Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 4727 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #60 vào: 22/09/2017, 00:14:54 »
Nữ văn sỹ Nguyễn Thị Thụy Vũ

Cụ bà tuổi 80, tóc bạc trắng, tai đã lãng, nhưng lối nói chuyện vẫn sắc sảo với chất giọng rặt Nam bộ, cứ ngơ ngác hỏi đi hỏi lại cho rõ tên mấy độc giả mê văn thời cũ trước khi đề vài chữ vào bộ sách làm kỷ niệm. Trước 1975, cụ bà đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật: Nguyễn Thị Băng Lĩnh, là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất miền Nam (bốn người khác: Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương).

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Gái bar và những người mẹ cao quý
            Tháng 3/2017, công ty Phương Nam Book liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà văn cho in lại 10 cuốn sách của nữ văn sĩ miền Nam một thời, gồm ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm.
            Cũng lần đầu tiên sau 42 năm, toàn bộ tác phẩm của nhà văn miền Nam này được in lại đầy đủ. Khác với các tác giả miền Nam trước đây, mỗi lần xuất hiện trở lại, báo chí thường dè dặt, nhưng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, báo chí chính thống trong nước truyền thông nhiệt tình, có cả những bài báo muốn lái tác phẩm của bà về hướng “đấu tranh giai cấp”.
            Buổi ra mắt bộ 10 tác phẩm này tại đường sách Nguyễn Văn Bình (chiều 20/3) là một sự kiện đặc biệt.
            Cụ bà Nguyễn Thị Thụy Vũ giờ đây cũng không ưa nói nhiều về chuyện viết lách. Bởi đơn giản, nhìn lại cuộc đời văn chương của mình cùng những bể dâu, bà rốt cuộc cũng chỉ coi chuyện viết là “cày chữ nuôi con”.


10 bìa sách của Nguyễn Thị Thụy Vũ trở lại với diện mạo trang nhã, tươi mới

             Sinh năm 1937 ở Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả. Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến.
            Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, rồi không chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp, khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ. Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học (về sau mới biết, anh ta thuộc giới “ma cô”) giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ.

            “Mấy cô gái cặp kè Mỹ để nuôi thân giữa Sài Gòn lúc đó tôi dạy thường ít học. Có khi một chữ “Hello” dạy một tuần không thuộc. Tui mới nhận ra, họ đi học vì cần người tâm sự là chính.
            “Có cô kia đã có năm đứa con với người chồng Việt, chiến tranh chồng chết nên phải đi làm nghề này kiếm sống. Cổ gửi con về bên ngoại, hằng tháng gửi tiền về nuôi. Tụi nhỏ ăn học và lớn lên, có đứa học tới đại học, nhưng không hề biết mẹ nó làm nghề đó.
            “Theo con mắt của tui, đó là một người mẹ cao quý. Cũng có cô đến mùa đông mặc một cái áo len cũ rách nhàu nhĩ. Tui hỏi thăm sao có tiền không chịu chưng diện, cô ấy nói chiếc áo len rách này là kỷ vật của mối tình đầu ở quê nhà”
, nhà văn Thụy Vũ kể.

            Thực tế trần trụi, khốc liệt và cũng thấm đẫm buồn đau về đời sống những cô gái làm ở các snack bar, dan díu với lính Mỹ đã đi vào những trang viết của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gây chấn động dư luận vào khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Với các tập: Mèo đêm, Lao vào lửa, Ngọn pháo bông… Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên văn đàn miền Nam.


Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ trong buổi ra mắt sách hôm 20/03

“Như gái có chồng còn đi ăn sương”
            Về sau, Võ Phiến viết trong Văn học niềm Nam tổng quan nói về sách của Thụy Vũ là dạng sách mà “các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết”.

            “Mình tưởng tượng nhưng cũng từ trên thực tế. Truyện của tui, như Khung rêu, có thiệt trên 70%. Nên viết xong tui với ông già lục đục với nhau vài năm, ổng nghĩ ổng là nhân vật địa chủ trong truyện.
            “Truyện viết về gái điếm, gái bar tui viết xong có anh lính miền Nam tìm đến nhà xô cửa đi vào ôm tui vì tưởng tui là gái bar thì mới viết được như vậy. Cũng có anh cầm lựu đạn qua nói tui viết về ảnh và kêu tui phải lên tiếng xin lỗi”
, bà nhớ lại.

            Mộ tài, chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên và có đến bốn mặt con, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình viết văn nuôi con.

            Bà kể: “Hằng ngày tui phải chạy đến các tòa soạn báo viết truyện feuilleton (truyện dài kỳ). Đến báo này viết ba trang rồi lại tất tả chạy qua báo khác, cứ như vậy. Trăm hay không bằng tay quen. Đẻ con thì tự cho mình được nghỉ ba ngày để vào bệnh viện. Đẻ xong lại giao con chạy đi viết.
            “Có chủ báo trả mỗi feuilleton ra là 20.000 đồng (tiền VNCH), nhưng có ông chủ thì kì kèo bớt một thêm hai. Đó là cái nhục. Mình đi làm thuê cho người ta mà người ta coi đồng tiền to quá”
.

            Bà coi Võ Phiến là người thầy, đàn anh nâng đỡ trong nghề văn. Những truyện đầu tiên bà gửi đến tạp chí Bách Khoa và được ông khuyến khích viết tiếp.

            “Việc viết feuilleton như là gái có chồng rồi vẫn đi ăn sương. Tôi coi tờ Bách Khoa chỗ ông Phiến khác nào ông chồng già hiền lành nghiêm túc lặng lẽ luôn chờ tui về. Viết cho Bách Khoa của ông Phiến, tui có cảm giác mình được làm văn chương”, bà Thụy Vũ kể lại.

            Hỏi, các nhà văn nữ thời đó có chơi với nhau không? Nguyễn Thị Thụy Vũ: “Không, tụi tui mỗi người một thế giới; ít gặp nhau đàm đạo văn chương như mấy ông. Tụi tui chỉ thăm nhau lúc đẻ.
            “Ông Thanh Tâm Tuyền nói rằng, phụ nữ không nên léo hánh chốn văn đàn, cần phải đuổi mấy bà vô bếp nấu ăn. Tui không tán thành. Nhưng mà thiệt tình tui lúc nào cũng thấy thua kém đàn ông về mặt sâu sắc. Lúc nào tui cũng nhượng bộ đàn ông chút xíu”
.

            “Vậy bà có quan tâm đến nữ quyền không, ở thời điểm đó?” một người trẻ hỏi. Đáp: “Tui ít biết về cái đó. Nhưng nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên”.



“Giải phóng”
            Cũng như nhiều người, bà quen dùng từ “giải phóng” để nói đến mốc sự kiện chính trị 30/4/1975.

            “Cuộc sống sau “giải phóng” vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.
            “Xe chạy tuyến Thủ Đức – Sài Gòn, từ sáng đến tối mịch mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ”
, bà kể.

            Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu… cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau “giải phóng”.

            Bà kể: “Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.
            “Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.
            “Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…”


            Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.
            Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.



Đôi nét về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
            Từ khi rời Vĩnh Long lên Sài Gòn cho tới 30/4/1975, Thụy Vũ đã viết được 10 tác phẩm, trong đó có 7 truyện dài và 3 tập truyện ngắn.
            – 7 truyện dài gồm: Ngọn Pháo Bông, Thú Hoang, Khung Rêu (đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm, Cho Trận Gió Kinh Thiên.
            – 3 tập truyện ngắn gồm: 1. Mèo Đêm (gồm 6 truyện: Một Buổi Chiều, Đợi Chuyến Đi Xa, Mèo Đêm, Nắng Chiều Vàng, Bóng Mát Trên ĐườngMiền Ngoại Ô Tình Lẻ); 2. Lao Vào Lửa (gồm 3 truyện: Chiếc Giường, Lao Vào Lửa, Đêm Nổi Lửa – Truyện Chiếc GiườngLao Vào Lửa lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn. Còn truyện Đêm Nổi Lửa lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó thường gọi là Nhà Thương Bạc Hà); 3. Chiều Mênh Mông (gồm 6 truyện: Chiều Mênh Mông, Tiếng Hát, Lìa Sông, Cây Độc Không Trái, Trôi SôngĐêm Tối Bao La).
            Chúng ta thử điểm qua các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã xuất bản.

            Trước hết là 7 truyện dài của nhà văn:
            1. Thú Hoang: Mô tả thế giới nữ sinh trong một trường công lập tại tỉnh nhỏ. Ba nhân vật nữ chính, cô thứ ba bị tên nam sinh trường khác cưỡng dâm. Cô thứ hai dan díu với tên nam sinh sở khanh, có thai và phải đi phá thai. Còn cô thứ nhất xưng tôi, vì chán không khí tù túng nơi tỉnh lỵ cố hương nên bỏ nhà lên Sài Gòn với hy vọng có cuộc đời mới. Nhưng trên chuyến xe đò, cô gặp một tên nam sinh sở khanh và cảm thấy mềm lòng trước sự ve vãn của hắn. Tới đây tác giả chấm dứt câu chuyện, không ai biết sự đam mê sẽ đưa cô tới đâu.
            2. Ngọn Pháo Bông: Mô tả tâm trạng của một cô gái buôn hương bán phấn về chiều nhưng vẫn còn hấp dẫn đối với mấy anh lính Mỹ trẻ trung. Cô kiếm ra tiền song lại thích bọn trai trong nước và bị chúng bòn rút, kiếm tiền của cô. Cuối cùng, cô bị đâm chết trong căn apartment mà nhà chức trách không sao tìm ra thủ phạm.
            3. Như Thiên Đường Lạnh: Mô tả đời sống của cặp vợ chồng định cư trên cù lao sông Cổ Chiên gần chợ Vĩnh Long. Chồng là thầy giáo tiểu học, không hẳn là người ham thú vui tửu sắc nhưng chán cảnh sống vô vị ngày nào cũng lặp đi lặp lại không hề thay đổi. Vợ là người đàn bà nóng nảy, hỗn hào, tính hay ghen tuông nhưng rất mực đảm đang và một lòng một dạ thương yêu chồng. Người chồng chán sống, chán sự ngưng đọng ở nơi nửa quê nửa tỉnh song vì tinh thần yếu đuối, không có tài năng nên cuối cùng vẫn giữ nghề gõ đầu trẻ với sự uể oải không có niềm vui đó.
            4. Nhang Tàn Thắp Khuya: Đây là câu chuyện về một người vợ mực thước, gánh vác giang sơn nhà chồng mà chồng là một “đại gia” thuộc hạng giàu có. Bất ngờ, một người bạn của chồng hiện diện. Y hiền lành, ít nói, tính tình thụ động, trái hẳn sự vững chắc, mạnh mẽ của chồng. Người vợ vốn rất bao dung và hay mềm lòng đối với kẻ yếu đuối. Nàng không ngờ từ sự thông cảm của mình, dần dần làm nàng lún sâu vào tình yêu. Người bạn của chồng và nàng đều thầm hiểu rằng họ đã yêu nhau, người bạn hăm hở tiến tới, còn người vợ vì lễ giáo nên chỉ đau khổ trốn vào bổn phận vợ hiền. Song song với tình yêu chồng, người vợ có một niềm bí mật ngàn lần lộng lẫy nàng vẫn cất giấu trong kho tàng kỷ niệm của riêng mình.
            5. Chiều Xuống Êm Đềm: Truyện xảy ra vào thập niên cuối của thế kỷ 19. Cặp vợ chồng già trưởng giả ở làng Đạo Thạnh tỉnh Mỹ Tho, sống cô đơn, nương tựa vào nhau. Ngày xa xưa, khi còn nhỏ tuổi, người chồng đã từng chứng kiến người cô ruột của mình hãy còn là một xử nữ, trong chuyến hải trình từ Huế vào Nam kỳ, đi thuyền, gặp sóng to gió lớn, chủ thuyền và bọn hành khách mê tín đã nhẫn tâm liệng người cô ấy xuống biển cho Long Vương làm vợ bé để cầu biển lặng sóng êm. Khi cậu bé lớn lên, cậu cưới một thiếu nữ thuộc họ hàng thân thích của Tả quân Lê Văn Duyệt.
            Nhưng sau khi Tả quân qua đời, Lê Văn Khôi, con nuôi của Tả quân, làm loạn nên bị triều đình tiêu diệt và cả họ hàng của Tả quân bị liên lụy, bị xử chém theo án tru di tam tộc. Người vợ họ Lê dùng bột tỳ sương tự vận để khỏi bị lôi ra pháp trường xử trảm. Thời gian trôi qua, ít lâu sau người chồng tục huyền với một thiếu nữ khác. Dù được người vợ sau yêu thương và tận tụy săn sóc, nhưng hai vết thương lòng – cái chết của người cô ruột trên thuyền và người vợ cũ tự vận – không thể nào tàn phai trong tâm trí người chồng khốn khổ đó.
            Người vợ sau chỉ sinh được hai cô con gái. Cả hai đều xinh đẹp, hiếu hạnh và lấy chồng có địa vị cao sang trong xã hội, làm vẻ vang cho cha mẹ. Rồi các cô lần lượt theo chồng. Dưới mái nhà âm u, cổ kính chỉ còn đôi vợ chồng già. Đây là lúc lão ông sống với dĩ vãng đau thương, còn lão bà thì lúc nào cũng lo sợ cái chết sẽ cướp đi một trong hai vợ chồng, người ở lại sẽ phải chịu cảnh lẻ loi trong buổi hoàng hôn của cuộc đời…
            6. Cho Trận Gió Kinh Thiên: Đây là một xã hội thu nhỏ của xóm lao động ở gần chợ Đũi và bót cảnh sát Quận 3, cùng bên với Tòa Đại sứ Miên trước năm 1975 (nay là trụ sở UBND Quận 3). Ở đấy có đình Phú Thạnh. Khu phía sau đình là xóm có nhà chứa điếm, có quán nhậu, có sòng bài, có chỗ hút á phiện… Trong khung cảnh bệ rạc “tứ đổ tường” ấy, chỉ trừ hai nhân vật chính có ăn học là đôi tình nhân Đồng và Nguyệt, còn thì toàn là thứ đá cá lăn dưa, chằng ăn trăn quấn. Gặp thời buổi lính Mỹ đổ qua Việt Nam tham chiến, đàn bà con gái trong khu đua nhau lấy Mỹ, ngoại tình, bài bạc…
            Thậm chí, một bà mẹ trong căn gác xép, ngồi niệm Phật thì cô con gái lợi dụng đêm tối, chỗ khuất cột đèn, đem tình nhân về hì hục làm tình ở ngoài bao lơn khiến bà than trời như bọng: “Mèn ơi, mỗi khi mình mở miệng niệm Phật thì ở ngoải tụi nó làm đùng đùng như cù dậy”. Lại có chuyện đôi vợ chồng già, chỉ còn sống chung với nhau vì nghĩa, hết còn vì tình. Ông chồng đau ốm dây dưa làm phiền bà vợ trong khi bà rất mê bài bạc. Lúc ông hấp hối, đứa cháu đến sòng tứ sắc báo tin, bà nhứt định đánh cho tới “đứt chến” mới về nhà lo ma chay. Bà già này có đứa em gái vừa câm vừa điếc, vậy mà không hiểu sao cũng có tên đàn ông nào đó “gieo giống” khiến y thị có thai, lần lượt đẻ hai đứa con cho chị mình nuôi. Đến khi y thị lăn đùng ra chết, bà già mê bài bạc vẫn tiếp tục đánh tứ sắc trong khi xác đứa em gái còn nằm trên gác chưa tẩn liệm…
            7. Khung Rêu: Truyện này được Giải thưởng Văn học toàn quốc năm 1971, lấy thời điểm là khoảng năm 1945, từ thời Pháp thuộc chuyển sang thời kỳ “cách mạng” của Việt minh. Gia đình ông Phủ – một vị quan lại quyền cao chức trọng dưới thời Pháp thuộc đã về hưu (không nói rõ ông Phủ tên gì) – rất nhiều ruộng đất và quyền lực đối với tá điền, nay đã khánh kiệt do tình thế nhiễu nhương, không thu được lúa ruộng nhưng vẫn giữ nếp sống phong kiến đầy rẫy bê bối của một gia đình giàu có, quan lại. Ông Phủ đã lớn tuổi, cưỡng dâm cô người hầu mơn mởn tên Ngà, khiến cô này có thai. Bà Phủ tức giận, dọn ra ở riêng và sống như người tu hành, không thèm nhìn mặt ông Phủ nữa.
            Rồi Canh, gã trưởng nam ngỗ nghịch, chỉ muốn cha mình sớm chia gia tài cho mình để được ăn chơi phung phí. Rồi Thụ, người thứ nam tương đối có cá tính rõ rệt, rất hưởng ứng phong trào “cách mạng”, vào chiến khu theo Việt minh nhưng chẳng làm nên trò trống gì. Rồi Tịnh, cô cháu gái gọi ông Phủ bằng cậu, yêu Hoàng – chàng nam sinh ở trọ ăn cơm tháng có tài chơi đàn. Hai người yêu nhau tha thiết nhưng bị ông Phủ cấm đoán, họ bỏ nhà, trốn đi xây dựng tổ ấm được ít lâu, sau đó vì nghèo túng, không biết làm gì để sống nên lại phải trở về.
            Ông Phủ đuổi Hoàng không cho ở nữa. Tịnh nhớ người yêu, phát điên rồi chết trong Dưỡng trí viện Biên Hòa… câu chuyện cứ thế tiếp diễn. Cuối cùng, ông Phủ mất về bệnh đau tim. Rồi bà Phủ cũng mất, cái “khung rêu” đó mục nát, ly tán, những người còn lại sống chẳng ra sao…
            Có lẽ tác phẩm nói trên dựa vào phần lớn sự thực nên trong phần “Thay Lời Tựa”, tác giả trần tình:

            “Từ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. (Cái thịnh mãn của hạng điền chủ ở miền Nam trước đây.) Nguyên nhân chánh của sự suy sụp bệ rạc này thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm, khoảng thời gian gần bằng số tuổi của tôi.
            Tôi sanh ra và lớn lên trong một dòng dõi đã đến hồi ly tán. Cái họ của tôi gồm hai chữ có gạch nối có thể sẽ gợi lên những cảnh sống huy hoàng, vương giả của một thành phần xã hội trong trí nhớ ao tù của những ông già bà lão, những cảnh sống mà tôi chỉ nghe kể lại như một chuyện hoang đường trong những lần giỗ chạp.
            Bây giờ chỉ còn lại một ngôi nhà thừa tự, cột kèo chạm trổ tinh vi đã mục rệu, và chẳng bao giờ lành những vết thẹo của chiến tranh; những điền sản cò bay thẳng cánh chỉ biết đến qua một đống bằng khoán vô dụng mà giấy đã ố vàng và giòn tan, một đám bà con xa gần chi chít, nhỏ nhen ích kỷ như sò hến và hoàn toàn vô tích sự.
            Tâm lý của hạng người này khá đặc biệt. Đó là những thằng chồng trôi dạt lềnh bềnh trên giòng sông hung tợn, một hạng người khư khư ôm lấy cái quá vãng vàng son (nát dậu cũng còn bờ tre), dở thầy dở thợ dở cu ly, bất lực trước sự biến đổi nhãn tiền của cảnh ngộ, bấu víu vào nhau mà sống sót. Trong ngôi nhà thừa tự đó, mỗi người là một hòn đảo của những thói hư tật xấu… Có phải con người một khi đã mất thăng bằng trong cuộc sống vật chất thường để lộ ra rõ rệt hơn bao giờ hết những xấu xa tàn tệ của mình? Và một giai cấp cũng vậy.
            Khi khởi công quyển truyện này, tôi đặt trước cho tôi một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thời nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong.
            Lẽ hiển nhiên, tôi không hề có ý định làm công việc của nhà xã hội học hay của nhà đạo đức học. Những công việc này vượt quá sức của tôi. Vả lại, chúng cũng chẳng lợi lộc gì cho tôi.
            Tôi cũng không có ý định phân tích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một ai hay một điều gì. Cho riêng tôi, tôi chỉ muốn dựng lại cái thế giới khốn đốn đã bao trùm tôi cho đến ngày nay. Tôi chỉ muốn mô tả một hiện tượng xã hội hoàn toàn thân thuộc mà thôi.
            Tiểu thuyết là tưởng tượng, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt nguồn từ một phần sự thật?
            Sở dĩ tôi trình bày như vậy, là để xin những người thân thích của tôi, nếu có dịp tình cờ nào đọc quyển truyện này, hãy rộng lòng tha thứ cho tôi”
.



             Còn sau đây là 3 tập truyện ngắn của nhà văn Thụy Vũ:
            1. Tập Mèo Đêm: Khi tập truyện này do nhà Thời Mới của nhà văn Võ Phiến xuất bản thì chỉ có 4 truyện ngắn: hai truyện Một Buổi Chiều, Đợi Chuyến Đi Xa nói về tâm trạng ray rứt, thèm thuồng tình yêu lẫn tình dục của một cô gái già; hai truyện Mèo ĐêmNắng Chiều Vàng nói về các cô bán bar dan díu với bọn lính Mỹ. Khi được nhà xuất bản Kim Anh tái bản thì có thêm hai truyện Bóng Mát Trên ĐườngMiền Ngoại Ô Tình Lẻ. Hai truyện này nói lên niềm cô đơn của tác giả được thể hiện qua hai nhân vật nữ, văn chương êm dịu, đôi lúc thơ mộng nhưng có khi lại le lói mầm mống nổi loạn.
            2. Tập Lao Vào Lửa: Viết về nếp sinh hoạt của các cô gái điếm trá hình làm chiêu đãi viên trong các snack bar. Như phần bên trên đã nói, hai truyện Chiếc GiườngLao Vào Lửa lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn, còn truyện Đêm Nổi Lửa lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó gọi là Nhà thương Bạc Hà. Nhân vật chính bị bắt đi “lục-xì” (look and see) tức đi khám bệnh xem có vi trùng giang mai hay không, và bị giam lỏng trong nhà thương đó. Muốn thoát ra khỏi nhà thương, đương sự thông đồng với mấy người đồng cảnh ngộ bị giam và người tình ở bên ngoài. Đợi tới đêm giáp Tết, cả bọn nổi lửa gây hỏa hoạn để thừa lúc hỗn loạn chạy ra ngoài. Các cô chạy thoát nhưng rách te tua do leo qua hàng rào, nhiều cô trầy sứt và chỉ còn chiếc quần xi-líp.
            3. Tập Chiều Mênh Mông: Gồm truyện Chiều Mênh Mông (cùng tựa với tập truyện), mô tả tâm trạng của những nhân vật cô đơn. Truyện Tiếng Hát mô tả sự bỡ ngỡ của cô thiếu nữ lạc loài theo kiểu tha phương cầu thực. Tình cờ cô bước vào cái xã hội văn nghệ sĩ thời thượng và chịu ăn nằm với một chàng du ca mà không nghĩ sự dan díu đó sẽ đi tới đâu sau cuộc làm tình không mấy hào hứng. Truyện Lìa Sông là lời kể của một cô giáo làng mô tả về chuyện dạy dỗ và thân phận hẩm hiu của mình trong khi cô đủ cả công dung ngôn hạnh. Cuối cùng, cô may mắn có được tấm chồng và sống hạnh phúc.
            Truyện Cây Độc Không Trái mô tả cô gái bán bar đi phá thai. Cách phá thai được tác giả trình bày chi tiết khiến người đọc rùng mình. Rồi tác giả mô tả luôn mặc cảm phạm tội của cô gái cùng cái ý tưởng lo sợ mai sau cô sẽ tuyệt tự. Truyện Trôi Sông và truyện Đêm Tối Bao La với bút pháp dữ dằn, cốt truyện phanh phui tàn nhẫn cái bản năng giông bão của những hạng cùng đinh trong xã hội.


AN NAM
Tháng 3/2017


http://thoibao.com/doi-net-ve-nha-van-nguyen-thi-thuy-vu/
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #61 vào: 26/09/2017, 20:51:27 »
Nghệ thuật làm bánh macaron của người Pháp

Tại Pháp, mỗi ngày có đến 38 triệu rưỡi chiếc bánh macaron được cho ra lò, trong đó có hơn một nửa được bán ra nước ngoài. Số liệu của bộ Thương mại Pháp chỉ tính đến các thương hiệu lớn chuyên về xuất khẩu, chứ chưa kể đến các tiệm bánh nhỏ chỉ phục vụ cho người tiêu dùng ở Pháp.


VỚI KÍCH THƯỚC hình tròn, đường kính cỡ bằng hai đốt ngón tay, nhưng macaron lại có uy tín hàng đầu trong ngành chế biến bánh ngọt thượng hạng của Pháp. Bánh ngọt macaron của Pháp được làm với lòng trắng trứng gà, đường cát, bột hạnh nhân xay nhuyễn và thêm một chút màu thực phẩm. Nhụy bánh được làm với kem bơ, mứt trái cây hay kem tươi trộn chocolat (thuật ngữ chuyên ngành gọi là ganache).

Nguồn gốc của Macaron
            Theo quyển tự điển ẩm thực Larousse Gastronomique, nguồn gốc của bánh macaron đã có từ thời Trung Cổ, xuất phát vào năm 791 (thế kỷ thứ VIII) từ một tu viện ở Cormery, vùng Indre et Loire miền Trung nước Pháp. Nhưng cũng có một số nhà ngôn ngữ học cho rằng nguồn gốc của macaron đến từ nước Ý, chữ macherone có nghĩa là nghiền nát xay nhuyễn. Loại bánh này có thể là do các nhà đầu bếp làm việc cho hoàng hậu Catherine de Médicis du nhập vào Pháp vào thời Phục Hưng, thế kỷ thứ XVI (1533), khi bà thành hôn với vua Henri Đệ nhị.
            Dù gì đi nữa, truyền thống làm bánh hạnh nhân đã có từ xưa. Nhưng kiểu bánh macaron với hình dáng y như bây giờ tức là hai mẫu bánh tròn giống như tai nấm, có kẹp nhụy ở giữa, là do gia đình ông Louis Ernest Ladurée sáng chế vào giữa thế kỷ thứ XIX. Tiệm bánh Ladurée đầu tiên được khánh thành vào năm 1862, và tính đến nay có khoảng 30 cửa hiệu trên khắp thế giới. Sau gia đình Ladurée, đến phiên ông Gaston Lenôtre từ năm 1947 trở đi cũng bán macaron trong số các loại bánh ngọt. Gần đây hơn nữa, có các thương hiệu nổi tiếng như Pierre Hermé, Dalloyau, Fauchon, Hédiard đều khai thác sản phẩm này.



Thương hiệu bánh Macaron gắn liền với nước Pháp xinh đẹp
            Giá trung bình của một hộp bánh macaron là khoảng 9 euro: mỗi hộp gồm 6 chiếc bánh. Còn mua theo từng chiếc: giá của một kiểu bánh nhỏ là 1,5 euro, kiểu lớn 4 euro. Giá này ở Paris, tương đối là cao, ở các tiệm bánh nước ngoài giá bán còn cao hơn nữa. Nếu một ngày nào đó, bạn có dịp ghé thủ đô Bangkok, thì bạn nên tạt qua cửa hàng Lenôtre nằm trên tầng hai của trung tâm thương mại Siam Paragorn. Bánh macaron ở đây do người Pháp chế biến còn đắt hơn là ở Paris. Sang trọng hơn nữa là tiệm bánh macaron nằm giữa đại sảnh của khách sạn 5 sao Mandarin Oriental, trung tâm thủ đô Bangkok.
            Từ Tokyo sang New York, từ Sydney đến Seoul, các kiểu bánh macaron giờ đây xuất hiện tại nhiều chi nhánh của các thương hiệu nổi tiếng tại các thành phố lớn trên thế giới. Theo lời cô Marie Josée Jarry, tác giả của một quyển sách nói về nghệ thuật chế biến macaron, loại bánh hạnh nhân có uy tín một phần là vì các tiệm ăn sang chuyên đưa món này vào trong thực đơn, nhưng dần dà loại bánh macaron đã trở nên phổ biến rộng rãi hơn, có thể tìm thấy tại các tiệm bánh nhỏ, ít ra là những kiểu bánh với mùi hương truyền thống:

            Quá trình làm bánh macaron chủ yếu gồm những nguyên liệu như sau: lòng trắng của trứng, đường bột xay nhuyễn và nhất là hạnh nhân (amande). Chất lượng của hạnh nhân ở đây rất là quan trọng vì tính trung bình giá tiền của một kí-lô hạnh nhân là khoảng 9 euro, nhưng loại thượng hạng có thể cao hơn gấp 5 lần. Thông thường thì các bà nội trợ có thể mua loại bột hạnh nhân xay sẵn, nhưng các nhà làm bánh ngọt cũng như các nhà đầu bếp thượng hạng thì lại thích mua hạnh nhân nguyên hạt, rồi đem về tự xay nhuyễn lấy.
            Để chế biến ruột bánh macaron, thì tùy theo khẩu vị của từng người. Ta có thể chế biến loại ganache chủ yếu làm với các loại chocolat, hoặc là loại crème au beurre, tức là một loại váng kem bơ nhưng nhẹ bụng do không có quá nhiều chất béo. Nhẹ hơn nữa thì có loại trái cây tươi xay nhuyễn (compotée de fruit), nấu với một chút đường nhưng không ngọt như mứt. Dựa vào các nguyên liệu cơ bản đó, các nhà làm bánh tha hồ mà kết hợp để chế biến đủ loại hương vị và màu sắc cho macaron.
            Trong các mùi hương bánh ngọt thì nổi tiếng nhất vẫn là loại kem bơ ngọt pha mùi hương vani trộn với một chút muối, đủ loại mùi trái cây vùng nhiệt đới như trái ổi, chanh dây và xoài, xu hướng bớt ăn ngọt giờ đây cũng cho ra đời nhiều loại bánh macaron làm với hương trà: trà xanh, thiên lý, hoa lài, hoa bưởi, trà lức sả. Macaron bây giờ còn có luôn cả loại bánh mặn dùng để khai vị trước các bữa ăn tối: hương vị của bánh thường là các mùi nấm hương như nấm cèpe, nấm truffe, mùi trái ôliu, mùi rau quế (basilic), thậm chí có cả bánh macaron mùi gan ngỗng béo (foie gras)
.

            Về phần mình, nhà đầu bếp Jean Sulpice là tác giả của quyển sách mang tựa đề Cuisine en famille Nấu ăn trong gia đình, chủ trương phổ biến rộng rãi các bí quyết nấu ăn. Nổi tiếng là một nhà đầu bếp thượng thặng, được sách hướng dẫn ẩm thực Michelin xếp vào hạng hai sao (mức cao nhất là ba sao), anh còn là một gương mặt quen thuộc với cộng đồng trên mạng vì anh thường mở lớp dạy nấu ăn trực tuyến. Khác với nhiều đồng nghiệp nổi tiếng, Jean Sulpice không che giấu các bí quyết gia truyền mà lại tìm cách truyền đạt cách thức nấu ăn hay làm bánh ngọt một cách dễ hiểu nhất:

            Mục tiêu của tôi khi mở các lớp dạy nấu ăn là truyền đạt sự yêu nghề cũng như những gì tôi đã học hỏi từ gia đình. Những ngày lễ cuối năm đã đến và rất nhiều người Pháp muốn có một món ăn ngon trên bàn tiệc. Dĩ nhiên là ta có thể đi mua một món ăn làm sẵn, nhưng theo tôi nghĩ món ăn đó sẽ càng ngon hơn nữa, nếu như tự tay ta chế biến lấy. Đối với những người không có nhiều thời gian, thì trước hết nên chọn các món ăn mà phương thức nấu nướng không quá đỗi công phu cầu kỳ.
            Vào mùa này, có rất nhiều phụ nữ thích học cách làm bánh hạnh nhân macaron. Phương thức mà tôi chọn để hướng dẫn cách làm tương đối khá đơn giản, chỉ cần hai mươi phút chuẩn bị và mười phút đút lò nướng bánh. Một vài bí quyết để cho bánh được làm thật ngon. Trước hết khi đánh bông lòng trứng, bạn nên dùng loại trứng thật tươi, trứng đừng bỏ tủ lạnh mà nên giữ ở nhiệt độ bên ngoài bình thường, có như vậy thì lòng trắng mới dễ lên bông. Khi chuẩn bị trộn lòng trứng đánh bông với bột hạnh nhân có đường, thì cũng nên đánh bột hạnh nhân bằng tay thêm vài phút. Bột hạnh nhân đã được xay nhuyễn nhưng khi đánh thêm bằng tay, thì ta cho thêm không khí vào bột bánh, như vậy thì bánh sẽ nhẹ hơn, bánh có thể giòn ngoài vỏ nhưng lại xốp mềm ở bên trong.
            Về màu sắc của bánh macaron, thì nên dùng các loại phẩm màu tự nhiên bằng bột, tuyệt đối không nên dùng phẩm màu bằng chất lỏng, vì bột màu và bột bánh một khi đút lò nướng sẽ nở đều như nhau, trong khi phẩm màu bằng giọt có thể làm hỏng đi chiếc bánh. Bánh macaron một khi nướng xong không nên ăn liền, mà nên để cho nó nguội lại ít nhất là 12 tiếng, bởi vì lúc đó vỏ bánh sẽ rán giòn lại, trong khi ruột bánh vần xốp mềm. Ngoại trừ các bí quyết này ra, thì theo tôi nghĩ bất cứ ai cũng có thể làm thử macaron mà không sợ hỏng bánh. Tuy nhiên, cũng nên làm vài lần để có thể điều chỉnh độ ngọt hoặc là thêm bớt các hương vị cho mùi bánh thêm thơm ngon
.

            Phương thức chế biến macaron, nói một cách nôm na lại giống như cách làm bánh men. Khác hay chăng là ở dung lượng của nguyên liệu, giúp cho macaron bớt khô và xốp mềm hơn. Những người khéo tay có thể chế biến thêm nhụy bánh, nhưng thật ra bạn có thể sử dụng các loại mứt trái cây, các loại chocolat trộn với một chút crème, miễn là đừng quá ngọt. Cô Cathy là một bà nội trợ chuyên tự học lấy cách làm các món ăn nhân mùa Noel, cho biết:

            Cho những ngày lễ cuối năm tôi vẫn thường chọn lấy thực đơn rồi tự tay làm lấy các món ăn. Tôi đã từng học cách chế biến chocolat, đặt mua gan ngỗng béo tươi rồi đem về nhà chế biến thêm bằng cách ướp với gia vị và một chút rượu mạnh, tôi cũng vừa học cách làm bánh macaron. Khi đi mua ở ngoài các hiệu bánh ngọt, tôi thấy món này được bán với giá cao nên cứ tưởng rằng loại bánh này công phu và khó làm lắm.
            Nhưng thật ra bánh macaron tương đối dễ làm, nhất là giờ đây, ta có thể tìm thấy nhiều hương liệu tự nhiên của trái cây, cho nên bánh làm ở nhà có thể đa dạng hơn trước rất nhiều, cả về màu sắc lẫn hương thơm của mỗi chiếc bánh. Tôi thường hay làm loại bánh macaron, mà ở trong nhụy thường là trái cây xay nhuyễn. Tôi thích nhất nhụy trái lê, vì có nhiều loại trái lê rất thơm, ngọt mà không vị chua như trái táo.
            Khi xay nhuyễn xong, rồi bỏ trên bếp nấu cho khô nước, không cần phải cho thêm đường, vì vỏ bánh đã ngọt, mùi hương tự nhiên của trái cây vì thế mà càng tinh tế thơm ngon hơn, ngon hơn nữa là khi nấu trái lê ta chỉ cần bỏ thêm nửa múi vani là vừa đủ thơm cho cả một lò bánh nướng khoảng chừng 50 chiếc bánh nho nhỏ. Tôi làm cho gia đình, nhưng cũng để tặng bạn bè người thân nhân dịp lễ
.

            Về phần mình, nhà đầu bếp William Lamagnère được xem như là người đầu tiên đã sáng tạo ra loại bánh macaron có nhụy lỏng. Ở đây, ta có thể nói ngay lập tức là những người nội trợ thông thường sẽ khó mà bắt chước làm kịp, bởi vì nhà đầu bếp này đã cùng với một êkíp gồm 5 người thợ chuyên làm bánh đã mất khoảng hai tháng để tìm cho ra phương thức chế biến. Sự cạnh tranh giữa các tên tuổi trong ngành ẩm thực buộc các nhà đầu bếp phải sáng tạo không ngừng:

            Đây là một ý tưởng mới trong cách chế biến bánh macaron. Trước đây, nhiều hiệu bánh ngọt đã thử dung hòa bánh hạnh nhân với nhiều hương vị mới, kết hợp độ giòn của vỏ bánh với độ mềm của nhụy bánh. Tôi thì tìm cách chế biến một loại macaron với nhụy lỏng. Làm thế nào để cho nhụy ở bên trong đủ lỏng để khi cắn một miếng bánh, chất nhụy sẽ tràn ra ngoài. Nhưng đồng thời nhụy bánh cũng không nên lỏng quá vì nó sẽ thấm mềm khiến cho cái vỏ bánh không còn được gián giòn, mà đó lại là đặc điểm của loại bánh macaron làm theo kiểu của Paris. Tôi rất hài lòng vì kiểu bánh này đã được báo chí chuyên ngành ẩm thực chấm điểm cao, xem đó là một trong những nét sáng tạo nổi bật của ngành làm bánh ngọt thượng hạng.
            Trái với những ngành nghề khác, ngành ẩm thực không hề có chuyện đăng ký bằng phát minh sáng chế. Bạn có thể bảo vệ một thương hiệu, nhưng khó thể nào mà bảo vệ một công thức chế biến món ăn. Nhưng tôi hy vọng rằng những ý tưởng sáng tạo như vậy sẽ thôi thúc các bạn đồng nghiệp tiếp tục tìm tòi những ý tưởng mới táo bạo, khác lạ hơn thế nữa, nhất là giờ đây nhiều hiệu bánh trên thế giới ở Nhật hay ở Mỹ đã lao vào việc khai thác chế biến bánh macaron theo kiểu Pháp.


            Nhà đầu bếp William Lamagnère từng làm việc 6 năm cho thương hiệu bánh ngọt Ladurée, một trong những thương hiệu bánh ngọt của Pháp nổi tiếng nhất thế giới. Có một thời gian anh từng đi giảng dạy tại trường Cordon Bleu, chuyên đào tạo các nghề có liên quan đến nghệ thuật ẩm thực. Tuy hiện làm chủ của một nhà hàng danh tiếng ở Paris (quán ăn Closerie des Lilas ở Paris quận 6) nhưng anh cho biết anh vẫn nuôi giấc mộng gầy dựng một thương hiệu chuyên về bánh ngọt:

            Giấc mơ mà tôi ấp ủ trong nhiều năm qua là một ngày nào đó là tôi có đủ tài năng để sánh kịp các bậc thầy. Trong lãnh vực chế biến bánh ngọt, mà uy tín không chỉ dừng lại ở Pháp mà còn lan tỏa ra nhiều quốc gia trên thế giới, hiện giờ có ông Pierre Hermé, mà báo chí chuyên ngành thường mệnh danh là một Picaso của ngành bánh ngọt thượng hạng. Bên cạnh đó còn có ông Philippe Andrieu, bậc thầy của hiệu bánh Ladurée, cũng như Christophe Michalak làm việc cho khách sạn 5 sao Plaza Athénée ở Paris.
            Nhờ vào tư duy sáng tạo, họ đã sáng chế ra những kiểu bánh ngoạn mục khác thường, tuy không được bảo vệ bởi một bằng sáng chế phát minh nào cả, nhưng vẫn trở thành kinh điển khuôn mẫu, bởi vì các kiểu bánh này trở thành những đề thi nhân các cuộc tranh tài cấp quốc gia hay cấp quốc tế. Điều đó theo tôi chẳng khác gì một giải về thành tựu sự nghiệp, quan trọng không kém gì việc mở hàng chục cửa hiệu trên thế giới để kinh doanh thương hiệu của mình
.


TUẤN THẢO
Tháng 12/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111223-nghe-thuat-lam-banh-macaron-cua-nguoi-phap
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #62 vào: 28/09/2017, 19:04:50 »
Thái Hậu Ỷ Lan: Nữ chính trị gia kiệt xuất Việt Nam

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, có rất ít phụ nữ nổi bật trên chính trường. Đấy không phải là bởi vì phụ nữ nước ta không có tài làm chính trị, mà bởi vì ngày xưa phụ nữ luôn bị kềm kẹp trong cái câu “tam tòng tứ đức”, luôn sống trong cái cảnh “khuê môn bất xuất”.

Đền thờ Thái hậu Ỷ Lan hiện ở Gia Lâm. Dân gian thường gọi là “chùa Bà Tấm”

CHÍNH VÌ THẾ, nhân vật nữ nào được nổi bật thì ắt phải là kiệt xuất lắm. Và cách đây hơn 800 năm, lịch sử Đại Việt đã biết đến một phụ nữ kiệt xuất có tài kinh bang tế thế: Thái Hậu Ỷ Lan.
            Về nhân thân của bà Ỷ Lan, còn nhiều điểm chưa rõ. Xem xét các bộ sử liên quan, đại khái bà sinh vào khoảng năm 1044 và mất năm 1117. Tên của bà sử cũ cũng không thống nhất, có thuyết cho rằng bà tên là Lê Khiết Nương, có thuyết thì bảo là Lê Thị Khiết, cũng có thuyết nói là Lê Thị Yến Loan.

Cô gái tựa gốc lan
            Lúc chưa vào cung, bà là một cô gái hái dâu, chăn tằm ở làng Thổ Lỗi (còn có tên là làng Sủi, nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Câu chuyện tiến cung của bà khá lãng mạn, và cũng là nguồn gốc của tên Ỷ Lan, cái tên nổi tiếng đến mức mà đời sau không ai còn chú ý đến tên thật của bà nữa. Sử cũ chép về câu chuyện này đại để như sau:

            Thuở ấy vào năm Quý Mão (1063), vua Lý Thánh Tông đã bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có con trai để truyền ngôi báu. Vua bèn thân hành đi cầu tự khắp các chùa chiền, miếu mạo nhưng không hiệu nghiệm, nhà vua vô cùng lo lắng. Một sớm mùa xuân, vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương Quang, phủ Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá. Trai gái, già trẻ các làng đều ra rước vua.
            Đoàn xa giá của vua đi đến đâu, các làng lân cận nô nức, đổ xô về phía ấy. Duy có một cô thôn nữ xinh đẹp của làng Sủi vẫn điềm nhiên hái dâu, xem việc ngự giá của vua không có quan hệ gì đến mình. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đòi người con gái có vẻ “kiêu căng” đang đứng bên nương dâu kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi. Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: “Thiếp là con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và nhìn mặt rồng”.
            Vua thấy cô gái tuy ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ thì đoan trang dịu dàng, lời nói phong nhã, đối đáp phân minh, lễ nghĩa rành rành. Vua yêu vì sắc, trọng vì nết, nên cho cô gái theo long giá về kinh đô. Về đến kinh đô, vua Thánh Tông cho dựng cung Ỷ Lan với ý nghĩa là gợi nhớ lại câu chuyện nhà vua đã gặp cô gái đứng tựa cây lan (Ỷ Lan tức là: tựa cây lan), và phong cho cô gái hái dâu làng Thổ Lỗi làm Ỷ Lan Phu Nhân.

Chuyện hậu cung
            Ba năm sau khi tiến cung, Ỷ Lan Phu Nhân hạ sinh cho vua Thánh Tông vị hoàng tử đầu tiên, hoàng tử Càn Đức, tức vua Lý Nhân Tông sau này. Nhờ đó, Ỷ Lan Phu Nhân được gia phong Ỷ Lan Thần Phi. Vào năm 1068, Ỷ Lan Thần Phi hạ sinh thêm một hoàng tử nữa, và được phong là Ỷ Lan Nguyên Phi (đứng đầu các phi, chỉ sau Hoàng Hậu Thượng Dương lúc bấy giờ).
            Năm 1072, vua Thánh Tông mất, con trai Nguyên Phi Ỷ Lan là Thái tử Càn Đức lên ngôi lấy hiệu là Lý Nhân Tông. Tân vương sinh năm 1066, tức lên ngôi chỉ mới 6 tuổi, do đó cần có Thái hậu buông rèm nhiếp chính. Theo điển lệ lúc bấy giờ, bất kể là mẹ ruột của vua hay không, miễn là Hoàng hậu thì sẽ được phong làm Thái hậu và được buông rèm nhiếp chính. Hoàng hậu của vua Thánh Tông là bà Thượng Dương, và thế là Hoàng Hậu Thượng Dương được phong Thái Hậu nhiếp chính, trong khi đó bà Ỷ Lan là mẹ ruột lại chỉ được phong là Thái Phi (đứng sau Thái hậu). Tức vì con mình đẻ ra mà mình lại bị thua kẻ khác, nên Thái Phi Ỷ Lan mới rấp tâm hại Thượng Dương Thái Hậu.
            Sự việc xảy ra vào năm 1073, sử cũ chép như sau:

            “Linh Nhân (tức bà Ỷ Lan – LP) có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: “Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được hưởng thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?” Vua bèn sai đem giam Thượng Dương Thái Hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông”.

            Sau đó, vua Nhân Tông mới phong cho mẹ ruột làm Linh Nhân Thái Hậu nắm quyền buông rèm nhiếp chính. Như thế, cô gái hái dâu làng Thổ Lỗi năm nào, sau 10 năm tiến cung, không chỉ trở thành mẫu nghi thiên hạ cai quản hậu cung, mà còn nắm đại quyền điều hành đất nước.

“Rằng tôi chút phận đàn bà…”
            Vụ bức tử Thượng Dương Thái Hậu và hơn 70 cung nữ nói trên là vết mờ trong bức tranh sáng lạng về sự nghiệp của Thái Hậu Ỷ Lan. Sự việc đã bị các sử gia phong kiến chỉ trích. Thế nhưng, ở đây có một điểm đáng chú ý, đó là sự chỉ trích của các sử gia phong kiến vốn nặng tính Nho giáo đã không quá gay gắt, mà hơn nữa còn tỏ ra thông cảm.
            Chẳng hạn như sử gia Nho giáo Ngô Sĩ Liên phê rằng: “Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết đích thái hậu, hãm hại người vô tội, tàn nhẫn đến thế ư? Vì ghen là thường tình của đàn bà, huống chi lại là mẹ đẻ mà không được dự chính sự. Linh Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, cho nên phải kêu với vua”.
            Một lần phạm tội sử sách đã không quên, nhưng các sử gia lại tỏ ra thông cảm với cái chuyện “Ghen tuông vốn chuyện người ta thường tình” như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều. Sự cảm thông này có thể hiểu được, bởi vì đối với đại cục, với dân với nước, Thái Hậu Ỷ Lan đã có những đóng góp vô cùng to lớn.

Hai lần nhiếp chính
            Tài làm chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan được thể hiện ngay cả khi bà còn là Nguyên Phi. Số là vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt mang quân đi đánh nước Chiêm ở phía Nam, vua tin tưởng giao quyền nhiếp chính cho Nguyên Phi Ỷ Lan. Sử cũ chép rằng: bà nguyên phi Ỷ Lan trị nước rất giỏi, khiến dân tâm hòa hiệp, cõi nước thanh bình. Dân gian sùng đạo Phật, tôn bà là “Quan Âm”. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép một mẫu chuyện mà theo đánh giá của nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần là “Chút sĩ diện đáng yêu của vua Lý Thánh Tông” như sau:

            “Trận này, vua đánh Chiêm Thành mãi không được, bèn rút quân về. Đến Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Hưng), vua hỏi thăm nhân dân, thấy nhân dân hết lời ca ngợi tài trị nước của Ỷ Lan, vua mới thở than: “Kẻ kia là đàn bà còn làm được như thế, là nam nhi lại chẳng làm được việc hay sao?” Nói xong bèn quay lại đánh nữa và thắng được”.

            Lần nhiếp chính thứ hai xảy ra sau khi vua Lý Thánh Tông mất vào năm 1072. Như đã nói, Thái Phi Ỷ Lan đã bức hại Thái Hậu Thượng Dương vào năm 1073 và chiếm ngôi Thái Hậu nhiếp chính.
            Thế nhưng, vừa nắm được quyền bính, Thái Hậu Ỷ Lan đã phải lèo lái chính quyền nhà Lý cứu nguy cho chủ quyền dân tộc. Số là vào năm 1076, quân Tống xâm lấn nước ta. Trước sức mạnh như vũ bão của giặc, Thái Hậu Ỷ Lan đã biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hiềm khích cá nhân. Chuyện là, trước đây, Lý Đạo Thành về phe Thái Hậu Thượng Dương còn Thái Phi Ỷ Lan thì dựa vào Lý Thường Kiệt. Năm 1073, Thái Hậu Thượng Dương bị bức tử, Lý Đạo Thành bị giáng chức ra tận Nghệ An.
            Thế nhưng, để tạo được sức mạnh đoàn kết bên trong mà chống giặc ngoài, Thái Hậu Ỷ Lan đã bỏ qua hiềm khích cũ và triệu Lý Đạo Thành về kinh giao cho chức Thái Phó Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự trông lo nội chính, còn Lý Thường Kiệt thì tập trung sức lực dẫn quân chống ngoại xâm. Một cách khái quát, triều đình dưới quyền Ỷ Lan, văn có Lý Đạo Thành còn võ thì có Lý Thường Kiệt.
            Và kết quả là cuộc chiến chống quân Tống năm 1076-1077 đã chiến thắng vẻ vang với trận Như Nguyệt đi vào lịch sử. Và với sự bất tử của bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, một bài thơ được xem là “Bản Tuyên ngôn Độc lập” đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
            Chưa hết, trước khi đánh quân Tống, Lý Thường Kiệt đã mang quân đánh Chiêm vào năm 1075 và giành được chiến thắng. Nên nhớ rằng, việc “Phá Tống, bình Chiêm” của Lý Thường Kiệt diễn ra thành công khi ấy vua Nhân Tông chỉ là một cậu bé lên mười. Và như thế, việc triều đình tất nhiên do Thái Hậu Ỷ Lan lãnh đạo. Ỷ Lan chỉ là một người đàn bà sống trong cái xã hội do đàn ông thống trị xưa kia, thì quả thật, nếu không có thực tài chính trị để điều hành đất nước, thì bà cũng không dễ gì lãnh đạo nổi hai nhân vật kiệt xuất như Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành.

Đào tạo một minh quân cho đất nước
            Thái Hậu Ỷ Lan rất hiểu nỗi đau khổ của nông dân. Khi Lý Thánh Tông mất, con bà lên ngôi, bà đã làm được nhiều việc có ích cho dân. Ở nông thôn bấy giờ có nhiều phụ nữ vì nghèo mà phải bán mình, đem thân thế nợ, không thể lấy chồng được, bà Ỷ Lan đã lấy tiền bạc trong quốc khố chuộc những người ấy và đứng ra dựng vợ gả chồng cho họ.
            Thái Hậu Ỷ Lan rất hiểu rằng đối với người nông dân thì “con trâu là đầu cơ nghiệp”, nên đã nhiều lần nhắc nhở vua Nhân Tông phạt nặng những kẻ ăn trộm trâu và giết trâu. Tháng hai năm Ðinh Dậu (1117), giai đoạn trước khi bà mất, bà còn nhắc nhở vua một lần nữa: “Gần đây, người kinh thành và làng ấp có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông dân cùng quẫn. Mấy nhà phải cày chung một trâu. Trước đây, ta đã từng mách việc ấy và nhà nước đã ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu lại có nhiều hơn trước”.
            Lời khuyên vua trên đây chứng tỏ tuy Thái Hậu Ỷ Lan quan tâm theo dõi và lo lắng đến đời sống nông dân. Không chỉ có thế, kinh tế Đại Việt bấy giờ cái chính vẫn là nông nghiệp, bởi vậy chăm lo cho nông dân cũng chính là chăm lo cho nền kinh tế đất nước. Tuy việc con trâu bề ngoài là chuyện nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa chiến lược rất lớn vậy.
            Vâng lời mẹ, vua Lý Nhân Tông hạ lệnh truy bắt và trừng trị những kẻ chuyên nghề ăn trộm trâu. Không những thế việc giết trâu ăn thịt những ngày giỗ đám cũng bị hạn chế. Chính quyền nhà Lý quy định ở Thăng Long cũng như tại các địa phương trong cả nước cứ ba nhà lập một “bảo” kiểm soát lẫn nhau và cùng liên đới chịu trách nhiệm về tội lạm giết trâu bò.
            Ngoài những đóng góp nói trên, Thái Hậu Ỷ Lan còn có một đóng góp vô cùng quan trọng mà không thể nào không nhắc tới, đó là bà đã sinh ra và đào tạo được một minh quân cho đất nước như Lý Nhân Tông.
            Các bộ sử đều ghi lại việc đất nước phát triển phồn thịnh về mọi mặt dưới thời Lý Nhân Tông. Đặc biệt về giáo dục, vào năm 1075, triều đình cho mở khoa thi tam trường để lấy người văn học ra làm quan. Đây là kỳ thi đầu tiên ở nước ta, chọn được hơn 10 người trong đó thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076, triều đình lập Quốc Tử Giám, được xem là trường đại học đầu tiên của nước ta. Nền giáo dục Nho học của nước Việt bắt đầu từ đó.
            Ta thấy trong giai đoạn này, vua Nhân Tông chỉ độ 10 tuổi, Lý Đạo Thành lo việc nội chính, Lý Thường Kiệt thì lo đánh giặc ngoại bang, trên thì có Thái Hậu Ỷ Lan lãnh đạo. Sử gia Trần Trọng Kim nhận định về giai đoạn này như sau: “…trong thì sửa sang được chính trị, ngoài thì đánh nhà Tống, phá quân Chiêm. Ấy cũng nhờ có tôi hiền tướng giỏi cho nên mới thành được công nghiệp như vậy”. Và lẽ dĩ nhiên, để có được cái “tôi hiền tướng giỏi” đó, thì người lãnh đạo tối cao là Thái Hậu nhiếp chính phải có thực tài lãnh đạo.
            Trở lại trường hợp của vua Lý Nhân Tông, khi lớn khôn, ông vẫn theo đường lối mà mẹ ông đã làm khi nhiếp chính để xây dựng một đất nước phồn thịnh. Sử cũ chép rằng, khi Thái Hậu Ỷ Lan mất, vua Nhân Tông đã làm theo đúng di nguyện của bà là hỏa táng theo nghi thức Phật giáo. Điều đó cho thấy vua có hiếu và kính mẹ như thế nào. Và điều đó càng cho thấy, Thái Hậu Ỷ Lan có uy với triều đình và với nhà vua như thế nào.
            Thái Hậu Ỷ Lan mất vào năm 1117, còn vua Nhân Tông mất năm 1127, tức chỉ cách nhau có mười năm. Có thể nói rằng, nhà vua chỉ được hoàn toàn “tự do” khỏi sự ảnh hưởng của mẹ được 10 năm mà thôi. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ca ngợi tài đức của vua Lý Nhân Tông như sau: “…sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, nước được thái bình, là vua giỏi của triều Lý”. Và vua Nhân Tông càng tài giỏi, thì cái công giáo dưỡng của Thái Hậu Ỷ Lan lại càng to lớn.

Học rộng biết nhiều
            Phụ nữ ngày xưa chỉ quen việc “khuê môn bất xuất”, còn việc học hành ra thi thố với đời là đặc quyền của đấng mày râu. Thái Hậu Ỷ Lan xuất thân chỉ là cô gái hái dâu thì chắc chắn không có điều kiện để học hành nhiều được. Sử cũ không thấy chép là bà Ỷ Lan ăn học tới đâu, nhưng qua những thể hiện cụ thể, ta thấy bà là người học rộng, biết nhiều.
            Năm 1096, bà bày cỗ chay ở chùa Khai Quốc (tức sau này là chùa Trấn Quốc ở Thăng Long), để thết đãi các sư. Tiệc xong, bà ngồi kê cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Bà có óc phán đoán, đòi hỏi các sư “nói có sách, mách có chứng”. Chính những lời đối đáp giữa bà với các bậc cao tăng đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc ra đời của sách Thiền Uyển Tập Anh (nghĩa là Anh Tú Vườn Thiền) rất có giá trị sau này. Xin trích một bài kệ bàn về chuyện sắc không trong tác phẩm này:

                        Sắc là không, không tức sắc
                        Không là sắc, sắc tức không
                        Sắc? Không? thôi mặc cả,
                        Mới thấu được chân tông


            Chỉ bốn câu thôi cũng đủ thấy trình độ tinh thông Phật Pháp của Thái Hậu Ỷ Lan cao đến dường nào!
            Nhiều ngôi chùa tháp có quy mô to lớn bề thế, có trang trí đẹp mắt đã được xây dựng lên trong “thời đại Ỷ Lan” này: chùa Giạm (Quế Võ, Hà Bắc) 1086, chùa Một Mái ở động Hoàng Xá (Quốc Oai, Hà Tây) 1099, chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Hà Bắc) 1100, chùa Bảo Ân (Ðông Sơn, Thanh Hóa) 1100, tháp Chương Sơn (Ý Yên, Nam Hà) 1108, chùa Bà Tấm hay còn gọi là Linh Nhân Từ Phúc (Gia Lâm, Hà Nội) 1105. Vẫn hay đó căn bản là do công sức và tài khéo của nhân dân, thế nhưng tất cả phải có sự cho phép và hỗ trợ của nhà cầm quyền, mà người nắm quyền tối cao lại là người rất sùng đạo Phật là Thái Hậu Ỷ Lan.
            Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), Thái Hậu Ỷ Lan mất, thọ trên 70 tuổi, được vua Nhân Tông dâng thụy hiệu là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Đền thờ chính của bà hiện ở Gia Lâm, Hà Nội. Ngôi chùa có tên là “Linh Nhân Từ Phúc Tự” (dân gian thường gọi là “chùa Bà Tấm”), được bà cho xây dựng vào năm 1115. Đến khi bà qua đời, ngôi đền thờ bà cũng được xây dựng tại đây. Từ đó đến nay, cụm đền chùa này là nơi thờ Phật, và cũng là nơi tưởng niệm bà.
            Đến đây, có thể nói rằng, dù trong sự nghiệp của bà đã có một vết đen và vụ bức tử Thượng Dương và hơn 70 cung nữ, thế nhưng dân gian vẫn xem bà như “Quan Âm tái thế”, hay là “Cô Tấm” trong truyện cổ tích. Huống chi câu chuyện bức tử nói trên chỉ được sử sách chép lại có mấy dòng, hoàn toàn không nói rõ bối cảnh và nguyên nhân sâu xa thật sự của vụ việc. Thái Hậu Ỷ Lan xuất thân chỉ là một thôn nữ nhà nghèo mà lại tự rèn luyện có được một kiến thức hết sức uyên thâm, đó là một tấm gương tự học lớn. Bà không chỉ giỏi việc nước, mà còn đảm việc nhà khi đã đào tạo cho vạn dân một vị minh quân như vua Lý Nhân Tông.
            Bài học lớn nhất rút ra từ sự nghiệp chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan có lẽ là việc: Vì lợi ích chung, bà đã biết gác lại hiềm khích cá nhân để huy động mọi lực lượng có thể nhằm chống kẻ thù xâm lược. Khi giặc Tống xâm lăng, vua Nhân Tông chỉ mới lên 10 tuổi, Thái Hậu Ỷ Lan phải thay vua lãnh đạo quân dân chiến đấu chống kẻ thù.
            Bà đã gác lại tư thù để dùng người có thực tài như Lý Đạo Thành làm Bình Chương Quân Quốc lo chuyện nội chính. Chiến công hiển hách của Lý Thường Kiệt ngoài mặt trận sẽ không thể có được nếu như không có một hậu phương vững chắc và thống nhất, mà cái hậu phương vững chắc và thống nhất đó đã có được nhờ vào tài điều hành của Thái Hậu Ỷ Lan và tài trị nước của ông Lý Đạo Thành.
            Ai dám nghĩ một cô gái hái dâu quê mùa mà có được cái tài chính trị đến như vậy? Cái tài chính trị đó có thể tóm lược qua câu trả lời của bà khi được vua Thánh Tông hỏi về việc trị quốc, được sử cũ chép lại như sau: “Muốn nước giàu dân mạnh, điều quan trọng là phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần. Lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh”.
            Tài năng đó, đức độ đó đã góp phần khẳng định bản lĩnh của phụ nữ Việt Nam, đã đưa Thái Hậu Ỷ Lan vào hàng ngũ những nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, và đặc biệt là đã để lại cho hậu thế một bài học quý giá về việc biết sử dụng hiền tài, và khi cần thiết thì biết gác lại hiềm khích riêng tư để phục vụ cho lợi ích chung của đất nước.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2013

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20131101-thai-hau-y-lan-nu-chinh-tri-gia-kiet-xuat
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #63 vào: 03/10/2017, 23:10:15 »
Gustave Courbet táo bạo, khuynh đảo tư tưởng phải đạo

Trong lãnh vực hội họa Tây phương, bức tranh L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) của Gustave Courbet có một chỗ đứng riêng biệt. Được vẽ vào năm 1866, bức họa chỉ được chính thức trưng bày trong viện bảo tàng vào năm 1995. Nội dung táo bạo có thể giải thích vì sao tác phẩm đã bị cất giấu trong hơn một thế kỷ, bởi vì bức tranh không vẽ gì khác ngoài bộ phận sinh dục của đàn bà.

Tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian – 1866)
của danh họa Gustave Courbet (khổ 46x55 cm)

BỨC TRANH L’Origine du Monde hiểu theo nghĩa Cội Nguồn Trần Thế hay Cội Nguồn Nhân Gian, nằm trong số 10 tác phẩm nổi tiếng nhất của viện bảo tàng Orsay, cũng như bức tranh Mona Lisa tiêu biểu cho viện bảo tàng Louvre. Thế nhưng, du khách nào tò mò muốn xem tận mắt tác phẩm này thì phải đợi đến sau tháng Chín năm 2014. Vì trong suốt mùa hè năm nay, tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) được đưa về trưng bày trong vòng ba tháng, từ ngày 07/06 đến 01/09/2014, tại thị trấn Ornans, gần thành phố Besançon, miền Đông Nam nước Pháp, nguyên quán của danh họa Gustave Courbet (819-1877). Bức tranh được trưng bày ở nhà riêng của danh họa, nay được biến thành viện bảo tàng.
            Nổi tiếng là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái hiện thực, danh họa Gustave Courbet đã vẽ bức tranh L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) vào năm 47 tuổi (1866), theo đơn đặt hàng của nhà sưu tầm tranh lõa thể Khalil Bey. Tên thật là Halil Şerif Pasha, ông Khalil Bey là người gốc Ai Cập, từng làm đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở Paris rồi Vienna. Giai thoại kể rằng ông Khalil Bey quen biết họa sĩ Gustave Courbet theo lời giới thiệu của nhà văn kiêm phê bình văn học Charles Augustin Sainte-Beuve. Ông Khalil Bey đặt hàng với họa sĩ Gustave Courbet nhiều bức vẽ táo bạo chứ không phải là một bức duy nhất.
            Vào thời đó, đang có một cuộc tranh cãi rất lớn trong dư luận về bức tranh Kiều nữ Olympia của Édouard Manet vẽ vào năm 1863. Truyền thống vẽ tranh khỏa thân thật ra đã có từ thời kỳ Phục Hưng, cuối thế kỷ XV nhưng các họa sĩ thường hay luồn lách sự kiểm duyệt bằng cách “ẩn nấp” đằng sau cái bình phong “thẩm mỹ cổ điển”. Vẽ khỏa thân để ca ngợi vẻ đẹp cơ thể người đàn bà thông qua các điển tích của truyện thần thoại Hy La (Hy Lạp và La Mã).
            Bức họa Olympia của Édouard Manet, vẽ theo phong cách cổ điển một người đàn bà khỏa thân, nhưng lại gây tranh luận vì nhân vật trong tranh đơn thuần là một cô gái điếm, chứ không phải là biểu tượng cao quý thanh thoát của thần Vệ Nữ. Qua việc vẽ một cô gái điếm dù là hạng sang, danh họa Édouard Manet (thuộc trường phái ấn tượng) đã cố tình xé rào, đi ngược lại với “đạo đức thẩm mỹ”, nêu đích danh điều mà rất nhiều người thời bấy giờ chuyên vòng vo nói lái.
            Tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) của Gustave Courbet ra đời trong cái bối cảnh đó, nhưng táo bạo hơn cả trăm lần, cả nội dung lẫn hình thức, so với bức họa Kiều nữ Olympia của Manet. Theo nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Fabrice Masanès, tác giả của tập sách biên khảo về Gustave Courbet, do nhà xuất bản Taschen phát hành vào năm 2006, trên thực tế, bức tranh đầu tiên mà Gustave Courbet đã vẽ theo đơn đặt hàng của ông Khalil Bey là tấm tranh đề tựa Les Dormeuses (Hai người đàn bà ngủ say).
            Nhưng khi mua tác phẩm này, nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ chưa thật sự ưng ý cho lắm, nên mới đặt thêm một tác phẩm thứ nhì và thách đố họa sĩ Gustave Courbet vẽ một bức họa mà chưa ai “dám vẽ”. Bản thân ông Khalil Bey cũng không ngờ rằng danh họa Courbet lại dám vẽ bộ phận sinh dục của người đàn bà theo góc nhìn trực diện và nhất là cận ảnh. Bức tranh khổ trung bình (46 cm trên 55 cm) khiêu khích vì cực kỳ sống động, táo bạo vì y hệt như thật. Tiêu điểm của bức tranh L’Origine du Monde là một khung tam giác đen huyền, để lộ một âm hộ hé mở.
            Theo nhà nghiên cứu Michèle Haddad, người đã viết ba quyển tiểu luận về danh họa Gustave Courbet, đối chiếu hai quan điểm thiêng liêng và trần tục trong nghệ thuật hội họa thế kỷ XIX, nhà ngoại giao Khalil Bey đang lâm bệnh nặng khi đặt mua bức tranh Cội nguồn Nhân gian. Ông có mặt tại Paris để tìm cách điều trị bệnh giang mai, một chứng bệnh vô phương cứu chữa đối với ngành y học thời bấy giờ. Theo bà Michèle Haddad, tựa đề Cội nguồn Nhân gian L’Origine du Monde vì thế có cả hai ý nghĩa, đó là nguồn gốc của mầm sống, chốn sinh ra con người, nhưng theo quan niệm đạo đức tôn giáo của thời bấy giờ, đó cũng là nguồn gốc của cõi chết: hiểm họa tiềm tàng trong khoái lạc tình dục, bệnh tật rình rập trong thú vui xác thịt.
            Dù gì đi nữa, bức tranh này trở thành một trong những tác phẩm hội họa thế kỷ XIX nổi tiếng nhất trên thế giới. Trong gần 130 năm, rất nhiều người được nghe nói tới nhưng ít bao giờ được nhìn thấy tận mắt. Chỉ có hai nhà văn Maxime Ducamp và Edmond de Goncourt (người đồng sáng lập giải văn học cùng tên) có mô tả bức tranh này trong bài viết của họ vào những năm 1880. Mãi đến một thế kỷ sau, người ta lần đầu tiên mới được thấy ảnh chụp bức vẽ này trong quyển sách nghiên cứu y khoa của bác sĩ người Pháp Gérard Zwang, phát hành vào năm 1967.
            Thật ra, lúc sinh tiền nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ Khalil Bey đã bán toàn bộ sưu tập tranh khỏa thân của ông để kiếm tiền chữa bệnh. Nhưng tác phẩm L’Origine du Monde không được đem ra bán công khai mà chỉ có một nhóm nhà sưu tầm, có đủ tiền mua tranh, mới được trông thấy. Sau nhiều lần đổi chủ (nhà sưu tầm Antoine de la Narde, phòng tranh Berheim Jeune, nam tước François de Hatvany…), bức tranh L’Origine du Monde lọt vào tay nhà phân tâm học Jacques Lacan vào năm 1955.
            Ông Jacques Lacan nhờ người anh rể là họa sĩ André Masson thuộc trường phái siêu thực, vẽ một bức tranh phong cảnh trừu tượng đề tựa Terre Érotique (Vùng đất gợi tình), làm một khung đôi để ghép chồng bức thứ hai lên trên bức họa nguyên tác. Khi muốn xem, thì chỉ cần xê dịch tấm tranh thứ nhì như một ngăn kéo là hé lộ bức vẽ L’Origine du Monde (Cội nguồn Nhân gian). Sau khi nhà phân tâm học Jacques Lacan qua đời, gia đình ông mới biếu tặng tấm tranh này cho viện bảo tàng Orsay. Từ năm 1995 trở đi, tức là hơn một thế kỷ sau ngày ra đời, tác phẩm này mới bắt đầu được phổ biến qua ảnh chụp hay qua các phiên bản sao chép.
            Trong vòng 130 năm, bức họa L’Origine du Monde đã bị che đậy cất giấu, nội dung táo bạo đến mức những người sở hữu tác phẩm tự kiểm duyệt, do muốn tránh gặp rắc rối với ngành tư pháp, nên không thể công khai phổ biến hay không muốn để cho mọi người cùng xem. Mãi đến cuối thế kỷ XX, khi tác phẩm được trưng bày ở viện bảo tàng, thì bức tranh lại gây tranh cãi.
            Nhiều người đánh giá rằng bức vẽ này quá thô tục, sống sượng chẳng khác gì sách báo đồi trụy hay phim ảnh khiêu dâm. Có ý kiến cho là qua bức vẽ này, nhân cách hay phẩm giá của phụ nữ bị hạ thấp, phơi bày cơ thể của người đàn bà như một đồ chơi tình dục, một món hàng rao bán cho đấng mày râu rửa mắt thỏa mãn. Nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến phản bác lại khi cho rằng Gustave Courbet đã thực hiện một cú đột phá “ngoạn mục” khi xóa mờ ranh giới giữa sáng tác nghệ thuật và ý tưởng khiêu dâm.
            Nhiều người tưởng lầm rằng tác phẩm đầu tiên thể hiện người đàn bà khỏa thân là bức tranh Ngày ra đời của Thần Vệ Nữ do Sandro Boticelli vẽ vào năm 1485. Trong lãnh vực này, bức khỏa thân đầu tiên là một bức tượng Thần Vệ nữ (Aphrodite de Cnide) của nhà điêu khắc Hy Lạp Praxitèle, thế kỷ IV trước Công nguyên. Trước Boticelli, danh họa Hà Lan Jan Van Eyck vào năm 1432 từng vẽ cảnh Adam và Eva trần như nhộng (Adam and Eve) trong bức họa L’Agneau Mystique. Thời kỳ Phục Hưng, tranh vẽ khỏa thân đã có nhiều bậc thầy như danh họa người Ý Titien trong bức họa Venere di Urbino (Venus d’Urbin) vẽ vào năm 1538, gần hai thế kỷ sau danh họa Tây Ban Nha Goya vẽ bức Giai nhân khỏa thân (Maja Desnuda 1790).
            Về phần mình, danh họa Gustave Courbet trước khi vẽ bức Cội nguồn Nhân gian, đã sáng tác nhiều bức tranh khỏa thân khác như Vénus et Psyché, La Femme au Perroquet, hay là Les Dormeuses… Nhưng theo lời bà Isolde Pludermacher, quản đốc kho lưu trữ viện bảo tàng Orsay, không phải ngẫu nhiên mà bức vẽ L’Origine du Monde trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của Gustave Courbet.
            Bức họa này tiêu biểu ở hai điểm: thứ nhất là nó phá vỡ hoàn toàn mọi khuôn thước về loại tranh lõa thể, thứ hai là trong cách chọn góc nhìn cận ảnh, Courbet đã không dùng “uyển họa” để làm nhẹ đi bút pháp, cũng như không giảm bớt tác động của bức tranh đối với người nhìn. Về mặt bố cục của bức tranh L’Origine du Monde, Gustave Courbet đóng khung nhân vật trong bức vẽ từ ngang ngực tới ngang đùi, đặt khối tam giác mầu đen huyền làm điểm nhấn của bức họa. Dù có đứng ở vị trí nào, ánh mắt của người xem tranh vẫn bị thu hút bởi cái tiêu điểm ấy.
            Thủ pháp cận ảnh này tạo sự đột phá vì khá mới lạ trong hội họa và chỉ phổ biến sau này qua nghệ thuật nhiếp ảnh và điện ảnh. Bức tranh L’Origine du Monde có tác dụng như một hòn đá nam châm, một là nó thu hút người xem, không thể nào mà không dán mắt vào bức vẽ, hai là nó đẩy lùi ngay tức khắc những người nào tình cờ bắt gặp bức họa. Có người thẹn thùng đỏ mặt, không còn cách nào khác là cúi đầu ngoảnh mặt, nhìn sang một nơi khác.
            Thấy sao vẽ vậy… tranh luận vẫn nảy sinh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dù ít có ai tận mắt nhìn thấy. Danh họa người Pháp Gustave Courbet dám phơi bày tất cả những gì người khác chỉ muốn che đậy! Góc nhìn trực diện táo bạo của Gustave Courbet chất vấn thách đố tư tưởng phải đạo, khuynh đảo vạch mặt “quân tử ngụy tạo”.


TUẤN THẢO
Tháng 6/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140613-gustave-courbet-buc-tranh-l%E2%80%99origine-du-monde
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #64 vào: 05/10/2017, 22:53:52 »
Nguyễn Ánh 9, tiếng dương cầm vang mãi

Mỗi một người nghệ sĩ, ngoài các sáng tác của mình thì họ sẽ có những hình ảnh riêng để lại trong tâm tưởng của khán thính giả. Đó có thể là giọng nói, là nhạc cụ, hoặc cách xuất hiện trên sân khấu. Với người nhạc sĩ trong chương trình hôm nay, bên cạnh các tác phẩm của ông, thì đó là cách sống, là tấm lòng ông để lại cho cuộc đời, cho những người hát ca khúc của ông. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, người luôn xuất hiện bên cây dương cầm trên sân khấu.

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 thời còn trẻ

NẾU AI đã quen với hình ảnh một người đàn ông gầy gò, nhỏ người, mái tóc nhuộm trắng màu thời gian, hàng đêm ngồi say mê trải đều mười ngón tay trên phím dương cầm ở khách sạn Sofitel Plaza Sài Gòn, thì từ nay sẽ không còn được nhìn thấy và nghe tiếng đàn ấy nữa.
            Những ca sĩ từng được ông chỉ dạy, đệm đàn góp phần cho tiếng hát thêm thăng hoa cũng sẽ không còn được đứng bên cạnh ông và cây dương cầm của ông trong những lần trình diễn.

                        “Em về, qua đường cũ,
                        Nghe nhịp bước chân bơ vơ
                        Hàng cây ngày xưa
                        Buồn trơ đón trên từng lá mong chờ
                        Quán chiều ngủ say, giấc buồn trên cây...

                        (Mùa thu cánh nâu)

            Và có lẽ đó cũng là hình ảnh thân quen nhất của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 mà ai cũng có thể hình dung ngay được mỗi khi nhắc đến ông.
            Ông, người được các nghệ sĩ gọi bằng cái tên trìu mến: bố Chín, cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời mình, trái tim của ông luôn dành một khoảng trống không nhỏ cho âm nhạc, tình yêu lớn của đời ông. Ông đã sống trọn vẹn với tình yêu đó từ ngày đầu tiên ông tự tìm đến phím đàn piano trên những bìa giấy carton. Nhưng, đó cũng chính là nỗi cô đơn lớn nhất mà ông thừa nhận trong một ca khúc ông viết cho riêng mình.
            Trong một lần đứng trên sân khấu hải ngoại, ông từng chia sẻ rằng nếu một ngày nào đó ông còn nữa, thì ông chỉ mong khán thính giả của mình nhớ đến một bài hát mà ông yêu nhất và trân trọng nhất, đó là bài Cô đơn.

                        “Hạnh phúc như đôi chim uyên tung bay ngập trời nắng ấm
                        Hạnh phúc như sương ban mai long lanh đầu cành nắng ấm…

                        (Cô đơn)

            Đó là sự cô đơn mà nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 xin được dành riêng cho mình. Ông nói thay cho triệu triệu người những nỗi vui nỗi buồn, nhưng chỉ xin viết riêng cho ông, dành tặng cho cá nhân ông một nỗi niềm, chính là sự đam mê âm nhạc.
            Ai đã từng quen biết ông, có dịp trò chuyện với ông đều có thể hiểu vì sao nhạc của ông lại nhẹ nhàng và trữ tình đến thế. Chỉ một chữ đơn giản để người ở lại nhắc về ông, đó là “hiền”. Ông hiền hòa từ nụ cười, lời nói, giọng nói, cho đến thái độ sống, cho đến cả những sáng tác của mình, cho dù đó là lúc ông thốt lên rằng “không, tôi không còn yêu em nữa”.
            Ca sĩ Đức Tuấn đã nhớ lại khoảnh khắc thể hiện ca khúc “Không” cùng tiếng dương cầm của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9: “Một lần đích thân bác Nguyễn Ánh 9 ngồi diễn giải cho Tuấn cặn kẽ vì sao bác viết như vậy. Rồi tâm lý, diễn biến của người hát nó sẽ không như mọi người hay nghĩ về bài đó. Nó không đơn thuần là sự giận dữ, phủi bỏ. Nó là một diễn biến tâm lý cực kỳ phức tạp của người đàn ông khi nói lên được những câu đó. Chính bác Nguyễn Ánh 9, người mà Tuấn hay gọi là bố Chín đã giải thích cặn kẽ chữ không này phải hát thế nào, chữ không kia phải hát thế nào. Chính bố ngồi đệm đàn cho Tuấn hát. Đó là khoảnh khắc rất ngẫu hứng, cảm giác rất chân thực, không bị tác động bởi ngoại cảnh, bởi khán giả. Nó cũng không hẳn là bản thu để phát hành. Nó đơn thuần là tình cảm giữa âm nhạc và giữa hai bố con với nhau.

                        “Không… tôi không còn… tôi không còn… yêu em nữa
                        Không…
                        Không… tôi không còn… tôi không còn… yêu em nữa
                        Không…

                        (Không)


Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và các bài hát được nhiều người yêu mến của ông

            Rất nhiều người nhạc sĩ khi sáng tác nhạc phẩm đã dùng chính câu chuyện của cuộc đời mình. Riêng Nguyễn Ánh 9 thì trái tim nghệ sĩ của ông có thể viết nên những ca khúc khi ông bất chợt nhìn thấy một hình ảnh đẹp, lãng mạn nào đó thoáng qua trong cuộc sống.
            Khi ông nhìn thấy những giọt nước còn đọng lại trên tán cây sau cơn mưa rơi xuống một đôi tình nhân đang đi bên cạnh nhau, thì ông thầm mong cho ân tình đầu đó sẽ mãi mãi dài lâu. Từ đó, Tình khúc chiều mưa đã ra đời.

                        “Tình chết không đợi chờ!
                        Tình xa ai nào ngờ!
                        Tình đã phai nhạt màu tình đâu?!
                        Lời trót trao về người
                        Dù đã lỡ làng rồi
                        lòng vẫn xin trọn đời… lẻ loi!

                        (Tình khúc chiều mưa)

            Rất nhiều người sau khi có dịp tiếp xúc với ông đều nói rằng nhạc sĩ là một người ít nói. Hầu như “người” mà ông trò chuyện nhiều nhất là cây đàn dương cầm của ông. Và các sáng tác của ông đã thay ông nói lên tâm hồn của mình, một tấm lòng nhẹ nhàng, khoan thai, một tâm hồn từ bi luôn đón nhận tình yêu, dù đó là tình yêu đến trong giã từ.
            Khi mình nghe những nhạc phẩm như vậy, mình cảm thấy mình phải nên tôn trọng và trân quí tình cảm mình có được trong đời. Bởi vì cho dù kết quả có thế nào, có rất là buồn đi chăng nữa nhưng mà nó không có một cái gì oán trách, cay đắng cả, nó rất là nhẹ nhàng.

                        “Mưa vẫn rơi mãi trên đường phố vắng đêm khuya
                        Mưa vẫn rơi mãi cho lòng thương nhớ khôn nguôi
                        Thôi hỡi em nhé xin đừng tiếc nuối làm gì
                        Tình yêu đến trong lần cuối…

                        (Tình yêu đến trong giã từ)

            Trong nghệ thuật, ông là một nhạc sĩ. Ông yêu các sáng tác của mình và xem đó là những vật thể vô giá. Vì chỉ có vô giá thì người sở hữu mới có thể dâng tặng vô điều kiện cho những người thật sự yêu mến nó. Trong đêm nhạc Những khúc hát ân tình cách đây 20 năm, Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã từng nói trước hàng ngàn khán thính giả của ông rằng: “Tôi viết nhạc ra là không phải để bán. Tôi viết nhạc ra không phải để kiếm thêm tiền. Tôi viết nhạc là từ trái tim tôi viết ra. Tôi muốn viết nên những nỗi niềm, tâm sự của những người bạn hay là của những kỷ niệm nào đó. Khi tôi được các bạn hát, bất cứ người nào cũng đem lại cho tôi một niềm hạnh phúc. Vì tôi biết rằng có người đã nghe nhạc mình, có người đã thông cảm, yêu thích nhạc mình và đã hát”.
            Khi người nghệ sĩ nói lên những lời từ trái tim mình, thì đó là tuyệt tác.
            Trong cuộc sống, ông là người thầy, người cha, người bạn mang đến cho người đối diện một cảm giác gần gũi và niềm tin về một cuộc sống có trước, có sau.

Khi mình nghe những nhạc phẩm như vậy, mình cảm thấy mình phải nên tôn trọng và trân quí tình cảm mình có được trong đời. Bởi vì cho dù kết quả có thế nào, có rất là buồn đi chăng nữa nhưng không có một cái gì oán trách, cay đắng cả mà rất là nhẹ nhàng. Vì vậy mà giòng nhạc này tạo cho mình một cảm xúc là đời sống này mình phải luôn trân quí mà mình đang có. Hòa Ái nhớ có một kỷ niệm rất đặc biệt đó là khi mà Hòa Ái được mời đi làm MC chuyên nghiệp thì có đến hỏi thăm chú góp ý giùm, chú chỉ nói một câu ngắn gọn là “Chú nghĩ con không thích hợp với môi trường này đâu, đừng nên bước chân vào nghề này”. Hòa Ái nhớ mãi điều đó”.

            Những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 cũng như cách sống của ông đã đi vào lòng người bằng tất cả sự kính trọng. Giờ đây, ở một nơi rất xa, cho dù ông mong muốn mọi người nếu nhớ ông thì hãy nhớ bài hát “Cô đơn”, nhưng ông sẽ không bao giờ cô đơn, vì tiếng nói chân tình, nhẹ nhàng và tấm lòng bao dung rộng lượng của ông luôn ở trong trái tim người ở lại.


CÁT LINH
Tháng 4/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/nguyen-anh9-sound-of-the-piano-cl-04172016135242.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #65 vào: 10/10/2017, 09:03:14 »
“Bánh mì của tổng thống Pháp”: niềm tự hào của thợ làm bánh thủ công

Những ngày này, cả nước Pháp đang bàn luận sôi nổi về tổng thống tân cử Emmanuel Macron. Ông Macron sẽ nhậm chức tổng thống vào ngày Chủ Nhật 14/05/2017 và chính thức trở thành chủ nhân mới của điện Elysée. Và cách đây vài ngày, tại Paris đã diễn ra một cuộc thi bánh mì ngon. Đây là sự kiện được rất nhiều người quan tâm bởi người thắng cuộc có vinh dự trở thành nhà cung cấp bánh mì cho phủ tổng thống (điện Elysée) trong vòng một năm.

Những chiếc bánh mì dài được gửi tới tham gia dự thi năm 2017

Bánh mì dài – một biểu tượng của nền ẩm thực Pháp
            Bánh mì dài (baguette) là một biểu tượng của nền ẩm thực Pháp. Bánh mì dài được bán từ ở siêu thị, chợ phiên cho tới các tiệm bánh mì, bánh ngọt ở khắp các khu phố. Hình ảnh một người Pháp – từ các ông bà lão cho tới thanh niên, tay cầm chiếc bánh mì dài đi bộ trên phố, các em nhỏ được bố mẹ bẻ cho một mẩu bánh, vừa đi vừa ăn ngon lành – không phải là hiếm thấy ở khắp nơi trên nước Pháp.
            Để vinh danh những người thợ làm bánh mì, hàng năm tại Paris, cứ vào mùa xuân, mỗi năm một lần, liên tục trong suốt 23 năm qua, kể từ năm 1994, cuộc thi bánh mì baguette theo kiểu thủ công, truyền thống ngon nhất Paris lại được tổ chức. Đến hẹn lại lên, cuộc thi năm nay diễn ra vào ngày 04/05 với sự tham gia của gần 200 thợ làm bánh theo phương pháp thủ công, truyền thống. Cuộc thi do thành phố Paris phối hợp với nghiệp đoàn thợ làm bánh mì-bánh ngọt thủ công của Paris và các vùng phụ cận (Hauts-de-Seine, Seine-Saint-Denis và Val de Marne) tổ chức.

“Bánh mì của tổng thống Pháp”
            Năm 2017, giải thưởng thuộc về thợ làm bánh Sami Bouattour, tiệm bánh Brun, số 193 phố Tolbiac, quận 13 – Paris. Đây không phải lần đầu tiên Sami Bouattour tham gia cuộc thi bánh mì baguette. Năm 2015, Sami Bouattour đã đoạt giải nhì. Phần thưởng dành cho người chiến thắng theo thông lệ là 4.000 euro, nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là tiệm bánh được cung cấp bánh mì baguette cho phủ tổng thống trong vòng 1 năm.
            Vậy là, anh Sami Bouattour sẽ là thợ làm bánh đầu tiên có vinh dự phục vụ bánh mì suốt năm đầu tiên trong nhiệm kỳ của ông Emmanuel Macron, người mới đắc cử tổng thống Pháp ngày 07/05/2017 và cũng là vị tổng thống trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước Pháp. Không những vậy, anh Sami Bouattour còn được làm bánh phục vụ tổng thống mãn nhiệm François Hollande trong những ngày cuối nhiệm kỳ của ông. Được phục vụ bánh mì cho hai tổng thống, đó là một vinh dự mà không phải mấy thợ làm bánh có được!
            Theo quy định của cuộc thi, người đoạt giải nhất còn được làm thành viên danh dự trong ban giám khảo cuộc thi năm sau. Và đương nhiên, cùng với giải thưởng, khách hàng sẽ đổ xô đến mua bánh. Uy tín của người thợ làm bánh cùng danh tiếng, lợi nhuận của tiệm bánh sẽ ngày càng tăng. Chẳng hạn, tờ báo Le Parisien (Người Paris) cho biết, sau khi thợ làm bánh Djibril Bodian ở tiệm bánh Grenier à Pain (số 38 phố Abbesses) đoạt giải năm 2010, doanh thu của tiệm đã tăng 30%.
            Còn Anh Pascal Barillon, người thắng cuộc năm 2011 cũng chia sẻ: “Đương nhiên là doanh thu của tiệm tăng. Khách hàng rất hiếu kỳ. Họ tới và hỏi mua bánh baguette của tổng thống. Họ gọi như vậy đấy! Đó không còn là bánh của chúng tôi nữa, mà là bánh mì baguette của tổng thống”.


Một người dân Pháp đi bỏ phiếu bầu tổng thống với chiếc bánh mì baguette trên tay

Vài nét về cuộc thi bánh mì ngon nhất
            Hội đồng giám khảo gồm 15 thành viên, trong đó có 9 người hoạt động trong lĩnh vực ẩm thực có danh tiếng hay đại diện cho các hiệp hội ngành nghề liên quan tới ẩm thực. Ngoài ra, còn có 6 người dân Paris được thành phố chọn làm thành viên ban giám khảo bằng cách bốc thăm trong số 400 người đăng ký.
            Chủ tịch ban giám khảo là trợ lý của thị trưởng Paris, phụ trách về thương mại, sản xuất thủ công truyền thống và các ngành nghề tự do. Trong ban giám khảo cuộc thi năm nay, có ông Christian Le Lann – chủ tịch hiệp hội AFPTS (Association Française pour la Promotion des Terroirs et des Saveurs) chuyên bảo vệ và quảng bá cho các sản phẩm ẩm thực truyền thống của các vùng miền của nước Pháp, ông Claude Maret – thợ làm pho-mát và chủ tịch liên đoàn các nhà sản xuất pho-mát của Pháp, ông Guillaume Gomez – đầu bếp trưởng của phủ tổng thống Pháp và anh Florian Charles, ở tiệm bánh La Parisienne (số 48 phố Madame, quận 6 Paris). Anh Florian Charles, cùng với Micheal Reydelet đồng đoạt giải thợ làm bánh baguette ngon nhất trong cuộc thi năm 2016.
            Bánh mì phải được làm ngay tại tiệm và tiệm bánh phải gửi hai chiếc đến địa điểm tổ chức cuộc thi trong khoảng thời gian 10h30-13h. Bánh được bọc kín trong gói giấy không có dấu hiệu đặc biệt bên ngoài, kèm theo họ tên thợ làm bánh, tên và địa chỉ tiệm bánh. Năm nay, có 187 thợ làm bánh dự thi, nhưng có 46 thí sinh bị loại vì không đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc thi. Chỉ còn 141 thí sinh được chính thức dự thi.
            Những chiếc bánh mì baguette dự thi đều phải có độ dài 55-65cm, nặng 250-300g. Lượng muối theo quy định là dưới 18g/100g bột mì. Mọi loại phụ gia và chất điều vị đều bị cấm. Bánh mì dài dự thi được đánh giá về năm nội dung: độ chín của bánh, mùi thơm, vị bánh, ruột bánh và hình dáng chiếc bánh. Mỗi nội dung được chấm điểm từ 1 tới 4. Tổng điểm tối đa là 20.
            Ông Guillaume Gomez, bếp trưởng của phủ tổng thống Pháp, thành viên ban giám khảo năm 2017 đánh giá: “Hình dáng bên ngoài của bánh rất quan trọng. Tôi thích bánh nướng chín kỹ. Ăn bánh chưa chín thì chẳng khác gì ăn bột sống trộn với nước. Bánh chín kỹ sẽ có màu nâu hạt dẻ. Đường khía trên mặt bánh rất quan trọng. Đó là “chữ ký” của thợ làm bánh. Đó không phải phong cách mà là “danh tính” của bánh. Và cuối cùng, phải nói tới vị ngon của bánh. Tất cả đều phục vụ vị giác: người ta không mua bánh mì để treo lên hay để trang trí rồi chụp ảnh. Bánh mì phải thật ngon trước đã!
            Anh Jocelyn Lohezic, đã hai năm được xếp thứ hạng cao trong cuộc thi, chia sẻ: “Rất khó để tạo nên sự khác biệt với những người khác chỉ bằng bốn nguyên liệu là bột mì, nước, một chút muối và bột nở. Tất cả chỉ có từng đó nguyên liệu. Bất cứ ai cũng có thể làm bánh mì. Nhưng không phải chiếc bánh nào cũng giống nhau. Có cái baguette dở tới mức không thể ăn nổi, những cũng có bánh vô cùng ngon. Lại có cả chiếc bánh ngon tuyệt hảo, cứ ăn không, chẳng cần phết bơ đã thấy ngon rồi. Điều này khiến người ta thích thú. Nhất là mỗi mẻ bánh đều khác nhau, không lần nào giống lần nào”.
            Muốn làm ra một chiếc bánh ngon, người thợ phải toàn tâm, toàn ý vào mọi khâu trong quá trình làm bánh. Đây là điều anh Hami Méxème, thợ làm bánh có thâm niên 27 năm chia sẻ: “Tôi chú ý tới từng bước khi làm bánh, từ thời gian nướng, thời gian ủ bột… tất cả mọi khâu. Tôi phải nói thật là tôi rất nhớ con gái, vì lúc nào tôi cũng bận bịu, không chỉ vì làm bánh mì, nhưng có thể nói rằng bánh mì cũng như đứa con thứ hai của tôi vậy”.
            Kể từ khi cuộc thi được tổ chức lần đầu năm 1994 tới nay, quận 18 Paris là quận có nhiều thợ làm bánh giỏi nhất (8 lần đoạt giải nhất). Đứng thứ hai là quận 17 (hai lần đoạt giải nhất). Có ba người từng đoạt giả nhất hai lần. Người gần đây nhất chiến thắng hai lần (năm 2010 và 2015) là anh Djibril Bodian, thợ làm bánh của tiệm Grenier à Pain, số 38 phố Abbesses. Lần đầu đoạt giải năm 2010, anh Djibril Bodian, người Pháp gốc Sénégal, mới 33 tuổi. Anh Djibril Bodian bắt đầu làm thợ học việc ở tiệm bánh Grenier à Pain vào năm 2004. Chỉ sau mười một năm, anh được thăng chức làm quản lý tiệm bánh và đã hai lần nắm trong tay giải thưởng danh giá mà mọi thợ làm bánh mì baguette truyền thống đều ao ước.
            Sau chiến thắng lần hai (năm 2015), anh Djibril Bodian chia sẻ: “Từ lâu nay, tôi vẫn muốn thử lại vận may. Tham dự thi lần thứ hai làm tôi rất vui. Nhưng thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ nghĩ có thể chiến thắng thêm một lần nữa, mặc dù tôi biết bánh mì baguette tôi làm ngon vô cùng! Thông điệp mà tôi muốn gửi tới những người muốn đi theo nghiệp làm bánh mì theo kiểu thủ công, truyền thống là: Các bạn hãy cứ làm việc! Phải thật kiên trì! Rồi sẽ tới ngày các bạn được nhận phần thưởng xứng đáng!

Biểu tượng của nghề thủ công, truyền thống của Pháp
            Nói về vai trò của cuộc thi và giá trị của nghề làm bánh mì baguette kiểu thủ công, truyền thống ngon nhất, theo anh Florian Charles, đồng giải nhất cuộc thi năm 2016 – một thành viên Ban giám khảo cuộc thi Bánh mì baguette thủ công ngon nhất năm 2017, cuộc thi là một biểu tượng cho nghề thủ công, truyền thống của nước Pháp và “nghề làm bánh mì là nghề tiêu biểu cho các giá trị của nước Pháp. Đối với người nước ngoài, bánh mì là một biểu tượng thực thụ của nước Pháp. Vì thế, cần đề cao giá trị nghề làm bánh mì kiểu thủ công truyền thống. Đó là một nghề vất vả, nhưng đầy đam mê”.
            Còn anh Pascal Barillon, người thắng cuộc năm 2011 phát biểu: “Chúng ta đã có nhiều phóng sự, nhiều chương trình truyền hình phát khắp nơi trên thế giới. Chúng ta giới thiệu bánh mì. Đó là di sản của chúng ta”.
            Bánh mì dài, một loại bánh được người dân Pháp ăn hàng ngày quả đúng là một biểu tượng của nước Pháp. Với niềm đam mê, tài năng của những người thợ làm bánh mì thủ công truyền thống như anh Djibril Bodian, anh Hami Méxème… hương vị thơm ngon đậm chất Pháp của chiếc bánh mì baguette sẽ luôn là niềm tự hào của người dân nơi đây.


THÙY DƯƠNG
Tháng 5/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170512-%C2%AB-banh-mi-cua-tong-thong-phap%C2%BB-va-giai-thuong-vinh-danh-tho-lam-banh-thu-cong
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #66 vào: 12/10/2017, 09:11:46 »
Tuổi trẻ Vạn Hạnh

Đã từ lâu và vài ba lần mỗi khi nói đến sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam, lúc phân chia các thời kỳ, niên biểu 1963 và những năm tiếp theo cho thấy sự chuyển hướng ngoạn mục cho tinh thần và sự sáng tạo bật lên lan tràn cho ít ra là một thế hệ thanh niên mà sự vận động của thời thế đã mang lại. Không có cuộc thay đổi quyền lực quyết liệt năm 1963 – ở đây tránh dùng chữ cách mạng – có thể dùng chữ đảo chánh – sẽ không có sự ngoạn mục vừa nói.

Tuệ Sỹ tại Sài Gòn trong thập niên 1990

TINH THẦN Đông phương, sự hòa hài của nhân quần, Thiền tính và thiên nhiên xanh mát một sớm một chiều đã từ các mái chùa lan tỏa vào tuổi trẻ thành phố, các phường khóm, những con đường quê, tiếng chuông thu không, lời kinh niệm Phật, và trở thành thơ, thành nhạc, thành văn chương nghệ thuật miền Nam Việt Nam trong ít nhất là 10 năm sau đó (nó chỉ biến đổi năm 1973 với Hội Nghị Quốc Tế về ngưng bắn và vãn hồi hòa bình ở Paris, một vận động chính trị ở ngoài tầm tay của Sài Gòn). Mười năm trước đó, với dấu mốc 1963, sách vở báo chí nay còn ghi lại cho đời sau: các trí thức thất thế dưới “chính quyền nhân vị” và dưới một bầu trời rợp ác điểu mây đen đã thấy lại Phương Đông, dập dìu nơi mái trường Vạn Hạnh lại thấy thày xưa, vẻ cũ thân thuộc: những Nguyễn Đăng Thục, Thích Minh Châu, Thạch Trung Giả, Ngô Trọng Anh, Tam Ích… một phía, phía khác những người trẻ tuổi tràn đầy sức sáng tạo trên tờ tạp chí Tư Tưởng với các nhà xuất bản An Tiêm, Lá Bối, Ca Dao, Hoàng Hạc và Ban Tu Thư Vạn Hạnh và cả trăm cả ngàn cuốn sách viết và dịch với Tuệ Sỹ, Phùng Khánh Trí Hải, Phùng Thăng, Phạm Công Thiện, Chơn Pháp, Phước An, Lê Tôn Nghiêm, Chơn Hạnh, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Trúc Thiên, Hoài Khanh, Phạm Thiên Thư… Hôm nay mục Thời Sự Nhân Văn sẽ nói về  những người trẻ nhất trong những danh tính vừa kể.

Nhà thơ Tuệ Sỹ
            Trong tổ chức của đại học Vạn Hạnh, Tuệ Sỹ là khoa trưởng Phật học. Ông nổi tiếng với sự thấu suốt “Triết Học Về Tánh Không”, được coi là học giả xuất sắc về Long Thọ. Lúc ấy ông mới hơn hai mươi tuổi. Vào đời ngày 15 tháng 2, 1943 tại Paksé, Lào, nguyên quán Quảng Bình, tên khai sinh là Phạm Văn Thương, vào chùa tu năm 7 tuổi, tức “đồng nhi xuất gia”. Năm 21 tốt nghiệp cao đẳng Phật Học, năm 1965 học xong phân khoa Phật học đại học Vạn Hạnh, đến năm 1970 được hội đồng viện đặc cách phong giáo sư thực thụ. Năm 1972 chủ biên Tạp chí Tư Tưởng. Tác phẩm đầu tay là “Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng”, 1973. Ông đọc Tô Đông Pha từ nguyên tác chữ Hán. Ngoài sự uyên bác về Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo đại thừa, ông còn là một học giả về văn chương cổ Trung Hoa. Thượng tọa Tuệ Sỹ từng là đệ nhất phó viện trưởng Viện Hóa Đạo Kiêm Tổng Thư Ký Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước khi trở về chùa vùng Bảo Lộc. Cố Hòa Thượng Mãn Giác Phó Viện Trưởng Đại Học Vạn Hạnh từng nói: “Tuệ Sỹ đã tu từ ngàn kiếp trước, Phật Giáo Việt Nam phải đợi tới 350 năm mới có một Thiền sư uyên bác như Tuệ Sỹ.”
            Trong mấy tháng gần đây một bộ sách 900 trang khổ lớn nhan đề là “Tuệ Sỹ Văn Tuyển” được Hương Tích xuất bản tại Hoa Kỳ. Trước khi đi vào Văn Tuyển này, về Tư Tưởng Phật học, tiểu luận triết học và về văn học, trước hết là những đề mục của cuốn I:
            Tư Tưởng Phật Học: Tổng Thuyết Vũ Trụ Luận: Vũ trụ luận thần thoại, Vũ trụ luận cổ đại, Ý nghĩa thần thoại.
            Dẫn vào Duy Thức học: Thức là gì? Tâm-ý-thức, Thức biến, Thành duy thức, Thành duy thức luận. Giá trị của Bồ tát hạnh. Thức ăn để tồn tại: đoàn thực hay đoạn thực, xúc thực, ý tư thực, thức thực.
            Vấn đề ngữ pháp trong phiên dịch kinh tạng Phạn ngữ và Hán ngữ. Lý luận phiên dịch, Cấu tạo từ. Bát quan trai giới, tu giới, ý nghĩa bát quan trai, ý nghĩa thọ giới, nội dung tám giới, tăng trưởng thiện căn. Du già bồ tát giới. Và lễ Tháng Bảy cho những oan hồn phiêu bạt.
            Xin trích một đoạn dẫn giải và quan điểm của Tuệ Sỹ vế vấn đề đã tốn nhiều giấy mực, đó là “vấn đề ngữ pháp trong phiên dịch”.
            “Theo định nghĩa chung ngày nay, phiên dịch là sự chuyển dịch một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Tất nhiên trong Hán văn hai từ ‘dịch’ trong đây cơ bản không đồng nghĩa. Chúng ta nói là chuyển dịch, vì quen với từ Anh “translation”, mà gốc La-Tinh của nó, translatio là từ phát sinh từ phân từ thụ động quá khứ – translatus, của động từ transfere mà chúng ta tạm cho là tương đương với từ chuyển dịch. Nội hàm của từ ngữ như vậy cũng cho ta thấy rõ mục đích của công việc này và cách thức thực hiện. Về cơ bản, và có lẽ kể từ nguyên thủy, dịch là chuyển một vật từ ngôn ngữ này sang này sang ngôn ngữ khác để người nghe đồng nhất nội hàm của hai từ khác nhau. Như khi một Phạn tăng muốn chuyển từ ãmra-vana sang Hán, vì lúc bấy giờ đức Phật đang ở tại chỗ đó. Theo chứng kiến hiện trường, hay do mô tả chính xác, họ chuyển được từ vana sang từ viên là cái vườn, mặc dù nhiều khi họ phân vân giữa viên và lâm. Nhưng hiện trường không có vật gì đương với từ ãmra, và cũng không thể mô tả để người Hán hiểu, đành phải phiên âm là yêm-ma-la viên. Hoặc giả khi họ phiên dịch những điều Phật quy định về thức ăn cho tỳ kheo. Họ đưa ra từ khãdanĩya. Sự kiện được đề cập này có thể mô tả xác thực, mà cũng có thể chứng kiến hiện trường. Nhưng Hán văn không hề có từ tương đương, vì người Hán không bao giờ nghĩ đến thực phẩm theo cách đó. Vậy lại phải phiên âm khư-đà-ni, hay khư-xà-ni, hay tương tự, tất nhiên phát âm lơ lớ với nguyên ngữ.
            Đó là trường hợp phiên chuyển những từ cụ thể, sờ nắm được, mà vẫn vấp phải những điều bất khả. Trường hợp liên hệ đến ý tưởng, sự việc tất phải khó hơn. Nhưng cũng có thể dễ hơn. Vì người ta nói vẽ quỷ dễ hơn vẽ người.” (Tuệ Sỹ, Tư Tưởng Phật Học, tr. 183-4.)


Bìa bộ sách “Tuệ Sỹ Văn Tuyển” do Hương Tích Phật Việt xuất bản, 2015

            Cuốn thứ hai là tiểu luận triết học. Cuốn thứ ba là văn học. Người sưu tập lại các bài viết này, anh Hạnh Viên mà tôi đã có gặp, đã trích dẫn một số thơ tuyển của sư phụ anh, rồi viết một “Hậu Từ” ý vị. Tôi sẽ làm như thế, cũng trích dẫn một vài đoạn thơ của người bạn tôi, trên nửa thế kỷ qua, rồi dùng hậu từ của anh để tạm kết luận bài đọc sách này.

                                    Thiên Lý Độc Hành
                        1– Ta về một cõi tâm không
                        Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
                        Còn yêu một thuở đi hoang
                        Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya

                        2– Ta đi dẫm nắng bên đèo
                        Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều
                        Nguyên sơ là dáng yêu kiều
                        Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ
                        Còn đây góc núi trơ vơ
                        Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao

                        3– Bên đèo khuất miễu cô hồn
                        Lưng trời ảo ảnh chập chờn hoa đăng
                        Cây già bóng tối bò lan
                        Tôi ôm cỏ dại mơ màng chiêm bao

                        4– Đã mấy nghìn năm đợi mỏi mòn
                        Bóng người cô độc dẫm hoàng hôn
                        Bởi ta hồn đã phơi màu nắng
                        Ôm trọn bờ lau kín nỗi buồn
                                    Tuệ Sỹ

            “Hậu từ của người sưu tuyển:
            Chuỗi thơ khép lại tập sách, lại mở ra một phương trời cô tịch. Hình ảnh trong thơ đọng thành những vì sao xa lấp lánh trong đêm dài.
            Tập ba này đến tay độc giả đã góp thành bộ ba tập Tuệ Sỹ Văn Tuyển, tạm chia theo ba chủ đề: Phật học, Triết học và Văn học, là bước đầu sưu tập những bài viết rải rác của tác giả còn lại sau quãng đường 50 năm xuôi ngược. Ba tập sách mỏng hẳn không thể tập thành đầy đủ các bài viết của tác giả trong gần nửa thế kỷ, với bao biến động của xã hội cũng như bản thân người viết không ngừng lưu chuyển; chúng tôi hy vọng trong tương lai, các bạn hữu có thể tình cờ tìm thấy, giúp chúng tôi sưu tập lại các bài viết mà vì nhiều hoàn cảnh đã thất lạc hay còn nằm đâu đó trong các ngăn tủ bị bỏ quên. Ở đây trong các tập sách này, chúng tôi chỉ đơn giản sưu tập và sắp xếp lại theo thời gian, còn lại tất cả đều được giữ nguyên, dù qua đó độc giả có thể thoáng thấy dấu vết ngang tàng sôi nổi của tuổi trẻ một thời xung thiên chí hay sự trầm mặc bao dung của tuổi già lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, hay chuẩn mực nghiêm trang nơi giảng đường Phật học. Những vết tích trong từng dấu chân như vậy vẫn miệt mài để lại bên đường.
            Nhớ chuyện xưa. Khi còn trẻ, trong một lần chán chường thất vọng, tác giả đã liều bỏ chùa đi hoang. Buổi tối nằm trong phòng trọ một bến xe tỉnh lẻ để chờ chuyến xe sáng hôm sau, ông tình cờ nghe được mẩu chuyện của hai cô gái phòng bên cạnh:
            – Cả ngày chưa có thằng khách nào, xui thiệt! Kiểu này chắc tối nay húp cháo.
            Im lặng một lúc, có tiếng trả lời:
            – Hay mày làm bộ qua gõ cửa phòng kế bên thử. Tao thấy hồi chiều có thằng cha mới tới. Mặt mày coi cũng ngon lắm.
            – Tao thấy rồi, thầy chùa đó bà. Ai lại…
            – Thầy chùa thì cũng là đàn ông chớ mậy…
            Ông nằm im không dám cử động, vờ như đã ngủ để cô nàng kia đừng có bạo gan tìm đến.
            Ấy là thời chiến tranh, thời buổi nhiễu nhương, những số phận không may phải ngụp lặn trong một thực tế trần trụi và một lý tưởng xa xôi, mơ hồ.
            Gần nửa thế kỷ sau, thời bình, với tuổi 70 ông còn phải giả ngủ lần nữa, tuy trên một cung bậc khác…” (Tuệ Sỹ Văn Tuyển, tr. 267-8).


Ni sư Trí Hải (1938-2003)
Năm 1964, Ni sư tốt nghiệp Thạc sỹ Văn chương tại Đại học Princeton, Hoa Kỳ

Ni Sư Trí Hải và Ngọa Bệnh Ca
            Tác giả Trí Hải dịch nhiều hơn sáng tác, dịch giả đúng hơn là tác giả, nhưng văn xuôi của tác giả thì cuồn cuộn như thác nước, nhất là văn kể truyện, và nhất là trong tập san văn hóa Tuệ Uyển do Ni trưởng (chữ Hòa thượng Minh Châu gọi Trí Hải) sáng lập điều hành từ 1994 ở Sài Gòn, ra tới năm thứ chín thì con thiên nga đầu đàn bay về cõi Niết Bàn. Có thể nói Tuệ Uyển là tập san mà chủ nhiệm chủ bút viết từ đầu tới cuối, từ “Lời Đầu Quyển” cho tới “Kho Tàng Nguyên Thủy” (dịch kinh), “Phật Pháp Song Ngữ” và nhất là ký sự “Những Chuyến Đi”, đều do một người dịch, giảng, và kể. Trong bài “Đàm Hoa Lạc Khứ”, Trí Hải đặc biệt viết về Huế, Huế của riêng mình, mà Huế là tất cả của Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh.
            Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, pháp hiệu Trí Hải, dòng dõi Tuy Lý Vương, sinh ngày 8 Tháng Ba, 1938 tại Vỹ Dạ, Huế, nguyên quán Gia Miêu Thanh Hóa, khi còn trong bụng mẹ đã được qui y tam bảo bởi Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, sau này là đệ nhất Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam. Cô đậu tú tài năm 17 tuổi, tốt nghiệp sư phạm và dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Du học Hoa Kỳ, đậu cao học ngành thư viện, về nước năm 1963. Quản thủ thư viện Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm 1970 thọ Bồ Tát Giới tại đại trai đàn Vinh Gia, sau đó giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học.
            Người viết bài may mắn có một tập bản thảo thơ nhan đề Ngọa Bệnh Ca do Trí Hải sáng tác các tháng đầu năm 2003, khoảng 9 tháng trước khi xả thân trong một tai nạn lưu thông trên đường tự nguyện đi cứu tế xã hội, lúc từ Phan Thiết về Sài Gòn, ở thế 65 năm. Tập thơ bản thảo do ni sư Tuệ Dung dàn trang và in ra bằng máy vi tính, dày 250 trang, với non 200 bài thơ ngắn dài.
            Trong bản thảo Ngọa Bệnh Ca, có vài chục trang Trí Hải Phùng Khánh viết cho thân quyến hay viết về bà mẹ, về người cha, các anh các chị, bằng thơ hoặc ngũ ngôn hay bảy chữ, có thể coi như phần tự truyện – chỉ khác tự truyện thông thường là văn xuôi, ở đây mối thân tình ràng buộc đó, từ lúc ấu thời tới khi tự coi mình như “một người gỗ”, nằm trên giường bệnh trước và trong đầu năm 2003 vì bệnh xương cốt trầm trọng – Trí Hải viết bằng văn vần. Nhiều chỗ, đoạn văn vần ấy trở thành một bài thơ hay.
            Ni trưởng trong mấy năm cuối đời bị bệnh xương cốt, phải nằm yên một chỗ, thỉnh thoảng bị giật bắn người, đau đớn khôn tả xiết. Có lúc bà nghĩ: Hay hồi trước ta đã hạ dao chặt một con cá, nên bây giờ ta bị chặt quả báo như thế này? Riết rồi, coi mình như một người gỗ, bà chấp nhận những ngày tháng nằm trên cái giường xoay như những ngày tháng bình thường:

                        Phải chăng cá bị chặt
                        Hóa thân vào trong đây
                        Để cho ta nếm thử
                        Quả báo sát sinh này?
                        (Hỏi cột sống, Ngọa Bệnh Ca, 42)

                        Hãy biến ngay giường bệnh
                        Thành một chốn đạo tràng
                        Cho mọi người vui vẻ
                        Đất trời cũng ngát hương.
                        (Nhắn nhủ, Ngọa Bệnh Ca, 9)

            Phùng Khánh mồ côi mẹ lúc 6 tuổi, ở với cha là ngự y trong triều vua Khải Định (trị vì 1916-1925). Gà trống nuôi con nên khi ông ngoại vào triều phải mang con gái theo, để cho rong chơi trong cung An Định, do đó được Hoàng Thái Hậu Đoan Huy dạy dỗ, tắm rửa cho, mà lúc ấy Đoan Huy còn là một cung nữ, do đó bà mẹ Phùng Khánh coi cung khuyết như nhà riêng, chạy nhảy khắp ngõ ngách trong cung. Khi ở nhà, có thày dạy riêng mà không tới trường học, vì một lần ở trường “vì biếng học”, (chữ Phùng Khánh) bị thày đánh cho một roi, nên không tới trường nữa.
            Tới tuổi đôi mươi, bà mẹ được tuyển vào “làm dâu” phòng Tuy Lý Vương.
            Theo Phùng Khánh, bà mẹ “suốt đời soi tâm theo sách “Minh Tâm Bửu Giám”, để vàng cho con cháu không bằng truyền lại cho chúng nếp sống theo âm đức, gìn giữ thiện tâm, việc mình làm được thì dù có quyền cũng không nên sai phái kẻ khác, thọ ơn ai không được quên, gia ơn cho người không chờ được trả. Lúc nằm trên giường bệnh, nhớ lại lời mẹ dạy, dịch giả cuốn “Tạng Thư Sống Chết” tự nhủ với nếp sống ấy, Trí Hải cho biết mình đang yên bình “trên đường về bến đỗ”. Còn người cha? Ông lúc nào cũng đọc sách văn chương kim cổ, sách tây sách tàu, giảng văn giọng sang sảng, “thân tại chốn hỏa binh và lòng Phùng tăng nơi chân không khách địa”.
            Trong phần thân quyến, Phùng Khánh tả từng người, tả các anh trước rồi đến các chị, anh Minh thay cha nuôi các em, anh Đích là cuốn từ điển bách khoa cái gì cũng biết, anh Đệ hiền từ; các chị thì có Khánh Trợ, Phùng Mai, bị chị Khánh la là “dại cách chi”, bảo ngồi ngoài xe trông đồ để chị chạy vào chợ mua thêm một món cần, ra thấy mất mấy món đồ quí hỏi em thì Phùng Khánh chỉ vào trong chợ nói có một bà đến lấy đi vào trong chợ chỗ chị vào đó! Thế là bị bà chị than thở: “Đấy là kẻ ăn cắp, sao không la lên? Em quá dại cách chi!” Sau này nhắc đến, bà chị còn cười hoài, mà không trách cứ gì, chỉ thấy cô em bé khờ dại quá. Phùng Khánh cũng nhớ đến vài chuyện ăn trộm nữa, vì nhà ở gần sông, phía sau nhà có bến, nên kẻ trộm thường thừa cơ bơi thuyền qua xẹt vào lấy cái này cái kia mang xuống thuyền, mà bà chị cũng chỉ nói, “mấy thứ đó bán chẳng được bao nhiêu, chúng vơ vét càng hay, ta có dịp mua cái khác hay may đồ mới”.
            Ngọa Bệnh Ca dày đến 250 trang, không rõ đã được in thành sách chưa? Đó là tập thơ làm trên giường bệnh, và rất nhiều bài nhiều đoạn nói về chuyện sinh tử. Nhân ngày kỵ giỗ Trí Hải (mất ngày 7 tháng 12 năm 2003 tại Phan Thiết) chúng ta hãy đọc một bài điển hình của người đã khuất:

                                   Sống chết
                        Sống trong hơi thở vào
                        Chết cùng với hơi ra
                        Ngày đêm liên tục chuyển
                        Kiếp số như hằng sa
                        Hít vào, ta còn đó
                        Thở ra, đã hết ta
                        Ta hòa cùng với gió
                        Thành vũ trụ bao la

                        Ta như làn sóng nhỏ
                        Giữa đại dương cuộc đời
                        Sóng có khi còn mất
                        Biển cả không đầy với.

                        (Ngọa Bệnh Ca, trang 23)

            Trí Hải đã cho xuất bản các tác phẩm chính sau đây:
            – Câu Chuyện Dòng Sông, dịch Herman Hesse, Lá Bối, 1965.
            – Con Đường Thoát Khổ, dịch W. Rahula, Ban Tu Thư Vạn Hạnh ,1966.
            – Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học giả, Vạn Hạnh, 1966.
            – Bắt Trẻ Đồng Xanh, dịch D. Salinger, Thanh Hiên 1967, Nhã Nam 2008.
            – Gandhi Tự Truyện, dịch Gandhi, Võ Tánh, 1971.
            – Câu Chuyện Triết Học, dịch cùng Bửu Đích, Will Durant, Viện Đại Học Vạn Hạnh.
            – Thanh Tịnh Đạo, dịch B. Buddhaghosa.
            – Tư Tưởng Phật Học, dịch W. Rahula, Vạn Hạnh, 1974.
            – Giải Thoát Trong Lòng Tay, dịch Pabongka Rinpoche, Thanh Văn xuất bản.
            – Đường Vào Nội Tâm, soạn dịch, 1993.
            – Tạng Thư Sống Chết, dịch The Tibetan Book of Living and Dying của S. Rinpoche, 1996.
            – Tâm Bất Sinh, dịch Bankei, Hoa Đàm, 2005.


Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu, dịch giả hai cuốn sách của văn hào Mỹ Henry Miller ra Việt ngữ trước 1975,
tại nhà Miller, Big Sur, California, 1980

Chơn Pháp tìm hiểu tiên tri, chân lý
            Vào mỗi thời điểm sang mùa, nhất là vào thời điểm chấm dứt một năm, từ năm này qua năm khác, trong khi lễ lạc được sửa soạn, các nghi thức tôn giáo và cuộc sống dân gian đi vào vòng quay chót một năm, thì các vị đạo gia, các vị lãnh đạo tôn giáo và cộng đồng, nhìn vào cuốn lịch, nhìn lại các biến cố đã qua, hầu tìm ra những giải thích hay dự đoán cho tương lai.
            Trong sinh hoạt tinh thần của miền Nam trước 1975 và sau này tiếp nối ở hải ngoại, có một nhóm trẻ tiếp tục đọc sách, biên soạn về kinh điển Thiền tôn thuộc trường cao đẳng Phật Học, có một nhóm trẻ mới đầu ở cao đẳng Phật Học, tiền thân của nhóm đại học Vạn Hạnh, cùng một thế hệ và chỉ hơn kém nhau ba bốn tuổi là nhiều, gồm có Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Chơn Pháp và Trí Hải, dĩ nhiên còn nữa song người viết bài này chỉ xin sơ lược vào một bài ngắn, trước khi có thể tiếp tục nới rộng. Trí Hải và Phạm Công Thiện đã ra đi, mây ngàn nước biếc, Tuệ Sỹ còn ở lại quê hương, vẫn cần cù tạo tác những bộ sách ngàn trang, còn Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu chuyển qua học Tiền Kiếp Trị Liệu, tiếp xúc với nhiều đạo sĩ nước người, viết rải rác cho một số tạp chí văn học, trong có một bài nhỏ trích dẫn ở đây, nhan đề sự đồng thanh tương ứng giữa các đạo gia và các nhà khoa học. Cụ thể của bài viết có mấy mục tiêu là thẩm định hai lời tiên tri, hai nhận định và chứng minh tính phổ quát của chân lý tối thượng.
            Trước hết là hai lời tiên tri một của Đức Phật, và một của Liên Hoa Sinh Padma Sambhava, vị thiền sư Ấn Độ thế kỷ thứ tám, người thành lập Phật Giáo Tây Tạng.

            1.– “Hai nghìn năm trăm năm sau khi ta nhập Niết Bàn, Diệu Pháp Tối Thắng sẽ lan tràn tới xứ những người mặt đỏ.”
             “Two thousand and five hundreds years after I have passed away into Nirvana, the Highest Doctrine will become spread in the country of the red-face people.”
            Đức Phật nói với Thiên Nữ Vimala (Goddess Vimala).

            2.– “Khi nào mà chim sắt bay trên trời và ngựa chạy trên bánh xe thì dân Tây Tạng sẽ bị tung đi khắp thế giới như kiến và Đạo Pháp sẽ tới xứ người mặt đỏ.”
            “When the iron bird flies, and horse run on the wheels, the Tibetan people will be scattered like ants across the World and the Dharma will come to the land of the red-face people.”
            Liên Hoa Sinh, đại đạo sư thế kỷ thứ tám và là tổ khai sáng Phật giáo Tây Tạng.

            Chơn Pháp đọc và dịch ra Việt ngữ, kèm thêm phần Anh ngữ, mà không giải thích, có lẽ vì không cần giải thích. Chơn Pháp, nguyên trưởng ban Tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh trước 1975, sinh năm 1944 tại Hà Nam, học Trần Lục và Chu Văn An, rồi Đại học Văn khoa Sài Gòn, học tiếng Anh, Đức ngữ và tiếng Phạn, tốt nghiệp cử nhân Triết. Đã có 15 dịch phẩm in thành sách trước 1975, trong có Bác Sĩ Jhivago của Boris Pasternak, gần 1000 trang, tái bản nhiều lần ở Việt Nam, Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật của Edward Conze, 370 trang, Con Người Chịu Chơi dịch Alexis Zorba của Nikos Kazantzaki, 530 trang, toàn tập 49 truyện ngắn của văn hào Ernest Hemingway, v.v…
            Cũng trong chủ đề đồng thanh tương ứng, phần thứ hai Chơn Pháp trình bày nhận định của các danh nhân về các vấn đề như hai hạng người, hai cách sống, hai cách suy nghĩ, v.v… Trong những vấn đề này, người tóm tắt bài viết sẽ có thể không trích dẫn phần Anh ngữ, vì sẽ quá dài, sau đây là những danh ngôn đã được Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu dịch ra Việt ngữ.

Hai cách sống
            Chỉ có hai cách sống đời. Một là như thế là không có gì là phép lạ cả. Hai là như thế tất cả đều là phép lạ. Tôi tin cách thứ hai.
            Albert Einstein (1879-1955). Bác học người Đức năm 1905 phát kiến thuyết tương đối, được trao Nobel khoa học năm 1921 cho công trình hiệu ứng điện tử trên âm điện tử (photoelectric effect).

Hai cách suy nghĩ
            Cách theo thời gian và cách vĩnh cửu và phi thời gian, cả hai đều là một phần của nỗ lực của con người nhằm thấu hiểu cái thế giới mà trong đó hắn sống. Không có cách nào hiểu được cách kia, mà cũng chẳng thể giản lược được vào cách kia, mỗi cách bổ túc cho nhau và chẳng cách nào trong cả hai là nói lên được toàn thể câu chuyện cả.
            J. Robert Oppenhelmer (1904-1967). Vật lý gia Hoa Kỳ, cha đẻ của bom nguyên tử. Kinh hoàng và hối hận, ông chống lại việc phát triển bom khinh khí nên bị kết tội thân Cộng.

Song hành nhưng nhất nguyên
            Không có “đa” mà chỉ có “đơn”. Kẻ nào chỉ thấy phức tính mà không thấy nhất tính, kẻ ấy sẽ luân lạc từ cái chết này đến cái chết kia.
            Áo-Nghĩa-Thư, 700 năm trước công nguyên.


VIÊN LINH
June 22, 2016


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Tuoi-tre-Van-Hanh-Tue-Sy-2255/
 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #67 vào: 17/10/2017, 17:54:07 »
Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro

“Bằng những cảm xúc dạt dào, văn chương của ông (Kazuo Ishiguro) đánh thức góc sâu thẳm, huyền bí trong chúng ta về mối liên hệ với thế giới”… “Hãy lấy một chút từ Jane Austen, một chút từ Franz Kafka, thêm một phần của Marcel Proust và bạn có được điều gì đó giống phong cách viết của Kazuo Ishiguro”. Bằng những từ ngữ trên, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận xét về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.

Nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro,
tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017

THEO CHA MẸ đến Anh Quốc từ năm 6 tuổi, Kazuo Ishiguro (sinh ngày 08/11/1954 tại Nagasaki) chưa từng nghĩ một ngày sẽ theo nghiệp văn chương. Ông từng mơ biểu diễn ghi-ta trên sân khấu nhạc rock hơn là cầm bút, vì 5 tuổi, cậu bé Kazuo đã biết chơi piano và 14 tuổi, đã chơi thành thạo ghi-ta.
            Suốt thời thanh niên trong những năm 1970, Kazuo Ishiguro không đoái hoài đến văn chương vì “có rất ít nhà văn gây phấn khích, ngoài Kerouac và Beat Generation”, như ông từng thổ lộ với tạp chí L’Express năm 1997 khi giới thiệu với độc giả Pháp cuốn The Unconsoled (Kẻ không khuây khỏa).
            Cuối cùng, ông chọn con đường văn chương khi bắt đầu “đối chiếu giữa cuộc sống ở Anh với nhiều sự kiện diễn ra trong nước Nhật ngày trước. Năm 23 tuổi, tôi muốn trưởng thành và muốn làm sống lại ký ức của quê hương mình mà tôi có cảm giác đang biến mất”. (L’Express, 1997).
            Tốt nghiệp trường đại học Kent năm 1978 và nhận bằng thạc sĩ khóa sáng tác văn chương của trường đại học East Anglia năm 1980, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1982 với tác phẩm đầu tay A Pale View of Hills (Những ngọn đồi xa mờ), đoạt giải thưởng Winifred Holtby của Viện Văn Học Hoàng gia Anh, tiếp theo là An Artist of the Floating World (1986). Cả hai tác phẩm gợi lại một nước Nhật thời hậu chiến, chật vật đứng lên từ đống đổ nát, về số phận của các nhân vật bị coi là “phản quốc”.
            Từ đó đến nay, ông viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết khác, với chất lượng khá ổn định: The Remains of the Day (Tàn dư ngày ấy, 1989, đoạt giải Booker), The Unconsoled (Kẻ không khuây khỏa, 1995), When We Were Orphans (Khi chúng ta mồ côi, 2000), Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi, 2005) và The Buried Giant (Người khổng lồ ngủ quên, 2015) và một tập truyện ngắn Nocturnes: Five Stories of Music and Nightfall (Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, 2009).
            Cuốn tiểu thuyết Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi) được Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn sách tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005. The Remains of the Day được James Ivory chuyển thể thành phim cùng tên năm 1993 với hai diễn viên chính Anthony Hopkins vào vai quản gia Stevens tận tụy, lịch thiệp chấp nhận chối bỏ và chôn sâu cả tình yêu thầm lặng với cô Kenton (Emma Thompson) dành cho ông. Năm 2010, khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thế giới “giả tưởng” của ba nhân vật Kathy, Ruth và Tommy có chung một số phận được định đoạt trong Mãi đừng xa tôi được Mark Romanek đưa lên màn ảnh nhỏ.
            Hai tác phẩm được chuyển thể thành phim này cùng với cuốn The Unconsoled nằm trong danh sách ba tác phẩm cần đọc, theo nhật báo Le Figaro, nhân dịp công bố tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.


"Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông" của nhà văn Kazuo Ishiguro
do NXB Văn học và Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam ấn hành bản tiếng Việt

Tác phẩm của Kazuo Ishiguro: 10 năm có mặt tại Việt Nam
            Riêng tại Việt Nam, tiểu thuyết gia Kazuo Ishiguro không phải là một tên tuổi xa lạ. Ba trong số tám tác phẩm của ông đã được Nhà xuất bản Nhã Nam kết hợp với Hội Nhà Văn biên dịch và phát hành: Mãi đừng xa tôi, Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, Người khổng lồ ngủ quên.
            Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, phụ trách bản quyền của Nhã Nam, giải thích thêm về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

RFI: Nhà xuất bản Nhã Nam dịch và phát hành ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro từ cách đây vài năm, dĩ nhiên trước khi ông được trao giải Nobel Văn Học 2017. Những điểm nổi bật nào của nhà văn Anh gốc Nhật đã thu hút Nhã Nam?
Nguyễn Xuân Minh: Tác phẩm đầu tiên của Kazuo Ishiguro mà Nhã Nam xuất bản là tác phẩm Mãi đừng xa tôi, không phải là vài năm trước mà là 10 năm trước, từ những năm đầu tiên Nhã Nam mới thành lập. Sau đó, đến năm 2015, chúng tôi ra tiếp một tập truyện ngắn của ông tên là Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông. Và gần đây nhất, chúng tôi mới ra tác phẩm, và cũng là tác phẩm mới nhất của ông, Người khổng lồ ngủ quên.
            Tác giả này đã được Nhã Nam khai thác từ những năm đầu tiên. Vì khi đó chúng tôi có quan niệm muốn giới thiệu những tác giả văn chương đương đại, có phong cách đặc biệt, đến với độc giả Việt Nam, bởi vì khi đó, thị trường sách văn học Việt Nam, trong thời điểm 10 năm trước, không được phong phú như bây giờ. Chúng tôi cảm thấy cần có trách nhiệm giới thiệu những tác giả xuất sắc của văn chương thế giới, như Ishiguro, Ian McEwan, Salman Rushdie, Margaret Atwood và Mugakami đến với độc giả Việt Nam.
            Khi đó, cùng với Ian McEwan, Ishiguro là một trong hai tác giả người Anh mà chúng tôi lựa chọn, vì chất văn chương rất đặc trưng của nước Anh. Dù ông là người gốc Nhật, nhưng ảnh hưởng của gốc gác đối với văn chương của ông không nhiều, mà ông viết rất đặc trưng chất Anh. Chính vì thế, chúng tôi đã muốn giới thiệu tác giả này với độc giả Việt Nam từ 10 năm trước.

RFI: Có nhiều ý kiến cho rằng văn phong của Kazuo Ishiguro mang phong cách cổ điển, đôi khi quá trau chuốt về câu chữ. Liệu điều này có phải là một trở ngại để thu hút nhiều độc giả Việt Nam hơn, khi mà hiện nay nhiều tác phẩm được viết với phong cách nhẹ nhàng đang rất “ăn khách”?
Nguyễn Xuân Minh: Về mặt đón nhận, khi chúng tôi xuất bản Mãi đừng xa tôi lần đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều lời khen và nhận xét tích cực từ giới phê bình và độc giả yêu văn chương. Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả văn chương đương đại khác rất nổi tiếng trên thế giới, khi mà xuất bản tại Việt Nam, các tác phẩm này đều khá kén chọn độc giả và không phải có nhiều người biết đến tác phẩm Mãi đừng xa tôi. Một phần cũng do khi đó, công tác truyền thông của Nhã Nam chưa tốt lắm nên chúng tôi lấy làm tiếc là không có nhiều người biết đến tác phẩm này. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chúng tôi đã không nghĩ đến xuất bản tiếp các tác phẩm của Ishiguro.
            Đến năm 2013-2014, chúng tôi nhận được một vài tác phẩm mới do người đại diện của tác giả gửi đến, vì Nhã Nam là đơn vị đầu tiên xuất bản Ishiguro tại Việt Nam, nên khi có tác phẩm mới, họ gửi đến. Chúng tôi đọc thử và cảm thấy là văn phong và câu chuyện của ông đều rất tuyệt vời và chúng tôi nghĩ là không thể không tiếp tục xuất bản, nên chúng tôi tiếp tục mua bản quyền thêm ba cuốn của Ishiguro: Dạ Khúc, Người khổng lồ ngủ quên và cuốn nổi tiếng nhất của ông là cuốn được giải BookerThe Remains of Day, tạm dịch là Tàn dư ngày ấy. Cuốn này là cuốn đạt giải cao nhất của ông và khá dầy và tương đối khó dịch nên chúng tôi hy vọng có thể xuất bản được vào năm 2018.

RFI: Độc giả Việt Nam đón nhận các tác phẩm của nhà văn Anh gốc Nhật này như thế nào?
Nguyễn Xuân Minh: Trước khi ông được giải Nobel, cũng có một bộ phận độc giả yêu văn chương nước ngoài, yêu văn chương Anh rất thích tác phẩm này (Mãi đừng xa tôi) và cũng có nhiều người đã gửi thư và gửi tin nhắn cho chúng tôi, yêu cầu chúng tôi xuất bản thêm các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trước là văn chương của ông khá kén độc giả. Con số bán hàng ở Việt Nam cho thấy chưa phải là có nhiều người thực sự đọc và yêu thích Ishiguro.
            Thực ra, mỗi khi có một cuốn sách quan trọng được xuất bản, chúng tôi đều cố gắng tổ chức chương trình tọa đàm, những buổi ra mắt để giới thiệu sách đến với độc giả. Ví dụ khi cuốn Mãi đừng xa tôi được xuất bản lần đầu, chúng tôi cũng có một buổi tọa đàm, giới thiệu tác phẩm này ở Hội Đồng Anh (Hà Nội). Có khá đông đảo phóng viên và bạn đọc đến tham dự buổi ra mắt này. Buổi đó khá là lớn.
            Sau khi ông được giải Nobel, tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được nhiều độc giả biết đến hơn và được đọc rộng rãi ở Việt Nam.


THU HẰNG
Tháng 10/2017

_______________________________
Mãi đừng xa tôi  |  Kazuo Ishiguro (dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng)  |  NXB Văn Học, Nhã Nam, 2008, 434 trang.
Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông  |  Kazuo Ishiguro (dịch giả An Lý)  |  NXB Văn Học, Nhã Nam, 2013, 294 trang.
Người khổng lồ ngủ quên  |  Kazuo Ishiguro (dịch giả Lan Young)  |  NXB Văn học, Nhã Nam, 2017, 460 trang.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171006-nobel-van-hoc-2017-ky-uc-thoi-gian-duoi-ngoi-but-cua-kazuo-ishiguro
 
The following users thanked this post: lenhale, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #68 vào: 19/10/2017, 17:28:24 »
Mai Thọ Truyền, từ chùa Xá Lợi tới Phủ Văn Hóa

Ông quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa, nhà biên soạn Phật học Mai Thọ Truyền, bước vào khách sạn Continental lặng lẽ như bất cứ một nhà văn nào. Hôm đó một số tạp chí tại Sài Gòn đã thuê phòng hội của khách sạn này, ngay bên cạnh trụ sở Quốc Hội, để bày tỏ và tìm một quyết định chung trước vấn đề kiểm duyệt. Trong lời diễn từ, sau bài diễn văn gây hấn của người chủ trương nhà xuất bản Trình Bày, sau những phát biểu ý kiến của ông Cao Thế Dung chủ trương tạp chí Quần Chúng, và của ông Thế Uyên chủ trương nhà xuất bản Thái Độ, và một vài ý kiến của người viết bài này, nhân danh tuần báo Khởi Hành, ông quốc vụ khanh đã nói trước micro, rằng ông đến dự buổi họp mặt với tư cách một nhà văn, chủ nhiệm một tạp chí Phật Giáo.(1)

Ông Mai Thọ Truyền (trái) bắt tay Trung Tướng Nguyễn Khánh

ÔNG NÓI: “Nếu không với tư cách đó, tôi đã ra về ngay sau bài diễn văn của ông Thế Nguyên.” Sự ở lại của ông, trong buổi họp mặt của những người cầm bút đòi bãi bỏ kiểm duyệt, được minh định như thế, là sự ở lại của một người cầm bút khác.
            Nhưng ông vẫn phải đón nhận sự cách biệt vốn có giữa một nhân viên chính phủ cấp bậc bộ trưởng, và một cá nhân nào đó, dù cả hai cùng làm việc văn hóa. Chỉ có vài ba người tới tiếp xúc với ông. Tôi tới, tự giới thiệu là một ký giả, hơn nữa, là thư ký tòa soạn tuần báo Khởi Hành. Ông gật đầu: “Tôi có đọc một hai số Khởi Hành.” Vì sự cách biệt nói trên, các nhà văn, nhà thơ có mặt trong buổi tiếp tân đã để tôi ngồi từ đầu tới cuối, một bàn, với ông. Đó là dịp để tôi có thể viết bài này, sau khi đã đề cập với ông các vấn đề như xuất bản, Tuần Lễ Sách Báo sắp được tổ chức, vấn đề hội đồng văn hóa và những chuyện ngẫu nhiên khác.
            Cuộc nói chuyện gián đoạn mấy lần, một lần bởi nhân viên Đài Truyền Hình Việt Nam, một lần bởi lời phát biểu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, người chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, một lần bởi sự xúc động của Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, khi ông nói lớn trên micro, ông sẵn sàng vào tù vì in sách lậu. (Chữ lậu hiểu theo nghĩa của Sở Phối Hợp Nghệ Thuật, không hiểu theo nghĩa của điều 12 Hiến Pháp như ông nói đi nói lại.) Lần khác, với bút và giấy trên tay, một nhà báo tới phỏng vấn. Ông Mai Thọ Truyền giơ tay ngăn lại: tôi tới đây với anh em nhà văn họp mặt, nếu muốn phỏng vấn, hẹn anh em ở văn phòng (Phủ Văn Hóa).
            Vì thế, bài viết này không nên nghĩ là một bài phỏng vấn. Tôi chỉ ghi lại một giờ nói chuyện với ông quốc vụ khanh, cho dù ông đến dự cuộc họp mặt với tư cách nhà văn Mai Thọ Truyền.

Vấn đề kiểm duyệt
            Đáp câu hỏi của tôi, ông nói:
            – Chính quyền có lợi gì khi duy trì kiểm duyệt? Trong số các anh em, biết đâu không có bên kia trà trộn? Ai có thể cả quyết chỗ này không có bên kia, chỗ nọ không có bên kia? Cả người kiểm duyệt lẫn người bị kiểm duyệt, chúng ta đều là nạn nhân của bên kia. (Tôi đưa mắt tìm mấy tà áo màu, và thấy nhà văn nữ Minh Quân bên một cây cột đá lớn, chị cũng chạm mắt tôi. Có người nói với tôi chị làm việc cho bên kia.)
            Đáp câu hỏi vì sao có những chuyện đăng báo rồi, mà báo có đến hàng chục ngàn độc giả, khi in thành sách nhằm một số độc giả chỉ bằng một phần mười, lại bị cấm, bị gạch bỏ, ông cười nói:
            – Sách quan trọng hơn báo. Báo người ta đọc một ngày rồi liệng bỏ, còn sách, người ta giữ. Tất cả những cuộc cách mạng làm đảo lộn lịch sử đều khởi nguồn từ sách vở. Ngòi bút vô cùng quan trọng. Ngòi bút cũng vô cùng tai hại.
            – Thưa cụ, sách không phục vụ cho một giai đoạn.
            Tôi góp ý ngắn gọn không có tính cách thảo luận, chỉ là nói ra ý mình. Xoa xoa hai ngón tay cái và ngón tay trỏ của bàn tay trái, ông nói:
            – Chúng ta đang ở trong một tình trạng đặc biệt. Chính quyền phải tìm những biện pháp để an dân. Ở trong tình trạng đặc biệt đừng đòi hỏi một tình trạng bình thường.
            Khuôn mặt bình thản, chân thật, tự tin, ông nói tiếp:
            – Chính tôi cũng bị kiểm duyệt.
            Rồi ông cười, nói tiếp một câu mà tôi còn ghi nhớ:
            – Mấy ông kiểm duyệt bây giờ kém quá.
            Lúc này kịch sĩ Thiếu Lang đã tới ngồi bên và có cả kịch tác gia Mĩ Tín, ngồi trên một cái ghế kê hơi xa mép bàn. Ba vị đều sàn sàn tuổi nhau, nghĩa là đều hơn tôi khoảng 30 tuổi. Chúng tôi đã quen biết, gặp mặt trong sinh hoạt văn nghệ thủ đô những năm qua. Chỉ một cái gật đầu thay cho lời chào hỏi.
            Ông Mai giải thích lời chê trách vừa nói:
            – Mấy ông kiểm duyệt bây giờ ít tuổi, chưa hiểu được chỗ dụng bút của nhà văn. Tôi cầm bút 18 năm nay, tôi thấy có những cái người ta chủ tâm đưa lên cao để rồi quật xuống, thì mấy ông lại gạch bỏ đi.
            Đọc ông không nhiều, chỉ biết ông trông coi tạp chí Từ Quang.
            – Thưa cụ – tôi nói – trên một số của tờ Khởi Hành mới đây, chúng tôi đề nghị nếu phải kiểm duyệt sách, sao chính phủ không trao việc này cho Phủ Văn Hóa làm, mà lại trao cho các cán bộ thông tin?
            Ông quốc vụ khanh phân trần:
            – Tôi là người vào sau trong một gia đình, không lẽ tôi dành lấy việc của người đến trước?
           
Tuần Lễ Sách Báo
            Tôi hỏi về Tuần Lễ Sách Báo được dự định tổ chức tại Sài Gòn nhiều tuần qua.
            – Thưa có một giải thưởng nào được dự trù cho tuần lễ triển lãm này không?
            Ông lắc đầu. Tôi nhắc đến Đại Hội Sách Quốc Tế vừa được tổ chức tại Nice (Đại hội này khai mạc vào đầu Tháng Sáu vừa qua, được 22 quốc gia gửi sách tới tham dự. Một ban giám khảo được thành lập, nhiều cuốn sách, cuối cùng, được trao giải, mà giải Meilleur Livre, được trao cho cuốn Stèles (Bia Đá) của thi sĩ quá cố Victor Segalen. Theo tờ Le Figaro Litéraire số 1204, cuốn sách in có 300 bản trong lần xuất bản đầu. Trong kỳ xuất bản năm 1922 in 1,300 bản mà tôi có mua được một cuốn với giá 10 đồng khi nó được thải ra bán trên một hè sách cũ tại lề đường Lê Văn Duyệt).
            Tôi đề nghị đặt giải thưởng, chia làm nhiều giải: giải sách in đẹp nhất, giải tặng nhà xuất bản nào có số sách in mỗi năm cao nhất, một cách để tìm hiểu thị trường chữ nghĩa, làm những bản thống kê về các loại sách v.v… Ông quốc vụ khanh gật đầu nói là sẽ nghiên cứu đề nghị này của tôi.
            Nhân đó, ông nói sang chuyện xuất bản:
            – Làm xuất bản bây giờ thật là phiêu lưu. Số độc giả có là bao. Giỏi lắm mấy ngàn người thôi. Tuy nhiên, phải nhận là độc giả đã tăng tiến nhiều lắm. Người đọc sách ở Việt Nam mặc dù sống trong tình trạng chiến tranh, vẫn không quên các vấn đề văn hóa. Ngoài chợ người ta cũng đọc.
            Quả thế. Tôi thấy ông biết nhiều hơn là trước khi trao đổi với ông. Sự xa cách xảy ra hoàn toàn tự nhiên, Sài Gòn thủ đô văn hóa miền Nam có cả trăm tờ báo, lại chia thành nhiều luồng, báo Nam báo Bắc, tệ nhất là một cách chính thức, người ta có Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam, lại có cả Nghiệp Đoàn Ký Giả Nam Việt.(2)
            Nhà văn Mai Thọ Truyền hiệu là Chánh Trí, sinh năm 1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre, thuở niên thiếu học các trường sơ học Pháp-Việt Bến Tre, rồi trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Sài Gòn. Năm 1931, ông thi đậu tri huyện rồi đốc phủ sứ, nổi tiếng chính trực. Ông là một trong những người sáng lập và xây dựng chùa Xá Lợi và Hội Phật học Nam Việt.(3)
            Mai Thọ Truyền trước tác nhiều, dịch các kinh sách, có uy tín trong ngành Phật học, từng giữ chức phụ tá Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm tổng thư ký niên khóa 1967-1968. Ông mất ngày 17 Tháng Tư, 1973 tại Sài Gòn, thọ 68 tuổi.
            Tác phẩm Mai Thọ Truyền: Tâm và Tánh, Đuốc Tuệ Hà Nội ấn hành, 1950. Ý nghĩa Niết Bàn, 1962. Một đời sống vị tha, 1962. Tâm kinh Việt giải, 1962. Le Bouddhisme au Viet Nam, 1962. Pháp Hoa huyền nghĩa, 1964. Địa Tạng mật nghĩa, 1965.
            Tác phẩm còn lại: Truyền tâm pháp yếu, Hư Vân Lão Hòa Thượng, Kinh Vô Lượng Thọ, Vòng quanh thế giới Phật Giáo, Đạo đời, Khảo cứu về Tịnh Độ Tông, Mật Tông.


VIÊN LINH
Tháng 12/2016

________________________________________
(1) Tạp chí Từ Quang xuất hiện đều đặn từ 1957, Mai Thọ Truyền là nhân vật nòng cốt. Theo một bài viết của Thích Nhất Hạnh, Từ Quang ra tới số 242 và vẫn tiếp tục.
(2) Thanh Thương Hoàng (hiện nay 2016 đang cư ngụ tại San Jose) là chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam. Nguyễn Kiên Giang là chủ tịch Nghiệp đoàn Ký Giả Nam Việt.
(3) Hội Phật Học Nam Việt thành lập năm 1950. Chùa Xá Lợi khởi công xây dựng từ 1956, tọa lạc tại đường Bà Huyện Thanh Quan, bên trường nữ trung học Gia Long, Sài Gòn.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/mai-tho-truyen-tu-chua-xa-loi-toi-phu-van-hoa/
 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #69 vào: 24/10/2017, 11:06:26 »
Luân Đôn: Đồng hồ Big Ben lặng tiếng chuông

Đến thăm Luân Đôn trong những ngày này, nhiều du khách chắc sẽ ngơ ngác vì không còn nghe thấy tiếng chuông đồng hồ Big Ben ngân nga nhắc nhở từng 15 phút và cứ mỗi giờ lại dõng dạc điểm từng tiếng chuông trầm vang xa. Trong vòng 4 năm tới, tháp chuông này ngừng hoạt động để tu sửa.

Tháp chuông Big Ben, Luân Đôn

KHI NÓI ĐẾN Big Ben, hầu như ai cũng nghĩ ngay đến nước Anh và ngược lại cứ đến Luân Đôn là người ta phải chụp ảnh với kiến trúc 158 tuổi mang tên Big Ben, nay đã là biểu tượng của cả nước Anh.
            Thực ra, đây là một quần thể gồm ba hạng mục rõ rệt. Thứ nhất là tháp chuông ngay bên cạnh tòa nhà quốc hội Westminster, bên cạnh sông Thames. Thứ hai là chiếc đồng hồ trên đỉnh tháp mà các bộ phim về thủ đô Luân Đôn của nước Anh đều phải có trong cảnh quay. Khán giả Việt Nam hâm mộ Thành Long chắc chắn còn nhớ đến cảnh đánh nhau trên chiếc kim đồng hồ trong bộ phim Hiệp sĩ Thượng Hải – Shanghai Knight. Thứ ba là bộ chuông tạo ra âm thanh vang xa trong toàn bộ khu vực trung tâm Luân Đôn. Chuông Big Ben nặng 13,7 tấn, cao 2,2m. Búa gõ nặng 2 tạ. Còn tòa tháp chuông cao 96m, gồm 11 tầng.
            Thực ra thì chữ Big Ben chỉ là tên gọi của chiếc chuông to nhất nặng trên 12 tấn dùng để điểm số giờ. Big là to, còn Ben là cách gọi tắt của tên người Benjamin, mà giới nghiên cứu cho rằng có thể là tên của người đã đúc chuông, được khắc tên lên trên đó, hoặc tên một võ sĩ nổi tiếng thời bấy giờ, dáng vóc cũng to khỏe giống như vậy.
            Từ khi được đúc và cho đến khi treo lên tháp vào giữa thế kỷ 19, quả chuông này luôn là tâm điểm chú ý để cư dân hiếu kỳ ở Luân Đôn kéo tới xem. Đầu tiên người ta đúc một quả chuông to nhưng vừa treo lên, đánh thử thì đã vỡ. Sau đó, người ta đúc lại một quả chuông khác, nhưng rồi chuông cũng bị nứt sau một thời gian. Tuy nhiên, người ta không thay mới mà chỉ sửa bằng cách làm thêm một vành đai xung quanh để gia cố, đồng thời giảm một nửa trọng lượng của búa gõ.
            Ngoài ra, do yếu tố kỹ thuật là thời gian kéo búa lên rồi thả xuống quá dài cho nên phải lắp hai búa ở hai vị trí khác nhau. Do vậy mà hôm nay cùng một tiếng chuông trầm nhưng gõ vào chuông ở khoảng cách khác nhau đến chỗ bị nứt mẻ sẽ tạo ra hai âm thanh hơi khác nhau một chút, mà nếu sống lâu ở Luân Đôn thì người ta sẽ nhận ra ngay lập tức.

Chia tay tiếng chuông Big Ben
            Dân chúng Anh từ nhiều nơi đã đổ về trung tâm Luân Đôn để chia tay tiếng chuông cuối cùng hôm 21/08 vừa qua. Tiếng chuông Big Ben để điểm giờ đã trở thành giai điệu quen thuộc không chỉ đối với người đến Luân Đôn du lịch, mà ngay cả nhiều người Việt Nam vì họ vẫn thường được nghe trong nhạc hiệu của các chương trình thời sự của Anh, hay các loại đồng hồ cổ không nhất thiết cứ phải sản xuất ở Anh.
            Giới nghiên cứu cho rằng tiếng chuông Big Ben xuất phát từ giai điệu bài thánh ca nổi tiếng của nhạc sĩ người Anh gốc Đức Georg Fredrick Handel xưng tụng lòng tin vào sự sống của Chúa cứu thế: I know that my Redeemer Liveth, mà hôm nay vẫn tiếp tục được các giọng ca solo nổi tiếng thể hiện. Câu kết của violon được cho là đã dùng làm giai điệu cho tiếng chuông đồng hồ để nhắc nhở người nghe về sự hiện hữu của Chúa cứu thế qua tiếng đàn violon kết thúc bài nhạc.
            Lời tuyên xưng Chúa cứu thế trong giai điệu của tiếng chuông được nối tiếp bằng dòng chữ tiếng Latin ghi trên mặt đồng hồ DOMINE SALVAM FAC REGINAM NOSTRAM VICTORIAM PRIMAM, tức là cầu mong Chúa hãy bảo trợ cho nữ hoàng Victoria đệ nhất. Đây cũng là ý của câu kết trong bài quốc ca của Anh là Chúa hãy bảo trợ cho nữ hoàng đang trị vì nước Anh.
            Từ năm 2012, tháp chuông đồng hồ Big Ben, mà trước đó chỉ gọi đơn giản là tháp chuông, chính thức được gọi tên là Tháp mang tên nữ hoàng Elizabeth đệ nhị. Như vậy, Big Ben không chỉ là biểu tượng của nước Anh đối với thế giới, mà còn là biểu tượng của nữ hoàng Anh Quốc đối với thần dân của mình. Với một vai trò quan trọng như vậy thì không có gì khó hiểu tại sao các đại biểu Quốc Hội phải ngưng họp để ra ngoài chia tay với tiếng chuông Big Ben. Bà thủ tướng Theresa May đang đi công cán ở xa cũng phải lên truyền hình thổ lộ sự tiếc nuối và không thể chấp nhận nổi thời gian vắng quá lâu tiếng chuông này, theo dự kiến là trong suốt 4 năm tới.
            Lời chỉ trích của bà thủ tướng ngay lập tức khiến cho các nghị sĩ Quốc Hội phải tổ chức phiên điều trần để xem lại kế hoạch sửa chữa tòa tháp đồng hồ, tại sao lại phải ngưng đánh chuông lâu như vậy. Nhưng ít nhất thì nước Anh cũng sẽ không biến mất trên truyền hình thế giới trong lễ hội tường thuật đêm giao thừa, vì chuông đồng hồ Big Ben theo dự kiến sẽ được khởi động để đánh chuông trong buổi đêm đặc biệt đó, tiếng chuông đã trở thành di sản văn hóa trong con tim của hàng triệu khán giả quốc tế.
            Thực ra trước đây, vì một số lý do, Big Ben cũng đã nhiều lần tạm ngưng gõ chuông, chẳng hạn vào các năm 1934, 1956, 1979, 1983. Năm 2003, tiếng chuông Big Ben cũng tạm dừng trong lễ tang của bà Margaret Thatcher, nữ thủ tướng đầu tiên của Anh Quốc. Vào năm 2005 và 2007, ban quản lý cũng cho ngưng đánh chuông Big Ben trong các đợt kiểm tra và bảo dưỡng.
            Lần này, kiến trúc sư phụ trách việc tu sửa tháp Elisabeth đệ nhị, ông Adam Watrobski, giải thích: “Chúng tôi đã nghiên cứu nhiều giải pháp, chúng tôi đã lên kế hoạch tu bổ này từ nhiều năm nay. Đồng hồ phải ngưng hoạt động vì chúng tôi phải dỡ hẳn đồng hồ khỏi tháp, quả chuông cũng không còn gắn liền với đồng hồ nữa. Thêm vào đó, chúng tôi cũng không thể để các công nhân làm việc trên dàn giáo cao gần 100m mà phải chịu đựng trong suốt nhiều tháng âm thanh cường độ cao phát ra từ quả chuông cứ mỗi 15 phút.”
            Cô Lelia là người Ireland, sống ở Luân Đôn. Cô thích đi dạo gần tháp chuông. Mặc dù thất vọng vì khi công việc tu bổ bắt đầu, cô sẽ không còn được nghe tiếng chuông Big Ben trong vòng 4 năm, nhưng cô Lelia cũng sẵn lòng chờ đợi. Cô tự nhủ rằng, sau đợt tu bổ này, sẽ có nhiều người được ngắm nhìn vẻ đẹp của Big Ben hơn nữa.


LÊ HẢI
Tháng 8/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170830-luan-don-dòng-hò-big-ben-lạng-tiéng-chuong

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #70 vào: 26/10/2017, 22:04:20 »
Bảo Đại: Từ hoàng đế Việt “lực bất tòng tâm” đến “thường dân” Pháp

Chín năm đầu đời, hoàng tử Vĩnh Thụy sống trong nghi lễ Nho giáo nghiêm ngặt của triều đình Huế. Hàng ngày, một thầy giáo đến dạy ông những lời chỉ bảo của Khổng Tử, những nghĩa vụ và trọng trách của một hoàng tử. Cứ như vậy, trong vòng bốn năm, hoàng tử Vĩnh Thụy “sống một mình, dùng bữa một mình theo nhịp điệu không hề thay đổi, ngày nào cũng giống ngày nào” .(1) Khoảng một đến hai lần mỗi tháng, hoàng tử Vĩnh Thụy được phép dự bữa cơm của vua cha, hoàng đế Khải Định.

Mộ phần hoàng đế Bảo Đại tại nghĩa trang Passy, quận XVI, Paris

NĂM 9 TUỔI, hoàng tử Vĩnh Thụy chỉ nặng 20 kg, như giải thích trong cuốn hồi ký Le Dragon d’Annam (Con rồng An Nam, 1980) vì theo ông “chế độ đó không hề tốt cho bất kỳ đứa trẻ nào vì thiếu hoạt động thể chất. Điều này giải thích tại sao nhiều hoàng tử chết sớm. Ông tôi (vua Đồng Khánh) mất năm 25 tuổi, anh trai của ông tôi mất năm 14 tuổi”.
            Được chỉ định là người kế ngôi, lên 9 tuổi, hoàng tử Vĩnh Thụy được đưa sang Pháp du học. Tại đây, ông thích thú khám phá phương Tây và đặc biệt là các môn thể thao. Trả lời RFI tiếng Việt, nhà sử học Pierre Brocheux giải thích thêm:

             “Hoàng đế Bảo Đại là con trai của vua Khải Định và được chỉ định là người nối ngôi và giữ vai trò tối cao. Vì thế, hoàng tử Bảo Đại phải được nuôi dưỡng và giáo dục trong môi trường Pháp. Vì lý do này, hoàng tử Vĩnh Thụy sang Pháp (năm 9 tuổi) và được giao cho một cựu khâm sứ Trung Kỳ, ông Jean-François-Eugène Charles (được coi là cha nuôi của hoàng tử Vĩnh Thụy) và vợ, sống ở vùng Đông Pyrénées.
            Sau đó, hoàng tử lên Paris học phổ thông, không phải trong một trường công lập, mà trong trường tư thục Cours Hattemer. Trường này dành cho giới tư sản giầu có, học phí rất cao, nhưng rất nổi tiếng.
            Nhưng người ta cũng sắp xếp thêm cho hoàng tử một gia sư người Việt. Đó là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, lúc đó đang theo học hoặc đang chuẩn bị thi vào trường Bách Khoa (Polytechnique). Hoàng Xuân Hãn nói rằng khi ông chăm sóc hoàng tử Vĩnh Thụy, đó là một cậu bé tốt, rất thoải mái, chứ không phải là kiểu người ban ơn”.


            Năm 12 tuổi, hoàng tử Vĩnh Thụy lên ngôi nhưng quay lại Pháp tiếp tục học tập theo đúng di chúc của vua cha Khải Định. Việc triều chính được một nhiếp chính do Cơ mật viện đề cử đứng ra cai quản. Ngay sau khi vua Khải Định mất, một thỏa thuận đã được ký kết, đặt Cơ mật viện nằm dưới sự chỉ đạo của Khâm Sứ Trung Kỳ. Từ đó, Khâm Sứ và văn phòng Khâm Sứ đưa ra mọi quyết định, đặc biệt liên quan đến vấn đề ngân sách.


Hoàng đế trẻ Bảo Đại tại nhà của cựu Thống Sứ Trung Kỳ Charles ở Pyrénées, năm 1926

Bị tước quyền ngay trên đất nước
            Trong cuốn hồi ký, vua Bảo Đại viết mãi sau này ông mới được báo tin và nếu biết được trước, sẽ không bao giờ ông chấp nhận điều đó. Chính thỏa thuận này đã hạn chế quyền lực của vua Bảo Đại, khiến người ta có cảm giác vị vua cuối cùng của Việt Nam thành “bù nhìn” trong tay người Pháp.

             “Bảo Đại về Việt Nam năm 1932. Theo tôi, ông có rất nhiều ý tưởng cải cách trong đầu, như hiện đại hóa nền quân chủ. Nhưng ông gặp phải rất nhiều khó khăn. Trước hết là phía Pháp kìm hãm ông. Sau đó, phải nói đến vấn đề tài chính vì ngân khố hoàng gia được kho bạc Đông Dương chuyển vào, dường như chỉ khoảng 15% hay 20% tổng ngân sách chính phủ thuộc địa.
            Vì vậy mà ông bất lực. Ông như bị trói chân trói tay, bị vô hiệu hóa hoàn toàn. Điều này giải thích tại sao Bảo Đại thu mình trong các cuộc đi săn hay bên cạnh những người phụ nữ… Ông biết rõ người ta muốn làm gì với ông và những gì người ta muốn cấm ông làm. Trong thâm tâm, đó là cách để thoát khỏi triều đình buồn tẻ với rất nhiều nghi thức để đi gặp những người khác. Tôi nghĩ là điều này hoàn toàn hợp lý”.


            Trong Thế Chiến II, tình hình tại Việt Nam trở nên phức tạp hơn, giữa một bên là chính quyền thuộc địa Pháp và một bên là quân đội Thiên Hoàng. Theo nhà sử học Pierre Brocheux, dựa trên lời kể của cố giáo sư Hoàng Xuân Hãn, hoàng đế Bảo Đại rất thông minh và luôn theo sát tình hình chiến sự, trái ngược với những lời đồn thổi:

             “Dù gì thì cũng phải nói rằng, đó là một người luôn cập nhật những gì diễn ra quanh mình và theo dõi chặt chẽ tình hình trong nước. Ở điểm này, chúng ta có thêm một nhân chứng khác, đó là toàn quyền Đông Dương Decoux, lúc đó ông ở Đà Lạt nhiều hơn là ở Hà Nội. Trong hồi ký, ông tả lại làm thế nào hoàng đế Bảo Đại nắm được hết những gì đang diễn ra ở Đông Dương, ở châu Á lúc đó đang có chiến tranh hay tình hình thế giới. Gần như hàng ngày, cả toàn quyền và hoàng đế theo dõi trên bản đồ Thái Bình Dương và Đông Nam Á đà tiến quân hay sự rút lui của quân đội Thiên Hoàng”.

            Hoàng đế Bảo Đại từng viết cho tướng De Gaulle những dòng chữ sau: “Các ngài đã phải đau đớn trong vòng 4 năm để không hiểu được rằng dân tộc Việt Nam, với 20 thế kỷ lịch sử và một quá khứ thường xuyên oai hùng, không muốn và không thể chịu đựng thêm được bất kỳ sự đô hộ hay bất kỳ một chính quyền nước ngoài nào nữa”.
            Sau khi tuyên bố Việt Nam độc lập, thống nhất ba kỳ theo yêu cầu của quân đội Nhật, rồi chấp nhận thoái vị theo yêu cầu của Việt Minh, nhận làm cố vấn tối cao chính phủ lâm thời Việt Nam, trở thành đại biểu Quốc Hội khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, tham gia phái đoàn sang Trùng Khánh thăm Trung Hoa, hoàng đế Bảo Đại – giờ là “công dân Vĩnh Thụy” – quyết định lưu lại Hồng Kông, rồi sang Pháp sống đến cuối đời.
            Trong thời gian này, chính phủ Pháp, với hy vọng chiếm lại Đông Dương, đã dựng nên hình ảnh một Bảo Đại “hoàng đế của các hộp đêm”, “hoàng đế của các sòng bạc”, “hoàng đế có không biết bao nhiêu nhân tình, vũ nữ” để hạ uy tín hoàng đế Việt Nam lúc bấy giờ. Ông Pierre Brocheux giải thích tiếp:

             “Người Pháp đã dựng nên hình ảnh một quốc vương bất lực, thụ động, ít nhất là về mặt chính trị, phải đi tị nạn, bị lệ thuộc. Đó là những thông tin, những bộ phim được dựa trên thông tin hàng ngày, như Bảo Đại đi xem đua ngựa ở ngoại ô Paris hay có mặt trong một buổi tiệc và khiêu vũ. Ý tôi muốn nói đó là những hình ảnh bị bóp méo nhằm hạ thấp mọi khả năng cầm quyền của ông trong trường hợp trở lại lên ngôi ở Việt Nam nếu Việt Minh bị bại trận”.


Hoàng đế Bảo Đại. Ảnh chụp năm 1932

Yên nghỉ ở nghĩa trang Passy, quận XVI – Paris
            Ngày 31/07/1997, hoàng đế cuối cùng của Việt Nam qua đời tại Paris và được an táng tại nghĩa trang Passy rộng 1,7 ha, ngay gần quảng trường Nhân Quyền, ở quận XVI. Phải chờ đến gần 10 năm sau, mộ phần vua Bảo Đại mới được xây dựng kiên cố bằng đá cẩm thạch đen với số hiệu 20 P 1997 thay vì một tấm bê tông đặt phía trên như trước đó.
            Rất nhiều người Việt sống khắp nơi trên thế giới vẫn về viếng mộ hoàng đế Bảo Đại khi có dịp ghé Paris, từ những người cao tuổi, sống dưới thời nhà Nguyễn, đến thế hệ trẻ ngày nay, dù không sống dưới chế độ quân chủ.
            Người phụ trách nghĩa trang Passy cho RFI tiếng Việt biết:

             “Có những nhóm nhỏ khách du lịch, tôi nghĩ là người Việt, thường xuyên đến đây, và quanh năm, thỉnh thoảng có những nhóm 30 đến 40 người. Nhưng phải nói chủ yếu đó là người cao tuổi, đôi lúc cũng có nhiều người trẻ. Về phần vợ của nhà vua, tôi thấy bà ấy ít nhất mỗi tháng một lần.
            Nghĩa trang không chăm sóc, lau chùi các mộ phần ở đây. Gia đình người quá cố, nhiều khi là những người thân hoặc những người tôn trọng người quá cố đến dọn dẹp. Điều này giải thích tại sao mộ vua Bảo Đại bao giờ cũng sạch”.


            Vẫn theo người phụ trách, nghĩa trang đôi khi nhắm mắt cho qua một số buổi lễ tưởng nhớ hoàng đế Bảo Đại vì họ hiểu truyền thống thờ cúng của Việt Nam.

             “Đúng là thường có nhiều buổi tưởng niệm, dù không hẳn khiến gia đình vua Bảo Đại hài lòng. Vì thường họ đến đông, họ mang đồ lễ đến cúng và thỉnh thoảng để lại đồ trên mộ, làm bẩn xung quanh. Vì thế mà gia đình không hài lòng.
            Chúng tôi cho phép cúng lễ ở đây. Nhưng thường chúng tôi sẽ gặp trưởng đoàn, họ cũng giải thích với chúng tôi là muốn tổ chức một buổi lễ chẳng hạn. Dĩ nhiên là chúng tôi vẫn phải theo dõi vì họ không hiểu là họ chỉ thăm mộ nhà vua một chút thời gian, nhưng vài ngày sau chẳng hạn, gia đình đến và thấy đồ thờ cúng mà họ không muốn nên họ bị “sốc”. Tôi hiểu điều đó, có lẽ tôi cũng sẽ phản ứng như vậy”.


THU HẰNG
Tháng 10/2017

___________________________________
(1) S.M. Bảo Đại, Le Dragon d'Annam (Con Rồng An Nam), Paris: Plon, 1980.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171023-bao-dai-tu-hoang-de-viet-luc-bat-tong-tam-den-thuong-dan-phap
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #71 vào: 31/10/2017, 22:35:43 »
Halloween là gì?

Halloween (hay còn gọi là lễ hội Hóa Lộ Quỉ) là một lễ hội thường niên được tổ chức vào 31 tháng 10 hằng năm, được coi như một ngày tết, một lễ hội vui nhất trong năm đặc biệt là đối với giới trẻ bởi những trò chơi vô cùng kỳ bí và hấp dẫn. Nó là sự pha trộn giữa những nghi lễ tôn giáo và tập tục cổ xưa của nhiều nền văn hóa khác nhau, trải qua thời gian mới trở thành một lễ hội như chúng ta biết đến ngày nay và được xem là một trong những lễ hội lâu đời nhất và phổ biến nhất.

Lễ hội Halloween

NẾU NHƯ TRƯỚC ĐÂY, lễ hội Halloween chỉ diễn ra ở các nước phương Tây theo công giáo, thì nay đã trở thành một sự kiện văn hóa thường niên được người dân trên toàn thế giới mong đợi. Trong những ngày diễn ra lễ hội, nhà nhà trang trí những hình nộm phù thủy, mèo đen, bí ngô lập lòe ma quái; người người tìm cho mình những trang phục gây ấn tượng mạnh trong đêm hội hóa trang… Mọi người dường như cũng quen với câu chúc “Halloween vui vẻ!”
            Vậy điều thú vị gì trong lễ hội Halloween mà sức hút của nó lại lớn đến vậy? Hãy cùng khám phá về nguồn gốc và những điều thú vị trong ngày lễ Halloween nhé!

Khám phá nguồn gốc lễ hội Halloween
            Lễ hội Halloween ngày nay bắt nguồn từ dân tộc Celt, là một dân tộc sống cách đây hơn 2.000 năm trên các vùng đất bây giờ là Anh quốc, Ái Nhĩ Lan và miền Bắc nước Pháp. Dân tộc Celt bắt đầu năm mới vào ngày 1 tháng 11 Dương Lịch. Một lễ hội được cử hành vào đêm trước năm mới để vinh danh vị thủ lãnh đã quá cố là Samhain. Ngày lễ hội này báo hiệu sự bắt đầu của mùa lạnh, của những ngày tối tăm thường được liên kết với sự tàn tạ và sự chết của loài người. Dân tộc Celt tin rằng Samhain cho phép những linh hồn người chết được trở về nhà trên trần gian vào đêm hôm đó.
            Vào năm 43 (Tây lịch kỷ nguyên), người La Mã chinh phục vùng đất của dân tộc Celt và cai trị khoảng 400 năm (vùng này bây giờ là Anh Quốc). Trong giai đoạn này có hai lễ hội Samhain của dân tộc Celt. Một trong hai lễ đó là FEALIA được cử hành vào cuối tháng Mười để vinh danh những người đã chết, lễ thứ hai dành cho Pomona, nữ thần La Mã về cây và quả. Có lẽ vì nữ thần Pomona mà quả táo (apple) đã được kết hợp vào lễ hội Halloween. Sau ngày lễ Chư Thánh, tại Anh Quốc, còn có ngày “Các vong hồn” vào mồng 2 tháng 11. Tại Anh Quốc, Halloween đôi khi được gọi là Nutcrack Night or Snap Apple Night vì mọi người trong gia đình ngồi quanh lò sưởi kể chuyện và ăn đậu phụng rang hoặc nhai “táo”.
            Vào ngày “Các vong hồn”, những người nghèo đi “khất thực cô hồn” (went-a-souling) và họ sẽ được bố thí bánh trái gọi là “soul cakes” (bánh vong hồn) để họ hứa là sẽ cầu nguyện cho “các vong hồn”.
            Vào giữa thế kỷ 19, tục lệ “trick or treat” chưa được phổ biến ở các thành phố lớn vì ở những nơi này “hàng xóm láng giềng” hầu như không có; nhiều người ở cạnh nhau mà không quen biết nhau, cho nên Halloween đôi khi gây ra những sự việc tai hại. Ngày nay, nhiều cộng đồng, nhiều tổ chức đã đứng ra bảo trợ các tục lệ vui chơi của ngày Halloween, nên nó đã trở thành một ngày lễ hội rất vui thú của thiếu niên và một số thanh niên.
            Halloween có tên gốc là All Hallows’Eve, có nghĩa là đêm trước Ngày lễ các thánh. “Hallow” là một từ tiếng Anh cổ có nghĩa là “thánh”. Tên ngày lễ sau đó được cắt thành Hallowe’en và cuối cùng là Halloween như chúng ta biết ngày nay.
            Lễ hội Halloween ngày nay phần lớn mọi người đều coi đó là một lễ hội vui chơi với những quả táo của lễ hội Pomona, con mèo đen của lễ hội Sanhaim và những con ma, bộ xương của ngày lễ các thánh và các linh hồn, All Saint’s Day và All Soul’s Day.



Có rất nhiều truyền thuyết khác nhau về lễ hội Halloween
            Sử gia Nicholas Rogers, người đã khám phá nguồn gốc của ngày Halloween, lưu ý rằng trong khi “một số nhà nghiên cứu văn học dân gian đã phát hiện nguồn gốc của nó trong lễ La Mã của Pomona, nữ thần của trái cây và hạt giống, hoặc trong ngày lễ của người chết gọi là Parentalia, nó rõ ràng có liên quan đến các lễ hội Celtic của Samhain, mà ban đầu được gọi là Samuin”. Tên gọi này có nguồn gốc từ tiếng Ailen cổ và có nghĩa là “kết thúc mùa hè”. Một lễ hội tương tự đã được tổ chức bởi những người Anh cổ đại và được biết đến như Calan Gaeaf.
            Lễ hội Samhain kỷ niệm kết thúc “nửa sáng” của năm và bắt đầu của “nửa tối”, và đôi khi được coi là “Năm Celtic mới”.
            The Celts cổ xưa tin rằng biên giới giữa thế giới này và các thế giới khác trở thành mỏng trên Samhain, cho phép những linh hồn (cả hai loại vô hại và có hại) để đi qua. Linh hồn của gia đình, ông bà tổ tiên đã được vinh danh và mời vào nhà trong khi tinh thần độc hại đã được ngăn chặn. Người ta tin rằng sự cần thiết để tránh khỏi những linh hồn tà ác dẫn đến việc mặc trang phục và mặt nạ. Mục đích của họ là để ngụy trang mình như là một linh hồn tà ác và do đó tránh tổn hại. Ở Scotland các linh hồn đã mạo nhận bởi những người đàn ông trẻ mặc áo trắng đeo mặt nạ, che khuất hoặc bôi đen khuôn mặt. Samhain cũng là một thời gian để dự trữ thực phẩm và gia súc giết mổ cho các cửa hàng mùa đông. Đống lửa hội đóng góp một phần lớn trong các lễ hội. Tất cả các đống lửa khác bị dập tắt và mỗi nhà thắp sáng lò sưởi của họ từ lửa trại. Các xương gia súc giết mổ đã được ném vào đống lửa hội. Đôi khi hai đống lửa sẽ được nhóm gần nhau, và mọi người cùng gia súc của họ sẽ đi bộ giữa chúng như là một nghi lễ tẩy rửa.
            Một tập tục phổ biến là bói toán, thường liên quan đến việc sử dụng thực phẩm và đồ uống.
            Tên gọi “Halloween” và nhiều truyền thống của nó ngày nay bắt nguồn từ thời Anh cổ xưa.
            Nguồn gốc của tên từ Halloween là lần đầu tiên được chứng thực trong thế kỷ 16 và đại diện cho một biến thể Scotland đầy đủ hơn các Tất cả Linh – Ngay cả (“tối”), nghĩa là, vào đêm trước Ngày lễ Các thánh. Khoảng đầu thế kỷ 20, cách viết “Hallowe’en” đã được sử dụng thường xuyên, đọc lướt âm “v” và rút ngắn từ. Mặc dù cụm từ “Các thánh” được tìm thấy trong tiếng Anh (ealra hālgena mæssedæg, ngày của tất cả các vị thánh), All Hallows – Ngay cả bản thân nó không được chứng thực cho đến năm 1556.


Những điều thú vị trong lễ hội Halloween
Vì sao quả bí ngô lại được tỉa theo hình mặt người cười toét miệng?
            Theo truyền thuyết của người Ireland thì xưa có một anh chàng biệt danh là Jack Hà Tiện. Một hôm anh chàng Jack này mời quỉ đi uống rượu. Nhưng Jack Hà Tiện lại không muốn trả tiền rượu, nên chàng ta bèn dụ dỗ con quỉ hãy hóa phép tự biến thành thành đồng tiền để Jack hà tiện mua rượu cùng nhậu cho vui. Khi quỉ nghe bùi tai biến thành đồng tiền thì Jack nhặt ngay lấy bỏ vào túi áo trong đó có sẵn một thánh giá bằng bạc khiến quỉ không thể trở lại nguyên hình quỉ được nữa. Nhưng rồi sau Jack đã giải phóng cho quỉ với điều kiện là quỉ không được quấy nhiễu Jack trong suốt một năm, và nếu Jack chết, quỉ cũng không được thu linh hồn của Jack.
            Cho đến năm sau Jack lại đánh lừa được quỉ để quỉ leo lên cây cao hái quả. Trong lúc quỉ còn đương loay hoay trên cây thì Jack khắc ngay một thánh giá vào thân cây, thế là quỉ sợ không dám leo xuống cho đến khi quỉ hứa không được quấy nhiễu Jack thêm mười năm nữa rồi Jack mới bóc chỗ vỏ cây có khắc thánh giá đi.
            Chẳng bao lâu sau đó thì anh chàng Jack Hà Tiện qua đời. Hồn ma của Jack đến gõ cửa thiên đường nhưng thượng đế không nhận cho một kẻ tinh ranh láu cá như vậy lên cõi trời. Xuống địa ngục thì gặp quỉ bị lừa khi trước còn tức tối nên Jack muốn vào địa ngục cũng không xong. Tuy nhiên giữ lời hứa không bắt hồn Jack, quỉ đuổi Jack đi và chỉ cho Jack một cục than hồng để mà dò đường trong đêm tối. Jack Hà Tiện bỏ cục than cháy đỏ vào trong một củ cải tròn khoét ruột làm đèn và từ đó cứ luẩn quẩn khắp cõi dương gian. Người Ireland gọi là Jack of the Lantern, tức là Jack lồng đèn, và sau biến thành Jack-O’Lantern.
            Người Ireland khoét ruột củ cải tròn hoặc củ khoai tây theo hình mặt người cười láu cá như vậy đem bày ở bệ cửa sổ hay gần cửa ra vào để xua đuổi những hồn ma vất vưởng như Jack Hà Tiện khỏi xâm nhập vào gia cư của họ. Khi những di dân từ Ireland và Anh quốc tới Hoa Kỳ, họ thấy rằng quả bí đỏ, tức bí ngô hay bí rợ, một thổ sản phong phú ở vùng đất mới, là nguyên liệu thích hợp nhất để họ khoét ruột tỉa hình mặt anh chàng Jack-O’Lantern.
            Quả bí đỏ, xưa nay vẫn tượng trưng cho sự phong phú của mùa màng miền bắc Mỹ, được trồng rất nhiều tại Hoa Kỳ. Hàng năm vào trước lễ Halloween mấy tuần, các nông gia mở hội thi xem ai trồng được quả bí to nhất. Quả bí khổng lồ từng phá kỷ lục thế giới nặng hơn 536kg, cao gần 1 mét và chu vi gần 4 mét rưỡi.
            Ngày nay, với trái bí ngô màu vàng quen thuộc của lễ Halloween, các loài động vật từ hổ, báo, gấu cho đến hà mã, khỉ, vẹt đều thể hiện những giây phút hết sức ngộ nghĩnh và đáng yêu của mình.

Đến những món ăn rùng rợn
            Theo truyền thống, lễ hội là thời điểm mà những người ngoại giáo tích trữ nguyên vật liệu và giết mổ vật nuôi để dự trữ trong mùa đông. Người Gaelic tin rằng vào ngày 31 tháng 10, bây giờ được biết đến là lễ Halloween, là thời điểm ranh giới giữa sự sống và cái chết biến mất và cái chết trở nên nguy hiểm cho sự sống do những nguyên nhân như bệnh tật hoặc phá hoại mùa màng. Các lễ hội thường có liên quan đến lửa ăn mừng, khi đó thì xương của các con vật nuôi bị giết thịt được ném đi.
            Trang phục hóa trang và mặt nạ cũng được mặc trong lễ hội nhằm cố gắng bắt chước các linh hồn quỉ dữ hay làm xoa dịu chúng. Và cùng với những trang phục ghê rợn đó là những món ăn cũng không kém phần ghê rợn trong bữa ăn dành cho gia đình mình mà có hình dạng dường như thường ngày chỉ dành cho ma quỉ ăn. Những món ăn đặc trưng của ngày Halloween là món súp bí, trẻ con thì mê mẩn Bánh Halloween, Bánh quy Halloween vì hình dáng ngộ nghĩnh và màu sắc rực rỡ…
            Tuy nhiên, các món ăn trong ngày Hallowen cũng được làm rất sáng tạo để không khí tiệc trở nên thật rùng rợn. Từ những món ăn ngọt các loại bánh đến các loại đồ ăn mặn đều được người ta sáng tạo theo những phong cách quái dị nhất mà không phải ai cũng dám ăn.
            Đơn giản bạn có thể mua xúc xích về, sau đó rửa sạch vây cá cắm ở đầu của cây xúc xích để tạo ra một món ăn như những ngón tay của con người thật. Hay Bánh sô-cô-la nhân kem cắt hình ma trơi. Những ống máu ma cà rồng được làm từ nước bí rợ đặt trong lồng gỉ sắt.
            Hay từ xúc xích và bột mì, người ta có thể làm hình một xác ướp bằng cách bạn cán bột mì mỏng và quấn quanh những cây xúc xích bớt lại phần đầu để làm mặt. Dùng sô-cô-la hay dùng những hạt đỗ đen để làm mắt.
            Để thêm rùng rợn hơn cũng từ bột mì, có thể nặn bột thành những cái xương người sau đó đem chiên vàng. Thay vì dùng bột mì, có thể cắt khoai tây thành hình chiếc xương người hay dùng dao nhọn khoét lỗ thành hình người rồi đem chiên đến khi vàng. Hoặc người ta dùng bột mì nhào kỹ sau đó viên thành những viên nhỏ có chiều dài khoảng 30 cm sau đó phần dưới bóp nhẹ từng phần tạo phần ngón tay. Còn phần trên nặn thành hình móng tay hoặc có thể dùng hạt dưa cắm lên đầu ngón tay để làm móng nhưng không phải ai cũng dám ăn.



Những tập tục độc đáo trong lễ hội Halloween
            Halloween được coi như một ngày tết, một lễ hội vui nhất trong năm đặc biệt là đối với trẻ nhỏ bởi những trò chơi lý thú, hấp dẫn. Rất nhiều những trò chơi truyền thống có lịch sử từ rất lâu đời nhưng vẫn luôn mang đến cho mọi người cảm giác thích thú, hứng khởi khi chơi.
            Trong ngày lễ Halloween, người ta đốt lửa với hi vọng mặt trời sẽ ngày lại ngày chiếu sáng và lưu lại trong thời gian lâu hơn, giúp cho mùa màng bội thu. Những đống lửa này thu hút nhiều muỗi, cú và dơi – những động vật cấu thành sự tích đêm các Thánh, và cũng là ánh sáng giúp con người tránh xa các linh hồn quỉ dữ.
            Đốt lửa cũng là một cách khuyến khích các tiên nữ ra khỏi những nấm mồ và đi dạo cùng người sống. Rất nhiều người tin rằng đó là lí do tại sao người ta thích mặc theo lối giả trang trong lễ Halloween, nó khiến mỗi người được sống bằng con người khác, không còn là bản thân họ nữa. Những bộ trang phục và mặt nạ sẽ làm cho các linh hồn quỉ dữ nhầm lẫn, hoặc góp phần xua đuổi chúng.

Trang trí lồng đèn: Lễ hội đèn lồng bắt nguồn từ tập quán của người Ireland. Theo truyền thuyết kể lại, Jack là người nổi tiếng vì nghiện rượu và tư chất thông minh. Anh đã lừa con quỉ Satan trèo lên ngọn cây, sau đó khắc hình một chữ thập lên gốc cây và trói con quỉ trên đó. Jack thỏa thuận với con quỉ nếu nó không trêu chọc anh nữa thì anh sẽ thả nó xuống.
            Do phạm nhiều tội lỗi cho nên khi chết, ông không được lên thiên đàng hay xuống địa ngục. Do vậy, ông phải đi lang thang nhiều nơi tìm kiếm một chỗ trú chân. Hơi ấm duy nhất sưởi ấm cho ông trong giá lạnh là ngọn nến leo lét trong củ khoai tây thối.
            Trẻ em thường chơi trò đục khoét quả bí ngô, củ khoai tây hoặc bí đao; sau đó khắc hình thù những khuôn mặt lên đó, đặt nến vào bên trong để thắp sáng. Những chiếc lồng đèn này được gọi là “Jack O’Lantern”, xuất phát từ truyền thuyết về anh chàng tên Jack vì tính keo kiệt và những cú lừa với quỉ nên khi chết, anh ta không được lên thiên đường cũng như xuống địa ngục, phải làm linh hồn lang thang với chiếc đèn bí ngô.

Lễ hội hóa trang: Đây là phong tục phổ biến nhất vào Halloween, đặc biệt là đối với trẻ em. Trang phục thường gặp là những bộ quần áo hóa trang phù thủy, ma quỉ, các nhân vật hoạt hình nổi tiếng hoặc những sinh vật siêu nhiên khác…

Trick-or-Treat: Trong suốt lễ hội Samhain, vị thần Druids cho rằng người chết sẽ tìm đến lừa, gây hoang mang, lo sợ và phá hoại con người. Những hồn ma đi lại ăn xin và đến nhà nào, gia chủ phải cung cấp thức ăn cho chúng.
            Chính vì thế, trong tuần lễ Halloween, trẻ em phương Tây rất hứng thú với trò “gõ cửa xin ăn” này. Chúng mặc trang phục hóa trang và đeo mặt nạ rồi đi từ nhà này qua nhà khác, gõ cửa để gặp chủ nhà và nói câu “trick-or-treat”.
            Trò chơi “Trick Or Treat”. “Trick” nguyên ngĩa là: đánh lừa, trò chơi tinh ma ngịch ngợm, “Treat” là tiếp đón, đối xử tử tế, tiếp đãi. Các em nhỏ và thiếu niên, thanh niên hóa trang với áo quần và mặt nạ hình ma quỉ, rồi cầm lồng đèn đi từ nhà này sang nhà khác trong xóm, gõ cửa và nói “trick or treat”. Câu này có nghĩa là: “Nếu muốn chúng tôi không chơi xấu thì hãy đãi chúng tôi cái gì đi”. Thông thường những người láng giềng luôn luôn muốn tránh việc “trick” nghĩa là chơi đòn đánh lừa nên thường tiếp đón (treat) chúng bằng kẹo và trái cây (theo tục lệ có nhét đồng tiền ở bên trong).

Đớp táo: Khi người Celtic bị người La Mã đánh chiếm, nhiều phong tục của người La Mã theo đó cũng du nhập vào đất Celtic, trong đó có lễ hội thờ nữ thần mùa màng Pomona. Vị thần này thường “ẩn náu” trong giỏ hoa quả. Quả táo là một thứ hoa quả linh thiêng dùng để thờ cúng thần linh, do đó nhiều trò chơi có liên quan đến loại quả này xuất hiện trong lễ hội Samhain.
            Có rất nhiều hình thức chơi liên quan đến táo trong đêm Halloween, phổ biến nhất là hình thức thi nhau lấy được thật nhiều quả táo trong thau nước, hoặc thi gọt vỏ táo, vỏ táo càng dài thì càng sống lâu…
            Phong tục lấy táo vào đêm các Thánh không phải là trò chơi mà thực ra là một nghi lễ lấy may. Người nào càng lấy được nhiều táo, người đó càng gặp nhiều may mắn trong năm tới. Thiếu nữ nào túm được quả táo, chắc chắn cô ấy sẽ kết hôn năm đó.
            Một trò chơi khác cũng rất phổ biến, người ta treo mật đường hoặc sirô đặc, sệt, rất dính bằng một sợi dây thừng. Người chơi sẽ phải ăn chúng mà không dùng đến hai tay, trong khi đó những người còn lại giữ cố định sợi dây, đây là một trò chơi mà chắc chắn sẽ làm mặt bạn dính bẩn, nhưng bù lại là cực kì vui.
            Một vài trò chơi khác trong lễ Halloween mang tính chất bói toán. Một trò chơi xuất xứ từ Ireland, người bị bịt mắt sẽ ngồi trước một cái bàn đã chuẩn bị sẵn những chiếc đĩa. Đĩa sẽ bị xáo trộn và người chơi sẽ chọn một chiếc đĩa bằng cảm giác của mình. Vật chứa trong chiếc đĩa sẽ chỉ ra tương lai của người chơi. Tuy nhiên chỉ là bói cho vui mà thôi!
            Thậm chí trong dịp Halloween nhiều phụ nữ cho rằng nếu họ ngồi trong phòng tối và nhìn chăm chú vào gương thì gương mặt người chồng tương lai của họ sẽ xuất hiện.
            Ngoài ra vào ngày này mọi người thường kể cho nhau nghe những câu chuyện ma, xem phim ma hoặc những bộ phim kinh dị. Nhà ma cũng là địa điểm hấp dẫn cho nhiều người.



Ý nghĩa của ngày lễ hội Halloween
Ý nghĩa giáo dục: Hành động và cuộc đời của Jack đã trở thành những kinh nghiệm để tuổi trẻ rút ra một bài học làm người, đó là:


Sống không nên tham lam, bủn xỉn, keo kiệt
Phải có lòng bác ái, từ bi, biết giúp đỡ kẻ khó khăn

            Không nên chơi đùa với ma quỉ. Ma quỉ hiểu theo nghĩa bóng là những trò lừa lọc, đe dọa, làm cho người khác sợ hãi, những việc làm tinh quái do trí thông minh và tưởng tượng của tuổi trẻ sáng tạo ra có khi làm hại đến người, đến xã hội… Chơi đùa, giao du với ma quỉ sẽ dễ bị cám dỗ đi vào đường tối tăm và tội lỗi.
            Tuy nhiên, chuyện anh chàng Jack trong đêm Halloween cũng ghi nhận một thái độ sòng phẳng của quỉ, đó là “ân đền, oán trả” và “giữ lời hứa”. Dù rằng sự “giữ lời hứa” này đã làm cho Jack rơi vào thân phận cô hồn lang thang vất vưởng.
            Đối với các xã hội Âu, Mỹ Halloween đã trở thành lễ hội vui chơi hằng năm cho trẻ em và cả người lớn. Ít người quan tâm tìm hiểu ý nghĩa nhân bản của nó.

Ý Nghĩa nhân bản: Nếu đào sâu hơn, có lẽ sẽ tìm thấy tính cách nhân bản trong câu chuyện. Thử đặt câu hỏi: tại sao dưới ánh sáng khoa học và kỹ thuật mà các nước Âu, Mỹ vẫn dành một ngày lễ hội cho người của “cõi Âm” mà đại diện là chàng Jack?
            Jack là nhân vật tưởng tượng nhưng đã thực sự hiện thân trong cuộc đời, trong thân phận làm người… mà lại là một người cô đơn. Khi chết, Jack trở thành cô hồn, không chỗ dung thân… Thiên Đàng và Địa Ngục đều từ chối!
            Truyền thống lễ hội Âu Mỹ đã dành cho Jack một ngày. Một ngày được trở lại với cõi dương. Trong ngày đó, Jack có thể sống vui chơi thoải mái, vì người sống đã hóa trang thành ma quỉ để linh hồn Jack có chỗ trà trộn vào cho đỡ cô đơn. Đây là ý nghĩa nhân bản của lễ hội Halloween.
            Với ý nghĩa nhân bản này, ngày lễ Halloween và Rằm tháng Bảy Âm lịch của nước ta có thể xem như là ngày hai cõi Âm, Dương hội ngộ trong niềm thương cảm bao la…



Halloween ở các nước trên thế giới
            Ngoài những ý nghĩa tôn giáo như các lễ hội của nhiều nơi trên thế giới song tại mỗi nước châu Âu lễ hội Hóa Lộ Quỉ lại có những đặc trưng riêng biệt do lịch sử, văn hóa của từng nước.
            Ngày lễ này được tổ chức ở các nước phương Tây, chủ yếu ở Hoa Kỳ, Canada, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Ireland, Puerto Rico và bắt đầu trở nên phổ biến tại Úc và New Zealand. Nó được người Celt ở Anh, Pháp, Ireland tổ chức để tạ ơn sau mùa thu hoạch. Người Ireland, Scotland, Wales cùng những người nhập cư khác đã mang phiên bản của lễ hội này tới vùng Bắc Mỹ thế kỷ 19.

Tại Mexico: Khác hẳn với lễ hội tại các nước khác, Hóa Lộ Quỉ của người Mexico mang tính chất tưởng nhớ những người thân đã khuất nhiều hơn là xua đuổi những linh hồn lang thang. Vào mùa thu, vô vàn những con bướm vua chúa lũ lượt bay về Hóa Lộ Quỉ làm tổ trên những cây linh sam. Niềm tin vào những người Aztecs (một bộ tộc da đỏ sống ở Trung Mỹ vào khoảng thế kỷ 14,15) vẫn còn sống động trong tâm tưởng những người Hóa Lộ Quỉ đương đại. Họ tin rằng những con bướm là hiện thân là linh hồn của những người đã chết. Đó là những linh hồn mà người Mexico rất trân trọng trong suốt những ngày “Los Dias de los Muertos”, ngày của những người đã khuất.
            Trong ngày lễ Hóa Lộ Quỉ, người Mexico vui chơi thật thoải mái. Đó là giai đoạn để nhớ về bạn bè và người thân đã chết. Ngày của các thánh và ngày của các linh hồn ở đây là từ 31/10 đến 2/1. Tất cả bệ thờ trong các gia đình được trang hoàng với bánh mì, nến, hoa và quả. Những cây nến được thắp sáng trong nỗi nhớ thương về tổ tiên đã khuất. Người ta hóa trang trong bộ quần áo hình ma quỉ, xác chết và những bộ xương người. Họ diễu hành với một người sống được đặt trong một quan tài trên các phố. Hoa, quả và nến được ném vào trong quan tài. Các gia đình tới thǎm nghĩa trang và dùng những dụng cụ đắp và trang trí mộ. Họ ở đó suốt đêm.
            Nhìn chung lễ hội Los Dias de los Muertos – Hóa Lộ Quỉ ở Mexico có nhiều điểm khá tương đồng với Lễ Vu Lan (Xá tội vong nhân) vào rằm tháng 7 lịch âm tại Việt Nam. Tại lễ Hội này người ta tưởng nhớ những người thân và không xua đuổi những linh hồn lang thang như đa phần các lễ hội Hóa Lộ Quỉ tại các nước khác.

Tại Anh: Tâm điểm của lễ hội Hóa Lộ Quỉ hàng năm chính là lễ đốt lửa. Vào lễ hội người ta luôn bắt gặp những đống lửa rực cháy trên các đường phố nước Anh. Song khác với các Halloween ở những nơi khác trên thế giới những đống lửa này không phải để xua đuổi tà ma và các linh hồn lang thang mà để nhắc đến câu chuyện của Guy Fawkes, người có ý định làm nổ tung Toà nhà Hội đồng ở London vào 1605 theo lịch của nhà thờ. Ông ta bị giáng một cái chết thê thảm. Người ta tin rằng Giáo hoàng thời đó đã dùng những cuộc cách mạng để cải tổ đạo Cơ Đốc giáo ở nước Anh. Rất nhiều hình nộm của Guy Fawkes bị đốt cháy.
            “Jack O’Lantern” ở Anh được làm bằng củ cải đường. Ở thành thị, người ta sẽ diễu hành ở các đường phố, hát bài hát “Punkie night song” và không quên mang những củ cải đường đã được chạm khắc theo. Ở vùng nông thôn, “Jack O’Lantern” được treo ở ngoài cổng để bảo vệ ngôi nhà khỏi những linh hồn lang thang đêm Halloween. Người Anh còn có một tập tục nữa là ném đá, rau cải và quả hạch vào lửa để xua tan sự sợ hãi những linh hồn lẩn khuất. Trò “trick or treat” cũng rất được yêu thích tại Anh.

Tại Đức: Người ta mừng hội Hóa Lộ Quỉ với sự thích thú và vui vẻ tột bậc. Hóa Lộ Quỉ ở Đức ngoài những chiếc đèn bằng bí ngô nhà nào cũng có thì lễ hội hóa trang làm là hoạt động thu hút sự tham gia của nhiều người nhất. Mọi người với những trang phục của những nhân vật truyền thống, của những mụ phù thủy nhảy múa, ca hát xung quanh những đống lửa lớn một cách vui vẻ suốt ngày đêm.
            Người Đức thường có phong tục ném dao ra đường vào đêm Halloween với lí do họ sẽ ngăn chặn được sự đáng sợ khi các linh hồn trở về.
            Tham dự lễ hội này, người dân Đức và du khách có cơ hội chiêm ngưỡng những quả bí ngô có hình dáng đặc biệt, ngoài ra, điểm nổi bật của lễ hội là hình ảnh những ngôi nhà, con vật được xếp từ hàng trăm quả bí ngô.

Tại Ireland: Được xem là đất nước của lễ hội Halloween, cách thức tổ chức giống như ở Mỹ. Ở những vùng nông thôn, người ta vẫn đốt lửa và quây quần các gia đình bên nhau như hàng ngàn năm trước. Trò “đớp táo”, táo sẽ được đưa treo lên khung cửa hoặc trên cây và người chơi sẽ cố gắng cắn cho bằng được những quả táo đó. Món ăn truyền thống trong lễ Halloween của người Ireland là món “barnbrack”, một loại bánh nướng trái cây. Người ta sẽ bọc một cọng rơm hoặc một cái vòng nhỏ lại bằng vải và đặt vào chiếc bánh. Nếu người nào ăn trúng miếng bánh có chiếc vòng thì tin “hỷ” sẽ chóng tới, còn nếu tìm thấy được cọng rơm thì đó là một năm làm ăn thịnh vượng. Trẻ em vẫn chơi trò “trick or treat” quen thuộc của chúng trong đêm Halloween.

Tại Pháp: Đồ hóa trang ở Pháp thường là những trang phục rất đáng sợ – xác ướp, yêu tinh, phù thủy, ma cà rồng… chứ không phải là những công chúa, hoàng tử hay nhân vật hoạt hình như ở Mỹ. Trò “trick or treat” hiếm khi xuất hiện, nếu có thì không phải từ nhà này sang nhà khác mà là từ cửa hàng này sang cửa hàng kia. Tuy nhiên, Halloween vẫn chưa được xem là một ngày lễ quan trọng tại Pháp vì Halloween vốn được nhiều người Pháp cho rằng đó là một lễ hội không phải của mình và họ không thích điều đó.

Tại Nhật Bản: Nhật Bản không tổ chức Halloween theo kiểu Mỹ. Mặc dù hầu hết người dân ở đây đều biết chút ít về lễ Halloween tại Mỹ, biết về lễ hội hóa trang, quả bí ma và trò “trick or treat”… Người Nhật đón chào lễ hội Obon (còn được gọi là “Matsuri” hoặc “Uarbon” – phát âm như “oh bone”). Lễ hội này tương tự như Halloween ở chỗ nó dành cho các linh hồn của người đã khuất. Thức ăn được chuẩn bị rất kỹ lưỡng, đèn lồng đỏ được treo khắp nơi. Người ta còn thắp nến trong các lồng đèn nhỏ và thả trôi trên các dòng sông. Lễ hội Obon thường được tổ chức vào tháng bảy hoặc tháng tám.

Tại Việt Nam: Halloween giờ đây đã không còn là một cụm từ làm “nổi da gà” các bạn trẻ Việt Nam mà nó thực sự trở thành một lễ hội hóa trang đặc biệt được mong đợi nhất trong năm. Trong những ngày đón lễ hội Halloween, nhiều cửa hàng trên những tuyến đường Hà Nội và Sài Gòn bày bán nhiều đồ hóa trang phục vụ Halloween. Những món đồ độc và ấn tượng như quan tài, áo ma, bộ khung xương người… Nhiều người kỳ công hơn còn đặt may những phục trang kinh dị hay đặt thiết kế những mẫu mặt nạ độc.



Có gì đặc biệt trong lễ hội Halloween ở nước Mỹ
            Halloween đến Hoa Kỳ do những di dân đầu tiên, đa số đến từ Anh Quốc và một số từ các vùng thuộc dân tộc Celt, họ đã đem qua Mỹ khá nhiều phong tục khác nhau. Nhưng vì lý do tín ngưỡng bị giới hạn, nghĩa là lúc đầu các tôn giáo lớn đưa ra giới luật tương đối chặt chẽ, nên việc cử hành lễ Halloween chưa được phổ cập trong dân chúng. Mãi đến thập niên đầu của thế kỷ 19 mới trở nên tục lệ được nhiều người hưởng ứng. Ngày nay nó đã trở thành ngày lễ lớn của người dân trên toàn nước Mỹ.
            Đến tháng 10 khắp nơi trên nước Mỹ đều có những hình ảnh về ngày lễ Hóa Lộ Quỉ. Hình người bù nhìn rơm, vải nằm bên cạnh mấy chùm bắp khô, bà phù thủy mũi nhọn hoắt mặc áo đen ôm cán chổi, quả bí ngô được tỉa theo hình mặt người cười toét miệng, hình những con ma, con dơi, được dán lên cửa kính hay cửa sổ trước nhà…
            Trong siêu thị, các cửa hàng bách hóa bán đồ gia dụng và các tiệm thuốc tây không ai không thấy hàng núi kẹo đủ loại, đủ kiểu, đủ màu được bày bán cùng với các loại y phục để mặc hóa trang trong ngày này: mặt nạ quỉ nhe nanh, ma cà rồng miệng bê bết máu, cho đến những mặt nạ, hay những bộ y phục tương đối hiền lành hơn rập theo các nhân vật trong những phim hoạt hình ăn khách.
            Vào ngày lễ này trẻ em thường chơi trò “trick and treat”, chúng đến từng nhà thu thập những cây nến, táo và nhiều thứ khác. Chúng chính là những người vui vẻ nhất trong lễ hội này. Vì vậy lễ hội Halloween tại nước Mỹ được trẻ con đón mừng nồng nhiệt nhất, nhưng không phải nó chỉ dành riêng cho các em. Trẻ con được cha mẹ, anh chị dẫn đi xin kẹo vào tối ngày 31/10 là điều dĩ nhiên, nhưng những nguời lớn trong lứa tuổi từ 18 đến 24 vẫn thường hay mở tiệc hay đi dự dạ tiệc hóa trang vào đêm cuối cùng của tháng 10. Số người trong lứa tuổi từ 25 đến 44 thì dẫn con em đi xin kẹo hoặc ở nhà tỉa quả bí ngô thành hình mặt người cười, người Mỹ gọi là Jack-O’Lantern. Và hầu hết những người trên 45 tuổi thì ở nhà để phát kẹo khi trẻ con gõ cửa đến xin.
            Hóa Lộ Quỉ là lễ được nhiều người trang hoàng và ăn mừng lớn thứ nhì trong các lễ hội mùa đông ở Mỹ. Người Mỹ tiêu tiền khá nhiều và trung bình trong những năm trở lại đây, các nhà bán lẻ đã thu về tổng cộng trên 40 triệu đô la cho toàn mùa lễ này.
            Có những trường hợp, vai trò của lễ hội là để vui chơi, kỷ niệm các sự kiện, và trong những trường hợp khác, lễ hội mang tính thiêng liêng. Dù mục tiêu của lễ hội là gì thì nó cũng là một khoảng thời gian đầy ắp các hoạt động làm thay đổi đời sống thường ngày của cả một cộng đồng.


Theo Cinet
Tháng10/2017


http://vnreview.vn/tin-tuc-xa-hoi-so/-/view_content/content/787407/halloween-la-gi-tai-sao-halloween-dien-ra-ngay-31-10

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #72 vào: 02/11/2017, 20:16:10 »
Thanh Lan, tiếng hát của tài và sắc

Có một người nghệ sĩ mà nếu gọi cô là ca sĩ, hay tài tử điện ảnh đều đúng, vì với vai trò nào cô cũng tỏa sáng. Với dòng nhạc nào, Việt, Pháp, Mỹ thì cô cũng để lại trong lòng người hâm mộ những ca khúc gắn với tên mình như Bang Bang, Triệu đóa hoa hồng, Apres Toi, Trưng Vương khung cửa mùa thu, Trăm nhớ ngàn thương…

Ca sĩ Thanh Lan trong đại nhạc hội tại trường Talbert năm 1972

ĐÓ CHÍNH LÀ ca sĩ, tài tử điện ảnh, “Tiếng hát học trò” Thanh Lan.

                        “Trả lại em yêu khung trời đại học
                        Con đường Duy Tân cây dài bóng mát
                        Buổi chiều khuôn viên mây trời xanh ngát
                        Vết chân trên đường vẫn chưa phai nhạt…

                        (Trả lại em yêu)

Ca sĩ Thanh Lan: “Đó là một quãng đời rất đáng nhớ của Thanh Lan. Trường đại học văn khoa nằm kế bên đài truyền hình. Nên đôi khi mình đi qua trường, nghe thầy giảng xong, lại ‘tà tà’ đi xuống lầu, bước qua ngay bên cạnh, đi vào những căn phòng mát mẻ của đài truyền hình, thay một chiếc áo dài hoa khác, thâu một bài hát tình cảm mà mình yêu thích. Cuộc sống của Thanh Lan lúc đó đẹp như mơ vậy đó.

Người em văn khoa
            Thanh Lan đến với âm nhạc rất sớm. Lúc 9 tuổi cô đã làm quen với phím đàn piano trong trường tiểu học Saint Paul, một trường dòng nội trú nổi tiếng dành cho con gái của những gia đình trưởng giả. Kiến thức nhạc lý vững vàng cộng với niềm đam mê ca hát, mà cô gọi là “một hobby của lúc nhỏ”, đã đưa tiếng hát của cô bé Thanh Lan đến với thính giả đài phát thanh lúc cô 12 tuổi.

Ca sĩ Thanh Lan: “12 tuổi thì Thanh Lan được ông thầy piano giới thiệu với nhạc sĩ Nguyễn Đức trong ban thiếu nhi Nguyễn Đức của đài phát thanh Sài Gòn. Mỗi chủ nhật Thanh Lan lên đó thâu trong đài phát thanh với các bạn. Đi hát không có nghĩa là bỏ học. Hát đối với Thanh Lan hồi nhỏ như là một hobby cuối tuần mình làm cho vui vậy.

            Cái thời người ta chưa quen với hai từ truyền hình, mà thay vào đó là “lên tivi” thì cô nữ sinh trung học Marie Curie, Thanh Lan đã “lên tivi” xuất hiện trước khán thính giả năm 16 tuổi.

Ca sĩ Thanh Lan: “Vì Thanh Lan ở trong chương trình của sinh viên học sinh, sau đó, những người trưởng ban nhạc của chương trình khác thấy đâu ra một người cũng xinh xinh, hát cũng được nên họ mời tham gia. Hồi đó đối với Thanh Lan đi thâu tivi là một niềm vui. Cái vui đầu tiên là tự mình xem mình được. Cái thời đó tivi đen trắng thôi, nhưng thích lắm.

            Thế rồi, Thanh Lan được biết đến vào những năm sau đó như một hiện tượng trong làng ca nhạc. Khi nhắc đến Thanh Lan, người ta lại nghĩ ngay đến những ca khúc tình yêu thơ mộng, nhẹ nhàng, in đậm hình ảnh của những tà áo dài mỗi chiều đi về ngang qua con đường Duy Tân, nghĩ đến ngôi trường văn khoa với những đôi mắt ngà.
            Được biết đến với hình ảnh của một ca sĩ thành công với những tình khúc Pháp lãng mạn, trữ tình, thế nhưng chính những ca khúc nhạc Việt và dân ca ba miền đã được cô chọn để trình diễn khi xuất hiện trên truyền hình trong giai đoạn đầu đi hát.

                        “Con đường nào ta đi
                        Với bàn chân nhỏ bé
                        Con đường chiều thủ đô
                        Con đường bụi mờ…

                        (Con đường tình ta đi)

Ca sĩ Thanh Lan: “Những bài Thanh Lan thích hồi thời đó là Con đường tình ta đi, trong bài ấy có câu “Hỡi người tình văn khoa”; dĩ nhiên có Trăm nhớ ngàn thương; Ô kìa đời bỗng dưng vui của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ; bài Đố ai; hát dân ca ba miền… Tên tuổi của Thanh Lan đến với khán giả nhiều nhất là thời điểm đó.

            Thanh Lan cũng chính là ca sĩ đầu tiên trình bày ca khúc Trăm nhớ ngàn thương của nhạc sĩ Lam Phương.

                        “Mất em rồi, xa em rồi
                        Hoa đã tàn, nhụy đã phai
                        Chiều hôm nay trời thanh vắng anh đi về, về với ai
                        Một người đi, một người sầu
                        Nhìn hoa úa buồn về mau
                        Đôi chân mòn tìm dư âm hè phố vắng
                        Lòng còn thương, tình còn nồng
                        Mà đêm nhớ, ngày chờ mong
                        Bao thu rồi nhìn lá chết rơi ngoài song…

                        (Trăm nhớ ngàn thương)

Ca sĩ Thanh Lan: “Một người nghệ sĩ trước khi ra mắt khán giả thì phải bỏ hết tâm tư như thế nào để mà chuyển tải đến khán thính giả tâm sự của người nhạc sĩ. Tuy nhiên khi mà mình hát lên thì đó không phải chỉ là tâm sự của người nhạc sĩ nữa, mà có thêm cả tâm sự của mình trút vào bài hát đó. Do vậy khi mà khán thính giả xem thì sẽ để ý tuy là cùng một bài hát nhưng mỗi một ca sĩ hát khác nhau đúng không?

            Đúng là như thế. Nếu ca khúc Trăm nhớ ngàn thương của nhạc sĩ Lam Phương sẽ kiêu kỳ, đài các với tiếng hát Ý Lan, thì Trăm nhớ ngàn thương qua tiếng hát của Thanh Lan trở nên ngọt ngào, tự nhiên, tràn đầy sức sống ẩn chứa trong câu chuyện tình buồn của bài hát.
            Những ca khúc trữ tình của Phạm Duy, Đỗ Lễ, Nguyên Sa… qua tiếng hát ngọt ngào, trong vắt như màu sương sớm của cô làm cho người nghe có cảm giác như được lạc vào một thế giới tràn ngập ánh sáng của tình nhân loại.

Ca sĩ Thanh Lan: “Không có quãng đời nào đẹp như thời gian còn đi học. Mặc dù lúc đó nổi tiếng rồi nhưng tâm tư của mình vẫn còn là tâm tư của một nữ sinh viên, chưa phải là người phải ra đời để đấu đá và kiếm sống. Sự nổi tiếng đến với mình tình cờ chứ không phải là cố gắng tìm nó.


Thanh Lan trong vai cô hàng hoa trong phim hài Xóm Tôi (1974)

“Hát nhạc Pháp vì ít người hát”
            Cô sinh viên trường văn khoa sau đó gia nhập ban nhạc Hải Âu của nhạc sĩ Lê Hựu Hà, ban nhạc đầu tiên chọn phong cách Việt hóa nhạc trẻ ở Sài Gòn. Tiếng hát trong trẻo, hồn nhiên, cách phát âm tròn, rõ cộng với khả năng Pháp ngữ của cô thiếu nữ học trường Tây đã giúp cho Thanh Lan nổi tiếng với những ca khúc Pháp hoặc nhạc Pháp lời Việt.

                        “Tu t’en vas
                        L’amour a pour toi
                        Le sourire d’une autre, je voudrais mais ne peux t’en vouloir…

                        (Apres Toi – Vắng bóng người yêu)

            Đây cũng là thời kỳ phát triển mạnh mẽ của phong trào nhạc trẻ Việt Nam. Những năm 67, 68, Thanh Lan không phải là ca sĩ duy nhất hát nhạc Pháp. Nhưng cô được khán giả thời ấy, và có thể nói là cho đến tận bây giờ, biết đến cô là một ca sĩ hát nhiều nhạc Pháp nhất.

Ca sĩ Thanh Lan: “Thanh Lan học trường Pháp đến 15 năm. Cho nên phải nói là sự suy nghĩ và kiến thức văn hoá hoàn toàn theo Pháp. Với lại mình nên làm những gì người ta ít làm. Nhạc Mỹ thì nhiều người hát quá rồi, thôi mình hát nhạc Pháp đi.

            Một ca khúc Pháp khác mà khi nhắc đến, người ta sẽ nghĩ ngay đến tiếng hát trong trẻo, vui tươi của ca sĩ Thanh Lan.

                        “Khi xưa đôi ta bé ta chơi
                        Đôi ta chơi bắn súng khơi khơi
                        Chơi công an đi bắt quân gian
                        Hiên ngang anh giơ súng ngay tim: Bang! Bang…

                        (Bang bang)

Ca sĩ Thanh Lan: “Đã làm gì thì mình phải làm cho hết lòng hết sức. Hai là trong trường có môn học về văn chương, văn chương Pháp. Rồi sau khi lên đại học thì học văn chương Anh, văn chương Mỹ. Trong văn chương có thơ, có kịch. Khi mình học thơ, học kịch thì trong những vở kịch nổi tiếng của thế giới thì mình biết rằng mình phải phân tích tâm lý nhân vật. Thanh Lan cũng áp dụng điều đó trong bài hát. Khi mình hát, mình cũng phải phân tích tâm lý nhân vật trong bài hát. Hát bài đó họ muốn nói gì và trong câu đó họ muốn nhắn nhủ gì, chứ không phải hát một kiểu từ đầu đến cuối bài.

            Với rất nhiều người thuộc thế hệ của con đường Duy Tân, của trường Văn khoa, trường Luật ở Sài Gòn ngày cũ, tiếng hát Thanh Lan mãi mãi được nhắc nhớ như kỷ niệm của một thời mộng mơ, của tài năng và tình yêu cuộc sống.
            Như đã nói, Thanh Lan tỏa sáng không chỉ trong sự nghiệp ca hát, mà người ta còn biết đến Thanh Lan là một nữ tài tử điện ảnh. Vào năm 1970, sự nghiệp điện ảnh của Thanh Lan bắt đầu, khi cô đóng vai chính trong bộ phim “Tiếng hát học trò” của đạo diễn Thái Thúc Nha. Với vai diễn đầu tay này, cô đã đoạt giải nữ diễn viên triển vọng nhất của Giải thưởng Văn học Nghệ thuật năm 1971.


CÁT LINH
Tháng 6/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/thanhlan-idol-of-beauty-n-voice-cl-06262016101502.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #73 vào: 07/11/2017, 17:48:23 »
Catacombes – “Vương quốc người chết” trong lòng Paris

Đến với Paris, du khách thường bị choáng ngợp trước những công trình kiến trúc hoành tráng, lộng lẫy như tháp Eiffel, nhà thờ Đức Bà Paris, nhà thờ Sacré-Coeur trên đồi Monmartre, Khải Hoàn Môn, bảo tàng Louvre, điện Panthéon… hay các cảnh quan thơ mộng bên dòng sông Seine. Nhưng không mấy ai biết được trong lòng đất Paris ẩn chứa một bí mật lớn. Đó là Catacombes de Paris – hầm mộ Paris.

Bên trong hầm mộ Catacombes, quận 14, Paris

CATACOMBES là một hầm xương cốt, một nghĩa trang khổng lồ, nơi chứa hơn sáu triệu bộ hài cốt. Nhìn rộng ra, Catacombes là một hệ thống chằng chịt các đường hầm sâu vài chục mét dưới lòng đất, dài tổng cộng gần 350km, sâu trung bình 20m dưới lòng đất, nhưng có những đoạn đường hầm sâu tới 60m, có những khu vực hầm được chia thành nhiều tầng. Catacombes là một mê cung trong lòng đất, phần lớn nằm ở vùng tả ngạn sông Seine (từ Odéon đến công viên Montsouris) và một số khu vực ở hữu ngạn sông Seine (Montmartre, Belleville và Ménilmontant).

Từ nghĩa trang Những người vô tội tới hầm mộ Catacombes
            Ngược dòng thời gian, vào ngày 09/11/1785, Tham Chính Viện Pháp quyết định đóng cửa nghĩa trang Cimetière des Innocents, tạm dịch là nghĩa trang Những người vô tội, nghĩa trang lớn nhất Paris thời đó. Nghĩa trang Innoncents nằm ở khu Chatelet, Paris. Sau mười thế kỷ tồn tại, nghĩa trang đã trở nên quá tải sau nhiều cuộc chiến tranh, dịch bệnh, đặc biệt là đại dịch tả hồi thế kỷ XIV, thêm vào đó, nghĩa trang gây nhiều vấn đề vệ sinh cho cư dân xung quanh. Tham Chính Viện quyết định cải tạo khu mỏ đá cũ bỏ hoang ở ngoại ô Paris thành hầm chứa xương cốt “Catacombes” và chuyển về đó toàn bộ hài cốt ở nghĩa trang Innocents. Tên gọi Catacombes de Paris được đặt dựa theo tên Catacombes của Roma, Ý, vốn là từ dùng để chỉ một nghĩa trang thời cổ đại ở Roma. Phải mất hai năm, chính quyền thành phố Paris mới chuyển hết được số hài cốt từ nghĩa trang Innocents về Catacombes.
            Từ năm 1787 đến năm 1814, nhiều nghĩa trang khác ở Paris cũng bị dẹp bỏ, và xương cốt những người quá cố đều được chuyển về hầm xương cốt của thành phố, từ dân thường tới các nhân vật nổi tiếng trong lịch sử như nhà văn Rabelais thời Phục Hưng, nhà soạn kịch vĩ đại Racine thế kỷ XVII, bộ trưởng tài chính Pháp Colbert dưới thời dưới thời vua Louis XIV, nhà văn-nhà triết học, tư tưởng chính trị-xã hội Montesquieu, người nổi tiếng với tác phẩm De l’esprit des lois (Tinh thần pháp luật) và học thuyết chính trị tam quyền phân lập, tách biệt quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; nhiều lãnh đạo cuộc Cách mạng tư sản Pháp như Danton, Robespierre… Những người lính thiệt mạng trong các cuộc chiến thời Cách Mạng Tư Sản Pháp cũng được chôn cất tại hầm mộ này.
            Vốn là một mỏ đá cũ, Catacombes có nhiều nhánh, nhiều lối vào, và thêm nhiều đường hầm bí mật được đào từ các nhà thờ và bệnh viện ở Paris, tạo thành một mê cung chằng chịt dưới lòng đất. Xương cốt được vứt chồng đống sát tường, chất cao từ nền tới tận trần hầm. Các bộ xương được xếp ngay ngắn hơn, thành hàng, thành lối, thành tầng, thành lớp. Xương còn được dùng để trang trí các phòng trong hầm mộ, nhiều xương chày, xương đùi và xương sọ được xếp thành các bức tranh, chữ thập, đường viền…
            Ngay từ khi được hình thành, Catacombes de Paris đã thu hút sự tò mò, hiếu kỳ của nhiều người, kể cả các nhân vật nổi tiếng như bá tước xứ Artois, sau này là vua Charles X của Pháp trị vì giai đoạn 1824-1830, Hoàng đế Áo François I, Hoàng đế Pháp Napoléon III…
            Là một mê cung khổng lồ, đã có nhiều người bị lạc, thậm chí là thiệt mạng trong Catacombes. Được lưu truyền nhiều nhất là câu chuyện về Philibert Aspairt, vốn là người gác cổng tu viện Val-de-Garde thời Cách Mạng Tư Sản Pháp. Vào tháng 11/1793, ông Philibert Aspairt chui xuống đường hầm Catacombes theo một lối đi trong vườn tu viện. Nhưng rồi người ta không thấy ông trở lại. Theo nhiều phỏng đoán, Philibert Aspairt xuống Catacombes để đi tìm một loại rượu ngon hảo hạng do các tu sĩ của tu viện Chartreux sản xuất và bảo quản trong hầm của tu viện, nhưng ông đi lạc và không thể tìm được lối lên mặt đất.
            Phải đến 11 năm sau, người ta mới xác định được, ở đường hầm chạy dưới con phố ngày xưa gọi là phố Địa Ngục (rue d’Enfer), thi thể của người đàn ông xấu số đó nhờ bộ chìa khóa bên hài cốt. Ông Philibert Aspairt được an táng ngay tại chỗ, trên bia mộ có khắc hàng chữ: “Tưởng nhớ Philibert Aspairt, người đi lạc ngày 03/11/1793, thi thể được tìm thấy 11 năm sau và được an táng ngay tại chỗ, vào ngày 30/04/1804”.
            Các bộ hài cốt được đưa xuống Catacombes lần cuối cùng vào năm 1859, khi bá tước Haussmann quy hoạch lại thành phố Paris. Từ những năm 1990, để tránh sự cố cho những người hiếu kỳ, mạo hiểm, sở Cảnh Sát Paris đã cho lấp các lối vào hầm mộ. Một khu vực đường hầm Catacombes dài 1,5 km, trong đó khu vực có xếp xương cốt kéo dài 800m, gần quảng trường Denfert-Rochereau, quận 14, được mở cửa chính thức cho khách tham quan. Mỗi chuyến thăm kéo dài 45 phút, nhưng du khách thường phải xếp hàng khá lâu, thậm chí tới vài tiếng đồng hồ, do lượng khách tham quan khá đông và theo quy định, chỉ được tối đa 200 người có mặt trong hầm mộ cùng lúc.
            Nhằm đảm bảo an toàn cho du khách và tránh tình trạng lấy trộm xương trong hầm mộ làm đồ lưu niệm, ban quản lý Catacombes quy định du khách chỉ được mang túi có kích thước tối đa 40x30cm. Để xuống hầm mộ, du khách phải trèo bộ 130 bậc thang còn lối lên có 83 bậc. Nhiệt độ trong hầm mộ thường ổn định vào khoảng 14oC. Ngay ở phía trên lối vào hầm mộ, có dòng chữ khắc được trên đá: “Hãy dừng chân ! Nơi đây là vương quốc của người chết”.


Xương cốt từ nghĩa trang Madeleine cũ, trong hầm mộ Catacombes, Paris

Cataphile và khu vực cấm trong hầm mộ Catacombes
            Ngoài khu vực chính thức tại khu phố Denfert-Rochereau, vẫn có rất nhiều người ưa thích các chuyến phiêu lưu, thám hiểm, cảm giác mạnh, đặc biệt là giới trẻ, tự đi khám phá mê cung Catacombes. Anh Mạnh Hà, người đã từng có một chuyến đi như vậy chia sẻ:

            “Có rất nhiều người, hay được gọi là cataphile, thường xuyên đi khám phá và vẽ bản đồ của các khu vực cấm này. Bởi vì nó rất rộng, như một cái mê cung lớn. Nếu không có bản đồ thì rất nguy hiểm. Tôi có may mắn được tham quan cái khu vực cấm này cùng với một cataphile. Anh ấy là người Pháp, đồng nghiệp của một người bạn. Ban ngày anh ấy là một kĩ sư tin học, ban đêm là nhà thám hiểm.
            Để tham quan thì cần mang theo đèn pin, đi ủng, vì nhiều đoạn đường hầm bị ngập nước, và chắc chắn là không nên mặc quần áo đẹp rồi. Chúng tôi có khoảng hơn mười người, hẹn gặp nhau ở trên một đường tàu bỏ hoang. Lối vào rất bé và khá sâu. Nhưng khi vào trong thì lại tương đối cao, rộng, không đến mức phải cúi gập người để đi lại. Nếu tôi nhớ không lầm thì chuyến đi kéo dài khoảng tám tiếng, từ 9h tối đến 5h sáng hôm sau.
            Có khá nhiều điều thú vị trong chuyến đi. Ví dụ, tôi rất ngạc nhiên vì có nhiều người như thế ở dưới đó, cứ 15-30 phút là chúng tôi lại gặp một nhóm người cũng đang đi thăm quan ở dưới đó. Thỉnh thoảng lại thấy một nhóm đang bật nhạc, ngồi uống bia, như trên mặt đất vậy. Trong lúc đi thì có nhiều đoạn đường hầm bị sạt lở, do nước mưa ngấm vào. Nhiều đoạn bị lụt đến ngang người, cần phải bám vào cạnh tường để đi qua. Tôi vẫn còn hình dung ra đoạn này vì hình như có một bạn trong đoàn bị ngã, ướt gần hết ở đó.
            Tất nhiên, phần chúng tôi chờ đợi nhất là khu hài cốt. Trước khi đi, tôi tưởng tượng là sẽ có một khu được xây dựng khang trang để chứa hài cốt. Nhưng thực ra thì hoàn toàn ngược lại. Xương người được đặt vào trong những cái hang, la liệt khắp nơi, trên nền đất, trên cạnh tường, xếp thành đống. Mỗi cái hang như vậy chứa khoảng vài ngàn bộ hài cốt. Bọn tôi cũng đã dừng lại ngồi trong một số các phòng như vậy, ngồi tâm sự và kể chuyện "ma”. Có bạn cầm khúc xương, hoặc đầu lâu để nhìn hoặc chụp ảnh. Phần lớn các bộ hài cốt đã khô và giữ nguyên hình dạng, ngoại trừ có một phòng là vẫn còn mùi. Tổng cộng là bọn tôi tham quan khoảng bốn, năm phòng như thế”
.

            Trả lời câu hỏi của RFI tiếng Việt về cảm giác khi đi lang thang, khám phá Catacombes, anh Hà cho biết :

            “Trước khi đi thì tôi có cảm giác hơi sợ sợ, vì tín ngưỡng người Việt của chúng ta phần lớn là tôn trọng, thậm chí là sợ người đã khuất. Nhưng thực tế khi tôi tiếp xúc thật, nhìn, sờ, ngồi cạnh nhiều bộ hài cốt như thế, thì cũng không đáng sợ lắm. Tôi dần có cảm giác là xương cốt người chết cũng rất là bình thường, như mọi thứ mà mình thấy nhìn hàng ngày vậy. Chuyến đi đã cho tôi một trải nghiệm rất tuyệt vời mà không phải dễ có được. Một chuyến du lịch trong lòng đất, như trong truyện của Jules Verne, ở ngay nơi mình đang sống cho tôi thêm những hiểu biết về lịch sử thành phố Paris”.


Khách du lịch chờ tham quan hầm mộ Catacombes, quận 14, Paris

Catacombes, điểm đến trong mùa lễ hội Halloween
            Từ vài năm nay, có khoảng 500.000 du khách tới thăm Catacombes mỗi năm, trong đó hơn một nửa là du khách nước ngoài. Vào dịp lễ hội Halloween 2015, chính quyền thành phố Paris đã quyết định giao cho trang Airbnb tìm một cặp khách nghỉ qua đêm 31/10 trong hầm mộ Catacombes. Đổi lại, trang Airbnb trả cho Paris số tiền 300.000 euro, để thành phố có thêm kinh phí tu sửa hầm mộ. Ý tưởng của thành phố Paris đã bị nhiều đảng phái chính trị, nhất là đảng cánh hữu Những Người Cộng Hòa (LR) phản đối.
            Còn Airbnb hứa hẹn hai du khách ưa cảm giác mạnh sẽ có một “trải nghiệm độc nhất vô nhị”, một đêm ngủ bên sáu triệu hồn ma, một đêm mà theo như Airbnb là “Quý vị sẽ là người duy nhất còn sống và thức dậy trong hầm mộ Paris”. Để được tuyển chọn và không phải trả tiền phòng, kèm theo một bữa ăn tối dưới ánh nến và một buổi hòa nhạc cổ điển ngay trong hầm mộ, các ứng viên phải viết thư trả lời câu hỏi: “Tại sao quý vị nghĩ rằng có đủ can đảm để ngủ trong hầm mộ?” Người thắng cuộc năm 2015 là một luật sư người Brazil và mẹ của anh.
            Catacombes đặc biệt đông khách vào dịp lễ hội Halloween. Theo một thăm dò ý kiến năm 2016 trên trang mạng Lastminute.com chuyên về du lịch, hầm mộ Paris là điểm đến hấp dẫn thứ ba tại châu Âu vào mùa Halloween, chỉ sau lâu đài Dracula ở Transylvania và tháp Luân Đôn ở Anh Quốc.
            Nếu có dịp tới Paris, mời quý vị xuống lòng đất, thăm “Vương quốc của người chết” trong lòng kinh đô hoa lệ, để cảm nhận, để hiểu thêm một phần lịch sử Paris, nơi vẫn còn nhiều bí mật đang chờ được khám phá.


THÙY DƯƠNG
Tháng 10/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20171027-catacombes-«-vuong-quoc-nguoi-chet-»-trong-long-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #74 vào: 09/11/2017, 18:54:44 »
Nghề văn, lòng thành và ngộ nhận

Khi ngồi vào bàn viết, gõ những chữ đầu tiên trong ngày, nghề văn, tôi đã gõ luôn mấy chữ lòng thành và ngộ nhận. Quả thế, dường như không có nghề nào mà người ta theo đuổi có nhiều trường hợp xảy ra ngộ nhận như nghề văn. Bà cô già của tôi, vào những năm đầu thập niên ‘50 ở Saigon, cô cháu gặp nhau trong một ngày giỗ kỵ của họ Nguyễn làng Ðồng Văn, đã hỏi tôi, “Anh Nam bây giờ làm gì đến đâu rồi?” “Thưa cô cháu theo nghề văn nghề báo.” “À! Thế anh theo cái nghề chết đói đó hả? Quý báu gì.”

Bìa cuốn sách của Lê Quí Ðôn trong có chương “Văn Nghệ Chí”

1.– Ngay từ nhỏ, tôi được cái tính nhường nhịn. Lúc lớn vài năm đầu thập niên ‘60, trong một bữa ăn tại tòa soạn của tuần báo Kịch Ảnh, có chủ nhiệm chủ bút Quốc Phong Nguyễn Văn Hanh, Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quý, chúng tôi bàn tới những chủ đề sắp tới, những nhân vật liên hệ trong ngành nghề, ai đi gặp ai phỏng vấn ai, thì kết quả sẽ tốt nhất, cả hai người đều chỉ tôi đi gặp người này, đi gặp người kia, mà ý của hai anh dân Nam Ðịnh này nói giống ý nhau nên đưa ra câu trả lời giống nhau: “Ðể Viên Linh.” “Nó encaissé giỏi.” Chịu đòn giỏi, dịch theo nghĩa bóng. (Tự điển Larousse song ngữ bỏ túi viết: encaissé: deep, sunk.) Một võ sĩ quyền Anh chịu đòn giỏi là cứ để đối thủ đấm lung tung vào vai vào thân mình, để “chui” vào nách địch thủ, đợi tới lúc đối thủ đã ngừng hay phải ôm lấy mình để thở, mới giáng cho nó một cú “upper cut,” hay một đòn hiểm không ai nhìn thấy. Ðứng xa nhìn vào thì người xem đều thấy anh thua, nhưng khi chuông reo, anh đứng vững trên hai chân, tới hiệp cuối cùng, đó mới là lúc kết quả được công bố.
            Tôi đã đọc những cuốn sách về “nghề viết văn” của Nguyễn Hiến Lê, của Vũ Ký, của Phạm Văn Diêu, của Phạm Thế Ngũ… vài người nữa không nhớ tên, nặng phần giáo khoa, phân tích kỹ thuật câu cú, trích dẫn những bài mẫu, những “bài đọc thêm,” kể cũng có ích cho một lớp học trò nào đó, gần hơn là của Dương Quảng Hàm, người đầu tiên viết về văn học sử Việt Nam tổng quan và kỹ càng hơn cả. Cao viễn và bác học hơn có “Văn Nghệ Loại” của Lê Quí Ðôn, “Văn Tâm Ðiêu Long” của Lưu Hiệp… Trước khi viết tiếp những suy nghĩ hay kỷ niệm của mình, xin trích dẫn đôi điều tản mạn…

2. – “Viết một cuốn sách là làm một nghề cũng như chế tạo một cái đồng hồ. – La Bruỳere”
            Một anh bạn tôi, thấy tôi viết cuốn này, mỉm cười, hỏi:
            – Viết văn mà cũng là một nghề ư?
            Tôi cũng mỉm cười, đáp:
            – Anh chưa nói hết ý, song tôi đã đoán được. Có phải anh cho viết là truyền bá tư tưởng, giãi bầy nỗi lòng của mình? Nếu viết văn là một nghề chẳng hóa ra nghĩ đến việc đem bán cái tâm tư là cái đáng quý nhất trong con người để cầu sự ấm no cho xác thể? Nếu quả anh nghĩ vậy thì tôi xin hỏi lại anh: dạy học như anh bây giờ và tôi hồi trước cũng là đem bán những hiểu biết, tư tưởng – cả lòng yêu trẻ nữa – để lấy một số lương, vậy thì tại sao dạy học anh nhận là một nghề mà viết văn anh lại không chịu nhận?
            Anh bạn tôi đó không phải là người độc nhất nghĩ lầm như vậy đâu. Trong xã hội chúng ta hiện nay, mười người chắc có sáu bảy người còn giữ cái thiên kiến ấy. Họ cho viết văn không phải là một nghề vì nghề đó còn mới mẻ ở nước ta quá: từ cuối thế kỷ 19 trở về trước, ông cha ta tuyệt nhiên không hề nghe nói đến nghề viết văn và nghề nầy “chỉ xuất hiện vào hồi mà Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Ðà, Phạm Quỳnh bắt đầu sinh nhai bằng ngòi bút viết báo.” (Nguyễn Hiến Lê).

3. –  Theo đoạn văn trên, nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê viết nghề văn “chỉ xuất hiện vào hồi mà Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Ðà, Phạm Quỳnh bắt đầu sinh nhai bằng ngòi bút viết báo.” Câu ấy có 6 chữ quan trọng: nghề văn-ngòi bút-viết báo; tức là nghề văn xuất hiện không bằng một cuốn sách hay những cuốn sách, mà từ một trang báo. Vậy văn chương xuất hiện từ báo chí, làm văn có từ khi người ta làm báo, xét trong văn chương Âu Mỹ cũng thấy như thế, Mark Twain làm báo và văn của ông đăng trên tờ báo ông làm, từng kỳ, rồi sau này mới in thành sách. Hồi trước 1975 ở miền Nam hầu như những tác phẩm ăn khách nhất đều là truyện đăng báo, rồi mới in thành sách, không ông chủ nhiệm tờ báo nào mời các ông nhà văn không ăn khách viết truyện cho mình hết, trừ phi lầm lẫn. Ðò Dọc của Bình Nguyên Lộc xuất hiện trên báo rồi mới thành sách sau. Chú Tư Cầu của Lê Xuyên, Bà Chúa Hòn của Sơn Nam, Chân Trời Tím của Văn Quang, Cho Mượn Cuộc Ðời của Thanh Nam, Mười Ðêm Ngà Ngọc của Mai Thảo v.v… đều là những truyện đăng báo ăn khách rồi sau mới in thành sách. Nhưng có những nhà văn nổi tiếng mà lại không ăn khách từng kỳ – hai chữ “từng kỳ” có ý nghĩa giá trị riêng của nó, “ăn khách” có ý nghĩa giá trị riêng của nó, “nổi tiếng” có ý nghĩa giá trị riêng của nó, không cái nào hơn cái nào, nhưng có nhà văn được cả ba thứ, có nhà văn chỉ được hai thứ, và có nhà văn chỉ được một thứ. Nguyễn Ðình Toàn nổi tiếng nhưng truyện dài anh viết trên báo Chính Luận bị ngưng ngang; Võ Phiến nổi tiếng chê các truyện dài viết từng kỳ là rẻ tiền và ông không có truyện dài nào ăn khách cả, và hình như ông chỉ nổi tiếng ở tạp văn hay truyện ngắn. Tôi mời Thanh Tâm Tuyền viết truyện dài cho các tờ báo tôi điều hành nhiều lần, nếu tôi nhớ không lầm, ông không hoàn tất được bất cứ truyện dài nào đăng báo. Khi đang viết truyện “Ðào Thoát”, ông nói không viết tiếp được nữa, tôi đành viết cái bố cáo xin lỗi độc giả, “Thanh Tâm Tuyền đào thoát”.
            Trở lại với câu văn của Nguyễn Hiến Lê, việc sinh nhai bằng ngòi bút viết văn trên báo chỉ bắt đầu bằng Nguyễn Văn Vĩnh, Tản Ðà, Phạm Quỳnh.
            Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) người Hà Ðông, con nhà nông ra Hà Nội làm ăn, xin được việc kéo cái quạt trần trong một trường học (loại quạt vải to như chiếc chiếu treo trên cao, có dây buông xuống, phải có người kéo – buông đều tay để tạo ra gió mát cho những người trong phòng). Không được học, song thầy dạy học trò tới đâu, cậu thuộc tới đấy; do đó được một ông thầy giúp cho vào học luôn trong trường Thông Ngôn. Cuối năm Nguyễn Văn Vĩnh đậu đầu, trở thành chánh thông ngôn cho một quan sứ Pháp. Năm 1905 ông Vĩnh bắt đầu viết bài tiếng Pháp cho các tờ Courrier d’ Hải Phòng và Tribune Indochine. Năm 1907 ông làm chủ bút Ðăng Cổ Tùng Báo, Lục Tỉnh Tân Văn, thành lập Hội Trí Tri và góp phần sáng lập Ðông Kinh Nghĩa Thục. Năm 1913 ông làm chủ nhiệm chủ bút báo của chính mình: Ðông Dương Tạp Chí.
            Nhà thơ Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) người Sơn Tây, con nhà Nho. Năm 1907 ông viết một bài bình luận thế sự bằng tiếng Hán gửi cho một tờ báo ở Hương Cảng (theo Từ điển Văn học bộ mới, Hà Nội, 2000), bài được đăng. Sau đó Tản Ðà cộng tác thường xuyên với Ðông Dương Tạp Chí, và viết văn thơ dịch sách cho nhiều báo khác từ Bắc vào Nam. Ông cũng tự xuất bản báo An Nam Tạp Chí của mình song thiếu quản trị hoặc không đủ độc giả mua báo nên vẫn phải viết thuê cho các báo khác.

4.–  Trong lúc nói chuyện “vui buồn nghề báo” với cử tọa ngày Sinh Nhật 20 Năm Khởi Hành, 11, 2015, tôi có kể lại sơ sài ngày tác phẩm đầu tiên của mình được xuất hiện trên mặt báo, một ngày nào đó năm 1953 và đó là tờ Tiếng Dân tại Hà Nội. Chuyện xảy ra vẫn còn rõ ràng trong tâm trí. Chỉ hai ngày sau cái truyện ngắn viết một mạch được gửi tới tòa báo (tôi đạp xe qua tòa soạn, đâu ở đường Gambetta, bỏ xấp giấy trong phong bì vào cái hộp thư), chỉ hai ngày sau, giở tờ Tiếng Dân ra, cái truyện đã chiếm nguyên Trang Xã Hội của tờ báo. Cuối truyện có mấy dòng Nhắn Tin, đại ý: Mời ông Nguyễn Nam tới tòa soạn, ở số… đường… lãnh 150 đồng nhuận bút truyện ngắn này.
            Tôi tới ngay chiều hôm ấy. Lúc bước vào tòa báo Tiếng Dân, chỉ thấy một ông đang co cả hai chân lên ghế, và góc phòng gần cái cửa thông sang phòng trong, có một cô mặc áo dài xanh lơ đang ngồi sau bàn, dáng là thư ký. Người đàn ông đứng tuổi, cỡ 50, tay trái đang cầm chiếc que đã châm lửa, hai đầu gối thu gọn gần tới mang tai, nhướng mắt nhìn tôi tay phải cầm cái ống điếu thuốc lào làm bằng hai gióng tre, hút vào một hơi âm thanh giòn rã. Ông nội tôi cũng hút thuốc lào nhưng bằng bát điếu ngà có chạm trổ xà cừ, ống hút là một ngọn trúc nhỏ nhắn vàng óng, đầu bịt bạc. Ông nhà báo Tiếng Dân nhướng mắt rồi hất hàm, không nói được một lời. Ðợi lúc ông mê man nhả khói, tôi mới nói lớn:
            – Thưa ông tôi tới lãnh nhuận bút.
            Ông lắc đầu, xua tay:
            – Về bảo bố cậu tới lãnh mới được.
            – Thưa ông bố tôi mất rồi. Tôi ngô nghê trả lời.
            – Thì bảo anh cậu tới lĩnh… 150 đồng to lắm.
            Tôi biết rõ số tiền đó lớn như thế nào. Trước khi mẹ tôi ở quê nhà thị trấn Ðồng Văn mua cho tôi cái xe Peugeot dura (bằng nhôm nhẹ), tôi chỉ được phát 2 đồng một ngày, kể cả tiền mua vé tàu điện hai lượt đi về từ góc Phố Huế lên trường Chu Văn An gần Hồ Tây.
            – Nhưng thưa ông, tôi viết cái truyện ấy.
            – Có chứng minh thư không?
            Ông nhìn tôi nghiêm nghị quan sát, nhưng đưa tay ra cầm cái thẻ học sinh tôi có từ năm ngoái, lúc học đệ thất. Ông vẫn nhìn tôi, mở ngăn kéo lấy ra một cái phong bì:
            – Ðếm cẩn thận nhé. Rồi ký nhận đủ vào đây.
            Ông xoay cuốn sổ ra, tôi viết hai chữ “nhận đủ” sau khi ngó mớ giấy bạc lớn nhất trong đời.
            Tôi biết ngay từ lúc đó tôi sẽ không làm nghề gì khác ngoài nghề viết văn. Ngay cả làm thơ tôi cũng có thói quen đòi nhuận bút. Có nhiều người hỏi tôi sao thấy tôi ít có bài trên các báo dù thơ hay văn, chuyện giản dị là thơ hay văn đối với tôi cũng phải có nhuận bút. Viết là nghề tôi đã chọn từ lúc 14 tuổi rưỡi.


VIÊN LINH
Tháng 12/2015


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Nghe-van-long-thanh-va-ngo-nhan-2226/

 
The following users thanked this post: tnghia