt Nam đã quá quen với cái tên Dương Vân Nga, các sử gia khi đề cập đến bà cũng hay dùng tên Dương Vân Nga. Bởi vậy, ở đây xin được dùng cái tên quen thuộc là Dương Vân Nga.
            Quê quán của Dương Vân Nga hiện cũng chưa rõ lắm. Có người nói ở Ninh Bình, có người lại bảo là Thanh Hóa. Năm sinh của bà hiện vẫn là một ẩn số. Sử cũ chỉ chép rõ ràng năm mất của bà là năm 1000. Nhiều sử gia ước đoán bà thọ khoảng từ 55-60 tuổi. Như vậy, năm sinh của bà có thể là trong giai đoạn 940-945.

Nhường ngôi cho người ngoại tộc
            Các chi tiết liên quan đến nguồn gốc xuất thân của Dương Vân Nga còn khá mù mờ, nhưng trái lại sự kiện bà nhường ngôi nhà Đinh vào tay Lê Hoàn và là hoàng hậu của hai Triều Đinh-Lê thì các bộ sử đều chép rõ với những lời khen chê khác nhau.
            Về việc Dương Vân Nga nhường ngôi cho Lê Hoàn, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều chép:

            “Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân. Khi (triều đình) đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ (mới sáu tuổi – LP), chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”. Quân sĩ nghe vậy đều hô “vạn tuế”. Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế. Từ đó Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu (980), giáng phong vua (Đinh Toàn – LP) làm Vệ Vương”.

            Sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hồi đầu thế kỷ 20 cũng chép lại sự việc như trên. Trần Trọng Kim cũng nhấn mạnh đến sự kiện sau đây:

            “Vệ Vương mới có sáu tuổi lên làm vua, quyền chính ở cả Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, Lê Hoàn lại cùng với Dương Thái Hậu tư thông. Các quan đại thần bấy giờ là bọn Đinh Điền, Nguyễn Bặc thấy Lê Hoàn nhiếp chính lộng quyền quá, mới cử binh mã đến đánh, nhưng bị Lê Hoàn giết cả”.

            Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lời nhận xét của sử thần Ngô Sĩ Liên như sau:

            “Sử Thần Ngô Sĩ Liên nói: Tam cương là đạo thường của muôn đời, không thể một ngày rối loạn. Khi Đại Hành giữ chức nhiếp chính, Vệ Vương tuy còn nhỏ nhưng vẫn là vua, thế mà Đại Hành tự xưng là Phó Vương, rắp tâm làm điều bất lợi. Đạo làm tôi không được rắp tâm, rắp tâm thì ắt phải giết. Đó là phép của sách Xuân Thu, người người đều được nêu lên mà thi hành. Nguyễn Bặc, Đinh Điền sao có thể nhẫn tâm điềm nhiên mà nhìn? Rồi lui về dấy quân hỏi tội, mưu giữ xã tắc, thế là bầy tôi trung nghĩa đấy. Việc không xong mà chết, thế là bề tôi tử tiết đấy”.

            Khâm Định nhà Nguyễn thì tỏ ra nghi ngờ về việc mọi người cùng nhau suy tôn Lê Hoàn lên ngôi, khi có giọng mỉa mai rằng:

            “Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống thế! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu?

Lưỡng Triều Hoàng hậu
            Khi ở ngôi, vua Đinh Tiên Hoàng lập đến năm Hoàng hậu, Dương Vân Nga là một trong số năm Hoàng hậu đó. Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn theo điển của vua Đinh mà lập đến năm người làm Hoàng hậu. Tuy nhiên, điều nhạy cảm là Lê Hoàn lại phong cho Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng Hậu, tức tên hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng.
            Theo Nho giáo mà nói, thì rõ ràng là việc lấy vợ của vua trước là điều đáng phê phán. Bởi vậy mà Đại Việt Sử Ký toàn thư chép lời bàn nặng nề như sau:

            “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao?

            Khâm Định nhà Nguyễn thì chép lời bàn:

            “Đại thắng minh là tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng. Đại Hành lấy hiệu vua cũ đặt cho vợ mình: Thật là không còn kiêng nể chút gì cả! Sử sách ghi chép, để cười nghìn thu”.

            Đến việc năm 1001, Lê Hoàn mang quân đi đánh Cử Long: Vệ vương Đinh Toàn đi theo. Sử cũ chép: “Bấy giờ quân giặc thấy nhà vua, chúng giương cung, chĩa tên, toan bắn, chiếc tên rơi xuống; chúng lại giương cung, dây cung đứt. Chúng sợ, rút lui. Nhà vua đi thuyền ven sông đuổi theo. Quân giặc ở hai bên bờ đánh khép lại. Quan quân bị hãm ở sông. Vệ vương Toàn trúng phải mũi tên bay, mất tại trận. Nhà vua kêu trời ba tiếng, rồi thân ra đốc chiến: quân giặc thua”.

            Đinh Toàn là chúa cũ của Lê Hoàn, nhưng khi nhường ngôi cho Lê Hoàn đã bị giáng xuống làm Vệ Vương. Về sự việc Đinh Toàn mất nói trên, Khâm Định nhà Nguyễn chép lời phê như sau:

            “Lê Hoàn lợi dụng cơ hội, đã cướp lấy nước người ta, lại không khéo đối đãi chúa cũ, đẩy vào chỗ chết, thế nào mà Toàn chẳng đến tử vong? Còn việc cất tiếng kêu trời, gieo mình xuống đất, chỉ là một ngón giả trá. Thật khó che đậy được công luận nghìn thu”.

            Ta thấy các sử gia phong kiến luôn có thái độ phản đối việc Dương Vân Nga nhường ngôi cho Lê Hoàn, nên mới có những lời nặng nề như vậy.

Quyết định cứu nguy cho toàn dân tộc
            Việc Dương Vân Nga nhường ngôi nhà Đinh cho Lê Hoàn lợi hại thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, ta cần xem xét bối cảnh lịch sử của sự kiện này.
            Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vào năm 968, lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị gian thần Đỗ Thích giết hại. Con trai nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn được tôn lên ngôi khi mới sáu tuổi. Lê Hoàn được nắm quyền nhiếp chính, chỉ huy quân đội của cả nước và tự xưng là Phó vương. Các đại thần nhà Đinh như Đinh Điền và Nguyễn Bặc bất mãn với điều đó nên phát binh làm phản và bị Lê Hoàn đánh dẹp. Bên ngoài thì nhà Tống phát binh đánh xuống, toan chiếm nước Đại Cồ Việt.
            Trong bối cảnh nền độc lập quốc gia bị đe dọa như vậy, Dương Vân Nga với tư cách là Thái hậu nhiếp chính đã quyết định tôn Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế.
            Lịch sử đã chứng minh, đây là một quyết định sáng suốt, có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Khi quân Tống tràn sang xâm lấn, vua Đinh Toàn chỉ là cậu bé sáu tuổi, trong khi Dương Vân Nga thì dù sao cũng là đàn bà nên không thể vùng vẫy trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ như xưa kia được. Các tướng có tài từng sát cánh Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc thì đã nổi loạn chống Lê Hoàn và đã bị giết. Lê Hoàn lại nắm trong tay đến mười đạo quân, và như sử sách đã chép là ông rất được lòng quân. Ông lại là tướng có tài. Sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Hoàn đã thân chinh đánh lui quân Tống phía Bắc, bình quân Chiêm ở miền Nam, cứu lấy giang san Đại Cồ Việt.
            Có phải chỉ một mình Dương Vân Nga muốn tôn Lê Hoàn lên làm vua còn bá quan và quân sĩ thì không muốn? Nếu quả thật chỉ một mình Dương Vân Nga muốn điều đó thì bà cũng không thể tự tiện quyết định việc nhường ngôi nhà Đinh cho người ngoại tộc, bởi chuyện nhường ngai vàng đâu phải là chuyện nhỏ, bởi còn đó bá quan văn võ nhà Đinh, còn đó gia tộc họ Đinh. Như câu chuyện đã kể bên trên về sự nhường ngôi, thì dù chỉ trích hành động này, nhưng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê và Khâm Định nhà Nguyễn cũng phải ghi nhận rằng: “Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế”.
            Một điểm cần nhấn mạnh nữa là, việc Lê Hoàn lên ngôi phải hợp lòng quân và lòng dân lúc ấy. Bằng chứng là ông đã chỉ huy quân dân đánh thắng quân xâm lược phương Bắc. Nếu Lê Hoàn không được sử ủng hộ của ba quân và của nhân dân, thì ông lấy đâu đủ sức mạnh mà chiến đấu chống lại một kẻ thù lớn mạnh gấp nhiều lần. Lịch sử đã chứng minh rằng, trong bất kì cuộc chiến chống ngoại xâm nào của Việt Nam, nếu không được lòng dân và lòng quân, thì tự nhiên sẽ thất bại, như trường hợp của Nhà Hồ của Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần dẫn đến chỗ trong nước “chính sự phiền hà” để trong nước “lòng dân rối loạn”, và để đất nước rơi vào tay của giặc Minh.
            Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã tỏ ra là một minh quân. Nếu trong sự nghiệp chống ngoại xâm, ông nổi tiếng với các chiến công “Phá Tống, Bình Chiêm”, thì việc nội trị ông cũng là người tài giỏi. Chính ông khởi đầu cho Lễ tịch điền, tức lễ mà vua đích thân xuống cầm cày, một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển nông nghiệp. Lê Hoàn cũng là vị vua mở đường cho công cuộc đào kênh rạch khai thông đường thủy và lấy nước phục vụ nông nghiệp.
            Về ngoại giao, Lê Hoàn đã có chính sách ngoại giao mềm dẻo khôn khéo. Sử cũ đã ghi lại việc Lê Hoàn nhận chiếu nhà Tống mà không quỳ lạy, sứ Tống cũng phải lơ đi. Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhà vua còn bố trí cho sư Pháp Thuận giả làm người chèo đò ra đón sứ giả Lý Giác. Câu chuyện hai người đã mượn bài thư Vịnh ngỗng của Lạc Tân Vương đời Đường để nối vần đối đáp với nhau nhân có hai con ngỗng bơi trên mặt sông, đã khiến Lý Giác rất thích thú và bị chinh phục, đã trở thành giai thoại thú vị trong lịch sử bang giao và văn học. Sau đó, về Lý Giác đã làm một bài thư gửi tặng ngỏ ý “tôn Lê Hoàn không khác gì vua Tống”.
            Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận định:

            “Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy”.

            Sử gia Lê Văn Hưu, dù phê phán việc Lê Hoàn lên ngôi, cũng phải thừa nhận tài năng của Lê Hoàn:

            “Đại Hành Giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được”.

            Phan Huy Chú trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí đã nhận định:

            “Sứ thần Trung Quốc phải tôn sùng, tù trưởng sơn động hết chuyện làm phản. Thành Hoa Lư phồn vinh hơn cả nhà Đinh. Còn lưu ý đến sức dân, quan tâm đến chính sự của nước, chú trọng nghề làm ruộng, nghiêm ngặt việc biên phòng, quy định pháp lệnh. Tuyển lựa quân ngũ… có thể nói là hết sức siêng năng, hết lòng lo lắng”.

            Ngay như Trần Trọng Kim là một sử gia rất sùng Nho, cũng thừa nhận những chiến công “phá Tống, bình Chiêm” của Lê Hoàn. Và cũng thừa nhận việc Lê Hoàn bình loạn đảng trong nước và ca ngợi: “Thanh thế vua Đại Hành lúc bấy giờ rất là lừng lẫy”.
            Lê Hoàn phong cho Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng hậu, việc này bị các sử gia phong kiến chê trách, cho là bất kính với vua trước là Đinh Tiên Hoàng, vì tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng là Đại Thắng Minh Hoàng Đế. Ta thấy, ở đây Lê Hoàn giữ lại tước hiệu cũ cho Dương Vân Nga. Không chỉ việc đó, khi lên ngôi, Lê Hoàn đã lấy niên hiệu là Thiên Phúc, mà Thiên Phúc lại chính là niên hiệu của Đinh Toàn, con trai của Đinh Tiên Hoàng, người tiền nhiệm của Lê Hoàn. Tại sao ở đây ta không cho rằng, Lê Hoàn có thái độ lưu luyến triều Đinh nên đã giữ lại những tên đó, và để khẳng định là ông lên ngôi là vì tình thế ép buộc, là vì vận mệnh xã tắc? Những chiến công chống ngoại xâm, bình nội loạn, xây dựng kinh tế đã cho thấy Lê Hoàn thật sự là một ông vua vì nước. Sử gia đương đại Nguyễn Khắc Thuần trong Việt Sử Giai Thoại đã cho rằng:

            “Đinh Tiên Hoàng mất, vua nối ngôi là Đinh Toàn chỉ mới được sáu tuổi, Lê Hoàn làm Phó Vương, giữ quyền nhiếp chính, ấy là vì sự thể lúc đó buộc phải làm như vậy. Sau, vận nước lâm nguy, xã tắc không thể phó thác cho Đinh Toàn bé nhỏ, chư tướng cùng Dương Thái hậu tôn Lê Hoàn lên ngôi, và Lê Hoàn đã vui nhận ý tôn lập đó, ấy cũng bởi sự thể lúc bấy giờ buộc phải làm như vậy đó thôi. Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết là để nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kì khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lăng, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc, kính thay”.

Không dùng ánh mắt riêng tư để nhìn chuyện muôn nhà
            Đến đây ta có thể nói rằng, Thái hậu Dương Vân Nga đã sáng suốt và có quyết định đúng đắn khi trao ngai vàng nhà Đinh lại cho Lê Hoàn. Đặt giả thuyết rằng những lời đồn đại về việc bà là người tình thuở hàn vi của Lê Hoàn, hay là bà đã tư thông với Lê Hoàn khi làm Thái hậu, là đúng, thì quyết định nhường ngai vàng của bà cũng vẫn là một quyết định lịch sử trọng đại, có lợi cho toàn đại cục lúc bấy giờ. Nhờ quyết định đó, mà nước Đại Cồ Việt đánh thắng ngoại xâm, dẹp được nội loạn, trở nên phồn thịnh. Nếu Dương Vân Nga lúc đó đặt lợi ích gia tộc lên trên lợi ích quốc gia, tức là khư khư giữ ngôi cho đứa con trai sáu tuổi của mình khi đất nước đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, thì vận mệnh đất nước sẽ ra sao?
            Đương nhiên, theo giáo điều Nho giáo thì việc thay quyền đổi chủ như trên luôn bị phê phán. Bởi vậy mà các sử gia Nho giáo đã không tiếc lời chỉ trích việc Lê Hoàn lấy ngôi nhà Đinh. Thế nhưng, cũng chính các sử gia này đã thừa nhận những chiến công “phá Tống, bình Chiêm” và việc xây dựng đất nước phồn thịnh của Lê Hoàn.
            Xưa nay, cái việc “đời luận anh hùng” luôn lắm bề rối rắm, việc khen chê luôn rất khó phân biệt ai có lý hơn ai. Xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đến mức mà việc đánh giá anh hùng cũng phân làm hai loại: nam thì mới được gọi “anh hùng”, còn nữ nhi thì phải gọi là “anh thư”. Thế nhưng, xin được gọi Dương Vân Nga là một “anh hùng”, vì bà phải có đủ can đảm và sáng suốt để có được một quyết định đúng đắn mang tầm vóc lịch sử như vậy. Bà đã có cái nhìn lấy đại cục làm trọng. Bà đã không đem ánh mắt riêng tư để nhìn việc của muôn nhà.
            Và cái chuyện “không đem ánh mắt riêng tư để nhìn việc của muôn nhà” của Thái hậu Dương Vân Nga quả là một bài học có giá trị ở mọi thời đại.


LÊ PHƯỚC
Tháng 9/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130927-duong-van-nga-doi-luan-anh-hung
Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 05/09/2017, 09:29:23
Alexandre Dumas, cực giỏi viết văn, tuyệt đỉnh nấu ăn

Mỗi lần nhắc đến Alexandre Dumas (1802-1870), mọi người đều nghĩ tới sự nghiệp văn chương đồ sộ của văn hào người Pháp. Những quyển tiểu thuyết nổi tiếng như Ba chàng ngự lâm pháo thủ hay là Bá tước Monte Cristo từng làm say mê nhiều thế hệ độc giả. Nhưng giới ghiền đọc truyện Dumas, ít khi nào được biết là ngoài viết văn, ông còn có tài nấu ăn.

(http://scd.vi.rfi.fr/sites/viet.filesrfi/dynimagecache/0/38/300/169/600/338/sites/images.rfi.fr/files/aef_image/dumas_photo_300.jpg)
Quyển Tự điển ẩm thực được xuất bản sau ngày nhà văn Alexandre Dumas qua đời

TRONG NGÀNH ẩm thực của Pháp, ông Alexandre Dumas được liệt vào hàng sành điệu. Nhưng để hiểu vì sao Alexandre Dumas lại thích nấu ăn. Để hiểu vì sao trước khi mất, ông đã nỗ lực hoàn tất quyển Tự điển Ẩm thực thì trước hết ta phải nhìn vào thân thế của nhà văn. Alexandre Dumas sinh trưởng trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc ở vùng Normandie. Nhờ công lao chiến trường mà ông nội của nhà văn là Alexandre Antoine Davy de la Pailleterie được vua Louis XIV phong làm hầu tước. Ông Davy được cử sang đảo Haiti (thời bấy giờ còn được gọi là Saint Domingue) để cai quản các đồn điền nông trại. Tại vùng đất thuộc địa, ông có con với một nàng hầu da đen. Nói như vậy có nghĩa là thân phụ của nhà văn Alexandre Dumas là người có hai dòng máu.
            Ông Thomas Davy de la Pailleterie (1762-1806) sinh ra trên đảo Haiti, ba thập niên trước khi chế độ nô lệ được bãi bỏ (1794) sau thời Cách mạng Pháp. Nối nghiệp tổ tiên, ông Thomas Davy chọn nghề nhà binh, trở thành nhân vật da màu đầu tiên được nâng lên hàng tướng lãnh, quân hàm cao nhất sau chức Thống Soái trong giới chỉ huy quân đội Pháp thời bấy giờ. Do bất đồng quan điểm với tướng Bonaparte nhân cuộc viễn chinh Ai Cập, ông Davy bị bãi chức vào năm 1802, tức là đúng vào năm nhà văn Alexandre Dumas ra đời.
            Đến khi tướng Bonaparte lên ngôi trở thành hoàng đế Napoléon Đệ Nhất và trị vì trong hơn 10 năm, từ năm 1804 đến 1815, tướng Davy bị thất sủng, chết trong cảnh nghèo khổ do đã dám đối đầu với Napoléon. Ông Davy sẽ không bao giờ nhận được trợ cấp xứng đáng dành cho một viên chỉ huy có công lao với đất nước. Buồn tình sinh bệnh, tướng Thomas Alexandre Davy qua đời khi nhà văn Alexandre Dumas mới lên ba tuổi rưỡi. Mồ côi cha rất sớm, ông Alexandre Dumas được mẹ đưa về gia đình bên ngoại nuôi nấng dạy dỗ. Ông ngoại của nhà văn Dumas là Charles Labouret, chủ của một quán trọ nằm gần thị trấn Soissons, nhờ có tài nấu ăn nên ông trở thành nhà đầu bếp chính thức của gia đình công tước Orléans.
            Theo sử gia Jean Tulard, nhà văn Alexandre Dumas thời còn nhỏ thích làm bếp với mẹ và ông ngoại. Chính ông Charles Labouret đã sáng chế và dạy cho đứa cháu ngoại cách nướng gà gọi là “công thức ba tầng”. Bất kể là gà, vịt hay ngỗng, ông Charles Labouret không xiên que để nướng ngang mà là cột dây để nướng dọc. Thịt gia cầm ở đây được ướp sẵn rồi dùng dây để treo lên ở ba độ cao khác nhau: tầng cao nhất thường là một con ngỗng, tầng thứ nhì là vài con gà, tầng thứ ba là một chục con chim cút. Thịt gia cầm càng béo thì càng treo trên cao, khi bắt đầu nướng, mỡ ngỗng và các gia vị ướp thịt sẽ chảy xuống giúp cho các tầng ở phía bên dưới được nướng ròn mà thịt vẫn không khô.
            Thời niên thiếu, ông Alexandre Dumas thiếu chăm chỉ siêng năng trong công việc học hành, nên ông không đỗ đạt cao. Thật ra, ông nuôi mộng văn chương. Đối với ông bằng cấp không quan trọng cho lắm vì ông nghĩ rằng nếu không sống nhờ nghề văn chương, thì cùng lắm thì ông sẽ mở quán trọ nấu ăn kiếm sống qua ngày. Thời gian đầu, ông kiếm sống nhờ làm việc cho một văn phòng công chứng. Nhờ văn hay chữ đẹp, và một phần là nhờ vào sự gửi gấm của ông ngoại, nên ông được công tước Orléans tuyển về làm thư ký, ngoài công việc ghi chép biên thư, ông còn phải lo sổ sách giao nhận gửi hàng cho gia đình này. Chính trong giai đoạn này mà ông bắt đầu sáng tác viết lách. Ông sáng tác theo nhiều thể loại khác nhau nhưng các tác phẩm ăn khách của ông vẫn là kịch nói và tiểu thuyết.
            Alexandre Dumas cho ra mắt tác phẩm đầu tay năm ông 23 tuổi, nhưng mãi đến 5 năm sau ông mới bắt đầu gặt hái thành công. Báo chí thời bấy giờ có trào lưu đăng truyện thành nhiều tập nhiều kỳ. Alexandre Dumas biến cái mốt thời thượng thành một sở trường. Ông không làm việc một mình mà làm việc với một nhóm tác giả trong đó người có công nhất vẫn là Auguste Maquet. Cả nhóm soạn cốt truyện, rồi phân chia công việc để có thể sáng tác một cách liên tục, đều đặn. Tiểu thuyết phiêu lưu với nhiều pha gay cấn hành động, cưỡi ngựa đấu kiếm, tất cả được lồng vào một bối cảnh lịch sử đầy dẫy những nhân vật hào hiệp, chi tiết ly kỳ biến các tác phẩm của nhóm sáng tác Alexandre Dumas thành những kịch bản lý tưởng cho kỹ nghệ điện ảnh Hollywood sau này.
            Nhờ vào sự hỗ trợ của nhóm, sức sáng tác của Alexandre Dumas trở nên mạnh mẽ dồi dào. Trong số khoảng 250 tác phẩm mà ông đã để lại, chắc chắn có nhiều tác phẩm không phải hoàn toàn là do ông viết. Nhưng bù lại một số tác phẩm của Dumas trở thành kiệt tác khi ông đưa nhiều chi tiết đời tư vào trong truyện: sự báo thù của Bá tước Monte Cristo là một cách để cho Alexandre Dumas phục hồi danh dự của người thân phụ. Bốn chàng ngự lâm pháo thủ D’Artagnan, Athos Porthos và Aramis tuy dựa vào những nhân vật có thật nhưng cá tính của mỗi nhân vật cũng như quan hệ của họ lại mô phỏng theo tình bạn của tướng Thomas Alexandre Davy với ba bằng hữu cùng lứa tuổi với ông là Jean-Louis Espagne, Louis-Chrétien Carrière de Beaumont và Joseph Piston.
            Vào độ tuổi tứ tuần, Alexandre Dumas đã đạt tới đỉnh cao sự nghiệp. Thời ông cho xuất bản Bốn chàng ngự lâm pháo thủ (1844), các tòa soạn trả tiền nhuận bút cho ông cao gấp 10 lần so với mức trung bình. Mỗi dòng chữ của ông đăng trên báo được trả 3 quan Pháp, trong khi người khác chỉ nhận có 30 xu mà thôi. Lúc sinh tiền, Alexandre Dumas nổi tiếng là mê gái, ham vui và háu ăn. Điều này chỉ đúng có một phần. Về đời tư, nhà văn chỉ có một đời vợ, nhưng sau khi ly hôn, ông lại có quan hệ với khá nhiều phụ nữ. Một trong những đứa con mà ông công nhận sau đó nối nghiệp viết văn cũng mang tên Alexandre Dumas, để phân biệt người ta thường gọi là Alexandre Dumas con, ông đã viết quyển Trà hoa nữ (La Dame aux camélias) và Công chúa thành Bagdad (La princesse de Bagdad). Alexandre Dumas cũng ham vui tiệc tùng, ông không ngại bỏ tiền mua vui, thết đãi bằng hữu, người thân cho nên dù kiếm được tiền nhưng vẫn không đủ để trang trải cho nếp sống xa hoa, yến tiệc vương giả.
            Thế nhưng Alexandre Dumas hoàn toàn không háu ăn mà lại ăn uống rất sành điệu. Một chai rượu thượng hạng dù có đắt cách mấy, ông vẫn không tiếc tiền mua. Trong quyển nhật ký của mình, nhà soạn nhạc cổ điển Rossini có kể lại những bữa tiệc rượu thịnh soạn mà Alexandre Dumas tổ chức để đãi bạn hiền, trong đó có văn hào Victor Hugo vì cả hai nhà văn sinh cùng một năm (1802).
            Cả hai người bạn Rossini và Hugo đều biết rằng Alexandre Dumas từ lâu đã nuôi mộng viết một bộ sách chuyên về nghệ thuật ẩm thực gợi hứng từ bậc tiền bối như Taillevent và các bậc đàn anh là Brillat Savarin và Marie-Antoine Carême. Thật ra, ý định viết một quyển sách ẩm thực đã manh nha từ lâu, thấp thoáng ló dạng trong các quyển sổ tay hành trình nhân các chuyến đi thưởng ngoạn ở miền nam nước Pháp, Đức, Ý hay Tây Ban Nha. Alexandre Dumas thường gắn liền hình ảnh của những nơi ông đi qua với hương vị của các món ăn, với cách mô tả thấu đáo, chi tiết tỉ mỉ.
            Theo nhà sử học André Castelot trong quyển L’histoire à table (tạm dịch là Lịch sử bên bàn ăn), nghệ thuật ẩm thực đối với Alexandre Dumas không đơn thuần là một cái thú “hưởng thụ” mà là một niềm đam mê mà nhà văn đã có từ thuở thiếu thời. Ông thường hay nói đùa rằng chữ nghĩa buộc ông phải vắt óc tìm tòi, trong khi nấu nướng đem lại cho ông một niềm vui khó tả như ngẫu hứng trời ban.
            Sử gia Jean Vitaux trong quyển “Histoire et Gastronomie” (Lịch sử và Ẩm thực) đi xa hơn nữa khi cho rằng Alexandre Dumas không phải là một người cưỡi ngựa xem hoa, ngồi trên yên ngựa để mô tả vẻ đẹp của một loài hoa. Ông mô tả chi tiết từ màu sắc đến mùi hương với tâm hồn của một người trồng hoa. Nói cách khác Alexandre Dumas không giống như một nhà phê bình ẩm thực mà lại không biết làm bếp, ông nói về chuyện ăn uống qua lăng kính trải nghiệm, những gì ông đã làm thử, những mùi ông đã từng nếm.
            Dù gì đi nữa, thì một khi ông giải nghệ văn chương, “rửa tay gác bút”, thì ông lao vào việc soạn quyển Tự điển về ẩm thực “Grand Dictionnaire de Cuisine”. Alexandre Dumas mất khoảng hai năm trời để viết xong bộ sách này. Để tránh bị chi phối, ông về ở ẩn tại vùng Finistère. Bản thảo hoàn tất được đưa cho nhà xuất bản Alphonse Lemerre, nhưng rốt cuộc Alexandre Dumas đột ngột từ trần vài tháng sau. Bộ sách này chỉ được trình làng đầu năm 1872, một năm sau ngày ông mất.
            Quyển Tự điển Ẩm thực của Alexandre Dumas không đơn thuần là một bộ sách hướng dẫn nấu ăn, nó tựa như một vựng tập biên khảo kết hợp nhiều nguồn tài liệu, dễ đọc nhờ văn phong dí dỏm, hấp dẫn nhờ các giai thoại thú vị bất ngờ, qua lời kể của một số nhà đầu bếp trứ danh, như ông Vuillermot, một trong những tên tuổi của làng ẩm thực thời bấy giờ.
            Tính tổng cộng, bộ Tự điển Ẩm thực của Alexandre Dumas có đến ba phiên bản khác nhau. Phiên bản đầu tiên đồ sộ nhất dày cả ngàn trang với hơn 3.000 công thức nấu ăn khác nhau. Mãi đến năm 1960, một phiên bản ngắn gọn hơn được trích từ bộ tự điển này, chủ yếu bao gồm công thức nấu ăn và những chú thích về nguồn gốc của các món. Phiên bản thứ ba hoàn chỉnh hơn (dày 670 trang) với từ vựng sắp đặt theo hệ thống, và đi kèm với các chú thích tiểu sử, tài liệu tham khảo lịch sử, trích dẫn bổ sung về những cuốn hồi ký, ghi chép ẩm thực mà Alexandre Dumas đã từng làm trong các quyển sổ tay hành trình.
            Bộ sách này cho thấy niềm đam mê cũng như sự thích thú của một người sành điệu. Cuốn sách mở đầu bằng một bài giới thiệu về sự hình thành của nghệ thuật ẩm thực từ nguồn gốc ban đầu cho tới thế kỷ XIX. Nếu chỉ là một bộ sách về công thức nấu ăn, thì người đọc dễ bị nhàm chán. Nhưng Alexandre Dumas viết bộ sách này như thể ông viết tùy bút hay soạn kịch bản tiểu thuyết. Ông đưa vào bài viết của mình những giai thoại cá nhân, những mẩu chuyện khôi hài nhưng không lạc đề, ông trích dẫn một số tác phẩm văn học thi ca khi tác phẩm đó có nhắc đến ẩm thực. Thậm chí, ông sáng tác một bài thơ có vần có điệu, để mô tả công thức chế biến món ăn.
            Theo ông André Castelot, khi lướt qua bộ sách này, người đọc nhanh chóng nhận ra ngay nhà văn Dumas dù không có chức danh “chuyên gia ẩm thực” nhưng ông lại nắm vững các đề tài ông đang đề cập đến. Quyển sách là một cách để cho nhà văn chia sẻ niềm đam mê của ông với độc giả, nhưng đồng thời nó cho thấy là nấu ăn là một nghề tay trái, nếu không thành công trong sự nghiệp văn chương, thì có lẽ Alexandre Dumas sẽ trở thành một nhà đầu bếp trứ danh. Niềm đam mê đầu đời rốt cuộc trở thành tác phẩm cuối đời. Alexandre Dumas là một người không biết che giấu tài năng: cực giỏi nấu ăn, tuyệt đỉnh viết văn.


TUẤN THẢO
Tháng 2/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140221-alexandre-dumas-cuc-gioi-nau-an-tuyet-dinh-viet-van

Tiêu đề: Re: Tảnmạn... Vănhóa...
Gửi bởi: nduytai vào 07/09/2017, 18:32:05
Mùa thu của Đặng Thế Phong qua lời của danh ca Tâm Vấn

Có những người nhạc sĩ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình chỉ để lại cho thế nhân số ca khúc đếm không hết một bàn tay. Đó là cố nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong cùng ba ca khúc bất hủ với những lời nhắc nhớ về ông của một nữ danh ca đã hát nhạc của ông cách đây 71 năm, nữ danh ca Tâm Vấn.

(http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/tam-van-talks-ab-autumn-in-dang-the-phongs-music-cl-07242016082620.html/dtp.jpg/@@images/0f6fc9c7-bcd8-4914-af88-2dd159061674.jpeg)
Nhạc sĩ Đặng Thế Phong và sáng tác Con thuyền không bến

                       “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi.
                        Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi.
                        Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu, ai khóc ai than hờ…
                        Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây.
                        Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về.
                        Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu…

                        (Giọt mưa thu)

Nữ danh ca Tâm Vấn: Thời đó ai cũng nghêu ngao ở miệng hết… Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi… Tùy tình cảm của mỗi người mà cho những dấu hỏi, huyền, ngã nó rõ ràng hơn. Có người thì cho nó nhẹ, có người cho nó rõ.

            Giọt mưa thu, hay còn gọi là Vạn cổ sầu, là tên đầu tiên cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong đặt cho ca khúc được ông viết vào đầu năm 1941, cũng là bài hát cuối cùng trong cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của ông.
            Đặng Thế Phong là một trường hợp, một nhạc sĩ rất đặc biệt của âm nhạc Việt Nam. Cho đến nay, khi nhắc đến Đặng Thế Phong, người ta sẽ chỉ nghĩ và nghĩ ngay đến ba ca khúc bất hủ, Đêm thu, Con thuyền không bến và sáng tác cuối cùng của ông, Giọt mưa thu.

Nữ danh ca Tâm Vấn: Ba bài hát đó là từ năm 1945, có thể trước nữa nhưng tôi đánh mốc là cái thời nổi nhất của ông ấy là người ta hát ba bài hát đó. Ngay cả người không biết chữ mà cũng biết hát ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Hát theo kiểu bình dân cũng có, hát theo kiểu sang sang cũng có. Ngay bản thân tôi cũng từng hát ba bài hát này vào năm 1945, ở Hà Nội.

(https://hopamviet.vn/assets/images/sheets/Giot-mua-thu-1.jpg)

Tài hoa, bạc mệnh
            Theo một số tài liệu không rõ nguồn, được lan truyền trên những trang văn nghệ thì ghi lại rằng Đặng Thế Phong là một chàng trai tài hoa, đàn hay hát giỏi, lại mang vẻ đẹp mong manh của cô thiếu nữ với môi đỏ như son. Ông cũng từng theo học dự thính trường Đại học Mỹ thuật Đông Dương. Cũng từ đây mà có một giai thoại được lưu truyền rằng Đặng Thế Phong từng vẽ một nhánh cây rất đẹp không có ngọn. Thầy dạy của ông đã khen ngợi bức tranh ấy nhưng cũng tỏ ý lo ngại cho một vận mệnh ngắn ngủi của Đặng Thế Phong.
            Không ngờ sự tiên đoán ấy đã trở thành sự thật khi Đặng Thế Phong giã biệt cuộc đời vào năm 24 tuổi.
            24 năm trên cõi đời, sáng tác đầu tay là một đêm thu, năm 1940, với khu vườn đầy ánh trăng lan dịu và một tâm hồn say khướt theo màu trăng.

                        “Vườn khuya trăng chiếu
                        Hoa đứng yên như mắt buồn
                        Lòng ta xao xuyến
                        Lắng nghe lời hoa
                        Cánh hoa vương buồn trong gió
                        Áng hương yêu nhẹ nhàng say
                        Gió lay

                        Cành sương nặng trĩu
                        Ru bóng êm trong ánh vàng
                        Màn đêm buông xuống
                        Mái im triền miên
                        Bóng cô đơn dường thao thức
                        Mãi trong đêm nặng sầu thương
                        Hồn vương

                        Hoa lá cành
                        Ánh trăng lan dịu dàng
                        Ru hồn bao nhớ nhung
                        Đêm lắng buồn
                        Tiếng thu như thì thầm
                        Trong hàng cây trầm mơ

                        Làn gió lướt tới cuốn
                        Đưa hồn ta phiêu diêu theo mây trắng trôi lơ lửng
                        Ngàn muôn tiếng réo rắt