Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 24478 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #45 vào: 03/08/2017, 16:08:45 »
Trần Thủ Độ: Đời luận anh hùng

Trong việc đánh giá các nhân vật lịch sử, thường có một câu hỏi tưởng chừng đơn giản mà thật sự không đơn giản chút nào: Có đáng được xem là anh hùng không? Bởi trong thực tế, có không ít nhân vật công tội khó phân. Thêm vào đó, việc đánh giá lại còn tùy thuộc vào từng quan điểm, từng thời đại. Mà cái việc “đời luận anh hùng” này lại lắm phần phức tạp. Trần Thủ Độ là một nhân vật lịch sử điển hình cho trường hợp này.

Khu lăng mộ Trần Thủ Độ tại làng Ngừ, Thái Bình

Gia đình ngư phủ đổi đời
            Trần Thủ Độ sinh năm 1194, mất năm 1264. Sử cũ không thấy chép về cha mẹ của ông, và hiện tại đây vẫn còn là một điểm mờ của làng sử học Việt Nam. Người ta chỉ biết rằng, Trần Thủ Độ từ nhỏ đã được người bác tên là Trần Lý nuôi dưỡng.
            Số là vào đầu thế kỷ 13, vua Cao Tông nhà Lý ăn chơi vô độ, khiến loạn lạc nổi lên khắp nơi và dẫn đến cái loạn của Quách Bốc. Cao Tông bèn dẫn thái tử Sảm bỏ chạy khỏi kinh thành Thăng Long. Sau đó, thái tử Sảm chạy về Hải Ấp, làng Lưu Gia và được gia đình Trần Lý che chở. Gia đình Trần Lý làm nghề chài lưới, nhưng rất giàu có, và nhân buổi loạn lạc cũng tuyển mộ được binh lính riêng. Chính gia đình Trần Lý đã về kinh dẹp loạn, đưa cha con Cao Tông trở lại Thăng Long.
            Đến năm 1210, Cao Tông mất, trị vì được 35 năm, hưởng dương 38 tuổi. Thái tử Sảm lên ngôi lấy hiệu Huệ Tông (1211-1225). Khi tá túc nhà Trần Lý, Huệ Tông đã kết hôn với con gái của Trần Lý là Trần Thị Dung. Sau khi lên ngôi, Huệ Tông cho rước Trần thị về làm Nguyên phi, và sau đó là hoàng hậu. Bấy giờ Trần Lý đã chết, nên Huệ Tông bèn phong cho con trai thứ của Trần Lý là Trần Tự Khánh làm Chương Tín hầu, và sau đó là Phụ chính. Anh trai Trần Tự Khánh là Trần Thừa cũng được phong làm Nội thị Phán thủ.
            Một thời gian sau, Huệ Tông phải bệnh, thỉnh thoảng lên cơn điên dại. Thế là triều chính hoàn toàn do anh em Trần Tự Khánh nắm cả. Năm 1228, Trần Tự Khánh mất. Huệ Tông bèn phong cho Trần Thừa làm Phụ quốc Thái úy. Năm sau, lại phong cho Trần Thủ Độ làm Điện tiền chỉ huy sứ. Như vậy, Thủ Độ là em họ của Hoàng hậu và Phụ quốc Thái úy. Quyền hành coi như về tay họ Trần cả, chỉ còn việc chính thức thiết lập nhà Trần nữa là xong.
            Sử cũ chép rằng, vào năm 1224, Trần Thủ Độ đã ép Huệ Tông nhường ngôi cho con gái mới lên 7 tuổi là Chiêu Thánh Công Chúa, tức Lý Chiêu Hoàng. Chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên Công Chúa thì được Trần Thủ Độ sắp đặt kết hôn với con trai lớn của Trần Thừa là Trần Liễu. Em trai Trần Liễu là Trần Cảnh, cũng vừa 7 tuổi kết hôn với Lý Chiêu Hoàng. Năm 1225, Trần Thủ Độ ép Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho chồng là Trần Cảnh. Thế là, Trần Cảnh lên ngôi lấy hiệu là Thái Tông, bắt đầu triều đại nhà Trần. Triều Lý do Lý Công Uẩn lập nên đến đây là dứt, tồn tại được 216 năm, truyền ngôi được 9 đời.
            Bấy giờ, Thái Tông mới có 8 tuổi, nên mọi việc điều do chú họ là Trần Thủ Độ nắm cả. Vừa lên ngôi, Thái Tông đã ban chiếu phong Trần Thủ Độ làm Thái Sư Thống Quốc nắm hết binh quyền. Đối với một ông vua 8 tuổi, thì rõ ràng việc gia phong này là do chủ ý Trần Thủ Độ cả.
            Để củng cố quyền lực nhà Trần, Thủ Độ rắp tâm diệt cỏ tận gốc đối với tôn thất nhà Lý. Năm 1225, Thủ Độ ép Huệ Tông phải tự tử. Sử cũ còn chép, năm 1232, nhân tôn thất nhà Lý về tế lễ, Thủ Độ ngầm sai người đào hầm đặt bẫy chôn sống tất cả. Sau đó, để tuyệt được hậu họa, Thủ Độ còn lấy cớ là tên của tiên tổ Triều Trần là Trần Lý, vì thế phải kiêng húy chữ Lý, và ra lệnh người họ Lý trong nước phải đổi thành họ Nguyễn.
            Còn việc trong nhà, sau khi bức tử Huệ Tông, Thủ Độ ép vua ban chiếu giáng thái hậu Trần Thị Dung xuống làm Thiên Cực Công Chúa và gả cho Trần Thủ Độ. Lý Chiêu Hoàng lấy Thái Tông Trần Cảnh đã 12 năm mà chưa sinh con, Thủ Độ bèn ép Thái Tông giáng xuống làm Công chúa, rồi đem chị của Lý Chiêu Hoàng là Thuận Thiên công chúa, gả cho Thái Tông làm Hoàng hậu. Khi ấy Thuận Thiên Công chúa là vợ của Trần Liễu, và đã có thai với Trần Liễu 3 tháng.

Công và tội?
            Trần Thủ Độ nắm quyền hành nhà Lý và là linh hồn của chính quyền nhà Trần cho đến khi ông mất vào năm 1264, tức trên 40 năm điều hành đất nước. Đánh giá về Trần Thủ Độ, các sử gia Nho giáo đã không tiếc lời chỉ trích.
            Như việc Thủ Độ đổi vợ thay chồng trong tôn thất nhà Trần như đã nêu trên, Ngô Thời Sĩ trong Đại Việt Tiêu Án đã thốt lên: “…con nhà chài lưới chả biết lễ nghĩa là gì, tập tục loạn luân như thế…” Sử gia Phan Phu Tiên nhận định: “Tam cương ngũ thường, đó là luân lý trọng đại của loài người. Thái Tông là vua sáng nghiệp, đáng nên lập ra phép tốt để cho đời sau theo, thế mà lại nghe mưu gian tà của Thủ Độ, cướp vợ anh làm vợ mình, như thế chả phải tự mình làm trái luân thường để mở đầu cái mối dâm loạn đấy ư?” Sử gia Trần Trọng Kim thì cho rằng: “Làm loạn nhân luân như thế thì từ thượng cổ mới có một”.
            Còn việc Trần Thủ Độ dùng hôn nhân cướp ngôi nhà Lý, thì các sử gia Nho giáo cũng phê phán nặng nề. Chẳng hạn như các sử gia nhà Nguyễn đã phê trong bộ Việt Sử Thông Giám Cương Mục rằng: “Huống chi làm những nết xấu như chó lợn, dạ độc như hùm beo, dựng nước mà như thế thì làm thế nào mà lâu dài được?… Thực là việc lạ, suốt nghìn xưa chưa hề có”.
            Thế nhưng, ngoài việc này ra, nếu nhìn vào giai đoạn sau khi cướp ngôi nhà Lý, thì Trần Thủ Độ lại là người có công lớn không chỉ với nhà Trần mà còn với cả non sông. Như đã nói, ông nắm quyền lèo lái triều đình nhà Trần đến khi mất vào năm 1264. Trong giai đoạn đó, một loạt công việc từ kinh tế, chính trị, quốc phòng… đã được thực hiện.
            Phải nhìn nhận một cách khách quan rằng, kể từ thời Cao Tông nhà Lý, triều đình bắt đầu lâm cảnh suy vi, vua mải ăn chơi bỏ bê chính sự, loạn lạc khắp nơi nổi lên, kinh tế suy sụp. Sau khi nhà Trần được lập, vua Trần Thái Tông chỉ là cậu bé chưa đầy 10 tuổi. Chính Trần Thủ Độ đã ngược xuôi dẹp nội loạn, đưa đất nước từ loạn đến trị. Ông cũng đã lèo lái hệ thống chính quyền khôi phục kinh tế, định lại thuế khóa, xây dựng đê điều, mở rộng chế độ tư hữu ruộng đất, xây dựng và củng cố quân đội, chăm lo học hành…
            Chính vào giai đoạn này, nhà Trần đã mở khoa thi Thái học sinh (Tiến sĩ) đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Ngoài việc lập Quốc học viện để giảng Tứ thư Ngũ kinh, Trần Thủ Độ còn cho lập giảng võ đường để luyện tập võ nghệ. Sử gia Trần Trọng Kim là người phê phán gay gắt chuyện Trần Thủ Độ soán ngôi nhà Lý, cũng thừa nhận rằng: “Thủ Độ một tay cáng đáng bao nhiêu trọng sự, giúp Thái Tông bình phục được giặc giã trong nước và chỉnh đốn lại mọi việc, làm cho nước Nam ta bấy giờ được cường thịnh, ngày sau có thể chống cự được với Mông Cổ, khỏi phải làm nô lệ những kẻ hùng cường”.
            Một công lớn nữa của Trần Thủ Độ đó là ông đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên-Mông lần thứ nhất vào năm 1258. Trần Thủ Độ với vai trò là người nắm đại quyền ở triều chính, đã xúc tiến việc củng cố quân đội. Khi giặc Nguyên-Mông tràn sang, quân đội nước Nam khi ấy có đến 20 vạn người. Đây là một chiến công trong xây dựng quân đội sau giai đoạn trì trệ kéo dài của các vua cuối triều Lý. Trước thế mạnh của giặc, vua tôi nhà Trần phải rút khỏi Thăng Long. Khi ấy không phải không có đại thần toan đầu hàng. Sử cũ chép rằng, vua Thái Tông ngự thuyền đến hỏi Thái úy Trần Nhật Hiệu, vị quan này không trả lời mà cầm sào viết xuống nước hai chữ “Nhập Tống”. Sau đó, khi Thái Tông đến hỏi Thái sư Trần Thủ Độ, thì Thủ Độ trả lời: “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin Bệ hạ đừng lo”. Câu nói này đã cho thấy được tinh thần yêu nước đáng trân trọng của Trần Thủ Độ, vì nếu ông chỉ là người hám quyền hám danh thì đã không có cái chí khí kiên cường đến thế!
            Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê còn chép lại nhiều mẩu chuyện về đức độ làm quan của Trần Thủ Độ:
            – Thấy Thủ Độ quyền át cả vua, có kẻ ngầm vào gặp Vua Thái Tông mà nói rằng: “Bệ hạ còn thơ ấu, mà Thủ Độ quyền át cả vua, xã tắc rồi sẽ ra sao?” Thái Tông bèn cho bắt người đó giải đến phủ Thủ Độ. Sau khi nghe chuyện, Thủ Độ đáp: “Quả đúng như lời hắn nói”. Xong, đem tiền lụa mà thưởng cho người đó.
            – Linh Từ Quốc Mẫu Trần Thị Dung khi là vợ của Trần Thủ Độ, một hôm ngồi kiệu đi qua thềm cấm, bị quân hiệu ngăn lại, về dinh khóc với Thủ Độ. Ông tức giận sai người đi bắt người quân hiệu kia. Người quân hiệu thất kinh và tưởng thế nào cũng chết. Nhưng khi đến trình bảo mọi điều với Thủ Độ, thì Thủ Độ lại khen ngợi người lính hiệu đã biết giữ đúng phép nước và ban thưởng cho.
            – Có lần, bà Trần Thị Dung xin với Thủ Độ cho một người được làm câu đương. Thủ Độ nhận lời. Khi gặp người ấy, ông bảo: “Người vì có công chúa xin cho được làm câu đương, không ví như những câu đương khác được, phải chặt một ngón chân để phân biệt”. Người nọ hoảng hồn khóc lóc van xin mãi mới được tha và không dám xin chức câu đương nữa. Từ đó không ai dám đến thăm Thủ Độ vì việc riêng nữa.
            – Có lần Thái Tông muốn cho người anh ruột của Thủ Độ là An Quốc làm tể tướng. Thủ Độ bèn tâu: An Quốc là anh thần, nếu giỏi hơn thần thì thần xin rút lui, còn nếu cho thần giỏi hơn An Quốc thì không thể cử An Quốc, nếu anh em đều làm tể tướng cả thì việc triều đình sẽ ra sao? Vua nghe nói vậy mới thôi.
            Qua đó, ta thấy rằng Trần Thủ Độ rõ ràng là một vị quan gương mẫu xưa nay hiếm, một người “vĩ công vi thượng”. Sử gia Nguyễn Khắc Thuần trong bộ Việt Sử Giai Thoại đã nhận định: “Chính quyền nhà Trần là chính quyền của quý tộc họ Trần. Chính quyền ấy cho phép con em quý tộc được quyền sống dựa vào uy danh và bổng lộc của cha ông. Song, đọc chuyện Trần Thủ Độ, ai dám bảo con cháu ông sẽ dựa hơi ông để ức hiếp người đời!”
            Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê nhìn nhận: “Thủ Độ tuy không có học vấn nhưng tài hơn người, làm quan triều Lý được mọi người suy tôn. Thái Tôn lấy được thiên hạ đều nhờ vào mưu sức của ông cả… Thủ Độ tuy làm tể tướng, nhưng mọi việc không việc gì không để ý. Vì thế đã giúp nên vương nghiệp và giữ được tiếng tốt cho đến lúc mất. Thái Tông có làm bài văn bia ở sinh từ để tỏ lòng đặc biệt quý mến ông. Thế nhưng cái tội giết vua và thông dâm với hoàng hậu thì khó lẩn tránh với đời sau vậy”. Khâm Định Triều Nguyễn cũng cho rằng: “…những việc giết vua triều trước và thông dâm với vợ vua, việc gì Thủ Độ cũng nhẫn tâm làm cả. Như thế Thủ Độ là bầy tôi có công với triều Trần, mà là người có tội với triều Lý”. Sử gia Trần Trọng Kim cho rằng: “Thủ Độ là một người rất gian ác đối với nhà Lý, nhưng lại là một đại công thần của nhà Trần”.
            Đến đây, ta thấy rằng, việc các sử gia khen và chê Trần Thủ Độ tựu chung có hai điểm:
            – Chê việc ông đã soán ngôi nhà Lý và còn độc ác tận diệt người họ Lý, chê vì ông đã bất chấp luân thường để thay đổi gán ghép hôn nhân của người trong gia tộc họ Trần.
            – Khen ông là một người lãnh đạo có tài và hết lòng vì nước.
            Rõ ràng, ta thấy rằng, tất cả những việc Trần Thủ Độ làm bên trên là vì dòng tộc họ Trần, vì để củng cố triều Trần. Như vậy đối với dòng tộc họ Trần ông là người có công. Sau khi dựng nên nhà Trần, Thủ Độ tay nắm đại quyền đã vực dậy đất nước sau giai đoạn suy tàn thời mạc Lý, để làm tiền đề cho nước Việt đủ sức đương đầu và ba lần đánh lui quân xâm lược Nguyên-Mông, một đội quân chinh phạt mà trước đó đã “làm cỏ” khắp Á Âu. Như vậy, đối với non sông, Thủ Độ cũng lập đại công.
            Một điểm cần lưu ý nữa là, chúng ta không thể không công nhận vai trò của Trần Thủ Độ đối với Trần Quốc Tuấn. Nên nhớ rằng, Trần Thủ Độ nắm đại quyền đến năm 1264, và trong cuộc xâm lược lần thứ nhất của quân Nguyên-Mông vào năm 1258, Trần Quốc Tuấn cũng đã có tham gia dưới sự chỉ huy của Trần Thủ Độ, và khi ấy Trần Quốc Tuấn chỉ mới 30 tuổi còn Trần Thủ Độ đã 64 tuổi. Hơn nữa Trần Thủ Độ lại là chú họ của Trần Quốc Tuấn. Không thể nói rằng, cái tinh thần vì sự đoàn kết của họ tộc Trần và vì nước vì dân của Trần Hưng Đạo sau này không có ảnh hưởng của Trần Thủ Độ.

Đời luận anh hùng
            Đương nhiên, sự phê phán của các sử gia Nho giáo ngày xưa là gay gắt bởi nếu đứng trên lập trường Nho giáo, thì rõ ràng việc soán ngôi nhà Lý của Trần Thủ Độ là trái đạo luân thường. Thế nhưng, cũng nên nhớ rằng, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, Nho giáo được khai thác ở những điểm cực đoan nhất nhằm phục vụ cho việc củng cố nhà nước phong kiến. Cái tinh thần trung quân khi ấy đã được đẩy lên mức cực đoan, đến mức mà người ta chỉ thấy vua mà không thấy nước, chỉ biết trung với vua mà không biết trung với nước. Trong khi mà Nho giáo không hề ca ngợi cái “ngu trung”. Á Thánh Mạnh Tử còn nói rằng: “Quân chi thị thần như thủ túc, tắc thần thị quân như phúc tâm. Quân chi thị thần như khuyển mã, tắc thần thị quân như quốc nhân. Quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù” (Vua xem bầy tôi như tay chân thì bầy tôi xem vua như máu thịt, vua xem bầy tôi như chó ngựa thì bầy tôi xem vua như người lạ trong nước vậy thôi, vua xem bầy tôi như đất cỏ thì bầy tôi xem vua như giặc thù). Nói như vậy thì chữ trung có giới hạn chứ không phải vua thế nào thì bầy tôi cũng phải trung. Bởi vì, Mạnh Tử nói: “Dân vi quí, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Trước có dân sau mới tới nước, rồi mới tới vua). Thế thì dân và lợi ích của dân vẫn là trọng nhất.
            Trở lại trường hợp của Trần Thủ Độ, đặt giả thuyết ông không soán ngôi nhà Lý mà tiếp tục “ngu trung”, thì với cái thế suy vi của nhà Lý lúc bấy giờ liệu nước Việt có thể giữ được chủ quyền quốc gia hay không, chứ chưa nói đến chuyện có thể đánh bại quân xâm lược Nguyên-Mông? Sau hơn bảy thế kỷ nhìn lại, đứng trên phương diện lợi ích quốc gia, ta thấy rằng, Trần Thủ Độ thật sự là người có công với xã tắc. Trường hợp của Trần Thủ Độ cũng là một lời nhắc nhở các thế hệ khi nhận xét đánh giá về bất kỳ một nhân vật lịch sử nào, đó là: không nên đánh giá chỉ dựa vào tiểu tiết mà xem nhẹ những đóng góp lớn lao cho đại cuộc.


LÊ PHƯỚC
Tháng 8/2013


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130830-tran-thu-do-doi-luan-anh-hung

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #46 vào: 03/08/2017, 18:55:01 »

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20130830-tran-thu-do-doi-luan-anh-hung

@nduytai: link của bài viết không thể truy cập được, nhờ bác xem lại link gốc của bài.
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #47 vào: 08/08/2017, 12:46:00 »
Quầy sách cổ, sách cũ: nét chấm phá dọc bờ sông Seine

Du khách đến với Kinh Đô Ánh Sáng, khi đi dạo dọc bờ sông Seine, ngoài chiêm ngưỡng vẻ đẹp tráng lệ của những cây cầu như Pont Neuf, Alexandre Đệ Tam, các công trình kiến trúc-lịch sử danh tiếng như Nhà Thờ Đức Bà Notre Dame de Paris, tháp Eiffel… chắc hẳn không thể làm ngơ trước 250 quầy sách nhỏ, màu xanh lá cây thẫm bày bán vô vàn cuốn sách cổ, tạp chí, bản đồ, bưu thiếp, áp phích quảng cáo phim ảnh, tem thư cổ, quý hiếm hay đơn giản chỉ là những cuốn sách cũ…

Các hiệu sách cũ dọc bờ sông Seine, gần nhà thờ Đức Bà Paris

NHỮNG QUẦY SÁCH CŨ dọc bờ sông Seine còn được người dân Paris gọi bằng một cái tên khác là “các tiệm sách sông Seine”. Nhìn thì có vẻ đơn giản, khiêm nhường, nhưng các “tiệm sách sông Seine” nhỏ nhắn đó, cùng với quần thể dọc bờ sông Seine, đã được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới vào năm 1991.
            250 quầy sách cũ nằm dọc 3km kè sông Seine, với khoảng 1.000 thùng sách và số sách được bày bán lên tới khoảng 500.000 cuốn. Đây được coi là khu hiệu sách ngoài trời lớn nhất trên toàn thế giới. Ở tả ngạn, các quầy sách cũ tập trung từ kè Tournel tới kè Voltaire. Ở hữu ngạn sông Seine, các quầy sách lại nằm rải rác từ cầu Marie tới kè Louvre. Về lịch sử, các quầy sách cũ xuất hiện cách đây khoảng 400 năm, vào đầu thế kỷ 17, dưới thời trị vì của vua Henri IV.
            Ông Françis Robert là chủ một quầy sách cũ ở tả ngạn sông Seine, đối diện quảng trường Saint-Michel, gần nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris, đồng thời là thành viên ban đại diện các “hiệu sách sông Seine”. Ông có thâm niên bán sách cũ ở đây được 38 năm, từ năm 1979. Ông bắt đầu biết đến các quầy sách cũ dọc bờ sông Seine khi 15 tuổi. Giờ ông Françis Robert đã 63 tuổi. Có nhiều chủ quầy sách mà ông biết từ khi ông mới 15 tuổi. Gần 50 năm đã trôi qua, họ vẫn còn bán sách ở đây. Khi chuyện trò với RFI Việt ngữ, ông Françis Robert đã giới thiệu với chúng tôi như sau:

             “Các quầy sách cũ đầu tiên xuất hiện trên cầu Pont Neuf (Cầu Mới), phía đằng kia kìa. Pont Neuf là cây cầu đầu tiên ở Paris không có nhà ở hai bên thành cầu. Khi đó, có những người đeo hộp đựng sách sau lưng đi bán dạo trên cầu Pont Neuf. Có khoảng 10 người. Họ được cấp giấy phép bán sách dạo trên cầu. Về sau, số người bán sách dạo tăng lên. Không có đủ chỗ trên cầu nên họ bày bán sách ở đầu cầu, phía tả ngạn sông Seine vì tả ngạn sông Seine là khu vực có nhiều trí thức, trường học, hiệu in, nhà xuất bản và nhiều hiệu sách. Và như thế, các quầy sách cũ bắt đầu có từ đoạn đầu cầu Pont Neuf, xuôi về tả ngạn sông Seine. Ở phía hữu ngạn sông Seine khi đó không có ai bán sách cả. Tôi không nói là người dân ở hữu ngạn sông Seine không có học thức, nhưng khi đó, người ta không bán sách ở hữu ngạn sông Seine”.

            Trong suốt thế kỷ XVII và nửa đầu thế kỷ XVIII, những người bán sách cũ đã nhiều lần bị cấm rồi lại được cho phép bán hàng trở lại. Phải tới thời Cách Mạng Tư Sản Pháp thì các quầy sách cũ mới phát triển. Năm 1789, từ bouquiniste – “người bán sách cũ” được đưa vào từ điển của Viện Hàn Lâm Pháp. Tới thời Napoléon Đệ Tam, những người kinh doanh sách cũ mới chính thức được cấp giấy phép hành nghề. Và vào năm 1859, thành phố Paris quy hoạch hai bên kè sông Seine. Những người sách cũ có chỗ ngồi cố định dọc kè. Trong những năm nổ ra Chiến Tranh Thế Giới II, một số quầy sách cũ đã trở thành hòm thư liên lạc bí mật phục vụ quân Đồng Minh.

Đam mê và tri thức
            Đối với đa phần chủ quầy sách cũ, đây là nghề “cha truyền, con nối”. Họ coi đó là truyền thống của gia đình. Nhiều người học nghề từ ông bà, cha mẹ. Có những gia đình cả ba thế hệ – ông bà, cha mẹ và con cái đều cùng bán sách cũ ở bờ sông Seine. Họ sinh ra và lớn lên cùng những quyển sách cổ, cũ rồi theo nghề bán sách cũ. Một số khác có vợ, chồng hoặc bạn bè bán sách cũ, rồi dần dần họ đam mê công việc này. Hiếm có người tình cờ, hay vì chẳng có việc gì làm mà đi bán sách cũ! Đặc biệt nhất là gia đình cụ bà Hélène Gérard với 6 thành viên thuộc 4 thế hệ sở hữu mỗi người một quầy sách riêng dọc sông Seine. Bà Hélène Gérard bán sách tới năm 2011. Ở tuổi 93, bà là người cao tuổi nhất trong số các chủ quầy sách cũ. Khi đó, cô cháu gái Charlotte Greppo gọi bà Hélène Gérard là cụ mới 21 tuổi và là thành viên trẻ tuổi nhất trong số 250 người bán sách cũ dọc bờ sông Seine.
            Làm thế nào để sở hữu một “tiệm sách sông Seine”? Ông Francis Robert giải thích:

            “Để có quầy sách ở đây, cần đăng ký với tòa thị chính Paris. Có một cơ quan chuyên phụ trách việc này. Có một ủy ban xét duyệt, không phải năm nào cũng có, có khi phải 2-3 năm mới có một lần. Ủy ban này sẽ xét hồ sơ của các ứng viên. Ủy ban có 3 thành viên là chủ quầy sách, 3 đại diện của thành phố Paris và 3 đại diện cho giới kinh doanh sách. Các ứng viên không cần điều kiện đặc biệt gì, nhưng đương nhiên họ phải am hiểu và đam mê sách. Thường thì họ có nhiều hiểu biết về sách và có bộ sưu tập sách rất đồ sộ. Đôi khi đó là những người đã từng là chủ hiệu sách trên phố nhưng bị phá sản và họ muốn có một quầy sách thế này… Nói chung, đây là lĩnh vực đòi hỏi phải có tri thức”.

            Am hiểu văn chương, đam mê sách, một số chủ quầy sách cũ còn là nhà văn, chẳng hạn chị em bà Laurence và Liliane Korb đã xuất bản 4 tiểu thuyết trinh thám dưới bút danh Claude Izner. Người ta có thể tìm thấy đủ loại sách dọc bờ sông Seine. Một số quầy sách chuyên về truyện tranh, một số khác lại bán chủ yếu sách lịch sử hay tiểu thuyết văn học…


Một hiệu sách cũ dọc bờ sông Seine, Paris

Sách hay quà lưu niệm?
            Những người bán sách cũ ven sông Seine không phải nộp thuế kinh doanh, cũng không phải trả tiền thuê mặt bằng cho thành phố Paris, nhưng họ phải tuân thủ những quy định chặt chẽ mà chính quyền thành phố đề ra, từ kích thước thùng sách cho tới số ngày bán sách trong tuần. Theo quy định có từ năm 1993, mỗi quầy sách trải dài tối đa 8,6m, gồm tối đa 4 thùng sách. Mỗi thùng sách dài 2m, rộng 75cm, mặt sau hộp sách, phía sát sông Seine cao 60cm, mặt trước thùng sách cao 35cm. Tất cả các thùng sách đều bằng kim loại, sơn màu xanh lá cây thẫm. Mỗi tuần, các quầy sách phải mở cửa ít nhất 4 ngày/tuần, trừ những ngày mưa, tuyết hay gió bão.
            Tới năm 2009, trước tình trạng các quầy sách bán quá nhiều đồ lưu niệm, đặc biệt ở hữu ngạn sông Seine hay khu trung tâm du lịch gần nhà thờ Đức Bà Notre Dame de Paris, tòa thị chính Paris lo ngại các quầy sách không còn đúng nghĩa là quầy sách như trước đây nên đã ra quy định theo đó mỗi quầy sách chỉ được bày bán tối đa một hộp đồ lưu niệm. Một quan chức phụ trách các quầy sách cũ ven sông Seine giải thích nếu muốn bán đồ lưu niệm thì họ phải đăng ký mở cửa hàng chuyên bán đồ lưu niệm, điều đó có nghĩa là họ phải nộp thuế kinh doanh chứ không được miễn thuế kinh doanh như những người bán sách cũ. Và chính quyền Paris tỏ ra rất cứng rắn, nhất là từ sau năm 2010 vì vào năm đó, chỉ có 22 quầy sách mới mà có tận hơn 100 ứng viên nộp hồ sơ. Chính quyền tin tưởng rằng họ sẽ tìm được những người thực sự chỉ muốn kinh doanh sách cũ.
            Ông Francis Robert cho biết trước đây ông chuyên bán truyện tranh, nhưng từ vài năm nay, do ảnh hưởng của Internet, công việc kinh doanh sách của ông gặp nhiều khó khăn vì khách hàng có nhiều cách mua sách, truyện khác nhau. Vì thế, ông phải bán thêm cả quà lưu niệm. Ông Francis Robert cho biết có hai loại khách hàng. Những khách mua sách lâu năm, họ là người dân Paris, hay là người dân ở tỉnh, nói tóm lại là người Pháp. Còn khách du lịch thì thường mua đồ lưu niệm. Rất ít khách du lịch nước ngoài tới Pháp để mua sách bằng tiếng Pháp. Một số chủ quầy sách cũng cùng ý kiến với ông Francis Robert. Họ cho rằng chỉ bán sách thì không đủ sống.
            Nhưng việc một số quầy sách cũ bán nhiều đồ lưu niệm không chỉ vấp phải sự phản đối của chính quyền Paris, mà còn bị chính một số chủ quầy sách, nhất là những người bán sách ở tả ngạn sông Seine phản đối. Ông Alain, người có thâm niên bán sách cũ từ 30 năm và chỉ trung thành với các cuốn sách, giải thích: “Chất lượng của một quầy sách cũ nằm ở sự lựa chọn sách của chủ quầy và sự am hiểu các tác phẩm mà họ bày bán. Một số quầy sách bán những cuốn sách có giá 20 xu, chỉ để cho có bán mà thôi. Họ bán đủ thứ khác nữa. Có nghĩa là họ đã chuyển sang làm nghề khác mất rồi”. Ông Alain cũng khẳng định: “Nếu bán sách mà không có lãi thì chúng tôi đã không còn ngồi bán ở đây nữa!” Ông Alain say mê với công việc tới mức không mấy khi đi nghỉ. Ông thích vừa ngồi đọc sách, vừa trông quầy hàng hơn là đi nghỉ, kể cả vào mùa hè.
            Từ một, hai năm nay, du lịch mất mùa cũng khiến các quầy sách cũ thất thu. Sau khi xảy ra khủng bố ở Paris, theo ông Francis Robert, số sách cũng như đồ lưu niệm bán được đều đã giảm 50%. Nhưng nhiều người tin rằng với những con người hiểu biết, đam mê, gắn bó với những cuốn sách cổ, sách cũ như gia đình cụ bà Hélène Gérard, ông Alain và ông Francis Robert, những quầy sách cũ dọc kè sông Seine sẽ mãi còn đó, để “Paris vẫn mãi là Paris”! Và hy vọng những người bán sách cũ dọc bờ sông Seine vẫn mãi là “những người bán tri thức, tâm hồn và niềm hạnh phúc” như thi sĩ danh tiếng Anatole France từng viết.


THÙY DƯƠNG
Tháng 7/2017


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20170707-quay-sach-co-sach-cu-net-cham-pha-doc-bo-song-seine

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #48 vào: 10/08/2017, 14:43:17 »
Thái Thanh, hơn nửa thế kỷ “khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”

Trong một đêm mùa đông cách đây gần 40 năm, những người từng hoạt động trong phong trào thanh niên sinh viên tại Sài Gòn trước năm 1975 gặp nhau tại tư gia của cố Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích ở Virginia, Hoa Kỳ. Cố nhạc sĩ Phạm Duy, người hiện diện trong đêm hôm ấy chợt thốt lên: “Bây giờ mà nghe tiếng hát Thái Thanh thì sướng bỏ một đời.”

Nữ danh ca Thái Thanh

                       “Đêm về trên bánh xe lăn.
                        Tôi trăng viễn xứ, hồn thanh niên vàng.
                        Tìm tôi đèn thắp hai hàng.
                        Lạc nhau cuối phố, sương quàng cỏ cây.
                        Ngỡ hồn tu xứ mưa bay.
                        Tôi chiêng trống gọi, mỗi ngày mỗi xa…

                        (Đêm nhớ trăng Sài Gòn)

LÚC ẤY, nữ danh ca Thái Thanh vẫn còn ở Việt Nam.

Nhà văn Phạm Xuân Đài nhớ lại: Sau 1975, theo tôi được biết thì bà Thái Thanh ở lại trong nước, bà từ chối không hát gì hết. Bà giữ im lặng, không xuất hiện trước công chúng. Tôi có một câu chuyện là khi Thanh Tâm Tuyền ở tù về, Thái Thanh có đến thăm và hát cho Thanh Tâm Tuyền nghe một số bài hát phổ nhạc từ thơ của Thanh Tâm Tuyền, trong tình cảm bạn bè với nhau chứ không xuất hiện trước công chúng.

            Rất nhiều danh xưng được đặt ra dành tặng riêng cho bà, nữ danh ca của Việt Nam từ những năm 50. Người miền Nam thời bấy giờ gọi bà là “đệ nhất danh ca”. Nhà văn Mai Thảo cuối thập niên 60 tặng cho bà cái tên “Tiếng hát vượt thời gian”. Người nghe nhạc Phạm Duy gọi bà bằng hình ảnh của “Tiếng khóc cười theo mệnh nước nổi trôi”.

Tiếng hát cho quê hương, cho tình Mẹ

                        “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
                        Mẹ hiền ru những câu xa vời
                        À à ơi ! Tiếng ru muôn đời…

                        (Tình ca)

             “Nghe Thái Thanh hát mới thấy thấm thía thế nào là tiếng mẹ đẻ, nhất là khi nghe Thái Thanh hát bài Tình ca của Phạm Duy. Mỗi chữ Thái Thanh hát ra như một giọt nước mắt của người Việt Nam sống xa quê hương.
            Đó là tâm trạng của nhà thơ Trần Mộng Tú khi bà nghe tiếng hát Thái Thanh cất lên ở một nơi không phải là Việt Nam.
            Phải nói ngay rằng, tiếng hát của Thái Thanh, không phải là tiếng hát của u buồn, không sầu bi nức nở. Đó là tiếng hát của sự hoan lạc. Trong tiếng hát ấy chứa đựng cái réo rắt của tiếng suối, pha lẫn sự lan tỏa của ánh sáng, và toát lên cái hạnh phúc của một tình yêu, tình yêu quê hương, tình Mẹ.

Nhà thơ Trần Mộng Tú: Rất nhiều lần tôi đã tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát Thái Thanh đã tác động vào làm cho mình cảm động, rung động như thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, Tình ca, Bà mẹ Gio Linh chẳng hạn.

            Tiếng hát ấy, theo lời nhà văn Phạm Xuân Đài, là cả một thế giới đặc biệt, làm cho người ta rung động một cách kỳ diệu. Và từ sự rung động ấy, mà mỗi một người, trong một hoàn cảnh và thân phận của chính họ, sẽ nhận thấy những cung bậc tình cảm khác nhau dành riêng cho mình.
            Tiếng hát ấy, hơn nửa thế kỷ, kể từ khi bà bắt đầu đi hát 1951 đã trở thành tiếng hát tiêu biểu của nền tân nhạc Việt Nam với dòng nhạc tiền chiến cũng như nhạc tình.

                        “Em tan trường về
                        Đường mưa nho nhỏ
                        Em tan trường về
                        Đường mưa nho nhỏ
                        Ôm nghiêng tập vở
                        Tóc dài tà áo vờn bay…

                        (Ngày xưa Hoàng Thị)

            Nhắm mắt lại và nghe tiếng hát Thái Thanh, người ta sẽ không chỉ nghĩ đến tình yêu lứa đôi thôi, mà người ta sẽ cảm nhận được tình yêu to lớn hơn, thiêng liêng hơn, vĩ đại hơn, đó là tình yêu đất nước.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa, phu quân của cố ca sĩ Quỳnh Giao, một người bạn tri âm của bà cảm nhận rằng: Khi nghe tiếng hát của Thái Thanh, thì chúng ta có thể nghĩ đến lời ru của Mẹ. Khi mình không còn ở tuổi yêu đương nữa mà mình nghe mình vẫn còn thấy nức nở thì đó không phải chỉ vì tình yêu không thôi, mà nó còn có tình yêu con người và tình yêu của người Mẹ.

                        “Mẹ già cuốc đất trồng khoai
                        Nuôi con đánh giặc đêm ngày
                        Cho dù áo rách sờn vai
                        Cơm ăn bát vơi bát đầy
                        Hò ơi ơi ới hò! Hò ơi ơi ới hò!…

                        (Bà mẹ Gio Linh)

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa: Thái Thanh với tâm hồn của người Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương nhất của thế kỷ 20. Từ một thiếu nữ hát những bản tình ca gây xúc động sang giai đoạn đi hát cũng là giai đoạn có cuộc chiến lầm than nhất của đất nước. Những ca khúc Thái Thanh hát về chiến tranh cho thấy điều quan trọng hơn là quê hương và người Mẹ trong chiến tranh.

            Hạnh phúc, lầm than của dân tộc Việt Nam trong một giai đoạn nhiễu nhương của lịch sử được tái hiện trọn vẹn qua tiếng hát Thái Thanh. Bà hát với tất cả tâm hồn, trái tim của người Việt Nam. Những âm thanh của quá khứ, của dân tộc trong các bài dân ca, chầu văn, hát chèo đều được bà bộc tả bằng những cảm xúc tự nhiên nhất.
            Nhà văn Phạm Xuân Đài cho rằng những yếu tố văn hóa dân tộc, âm thanh của dân tộc ấy có sẵn trong con người của Thái Thanh. Khi cần, những yếu tố ấy được bà diễn tả ra một cách nhuần nhuyễn, tự nhiên làm cho người nghe dù chợt thoáng qua cũng rung động ngay.


Bìa CD Hội Trùng Dương của Nữ Danh ca Thái Thanh

“Tiếng hát thông minh”

Nhà văn Phạm Xuân Đài: Khi mà tôi nghe tiếng hát của Thái Thanh, từ hồi còn trẻ, rồi qua thời gian lớn lên, rồi lúc mình chín chắn hơn… kết luận riêng của tôi, tiếng hát của Thái Thanh là một tiếng hát thông minh. Thái Thanh là một người rất thông minh. Vì khi mình nghe bà diễn tả thì hầu như bài hát nào cũng rung động đến tận tâm can. Hình như mọi ý tình của nhạc sĩ sáng tác thì bà Thái Thanh đã chuyển trọn vẹn đến người nghe qua giọng hát của bà. Phải là người thông minh lắm, hiểu hết sắc thái của người nhạc sĩ, và hiểu âm nhạc, hiểu âm thanh thì mới có khả năng diễn đạt hết tất cả những tinh tế đó.

            Chính nhà văn Phạm Xuân Đài đã nhiều lần tự hỏi tại sao Thái Thanh lại có một giọng hát như thế? Cái gì trong giọng hát của bà đã tác động vào làm cho người nghe cảm động, rung động như thế khi hát về quê hương đất nước, Tình hoài hương, tình ca, Bà mẹ Gio Linh…?

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa: Thứ nhất Thái Thanh là người nắm vững nhạc lý. Thái Thanh đàn piano rất hay. Thứ nhì, Thái Thanh có giọng hát thiên phú thì đã đành rồi nhưng có một biệt tài là phát âm rất rõ những lời ca. Nhờ vậy mà cho đến sau này, nếu người ta nghe lại người ta mới biết người Việt lúc đó đã yêu thương, than khóc hay khóc cười theo mệnh nước nổi trôi như thế nào. Có được tiếng hát như vậy thì cũng phải có một đời sống bên trong rất phong phú thì mới có thể diễn tả được, ngoài chuyện có được tiếng hát thiên phú trời cho. Mà tồn tại được mãi như vậy thì phải có một kỷ luật trong đời sống.

Một đời nghệ thuật
            Thái Thanh đối diện với tác phẩm nghệ thuật như là người sắp diễn tả nó chứ không mang sẵn tâm trạng của mình. Bà không để cảm xúc riêng của mình, tình cảm riêng của mình trong một tình cảnh nào đó của đời mình vào trong bài hát. Bà chỉ sống trọn vẹn với bài hát ấy mà thôi.

Nhà văn Phạm Xuân Đài: Thái Thanh khi hát chỉ đối diện vời bản nhạc đó thôi, không để cảm xúc riêng của mình trong đó. Đối với Thái Thanh, nghệ thuật là trên hết khi diễn đạt. Khi nhìn vào một bản nhạc thì biết ngay tác giả muốn nói cái gì, mình đối diện với cái gì, mình sẽ diễn đạt cái gì chứ không phải mình nói tâm trạng của mình. Thái Thanh rất khách quan trong việc trình bày một nhạc phẩm. Khi hát Dòng sông xanh, Mối tình xa xưa, hay Serenade thì Thái Thanh hát trong tâm cảm của một người ở phương trời Tây, của nhạc Tây phương.

            Hơn nửa thế kỷ tiếng hát trôi qua, tiếng hát của bà đã đi cùng lịch sử văn hóa, âm nhạc Việt Nam với những cung bậc thâm trầm khác nhau. Không biết là giờ đây bà có còn khóc cười theo vận nước nổi trôi nữa hay không, nhưng chắc chắn rằng, tiếng hát của bà sẽ mãi mãi vượt thời gian, không gian để trở thành một di sản của nền âm nhạc Việt.

                        “Một yêu câu hát Truyện Kiều
                        Lẳng lơ như tiếng sáo diều (ư diều) làng ta
                        Và yêu cô gái bên nhà
                        Miệng xinh ăn nói thật thà (à à) có duyên
                        Tôi yêu đất nước tôi, nằm phơi phới bên bờ biển xanh
                        Ruộng đồng vun sóng ra Thái Bình
                        Nhìn trùng dương hát câu no lành…


CÁT LINH
Tháng 8/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/famous-n-timeless-singer-thai-thanh-cl-08072016124822.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #49 vào: 15/08/2017, 18:23:13 »
Nhà văn Tennessee Williams, một đời người muôn kiếp sống

Nếu còn sống, năm nay Tennessee Williams sẽ tròn 100 tuổi. Nhân dịp kỷ niệm 100 ngày sinh của nhà văn người Mỹ, nhiều vở kịch của tác giả này được dựng lại trên sân khấu, trong đó có vở Un paradis sur terre (Thiên đường hạ giới). Một số tác phẩm như hồi ký, tiểu thuyết, truyện ngắn được tái bản hay lần đầu tiên được phát hành bằng tiếng Pháp.

Nhà văn người Mỹ Tennessee Williams 1911-1983

TRONG SỐ các quyển sách vừa mới được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Pháp, có hai tập đoản bút De vous à moi tập hợp nhiều bài viết ngắn, ít được phổ biến của chính tác giả. Thông qua những bài viết này, mà giới chuyên ngành thường gọi là văn xuôi nhưng không mang tính hư cấu (prose non fictionnelle), nhà văn Tennessee Williams chủ yếu đề cập đến công việc sáng tác của mình. Đó có thể là một lời mở đầu (không được đăng) cho một tựa sách, một bài phân tích mà ông thường viết cho các nguyệt san hay một lời chú thích tác phẩm mà ông gửi cho một diễn viên đang chuẩn bị đóng phim hay đóng kịch.
            Một số nhà phê bình cho rằng những bài viết theo kiểu này không có nhiều giá trị văn học, nhưng ít ra nó cho thấy phần nào quá trình sáng tác cùng những ý tưởng mà nhà văn muốn gửi gấm qua tác phẩm. Các bài viết cũng cho thấy cá tính của nhà văn Tennessee Williams bởi vì một số đoản văn xuôi ở đây không có sự sàng lọc nào cả, do không nhằm mục đích phổ biến cho đại đa số độc giả.
            Bên cạnh nhiều quyển tiểu sử đã được cho ra mắt, gần đây nhà xuất bản Baker Street cho phát hành quyển sách mang tựa đề Tennessee Williams, une vie (tạm dịch Tennessee Williams, một đời người). Tác giả của quyển tiểu sử này là cô Catherine Fruchon-Toussaint, nhà báo phụ trách chuyên mục Phê bình Văn học làm việc cho đài phát thanh quốc tế Pháp RFI. Catherine Fruchon-Toussaint giải thích vì sao cô đã chọn một tựa đề như vậy:

            Quả thật là quyển tiểu sử này có thể được đặt tựa là Mille et une vies, cho thấy muôn mặt cuộc đời của Tennessee Williams. Kinh nghiệm sống của nhà văn Tennessee Williams dày không thể tưởng. Có thể nói là chỉ trong một đời người, ông đã sống nhiều kiếp khác nhau. Để phác họa lại cuộc đời của Tennessee Williams, tôi không kể theo trình tự thời gian, mà lại kể theo nhiều tuyến khác nhau: mỗi chương là một chủ đề. Chẳng hạn như có một chương đối chiếu hai khía cạnh của Tennessee Williams: nhân vật của công chúng và đời tư của tác giả. Một chương sách khác thì lại nói về những đỉnh cao sự nghiệp và thất bại cá nhân.
            Cuộc đời và nghiệp cầm bút của ông đa hình và phức hợp, nên theo tôi nghĩ, rất khó thể nào mà đi theo một tuyến duy nhất. Lúc sinh tiền, Tennessee Williams nổi tiếng là một kịch tác gia, ông đã viết khoảng 30 vở kịch dài và 70 vở kịch ngắn. Đó là chưa kể đến 50 truyện ngắn, cộng thêm các tựa tiểu thuyết, hồi ký, tiểu luận, thơ mới, các kịch bản mà ông từng viết cho điện ảnh và truyền hình, bên cạnh một khối lượng thư từ đồ sộ mà ông đã trao đổi với giới văn nghệ sĩ cùng thời, mà mãi đến bây giờ ngành xuất bản Pháp mới bắt đầu cho chuyển dịch, một kho tàng quý báu đối với các nhà biên khảo nghiên cứu
.

            Những độc giả nào yêu chuộng Tennessee Williams đều không thể bỏ qua quyển Hồi ký của một con cá sấu (Mémoires d’un Crocodile – 1975) mà nhà văn đã viết vào năm 64 tuổi, tức là 8 năm trước khi ông qua đời (1983). Trong quyển hồi ký này, ông từng thú thật là văn chương đã cứu rỗi linh hồn của ông. Còn trong quyển tiểu sử vừa được phát hành Tennessee Williams, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint, đã dành nguyên một chương để nói về tầm quan trọng của chiếc máy đánh chữ, một món quà sinh nhật mà Tennessee Williams đã nhận được từ gia đình, năm mới lên 12 tuổi.

            Đúng thật là như vậy. Đối với người khác, máy đánh chữ chỉ là một dụng cụ, đối với Tennessee Williams, nó tượng trưng cho cả một lẽ sống. Trong quyển hồi ký, nhà văn từng kể lại cái tuổi thơ bất hạnh của mình. Ông lớn lên trong một gia đình mà người cha là một người đàn ông nghiện rượu, vũ phu hay đánh đập vợ con. Mẹ ông, tuy thương con, tuy là một nạn nhân của các vụ bạo hành trong gia đình, nhưng lại không biết che chở cho con cái. Trong gia đình mình, nhà văn Tennessee Williams rất gần gũi với người chị ruột tên là Rose. Hai người cách nhau 16 tháng tuổi nhưng lớn lên như chị em sinh đôi. Rose mắc chứng bệnh tâm thần phân lập, nên sau đó cô bị nhốt vào bệnh viện. Nhà văn lúc đó còn quá nhỏ để cưỡng lại quyết định này của gia đình. Mãi đến sau này, khi ông thành đạt trên đường đời, ông mới có thể đưa người chị ruột về nhà để trông nom chăm sóc.
            Thời còn nhỏ, nhà văn Tennessee Williams lâm bệnh nặng (LTS: bệnh bạch hầu – diphtérie), nên trong một thời gian dài ông không được đến trường lớp. Nhà văn Tennessee Williams được dạy học ở nhà, và theo lời khuyến khích của Rose, ông đọc sách và bắt đầu viết lách. Cũng nhờ vào người chị ruột, mà vào năm 12 tuổi, ông nhận được chiếc máy đánh chữ đầu tiên. Ông cho đăng truyện ngắn đầu tay vào năm 13 tuổi, nhưng sự nghiệp văn chương của nhà văn thật sự bắt đầu năm ông 17 tuổi, khi tác phẩm của ông (LTS: truyện ngắn
The Vengeance of Nitocris – 1928) được một nhà xuất bản chính thức phát hành. Từ đó trở đi, Tennessee Williams sẽ không bao giờ rời xa chiếc máy đánh chữ. Cứ vào mỗi buổi sáng, ông luôn luôn ngồi vào bàn đánh máy ít nhất là ba tiếng đồng hồ.
            Cho dù có rượu chè qua đêm, ăn chơi trác táng từ khuya đến sáng, nhưng Tennessee Williams luôn dành thời gian sáng tác qua việc đánh máy. Có người cho là quan hệ giữa nhà văn với chiếc máy đánh chữ, không phải là một luồng dưỡng khí cần thiết cho sáng tác, mà lại giống như một chất thuốc kích thích, mà người nghiện ngập không thể nào cưỡng lại nổi. Nhà văn Tennessee Williams từng nói rằng: ngoại trừ những lúc ông bị chứng trầm cảm, xuống tinh thần đến mức không thể nào sáng tác, thì ông cần viết hầu như là mỗi ngày vì bằng không ông sẽ hóa điên. Chiếc máy đánh chữ là vật dụng cụ thể gắn liền ông với thực tại và hóa giải những nỗi ám ảnh đeo đuổi ông suốt cuộc đời
.

            Thành danh vào năm 34 tuổi nhờ vào vở kịch The Glass Menagerie (tạm dịch là Bầy thú bằng thủy tinh), Tennessee Williams hai năm sau đó (1947) trở thành một tên tuổi lớn của làng văn học quốc tế nhờ vào vở kịch A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng). Cả hai tác phẩm này được dịch sang nhiều thứ tiếng cũng như được chuyển thể lên màn ảnh lớn với các ngôi sao nổi tiếng nhất màn bạc Hollywood thời bấy giờ. Đầu những năm 1950 là thời kỳ mà Tennessee Williams thường sang châu Âu để tham dự các buổi ra mắt công chúng các tác phẩm của ông. Mời quý thính giả nghe lại một đoạn trả lời phỏng vấn đài truyền hình Pháp của Tennessee Williams, qua đó nhà văn gợi lại những kỷ niệm của riêng mình với thủ đô Paris:

            Lần đầu tiên tôi có dịp đến thăm Paris là vào năm 15 tuổi. Vào lúc đó, tôi đi cùng với ông nội của tôi, vì ông thường hay tổ chức các chuyến du lịch cho Hiệp hội các tín hữu đạo Tin Lành. Về sau này, tôi vẫn thường xuyên trở lại Paris để thăm viếng bạn hữu, hoặc để tham dự các buổi ra mắt sách, các buổi diễn đầu tiên các vở kịch của tôi trên sân khấu Paris. Mỗi lần đến Paris, tôi cố gắng tranh thủ thời gian để đi xem một số vở kịch bằng tiếng Pháp.
            Tác phẩm mà tôi được xem lần này là vở kịch Don Juan của Molière được diễn tại nhà hát Comédie Française. Tôi rất thích đi xem kịch ở Paris vì điều đó gợi nhiều cảm hứng cho tôi về mặt ý tưởng, cách dàn dựng, chỉ đạo diễn viên, cách dùng ánh sáng: tôi có thể ứng dụng những điều mà tôi học hỏi vào trong những vở kịch của mình. Hiện giờ, vở kịch
A Streetcar named Desire (Chuyến tàu mang tên Dục vọng) đang rất thành công tại Mỹ, trên sân khấu Broadway của New York. Tôi hy vọng rằng tác phẩm này sẽ sớm được dịch sang tiếng Pháp, để có thể được dựng lên tại Paris trong thời gian tới.

            Vừa rồi là phát biểu của nhà văn Tennessee Williams nói về Paris. Trong quyển tiểu sử viết về nhà văn người Mỹ, nhà báo Catherine Fruchon-Toussaint dành nguyên một chương sách để nói lên cái quan hệ gắn bó của nhà văn người Mỹ với thủ đô Pháp. Ngoài việc lui tới với giới văn nghệ sĩ, những quan hệ với các đồng nghiệp, Tennessee Williams còn thích Paris ở chỗ hào nhoáng và nhất là cuộc sống về đêm.

            Tennessee Williams nổi tiếng là một nhà văn, nhưng ông lại sống như một siêu sao nhạc rock: với tất cả sự lộng lẫy hào nhoáng của thời kỳ tột đỉnh vinh quang, cũng như những mặt trái và cạm bẫy thường thấy trong ngành công nghiệp giải trí là rượu chè và ma túy. Ta có thể so sánh Tennessee Williams với một tác giả cùng thời với ông là Arthur Miller. Vào thời mà Arthur Miller thành hôn với thần tượng điện ảnh Marilyn Monroe, thì tác giả này vẫn thể hiện cho một thành phần trí thức thiên tả, sống một cách kín đáo và ít phô trương.
            Còn Tennessee Williams thì hoàn toàn khác hẳn, ông sống trong thế giới hào nhoáng của các ngôi sao màn bạc, xuất hiện bên cạnh Liz Taylor, Montgomery Clift, Marlon Brando. Tại Luân Đôn, ông lui tới với cặp diễn viên Vivian Leigh và Lawrence Olivier. Tại Ý, ông ở nhà của đạo diễn Luscino Visconti. Tại Paris, ông có quan hệ khá gần gũi với nhiều văn nghệ sĩ trong đó có nhà văn nổi tiếng là bà Françoise Sagan, người đã dịch một số tác phẩm của ông sang tiếng Pháp. Ngoài ra còn có diễn viên Charlotte Rampling vào đầu những năm 1970.
            Cũng cần biết rằng Tennessee Williams từng được mời làm chủ tịch ban giám khảo liên hoan Cannes vào năm 1976. Giai thoại kể rằng hầu như nơi nào có lễ hội tiệc tùng, có ăn chơi thâu đêm Tennessee Williams đều có mặt, như thể ông muốn sống hết mình cho khoảnh khắc, bất kể tiệc vui chóng tàn, bất kể sự quá độ có ảnh hưởng đến sức khỏe của mình, như thể ông không cần biết rồi ngày mai sẽ ra sao. Nếu như về mặt tư tưởng, ông ngưỡng mộ các tác giả Pháp như Sartre, Genet, Giraudoux, thì ngoài đời, ông có một cuộc sống hoàn toàn không giống như các nhà văn cùng thời
.

            Đột ngột qua đời vào năm 1983, một cái chết mà cho tới nay vẫn chưa thật sự được làm sáng tỏ, nhà văn Tennessee Williams đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lĩnh vực kịch nghệ của Hoa Kỳ. Các tác phẩm của ông trong đó có The Glass Menagerie (1945), A streetcar named Desire (1947), Cat on hot tin roof (1955), The Night of the Iguana (1961)… đoạt được nhiều giải thưởng lớn như Giải Pulitzer, Tony Awards hay Donaldson Awards của giới phê bình kịch nghệ.
            Trong cách xây dựng cá tính nhân vật, dường như chỉ có ngòi bút độc đáo của Tennessee Williams mới soi rọi thấu đáo những dồn nén dục vọng, lột tả trọn vẹn những ức chế nội tâm. Một khi được chuyển thể lên màn ảnh lớn, các nhân vật của Tennessee Williams lại càng nóng bỏng lửa tình, hừng hực tội lỗi.
            Tennessee Williams là một trong những nhà văn Mỹ đầu tiên sống công khai với định hướng giới tính của mình, nhưng ta không thể gán cho ông cái danh hiệu “hạn hẹp” của một nhà văn đồng tính. Xuyên qua các nhân vật khổ lụy, đọa đày muốn thoát mà vẫn không thoát ra khỏi vòng dục vọng, Tennessee Williams thật ra muốn nói lên nỗi cô đơn tột cùng của những tâm hồn vì khao khát yêu thương mà phải gánh chịu hay tự chuốc lấy nỗi đau khổ sâu xa.
            Nhưng Tennessee Williams lúc nào cũng có một cái nhìn hết sức trìu mến về những con người yếu đuối mong manh ấy. Dưới ngòi bút của Tennessee Williams, những vết gẫy tâm hồn lại lung linh huy hoàng, phút chốc ngời sáng. Định mệnh oan nghiệt càng vùi dập, đời người càng thăng hoa trong hạnh phúc, dù đó chỉ là những giây phút ngắn ngủi, chợt biến tan trong chớp mắt ngậm ngùi.


TUẤN THẢO
Tháng 11/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111125-tennessee-williams-mot-doi-nguoi-ma-muon-kiep-song

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #50 vào: 17/08/2017, 17:39:55 »
Minh Ðức Hoài Trinh đã ra đi, vĩnh viễn ra đi!

Nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh vừa qua đời lúc 2 giờ 19 phút chiều Thứ Sáu, 9 Tháng Sáu, tại bệnh viện Huntington Valley Healthcare Center, Huntington Beach, hưởng thọ 87 tuổi, nhà văn Nguyễn Quang, phu quân của bà, xác nhận với nhật báo Người Việt.

Thủ bút và chữ ký của nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh
ký tặng sách cho cô giáo Ngọc Diêu. (Hình: Đinh Bá Ái cung cấp)

TÔI BÀNG HOÀNG khi nghe tin này từ một người bạn gửi qua email.
            Lần này thì ra đi vĩnh viễn.
            Tôi được biết cuộc đời của bà là một chuỗi nối tiếp những chuyến đi.
            Nhưng sau khi bước chân nhỏ bé thoăn thoắt trên vạn nẻo đường khắp thế giới, mà thường là những vùng rực lửa đạn… rồi lại quay về để chuẩn bị cho một chuyến hành trình mới.
            Lần này thì không. Không trở về nữa rồi!
            Tôi được mẹ tôi kể về Minh Ðức Hoài Trinh từ khi bà chưa là một nhà văn, nhà thơ, phóng viên chiến trường, thường có chuyến đi vào những nơi gió cát, lửa đạn hiểm nguy.
            Năm 1936, lúc mẹ tôi vừa ra trường Ðồng Khánh – Huế, đi dạy học.
            Kinh tế khủng hoảng, may mắn mới được bổ nhiệm dạy học trên Kontum. Thân gái bơ vơ được chuyển đến một trường mới mở trên cao nguyên.
            Cũng thật may mắn, mẹ tôi được nhận vào ở trọ nhà một người quen và dạy kèm cho hai cô con gái của ông Tổng Ðốc Võ Chuẩn, là Diệu Viên và Hoài Trinh. Sau nầy họ là hai chị em Linh Bảo và Minh Ðức Hoài Trinh.
            Suốt thời thơ ấu, mẹ tôi xem Minh Ðức Hoài Trinh và Linh Bảo vừa là học trò, vừa như con của mình và chúng tôi sau này rất ngưỡng mộ đời sống và tài năng của hai chị em. Chúng tôi vẫn xem hai chị em nhà văn, nhà thơ này như tượng đài của giới văn nghệ văn chương miền Nam: rất trí thức và rất dấn thân. Thật thán phục! Cuộc đời của Minh Ðức Hoài Trinh vẫn tiếp tục dấn thân bôn ba khắp thế giới từ Ðông sang Tây, từ Âu sang Á, để vận động cho Pen Club. Sự kiên trì đáng ca ngợi đã được đền bù thật xứng đáng cho Minh Ðức Hoài Trinh!
            Từ khi nhận được tác phẩm Văn nghiệp và cuộc đời Minh Ðức Hoài Trinh của Nguyễn Quang, phu quân của bà, gửi tặng, mẹ tôi vẫn lấy ra đọc những lúc rảnh rỗi, hoặc những đêm thao thức của tuổi già lúc mẹ tôi đã hơn 100 tuổi.
            Cuốn sách dày và rất nặng đối một cụ già ngoài 100 tuổi hình hạc xương mai như mẹ tôi. Tôi rất thương cảm và ái ngại khi đêm khuya, thấy mẹ tôi khệ nệ “vác” cuốn sách đầy ắp những hình ảnh về cuộc đời năng động bôn ba khắp bốn phương trời của Minh Đức Hoài Trinh ra xem.
             “… để thấy người phụ nữ nhỏ nhắn và mảnh mai như Minh Đức Hoài Trinh có thể làm những điều mà mình nghĩ không thể. Và mẹ cảm thấy được tiếp thêm nghị lực để sống với đời, và sống với các con cháu!”
            Mẹ tôi, cô giáo Ngọc Diêu đã ra đi cách đây hai năm, ở tuổi 102, khi bà đang đọc dang dở phần cuối cuốn Văn nghiệp và cuộc đời Minh Ðức Hoài Trinh.
            Tôi mơ thấy cô học trò Minh Ðức Hoài Trinh theo mây về trời, sẽ gặp lại cô giáo Ngọc Diêu để kể nốt phần cuối cuộc đời mình cho cô giáo nghe.


Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh thời gian ở Paris.
(Hình: minhduchoaitrinh.wordpress.com)

Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh của “Kiếp Nào Có Yêu Nhau”
            Nhà thơ Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử, là một trong những văn sĩ nổi tiếng nhất miền Nam Việt Nam, đặc biệt với hai bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” và “Đừng Bỏ Em Một Mình,” đều do nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc.
            Nhà văn Nguyễn Quang cho biết, bà sinh ngày 15 Tháng Mười, 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1963 đến 1974. Sau đó bà đến định cư tại Orange County, California, từ năm 1980.
            Bà là con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, ông nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình.
            Năm 1945, bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó bà bỏ về Huế tiếp tục học.
            Năm 1964, bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Á Đông La Sorbonne, Paris.
            Năm 1967, bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như Algeria và Việt Nam.
            Năm 1972, bà được cử theo dõi và tường thuật Hòa Đàm Paris.
            Năm 1973, bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh, từ năm 1974 đến năm 1975.
            Sau biến cố 1975, bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài ORTF, qua chương trình Việt Ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút.
            Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhận tư cách hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Brazil, vào năm 1979.
            Ngoài những bài báo, bà còn sáng tác hơn 25 tác phẩm giá trị, trong đó có truyện ngắn, thơ…



            Nhà văn Nguyễn Quang đã thực hiện một tập sách rất công phu khá đầy đủ những tài liệu, bài vở và hình ảnh với tiêu đề: “Văn Nghiệp và Cuộc Đời Minh Đức Hoài Trinh.”
            Có đoạn nhà văn viết: “Sau khi đọc quyển sách này người ta tự hỏi làm sao Minh Đức Hoài Trinh một con người nhỏ bé lại có thể hoàn thành trên nhiều lãnh vực trong thời gian đen tối nhất của lịch sử Việt Nam. Bà đã đi trên khắp năm lục địa, vào những vùng chiến tranh lửa đạn. Những đóng góp của bà với một cuốn sách nhỏ nầy chắc chắn không diễn tả hết được những gì bà đã làm cho quê hương cho nền văn học Việt Nam.”
            Các tác phẩm của bà gồm có Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris, 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA, 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).


Nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh cắt bánh sinh nhật lần thứ 85.
Người đeo nơ đứng phía sau cầm tay cho bà cắt bánh là nhà văn
Nguyễn Quang, phu quân của bà. (Hình: Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ)

            Về bài thơ “Kiếp Nào Có Yêu Nhau” rất nổi tiếng của bà, nhà văn Phạm Xuân Đài cho biết: “Đây là bài thơ bà sáng tác khoảng cuối thập niên 1950 hoặc đầu thập niên 1960, lúc đó lấy tên là Hoài Trinh, được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc cùng tên.”
             “Còn một bài thơ nữa của bà, cũng rất nổi tiếng, và được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc cùng tên, đó là bài “Đừng Bỏ Em Một Mình”,” nhà văn cho biết thêm.
            Theo nhà báo Đinh Quang Anh Thái, phụ tá chủ nhiệm nhật báo Người Việt, một trong những bài thơ nổi tiếng khác của bà là “Ai Trở Về Xứ Việt” (1962). Sau năm 1975, bài thơ được nhạc sĩ Phan Văn Hưng phổ nhạc cùng tên.
            Trên trang web dutule.com của nhà thơ Du Tử Lê cũng có lưu lại bài này, và cho biết bà sáng tác tại Paris năm 1962.
            Nói về hoạt động và con người của bà, nhà văn Việt Hải có lần viết: “Trên cao tất cả, tôi quý nhà văn Minh Đức Hoài Trinh vì bà trung thành với đất nước Việt Nam, bà chống bạo lực và ác tính đè nặng lên vai người dân. Bà xin lại tư cách Văn Bút Hội Viên Việt Nam tại diễn đàn Văn Bút Quốc Tế. Trong vai trò phóng viên chiến trường bước chân Minh Đức Hoài Trinh đi qua các địa danh thân yêu từ Sài Gòn ra miền Trung, qua các vùng thân quen của xứ sở như những Qui Nhơn, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thừa Thiên, Quảng Trị…”


ÐINH BÁ ÁI & ĐỖ DZŨNG
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/minh-duc-hoai-trinh-da-ra-di-vinh-vien-ra-di/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #51 vào: 22/08/2017, 08:36:54 »
1.000 năm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg

Vào mùa hè này, hàng chục triệu du khách nước ngoài sẽ đến thăm nước Pháp. Có một nơi mà có lẽ họ không thể bỏ qua, là thành phố Strasbourg, thủ phủ vùng Alsace, nằm cách thủ đô Paris 500 cây số về phía đông, giáp giới với nước Đức. Đặc biệt năm 2015 là năm kỷ niệm trọng thể Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vừa tròn 1.000 tuổi.

Nhà thờ Đức Bà Strasbourg: viên đá xây dựng đầu tiên được đặt vào năm 1015

CÒN ĐƯỢC gọi là Nhà thờ chính tòa Strasbourg, công trình kiến trúc đồ sộ bề thế này đã được xây dựng trong vòng nhiều thế kỷ. Thế nhưng, vào năm 1015, hoàng đế Heinrich II đã cùng với giám mục Strasbourg (Werner von Habsburg), đặt viên đá đầu tiên nhằm xây dựng một ngôi nhà thờ lớn, để thay thế cho một đền thờ đổ nát của dòng dõi vua chúa Carolingien.
            Sau bao thế kỷ thăng trầm, mãi tới đầu thế kỷ XX (vào năm 1905), nhóm sử gia làm việc với kiến trúc sư Johann Knauth mới tìm lại được viên đá xây dựng đầu tiên này trong quá trình khai quật. Sau khi tính xác thực được kiểm chứng qua sách sử, viên đá xây dựng đầu tiên này được cất giữ trong hầm mộ ngay ở phía dưới nhà nguyện, bên cạnh chính điện của Nhà thờ Đức Bà Strasbourg.
            Đỉnh điểm của chương trình kỷ niệm 1015-2015 diễn ra trong suốt mùa hè này cho tới ngày 20 tháng Chín. Cô Marie Pierre Sieffert, giám đốc điều hành Sự kiện 1.000 năm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg cho biết những nét chính trong chương trình này, mà thoạt nhìn hoành tráng không kém gì chương trình 850 năm xây dựng Nhà thờ Đức Bà Paris, được tổ chức cách đây hai năm (2013).

            Một ngàn năm khởi công xây dựng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg là một sự kiện cực kỳ quan trọng, không chỉ đối với người dân thành phố Strasbourg, mà còn đối với du khách từ khắp nơi đổ về. Viên đá xây dựng đầu tiên cách đây 10 thế kỷ hiện còn được lưu trữ trong hầm mộ, dưới nhà nguyện Saint Laurent. Nhà thờ Đức Bà Strasbourg tuy là một nhưng có tới hai chức năng. Trước hết về mặt tôn giáo, đây là một nơi thờ phụng hành đạo. Kế đến nữa, về mặt lịch sử, đây là một công trình kiến trúc xếp vào hàng di sản văn hóa quốc gia từ năm 1862.
            Chương trình kỷ niệm 1.000 năm xây dựng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg (1015-2015) vì thế phải dung hòa cả hai vế. Về mặt tôn giáo, thì theo Đức Cha Jean-Pierre Grallet, Tổng Giám Mục Strasbourg, có nhiều buổi cử hành phụng vụ vào các dịp lễ đặc biệt trong suốt năm nay như Lễ tiếp nhận dự tòng đầu Mùa Chay, Lễ Truyền Dầu trong Tuần Thánh, Lễ Truyền Chức Linh mục trong tháng Sáu. Lễ Đức Mẹ Lên Trời, ngày 15/08/2015.
            Về mặt văn hóa, có nhiều sự kiện như hòa nhạc thính phòng, biểu diễn múa đương đại, hội thảo thuyết trình theo chủ đề, triển lãm cổ vật với sự hợp tác của các viện bảo tàng thành phố, đỉnh điểm của chương trình này diễn ra trong suốt ba tháng hè với lễ khoác ánh sáng ban đêm lên các mặt nhà thờ, dựng hoạt cảnh cổ trang để tái tạo một số sự kiện lịch sử quan trọng, trong đó có hôn lễ của nhà vua Louis XV (cử hành vào năm 1725 đúng vào ngày lễ Assomption 15/08 tức là ngày lễ Đức Mẹ Lên Trời)…


            Một trong những sinh hoạt hoành tráng ngoạn mục nhất trong ba tháng hè tại Strasbourg vẫn là lễ thắp sáng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg, hay nói cho đúng hơn là dùng công nghệ hình ảnh video (mapping) để chiếu sáng vương cung thánh đường. Cứ vào mỗi đêm (từ 4 tháng 7 đến 20 tháng 9) , khi trời đã tối hẳn, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg lần lượt được thắp sáng bốn lần, mỗi lần kéo dài khoảng chừng 15 phút đồng hồ. Bà Hélène Richard, giám đốc nghệ thuật công ty Skertzò, đặc trách chương trình thắp sáng nhà thờ chính tòa Strasbourg cho biết thêm chi tiết:

            Thông qua 20 hoạt cảnh ánh sáng khác nhau, chúng tôi đã muốn phản ánh bề dày một ngàn năm lịch sử của Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Đồng thời, chúng tôi cũng tìm cách nói lên những thách thức tương lai trong việc bảo tồn các công trình kiến trúc lâu đời cho thế hệ trẻ thời nay.
            Các hoạt cảnh ánh sáng chiếu lên bề mặt phía Nam của nhà thờ có tính cách minh họa, kể lại quá trình hình thành và xây cất qua bao thế kỷ Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Còn các hoạt cảnh ở phía Tây đậm tính biểu tượng, nhằm gợi ý về những dự án bảo tồn trong tương lai.
            Thành phố Strasbourg khá tiêu biểu cho sự kết nối giữa truyền thống và hiện đại. Strasbourg có những góc phố cổ hàng trăm năm tuổi, nhưng đồng thời, thành phố Strasbourg là tâm điểm của châu Âu, với nhiều công trình xây dựng hiện đại như tòa Nghị viện châu Âu. Từ khi đặt viên đá xây dựng đầu tiên cho tới nay, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg có đứng vững là nhờ vào những nỗ lực bảo tồn và trùng tu không ngơi nghỉ từ đời này sang đời khác.


            Trong số các du khách từng được dịp xem chương trình thắp sáng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg, nhờ vào công nghệ video và hình ảnh mapping, có một đôi bạn sinh viên đến từ Argentina. Hai cô nữ sinh cho biết cảm tưởng của mình:

            Chúng tôi đến từ Argentina và ghé thăm thành phố Strasbourg sau khi có dịp tham quan thủ đô Paris. Chúng tôi tình cờ được xem lễ thắp sáng Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Từ xa, chúng tôi thấy ánh đèn chợp tắt rồi lóe sáng từ phía thánh đường, mãi đến khi tới thật gần, thì chúng tôi mới thấy các hoạt cảnh ánh sáng rực rỡ lung linh trên mặt tiền nhà thờ, phối hợp với âm nhạc, tiếng động cũng như các hiệu ứng âm thanh: tất cả tạo nên nơi người xem một cảm giác phiêu diêu kỳ diệu, thú vị khó tả. Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vốn đã đồ sộ bề thế vào ban ngày, nhờ vào âm thanh và ánh sang ban đêm lại càng thêm hoành tráng lộng lẫy.

            Ngoài các vết tích qua sơ đồ có từ thế kỷ VII, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg thật ra dung hòa hai lối kiến trúc roman và gothic, do công trình xây dựng này kéo dài trên bốn thế kỷ, trải qua 14 đời kiến trúc sư và mãi tới năm 1439 nhà thờ này mới chính thức được hoàn tất. Với chiều cao 142 thước, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg đứng hàng thứ nhì tại Pháp sau Nhà thờ Đức Bà thành phố Rouen được hoàn tất vào năm 1876. Về mặt số lượng khách thăm viếng, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg thu hút 4 triệu rưỡi du khách hàng năm, chỉ thua có Nhà thờ Đức Bà Paris.
            Do vùng Alsace là vùng lãnh thổ tranh chấp giữa hai nước Pháp và Đức, cho nên việc xây dựng nhà thờ đều có sự đóng góp theo từng giai đoạn của các kiến trúc sư từ cả hai phía. Mái nhà thờ từng bị hư hỏng nặng trong thời gian xung đột giữa Pháp và Đức những năm 1870. Thời kỳ này còn được gọi là Chiến tranh Pháp-Phổ (Vương quốc Phổ là từ để chỉ nước Đức từ năm 1701 đến năm 1918), nhưng sau đó được xây dựng lại. Dù gì đi nữa, sau bao thăng trầm Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vẫn còn đứng vững cho tới tận ngày nay.
            Được mệnh danh là một trong những kỳ quan hoàn toàn được xây vào thời Trung Cổ, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg nổi bật nhờ mặt tiền xây theo lối gothic tỏa sáng (rayonnant) nhưng bên trong chính điện lại có nhiều chi tiết kiến trúc xây theo lối gothic lộng lẫy (flamboyant). Trên danh sách các công trình kiến trúc thuộc vào hàng di sản quốc gia, nước Pháp từng xếp Nhà thờ Đức Bà Strasbourg vào hàng Ngũ Đại, gồm năm nhà thờ tiêu biểu nhất cho cả hai giai đoạn “tiền bán” và “hậu bán” thời kỳ gothic.
            Chẳng hạn như nhà thờ Saint-Étienne ở thành phố Sens (1135-1534) đại diện cho lối kiến trúc nguyên thủy (primitif) còn được gọi là gothic sơ kỳ. Nhà thờ Đức Bà thành phố Reims tiêu biểu cho lối kiến trúc gothic cổ điển (1211-1275). Nhà thờ Đức Bà Paris (1163-1345) điển hình cho lối kiến trúc lối gothic tỏa sáng (rayonnant). Nhà thờ Sainte-Chapelle ở Vincennes (1379-1480) tiêu biểu cho lối kiến trúc gothic lộng lẫy (flamboyant), đôi khi còn được gọi nôm na là gothic muộn màng (tardif).
            Bên cạnh việc hòa quyện nhiều lối kiến trúc với nhau, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg còn nổi tiếng nhờ bộ đàn ống (đại phong cầm) xây theo hình tổ chim én. Nhà thờ còn có tháp chuông với mũi tên chọc trời, bộ chuông đồng ở đây cũng thuộc vào hàng lớn nhất châu Âu, quả chuông nhỏ nhất nặng một tấn rưỡi, còn quả chuông nặng nhất lên tới gần 9 tấn (8.800 kí lô). Với những chi tiết chạm trổ cực kỳ công phu ở mặt tiền cũng như trên tháp chuông, Nhà thờ Đức Bà Strasbourg còn có một đặc điểm mà không nơi nào có.
            Toàn bộ nhà thờ được xây bằng sa thạch, chất liệu đá cát trầm tích đặc trưng của vùng núi Vosges, miền đông bẳc nước Pháp. Điều đó khiến cho nhà thờ Đức Bà Strasbourg ửng sắc nâu hồng, tùy theo ánh sáng tự nhiên ban ngày mà đôi khi ngã màu cát đỏ.
            Một điểm khác nữa là quảng trường bao bọc Nhà thờ Đức Bà Strasbourg không rộng thoáng như quảng trường mặt tiền Nhà thờ Đức Bà ở Paris, điều đó có nghĩa là đối với những người đam mê nghệ thuật nhiếp ảnh, họ rất khó thể nào mà thu được nguyên vẹn nhà thờ này vào ống kính máy hình, cho dù có đứng ở góc độ nào do người chụp không đủ khoảng cách thụt lùi.
            Ngược lại khi đứng ở góc đường Mercière ngay ở trung tâm phố cổ, bạn có thể chụp những tấm hình phối cảnh đầy ấn tượng: hàng quán chạy dọc san sát rồi mở ra toàn cảnh mặt tiền đồ sộ của Nhà thờ Đức Bà Strasbourg. Chính cũng vì ông khám phá quang cảnh này mà văn hào Victor Hugo trong quyển nhật ký lữ hành tới vùng sông Rhein, viết vào năm 1839 đã thốt lên câu nói: Nhà thờ Đức Bà Strasbourg là một kỳ công đồ sộ tổng thể, khéo léo mà bề thế, hùng vĩ mà tinh tế…


TUẤN THẢO
Tháng 8/2015


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20150821-1000-nam-nha-tho-duc-ba-strasbourg

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #52 vào: 25/08/2017, 01:00:31 »
Hoài Khanh, Sài Gòn buổi ấy lạc nhau…

Sài Gòn buổi ấy lạc nhau
Là thôi nước chảy qua cầu nước trôi.

Hai câu thơ trên là hai câu cuối cùng trong tập Lục Bát của Hoài Khanh kỳ in lần thứ ba, 2009, với bài tựa của Tuệ Sỹ, trong đó “có bổ sung một số bài thơ mới” chưa in trong những lần trước, trong có bài thơ nhan đề “Sài Gòn buổi ấy lạc nhau,” một trong những bài thơ khá dài của Hoài Khanh (1933-23 tháng 3. 2016), bài thơ ấy rất cụ thể, hầu như ra ngoài dòng thơ lãng đãng mơ hồ của anh, kể từ thi phẩm đầu tay in năm 1957: Dâng Rừng. Rất ít khi người ta thấy Hoài Khanh cụ thể, mà bài này sự việc rất rõ ràng: “Một hôm trở lại Vũng Tàu…”

Nhà thơ Hoài Khanh, Giáng Sinh 1968

QUẢ CÓ THẾ. Anh nhắc lại cuộc tái ngộ với một thiếu phụ: “em tôi”, Anh Trâm. Anh cầm tay nàng, nhưng nàng “lặng lẽ rút tay” ra, “dường như muốn nói ‘từ đây hết rồi’.” Nàng đi đâu? Có lẽ là tới một đất nước xa xôi miền lạnh giá “băng tuyết dập vùi biết đâu.” Tôi thích bài thơ này cho dù kể ngược lại quá khứ tôi đã đọc thơ bạn từ năm 1957, trước khi những bài này được in ra trong tập Dâng Rừng, tập thơ do một trong những người bạn khác của tôi vẽ bìa: Phạm Hoán. Hoài Khanh không quen Phạm Hoán, ít người biết tới cái tên này, nhưng đó là em ruột họa sĩ Phạm Tăng, người vẽ tranh minh họa cho các báo Tự Do của nhóm chủ trương “Tam Lang Mặc Đỗ Đinh Hùng Như Phong Mặc Thu,” và báo Bách Khoa của Huỳnh Văn Lang thời mới sáng lập, 1957, với Nguiễn Ngu Í trông coi phần sinh hoạt văn nghệ. Khi Phạm Tăng được học bổng đi tu nghiệp hội họa ở Ý (và không bao giờ trở về) thì Phạm Hoán được mời thay thế anh ở Bách Khoa, nhưng đã từ khước. Cho nên khi nghe tin Hoài Khanh nằm xuống ở tuổi 82, 83 vào tháng trước, trí nhớ tôi lại mơ hồ hiện dần lên những hình ảnh quá khứ ở một vùng có Hoài Khanh: vùng mấy con phố Võ Tánh, đường Gia Long, hẻm Phát Diệm, nơi nhà bà mẹ của Mặc Lan Giao (sau dùng tên thật là Nguyễn Thụy Long), mà đi về phía Trần Hưng Đạo thì sẽ tới nhà in và trụ sở báo Cách Mạng Quốc Gia của nhà nước – nơi đặt luôn tòa soạn tờ báo Văn Nghệ Học Sinh – tôi không viết cho hai tờ này mà làm cho hai tờ khác, nhật báo Ngôn Luận và tuần báo Văn Nghệ Tiền Phong; thư ký tòa soạn Giang Tân của Văn Nghệ Tiền Phong lại cũng là thư ký tòa soạn của Văn Nghệ Học Sinh. Đã làm báo người lớn không ai thèm viết cho báo con nít nữa, cho dù có trả nhuận bút. Mà báo con nít thì làm sao mà có nhuận bút.
            Nhớ đến Hoài Khanh là “hai mươi thời của tuổi trẻ” hiện về trong tâm trí, mà thật sự những năm 1955-1957 là thời tuổi trẻ của tôi, những chập chững vào đời và lui tới những địa chỉ văn nghệ, và những ngõ hẻm Sài Gòn, Chí Hòa, Khánh Hội, Xóm Lách… nơi trú ngụ của các bạn trẻ, còn là học sinh, sinh viên. Những tên tuổi hồi ấy, dù chỉ mới là tác giả năm ba bài thơ, một hai truyện ngắn, “xa gần” đều biết nhau. Còn nhớ những Chế Vũ, Mặc Tưởng, Thanh Việt Thanh, Sa Giang Trần Tuấn Kiệt một phía, phía khác có Tạ Ký, Thế Viên, Châu Trị, Y Dịch, Hoài Nam, Huy Phương, Hải Phương, Đinh Cường, có bốn năm người tôi đều gặp ở Xóm Lách Yên Đỗ, Bến Tắm Ngựa. Chẳng hạn Đinh Cường lúc nào cũng tươm tất, cái phòng nhỏ vuông vắn của anh phải leo lên một cái thang ngắn vì nó ở trên gác, nhỏ thế mà có một cái bàn và bốn cái ghế đẩu sáng bóng, cho bốn cô nữ sinh tới học vẽ. Anh ở đầu xóm gần đường Công Lý, tôi ở cuối xóm. Từ cuối xóm có con rạch chảy vòng cắt ngang đường Công Lý qua bên kia khu Yên Đỗ, vì thế có cầu Công Lý để con rạch chảy thong dong phía dưới. Bên tay phải con rạch một quãng sau này mọc lên một ngôi chùa uy nghi bề thế, chùa Vĩnh Nghiêm của Hòa thượng Tâm Giác. Ra vào Xóm Lách từ trên gác nhìn xuống Đinh Cường thấy hết.
            Hãy đọc những câu thơ coi như tự thuật của Hoài Khanh.

                        Tôi lớn lên ven bờ sông Cà Ty
                        Với giữa hai triền núi Cú và Tà Dôn
                        Lưu truyền nhìn biển cả gọi hồn đi tám hướng (…)
                        Cha tôi một nơi mẹ tôi một nơi và súng nổ
                        Làm chúng tôi ôm nhau khóc hoài
                        Giữa cánh đồng mà vài tấm tranh không sao che nổi
                        Cơn gió bấc
                        Cũng như tôi lớn lên sau này không sao che nổi
                        Nỗi buồn đau trên gương mặt rầu rĩ của tôi
.
                        (không rõ nhan đề)(1)

                                    Xa Quê Nghe Gió Nồm
                        Đã mòn chưa núi sông xanh
                        Biển ầm sóng gọi hai ngành phân ly.
                        Ngàn năm một bến Cà Ty
                        Đổ ra cửa biển còn gì thanh xuân.
                        Với chim quốc vọng sau rừng
                        Với tranh tóc xõa nắng bừng ngày trưa
                        Với triều nước lũ theo mưa
                        Sương trên Tà Cú nguồn đưa gió về.
                        Sáo chiều giục giã lê thê
                        Trắng con buồm gió lòng về sớm hôm
                        Chiều sa ngọn cỏ gió nồm
                        Trùng vây bước lạnh một hồn thu thanh
.
                        (Hoài Khanh, theo Trần Tuấn Kiệt)(2)

            Mục Thời Sự Nhân Văn từng nhắc đến Hoài Khanh trong bài viết về tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ do Nhất Hạnh chủ trương, Hoài Khanh làm thư ký tòa soạn. Năm 2013 còn có bài “Bằng Hữu Cuối Trời.” Sau khi báo ra khoảng nửa tháng, một đài phát thanh ở hải ngoại có phỏng vấn thi sĩ, và nhân đó, thi sĩ muốn nói chuyện vài câu với tôi, qua điện thoại, thật là vui thú bất ngờ, dù chỉ ngắn ngủi vài lời. Chúng tôi chỉ hỏi thăm nhau những câu thông thường, biết rằng không có thì giờ để hàn huyên. Chỉ là để nghe tiếng nói, nghe tiếng cười hàng chục năm xa vắng.
            Hoài Khanh là bút hiệu, tên thật Võ Văn Quế, có sách viết ông sinh ngày 13 tháng 9. 1933 tại Đức Nghĩa, Bình Thuận;(2) có sách viết ông sinh năm 1943.(3) Trần Tuấn Kiệt viết: “Viết đến Hoài Khanh tôi lại nghĩ tới một người muốn an phận, không chịu đựng nổi cái đời sống văn nghệ quá hỗn tạp nhưng kém chiều sâu của tư tưởng và nghệ thuật. Anh sống trong một nông trại nuôi gia súc ở Biên Hòa.”
            Những năm đầu thập niên ’50, tôi gặp Hoài Khanh nhiều lần, biết là anh hơn mình tới bốn, năm tuổi, tôi không bàn luận gì để phải kết thúc gì, vả chăng, thấy anh rụt rè, chậm rãi, tôi tự nhiên cảm thấy nơi anh con người nhẫn nhục. Lúc ấy phong trào thơ văn nhập vào thế hệ trẻ, mà thơ văn lúc ấy còn rập dềnh Bến Hải, báo chí lúc ấy luôn luôn nhắc nhở chuyện Sông Gianh, lòng Quốc Hận, thơ Hoài Khanh cũng có ít bài nhắc đến, nên nếu cây bút này tìm hiểu cây bút khác, vấn đề nêu ra lại là thi pháp hay khuynh hướng văn chương, tuổi trẻ lúc ấy không thảo luận đến ý thức hệ trong thơ văn. Sự việc ấy chỉ xảy ra sau này, trong thập niên ’60, sau khi có Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam tháng 12.1960 và nhất là sau các cuộc đảo chánh. Thi Ca 1955-1957 khi có Dâng Rừng của Hoài Khanh còn đậm đặc tình cảm tâm sự và thiên nhiên, và lớp đương thời là những Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân, Đông Hồ, và nhất là cuộc biểu dương của trường phái tự do với Thanh Tâm Tuyền, khởi sự từ 1956 với thi phẩm Tôi Không Còn Cô Độc còn rầm rộ trên văn đàn. Sự hiện diện của Hoài Khanh bắt đầu từ Dâng Rừng, và hiện diện từ đó cho đến khi anh nằm xuống, không nổi bật song vẫn ở đó, với tiếng nói riêng. Ngoài thơ anh còn hiện diện trên văn đàn Miền Nam bằng một nhà xuất bản, Ca Dao, in đa số những tác phẩm do anh dịch thuật.
            Nhiều người viết về nỗi buồn trong thơ Hoài Khanh, chuyện ấy đã đành. Nỗi buồn thơ anh dựng lên những cây cầu, khai mở những dòng sông, chia hai thành những bến những bờ, dẫn về thiên thu mịt mùng hay kiếp sau kiếp trước; nên viết về thơ anh là viết về những cây cầu và những dòng sông. Tôi lại thích thơ Hoài Khanh trong những bài cụ thể, nó cho thấy một thi sĩ rất dung dị rất con người:

                        Một hôm em ghé tìm ta
                        Đường Lê Lợi ấy vốn nhà in thuê
                        Cuộc đời bút mực ê chề
                        Áo cơm từng bận ê chề bấy nay.
                        Bỗng nhiên hạnh ngộ những ngày
                        Gặp người chi hỡi để đày đọa nhau.
                        Sài Gòn buổi ấy lạc nhau
                        Là thôi nước chảy qua cầu nước trôi.
                        Nhưng quên sao đặng hỡi người
                        Tóc mây đờ đẫn tơi bời xiết bao


            Nhưng “em lặng lẽ rút tay” “Dường như muốn nói ‘từ đây hết rồi’,” Đã thế, thi sĩ vẫn còn yêu, dặn vói theo, và đây là những dòng cuối cùng của tập thơ “Lục Bát” của Hoài Khanh mà tôi rất tán thưởng:

                        Hỡi người vóc dáng kiêu sa
                        Dáng trâm anh dáng ngọc ngà giữ cho
                        Ta dù một kiếp bơ vơ
                        Vẫn vui khi biết nàng Thơ vẹn toàn
                        Và vui hạnh phúc chồng con
                        Thì đời ta có lẽ còn vui lây.
                        (Vườn Cô Liêu giữa mùa hoa ngọc lan đầu tiên)
.
                        (Hoài Khanh, Sài Gòn buổi ấy lạc nhau, Lục Bát, trang 109).


VIÊN LINH
Tháng 4/2016

__________________________________________________
(1) Nguyễn Đình Tuyến, Những Nhà Thơ Hôm Nay, trang 113, 1967.
(2) Trần Tuấn Kiệt, Thi Ca Việt Nam Hiện Đại, trang 966, 1967.
(3) Cao Thế Dung, Văn học Hiện đại, Thi ca và Thi nhân, 1969. In lại trong Niên Giám Văn Nghệ Sĩ Việt Nam, Phủ Quốc Vụ Khanh đặc trách Văn Hóa, Saigon, 1970, trang 153.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Hoai-Khanh-Sai-Gon-buoi-ay-lac-nhau-1759/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #53 vào: 29/08/2017, 14:39:26 »
Thành phố Strasbourg: Biểu tượng hòa giải Pháp-Đức

Khi nói tới các thành phố nổi tiếng về lịch sử và văn hóa của Pháp, không thể không nhắc tới Strasbourg – thủ phủ của vùng Alsace – nằm cách Paris gần 500 km về phía Đông, giáp biên giới với Đức. Bản thân tên gọi Strasbourg có xuất xứ từ từ Straßburg trong tiếng Đức (tạm dịch là “pháo đài bên đường”). Từ biểu tượng cho sự tranh giành và chuyển giao quyền lực giữa hai nước Đức-Pháp, ngày nay, Strasbourg đã trở thành biểu tượng cho sự hợp tác giữa hai nước nói riêng và hòa bình ở châu Âu nói chung.

Những ngôi nhà đặc trưng cho kiến trúc của Đức tại Petite France, Strasboug, Pháp

XUYÊN SUỐT chiều dài lịch sử hình thành và phát triển trong hơn 2000 năm, Strasbourg đã sớm trở thành một thành phố thịnh vượng nhưng cũng đã trải qua nhiều thăng trầm và các cuộc tranh giành dai dẳng giữa hai nước Pháp và Đức. Ngược dòng thời gian, Strabourg khi thì thuộc lãnh thổ nước Pháp, khi thì về tay nước Đức. Chính vị trí địa lý đặc biệt và những yếu tố lịch sử đã làm nên một Strasbourg với những nét giao thoa văn hóa Pháp-Đức. Có thể nói Strasbourg như một dấu ấn Đức trong lòng nước Pháp.

Strasbourg, sự tranh giành không mệt mỏi giữa Đức và Pháp
            Strasbourg trước đây là khu thành Argentoratum do đế chế La Mã xây dựng vào năm 12 trước Công Nguyên. Argentoratum có nghĩa là “thành phố bên dòng sông”. Khi đế chế La Mã sụp đổ, thành Argentoratum mất vị thế quan trọng. Năm 496, trên mảnh đất này, người Đức xây dựng một thành phố mới với tên gọi Strateburgum (tạm dịch là “thành phố pháo đài”).
            Vào thời Trung Cổ, thành phố phát triển thịnh vượng cả về kinh tế và văn hóa. Năm 1681, dưới thời vua Louis XIV trị vì, Pháp chiếm được thành phố và phiên âm tên thành phố sang tiếng Pháp là Strasbourg. Mặc dù Strasbourg thuộc về tay Pháp nhưng tiếng Đức vẫn là ngôn ngữ phổ thông và thành phố vẫn chịu nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Đức. Sau này, Napoléon đã biến Strasbourg thành thành phố chiến lược trong công cuộc chinh phục châu Âu.
            Chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra năm 1870. Quân Đức đã bao vây và bắn phá dữ dội Strasbourg. Năm 1871 đánh dấu thất bại của Pháp trong chiến tranh Pháp-Phổ. Pháp buộc phải ký Hiệp ước Frankfurt nhượng Strasbourg và vùng Alsace, Loraine cho Đức. Người Pháp coi đây là một thất bại cay đắng. Tuy nhiên, dưới sự cai quản của nước Đức, kinh tế Strasbourg đã phát triển rất mạnh mẽ.
            Năm 1918, Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất kết thúc. Nước Đức đại bại. Theo Hòa ước Versailles 1919, nước Pháp giành lại được Strasbourg.
            Thế nhưng, năm 1939, Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai nổ ra, lại một lần nữa thành phố Strasbourg bị quân đội Đức chiếm đóng. Toàn bộ dân chúng phải di tản. Tiếng Pháp bị cấm sử dụng. Tên các đường phố cũng bị đổi sang tiếng Đức. Vào thời kỳ này, quân Đồng Minh đã dội bom Strasbourg nhiều lần nhưng Strasbourg có một may mắn hiếm có, đó là các công trình kiến trúc có giá trị đã không hề hấn gì: nhà thờ Đức Bà, khu phố cổ Ile de la Cité với hàng trăm ngôi nhà cổ tuyệt đẹp đã may mắn thoát khỏi bom đạn. Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, Strasbourg lại thuộc về Pháp.


Nhà thờ Đức Bà Strasbourg, Pháp

Strasbourg, dấu ấn Đức trong lòng nước Pháp
            Khi đến Strasbourg, du khách sẽ dễ dàng nhận thấy dấu ấn của nền văn hóa Đức vẫn còn được lưu lại nơi đây. Strasbourg được chia thành 10 quận. Phần lớn được đặt tên theo tiếng Đức: Meinau, Robertsau-Wacken, Neuhof-Stockfelf-Ganzau… Nếu nhìn trên bản đồ, du khách cũng sẽ thấy có nhiều tên phố, tên đường bằng tiếng Đức: Fritz, Spitz, Kelh, Krutenau, Munch, Prechter, Spielmann, Finkwiller…
            Với những đặc thù về lịch sử như vậy, hiện tại, Strasbourg vẫn còn một số công trình theo phong cách kiến trúc của Đức, tiêu biểu là trong khu vực Neustadt có nghĩa là “thành phố mới”. Neustadt được xây dựng trong thời kỳ Đức chiếm được Strasbourg sau Chiến tranh Pháp-Phổ năm 1870-1871. Vào thời kỳ đó, Neustadt là biểu tượng cho sự thay đổi chế độ và quyền lực đế chế Phổ. Vì thế, người Pháp còn gọi đó là khu phố Đức hay khu phố của Hoàng đế (Hoàng đế Phổ). Neustadt nổi tiếng với quảng trường Hoàng Gia, nay là Quảng trường Cộng Hòa và Cung điện Hoàng Gia, nay gọi là Cung điện sông Rhin. Cung điện Hoàng Gia là nơi trước đây Hoàng đế Phổ thường lưu lại mỗi khi tới Strasbourg.
            Việc xây dựng Neustadt cũng nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho những cư dân mới của thành phố Strasbourg thời đó. Việc sát nhập Strasbourg vào Đức đã tạo nên một làn sóng người dân Đức tới định cư tại thành phố này. Trong vòng hơn 40 năm, từ năm 1871 tới năm 1915, dân số Strasbourg đã tăng hơn hai lần từ 80.000 người lên 180.000 người. So với các tòa nhà khác cùng thời kỳ, các tòa nhà ở khu Neustadt được trang bị rất hiện đại, tầng nào cũng có nước và khí ga. Điều này được ghi rõ trên các biển hiệu tráng men gắn ở mặt trước của các tòa nhà.
            Neustadt là một trong những khu đô thị mở rộng đáng chú ý nhất giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX và còn được bảo tồn gần như nguyên vẹn nhất ở châu Âu. Năm 2015, bộ Văn hóa Pháp đã đệ trình hồ sơ để UNESCO xem xét xếp hạng Neustadt là Di Sản Thế Giới.
            Dấu ấn Đức ở Strasbourg còn thể hiện rất rõ nét qua kiến trúc các ngôi nhà trong khu phố cổ Ile de la Cité. Đây là các ngôi nhà cổ kính khung bằng gỗ theo phong cách kiến trúc Fachwerk đặc trưng của miền Nam nước Đức. Hệ thống kèo, cột đỡ bằng gỗ nguyên khối lộ ra sườn bên ngoài của ngôi nhà tạo cảm giác rất vững chãi nhưng cũng là điểm nhấn trang trí cho ngôi nhà. Khi đến Strasbourg, chắc hẳn ai cũng phải trầm trồ khi ngắm nhìn những ngôi nhà cổ có khung gỗ sẫm màu nổi bật trên nền tường sơn trắng với nhiều ô cửa sổ nhỏ xinh, mái nhà cao và rất dốc.
            Chúng ta có thể bắt gặp những ngôi nhà xây theo phong cách Fachwerk của Đức rải rác đâu đó tại nhiều nước châu Âu khác như Thụy Sỹ, Anh, Áo… Nhưng ở Strasbourg, các ngôi nhà khung gỗ nằm liền kề nhau, nghiêng mình soi bóng bên dòng nước uốn lượn mềm mại đã làm nên một vẻ đẹp rất riêng cho thành phố. Vào mùa hè, vẻ đẹp những ngôi nhà lại được tô điểm thêm bởi những chậu hoa nhỏ, xinh xắn, đủ màu sắc đặt bên các bệ cửa sổ. Tới mùa đông, những ngọn đèn trang trí Giáng Sinh lấp lánh càng làm các ngôi nhà cổ trở nên lung linh, huyền ảo hơn. Tới Strasbourg, đi trên những con phố nhỏ, ngắm nhìn những ngôi nhà khung gỗ cổ kính, du khách sẽ có cảm giác như đang đi lạc vào thế giới cổ tích.


Trụ sở Nghị Viện Châu Âu, Strasbourg, Pháp

Strasbourg, biểu tượng cho sự hòa giải Pháp-Đức và thống nhất châu Âu
            Sau Chiến Tranh Thế Giới lần thứ hai, với những nỗ lực của ông Pierre Pflimlin, thị trưởng thành phố, Strasbourg đã trở thành biểu tượng cho sự hòa giải Pháp-Đức và thống nhất châu Âu.
            Năm 1991, hai nước đã hợp tác thành lập kênh truyền hình văn hóa Pháp-Đức ARTE, có trụ sở đặt tại Strasbourg, với mục tiêu kết nối người dân châu Âu. Các chương trình đều được phát bằng hai thứ tiếng Pháp, Đức và phủ sóng toàn châu Âu.
            Cùng với Geneve, Lyon, Montréal, New York, Strasbourg là một trong số ít các thành phố không phải là thủ đô của một nước nhưng lại là thành phố đặt trụ sở của các tổ chức Quốc tế. Strasbourg được coi là “thủ đô” hay “thủ đô Quốc hội” của châu Âu, là nơi đặt trụ sở rất nhiều cơ quan đầu não của Liên Hiệp Châu Âu như Hội Đồng Châu Âu, Quốc Hội Châu Âu, Tòa Án Nhân Quyền Châu Âu…
            Tại Strasbourg, có ba công trình tiêu biểu cho tình hữu nghị Pháp-Đức và thống nhất châu Âu, đó là cây cầu Pont de l’Europe (cầu châu Âu), cây cầu Mimram và công viên Le Jardin des Deux Rives (Công Viên Đôi Bờ Sông).
            Ngược dòng thời gian, từ năm 1388 đã có cây cầu Lange Bruck nối hai bờ sông Rhin. Trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, cầu Lange Bruck đã nhiều lần bị phá hủy rồi lại được xây mới. Trong Thế Chiến Thứ Hai, cây cầu nối hai bên chiến tuyến đã bị phá hủy hoàn toàn. Sau chiến tranh, những cây cầu nổi, cầu gỗ, cầu tạm đã được xây dựng nhưng không trụ được lâu dài. Năm 1951, hai nước Pháp và Đức chính thức thỏa thuận xây dựng một cây cầu đường bộ vững chắc. Cây cầu được đặt tên là Cầu Châu Âu, được khánh thành năm 1960, dài 245m, nối thành phố Strasbourg và thành phố Kehl của Đức, đánh dấu hòa bình trở lại trên lãnh thổ châu Âu và sự hòa giải Pháp-Đức.
            Cây cầu Mimram nằm trong công viên Đôi Bờ Sông. Cầu Mimram là một cây cầu nhỏ được thiết kế theo phong cách nghệ thuật đương đại và chỉ dành cho khách bộ hành và người đi xe đạp. Tại Hội nghị thượng đỉnh NATO lần thứ 21, diễn ra tại hai thành phố Strasbourg của Pháp và Kehl của Đức vào năm 2009, lãnh đạo các nước thành viên NATO do thủ tướng Đức Angela Merkel dẫn đầu đã đi từ phía thành phố Kehl đến giữa cầu Mimram. Tại đó, tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, đến từ Strasbourg, đã đợi sẵn và nồng nhiệt đón chào phái đoàn. Bức ảnh chụp trên cầu Mimram đã trở thành bức ảnh đại diện chính thức của Hội nghị thượng đỉnh NATO năm đó.
            Còn công viên Đôi Bờ Sông có diện tích 150 ha là không gian lý tưởng cho các cuộc dạo chơi của người dân Pháp và Đức. Công viên gồm hai nửa được nối với nhau bằng cây cầu Mimram: nửa bên bờ sông thuộc lãnh thổ Pháp thiên về phong cách nghệ thuật với 19 vườn sinh vật theo chủ đề, nửa bên bờ sông thuộc lãnh thổ Đức dành cho các triển lãm hoa và trưng bày các công nghệ trong lĩnh vực môi trường.


THÙY DƯƠNG
Tháng 8/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160805-thanh-pho-strasbourg-bieu-tuong-hoa-giai-phap-%E2%80%93-duc

 
The following users thanked this post: nguyenhoangduong

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #54 vào: 31/08/2017, 10:53:23 »
Dương Vân Nga: Đời luận anh hùng

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, các nhân vật nữ không được nhắc đến nhiều như cánh đàn ông. Đấy không phải là vì phụ nữ nước ta kém tài, mà vì họ luôn bị ràng buộc trong cái lễ giáo trọng nam khinh nữ của các vương triều phong kiến. Thế nhưng, đến với Lưỡng triều Hoàng hậu Dương Vân Nga thì lại khác. Bà là hoàng hậu của hai Triều Đinh và Lê. Bà là người từng có quyết định ảnh hưởng đến cả vận mệnh dân tộc. Và cũng là người hứng chịu búa rìu của cái việc “đời luận anh hùng”.

Tượng Thái hậu Dương Vân Nga

DƯƠNG VÂN NGA là một nhân vật lớn trong lịch sử Việt Nam. Thế mà, ngay chính bà cũng không thoát được cái vòng “trọng nam khinh nữ” của các sử gia phong kiến. Các bộ sử lớn như Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục nhà Nguyễn không hề dành phần riêng nói rõ về thân thế của bà như trường hợp những nhân vật nam khác. Đến thời đương đại này, các sử gia mới ra sức tìm hiểu nguồn gốc xuất thân của bà. Nhưng kết quả thu được chẳng có bao nhiêu bởi sử cũ không chép lại thì thế hệ hiện tại lấy gì mà tra khảo.

Xuất thân của Dương Vân Nga
            Trong thực tế đó, xuất thân của Dương Vân Nga vẫn còn là đều bàn cãi. Bà có lẽ là người của vùng đất Hoa Lư, Ninh Bình. Sử cũ chỉ ghi bà họ Dương, còn tên thì hiện có hai thuyết: Dương Vân Nga và Dương Ngọc Vân. Tuy nhiên, theo như tên ghi ở Đền thờ Vua Lê Đại Hành ở Hoa Lư, thì bà tên là Dương Vân Nga.
            Có người cho rằng, cái tên Dương Vân Nga được phổ biến trong dân gian và nhờ vào các vở cải lương nói về Dương Vân Nga. Thế nhưng, xét thấy ngôi đền nói trên được xây dựng cách đây trên dưới 300 năm, còn cải lương thì chưa được 100 tuổi, bởi vậy cái tên Dương Vân Nga ắt phải có trước cải lương. Hơn nữa, người Việt Nam đã quá quen với cái tên Dương Vân Nga, các sử gia khi đề cập đến bà cũng hay dùng tên Dương Vân Nga. Bởi vậy, ở đây xin được dùng cái tên quen thuộc là Dương Vân Nga.
            Quê quán của Dương Vân Nga hiện cũng chưa rõ lắm. Có người nói ở Ninh Bình, có người lại bảo là Thanh Hóa. Năm sinh của bà hiện vẫn là một ẩn số. Sử cũ chỉ chép rõ ràng năm mất của bà là năm 1000. Nhiều sử gia ước đoán bà thọ khoảng từ 55-60 tuổi. Như vậy, năm sinh của bà có thể là trong giai đoạn 940-945.

Nhường ngôi cho người ngoại tộc
            Các chi tiết liên quan đến nguồn gốc xuất thân của Dương Vân Nga còn khá mù mờ, nhưng trái lại sự kiện bà nhường ngôi nhà Đinh vào tay Lê Hoàn và là hoàng hậu của hai Triều Đinh-Lê thì các bộ sử đều chép rõ với những lời khen chê khác nhau.
            Về việc Dương Vân Nga nhường ngôi cho Lê Hoàn, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục đều chép:

            “Bấy giờ, Lạng Châu nghe tin quân Tống sắp kéo sang, liền làm tờ tâu báo về. Thái hậu sai Lê Hoàn chọn dũng sĩ đi đánh giặc, lấy người ở Nam Sách Giang là Phạm Cự Lạng làm đại tướng quân. Khi (triều đình) đang bàn kế hoạch xuất quân, Cự Lạng cùng các tướng quân khác đều mặc áo trận đi thẳng vào Nội phủ, nói với mọi người rằng: “Thưởng người có công, giết kẻ trái lệnh là phép sáng để thi hành việc quân. Nay chúa thượng còn trẻ thơ (mới sáu tuổi – LP), chúng ta dẫu hết sức liều chết để chặn giặc ngoài, may có chút công lao, thì có ai biết cho? Chi bằng trước hãy tôn lập ông Thập đạo làm Thiên tử, sau đó sẽ xuất quân thì hơn”. Quân sĩ nghe vậy đều hô “vạn tuế”. Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế. Từ đó Hoàn lên ngôi Hoàng đế, đổi niên hiệu là Thiên Phúc năm đầu (980), giáng phong vua (Đinh Toàn – LP) làm Vệ Vương”.

            Sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim hồi đầu thế kỷ 20 cũng chép lại sự việc như trên. Trần Trọng Kim cũng nhấn mạnh đến sự kiện sau đây:

            “Vệ Vương mới có sáu tuổi lên làm vua, quyền chính ở cả Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, Lê Hoàn lại cùng với Dương Thái Hậu tư thông. Các quan đại thần bấy giờ là bọn Đinh Điền, Nguyễn Bặc thấy Lê Hoàn nhiếp chính lộng quyền quá, mới cử binh mã đến đánh, nhưng bị Lê Hoàn giết cả”.

            Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi lời nhận xét của sử thần Ngô Sĩ Liên như sau:

            “Sử Thần Ngô Sĩ Liên nói: Tam cương là đạo thường của muôn đời, không thể một ngày rối loạn. Khi Đại Hành giữ chức nhiếp chính, Vệ Vương tuy còn nhỏ nhưng vẫn là vua, thế mà Đại Hành tự xưng là Phó Vương, rắp tâm làm điều bất lợi. Đạo làm tôi không được rắp tâm, rắp tâm thì ắt phải giết. Đó là phép của sách Xuân Thu, người người đều được nêu lên mà thi hành. Nguyễn Bặc, Đinh Điền sao có thể nhẫn tâm điềm nhiên mà nhìn? Rồi lui về dấy quân hỏi tội, mưu giữ xã tắc, thế là bầy tôi trung nghĩa đấy. Việc không xong mà chết, thế là bề tôi tử tiết đấy”.

            Khâm Định nhà Nguyễn thì tỏ ra nghi ngờ về việc mọi người cùng nhau suy tôn Lê Hoàn lên ngôi, khi có giọng mỉa mai rằng:

            “Bờ cõi Bắc Nam tuy có khác, nhưng vận hội vẫn như nhau: nhà Lê thì có chuyện khoác áo long cổn, nhà Lý thì lời sấm truyền ghi trên thân cây, sao mà giống chuyện với bên Tống thế! Hay là người làm sử thấy thế, gò ép gán gẩm vào với nhau để cho thần dị câu chuyện, chứ trời kia có ý làm ra như thế đâu?

Lưỡng Triều Hoàng hậu
            Khi ở ngôi, vua Đinh Tiên Hoàng lập đến năm Hoàng hậu, Dương Vân Nga là một trong số năm Hoàng hậu đó. Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn theo điển của vua Đinh mà lập đến năm người làm Hoàng hậu. Tuy nhiên, điều nhạy cảm là Lê Hoàn lại phong cho Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng Hậu, tức tên hiệu của vua Đinh Tiên Hoàng.
            Theo Nho giáo mà nói, thì rõ ràng là việc lấy vợ của vua trước là điều đáng phê phán. Bởi vậy mà Đại Việt Sử Ký toàn thư chép lời bàn nặng nề như sau:

            “Đạo vợ chồng là đầu của nhân luân, dây mối của vương hóa. Hạ kinh của Kinh Dịch nêu quẻ Hàm và quẻ Hằng lên đầu, là để tỏ cái ý lấy đàn bà tất phải chính đáng. Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn. Đem cái thói ấy truyền cho đời sau, con mình bắt chước mà dâm dật đến nỗi mất nước, há chẳng phải là mở đầu mối họa đó sao?

            Khâm Định nhà Nguyễn thì chép lời bàn:

            “Đại thắng minh là tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng. Đại Hành lấy hiệu vua cũ đặt cho vợ mình: Thật là không còn kiêng nể chút gì cả! Sử sách ghi chép, để cười nghìn thu”.

            Đến việc năm 1001, Lê Hoàn mang quân đi đánh Cử Long: Vệ vương Đinh Toàn đi theo. Sử cũ chép: “Bấy giờ quân giặc thấy nhà vua, chúng giương cung, chĩa tên, toan bắn, chiếc tên rơi xuống; chúng lại giương cung, dây cung đứt. Chúng sợ, rút lui. Nhà vua đi thuyền ven sông đuổi theo. Quân giặc ở hai bên bờ đánh khép lại. Quan quân bị hãm ở sông. Vệ vương Toàn trúng phải mũi tên bay, mất tại trận. Nhà vua kêu trời ba tiếng, rồi thân ra đốc chiến: quân giặc thua”.

            Đinh Toàn là chúa cũ của Lê Hoàn, nhưng khi nhường ngôi cho Lê Hoàn đã bị giáng xuống làm Vệ Vương. Về sự việc Đinh Toàn mất nói trên, Khâm Định nhà Nguyễn chép lời phê như sau:

            “Lê Hoàn lợi dụng cơ hội, đã cướp lấy nước người ta, lại không khéo đối đãi chúa cũ, đẩy vào chỗ chết, thế nào mà Toàn chẳng đến tử vong? Còn việc cất tiếng kêu trời, gieo mình xuống đất, chỉ là một ngón giả trá. Thật khó che đậy được công luận nghìn thu”.

            Ta thấy các sử gia phong kiến luôn có thái độ phản đối việc Dương Vân Nga nhường ngôi cho Lê Hoàn, nên mới có những lời nặng nề như vậy.

Quyết định cứu nguy cho toàn dân tộc
            Việc Dương Vân Nga nhường ngôi nhà Đinh cho Lê Hoàn lợi hại thế nào? Để trả lời cho câu hỏi này, ta cần xem xét bối cảnh lịch sử của sự kiện này.
            Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi vào năm 968, lấy hiệu Đinh Tiên Hoàng. Năm 979, Đinh Tiên Hoàng và con trai là Đinh Liễn bị gian thần Đỗ Thích giết hại. Con trai nhỏ của Đinh Tiên Hoàng là Đinh Toàn được tôn lên ngôi khi mới sáu tuổi. Lê Hoàn được nắm quyền nhiếp chính, chỉ huy quân đội của cả nước và tự xưng là Phó vương. Các đại thần nhà Đinh như Đinh Điền và Nguyễn Bặc bất mãn với điều đó nên phát binh làm phản và bị Lê Hoàn đánh dẹp. Bên ngoài thì nhà Tống phát binh đánh xuống, toan chiếm nước Đại Cồ Việt.
            Trong bối cảnh nền độc lập quốc gia bị đe dọa như vậy, Dương Vân Nga với tư cách là Thái hậu nhiếp chính đã quyết định tôn Lê Hoàn lên ngôi Hoàng đế.
            Lịch sử đã chứng minh, đây là một quyết định sáng suốt, có ý nghĩa lịch sử trọng đại. Khi quân Tống tràn sang xâm lấn, vua Đinh Toàn chỉ là cậu bé sáu tuổi, trong khi Dương Vân Nga thì dù sao cũng là đàn bà nên không thể vùng vẫy trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ như xưa kia được. Các tướng có tài từng sát cánh Đinh Tiên Hoàng là Đinh Điền, Nguyễn Bặc thì đã nổi loạn chống Lê Hoàn và đã bị giết. Lê Hoàn lại nắm trong tay đến mười đạo quân, và như sử sách đã chép là ông rất được lòng quân. Ông lại là tướng có tài. Sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Hoàn đã thân chinh đánh lui quân Tống phía Bắc, bình quân Chiêm ở miền Nam, cứu lấy giang san Đại Cồ Việt.
            Có phải chỉ một mình Dương Vân Nga muốn tôn Lê Hoàn lên làm vua còn bá quan và quân sĩ thì không muốn? Nếu quả thật chỉ một mình Dương Vân Nga muốn điều đó thì bà cũng không thể tự tiện quyết định việc nhường ngôi nhà Đinh cho người ngoại tộc, bởi chuyện nhường ngai vàng đâu phải là chuyện nhỏ, bởi còn đó bá quan văn võ nhà Đinh, còn đó gia tộc họ Đinh. Như câu chuyện đã kể bên trên về sự nhường ngôi, thì dù chỉ trích hành động này, nhưng Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhà Hậu Lê và Khâm Định nhà Nguyễn cũng phải ghi nhận rằng: “Thái hậu thấy mọi người vui lòng quy phục bèn sai lấy áo long cổn khoác lên người Lê Hoàn, mời lên ngôi Hoàng đế”.
            Một điểm cần nhấn mạnh nữa là, việc Lê Hoàn lên ngôi phải hợp lòng quân và lòng dân lúc ấy. Bằng chứng là ông đã chỉ huy quân dân đánh thắng quân xâm lược phương Bắc. Nếu Lê Hoàn không được sử ủng hộ của ba quân và của nhân dân, thì ông lấy đâu đủ sức mạnh mà chiến đấu chống lại một kẻ thù lớn mạnh gấp nhiều lần. Lịch sử đã chứng minh rằng, trong bất kì cuộc chiến chống ngoại xâm nào của Việt Nam, nếu không được lòng dân và lòng quân, thì tự nhiên sẽ thất bại, như trường hợp của Nhà Hồ của Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần dẫn đến chỗ trong nước “chính sự phiền hà” để trong nước “lòng dân rối loạn”, và để đất nước rơi vào tay của giặc Minh.
            Sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đã tỏ ra là một minh quân. Nếu trong sự nghiệp chống ngoại xâm, ông nổi tiếng với các chiến công “Phá Tống, Bình Chiêm”, thì việc nội trị ông cũng là người tài giỏi. Chính ông khởi đầu cho Lễ tịch điền, tức lễ mà vua đích thân xuống cầm cày, một lễ nghi trọng đại mà các vương triều sau tiếp tục noi theo để khuyến khích phát triển nông nghiệp. Lê Hoàn cũng là vị vua mở đường cho công cuộc đào kênh rạch khai thông đường thủy và lấy nước phục vụ nông nghiệp.
            Về ngoại giao, Lê Hoàn đã có chính sách ngoại giao mềm dẻo khôn khéo. Sử cũ đã ghi lại việc Lê Hoàn nhận chiếu nhà Tống mà không quỳ lạy, sứ Tống cũng phải lơ đi. Đại Việt Sử ký Toàn thư ghi nhà vua còn bố trí cho sư Pháp Thuận giả làm người chèo đò ra đón sứ giả Lý Giác. Câu chuyện hai người đã mượn bài thư Vịnh ngỗng của Lạc Tân Vương đời Đường để nối vần đối đáp với nhau nhân có hai con ngỗng bơi trên mặt sông, đã khiến Lý Giác rất thích thú và bị chinh phục, đã trở thành giai thoại thú vị trong lịch sử bang giao và văn học. Sau đó, về Lý Giác đã làm một bài thư gửi tặng ngỏ ý “tôn Lê Hoàn không khác gì vua Tống”.
            Sử thần Ngô Sĩ Liên nhận định:

            “Vua đánh đâu được đấy, chém vua Chiêm Thành để rửa cái nhục phiên di bắt giữ sứ thần, đánh lui quân Triệu Tống để bẻ cái mưu tất thắng của vua tôi bọn họ, có thể gọi là bậc anh hùng nhất đời vậy”.

            Sử gia Lê Văn Hưu, dù phê phán việc Lê Hoàn lên ngôi, cũng phải thừa nhận tài năng của Lê Hoàn:

            “Đại Hành Giết Đinh Điền, bắt Nguyễn Bặc, tóm Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng không hơn được”.

            Phan Huy Chú trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí đã nhận định:

            “Sứ thần Trung Quốc phải tôn sùng, tù trưởng sơn động hết chuyện làm phản. Thành Hoa Lư phồn vinh hơn cả nhà Đinh. Còn lưu ý đến sức dân, quan tâm đến chính sự của nước, chú trọng nghề làm ruộng, nghiêm ngặt việc biên phòng, quy định pháp lệnh. Tuyển lựa quân ngũ… có thể nói là hết sức siêng năng, hết lòng lo lắng”.

            Ngay như Trần Trọng Kim là một sử gia rất sùng Nho, cũng thừa nhận những chiến công “phá Tống, bình Chiêm” của Lê Hoàn. Và cũng thừa nhận việc Lê Hoàn bình loạn đảng trong nước và ca ngợi: “Thanh thế vua Đại Hành lúc bấy giờ rất là lừng lẫy”.
            Lê Hoàn phong cho Dương Vân Nga là Đại Thắng Minh Hoàng hậu, việc này bị các sử gia phong kiến chê trách, cho là bất kính với vua trước là Đinh Tiên Hoàng, vì tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng là Đại Thắng Minh Hoàng Đế. Ta thấy, ở đây Lê Hoàn giữ lại tước hiệu cũ cho Dương Vân Nga. Không chỉ việc đó, khi lên ngôi, Lê Hoàn đã lấy niên hiệu là Thiên Phúc, mà Thiên Phúc lại chính là niên hiệu của Đinh Toàn, con trai của Đinh Tiên Hoàng, người tiền nhiệm của Lê Hoàn. Tại sao ở đây ta không cho rằng, Lê Hoàn có thái độ lưu luyến triều Đinh nên đã giữ lại những tên đó, và để khẳng định là ông lên ngôi là vì tình thế ép buộc, là vì vận mệnh xã tắc? Những chiến công chống ngoại xâm, bình nội loạn, xây dựng kinh tế đã cho thấy Lê Hoàn thật sự là một ông vua vì nước. Sử gia đương đại Nguyễn Khắc Thuần trong Việt Sử Giai Thoại đã cho rằng:

            “Đinh Tiên Hoàng mất, vua nối ngôi là Đinh Toàn chỉ mới được sáu tuổi, Lê Hoàn làm Phó Vương, giữ quyền nhiếp chính, ấy là vì sự thể lúc đó buộc phải làm như vậy. Sau, vận nước lâm nguy, xã tắc không thể phó thác cho Đinh Toàn bé nhỏ, chư tướng cùng Dương Thái hậu tôn Lê Hoàn lên ngôi, và Lê Hoàn đã vui nhận ý tôn lập đó, ấy cũng bởi sự thể lúc bấy giờ buộc phải làm như vậy đó thôi. Ai lên ngôi để hưởng cuộc đời nhung lụa, còn Lê Hoàn lên ngôi trước hết là để nhận lấy sứ mệnh vinh quang mà cực kì khó khăn, đó là chỉ huy cuộc chiến đấu chống quân Tống xâm lăng, bảo vệ nền tự chủ và thái bình cho xã tắc, kính thay”.

Không dùng ánh mắt riêng tư để nhìn chuyện muôn nhà
            Đến đây ta có thể nói rằng, Thái hậu Dương Vân Nga đã sáng suốt và có quyết định đúng đắn khi trao ngai vàng nhà Đinh lại cho Lê Hoàn. Đặt giả thuyết rằng những lời đồn đại về việc bà là người tình thuở hàn vi của Lê Hoàn, hay là bà đã tư thông với Lê Hoàn khi làm Thái hậu, là đúng, thì quyết định nhường ngai vàng của bà cũng vẫn là một quyết định lịch sử trọng đại, có lợi cho toàn đại cục lúc bấy giờ. Nhờ quyết định đó, mà nước Đại Cồ Việt đánh thắng ngoại xâm, dẹp được nội loạn, trở nên phồn thịnh. Nếu Dương Vân Nga lúc đó đặt lợi ích gia tộc lên trên lợi ích quốc gia, tức là khư khư giữ ngôi cho đứa con trai sáu tuổi của mình khi đất nước đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, thì vận mệnh đất nước sẽ ra sao?
            Đương nhiên, theo giáo điều Nho giáo thì việc thay quyền đổi chủ như trên luôn bị phê phán. Bởi vậy mà các sử gia Nho giáo đã không tiếc lời chỉ trích việc Lê Hoàn lấy ngôi nhà Đinh. Thế nhưng, cũng chính các sử gia này đã thừa nhận những chiến công “phá Tống, bình Chiêm” và việc xây dựng đất nước phồn thịnh của Lê Hoàn.
            Xưa nay, cái việc “đời luận anh hùng” luôn lắm bề rối rắm, việc khen chê luôn rất khó phân biệt ai có lý hơn ai. Xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, đến mức mà việc đánh giá anh hùng cũng phân làm hai loại: nam thì mới được gọi “anh hùng”, còn nữ nhi thì phải gọi là “anh thư”. Thế nhưng, xin được gọi Dương Vân Nga là một “anh hùng”, vì bà phải có đủ can đảm và sáng suốt để có được một quyết định đúng đắn mang tầm vóc lịch sử như vậy. Bà đã có cái nhìn lấy đại cục làm trọng. Bà đã không đem ánh mắt riêng tư để nhìn việc của muôn nhà.
            Và cái chuyện “không đem ánh mắt riêng tư để nhìn việc của muôn nhà” của Thái hậu Dương Vân Nga quả là một bài học có giá trị ở mọi thời đại.


LÊ PHƯỚC
Tháng 9/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130927-duong-van-nga-doi-luan-anh-hung
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #55 vào: 05/09/2017, 09:29:23 »
Alexandre Dumas, cực giỏi viết văn, tuyệt đỉnh nấu ăn

Mỗi lần nhắc đến Alexandre Dumas (1802-1870), mọi người đều nghĩ tới sự nghiệp văn chương đồ sộ của văn hào người Pháp. Những quyển tiểu thuyết nổi tiếng như Ba chàng ngự lâm pháo thủ hay là Bá tước Monte Cristo từng làm say mê nhiều thế hệ độc giả. Nhưng giới ghiền đọc truyện Dumas, ít khi nào được biết là ngoài viết văn, ông còn có tài nấu ăn.

Quyển Tự điển ẩm thực được xuất bản sau ngày nhà văn Alexandre Dumas qua đời

TRONG NGÀNH ẩm thực của Pháp, ông Alexandre Dumas được liệt vào hàng sành điệu. Nhưng để hiểu vì sao Alexandre Dumas lại thích nấu ăn. Để hiểu vì sao trước khi mất, ông đã nỗ lực hoàn tất quyển Tự điển Ẩm thực thì trước hết ta phải nhìn vào thân thế của nhà văn. Alexandre Dumas sinh trưởng trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc ở vùng Normandie. Nhờ công lao chiến trường mà ông nội của nhà văn là Alexandre Antoine Davy de la Pailleterie được vua Louis XIV phong làm hầu tước. Ông Davy được cử sang đảo Haiti (thời bấy giờ còn được gọi là Saint Domingue) để cai quản các đồn điền nông trại. Tại vùng đất thuộc địa, ông có con với một nàng hầu da đen. Nói như vậy có nghĩa là thân phụ của nhà văn Alexandre Dumas là người có hai dòng máu.
            Ông Thomas Davy de la Pailleterie (1762-1806) sinh ra trên đảo Haiti, ba thập niên trước khi chế độ nô lệ được bãi bỏ (1794) sau thời Cách mạng Pháp. Nối nghiệp tổ tiên, ông Thomas Davy chọn nghề nhà binh, trở thành nhân vật da màu đầu tiên được nâng lên hàng tướng lãnh, quân hàm cao nhất sau chức Thống Soái trong giới chỉ huy quân đội Pháp thời bấy giờ. Do bất đồng quan điểm với tướng Bonaparte nhân cuộc viễn chinh Ai Cập, ông Davy bị bãi chức vào năm 1802, tức là đúng vào năm nhà văn Alexandre Dumas ra đời.
            Đến khi tướng Bonaparte lên ngôi trở thành hoàng đế Napoléon Đệ Nhất và trị vì trong hơn 10 năm, từ năm 1804 đến 1815, tướng Davy bị thất sủng, chết trong cảnh nghèo khổ do đã dám đối đầu với Napoléon. Ông Davy sẽ không bao giờ nhận được trợ cấp xứng đáng dành cho một viên chỉ huy có công lao với đất nước. Buồn tình sinh bệnh, tướng Thomas Alexandre Davy qua đời khi nhà văn Alexandre Dumas mới lên ba tuổi rưỡi. Mồ côi cha rất sớm, ông Alexandre Dumas được mẹ đưa về gia đình bên ngoại nuôi nấng dạy dỗ. Ông ngoại của nhà văn Dumas là Charles Labouret, chủ của một quán trọ nằm gần thị trấn Soissons, nhờ có tài nấu ăn nên ông trở thành nhà đầu bếp chính thức của gia đình công tước Orléans.
            Theo sử gia Jean Tulard, nhà văn Alexandre Dumas thời còn nhỏ thích làm bếp với mẹ và ông ngoại. Chính ông Charles Labouret đã sáng chế và dạy cho đứa cháu ngoại cách nướng gà gọi là “công thức ba tầng”. Bất kể là gà, vịt hay ngỗng, ông Charles Labouret không xiên que để nướng ngang mà là cột dây để nướng dọc. Thịt gia cầm ở đây được ướp sẵn rồi dùng dây để treo lên ở ba độ cao khác nhau: tầng cao nhất thường là một con ngỗng, tầng thứ nhì là vài con gà, tầng thứ ba là một chục con chim cút. Thịt gia cầm càng béo thì càng treo trên cao, khi bắt đầu nướng, mỡ ngỗng và các gia vị ướp thịt sẽ chảy xuống giúp cho các tầng ở phía bên dưới được nướng ròn mà thịt vẫn không khô.
            Thời niên thiếu, ông Alexandre Dumas thiếu chăm chỉ siêng năng trong công việc học hành, nên ông không đỗ đạt cao. Thật ra, ông nuôi mộng văn chương. Đối với ông bằng cấp không quan trọng cho lắm vì ông nghĩ rằng nếu không sống nhờ nghề văn chương, thì cùng lắm thì ông sẽ mở quán trọ nấu ăn kiếm sống qua ngày. Thời gian đầu, ông kiếm sống nhờ làm việc cho một văn phòng công chứng. Nhờ văn hay chữ đẹp, và một phần là nhờ vào sự gửi gấm của ông ngoại, nên ông được công tước Orléans tuyển về làm thư ký, ngoài công việc ghi chép biên thư, ông còn phải lo sổ sách giao nhận gửi hàng cho gia đình này. Chính trong giai đoạn này mà ông bắt đầu sáng tác viết lách. Ông sáng tác theo nhiều thể loại khác nhau nhưng các tác phẩm ăn khách của ông vẫn là kịch nói và tiểu thuyết.
            Alexandre Dumas cho ra mắt tác phẩm đầu tay năm ông 23 tuổi, nhưng mãi đến 5 năm sau ông mới bắt đầu gặt hái thành công. Báo chí thời bấy giờ có trào lưu đăng truyện thành nhiều tập nhiều kỳ. Alexandre Dumas biến cái mốt thời thượng thành một sở trường. Ông không làm việc một mình mà làm việc với một nhóm tác giả trong đó người có công nhất vẫn là Auguste Maquet. Cả nhóm soạn cốt truyện, rồi phân chia công việc để có thể sáng tác một cách liên tục, đều đặn. Tiểu thuyết phiêu lưu với nhiều pha gay cấn hành động, cưỡi ngựa đấu kiếm, tất cả được lồng vào một bối cảnh lịch sử đầy dẫy những nhân vật hào hiệp, chi tiết ly kỳ biến các tác phẩm của nhóm sáng tác Alexandre Dumas thành những kịch bản lý tưởng cho kỹ nghệ điện ảnh Hollywood sau này.
            Nhờ vào sự hỗ trợ của nhóm, sức sáng tác của Alexandre Dumas trở nên mạnh mẽ dồi dào. Trong số khoảng 250 tác phẩm mà ông đã để lại, chắc chắn có nhiều tác phẩm không phải hoàn toàn là do ông viết. Nhưng bù lại một số tác phẩm của Dumas trở thành kiệt tác khi ông đưa nhiều chi tiết đời tư vào trong truyện: sự báo thù của Bá tước Monte Cristo là một cách để cho Alexandre Dumas phục hồi danh dự của người thân phụ. Bốn chàng ngự lâm pháo thủ D’Artagnan, Athos Porthos và Aramis tuy dựa vào những nhân vật có thật nhưng cá tính của mỗi nhân vật cũng như quan hệ của họ lại mô phỏng theo tình bạn của tướng Thomas Alexandre Davy với ba bằng hữu cùng lứa tuổi với ông là Jean-Louis Espagne, Louis-Chrétien Carrière de Beaumont và Joseph Piston.
            Vào độ tuổi tứ tuần, Alexandre Dumas đã đạt tới đỉnh cao sự nghiệp. Thời ông cho xuất bản Bốn chàng ngự lâm pháo thủ (1844), các tòa soạn trả tiền nhuận bút cho ông cao gấp 10 lần so với mức trung bình. Mỗi dòng chữ của ông đăng trên báo được trả 3 quan Pháp, trong khi người khác chỉ nhận có 30 xu mà thôi. Lúc sinh tiền, Alexandre Dumas nổi tiếng là mê gái, ham vui và háu ăn. Điều này chỉ đúng có một phần. Về đời tư, nhà văn chỉ có một đời vợ, nhưng sau khi ly hôn, ông lại có quan hệ với khá nhiều phụ nữ. Một trong những đứa con mà ông công nhận sau đó nối nghiệp viết văn cũng mang tên Alexandre Dumas, để phân biệt người ta thường gọi là Alexandre Dumas con, ông đã viết quyển Trà hoa nữ (La Dame aux camélias) và Công chúa thành Bagdad (La princesse de Bagdad). Alexandre Dumas cũng ham vui tiệc tùng, ông không ngại bỏ tiền mua vui, thết đãi bằng hữu, người thân cho nên dù kiếm được tiền nhưng vẫn không đủ để trang trải cho nếp sống xa hoa, yến tiệc vương giả.
            Thế nhưng Alexandre Dumas hoàn toàn không háu ăn mà lại ăn uống rất sành điệu. Một chai rượu thượng hạng dù có đắt cách mấy, ông vẫn không tiếc tiền mua. Trong quyển nhật ký của mình, nhà soạn nhạc cổ điển Rossini có kể lại những bữa tiệc rượu thịnh soạn mà Alexandre Dumas tổ chức để đãi bạn hiền, trong đó có văn hào Victor Hugo vì cả hai nhà văn sinh cùng một năm (1802).
            Cả hai người bạn Rossini và Hugo đều biết rằng Alexandre Dumas từ lâu đã nuôi mộng viết một bộ sách chuyên về nghệ thuật ẩm thực gợi hứng từ bậc tiền bối như Taillevent và các bậc đàn anh là Brillat Savarin và Marie-Antoine Carême. Thật ra, ý định viết một quyển sách ẩm thực đã manh nha từ lâu, thấp thoáng ló dạng trong các quyển sổ tay hành trình nhân các chuyến đi thưởng ngoạn ở miền nam nước Pháp, Đức, Ý hay Tây Ban Nha. Alexandre Dumas thường gắn liền hình ảnh của những nơi ông đi qua với hương vị của các món ăn, với cách mô tả thấu đáo, chi tiết tỉ mỉ.
            Theo nhà sử học André Castelot trong quyển L’histoire à table (tạm dịch là Lịch sử bên bàn ăn), nghệ thuật ẩm thực đối với Alexandre Dumas không đơn thuần là một cái thú “hưởng thụ” mà là một niềm đam mê mà nhà văn đã có từ thuở thiếu thời. Ông thường hay nói đùa rằng chữ nghĩa buộc ông phải vắt óc tìm tòi, trong khi nấu nướng đem lại cho ông một niềm vui khó tả như ngẫu hứng trời ban.
            Sử gia Jean Vitaux trong quyển “Histoire et Gastronomie” (Lịch sử và Ẩm thực) đi xa hơn nữa khi cho rằng Alexandre Dumas không phải là một người cưỡi ngựa xem hoa, ngồi trên yên ngựa để mô tả vẻ đẹp của một loài hoa. Ông mô tả chi tiết từ màu sắc đến mùi hương với tâm hồn của một người trồng hoa. Nói cách khác Alexandre Dumas không giống như một nhà phê bình ẩm thực mà lại không biết làm bếp, ông nói về chuyện ăn uống qua lăng kính trải nghiệm, những gì ông đã làm thử, những mùi ông đã từng nếm.
            Dù gì đi nữa, thì một khi ông giải nghệ văn chương, “rửa tay gác bút”, thì ông lao vào việc soạn quyển Tự điển về ẩm thực “Grand Dictionnaire de Cuisine”. Alexandre Dumas mất khoảng hai năm trời để viết xong bộ sách này. Để tránh bị chi phối, ông về ở ẩn tại vùng Finistère. Bản thảo hoàn tất được đưa cho nhà xuất bản Alphonse Lemerre, nhưng rốt cuộc Alexandre Dumas đột ngột từ trần vài tháng sau. Bộ sách này chỉ được trình làng đầu năm 1872, một năm sau ngày ông mất.
            Quyển Tự điển Ẩm thực của Alexandre Dumas không đơn thuần là một bộ sách hướng dẫn nấu ăn, nó tựa như một vựng tập biên khảo kết hợp nhiều nguồn tài liệu, dễ đọc nhờ văn phong dí dỏm, hấp dẫn nhờ các giai thoại thú vị bất ngờ, qua lời kể của một số nhà đầu bếp trứ danh, như ông Vuillermot, một trong những tên tuổi của làng ẩm thực thời bấy giờ.
            Tính tổng cộng, bộ Tự điển Ẩm thực của Alexandre Dumas có đến ba phiên bản khác nhau. Phiên bản đầu tiên đồ sộ nhất dày cả ngàn trang với hơn 3.000 công thức nấu ăn khác nhau. Mãi đến năm 1960, một phiên bản ngắn gọn hơn được trích từ bộ tự điển này, chủ yếu bao gồm công thức nấu ăn và những chú thích về nguồn gốc của các món. Phiên bản thứ ba hoàn chỉnh hơn (dày 670 trang) với từ vựng sắp đặt theo hệ thống, và đi kèm với các chú thích tiểu sử, tài liệu tham khảo lịch sử, trích dẫn bổ sung về những cuốn hồi ký, ghi chép ẩm thực mà Alexandre Dumas đã từng làm trong các quyển sổ tay hành trình.
            Bộ sách này cho thấy niềm đam mê cũng như sự thích thú của một người sành điệu. Cuốn sách mở đầu bằng một bài giới thiệu về sự hình thành của nghệ thuật ẩm thực từ nguồn gốc ban đầu cho tới thế kỷ XIX. Nếu chỉ là một bộ sách về công thức nấu ăn, thì người đọc dễ bị nhàm chán. Nhưng Alexandre Dumas viết bộ sách này như thể ông viết tùy bút hay soạn kịch bản tiểu thuyết. Ông đưa vào bài viết của mình những giai thoại cá nhân, những mẩu chuyện khôi hài nhưng không lạc đề, ông trích dẫn một số tác phẩm văn học thi ca khi tác phẩm đó có nhắc đến ẩm thực. Thậm chí, ông sáng tác một bài thơ có vần có điệu, để mô tả công thức chế biến món ăn.
            Theo ông André Castelot, khi lướt qua bộ sách này, người đọc nhanh chóng nhận ra ngay nhà văn Dumas dù không có chức danh “chuyên gia ẩm thực” nhưng ông lại nắm vững các đề tài ông đang đề cập đến. Quyển sách là một cách để cho nhà văn chia sẻ niềm đam mê của ông với độc giả, nhưng đồng thời nó cho thấy là nấu ăn là một nghề tay trái, nếu không thành công trong sự nghiệp văn chương, thì có lẽ Alexandre Dumas sẽ trở thành một nhà đầu bếp trứ danh. Niềm đam mê đầu đời rốt cuộc trở thành tác phẩm cuối đời. Alexandre Dumas là một người không biết che giấu tài năng: cực giỏi nấu ăn, tuyệt đỉnh viết văn.


TUẤN THẢO
Tháng 2/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140221-alexandre-dumas-cuc-gioi-nau-an-tuyet-dinh-viet-van

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #56 vào: 07/09/2017, 18:32:05 »
Mùa thu của Đặng Thế Phong qua lời của danh ca Tâm Vấn

Có những người nhạc sĩ trong suốt cuộc đời sáng tác của mình chỉ để lại cho thế nhân số ca khúc đếm không hết một bàn tay. Đó là cố nhạc sĩ tài hoa Đặng Thế Phong cùng ba ca khúc bất hủ với những lời nhắc nhớ về ông của một nữ danh ca đã hát nhạc của ông cách đây 71 năm, nữ danh ca Tâm Vấn.

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong và sáng tác Con thuyền không bến

                       “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi.
                        Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi.
                        Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu, ai khóc ai than hờ…
                        Trời thu đến nơi đây gieo buồn lây.
                        Lộng vắng bốn bề không liếp che gió về.
                        Ai nức nở quên đời châu buông mau, dương thế bao la sầu…

                        (Giọt mưa thu)

Nữ danh ca Tâm Vấn: Thời đó ai cũng nghêu ngao ở miệng hết… Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi… Tùy tình cảm của mỗi người mà cho những dấu hỏi, huyền, ngã nó rõ ràng hơn. Có người thì cho nó nhẹ, có người cho nó rõ.

            Giọt mưa thu, hay còn gọi là Vạn cổ sầu, là tên đầu tiên cố nhạc sĩ Đặng Thế Phong đặt cho ca khúc được ông viết vào đầu năm 1941, cũng là bài hát cuối cùng trong cuộc đời tài hoa nhưng bạc mệnh của ông.
            Đặng Thế Phong là một trường hợp, một nhạc sĩ rất đặc biệt của âm nhạc Việt Nam. Cho đến nay, khi nhắc đến Đặng Thế Phong, người ta sẽ chỉ nghĩ và nghĩ ngay đến ba ca khúc bất hủ, Đêm thu, Con thuyền không bến và sáng tác cuối cùng của ông, Giọt mưa thu.

Nữ danh ca Tâm Vấn: Ba bài hát đó là từ năm 1945, có thể trước nữa nhưng tôi đánh mốc là cái thời nổi nhất của ông ấy là người ta hát ba bài hát đó. Ngay cả người không biết chữ mà cũng biết hát ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi. Hát theo kiểu bình dân cũng có, hát theo kiểu sang sang cũng có. Ngay bản thân tôi cũng từng hát ba bài hát này vào năm 1945, ở Hà Nội.


Tài hoa, bạc mệnh
            Theo một số tài liệu không rõ nguồn, được lan truyền trên những trang văn nghệ thì ghi lại rằng Đặng Thế Phong là một chàng trai tài hoa, đàn hay hát giỏi, lại mang vẻ đẹp mong manh của cô thiếu nữ với môi đỏ như son. Ông cũng từng theo học dự thính trường Đại học Mỹ thuật Đông Dương. Cũng từ đây mà có một giai thoại được lưu truyền rằng Đặng Thế Phong từng vẽ một nhánh cây rất đẹp không có ngọn. Thầy dạy của ông đã khen ngợi bức tranh ấy nhưng cũng tỏ ý lo ngại cho một vận mệnh ngắn ngủi của Đặng Thế Phong.
            Không ngờ sự tiên đoán ấy đã trở thành sự thật khi Đặng Thế Phong giã biệt cuộc đời vào năm 24 tuổi.
            24 năm trên cõi đời, sáng tác đầu tay là một đêm thu, năm 1940, với khu vườn đầy ánh trăng lan dịu và một tâm hồn say khướt theo màu trăng.

                        “Vườn khuya trăng chiếu
                        Hoa đứng yên như mắt buồn
                        Lòng ta xao xuyến
                        Lắng nghe lời hoa
                        Cánh hoa vương buồn trong gió
                        Áng hương yêu nhẹ nhàng say
                        Gió lay

                        Cành sương nặng trĩu
                        Ru bóng êm trong ánh vàng
                        Màn đêm buông xuống
                        Mái im triền miên
                        Bóng cô đơn dường thao thức
                        Mãi trong đêm nặng sầu thương
                        Hồn vương

                        Hoa lá cành
                        Ánh trăng lan dịu dàng
                        Ru hồn bao nhớ nhung
                        Đêm lắng buồn
                        Tiếng thu như thì thầm
                        Trong hàng cây trầm mơ

                        Làn gió lướt tới cuốn
                        Đưa hồn ta phiêu diêu theo mây trắng trôi lơ lửng
                        Ngàn muôn tiếng réo rắt
                        Côn trùng như than như van mơ hồ theo gió lan

                        Trăng xuống dần cỏ cây thêm âm thầm
                        Đông buồn trong ánh sao
                        Như chiếu vào mắt ta bao lạnh lùng lay hồn ta rồi tan

                        (Đêm thu)

            Nữ danh ca Tâm Vấn cho biết Đêm thu là ca khúc bà yêu nhất trong ba nhạc phẩm của Đặng Thế Phong, và là ca khúc mà bà đã hát cách đây 71 năm.

Nữ danh ca Tâm Vấn: Cái thời 1945 họ đã dựng múa bài Đêm thu rồi. Tôi đã được xem ở Nhà hát lớn Hà Nội 1945. Sau này tôi hát ở Đài phát thanh Hà Nội thì tôi rất mê bài đó. Tôi mê nhất bài Đêm thu, nó lả lướt, nó ướt át, nó mơ màng, lãng mạn. Chứ còn Giọt mưa thu nó thê thảm quá, tôi không hát nhiều. Những bài kia thì hay thật, Con thuyền không bến, Giọt mưa thu thì tuyệt vời thật. Thời đó ba bài của ông Đặng Thế Phong thì lẫy lừng ở Hà Nội, gần như là ai cũng biết, từ người mù chữ cho đến người nghe nhạc đều mê.

Nhạc sĩ Đặng Thế Phong, sinh ngày 5 tháng Tư năm Mậu Ngọ
(tức năm 1918) ở phố Hàng Đồng, xứ Nam Định

Thu định mệnh
            Như một định mệnh, cả ba ca khúc nổi tiếng trong cuộc đời sáng tác của Đặng Thế Phong đều nói về mùa thu.
            Ngoại trừ Đêm thu là ca khúc đầu tay, thì Con thuyền không bến và Giọt mưa thu được kể lại rằng do Đặng Thế Phong sáng tác trong nỗi nhớ quay quắt về người con gái có tên gọi là Tuyết.

                        “Đêm nay thu sang cùng heo may
                        Đêm nay sương lam mờ chân mây
                        Thuyền ai lờ lững trôi xuôi dòng
                        Như nhớ thương ai trùng tơ lòng…

                        (Con thuyền không bến)

            Mùa thu vốn dĩ đẹp, nhưng buồn. Đã thế, lại còn đêm thu, tất cả cảnh vật, cuộc sống hiện hữu trong ca khúc của Đặng Thế Phong đều là những hoạt động diễn ra trong trời đêm mùa thu. Con thuyền thì không bến; thu sang cùng với heo may; giọt mưa thu rơi hòa cùng tiếng khóc than hờ…

                        “Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi.
                        Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi.
                        Nghe gió thoảng mơ hồ trong mưa thu, ai khóc ai than hờ…

                        (Giọt mưa thu)

            Nhất cử nhất động trong tâm hồn và âm nhạc của Đặng Thế Phong chỉ có thể gói gọn trong một chữ “buồn”.
            Và ai yêu nhạc của ông đều biết rằng ngay từ ca khúc thứ hai, là Con thuyền không bến, nhạc sĩ đã nhuốm bệnh lao. Điều này được danh ca Tâm Vấn xác nhận chính là nỗi niềm ông đặt vào sáng tác của mình.

Nữ danh ca Tâm Vấn: Tâm sự của ông ấy, thời đó là thời khó khăn. Ông ấy lại bị bệnh lao nữa. Lao thời đó đâu có thuốc thang chữa nổi.

            Con thuyền không bến tuy vẫn là giai điệu nhẹ nhàng, còn vương chút âm hưởng Tây phương của Đêm thu nhưng đã bắt đầu chất chứa những hình ảnh chênh vênh và âm thanh của lòng trắc ẩn.

                        “Lướt theo chiều gió một con thuyền theo trăng trong
                        Trôi trên sông Thương nước chảy đôi dòng
                        Biết đâu bờ bến, thuyền ơi thuyền trôi nơi đâu?
                        Trên con sông Thương nào ai biết nông sâu
                        Nhớ khi chiều sương cùng ai trắc ẩn tấm lòng
                        Biết bao buồn thương, thuyền mơ buông trôi xuôi dòng
                        Bến mơ dù thiết tha, thuyền ơi đừng chờ mong…


            Rồi khi đến Giọt mưa thu, thì hoàn toàn là một bức tranh thu u ám. Cái nghèo, cái buồn, cái cô độc bao trùm lên khắp nhạc điệu, len lỏi trong từng ca từ của nhạc khúc. Đặng Thế Phong hoàn thành sáng tác này ngay trên giường bệnh.


Đông Tây giao hòa
            Tài hoa của Đặng Thế Phong được giới nghiên cứu âm nhạc và nghệ thuật chỉ ra rằng chính do ông đã kết hợp hài hòa giữa nhạc Tây phương và giai điệu ngũ cung. Nói một cách khác là “Đông Tây giao hòa”. Tất cả ba ca khúc của ông được xem là những ca khúc tiên phong của tân nhạc Việt Nam.

Nữ danh ca Tâm Vấn: Nhạc thời đó là ảnh hưởng của nhạc Tây phương truyền qua. Hồi đó gọi là viết nhạc thôi chứ cũng chưa gọi là âm nhạc cải cách theo miền Bắc hay nhạc mới theo miền Nam. Miền Bắc thì gọi là âm nhạc cải cách để so sánh với nhạc cổ. Nhạc cổ ngày xưa của mình chỉ có hát trống quân, ả đào. Các ông ấy học hành Tây phương rồi thì các ông ấy ảnh hưởng của nhạc Tây phương. Ví dụ như “Vườn khuya trăng chiếu hoa đứng im như mắt buồn. Lòng ta xao xuyến lắng nghe lời hoa. Cánh hoa vươn buồn trong gió…”

            Theo lời của nữ danh ca Tâm Vấn, Đặng Thế Phong và những nhạc sĩ cùng thời với ông là những người được hưởng nền giáo dục phương Tây, nhất là Pháp. Do đó, từ giai điệu cho đến lời ca của họ bàng bạc phong thái trữ tình, nhẹ nhàng của điệu valse lãng mạn.

Nữ danh ca Tâm Vấn: Thời ấy là thời Johann Strauss, có các bài như One day when we were young, Ngày ấy khi xuân ra đời, Một trời bình minh… Những bài Valse…

            24 năm đối với chiều dài của một cuộc đời thì quả là ngắn ngủi. Nhưng sự nghiệp âm nhạc của Đặng Thế Phong để lại thì kéo dài qua nhiều thế hệ. Mùa thu của Đặng Thế Phong qua bao nhiêu năm tháng vẫn mãi mãi là mùa thu của tình yêu vô vọng, mùa thu của phận đời, phận người nghiệt ngã, mùa thu của tài hoa nhưng bạc mệnh, mùa thu của Đặng Thế Phong.


CÁT LINH
Tháng 7/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/tam-van-talks-ab-autumn-in-dang-the-phongs-music-cl-07242016082620.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #57 vào: 12/09/2017, 14:28:19 »
Paris và cà phê vỉa hè

Thành phố Paris có hơn 15.000 quán cà phê và nhà hàng vỉa hè được bài trí theo phong cách riêng từ dân dã đến sang trọng. Một tách cà phê đi kèm chiếc bánh ngọt là bữa sáng nên thử ít nhất một lần khi đến Paris. Ngoài nổi tiếng về các loại cà phê được pha chế đặc trưng Pháp và Ý, các quán cà phê ở Paris còn gây ấn tượng nhờ khoảng hiên lấn ra vỉa hè và những chiếc ghế độc đáo đầy mầu sắc.

Quán cà phê Les Deux Magots, khu Saint-Germain-des-Prés, Paris.

KHI NHỮNG tia nắng ấm đầu tiên của mùa xuân chợt đến, người dân Paris chuẩn bị cặp kính râm, thêm một cuốn sách hay tờ báo và có thể ngồi hàng giờ “tắm nắng”… ở quán cà phê vỉa hè, từ những khu du lịch nổi tiếng như Champs-Elysées, Opéra, Grands Boulevards, Saint-Germain des Prés, Saint-Michel… đến mỗi con phố nhỏ ở Paris. Ba khách hàng ở khu Montparnasse, quận 14 Paris, giải thích với RFI, tại sao họ thích ngồi cà phê vỉa hè như vậy:

            “Mình thích cà phê vỉa hè vì sau giờ làm việc, thích uống một cái gì đó, thích la cà, lang thang và thường ở khu Beaubourg hoặc khu “quartier Latin” tại vì ở đó nhộn nhịp và không khí rất Việt Nam. Ngồi ngoài đường thì thứ nhất được thưởng thức không khí. Vì khi uống lúc trời lạnh có thú vui của trời lạnh, còn khi có nắng lên thì thích kiểu nắng đẹp, phơi nắng, khác hẳn với Việt Nam mình vì ở Việt Nam mình trốn nắng, còn ở đây thì lại thích nắng bởi sau những tháng mùa đông, thì cần không khí, nắng ấm hoặc vitamin”.

             “Vì chúng tôi được hưởng không khí mát mẻ, hít thở không khí trong lành vì mùa xuân tới rồi nên tôi thấy vui khi ngắm cây cỏ một chút và những người qua đường, trông rất nhộn nhịp”.

             “Đơn giản là rất dễ chịu khi được uống cà phê ngoài đường vì trời nắng đẹp. Hơn nữa, tôi cảm thấy rất thân mật vì mọi người có thể nói chuyện với nhau ở bên ngoài. Và vì môi trường này giúp mọi người dễ bắt chuyện làm quen với nhau hơn. Đơn giản vậy thôi!

            Quán cà phê, ở Paris cũng như những nơi khác trên thế giới, là điểm hẹn hò hay nơi làm việc, là lúc nói chuyện trên trời dưới biển hay chỉ là những phút nhàn rỗi ngắm người qua lại và cảm nhận nhịp sống hiện đại nhưng sâu lắng của Paris.

             “Dù sao, vì thường xuyên trong tầu điện ngầm nên người ta cũng muốn thỉnh thoảng được lên mặt đất. Và ở Paris không có quá nhiều không gian xanh, dĩ nhiên có nhiều vườn cây, vì thế cà phê vỉa hè hay các hiên ngoài trời của các nhà hàng luôn là địa điểm thú vị vì nếu không, ở Paris, người ta suốt ngày ở bên trong”.

             “Ở đây, các căn hộ không phải lúc nào cũng có khoảng không riêng, vì thế, uống cà phê vỉa hè cho chúng tôi chút không khí thoáng đãng và có chút không gian xanh


Một quán cà phê trong khu Le Marais, Paris.

Cà phê vỉa hè, cách hiệu quả để thu hút khách
            Những chiếc ghế kê ngoài vỉa hè, cùng với khung cảnh đẹp, là cách hiệu quả nhất của chủ quán để thu hút khách hàng, chủ yếu là khách vãng lai vì Paris là một trong những điểm du lịch nổi tiếng lãng mạn nhất thế giới. Vì vậy, họ không ngần ngại đầu tư để có được giấy phép khai thác khu vực vỉa hè trước quán. Đơn xin phép phải được gửi đến đô chính Paris, theo giải thích của anh Fabien Chébaut, cán bộ quy hoạch lãnh thổ của vùng Ile-de-France:

             “Tại Paris cũng như những thành phố khác của Pháp, khu vực công cộng không thuộc về ai cả mà thuộc về tập thể. Và không một ai có thể kê bàn ghế ở ngoài đường như họ muốn. Vì vậy, có những điều khoản cho phép người kinh doanh sử dụng không gian chung của các thành phố.
            Còn tại Paris, thành phố có cả một bộ quy tắc và đơn xin phép phải được gửi đến thị chính. Theo nguyên tắc chung, mỗi nhà kinh doanh, mỗi tiệm cà phê hay nhà hàng chỉ được chiếm 1/3 vỉa hè vì phải dành chỗ cho người đi lại.
            Mỗi nhà kinh doanh đến đăng ký tại thị chính, điền hồ sơ chi tiết về kỹ thuật. Sau đó, thị chính Paris sẽ cấp giấy phép sử dụng. Đổi lại, chủ tiệm phải trả một khoản tiền thuê định kỳ, tương ứng với diện tích được phép sử dụng. Tuy nhiên, giấy phép này không phải là vĩnh viễn và có thể bị thu hồi bất kỳ lúc nào
”.


Quy định quản lý quán cà phê của thành phố Paris (Hình minh họa).

            Bộ quy tắc của thành phố Paris giải thích rất chi tiết về cách sắp xếp giá bày bán hàng, dựng vách ngăn bằng kính và kê bàn ghế trên vỉa hè. Đối với các quán cà phê giải khát, thường có hai kiểu hiên chính: hiên khép kín và khu vực vỉa hè được phép kê bàn ghế. Tuy nhiên, chủ cơ sở kinh doanh chỉ được lấn tối đa 1/3 vỉa hè và phải chừa lối đi rộng tối thiểu 1,60m cho người đi bộ tính từ mép vỉa hè. Còn chiều dài không được vượt quá bề mặt của cơ sở kinh doanh, có nghĩa là không được lấn sang nhà bên cạnh.
            Đối với khu vực cà phê vỉa hè khép kín, chiều rộng cho phép từ 0,70m đến 1,20m. Vách ngăn phải được làm bằng kính trong suốt, cao tối đa 2,25m, không được dán áp-phích hay che mành rèm để tránh khuất tầm nhìn. Các vách ngăn phải xê dịch được, được lắp song song và vuông góc với cửa hàng chính. Khu vực cà phê ngoài trời, nơi khách hàng được phép hút thuốc, phải có chiều rộng tối thiểu 0,60m. Như vậy, ở những khu vực có vỉa hè rộng 2,2m, hàng quán không được phép xếp bàn ghế ra ngoài. Trong trường hợp vỉa hè rộng, chủ quán có thể được phép kê bàn ghế sát quán và sát mép vỉa hè, với điều kiện chừa lối đi ở giữa rộng 1,80m cho người đi bộ. Đặc trưng của các quán cà phê vỉa hè Paris là mái hiên đỏ với viền rũ, nơi ghi tên quán, không được rộng quá 0,25m.
            Ngoài ra, chủ quán còn phải tuân thủ nhiều quy định khác như bảng ghi thực đơn không được cao quá 1,60m hoặc giá đỡ thực đơn không được cao quá 1m; không được để chướng ngại vật trên lối dành cho người đi bộ, kể cả bảng thực đơn hay ô dù; trên mỗi bàn ngoài trời phải có một gạt tàn thuốc lá và thường xuyên được dọn sạch… Trong trường hợp ngừng kinh doanh hoặc bị thu hồi giấy phép, chủ quán phải trả lại nguyên trạng cho vỉa hè.


Một quán cà phê ở Sorbonne, khu phố Latin, Paris.

Ghế mây: Biểu tượng của cà phê vỉa hè Paris
            Cà phê vỉa hè Paris còn nổi tiếng với những chiếc ghế mây cong cong độc đáo của hai nhà sản xuất Drucker (ra đời năm 1885) và Gatti (năm 1920). Mỗi quán có kiểu ghế đặc trưng, nổi bật nhờ các họa tiết ở lưng ghế cùng với tên của nhà sản xuất được khắc trên một tấm kim loại gắn đằng sau hoặc bên cạnh ghế.
            Sản phẩm của nhà Drucker và Gatti đều được làm thủ công, theo yêu cầu của khách hàng. Mỗi chiếc ghế có giá ít nhất là 100 euro/chiếc, cần khoảng 4 giờ làm việc và trải qua 6 công đoạn khác nhau: xử lý mây, đan khung, lắp ráp, đan lưng ghế, lắp viền, hoàn thiện và đánh véc-ni.
            Chất liệu được sử dụng chính là sợi mây rất nhẹ và bền, có nguồn gốc từ những vùng nhiệt đới như Indonesia, Malaysia, Philippines… và được nhập vào Pháp ngay từ cuối thế kỷ XIX. Cho đến những năm trước Thế Chiến Thứ Nhất, cả nước Pháp sôi sục với trào lưu đồ mây tre đan. Cơn sốt chỉ tạm ngớt trong hai cuộc chiến rồi lại bùng lên khi Thế Chiến II kết thúc.
            Theo nhận xét với l’Express của ông Bruno Dubois, giám đốc Nhà Drucker, “không một thành phố nào khác có những chiếc ghế đầy mầu sắc như vậy ở ngoài phố. New York không có cà phê vỉa hè. Ở Madrid hay Barcelona cũng có một ít, nhưng ở phần còn lại của Tây Ban Nha hay Ý, thường thì trời quá nóng để ngồi ngoài đường. Trong khi đó, ở Bắc Âu thì lại thường xuyên mưa”.
            Vậy đó, những chiếc ghế mây trở thành biểu tượng của Paris. Vừa lịch sự, thuận tiện, lại nhẹ bền và đẹp mắt, chúng trở thành vật không thể thiếu trong các quán cà phê, nhà hàng. Kích thước mỗi chiếc ghế đều được tính toán chi tiết để không cồng kềnh, vừa đủ ngồi, như vậy chủ quán mới có thể khai thác triệt để diện tích được sử dụng ngoài vỉa hè và không tốn chỗ xếp trong nhà.
            Một số du khách Việt khi đến Paris cho rằng nếu đến kinh đô ánh sáng mà không vào quán uống cà phê, bạn sẽ “không thấy và không có Paris. Hãy chọn một góc khuất ở bất cứ ngã tư nào của thành phố, gọi một cốc cà phê sữa, ngắm nụ cười mỉm đặc biệt của người Pháp và tận hưởng cuộc sống êm đềm trôi nơi đây”.


THU HẰNG
Tháng 4/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170414-paris-va-ca-phe-he

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #58 vào: 14/09/2017, 21:22:38 »
Ông Vũ Tài Lục, một mất đi, khó người thay thế

Tới hôm nay, khi ông không còn nữa, tôi vẫn không biết nên chọn chỉ-danh nào để biểu thị về ông một cách đầy đủ mà, ngắn gọn nhất?!? Lý do, mỗi người, tùy cơ duyên, vị trí, tương quan hay sự hiểu biết về ông mà, sẽ dành cho ông một chỉ-danh nào đó…

Từ phải qua: Trần Lê Nguyễn, Ngọc Dũng, Thanh Tâm Tuyền,
Vũ Tài Lục, cô dâu chú rể Duy Thanh và các phụ dâu. (Hình Duy Thanh)

TÔI BIẾT, nhiều người đã nhìn ông như một nhà Tử Vi Đẩu Số, do say mê cuốn “Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư” (dịch từ cuốn sách cùng tên của Trần Đoàn hay, “Tử Vi Tinh Điển”)… Hoặc từng tìm đến ông, để nghe ông nói về vận mệnh của mình hay người thân; với tất cả lòng khâm phục, kính ngưỡng.
            Tôi biết, nhiều người đã coi ông như một nhà tướng mệnh học, do từng đọc cuốn “Tướng Mệnh Khảo Luận” hoặc “Nghệ Thuật Coi Tướng”…
            Tôi biết, nhiều người khác, lại nhìn ông như một nhà Chính-trị-học, y cứ trên những tác phẩm sâu sắc mà ông đã cho xuất bản, như cuốn “Quốc Tế Chính Trị”, “Thủ Đoạn Chính Trị” hoặc “Những Quy Luật Chính Trị Trong Sử Việt”…
            Tôi cũng biết, nhiều người khác lại nhìn ông như một nhà xã hội học, khi họ đọc những tác phẩm như “Thân Phận Trí Thức,” “Những Khuôn Mặt Tài Phiệt”…(1)
            Họ Vũ cũng được một số bằng hữu (giới hạn) biết rằng ông còn có tài bắt mạch, viết toa thuốc cho vài bằng hữu đặc biệt, ông chọn giúp…
            Với kiến thức bao trùm nhiều lãnh vực khác biệt như vậy, tôi trộm nghĩ, có thể nhiều người dễ dàng đồng ý chấp nhận một cách trân trọng hai chữ học giả, dành cho ông.
            Chọn lựa chỉ danh trên, tương đối thích ứng với tài năng ngoại khổ của ông. Nhưng, điều đó không có nghĩa sẽ được toàn thể đám đông, bằng hữu của ông ưng thuận.
            Do đó, trong bài viết ngắn này, tôi xin được dùng bốn chữ ngắn, gọn “Ông Vũ Tài Lục.” Với tôi, chỉ nội tên gọi của ông không thôi, cũng đã đủ nói lên giá trị tài năng, nhân cách của một người Việt Nam đặc biệt này.
            Chọn lựa này của tôi, cũng tương hợp với quan điểm chung của các thành viên trong gia đình tôi là “sự mất đi của ông Vũ Tài Lục, là một mất đi khó có người thay thế.”(2)
            Lý do chúng tôi dễ dàng đồng ý với nhau về kết luận trên (nhất là T.), vì chúng tôi thấy, từ Đông qua Tây, những “cao thủ” Tử Vi, Tướng Mệnh nổi tiếng, rất hiếm người viết sách về những đề tài nằm ngoài phạm vi họ thủ đắc. Ở miền Nam trước đây, dư luận cũng thường nhắc tới Thầy Chiêm, ông Ba La… Nhưng trong số những tên tuổi ấy, rất hiếm người viết sách về lãnh vực mà họ sở đắc. Càng ít hơn nữa, nếu đó là những lãnh vực nằm ngoài, xa cách hẳn thế giới tử vi, tướng mệnh… Thí dụ các lãnh vực như:
            Chính trị, xã hội…; đến mức độ dư luận không ngần ngại gọi họ là học giả, như trường hợp Vũ Tài Lục.
            Lần đầu tiên tôi gặp ông Vũ Tài Lục là khoảng giữa năm 1971, ở Sài Gòn; một kios sách – như một thứ “Tiền trạm” của một thanh niên mà, dân trong nghề làm xuất bản sách quen gọi là Thành-Hiện-Đại.
            “Địa chỉ hoa” này, không chỉ là nơi Thành-Hiện-Đại dùng để tiếp xúc với các nhà xuất bản, những cá nhân có sách mới in, mà còn là chỗ để Thành-Hiện-Đại đề nghị, phân công cho các dịch giả thời đó, dịch những tác phẩm ngoại quốc mà nhà phát hành Hiện Đại của anh Thành muốn có. Quán sách có vị trí khá thuận tiện cho mọi tìm kiếm. Nó không có tên, nhưng nằm ngay ngã tư Công Lý và đường Lê Lợi (gần rạp Cinéma Lê Lợi, nhà hàng Thanh Bạch).
            Tôi không rõ hôm đó, họ Vũ đến tìm, chờ gặp Thành-Hiện-Đại để giao sách hay thu tiền bán sách? Dù chưa từng giao thiệp, nhưng vừa gặp gỡ, chúng tôi đã nhận ra nhau, như thể biết nhau từ trước. Sau một hai câu thăm hỏi xã giao, tác giả “Tướng Mệnh Khảo Luận” hỏi tôi có thể theo ông về nhà ông ở đường Bắc Hải, khu khám Chí Hòa? Thấy tôi có vẻ ngơ ngác, ông nói rõ:
            “Tôi đang muốn tìm một người có tướng mạo, dáng đi có ghi trong sách cổ, mà chưa thấy ở ngoài sách. Giờ tình cờ gặp anh, tôi muốn mời anh về nhà, nói chuyện dễ hơn…”
            Bị khích động vì lời nói của ông, cộng thêm tò mò… tôi nhận lời; bỏ ngang công chờ đợi Thành-Hiện-Đại.
            Tôi nhớ thời gian đó, dường như học giả Vũ Tài Lục chưa lập gia đình. Căn nhà trong một ngõ khá rộng, cuối đường Bắc Hải, nhỏ thôi, nhưng tươm tất, ngăn nắp và nhất là sách… Tôi không biết ông có tất cả bao nhiêu cuốn? Nhưng phải nói là sách chất quanh mấy vách tường. Đa số là sách ngoại quốc và chữ Tàu. (Hình ảnh này, tôi cũng gặp lại trong căn nhà của ông, thành phố Huntington Beach.)
            Họ Vũ chỉ tôi chiếc ghế đối diện với ông ở một khoảng cách vừa đủ cho tôi cảm thấy thoải mái và, ông cũng dễ dàng “quan sát” tôi. Vì không nói thêm điều gì với nhau; nên để giữ cho mình sự bình thản, tôi nhìn từng gáy sách nơi các bức tường. Tôi không biết tình trạng “im lặng vô tuyến” giữa chúng tôi, kéo dài bao lâu? Chỉ nhớ sau đấy, họ Vũ bảo tôi, làm ơn đứng lên; đi lại, một cách tự nhiên trong phòng khách nhỏ đó…
            Sau nhiều lượt đi tới, đi lui, tôi chờ nghe câu nói đại ý… “đủ rồi” của nhà tướng số lừng danh… Nhưng không thấy! Tôi phải tự ý cho phép mình “kết thúc cuộc khảo sát bất đắc dĩ” với tác giả “Nghệ Thuật Coi Tướng” – Và, thấy ông ghi chép gì đó, nơi cuốn sổ tay. Ông cũng nói cho tôi biết, tướng mạo và dáng đi của tôi, theo danh từ chuyên môn, thuộc loại gì đấy! Tôi không hiểu và, cũng không chờ đợi. Điều tôi chờ đợi được nghe nơi ông về việc tôi có hy vọng gì về “tiền tài hay sự nghiệp” trong tương lai không? Như thể đó là phần ông trả công cho tôi đã theo ông về tận nhà riêng, để “chiêm nghiệm!” Nhưng ông thản nhiên, lạnh lùng như không hề có chút bận tâm nào về sự có mặt của tôi.
            Sau lần gặp gỡ “chính thức” vừa kể, đôi lần tôi thoáng thấy ông tới tòa soạn Việt Chiến ở đường Võ Tánh. Tôi biết tờ Việt Chiến do kiến trúc sư Nguyễn Hữu Đống chủ trương. Chỉ không biết là họ Vũ cộng tác hoặc giữ vai trò gì? Tất cả những lần gặp tình cờ kia, tôi đều không cảm thấy thuận tiện dừng xe, thăm hỏi.
            Dù chúng tôi vẫn thường xuyên liên hệ với Thành-Hiện-Đại về sách xuất bản, cũng như vấn đề tiền bạc… Nhưng không một lần thêm, tôi gặp lại ông ở “tiền trạm” Công Lý… Lê Lợi hoặc tại kho sách của Thành-Hiện-Đại. Mãi tới đầu thập niên 80, khi nhà văn Mai Thảo dọn về Orange County từ thành phố Seattle và, sau đó là sự có mặt của nhạc sĩ Phạm Đình Chương đến từ trại đảo đầu năm 1981.

Cá tính “cổ quái” Vũ Tài Lục…
            Thời gian “đôi bạn chân tình” Mai Thảo/Phạm Ðình có mặt ở quận Cam, là thời gian chúng tôi ở căn nhà gần cuối đường Ranchero Way. Cuối tuần họ thường đến chơi… Những lần đó, thỉnh thoảng họ cũng rủ thêm hai người bạn mà, họ thực sự quý mến, thân thiết là Vũ Tài Lục và, Nguyễn Cao Kỳ.
            Chính từ những gặp gỡ thảng hoặc kia mà, tình thân giữa tôi và họ Vũ tăng dần, xóa nhòa phần nào dè dặt (nơi tôi). Cũng từ sự xích gần nhau hơn đó, sau này, những lúc chỉ có T. và tôi, nhà văn Mai Thảo thường kể một số điều về tính khí “cổ quái” của con người “ngoại khổ” Vũ Tài Lục, cho chúng tôi nghe.
            Chẳng hạn, qua tác giả “Căn nhà vùng nước mặn”, chúng tôi được biết bà Tuyết Mai, người bạn đời thuở đó của ông Kỳ, là bà con với ông Lục. Cũng qua nhà văn Mai Thảo, tôi mới biết ông Lục có nhận coi tử vi cho những người biết, tìm đến ông hoặc được ai đó giới thiệu. (Cho đến ngày từ trần, họ Vũ không hề có một dòng chữ quảng cáo hay phổ biến số điện thoại của ông trên báo…)
            Việc nhận coi tử vi của họ Vũ là sự kiện chưa hề xẩy ra trong suốt 20 năm ở Saigon của tác giả “Nghệ thuật coi tướng.”
            Tôi không biết, có phải vì vậy mà, hơn một lần ông Vũ Tài Lục đã hỏi nhà văn Mai Thảo, có biết ông ấy là ai trong cuộc đổi đời này không?
            Dĩ nhiên tác giả “Ðêm Giã Từ Hà Nội” lắc đầu. Họ Lục nói ngay, không chút ngập ngừng, mặc cảm:
            “Tôi hành nghề coi bói, cũng giống như một thằng ăn mày thôi. Nó chẳng khác gì nhau hết!”
            Nhưng, thưa bạn, đó chỉ là một cách nói vì, vẫn theo lời kể của nhà văn Mai Thảo thì:
            Ông Vũ Tài Lục rất… “kỵ” những người khách đến trễ giờ. Ông không cần biết bạn ở tiểu bang khác về hay, ở ngay quận Cam. Mỗi khi có hẹn, trước giờ khoảng vài phút, ông thường vén màn nhìn ra đường. Nếu thấy xe của khách thì, đúng giờ ông sẽ mở cửa mời vào. Ngược lại quá giờ, ông đuổi về; không cần biết lý do…
            Họ Vũ cũng nổi tiếng là người nói thẳng thừng, nói “vỗ mặt” khách mà, không quan tâm tới tự ái, sĩ diện của khách, dù họ là ai! Một khi, qua lá số tử vi, ông thấy đó là người có quá khứ thiếu phẩm chất làm người…
            Nặng hơn, ông từ chối không coi, thẳng thừng đuổi người khách đó, dù họ đi với ai hoặc, do ai giới thiệu…
            Nhà văn Mai Thảo cũng kể, không dưới một bà khách, bực dọc, nằng nặc hỏi lý do bị từ chối, khiến họ Lục đã nói thẳng vào mặt người đó, đại ý “số của bà là số của một con đ…, cần gì phải coi nữa?!?”
            Chính vì tính khí… “cổ quái” của ông mà, mỗi khi cần ông, dù có chút tình thân, chúng tôi luôn đến sớm, trước giờ hẹn ít nhất 10 phút. Tôi cũng không quên dặn dò những người nhờ tôi hẹn với ông họ Vũ, điều quan trọng ấy.
            Dù tính khí ông Vũ Tài Lục có phần “cổ quái” theo cách nói của nhà văn Mai Thảo, hoặc thói quen nói “vỗ mặt” khách của ông… Nhưng tôi tin rất nhiều người đã nhận được từ ông, những hướng dẫn chí tình, cần thiết khi họ tìm đến ông với những khó khăn, bế tắc trong đời thường.
            Tôi không biết trường hợp khác, riêng với gia đình tôi thì từ T., đến cháu Orchid, mỗi khi có một “vấn nạn” lớn không thể tự giải quyết, họ đều tìm đến “Ông Thần” Vũ Tài Lục (chữ chúng tôi dành cho ông).
            Ở tất cả những lần tìm đến “Ông Thần” của gia đình chúng tôi, ông không chỉ hiện ra như một thầy tử vi, tướng số chưa từng nói sai một lần nào mà, ông còn như một nhà “tư vấn ngoại hạng,” về những vấn đề chuyên môn nằm ngoài lá số nữa.
            Ngay khi còn nhỏ tuổi, lại lớn lên ở đất Mỹ, nhưng tôi nhớ, ít nhất hai lần cháu Orchid của chúng tôi, đã phải “cầu cứu” Bác Lục sau những lần xuống tinh thần.

Vũ Tài Lục, một mất đi, khó người thay thế
            Ở lãnh vực sinh hoạt truyền thông, báo chí của con người “ngoại khổ” Vũ Tài Lục, nếu không tình cờ gặp nhà báo Nguyễn Mạnh Cường, tôi không hề biết rằng, họ Vũ còn có một thời gian điều hành nhật báo Lập Trường vào đầu thập niên 1970, trong vai trò chủ nhiệm mà, nhà báo Nguyễn Mạnh Cường được mời vào vị trí tổng thư ký.(3)
            Tuy nhiên, ấn tượng sâu đậm nhất mà họ Vũ để lại trong tôi, ngay tự những năm tháng quê nhà, là kiến thức, tầm hiểu biết sâu, rộng của ông, ở nhiều lãnh vực khác nhau; nhất là lãnh vực chính trị. Tới hôm nay, dù đã trải qua mấy chục năm, mỗi khi đọc lại những trang sách có tên “Huyền Thoại Trương Lương,” mở vào tác phẩm “Thủ Ðoạn Chính Trị” của Vũ Tài Lục, tôi vẫn còn khâm phục về những nhận định, phân tích bất ngờ, khác hẳn những ghi nhận của những học giả khác về nhân vật Trương Lương, một trong “Tam kiệt” xây dựng cơ đồ nhà Hán, trong cuộc tranh hùng Hán-Sở của lịch sử Trung Quốc nhiều nghìn năm trước.
            Dưới dây là những dòng chữ của tác giả cuốn sách nổi tiếng “Thủ Ðoạn Chính Trị” mà thời gian hoàn tất được ghi là “20 tháng 7, 1968”:
            “Cách đây hai ngàn một trăm tám mươi năm, vua nhà Tần là Doanh Chính thống nhất Trung Quốc, tự hiệu là Tần Thủy Hoàng, ngụ ý muốn bảo cho người đời hay rằng dòng họ nhà ông sẽ đời đời cai trị Trung Quốc. Nhưng chưa trọn mười lăm năm và truyền nhau chưa hết hai đời thì nhà Tần đã bị lật đổ. Huyền thoại Trương Lương ra đời trong khung cảnh lịch sử này. Trương Lương là con cháu dòng dõi của nước Hàn (một trong sáu nước bị nhà Tần thôn tính.) Cha ông của Trương Lương đã năm đời làm tể tướng nước Hàn. Khi Hàn bị Tần diệt, Trương Lương liền đem hết sản nghiệp của mình đi tìm một thích khách để ám sát Tần Vương. Ðến nước Triều Tiên làm Lương Hải Quân, Trương Lương gặp một dũng sĩ với sức muôn người không địch, có thể múa đôi chùy nặng chừng năm trăm cân nhẹ như người thường cầm hai chiếc quạt. Trương Lương cùng người dũng sĩ liền về Bác Lãng Sa, đón Tần Thủy Hoàng đi săn ở đây mà giết. Kết quả quả chùy ngàn cân đã đập nát chiếc xe giá không có Tần Thủy Hoàng ngồi trong. Chết hụt, Tần Thủy Hoàng ra lệnh tầm nã Trương Lương. Khắp nơi mật vụ bủa lưới. Việc làm kinh thiên động địa kia khiến cho nhân dân khắp nơi tán tụng. Trương Lương còn trẻ lại làm việc động trời nên chỉ trong ít ngày Trương Lương đã trở thành một vị thiếu niên anh hùng, người của thần thoại trong đầu óc nhân dân. Nhưng trước mắt nhà chính trị, trước mắt những con người lão luyện giang hồ thì công việc ném chùy ở Bác Lãng Sa của Trương Lương chẳng qua chỉ là một hành vi vung kiếm vươn người lên mà quyết đấu của kẻ thất phu, chỉ là một thứ anh hùng chủ nghĩa cá nhân thoát ly quần chúng không có tổ chức. Với hành vi đó thật khó lòng mà lật đổ cả một bộ máy bạo ngược của nhà Tần, khó lòng đương nổi với cuộc cách mạng có trăm đầu ngàn mối. Tuy nhiên, họ cũng nhận là cái phẩm chất thanh niên của Trương Lương thật là đáng quý. Tấm lòng yêu chánh nghĩa nhiệt thành, lương tâm sáng rọi muốn cứu đời, cứu người là những chất liệu nếu đem rèn đúc với sự hiểu biết nữa thì phải thành thứ vũ khí đạp đổ bạo Tần…”
            Từ kết luận “Tấm lòng yêu chánh nghĩa nhiệt thành, lương tâm sáng rọi muốn cứu đời, cứu người (của Trương Lương) là những chất liệu nếu đem rèn đúc với sự hiểu biết nữa thì phải thành thứ vũ khí đạp đổ bạo Tần”, tác giả đưa người đọc tới gặp một nhân vật tên là Hoàng Thạch Công – Người thử thách rồi “rèn luyện” Trương Lương thành một quân sư tài ba để giúp Lưu Bang sau này! Nhưng, đó lại là một nhân vật theo họ Vũ, vốn không có thật! Vậy, những gì Trương Lương học được là từ đâu? Bởi ai?
            Tác giả “Thủ Ðoạn Chính Trị” giải mã bí ẩn này bằng một nhận định mới mẻ, độc đáo:
            “Hoàng Thạch Công hoàn toàn là một huyền thoại, Hoàng Thạch Công chính là bản thân lịch sử hiển hiện thành người dã sử để tô điểm thêm cho cái tài an bang tế thế tột bậc của Trương Lương. Cuộc đời và sự nghiệp của Trương phải có Hoàng Thạch Công thì mới thành tựu được. Mười ba năm sau vụ ám sát Tần Thủy Hoàng là mười ba năm Trương Lương theo học thầy Hoàng Thạch Công, nhưng ông thầy đó lại không có thực. Vậy thì lời dạy trong mười ba năm ấy đúng ra là lời dạy của lịch sử, của thực tiễn đấu tranh…”
            Họ Vũ nhấn mạnh từ một thanh niên với lý tưởng, lãng mạn, Trương Lương được “lịch sử” dạy rằng:
            “Lề lối tác loạn vô chính phủ và khủng bố không đủ khả năng để tiêu diệt guồng máy thống trị bạo Tần (…) Lúc Trương Lương cúi xuống nhặt dép cho ông lão rồi quỳ xuống xỏ dép vào chân người lạ, chính là lúc mà Trương Lương đã từ bỏ hẳn cái học vô ích của mình từ trước đến nay, dứt khoát hẳn với cái thân phận danh gia tử đệ ra mặt đứng vào cái thế chính trị mới để lao vào cuộc đấu tranh thời đại của thân phận áo vải làm hoàng đế sau này là Lưu Bang…”
            Cảnh cúi xuống xỏ dép cho Hoàng Thạch Công của Trương Lương, khiến họ Vũ Tài Lục trực nhớ: “Cảnh ấy cũng tựa như cảnh Trifimo trong vở kịch Ciseraie (Tchekov) đánh chiếc xe troika dời bỏ khu rừng cũ để vào cuộc đời mới, cuộc đời mới của Trương Lương là trở nên một tay chính trị nhà nghề, thoát bỏ hẳn cái xác chính trị dũng sĩ trước kia…” Cho thấy sở học và đọc sâu, rộng của họ Vũ.
            Tôi đồ rằng, tác giả “Thủ Ðoạn Chính Trị” nghĩ trích dẫn chuyện xưa, chưa đủ giúp người đọc thấy được đâu là bản chất thực của chính trị (?) Nên vẫn ngay ở phần dẫn nhập, họ Vũ đã đề cập tới chuyện ngày nay, mới tinh rong, còn nóng hổi(4) là chuyện Tổng Thống J. F. Kennedy bị ám sát ở thành phố Dallas – Không lâu sau, là cái chết tức tưởi của người em ruột: Thượng Nghị Sĩ Robert Kennedy. Tác giả cũng đề cập tới cái chết của lãnh tụ kháng chiến Ché Guevara, khiến “Cả thế giới vô sản Nam Mỹ xót xa vị anh hùng đáng kính của họ…”
            Nhưng, sự thật, theo tác giả “Thủ Ðoạn Chính Trị” thì “…trong bóng tối đã hiện ra một tập hồ sơ trong đó có ghi việc cần thiết của Ðảng là phải làm sao cho phe tư bản thủ tiêu Ché. Lịch sử xưa nay có cả trăm ngàn câu chuyện tương tự.”
            Rồi, họ Vũ kết luận:
            “Trên lý tưởng thì chính trị hiện ra với những bộ mặt thiện ý, quang minh và chân lý. Còn thực tế chính trị lại trái hẳn: thống trị thay cho thiện ý, sách lược thay cho quang minh và quyền lực thay chân lý. Rõ rệt đến nỗi người ta có thể nói rằng thống trị, sách lược và quyền lực là mặt phải, còn thiện ý, quang minh và chân lý là mặt trái mà thôi.”
            …
            Vì giới hạn của trang báo, tôi chỉ xin trưng dẫn vài ghi nhận cho thấy tính uyên bác của học giả Vũ Tài Lục, ở lãnh vực chính trị, mà có thể nhiều người không để ý. Riêng những lãnh vực còn lại như Tử Vi hay Tướng Mệnh học, với tôi, vốn là sở học mà, hầu như không ai thấy cần phải đặt câu hỏi về công trình thâm-cứu của ông.
            Do đấy, tôi trộm nghĩ, sự ra đi vĩnh viễn của ông, khó ai có thể thay thế.


DU TỬ LÊ & D.T. TÔN
Tháng 11/2016
___________________________________________________
(1) Tên tất cả những tác phẩm của học giả Vũ Tài Lục, được nhắc tới trong bài viết này, là tài liệu hiện có trên trang mạng Wikipedia-Mở.
(2) Học giả Vũ Tài Lục mất ngày 18 tháng 10 năm 2016, tại nhà riêng ở thành phố Huntington Beach, miền nam California, hưởng thọ 87 tuổi.
(3) Nhà báo Nguyễn Mạnh Cường hiện cư ngụ tại quận hạt Orange County, miền Nam California. Ông là khuôn mặt quen thuộc trong nhiều sinh hoạt cộng đồng ở địa phương này. Nhật báo Lập Trường mà ông Cường cộng tác, không liên quan gì tới tuần báo Lập Trường XB mấy năm sau, ở Huế. (Số đầu tiên phát hành tháng 3.1964, nhà báo Vương Hồng Anh cho biết.)
(4) Lưu ý: Thời gian Vũ Tài Lục hoàn tất cuốn “Thủ Ðoạn Chính Trị” cũng là lúc bi kịch dòng họ Kennedy mới xẩy ra.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/ong-vu-tai-luc-mot-mat-di-kho-nguoi-thay/
 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #59 vào: 19/09/2017, 15:49:19 »
Ladurée, sức quyến rũ của bánh macaron Pháp

Những chiếc bánh macaron rực rỡ mầu sắc là bí quyết nổi tiếng của Maison Ladurée. Còn những phòng trà khẳng định phong cách và bản sắc của nhà sản xuất bánh ra đời năm 1862.

Tiệm bánh, phòng trà Ladurée trên đại lộ Champs-Elysées

MỞ CỬA vào năm 1871, Ladurée Paris Royale (số nhà 16) là tiệm bánh và phòng trà đầu tiên của nghệ nhân. Nổi bật với mầu sơn ngọc bên ngoài, phòng trà vẫn giữ nguyên nghệ thuật sống tinh tế từ thế kỷ XIX, từ những chiếc ghế nhung, đồ nội thất nhập ngoại đến những vật trang trí bằng pha lê được chế tác tinh xảo và những bộ đĩa, cốc chén được vẽ hoa rực rỡ.
            Paris được quy hoạch lại hoàn toàn, chỉnh trang hơn và hiện đại hơn, từ 1852 đến 1870, nhờ hoàng đế Napoléon III và tỉnh trưởng Paris Georges Eugène Haussmann. Chỉ trong hai thập niên của Đế chế thứ hai, nước Pháp nói chung và Paris nói riêng chuyển mình nhanh hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong lịch sử Pháp, nhờ mở cửa cho công nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng và bắt đầu quá trình khám phá, khai thác thuộc địa.
            Giới quý tộc Paris có nhu cầu được ra ngoài vui chơi giải trí, đặc biệt là các quý bà thường không có nơi để nhóm họp, theo giải thích của bà Safia Thomass, giám đốc truyền thông của Ladurée, trong một phóng sự của đài France 2:

             “Những phụ nữ này rất rảnh rỗi vì họ không phải làm việc. Họ có rất nhiều thời gian và thường tiếp đón bạn bè tại nhà. Bà Jeanne Souchard, vợ của Louis-Ernest Ladurée, đã nảy ra ý tưởng mở một trong những phòng trà đầu tiên tại Paris.
            Phòng trà này hiện vẫn giữ nguyên vẹn phong cách từ khi mới mở vì Ladurée có một lượng khách quen thường đến thưởng thức bánh và chiêm ngưỡng cách bài trí và nội thất. Vì vậy, không được thay đổi điều này vì đây chính là linh hồn và là lịch sử của Nhà Ladurée
”.



Bánh macaron của Maison Ladurée, Champs-Elysées

Macaron Ladurée, Louis Vuitton của bánh ngọt
            Tập đoàn Holder (sáng lập thương hiệu bánh mỳ-bánh ngọt Paul) mua lại Nhà Ladurée năm 1993 và quyết định biến những chiếc macaron tròn xinh xắn thành sản phẩm hạng sang với chiến lược marketing được cân nhắc kỹ. Tháng 09/1997, Ladurée mở một phòng trà theo đúng phong cách cổ với kiến trúc trang nhã trên đại lộ Champs-Elysées hoa lệ.
            Du khách từ khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là những cô gái trẻ Nhật Bản, luôn muốn được nhâm nhi tách trà với chiếc bánh “kawaii” (macaron) vị hoa hồng và sống một khoảnh khắc quyền quý, thơ mộng như trong điện Petit Trianon (Versailles) trong bộ phim Marie-Antoinette (của đạo diễn Sofia Coppola, 2006).
            Nhưng vào thời Marie-Antoinette, bánh macaron còn chưa ra đời. Sau này, macaron chỉ là một loại bánh quy khô. Chính Pierre Desfontaines, em họ của Louis-Ernest Ladurée, là người đưa ra ý tưởng thay đổi bánh macaron vào khoảng năm 1930. Bà Safia Thomass kể tiếp:

             “Ông nảy ra ý tưởng ghép hai đĩa bánh trứng meringue hạnh nhân, kẹp ở giữa một lớp ganache mát ngọt. Từ đó, loại bánh macaron Paris được hình thành và xuất phát từ Nhà Ladurée. Đây là điều không thể chối cãi được!

            Vào thời kỳ đó, macaron chỉ có những hương vị cơ bản như hạnh nhân, sô cô la hoặc cà phê. Chỉ từ năm 1993, khi được tập đoàn Holder mua lại, bánh macaron Ladurée có thêm nhiều hương vị mới, mà gần đây là vị trà xanh để phục vụ khách hàng người Nhật.
            Ngay cả tổng giám đốc Maison Ladurée, David Holder, khi trả lời RFI, cũng tỏ ra ngạc nhiên khi thấy chiếc bánh macaron được cho là rất đặc trưng Paris, chỉ trong vòng vài năm bỗng xuất hiện trong các tiệm bánh ở Pháp hay nhiều nơi trên thế giới.

             “Hiếm thấy một tiệm bánh nào trên thế giới mà họ không làm bánh macaron. Chiếc bánh trở thành sản phẩm mang phong cách Pháp, như bánh croissant, bánh ngọt Saint-Honoré, bánh religieuse hay bánh éclair.
            Chúng tôi có may mắn làm một nghề mà sức sáng tạo không bị giới hạn. Hương vị có thể thay đổi theo mùa, theo cảm hứng đến vô tận. Mỗi ngày có thể tạo ra được điều gì đó mới mẻ. Trong thế giới làm bánh ngọt, macaron là sản phẩm độc nhất
”.



Bánh macaron

            Trong vòng 20 năm (đến năm 2014), doanh thu của Maison Ladurée tăng từ 2 triệu lên đến 126 triệu euro với hơn 17 triệu bánh được tiêu thụ hàng năm. Mỗi chiếc bánh bán ra được Ladurée chăm sóc như một món trang sức quý. Từng chiếc bánh xốp giòn được đặt cẩn thận trên lớp giấy mỏng trong những chiếc hộp xinh như hộp nữ trang, thắt thêm một chiếc ruy-băng và cuối cùng được đặt trong những chiếc túi xách mầu xanh ngọc như mầu sơn cửa hàng.
            Tại xưởng sản xuất ở Morangis (ngoại ô Paris), nơi cung cấp hơn 32.000 chiếc bánh mỗi ngày cho 7 tiệm bánh, tất cả đều được làm bằng tay, trừ giai đoạn bắt bột thành các hình tròn được dùng máy. Một trong các bí quyết tạo nên những chiếc bánh macaron là tỉ lệ đường xay và bột hạnh nhân, cũng như nhiệt độ trong phòng lạnh mà Nhà Ladurée luôn giữ kín, theo giải thích của ông Bertrand, giám đốc sản xuất:

             “Những chiếc macaron sẽ được giữ trong phòng lạnh suốt một đêm. Nhiệt độ được kiểm tra cẩn thận để vỏ bánh mềm hơn và để nhân bánh có thể ngấm vào hai đĩa bánh, vì khi nướng xong, đĩa bánh rất cứng. Điều kỳ diệu sẽ xảy ra trong đêm giữa nhân bánh và bột bánh. Và đây cũng là một bí mật nhỏ của Ladurée”.

            Chị Hà Thu Hằng, một người thợ làm bánh ngọt gốc Việt ở ngoại ô Paris, chia sẻ kinh nghiệm làm macaron:

             “Ở bánh macaron, khó nhất là làm phần vỏ. Vỏ bánh đạt chuẩn phải lên được chân bánh cao. Phần vỏ bánh, ngoài phải giòn và phần phía trong phải xốp, tức là phải có nhiều lỗ khí ở trong, nên khi kẹp nhân vào thì độ ẩm của nhân mới ngấm được vào vỏ bánh, lúc ăn mới tạo được độ mềm của bánh.
            Phần vỏ, khó nhất còn là nhiệt độ thời tiết và chỉnh lò nướng cũng rất khó vì nhiệt độ nướng thường thấp và thời gian nướng ngắn. Chỉ cần quá lửa một chút là bánh sẽ nứt. Hoặc khi mình trộn bột hơi quá tay một tí thì bột chỉ cần bị lỏng một chút thôi là bánh sẽ phẳng và không lên chân được
”.


Bánh macaron

Macaron, món quà nhỏ sau tiệc cưới
            Macaron là một món quà tinh tế, phù hợp với mọi người vào dịp lễ Noel và Năm Mới. Chị Hà Thu Hằng cho biết mốt bây giờ là ở các lễ cưới, họ cũng tạo tháp macaron rất cao, đẹp, nhiều mầu phù hợp với tông mầu của đám cưới. Khách mời thường được tặng thêm một túi bánh macaron nhỏ làm quà mang về sau buổi lễ.

             “Bánh macaron khi ăn được cho là ngon, thường là khi ăn, cắn trong miệng, phía ngoài vỏ bánh người ta thấy giòn, còn phần phía trong của bánh lại mềm và xốp. Và lúc ăn trong miệng, bánh tan ở trong miệng. Phần nhân bánh phải có độ ẩm để ngấm ra phần vỏ, làm cho phần bánh ở phía trong rất mềm, ăn rất xốp và tan.
            Về phần gu, họ hay kết hợp giữa sô cô la và trái cây có vị hơi chua chua. Vì phần vỏ bánh ngọt, khi kết hợp với trái cây chua thì sẽ làm giảm độ ngọt của phần vỏ nên bánh sẽ thanh hơn. Hoặc có loại bánh được kẹp nhân mứt trái cây cũng là giảm độ ngọt của vỏ bánh.
            Có một số loại bánh mang tính chất đậm, tức là chỉ có sô cô la thôi. Thường họ làm nhân giữa sô cô la và kem tươi đánh lên để cho phần nhân thật sự mang đậm chất sô cô la, thì lúc đó họ chọn loại sô cô la có tỉ lệ ca cao cao, vị đắng của sô cô la cũng làm giảm bớt độ ngọt của bánh nên khi ăn sẽ thấy hài hòa giữa nhân và vỏ hơn. Với macaron, có rất nhiều vị họ có thể kết hợp tất cả mọi thứ với nhau
”.

            Nhâm nhi một chiếc bánh macaron với tách trà, một ly cà phê hay một tách sô cô la nóng vào lúc 3-4 giờ chiều trong một phòng trà là điều nên thử tại kinh đô Ánh Sáng để một lần được “sống như người Paris”.


THU HẰNG
Tháng 6/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170630-laduree-suc-quyen-ru-cua-banh-macaron-phap