Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 3324 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #60 vào: 22/09/2017, 00:14:54 »
Nữ văn sỹ Nguyễn Thị Thụy Vũ

Cụ bà tuổi 80, tóc bạc trắng, tai đã lãng, nhưng lối nói chuyện vẫn sắc sảo với chất giọng rặt Nam bộ, cứ ngơ ngác hỏi đi hỏi lại cho rõ tên mấy độc giả mê văn thời cũ trước khi đề vài chữ vào bộ sách làm kỷ niệm. Trước 1975, cụ bà đó, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tên thật: Nguyễn Thị Băng Lĩnh, là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất miền Nam (bốn người khác: Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương).

Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ

Gái bar và những người mẹ cao quý
            Tháng 3/2017, công ty Phương Nam Book liên kết với nhà xuất bản Hội Nhà văn cho in lại 10 cuốn sách của nữ văn sĩ miền Nam một thời, gồm ba tập truyện ngắn: Mèo đêm, Lao vào lửa, Chiều mênh mông và bảy tập truyện dài: Khung rêu (giải thưởng Văn học miền Nam 1971), Thú hoang, Nhang tàn thắp khuya, Ngọn pháo bông, Như thiên đường lạnh, Cho trận gió kinh thiên, Chiều xuống êm đềm.
            Cũng lần đầu tiên sau 42 năm, toàn bộ tác phẩm của nhà văn miền Nam này được in lại đầy đủ. Khác với các tác giả miền Nam trước đây, mỗi lần xuất hiện trở lại, báo chí thường dè dặt, nhưng với Nguyễn Thị Thụy Vũ, báo chí chính thống trong nước truyền thông nhiệt tình, có cả những bài báo muốn lái tác phẩm của bà về hướng “đấu tranh giai cấp”.
            Buổi ra mắt bộ 10 tác phẩm này tại đường sách Nguyễn Văn Bình (chiều 20/3) là một sự kiện đặc biệt.
            Cụ bà Nguyễn Thị Thụy Vũ giờ đây cũng không ưa nói nhiều về chuyện viết lách. Bởi đơn giản, nhìn lại cuộc đời văn chương của mình cùng những bể dâu, bà rốt cuộc cũng chỉ coi chuyện viết là “cày chữ nuôi con”.


10 bìa sách của Nguyễn Thị Thụy Vũ trở lại với diện mạo trang nhã, tươi mới

             Sinh năm 1937 ở Vĩnh Long, trong một gia đình khá giả. Cha bà là nhà văn Mặc Khải, cô là thi sĩ Phương Đài đều hoạt động kháng chiến.
            Khoảng 1960-1965, bà dạy tiểu học tại Vĩnh Long, rồi không chấp nhận được môi trường sư phạm bó hẹp, khăn gói lên Sài Gòn học Anh ngữ ở Hội Việt Mỹ. Tại đây, ngay từ năm đầu tiên học tiếng Anh, bà được một bạn học (về sau mới biết, anh ta thuộc giới “ma cô”) giới thiệu đi dạy tiếng Anh cho các cô gái làm snack bar, những phụ nữ Việt Nam cặp kè binh lính, sĩ quan Mỹ.

            “Mấy cô gái cặp kè Mỹ để nuôi thân giữa Sài Gòn lúc đó tôi dạy thường ít học. Có khi một chữ “Hello” dạy một tuần không thuộc. Tui mới nhận ra, họ đi học vì cần người tâm sự là chính.
            “Có cô kia đã có năm đứa con với người chồng Việt, chiến tranh chồng chết nên phải đi làm nghề này kiếm sống. Cổ gửi con về bên ngoại, hằng tháng gửi tiền về nuôi. Tụi nhỏ ăn học và lớn lên, có đứa học tới đại học, nhưng không hề biết mẹ nó làm nghề đó.
            “Theo con mắt của tui, đó là một người mẹ cao quý. Cũng có cô đến mùa đông mặc một cái áo len cũ rách nhàu nhĩ. Tui hỏi thăm sao có tiền không chịu chưng diện, cô ấy nói chiếc áo len rách này là kỷ vật của mối tình đầu ở quê nhà”
, nhà văn Thụy Vũ kể.

            Thực tế trần trụi, khốc liệt và cũng thấm đẫm buồn đau về đời sống những cô gái làm ở các snack bar, dan díu với lính Mỹ đã đi vào những trang viết của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gây chấn động dư luận vào khoảng cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Với các tập: Mèo đêm, Lao vào lửa, Ngọn pháo bông… Nguyễn Thị Thụy Vũ trở thành một hiện tượng văn học gây ngạc nhiên trên văn đàn miền Nam.


Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ trong buổi ra mắt sách hôm 20/03

“Như gái có chồng còn đi ăn sương”
            Về sau, Võ Phiến viết trong Văn học niềm Nam tổng quan nói về sách của Thụy Vũ là dạng sách mà “các thế hệ phụ nữ nước ta trước đó không mấy kẻ dám đọc, đừng nói đến chuyện viết”.

            “Mình tưởng tượng nhưng cũng từ trên thực tế. Truyện của tui, như Khung rêu, có thiệt trên 70%. Nên viết xong tui với ông già lục đục với nhau vài năm, ổng nghĩ ổng là nhân vật địa chủ trong truyện.
            “Truyện viết về gái điếm, gái bar tui viết xong có anh lính miền Nam tìm đến nhà xô cửa đi vào ôm tui vì tưởng tui là gái bar thì mới viết được như vậy. Cũng có anh cầm lựu đạn qua nói tui viết về ảnh và kêu tui phải lên tiếng xin lỗi”
, bà nhớ lại.

            Mộ tài, chung sống với nhà thơ Tô Thùy Yên và có đến bốn mặt con, Nguyễn Thị Thụy Vũ chấp nhận một mình viết văn nuôi con.

            Bà kể: “Hằng ngày tui phải chạy đến các tòa soạn báo viết truyện feuilleton (truyện dài kỳ). Đến báo này viết ba trang rồi lại tất tả chạy qua báo khác, cứ như vậy. Trăm hay không bằng tay quen. Đẻ con thì tự cho mình được nghỉ ba ngày để vào bệnh viện. Đẻ xong lại giao con chạy đi viết.
            “Có chủ báo trả mỗi feuilleton ra là 20.000 đồng (tiền VNCH), nhưng có ông chủ thì kì kèo bớt một thêm hai. Đó là cái nhục. Mình đi làm thuê cho người ta mà người ta coi đồng tiền to quá”
.

            Bà coi Võ Phiến là người thầy, đàn anh nâng đỡ trong nghề văn. Những truyện đầu tiên bà gửi đến tạp chí Bách Khoa và được ông khuyến khích viết tiếp.

            “Việc viết feuilleton như là gái có chồng rồi vẫn đi ăn sương. Tôi coi tờ Bách Khoa chỗ ông Phiến khác nào ông chồng già hiền lành nghiêm túc lặng lẽ luôn chờ tui về. Viết cho Bách Khoa của ông Phiến, tui có cảm giác mình được làm văn chương”, bà Thụy Vũ kể lại.

            Hỏi, các nhà văn nữ thời đó có chơi với nhau không? Nguyễn Thị Thụy Vũ: “Không, tụi tui mỗi người một thế giới; ít gặp nhau đàm đạo văn chương như mấy ông. Tụi tui chỉ thăm nhau lúc đẻ.
            “Ông Thanh Tâm Tuyền nói rằng, phụ nữ không nên léo hánh chốn văn đàn, cần phải đuổi mấy bà vô bếp nấu ăn. Tui không tán thành. Nhưng mà thiệt tình tui lúc nào cũng thấy thua kém đàn ông về mặt sâu sắc. Lúc nào tui cũng nhượng bộ đàn ông chút xíu”
.

            “Vậy bà có quan tâm đến nữ quyền không, ở thời điểm đó?” một người trẻ hỏi. Đáp: “Tui ít biết về cái đó. Nhưng nếu có nữ quyền trong truyện tui thì đó là viết một cách tự nhiên”.



“Giải phóng”
            Cũng như nhiều người, bà quen dùng từ “giải phóng” để nói đến mốc sự kiện chính trị 30/4/1975.

            “Cuộc sống sau “giải phóng” vô cùng khó khăn. Tui một mình nuôi bầy con nheo nhóc, có đứa bị thiểu năng nằm một chỗ. Tui phải để nó cho mấy đứa lớn cho ăn, chăm sóc còn mình thì đi làm thuê bán vé xe bus cho một người bạn.
            “Xe chạy tuyến Thủ Đức – Sài Gòn, từ sáng đến tối mịch mới về nhà. Về đến nhà thấy con cái đứa thì nằm ngủ trên vũng nước đái, đứa lêu lổng đi chơi không cho em ăn… nhìn cái cảnh đó tui muốn chết đi cho rồi. Khó khăn quá, năm 1980 tui bồng bế tụi nhỏ về Bình Phước nương nhờ má cho đến bây giờ”
, bà kể.

            Làm nhiều nghề kiếm sống nuôi con, từ chăn dê, buôn bán, trồng tiêu… cây bút nữ dấn thân nhất của văn đàn miền Nam trước 1975 đã không còn viết gì nữa kể từ sau “giải phóng”.

            Bà kể: “Ổng (tức, Tô Thùy Yên) thì theo gia đình vợ con ổng đi sang Mỹ, có đời sống riêng. Tui làm đủ nghề lo cho con.
            “Ba đứa con tui cũng thành nhân, yên bề gia thất. Có một thằng làm thơ, người ta nói nó có chịu ảnh hưởng của cha nó. Nhưng mấy con tui, đứa nào cũng nghèo, chẳng giúp gì được mình. Tui sống nhờ đứa con bị tàn tật.
            “Xưa tui bỏ nó ở nhà đi làm báo, nó bị té, ảnh hưởng não nên nằm một chỗ đến giờ, vậy mà giờ nó nuôi tui bằng tiền từ thiện bạn bè, các nhà hảo tâm thương tình giúp đỡ…”


            Người mô tả về xã hội bên lề Sài Gòn khốc liệt một thuở lại cũng chính là người chịu đựng những hệ lụy mà chiến tranh để lại.
            Trở lại văn đàn trong nước sau gần nửa thế kỷ, trong bối cảnh sách vở văn chương đang ở vào một giai đoạn hỗn loạn và phân hóa mạnh mẽ, thì tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ minh chứng rằng, những gì là chân giá trị sẽ không bị phủ lấp dưới bụi thời gian và những định kiến.



Đôi nét về tác phẩm của nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
            Từ khi rời Vĩnh Long lên Sài Gòn cho tới 30/4/1975, Thụy Vũ đã viết được 10 tác phẩm, trong đó có 7 truyện dài và 3 tập truyện ngắn.
            – 7 truyện dài gồm: Ngọn Pháo Bông, Thú Hoang, Khung Rêu (đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1971), Như Thiên Đường Lạnh, Nhang Tàn Thắp Khuya, Chiều Xuống Êm Đềm, Cho Trận Gió Kinh Thiên.
            – 3 tập truyện ngắn gồm: 1. Mèo Đêm (gồm 6 truyện: Một Buổi Chiều, Đợi Chuyến Đi Xa, Mèo Đêm, Nắng Chiều Vàng, Bóng Mát Trên ĐườngMiền Ngoại Ô Tình Lẻ); 2. Lao Vào Lửa (gồm 3 truyện: Chiếc Giường, Lao Vào Lửa, Đêm Nổi Lửa – Truyện Chiếc GiườngLao Vào Lửa lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn. Còn truyện Đêm Nổi Lửa lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó thường gọi là Nhà Thương Bạc Hà); 3. Chiều Mênh Mông (gồm 6 truyện: Chiều Mênh Mông, Tiếng Hát, Lìa Sông, Cây Độc Không Trái, Trôi SôngĐêm Tối Bao La).
            Chúng ta thử điểm qua các tác phẩm của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã xuất bản.

            Trước hết là 7 truyện dài của nhà văn:
            1. Thú Hoang: Mô tả thế giới nữ sinh trong một trường công lập tại tỉnh nhỏ. Ba nhân vật nữ chính, cô thứ ba bị tên nam sinh trường khác cưỡng dâm. Cô thứ hai dan díu với tên nam sinh sở khanh, có thai và phải đi phá thai. Còn cô thứ nhất xưng tôi, vì chán không khí tù túng nơi tỉnh lỵ cố hương nên bỏ nhà lên Sài Gòn với hy vọng có cuộc đời mới. Nhưng trên chuyến xe đò, cô gặp một tên nam sinh sở khanh và cảm thấy mềm lòng trước sự ve vãn của hắn. Tới đây tác giả chấm dứt câu chuyện, không ai biết sự đam mê sẽ đưa cô tới đâu.
            2. Ngọn Pháo Bông: Mô tả tâm trạng của một cô gái buôn hương bán phấn về chiều nhưng vẫn còn hấp dẫn đối với mấy anh lính Mỹ trẻ trung. Cô kiếm ra tiền song lại thích bọn trai trong nước và bị chúng bòn rút, kiếm tiền của cô. Cuối cùng, cô bị đâm chết trong căn apartment mà nhà chức trách không sao tìm ra thủ phạm.
            3. Như Thiên Đường Lạnh: Mô tả đời sống của cặp vợ chồng định cư trên cù lao sông Cổ Chiên gần chợ Vĩnh Long. Chồng là thầy giáo tiểu học, không hẳn là người ham thú vui tửu sắc nhưng chán cảnh sống vô vị ngày nào cũng lặp đi lặp lại không hề thay đổi. Vợ là người đàn bà nóng nảy, hỗn hào, tính hay ghen tuông nhưng rất mực đảm đang và một lòng một dạ thương yêu chồng. Người chồng chán sống, chán sự ngưng đọng ở nơi nửa quê nửa tỉnh song vì tinh thần yếu đuối, không có tài năng nên cuối cùng vẫn giữ nghề gõ đầu trẻ với sự uể oải không có niềm vui đó.
            4. Nhang Tàn Thắp Khuya: Đây là câu chuyện về một người vợ mực thước, gánh vác giang sơn nhà chồng mà chồng là một “đại gia” thuộc hạng giàu có. Bất ngờ, một người bạn của chồng hiện diện. Y hiền lành, ít nói, tính tình thụ động, trái hẳn sự vững chắc, mạnh mẽ của chồng. Người vợ vốn rất bao dung và hay mềm lòng đối với kẻ yếu đuối. Nàng không ngờ từ sự thông cảm của mình, dần dần làm nàng lún sâu vào tình yêu. Người bạn của chồng và nàng đều thầm hiểu rằng họ đã yêu nhau, người bạn hăm hở tiến tới, còn người vợ vì lễ giáo nên chỉ đau khổ trốn vào bổn phận vợ hiền. Song song với tình yêu chồng, người vợ có một niềm bí mật ngàn lần lộng lẫy nàng vẫn cất giấu trong kho tàng kỷ niệm của riêng mình.
            5. Chiều Xuống Êm Đềm: Truyện xảy ra vào thập niên cuối của thế kỷ 19. Cặp vợ chồng già trưởng giả ở làng Đạo Thạnh tỉnh Mỹ Tho, sống cô đơn, nương tựa vào nhau. Ngày xa xưa, khi còn nhỏ tuổi, người chồng đã từng chứng kiến người cô ruột của mình hãy còn là một xử nữ, trong chuyến hải trình từ Huế vào Nam kỳ, đi thuyền, gặp sóng to gió lớn, chủ thuyền và bọn hành khách mê tín đã nhẫn tâm liệng người cô ấy xuống biển cho Long Vương làm vợ bé để cầu biển lặng sóng êm. Khi cậu bé lớn lên, cậu cưới một thiếu nữ thuộc họ hàng thân thích của Tả quân Lê Văn Duyệt.
            Nhưng sau khi Tả quân qua đời, Lê Văn Khôi, con nuôi của Tả quân, làm loạn nên bị triều đình tiêu diệt và cả họ hàng của Tả quân bị liên lụy, bị xử chém theo án tru di tam tộc. Người vợ họ Lê dùng bột tỳ sương tự vận để khỏi bị lôi ra pháp trường xử trảm. Thời gian trôi qua, ít lâu sau người chồng tục huyền với một thiếu nữ khác. Dù được người vợ sau yêu thương và tận tụy săn sóc, nhưng hai vết thương lòng – cái chết của người cô ruột trên thuyền và người vợ cũ tự vận – không thể nào tàn phai trong tâm trí người chồng khốn khổ đó.
            Người vợ sau chỉ sinh được hai cô con gái. Cả hai đều xinh đẹp, hiếu hạnh và lấy chồng có địa vị cao sang trong xã hội, làm vẻ vang cho cha mẹ. Rồi các cô lần lượt theo chồng. Dưới mái nhà âm u, cổ kính chỉ còn đôi vợ chồng già. Đây là lúc lão ông sống với dĩ vãng đau thương, còn lão bà thì lúc nào cũng lo sợ cái chết sẽ cướp đi một trong hai vợ chồng, người ở lại sẽ phải chịu cảnh lẻ loi trong buổi hoàng hôn của cuộc đời…
            6. Cho Trận Gió Kinh Thiên: Đây là một xã hội thu nhỏ của xóm lao động ở gần chợ Đũi và bót cảnh sát Quận 3, cùng bên với Tòa Đại sứ Miên trước năm 1975 (nay là trụ sở UBND Quận 3). Ở đấy có đình Phú Thạnh. Khu phía sau đình là xóm có nhà chứa điếm, có quán nhậu, có sòng bài, có chỗ hút á phiện… Trong khung cảnh bệ rạc “tứ đổ tường” ấy, chỉ trừ hai nhân vật chính có ăn học là đôi tình nhân Đồng và Nguyệt, còn thì toàn là thứ đá cá lăn dưa, chằng ăn trăn quấn. Gặp thời buổi lính Mỹ đổ qua Việt Nam tham chiến, đàn bà con gái trong khu đua nhau lấy Mỹ, ngoại tình, bài bạc…
            Thậm chí, một bà mẹ trong căn gác xép, ngồi niệm Phật thì cô con gái lợi dụng đêm tối, chỗ khuất cột đèn, đem tình nhân về hì hục làm tình ở ngoài bao lơn khiến bà than trời như bọng: “Mèn ơi, mỗi khi mình mở miệng niệm Phật thì ở ngoải tụi nó làm đùng đùng như cù dậy”. Lại có chuyện đôi vợ chồng già, chỉ còn sống chung với nhau vì nghĩa, hết còn vì tình. Ông chồng đau ốm dây dưa làm phiền bà vợ trong khi bà rất mê bài bạc. Lúc ông hấp hối, đứa cháu đến sòng tứ sắc báo tin, bà nhứt định đánh cho tới “đứt chến” mới về nhà lo ma chay. Bà già này có đứa em gái vừa câm vừa điếc, vậy mà không hiểu sao cũng có tên đàn ông nào đó “gieo giống” khiến y thị có thai, lần lượt đẻ hai đứa con cho chị mình nuôi. Đến khi y thị lăn đùng ra chết, bà già mê bài bạc vẫn tiếp tục đánh tứ sắc trong khi xác đứa em gái còn nằm trên gác chưa tẩn liệm…
            7. Khung Rêu: Truyện này được Giải thưởng Văn học toàn quốc năm 1971, lấy thời điểm là khoảng năm 1945, từ thời Pháp thuộc chuyển sang thời kỳ “cách mạng” của Việt minh. Gia đình ông Phủ – một vị quan lại quyền cao chức trọng dưới thời Pháp thuộc đã về hưu (không nói rõ ông Phủ tên gì) – rất nhiều ruộng đất và quyền lực đối với tá điền, nay đã khánh kiệt do tình thế nhiễu nhương, không thu được lúa ruộng nhưng vẫn giữ nếp sống phong kiến đầy rẫy bê bối của một gia đình giàu có, quan lại. Ông Phủ đã lớn tuổi, cưỡng dâm cô người hầu mơn mởn tên Ngà, khiến cô này có thai. Bà Phủ tức giận, dọn ra ở riêng và sống như người tu hành, không thèm nhìn mặt ông Phủ nữa.
            Rồi Canh, gã trưởng nam ngỗ nghịch, chỉ muốn cha mình sớm chia gia tài cho mình để được ăn chơi phung phí. Rồi Thụ, người thứ nam tương đối có cá tính rõ rệt, rất hưởng ứng phong trào “cách mạng”, vào chiến khu theo Việt minh nhưng chẳng làm nên trò trống gì. Rồi Tịnh, cô cháu gái gọi ông Phủ bằng cậu, yêu Hoàng – chàng nam sinh ở trọ ăn cơm tháng có tài chơi đàn. Hai người yêu nhau tha thiết nhưng bị ông Phủ cấm đoán, họ bỏ nhà, trốn đi xây dựng tổ ấm được ít lâu, sau đó vì nghèo túng, không biết làm gì để sống nên lại phải trở về.
            Ông Phủ đuổi Hoàng không cho ở nữa. Tịnh nhớ người yêu, phát điên rồi chết trong Dưỡng trí viện Biên Hòa… câu chuyện cứ thế tiếp diễn. Cuối cùng, ông Phủ mất về bệnh đau tim. Rồi bà Phủ cũng mất, cái “khung rêu” đó mục nát, ly tán, những người còn lại sống chẳng ra sao…
            Có lẽ tác phẩm nói trên dựa vào phần lớn sự thực nên trong phần “Thay Lời Tựa”, tác giả trần tình:

            “Từ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. (Cái thịnh mãn của hạng điền chủ ở miền Nam trước đây.) Nguyên nhân chánh của sự suy sụp bệ rạc này thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm, khoảng thời gian gần bằng số tuổi của tôi.
            Tôi sanh ra và lớn lên trong một dòng dõi đã đến hồi ly tán. Cái họ của tôi gồm hai chữ có gạch nối có thể sẽ gợi lên những cảnh sống huy hoàng, vương giả của một thành phần xã hội trong trí nhớ ao tù của những ông già bà lão, những cảnh sống mà tôi chỉ nghe kể lại như một chuyện hoang đường trong những lần giỗ chạp.
            Bây giờ chỉ còn lại một ngôi nhà thừa tự, cột kèo chạm trổ tinh vi đã mục rệu, và chẳng bao giờ lành những vết thẹo của chiến tranh; những điền sản cò bay thẳng cánh chỉ biết đến qua một đống bằng khoán vô dụng mà giấy đã ố vàng và giòn tan, một đám bà con xa gần chi chít, nhỏ nhen ích kỷ như sò hến và hoàn toàn vô tích sự.
            Tâm lý của hạng người này khá đặc biệt. Đó là những thằng chồng trôi dạt lềnh bềnh trên giòng sông hung tợn, một hạng người khư khư ôm lấy cái quá vãng vàng son (nát dậu cũng còn bờ tre), dở thầy dở thợ dở cu ly, bất lực trước sự biến đổi nhãn tiền của cảnh ngộ, bấu víu vào nhau mà sống sót. Trong ngôi nhà thừa tự đó, mỗi người là một hòn đảo của những thói hư tật xấu… Có phải con người một khi đã mất thăng bằng trong cuộc sống vật chất thường để lộ ra rõ rệt hơn bao giờ hết những xấu xa tàn tệ của mình? Và một giai cấp cũng vậy.
            Khi khởi công quyển truyện này, tôi đặt trước cho tôi một chủ định: ghi lại cái ám ảnh từ thời nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho xong.
            Lẽ hiển nhiên, tôi không hề có ý định làm công việc của nhà xã hội học hay của nhà đạo đức học. Những công việc này vượt quá sức của tôi. Vả lại, chúng cũng chẳng lợi lộc gì cho tôi.
            Tôi cũng không có ý định phân tích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một ai hay một điều gì. Cho riêng tôi, tôi chỉ muốn dựng lại cái thế giới khốn đốn đã bao trùm tôi cho đến ngày nay. Tôi chỉ muốn mô tả một hiện tượng xã hội hoàn toàn thân thuộc mà thôi.
            Tiểu thuyết là tưởng tượng, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt nguồn từ một phần sự thật?
            Sở dĩ tôi trình bày như vậy, là để xin những người thân thích của tôi, nếu có dịp tình cờ nào đọc quyển truyện này, hãy rộng lòng tha thứ cho tôi”
.



             Còn sau đây là 3 tập truyện ngắn của nhà văn Thụy Vũ:
            1. Tập Mèo Đêm: Khi tập truyện này do nhà Thời Mới của nhà văn Võ Phiến xuất bản thì chỉ có 4 truyện ngắn: hai truyện Một Buổi Chiều, Đợi Chuyến Đi Xa nói về tâm trạng ray rứt, thèm thuồng tình yêu lẫn tình dục của một cô gái già; hai truyện Mèo ĐêmNắng Chiều Vàng nói về các cô bán bar dan díu với bọn lính Mỹ. Khi được nhà xuất bản Kim Anh tái bản thì có thêm hai truyện Bóng Mát Trên ĐườngMiền Ngoại Ô Tình Lẻ. Hai truyện này nói lên niềm cô đơn của tác giả được thể hiện qua hai nhân vật nữ, văn chương êm dịu, đôi lúc thơ mộng nhưng có khi lại le lói mầm mống nổi loạn.
            2. Tập Lao Vào Lửa: Viết về nếp sinh hoạt của các cô gái điếm trá hình làm chiêu đãi viên trong các snack bar. Như phần bên trên đã nói, hai truyện Chiếc GiườngLao Vào Lửa lấy bối cảnh tại một snack bar ở Sài Gòn, còn truyện Đêm Nổi Lửa lấy bối cảnh ở nhà thương khám bệnh hoa liễu mà thời đó gọi là Nhà thương Bạc Hà. Nhân vật chính bị bắt đi “lục-xì” (look and see) tức đi khám bệnh xem có vi trùng giang mai hay không, và bị giam lỏng trong nhà thương đó. Muốn thoát ra khỏi nhà thương, đương sự thông đồng với mấy người đồng cảnh ngộ bị giam và người tình ở bên ngoài. Đợi tới đêm giáp Tết, cả bọn nổi lửa gây hỏa hoạn để thừa lúc hỗn loạn chạy ra ngoài. Các cô chạy thoát nhưng rách te tua do leo qua hàng rào, nhiều cô trầy sứt và chỉ còn chiếc quần xi-líp.
            3. Tập Chiều Mênh Mông: Gồm truyện Chiều Mênh Mông (cùng tựa với tập truyện), mô tả tâm trạng của những nhân vật cô đơn. Truyện Tiếng Hát mô tả sự bỡ ngỡ của cô thiếu nữ lạc loài theo kiểu tha phương cầu thực. Tình cờ cô bước vào cái xã hội văn nghệ sĩ thời thượng và chịu ăn nằm với một chàng du ca mà không nghĩ sự dan díu đó sẽ đi tới đâu sau cuộc làm tình không mấy hào hứng. Truyện Lìa Sông là lời kể của một cô giáo làng mô tả về chuyện dạy dỗ và thân phận hẩm hiu của mình trong khi cô đủ cả công dung ngôn hạnh. Cuối cùng, cô may mắn có được tấm chồng và sống hạnh phúc.
            Truyện Cây Độc Không Trái mô tả cô gái bán bar đi phá thai. Cách phá thai được tác giả trình bày chi tiết khiến người đọc rùng mình. Rồi tác giả mô tả luôn mặc cảm phạm tội của cô gái cùng cái ý tưởng lo sợ mai sau cô sẽ tuyệt tự. Truyện Trôi Sông và truyện Đêm Tối Bao La với bút pháp dữ dằn, cốt truyện phanh phui tàn nhẫn cái bản năng giông bão của những hạng cùng đinh trong xã hội.


AN NAM
Tháng 3/2017


http://thoibao.com/doi-net-ve-nha-van-nguyen-thi-thuy-vu/
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #61 vào: 26/09/2017, 20:51:27 »
Nghệ thuật làm bánh macaron của người Pháp

Tại Pháp, mỗi ngày có đến 38 triệu rưỡi chiếc bánh macaron được cho ra lò, trong đó có hơn một nửa được bán ra nước ngoài. Số liệu của bộ Thương mại Pháp chỉ tính đến các thương hiệu lớn chuyên về xuất khẩu, chứ chưa kể đến các tiệm bánh nhỏ chỉ phục vụ cho người tiêu dùng ở Pháp.


VỚI KÍCH THƯỚC hình tròn, đường kính cỡ bằng hai đốt ngón tay, nhưng macaron lại có uy tín hàng đầu trong ngành chế biến bánh ngọt thượng hạng của Pháp. Bánh ngọt macaron của Pháp được làm với lòng trắng trứng gà, đường cát, bột hạnh nhân xay nhuyễn và thêm một chút màu thực phẩm. Nhụy bánh được làm với kem bơ, mứt trái cây hay kem tươi trộn chocolat (thuật ngữ chuyên ngành gọi là ganache).

Nguồn gốc của Macaron
            Theo quyển tự điển ẩm thực Larousse Gastronomique, nguồn gốc của bánh macaron đã có từ thời Trung Cổ, xuất phát vào năm 791 (thế kỷ thứ VIII) từ một tu viện ở Cormery, vùng Indre et Loire miền Trung nước Pháp. Nhưng cũng có một số nhà ngôn ngữ học cho rằng nguồn gốc của macaron đến từ nước Ý, chữ macherone có nghĩa là nghiền nát xay nhuyễn. Loại bánh này có thể là do các nhà đầu bếp làm việc cho hoàng hậu Catherine de Médicis du nhập vào Pháp vào thời Phục Hưng, thế kỷ thứ XVI (1533), khi bà thành hôn với vua Henri Đệ nhị.
            Dù gì đi nữa, truyền thống làm bánh hạnh nhân đã có từ xưa. Nhưng kiểu bánh macaron với hình dáng y như bây giờ tức là hai mẫu bánh tròn giống như tai nấm, có kẹp nhụy ở giữa, là do gia đình ông Louis Ernest Ladurée sáng chế vào giữa thế kỷ thứ XIX. Tiệm bánh Ladurée đầu tiên được khánh thành vào năm 1862, và tính đến nay có khoảng 30 cửa hiệu trên khắp thế giới. Sau gia đình Ladurée, đến phiên ông Gaston Lenôtre từ năm 1947 trở đi cũng bán macaron trong số các loại bánh ngọt. Gần đây hơn nữa, có các thương hiệu nổi tiếng như Pierre Hermé, Dalloyau, Fauchon, Hédiard đều khai thác sản phẩm này.



Thương hiệu bánh Macaron gắn liền với nước Pháp xinh đẹp
            Giá trung bình của một hộp bánh macaron là khoảng 9 euro: mỗi hộp gồm 6 chiếc bánh. Còn mua theo từng chiếc: giá của một kiểu bánh nhỏ là 1,5 euro, kiểu lớn 4 euro. Giá này ở Paris, tương đối là cao, ở các tiệm bánh nước ngoài giá bán còn cao hơn nữa. Nếu một ngày nào đó, bạn có dịp ghé thủ đô Bangkok, thì bạn nên tạt qua cửa hàng Lenôtre nằm trên tầng hai của trung tâm thương mại Siam Paragorn. Bánh macaron ở đây do người Pháp chế biến còn đắt hơn là ở Paris. Sang trọng hơn nữa là tiệm bánh macaron nằm giữa đại sảnh của khách sạn 5 sao Mandarin Oriental, trung tâm thủ đô Bangkok.
            Từ Tokyo sang New York, từ Sydney đến Seoul, các kiểu bánh macaron giờ đây xuất hiện tại nhiều chi nhánh của các thương hiệu nổi tiếng tại các thành phố lớn trên thế giới. Theo lời cô Marie Josée Jarry, tác giả của một quyển sách nói về nghệ thuật chế biến macaron, loại bánh hạnh nhân có uy tín một phần là vì các tiệm ăn sang chuyên đưa món này vào trong thực đơn, nhưng dần dà loại bánh macaron đã trở nên phổ biến rộng rãi hơn, có thể tìm thấy tại các tiệm bánh nhỏ, ít ra là những kiểu bánh với mùi hương truyền thống:

            Quá trình làm bánh macaron chủ yếu gồm những nguyên liệu như sau: lòng trắng của trứng, đường bột xay nhuyễn và nhất là hạnh nhân (amande). Chất lượng của hạnh nhân ở đây rất là quan trọng vì tính trung bình giá tiền của một kí-lô hạnh nhân là khoảng 9 euro, nhưng loại thượng hạng có thể cao hơn gấp 5 lần. Thông thường thì các bà nội trợ có thể mua loại bột hạnh nhân xay sẵn, nhưng các nhà làm bánh ngọt cũng như các nhà đầu bếp thượng hạng thì lại thích mua hạnh nhân nguyên hạt, rồi đem về tự xay nhuyễn lấy.
            Để chế biến ruột bánh macaron, thì tùy theo khẩu vị của từng người. Ta có thể chế biến loại ganache chủ yếu làm với các loại chocolat, hoặc là loại crème au beurre, tức là một loại váng kem bơ nhưng nhẹ bụng do không có quá nhiều chất béo. Nhẹ hơn nữa thì có loại trái cây tươi xay nhuyễn (compotée de fruit), nấu với một chút đường nhưng không ngọt như mứt. Dựa vào các nguyên liệu cơ bản đó, các nhà làm bánh tha hồ mà kết hợp để chế biến đủ loại hương vị và màu sắc cho macaron.
            Trong các mùi hương bánh ngọt thì nổi tiếng nhất vẫn là loại kem bơ ngọt pha mùi hương vani trộn với một chút muối, đủ loại mùi trái cây vùng nhiệt đới như trái ổi, chanh dây và xoài, xu hướng bớt ăn ngọt giờ đây cũng cho ra đời nhiều loại bánh macaron làm với hương trà: trà xanh, thiên lý, hoa lài, hoa bưởi, trà lức sả. Macaron bây giờ còn có luôn cả loại bánh mặn dùng để khai vị trước các bữa ăn tối: hương vị của bánh thường là các mùi nấm hương như nấm cèpe, nấm truffe, mùi trái ôliu, mùi rau quế (basilic), thậm chí có cả bánh macaron mùi gan ngỗng béo (foie gras)
.

            Về phần mình, nhà đầu bếp Jean Sulpice là tác giả của quyển sách mang tựa đề Cuisine en famille Nấu ăn trong gia đình, chủ trương phổ biến rộng rãi các bí quyết nấu ăn. Nổi tiếng là một nhà đầu bếp thượng thặng, được sách hướng dẫn ẩm thực Michelin xếp vào hạng hai sao (mức cao nhất là ba sao), anh còn là một gương mặt quen thuộc với cộng đồng trên mạng vì anh thường mở lớp dạy nấu ăn trực tuyến. Khác với nhiều đồng nghiệp nổi tiếng, Jean Sulpice không che giấu các bí quyết gia truyền mà lại tìm cách truyền đạt cách thức nấu ăn hay làm bánh ngọt một cách dễ hiểu nhất:

            Mục tiêu của tôi khi mở các lớp dạy nấu ăn là truyền đạt sự yêu nghề cũng như những gì tôi đã học hỏi từ gia đình. Những ngày lễ cuối năm đã đến và rất nhiều người Pháp muốn có một món ăn ngon trên bàn tiệc. Dĩ nhiên là ta có thể đi mua một món ăn làm sẵn, nhưng theo tôi nghĩ món ăn đó sẽ càng ngon hơn nữa, nếu như tự tay ta chế biến lấy. Đối với những người không có nhiều thời gian, thì trước hết nên chọn các món ăn mà phương thức nấu nướng không quá đỗi công phu cầu kỳ.
            Vào mùa này, có rất nhiều phụ nữ thích học cách làm bánh hạnh nhân macaron. Phương thức mà tôi chọn để hướng dẫn cách làm tương đối khá đơn giản, chỉ cần hai mươi phút chuẩn bị và mười phút đút lò nướng bánh. Một vài bí quyết để cho bánh được làm thật ngon. Trước hết khi đánh bông lòng trứng, bạn nên dùng loại trứng thật tươi, trứng đừng bỏ tủ lạnh mà nên giữ ở nhiệt độ bên ngoài bình thường, có như vậy thì lòng trắng mới dễ lên bông. Khi chuẩn bị trộn lòng trứng đánh bông với bột hạnh nhân có đường, thì cũng nên đánh bột hạnh nhân bằng tay thêm vài phút. Bột hạnh nhân đã được xay nhuyễn nhưng khi đánh thêm bằng tay, thì ta cho thêm không khí vào bột bánh, như vậy thì bánh sẽ nhẹ hơn, bánh có thể giòn ngoài vỏ nhưng lại xốp mềm ở bên trong.
            Về màu sắc của bánh macaron, thì nên dùng các loại phẩm màu tự nhiên bằng bột, tuyệt đối không nên dùng phẩm màu bằng chất lỏng, vì bột màu và bột bánh một khi đút lò nướng sẽ nở đều như nhau, trong khi phẩm màu bằng giọt có thể làm hỏng đi chiếc bánh. Bánh macaron một khi nướng xong không nên ăn liền, mà nên để cho nó nguội lại ít nhất là 12 tiếng, bởi vì lúc đó vỏ bánh sẽ rán giòn lại, trong khi ruột bánh vần xốp mềm. Ngoại trừ các bí quyết này ra, thì theo tôi nghĩ bất cứ ai cũng có thể làm thử macaron mà không sợ hỏng bánh. Tuy nhiên, cũng nên làm vài lần để có thể điều chỉnh độ ngọt hoặc là thêm bớt các hương vị cho mùi bánh thêm thơm ngon
.

            Phương thức chế biến macaron, nói một cách nôm na lại giống như cách làm bánh men. Khác hay chăng là ở dung lượng của nguyên liệu, giúp cho macaron bớt khô và xốp mềm hơn. Những người khéo tay có thể chế biến thêm nhụy bánh, nhưng thật ra bạn có thể sử dụng các loại mứt trái cây, các loại chocolat trộn với một chút crème, miễn là đừng quá ngọt. Cô Cathy là một bà nội trợ chuyên tự học lấy cách làm các món ăn nhân mùa Noel, cho biết:

            Cho những ngày lễ cuối năm tôi vẫn thường chọn lấy thực đơn rồi tự tay làm lấy các món ăn. Tôi đã từng học cách chế biến chocolat, đặt mua gan ngỗng béo tươi rồi đem về nhà chế biến thêm bằng cách ướp với gia vị và một chút rượu mạnh, tôi cũng vừa học cách làm bánh macaron. Khi đi mua ở ngoài các hiệu bánh ngọt, tôi thấy món này được bán với giá cao nên cứ tưởng rằng loại bánh này công phu và khó làm lắm.
            Nhưng thật ra bánh macaron tương đối dễ làm, nhất là giờ đây, ta có thể tìm thấy nhiều hương liệu tự nhiên của trái cây, cho nên bánh làm ở nhà có thể đa dạng hơn trước rất nhiều, cả về màu sắc lẫn hương thơm của mỗi chiếc bánh. Tôi thường hay làm loại bánh macaron, mà ở trong nhụy thường là trái cây xay nhuyễn. Tôi thích nhất nhụy trái lê, vì có nhiều loại trái lê rất thơm, ngọt mà không vị chua như trái táo.
            Khi xay nhuyễn xong, rồi bỏ trên bếp nấu cho khô nước, không cần phải cho thêm đường, vì vỏ bánh đã ngọt, mùi hương tự nhiên của trái cây vì thế mà càng tinh tế thơm ngon hơn, ngon hơn nữa là khi nấu trái lê ta chỉ cần bỏ thêm nửa múi vani là vừa đủ thơm cho cả một lò bánh nướng khoảng chừng 50 chiếc bánh nho nhỏ. Tôi làm cho gia đình, nhưng cũng để tặng bạn bè người thân nhân dịp lễ
.

            Về phần mình, nhà đầu bếp William Lamagnère được xem như là người đầu tiên đã sáng tạo ra loại bánh macaron có nhụy lỏng. Ở đây, ta có thể nói ngay lập tức là những người nội trợ thông thường sẽ khó mà bắt chước làm kịp, bởi vì nhà đầu bếp này đã cùng với một êkíp gồm 5 người thợ chuyên làm bánh đã mất khoảng hai tháng để tìm cho ra phương thức chế biến. Sự cạnh tranh giữa các tên tuổi trong ngành ẩm thực buộc các nhà đầu bếp phải sáng tạo không ngừng:

            Đây là một ý tưởng mới trong cách chế biến bánh macaron. Trước đây, nhiều hiệu bánh ngọt đã thử dung hòa bánh hạnh nhân với nhiều hương vị mới, kết hợp độ giòn của vỏ bánh với độ mềm của nhụy bánh. Tôi thì tìm cách chế biến một loại macaron với nhụy lỏng. Làm thế nào để cho nhụy ở bên trong đủ lỏng để khi cắn một miếng bánh, chất nhụy sẽ tràn ra ngoài. Nhưng đồng thời nhụy bánh cũng không nên lỏng quá vì nó sẽ thấm mềm khiến cho cái vỏ bánh không còn được gián giòn, mà đó lại là đặc điểm của loại bánh macaron làm theo kiểu của Paris. Tôi rất hài lòng vì kiểu bánh này đã được báo chí chuyên ngành ẩm thực chấm điểm cao, xem đó là một trong những nét sáng tạo nổi bật của ngành làm bánh ngọt thượng hạng.
            Trái với những ngành nghề khác, ngành ẩm thực không hề có chuyện đăng ký bằng phát minh sáng chế. Bạn có thể bảo vệ một thương hiệu, nhưng khó thể nào mà bảo vệ một công thức chế biến món ăn. Nhưng tôi hy vọng rằng những ý tưởng sáng tạo như vậy sẽ thôi thúc các bạn đồng nghiệp tiếp tục tìm tòi những ý tưởng mới táo bạo, khác lạ hơn thế nữa, nhất là giờ đây nhiều hiệu bánh trên thế giới ở Nhật hay ở Mỹ đã lao vào việc khai thác chế biến bánh macaron theo kiểu Pháp.


            Nhà đầu bếp William Lamagnère từng làm việc 6 năm cho thương hiệu bánh ngọt Ladurée, một trong những thương hiệu bánh ngọt của Pháp nổi tiếng nhất thế giới. Có một thời gian anh từng đi giảng dạy tại trường Cordon Bleu, chuyên đào tạo các nghề có liên quan đến nghệ thuật ẩm thực. Tuy hiện làm chủ của một nhà hàng danh tiếng ở Paris (quán ăn Closerie des Lilas ở Paris quận 6) nhưng anh cho biết anh vẫn nuôi giấc mộng gầy dựng một thương hiệu chuyên về bánh ngọt:

            Giấc mơ mà tôi ấp ủ trong nhiều năm qua là một ngày nào đó là tôi có đủ tài năng để sánh kịp các bậc thầy. Trong lãnh vực chế biến bánh ngọt, mà uy tín không chỉ dừng lại ở Pháp mà còn lan tỏa ra nhiều quốc gia trên thế giới, hiện giờ có ông Pierre Hermé, mà báo chí chuyên ngành thường mệnh danh là một Picaso của ngành bánh ngọt thượng hạng. Bên cạnh đó còn có ông Philippe Andrieu, bậc thầy của hiệu bánh Ladurée, cũng như Christophe Michalak làm việc cho khách sạn 5 sao Plaza Athénée ở Paris.
            Nhờ vào tư duy sáng tạo, họ đã sáng chế ra những kiểu bánh ngoạn mục khác thường, tuy không được bảo vệ bởi một bằng sáng chế phát minh nào cả, nhưng vẫn trở thành kinh điển khuôn mẫu, bởi vì các kiểu bánh này trở thành những đề thi nhân các cuộc tranh tài cấp quốc gia hay cấp quốc tế. Điều đó theo tôi chẳng khác gì một giải về thành tựu sự nghiệp, quan trọng không kém gì việc mở hàng chục cửa hiệu trên thế giới để kinh doanh thương hiệu của mình
.


TUẤN THẢO
Tháng 12/2011


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20111223-nghe-thuat-lam-banh-macaron-cua-nguoi-phap
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #62 vào: 28/09/2017, 19:04:50 »
Thái Hậu Ỷ Lan: Nữ chính trị gia kiệt xuất Việt Nam

Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, có rất ít phụ nữ nổi bật trên chính trường. Đấy không phải là bởi vì phụ nữ nước ta không có tài làm chính trị, mà bởi vì ngày xưa phụ nữ luôn bị kềm kẹp trong cái câu “tam tòng tứ đức”, luôn sống trong cái cảnh “khuê môn bất xuất”.

Đền thờ Thái hậu Ỷ Lan hiện ở Gia Lâm. Dân gian thường gọi là “chùa Bà Tấm”

CHÍNH VÌ THẾ, nhân vật nữ nào được nổi bật thì ắt phải là kiệt xuất lắm. Và cách đây hơn 800 năm, lịch sử Đại Việt đã biết đến một phụ nữ kiệt xuất có tài kinh bang tế thế: Thái Hậu Ỷ Lan.
            Về nhân thân của bà Ỷ Lan, còn nhiều điểm chưa rõ. Xem xét các bộ sử liên quan, đại khái bà sinh vào khoảng năm 1044 và mất năm 1117. Tên của bà sử cũ cũng không thống nhất, có thuyết cho rằng bà tên là Lê Khiết Nương, có thuyết thì bảo là Lê Thị Khiết, cũng có thuyết nói là Lê Thị Yến Loan.

Cô gái tựa gốc lan
            Lúc chưa vào cung, bà là một cô gái hái dâu, chăn tằm ở làng Thổ Lỗi (còn có tên là làng Sủi, nay là xã Dương Xá, huyện Gia Lâm, Hà Nội). Câu chuyện tiến cung của bà khá lãng mạn, và cũng là nguồn gốc của tên Ỷ Lan, cái tên nổi tiếng đến mức mà đời sau không ai còn chú ý đến tên thật của bà nữa. Sử cũ chép về câu chuyện này đại để như sau:

            Thuở ấy vào năm Quý Mão (1063), vua Lý Thánh Tông đã bốn mươi tuổi mà vẫn chưa có con trai để truyền ngôi báu. Vua bèn thân hành đi cầu tự khắp các chùa chiền, miếu mạo nhưng không hiệu nghiệm, nhà vua vô cùng lo lắng. Một sớm mùa xuân, vua về viếng thăm chùa Dâu (tổng Dương Quang, phủ Thuận Thành) dân làng mở hội nghênh giá. Trai gái, già trẻ các làng đều ra rước vua.
            Đoàn xa giá của vua đi đến đâu, các làng lân cận nô nức, đổ xô về phía ấy. Duy có một cô thôn nữ xinh đẹp của làng Sủi vẫn điềm nhiên hái dâu, xem việc ngự giá của vua không có quan hệ gì đến mình. Lý Thánh Tông lấy làm lạ, bèn cho đòi người con gái có vẻ “kiêu căng” đang đứng bên nương dâu kề gốc lan ấy đến trước kiệu rồng để hỏi. Cô gái ung dung nhẹ nhàng tới quỳ tâu: “Thiếp là con nhà nghèo hèn, phải làm lụng đầu tắt mặt tối, phụng dưỡng cha mẹ có đâu dám mong đi xem rước và nhìn mặt rồng”.
            Vua thấy cô gái tuy ăn mặc quê mùa, nhưng cử chỉ thì đoan trang dịu dàng, lời nói phong nhã, đối đáp phân minh, lễ nghĩa rành rành. Vua yêu vì sắc, trọng vì nết, nên cho cô gái theo long giá về kinh đô. Về đến kinh đô, vua Thánh Tông cho dựng cung Ỷ Lan với ý nghĩa là gợi nhớ lại câu chuyện nhà vua đã gặp cô gái đứng tựa cây lan (Ỷ Lan tức là: tựa cây lan), và phong cho cô gái hái dâu làng Thổ Lỗi làm Ỷ Lan Phu Nhân.

Chuyện hậu cung
            Ba năm sau khi tiến cung, Ỷ Lan Phu Nhân hạ sinh cho vua Thánh Tông vị hoàng tử đầu tiên, hoàng tử Càn Đức, tức vua Lý Nhân Tông sau này. Nhờ đó, Ỷ Lan Phu Nhân được gia phong Ỷ Lan Thần Phi. Vào năm 1068, Ỷ Lan Thần Phi hạ sinh thêm một hoàng tử nữa, và được phong là Ỷ Lan Nguyên Phi (đứng đầu các phi, chỉ sau Hoàng Hậu Thượng Dương lúc bấy giờ).
            Năm 1072, vua Thánh Tông mất, con trai Nguyên Phi Ỷ Lan là Thái tử Càn Đức lên ngôi lấy hiệu là Lý Nhân Tông. Tân vương sinh năm 1066, tức lên ngôi chỉ mới 6 tuổi, do đó cần có Thái hậu buông rèm nhiếp chính. Theo điển lệ lúc bấy giờ, bất kể là mẹ ruột của vua hay không, miễn là Hoàng hậu thì sẽ được phong làm Thái hậu và được buông rèm nhiếp chính. Hoàng hậu của vua Thánh Tông là bà Thượng Dương, và thế là Hoàng Hậu Thượng Dương được phong Thái Hậu nhiếp chính, trong khi đó bà Ỷ Lan là mẹ ruột lại chỉ được phong là Thái Phi (đứng sau Thái hậu). Tức vì con mình đẻ ra mà mình lại bị thua kẻ khác, nên Thái Phi Ỷ Lan mới rấp tâm hại Thượng Dương Thái Hậu.
            Sự việc xảy ra vào năm 1073, sử cũ chép như sau:

            “Linh Nhân (tức bà Ỷ Lan – LP) có tính ghen, cho mình là mẹ đẻ mà không được dự chính sự, mới kêu với vua rằng: “Mẹ già khó nhọc mới có ngày nay, mà bây giờ phú quý người khác được hưởng thế thì sẽ để mẹ già vào đâu?” Vua bèn sai đem giam Thượng Dương Thái Hậu và 76 người thị nữ vào cung Thượng Dương, rồi bức phải chết chôn theo lăng Thánh Tông”.

            Sau đó, vua Nhân Tông mới phong cho mẹ ruột làm Linh Nhân Thái Hậu nắm quyền buông rèm nhiếp chính. Như thế, cô gái hái dâu làng Thổ Lỗi năm nào, sau 10 năm tiến cung, không chỉ trở thành mẫu nghi thiên hạ cai quản hậu cung, mà còn nắm đại quyền điều hành đất nước.

“Rằng tôi chút phận đàn bà…”
            Vụ bức tử Thượng Dương Thái Hậu và hơn 70 cung nữ nói trên là vết mờ trong bức tranh sáng lạng về sự nghiệp của Thái Hậu Ỷ Lan. Sự việc đã bị các sử gia phong kiến chỉ trích. Thế nhưng, ở đây có một điểm đáng chú ý, đó là sự chỉ trích của các sử gia phong kiến vốn nặng tính Nho giáo đã không quá gay gắt, mà hơn nữa còn tỏ ra thông cảm.
            Chẳng hạn như sử gia Nho giáo Ngô Sĩ Liên phê rằng: “Nhân Tông là người nhân hiếu, Linh Nhân là người sùng Phật, sao lại đến nỗi giết đích thái hậu, hãm hại người vô tội, tàn nhẫn đến thế ư? Vì ghen là thường tình của đàn bà, huống chi lại là mẹ đẻ mà không được dự chính sự. Linh Nhân dẫu là người hiền cũng không thể nhẫn nại được, cho nên phải kêu với vua”.
            Một lần phạm tội sử sách đã không quên, nhưng các sử gia lại tỏ ra thông cảm với cái chuyện “Ghen tuông vốn chuyện người ta thường tình” như cụ Nguyễn Du đã nói trong Truyện Kiều. Sự cảm thông này có thể hiểu được, bởi vì đối với đại cục, với dân với nước, Thái Hậu Ỷ Lan đã có những đóng góp vô cùng to lớn.

Hai lần nhiếp chính
            Tài làm chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan được thể hiện ngay cả khi bà còn là Nguyên Phi. Số là vào năm 1069, vua Lý Thánh Tông cùng Lý Thường Kiệt mang quân đi đánh nước Chiêm ở phía Nam, vua tin tưởng giao quyền nhiếp chính cho Nguyên Phi Ỷ Lan. Sử cũ chép rằng: bà nguyên phi Ỷ Lan trị nước rất giỏi, khiến dân tâm hòa hiệp, cõi nước thanh bình. Dân gian sùng đạo Phật, tôn bà là “Quan Âm”. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư chép một mẫu chuyện mà theo đánh giá của nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần là “Chút sĩ diện đáng yêu của vua Lý Thánh Tông” như sau:

            “Trận này, vua đánh Chiêm Thành mãi không được, bèn rút quân về. Đến Cư Liên (Tiên Lữ, Hải Hưng), vua hỏi thăm nhân dân, thấy nhân dân hết lời ca ngợi tài trị nước của Ỷ Lan, vua mới thở than: “Kẻ kia là đàn bà còn làm được như thế, là nam nhi lại chẳng làm được việc hay sao?” Nói xong bèn quay lại đánh nữa và thắng được”.

            Lần nhiếp chính thứ hai xảy ra sau khi vua Lý Thánh Tông mất vào năm 1072. Như đã nói, Thái Phi Ỷ Lan đã bức hại Thái Hậu Thượng Dương vào năm 1073 và chiếm ngôi Thái Hậu nhiếp chính.
            Thế nhưng, vừa nắm được quyền bính, Thái Hậu Ỷ Lan đã phải lèo lái chính quyền nhà Lý cứu nguy cho chủ quyền dân tộc. Số là vào năm 1076, quân Tống xâm lấn nước ta. Trước sức mạnh như vũ bão của giặc, Thái Hậu Ỷ Lan đã biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hiềm khích cá nhân. Chuyện là, trước đây, Lý Đạo Thành về phe Thái Hậu Thượng Dương còn Thái Phi Ỷ Lan thì dựa vào Lý Thường Kiệt. Năm 1073, Thái Hậu Thượng Dương bị bức tử, Lý Đạo Thành bị giáng chức ra tận Nghệ An.
            Thế nhưng, để tạo được sức mạnh đoàn kết bên trong mà chống giặc ngoài, Thái Hậu Ỷ Lan đã bỏ qua hiềm khích cũ và triệu Lý Đạo Thành về kinh giao cho chức Thái Phó Bình Chương Quân Quốc Trọng Sự trông lo nội chính, còn Lý Thường Kiệt thì tập trung sức lực dẫn quân chống ngoại xâm. Một cách khái quát, triều đình dưới quyền Ỷ Lan, văn có Lý Đạo Thành còn võ thì có Lý Thường Kiệt.
            Và kết quả là cuộc chiến chống quân Tống năm 1076-1077 đã chiến thắng vẻ vang với trận Như Nguyệt đi vào lịch sử. Và với sự bất tử của bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt, một bài thơ được xem là “Bản Tuyên ngôn Độc lập” đầu tiên trong lịch sử Việt Nam.
            Chưa hết, trước khi đánh quân Tống, Lý Thường Kiệt đã mang quân đánh Chiêm vào năm 1075 và giành được chiến thắng. Nên nhớ rằng, việc “Phá Tống, bình Chiêm” của Lý Thường Kiệt diễn ra thành công khi ấy vua Nhân Tông chỉ là một cậu bé lên mười. Và như thế, việc triều đình tất nhiên do Thái Hậu Ỷ Lan lãnh đạo. Ỷ Lan chỉ là một người đàn bà sống trong cái xã hội do đàn ông thống trị xưa kia, thì quả thật, nếu không có thực tài chính trị để điều hành đất nước, thì bà cũng không dễ gì lãnh đạo nổi hai nhân vật kiệt xuất như Lý Thường Kiệt và Lý Đạo Thành.

Đào tạo một minh quân cho đất nước
            Thái Hậu Ỷ Lan rất hiểu nỗi đau khổ của nông dân. Khi Lý Thánh Tông mất, con bà lên ngôi, bà đã làm được nhiều việc có ích cho dân. Ở nông thôn bấy giờ có nhiều phụ nữ vì nghèo mà phải bán mình, đem thân thế nợ, không thể lấy chồng được, bà Ỷ Lan đã lấy tiền bạc trong quốc khố chuộc những người ấy và đứng ra dựng vợ gả chồng cho họ.
            Thái Hậu Ỷ Lan rất hiểu rằng đối với người nông dân thì “con trâu là đầu cơ nghiệp”, nên đã nhiều lần nhắc nhở vua Nhân Tông phạt nặng những kẻ ăn trộm trâu và giết trâu. Tháng hai năm Ðinh Dậu (1117), giai đoạn trước khi bà mất, bà còn nhắc nhở vua một lần nữa: “Gần đây, người kinh thành và làng ấp có kẻ trốn đi chuyên nghề trộm trâu. Nông dân cùng quẫn. Mấy nhà phải cày chung một trâu. Trước đây, ta đã từng mách việc ấy và nhà nước đã ra lệnh cấm. Nhưng nay việc giết trâu lại có nhiều hơn trước”.
            Lời khuyên vua trên đây chứng tỏ tuy Thái Hậu Ỷ Lan quan tâm theo dõi và lo lắng đến đời sống nông dân. Không chỉ có thế, kinh tế Đại Việt bấy giờ cái chính vẫn là nông nghiệp, bởi vậy chăm lo cho nông dân cũng chính là chăm lo cho nền kinh tế đất nước. Tuy việc con trâu bề ngoài là chuyện nhỏ, nhưng lại có ý nghĩa chiến lược rất lớn vậy.
            Vâng lời mẹ, vua Lý Nhân Tông hạ lệnh truy bắt và trừng trị những kẻ chuyên nghề ăn trộm trâu. Không những thế việc giết trâu ăn thịt những ngày giỗ đám cũng bị hạn chế. Chính quyền nhà Lý quy định ở Thăng Long cũng như tại các địa phương trong cả nước cứ ba nhà lập một “bảo” kiểm soát lẫn nhau và cùng liên đới chịu trách nhiệm về tội lạm giết trâu bò.
            Ngoài những đóng góp nói trên, Thái Hậu Ỷ Lan còn có một đóng góp vô cùng quan trọng mà không thể nào không nhắc tới, đó là bà đã sinh ra và đào tạo được một minh quân cho đất nước như Lý Nhân Tông.
            Các bộ sử đều ghi lại việc đất nước phát triển phồn thịnh về mọi mặt dưới thời Lý Nhân Tông. Đặc biệt về giáo dục, vào năm 1075, triều đình cho mở khoa thi tam trường để lấy người văn học ra làm quan. Đây là kỳ thi đầu tiên ở nước ta, chọn được hơn 10 người trong đó thủ khoa là Lê Văn Thịnh. Năm 1076, triều đình lập Quốc Tử Giám, được xem là trường đại học đầu tiên của nước ta. Nền giáo dục Nho học của nước Việt bắt đầu từ đó.
            Ta thấy trong giai đoạn này, vua Nhân Tông chỉ độ 10 tuổi, Lý Đạo Thành lo việc nội chính, Lý Thường Kiệt thì lo đánh giặc ngoại bang, trên thì có Thái Hậu Ỷ Lan lãnh đạo. Sử gia Trần Trọng Kim nhận định về giai đoạn này như sau: “…trong thì sửa sang được chính trị, ngoài thì đánh nhà Tống, phá quân Chiêm. Ấy cũng nhờ có tôi hiền tướng giỏi cho nên mới thành được công nghiệp như vậy”. Và lẽ dĩ nhiên, để có được cái “tôi hiền tướng giỏi” đó, thì người lãnh đạo tối cao là Thái Hậu nhiếp chính phải có thực tài lãnh đạo.
            Trở lại trường hợp của vua Lý Nhân Tông, khi lớn khôn, ông vẫn theo đường lối mà mẹ ông đã làm khi nhiếp chính để xây dựng một đất nước phồn thịnh. Sử cũ chép rằng, khi Thái Hậu Ỷ Lan mất, vua Nhân Tông đã làm theo đúng di nguyện của bà là hỏa táng theo nghi thức Phật giáo. Điều đó cho thấy vua có hiếu và kính mẹ như thế nào. Và điều đó càng cho thấy, Thái Hậu Ỷ Lan có uy với triều đình và với nhà vua như thế nào.
            Thái Hậu Ỷ Lan mất vào năm 1117, còn vua Nhân Tông mất năm 1127, tức chỉ cách nhau có mười năm. Có thể nói rằng, nhà vua chỉ được hoàn toàn “tự do” khỏi sự ảnh hưởng của mẹ được 10 năm mà thôi. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ca ngợi tài đức của vua Lý Nhân Tông như sau: “…sáng suốt thần võ, trí tuệ hiếu nhân, nước lớn sợ, nước nhỏ mến, thần giúp người theo, thông âm luật, chế ca nhạc, dân được giàu đông, nước được thái bình, là vua giỏi của triều Lý”. Và vua Nhân Tông càng tài giỏi, thì cái công giáo dưỡng của Thái Hậu Ỷ Lan lại càng to lớn.

Học rộng biết nhiều
            Phụ nữ ngày xưa chỉ quen việc “khuê môn bất xuất”, còn việc học hành ra thi thố với đời là đặc quyền của đấng mày râu. Thái Hậu Ỷ Lan xuất thân chỉ là cô gái hái dâu thì chắc chắn không có điều kiện để học hành nhiều được. Sử cũ không thấy chép là bà Ỷ Lan ăn học tới đâu, nhưng qua những thể hiện cụ thể, ta thấy bà là người học rộng, biết nhiều.
            Năm 1096, bà bày cỗ chay ở chùa Khai Quốc (tức sau này là chùa Trấn Quốc ở Thăng Long), để thết đãi các sư. Tiệc xong, bà ngồi kê cứu đạo Phật với các vị sư già học rộng. Bà có óc phán đoán, đòi hỏi các sư “nói có sách, mách có chứng”. Chính những lời đối đáp giữa bà với các bậc cao tăng đã đặt nền tảng đầu tiên cho việc ra đời của sách Thiền Uyển Tập Anh (nghĩa là Anh Tú Vườn Thiền) rất có giá trị sau này. Xin trích một bài kệ bàn về chuyện sắc không trong tác phẩm này:

                        Sắc là không, không tức sắc
                        Không là sắc, sắc tức không
                        Sắc? Không? thôi mặc cả,
                        Mới thấu được chân tông


            Chỉ bốn câu thôi cũng đủ thấy trình độ tinh thông Phật Pháp của Thái Hậu Ỷ Lan cao đến dường nào!
            Nhiều ngôi chùa tháp có quy mô to lớn bề thế, có trang trí đẹp mắt đã được xây dựng lên trong “thời đại Ỷ Lan” này: chùa Giạm (Quế Võ, Hà Bắc) 1086, chùa Một Mái ở động Hoàng Xá (Quốc Oai, Hà Tây) 1099, chùa Phật Tích (Tiên Sơn, Hà Bắc) 1100, chùa Bảo Ân (Ðông Sơn, Thanh Hóa) 1100, tháp Chương Sơn (Ý Yên, Nam Hà) 1108, chùa Bà Tấm hay còn gọi là Linh Nhân Từ Phúc (Gia Lâm, Hà Nội) 1105. Vẫn hay đó căn bản là do công sức và tài khéo của nhân dân, thế nhưng tất cả phải có sự cho phép và hỗ trợ của nhà cầm quyền, mà người nắm quyền tối cao lại là người rất sùng đạo Phật là Thái Hậu Ỷ Lan.
            Ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu (1117), Thái Hậu Ỷ Lan mất, thọ trên 70 tuổi, được vua Nhân Tông dâng thụy hiệu là Phù Thánh Linh Nhân Hoàng Thái Hậu. Đền thờ chính của bà hiện ở Gia Lâm, Hà Nội. Ngôi chùa có tên là “Linh Nhân Từ Phúc Tự” (dân gian thường gọi là “chùa Bà Tấm”), được bà cho xây dựng vào năm 1115. Đến khi bà qua đời, ngôi đền thờ bà cũng được xây dựng tại đây. Từ đó đến nay, cụm đền chùa này là nơi thờ Phật, và cũng là nơi tưởng niệm bà.
            Đến đây, có thể nói rằng, dù trong sự nghiệp của bà đã có một vết đen và vụ bức tử Thượng Dương và hơn 70 cung nữ, thế nhưng dân gian vẫn xem bà như “Quan Âm tái thế”, hay là “Cô Tấm” trong truyện cổ tích. Huống chi câu chuyện bức tử nói trên chỉ được sử sách chép lại có mấy dòng, hoàn toàn không nói rõ bối cảnh và nguyên nhân sâu xa thật sự của vụ việc. Thái Hậu Ỷ Lan xuất thân chỉ là một thôn nữ nhà nghèo mà lại tự rèn luyện có được một kiến thức hết sức uyên thâm, đó là một tấm gương tự học lớn. Bà không chỉ giỏi việc nước, mà còn đảm việc nhà khi đã đào tạo cho vạn dân một vị minh quân như vua Lý Nhân Tông.
            Bài học lớn nhất rút ra từ sự nghiệp chính trị của Thái Hậu Ỷ Lan có lẽ là việc: Vì lợi ích chung, bà đã biết gác lại hiềm khích cá nhân để huy động mọi lực lượng có thể nhằm chống kẻ thù xâm lược. Khi giặc Tống xâm lăng, vua Nhân Tông chỉ mới lên 10 tuổi, Thái Hậu Ỷ Lan phải thay vua lãnh đạo quân dân chiến đấu chống kẻ thù.
            Bà đã gác lại tư thù để dùng người có thực tài như Lý Đạo Thành làm Bình Chương Quân Quốc lo chuyện nội chính. Chiến công hiển hách của Lý Thường Kiệt ngoài mặt trận sẽ không thể có được nếu như không có một hậu phương vững chắc và thống nhất, mà cái hậu phương vững chắc và thống nhất đó đã có được nhờ vào tài điều hành của Thái Hậu Ỷ Lan và tài trị nước của ông Lý Đạo Thành.
            Ai dám nghĩ một cô gái hái dâu quê mùa mà có được cái tài chính trị đến như vậy? Cái tài chính trị đó có thể tóm lược qua câu trả lời của bà khi được vua Thánh Tông hỏi về việc trị quốc, được sử cũ chép lại như sau: “Muốn nước giàu dân mạnh, điều quan trọng là phải biết nghe lời can gián của đấng trung thần. Lời nói ngay nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm. Thuốc đắng khó uống nhưng chữa được bệnh”.
            Tài năng đó, đức độ đó đã góp phần khẳng định bản lĩnh của phụ nữ Việt Nam, đã đưa Thái Hậu Ỷ Lan vào hàng ngũ những nhà lãnh đạo chính trị kiệt xuất trong lịch sử phong kiến Việt Nam, và đặc biệt là đã để lại cho hậu thế một bài học quý giá về việc biết sử dụng hiền tài, và khi cần thiết thì biết gác lại hiềm khích riêng tư để phục vụ cho lợi ích chung của đất nước.


LÊ PHƯỚC
Tháng 11/2013

http://vi.rfi.fr/viet-nam/20131101-thai-hau-y-lan-nu-chinh-tri-gia-kiet-xuat
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #63 vào: 03/10/2017, 23:10:15 »
Gustave Courbet táo bạo, khuynh đảo tư tưởng phải đạo

Trong lãnh vực hội họa Tây phương, bức tranh L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) của Gustave Courbet có một chỗ đứng riêng biệt. Được vẽ vào năm 1866, bức họa chỉ được chính thức trưng bày trong viện bảo tàng vào năm 1995. Nội dung táo bạo có thể giải thích vì sao tác phẩm đã bị cất giấu trong hơn một thế kỷ, bởi vì bức tranh không vẽ gì khác ngoài bộ phận sinh dục của đàn bà.

Tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian – 1866)
của danh họa Gustave Courbet (khổ 46x55 cm)

BỨC TRANH L’Origine du Monde hiểu theo nghĩa Cội Nguồn Trần Thế hay Cội Nguồn Nhân Gian, nằm trong số 10 tác phẩm nổi tiếng nhất của viện bảo tàng Orsay, cũng như bức tranh Mona Lisa tiêu biểu cho viện bảo tàng Louvre. Thế nhưng, du khách nào tò mò muốn xem tận mắt tác phẩm này thì phải đợi đến sau tháng Chín năm 2014. Vì trong suốt mùa hè năm nay, tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) được đưa về trưng bày trong vòng ba tháng, từ ngày 07/06 đến 01/09/2014, tại thị trấn Ornans, gần thành phố Besançon, miền Đông Nam nước Pháp, nguyên quán của danh họa Gustave Courbet (819-1877). Bức tranh được trưng bày ở nhà riêng của danh họa, nay được biến thành viện bảo tàng.
            Nổi tiếng là một trong những gương mặt tiêu biểu của trường phái hiện thực, danh họa Gustave Courbet đã vẽ bức tranh L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) vào năm 47 tuổi (1866), theo đơn đặt hàng của nhà sưu tầm tranh lõa thể Khalil Bey. Tên thật là Halil Şerif Pasha, ông Khalil Bey là người gốc Ai Cập, từng làm đại sứ Thổ Nhĩ Kỳ ở Paris rồi Vienna. Giai thoại kể rằng ông Khalil Bey quen biết họa sĩ Gustave Courbet theo lời giới thiệu của nhà văn kiêm phê bình văn học Charles Augustin Sainte-Beuve. Ông Khalil Bey đặt hàng với họa sĩ Gustave Courbet nhiều bức vẽ táo bạo chứ không phải là một bức duy nhất.
            Vào thời đó, đang có một cuộc tranh cãi rất lớn trong dư luận về bức tranh Kiều nữ Olympia của Édouard Manet vẽ vào năm 1863. Truyền thống vẽ tranh khỏa thân thật ra đã có từ thời kỳ Phục Hưng, cuối thế kỷ XV nhưng các họa sĩ thường hay luồn lách sự kiểm duyệt bằng cách “ẩn nấp” đằng sau cái bình phong “thẩm mỹ cổ điển”. Vẽ khỏa thân để ca ngợi vẻ đẹp cơ thể người đàn bà thông qua các điển tích của truyện thần thoại Hy La (Hy Lạp và La Mã).
            Bức họa Olympia của Édouard Manet, vẽ theo phong cách cổ điển một người đàn bà khỏa thân, nhưng lại gây tranh luận vì nhân vật trong tranh đơn thuần là một cô gái điếm, chứ không phải là biểu tượng cao quý thanh thoát của thần Vệ Nữ. Qua việc vẽ một cô gái điếm dù là hạng sang, danh họa Édouard Manet (thuộc trường phái ấn tượng) đã cố tình xé rào, đi ngược lại với “đạo đức thẩm mỹ”, nêu đích danh điều mà rất nhiều người thời bấy giờ chuyên vòng vo nói lái.
            Tác phẩm L’Origine du Monde (Cội Nguồn Nhân Gian) của Gustave Courbet ra đời trong cái bối cảnh đó, nhưng táo bạo hơn cả trăm lần, cả nội dung lẫn hình thức, so với bức họa Kiều nữ Olympia của Manet. Theo nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật Fabrice Masanès, tác giả của tập sách biên khảo về Gustave Courbet, do nhà xuất bản Taschen phát hành vào năm 2006, trên thực tế, bức tranh đầu tiên mà Gustave Courbet đã vẽ theo đơn đặt hàng của ông Khalil Bey là tấm tranh đề tựa Les Dormeuses (Hai người đàn bà ngủ say).
            Nhưng khi mua tác phẩm này, nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ chưa thật sự ưng ý cho lắm, nên mới đặt thêm một tác phẩm thứ nhì và thách đố họa sĩ Gustave Courbet vẽ một bức họa mà chưa ai “dám vẽ”. Bản thân ông Khalil Bey cũng không ngờ rằng danh họa Courbet lại dám vẽ bộ phận sinh dục của người đàn bà theo góc nhìn trực diện và nhất là cận ảnh. Bức tranh khổ trung bình (46 cm trên 55 cm) khiêu khích vì cực kỳ sống động, táo bạo vì y hệt như thật. Tiêu điểm của bức tranh L’Origine du Monde là một khung tam giác đen huyền, để lộ một âm hộ hé mở.
            Theo nhà nghiên cứu Michèle Haddad, người đã viết ba quyển tiểu luận về danh họa Gustave Courbet, đối chiếu hai quan điểm thiêng liêng và trần tục trong nghệ thuật hội họa thế kỷ XIX, nhà ngoại giao Khalil Bey đang lâm bệnh nặng khi đặt mua bức tranh Cội nguồn Nhân gian. Ông có mặt tại Paris để tìm cách điều trị bệnh giang mai, một chứng bệnh vô phương cứu chữa đối với ngành y học thời bấy giờ. Theo bà Michèle Haddad, tựa đề Cội nguồn Nhân gian L’Origine du Monde vì thế có cả hai ý nghĩa, đó là nguồn gốc của mầm sống, chốn sinh ra con người, nhưng theo quan niệm đạo đức tôn giáo của thời bấy giờ, đó cũng là nguồn gốc của cõi chết: hiểm họa tiềm tàng trong khoái lạc tình dục, bệnh tật rình rập trong thú vui xác thịt.
            Dù gì đi nữa, bức tranh này trở thành một trong những tác phẩm hội họa thế kỷ XIX nổi tiếng nhất trên thế giới. Trong gần 130 năm, rất nhiều người được nghe nói tới nhưng ít bao giờ được nhìn thấy tận mắt. Chỉ có hai nhà văn Maxime Ducamp và Edmond de Goncourt (người đồng sáng lập giải văn học cùng tên) có mô tả bức tranh này trong bài viết của họ vào những năm 1880. Mãi đến một thế kỷ sau, người ta lần đầu tiên mới được thấy ảnh chụp bức vẽ này trong quyển sách nghiên cứu y khoa của bác sĩ người Pháp Gérard Zwang, phát hành vào năm 1967.
            Thật ra, lúc sinh tiền nhà ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ Khalil Bey đã bán toàn bộ sưu tập tranh khỏa thân của ông để kiếm tiền chữa bệnh. Nhưng tác phẩm L’Origine du Monde không được đem ra bán công khai mà chỉ có một nhóm nhà sưu tầm, có đủ tiền mua tranh, mới được trông thấy. Sau nhiều lần đổi chủ (nhà sưu tầm Antoine de la Narde, phòng tranh Berheim Jeune, nam tước François de Hatvany…), bức tranh L’Origine du Monde lọt vào tay nhà phân tâm học Jacques Lacan vào năm 1955.
            Ông Jacques Lacan nhờ người anh rể là họa sĩ André Masson thuộc trường phái siêu thực, vẽ một bức tranh phong cảnh trừu tượng đề tựa Terre Érotique (Vùng đất gợi tình), làm một khung đôi để ghép chồng bức thứ hai lên trên bức họa nguyên tác. Khi muốn xem, thì chỉ cần xê dịch tấm tranh thứ nhì như một ngăn kéo là hé lộ bức vẽ L’Origine du Monde (Cội nguồn Nhân gian). Sau khi nhà phân tâm học Jacques Lacan qua đời, gia đình ông mới biếu tặng tấm tranh này cho viện bảo tàng Orsay. Từ năm 1995 trở đi, tức là hơn một thế kỷ sau ngày ra đời, tác phẩm này mới bắt đầu được phổ biến qua ảnh chụp hay qua các phiên bản sao chép.
            Trong vòng 130 năm, bức họa L’Origine du Monde đã bị che đậy cất giấu, nội dung táo bạo đến mức những người sở hữu tác phẩm tự kiểm duyệt, do muốn tránh gặp rắc rối với ngành tư pháp, nên không thể công khai phổ biến hay không muốn để cho mọi người cùng xem. Mãi đến cuối thế kỷ XX, khi tác phẩm được trưng bày ở viện bảo tàng, thì bức tranh lại gây tranh cãi.
            Nhiều người đánh giá rằng bức vẽ này quá thô tục, sống sượng chẳng khác gì sách báo đồi trụy hay phim ảnh khiêu dâm. Có ý kiến cho là qua bức vẽ này, nhân cách hay phẩm giá của phụ nữ bị hạ thấp, phơi bày cơ thể của người đàn bà như một đồ chơi tình dục, một món hàng rao bán cho đấng mày râu rửa mắt thỏa mãn. Nhưng bên cạnh đó cũng có ý kiến phản bác lại khi cho rằng Gustave Courbet đã thực hiện một cú đột phá “ngoạn mục” khi xóa mờ ranh giới giữa sáng tác nghệ thuật và ý tưởng khiêu dâm.
            Nhiều người tưởng lầm rằng tác phẩm đầu tiên thể hiện người đàn bà khỏa thân là bức tranh Ngày ra đời của Thần Vệ Nữ do Sandro Boticelli vẽ vào năm 1485. Trong lãnh vực này, bức khỏa thân đầu tiên là một bức tượng Thần Vệ nữ (Aphrodite de Cnide) của nhà điêu khắc Hy Lạp Praxitèle, thế kỷ IV trước Công nguyên. Trước Boticelli, danh họa Hà Lan Jan Van Eyck vào năm 1432 từng vẽ cảnh Adam và Eva trần như nhộng (Adam and Eve) trong bức họa L’Agneau Mystique. Thời kỳ Phục Hưng, tranh vẽ khỏa thân đã có nhiều bậc thầy như danh họa người Ý Titien trong bức họa Venere di Urbino (Venus d’Urbin) vẽ vào năm 1538, gần hai thế kỷ sau danh họa Tây Ban Nha Goya vẽ bức Giai nhân khỏa thân (Maja Desnuda 1790).
            Về phần mình, danh họa Gustave Courbet trước khi vẽ bức Cội nguồn Nhân gian, đã sáng tác nhiều bức tranh khỏa thân khác như Vénus et Psyché, La Femme au Perroquet, hay là Les Dormeuses… Nhưng theo lời bà Isolde Pludermacher, quản đốc kho lưu trữ viện bảo tàng Orsay, không phải ngẫu nhiên mà bức vẽ L’Origine du Monde trở thành tác phẩm nổi tiếng nhất của Gustave Courbet.
            Bức họa này tiêu biểu ở hai điểm: thứ nhất là nó phá vỡ hoàn toàn mọi khuôn thước về loại tranh lõa thể, thứ hai là trong cách chọn góc nhìn cận ảnh, Courbet đã không dùng “uyển họa” để làm nhẹ đi bút pháp, cũng như không giảm bớt tác động của bức tranh đối với người nhìn. Về mặt bố cục của bức tranh L’Origine du Monde, Gustave Courbet đóng khung nhân vật trong bức vẽ từ ngang ngực tới ngang đùi, đặt khối tam giác mầu đen huyền làm điểm nhấn của bức họa. Dù có đứng ở vị trí nào, ánh mắt của người xem tranh vẫn bị thu hút bởi cái tiêu điểm ấy.
            Thủ pháp cận ảnh này tạo sự đột phá vì khá mới lạ trong hội họa và chỉ phổ biến sau này qua nghệ thuật nhiếp ảnh và điện ảnh. Bức tranh L’Origine du Monde có tác dụng như một hòn đá nam châm, một là nó thu hút người xem, không thể nào mà không dán mắt vào bức vẽ, hai là nó đẩy lùi ngay tức khắc những người nào tình cờ bắt gặp bức họa. Có người thẹn thùng đỏ mặt, không còn cách nào khác là cúi đầu ngoảnh mặt, nhìn sang một nơi khác.
            Thấy sao vẽ vậy… tranh luận vẫn nảy sinh cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, dù ít có ai tận mắt nhìn thấy. Danh họa người Pháp Gustave Courbet dám phơi bày tất cả những gì người khác chỉ muốn che đậy! Góc nhìn trực diện táo bạo của Gustave Courbet chất vấn thách đố tư tưởng phải đạo, khuynh đảo vạch mặt “quân tử ngụy tạo”.


TUẤN THẢO
Tháng 6/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20140613-gustave-courbet-buc-tranh-l%E2%80%99origine-du-monde
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #64 vào: 05/10/2017, 22:53:52 »
Nguyễn Ánh 9, tiếng dương cầm vang mãi

Mỗi một người nghệ sĩ, ngoài các sáng tác của mình thì họ sẽ có những hình ảnh riêng để lại trong tâm tưởng của khán thính giả. Đó có thể là giọng nói, là nhạc cụ, hoặc cách xuất hiện trên sân khấu. Với người nhạc sĩ trong chương trình hôm nay, bên cạnh các tác phẩm của ông, thì đó là cách sống, là tấm lòng ông để lại cho cuộc đời, cho những người hát ca khúc của ông. Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9, người luôn xuất hiện bên cây dương cầm trên sân khấu.

Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 thời còn trẻ

NẾU AI đã quen với hình ảnh một người đàn ông gầy gò, nhỏ người, mái tóc nhuộm trắng màu thời gian, hàng đêm ngồi say mê trải đều mười ngón tay trên phím dương cầm ở khách sạn Sofitel Plaza Sài Gòn, thì từ nay sẽ không còn được nhìn thấy và nghe tiếng đàn ấy nữa.
            Những ca sĩ từng được ông chỉ dạy, đệm đàn góp phần cho tiếng hát thêm thăng hoa cũng sẽ không còn được đứng bên cạnh ông và cây dương cầm của ông trong những lần trình diễn.

                        “Em về, qua đường cũ,
                        Nghe nhịp bước chân bơ vơ
                        Hàng cây ngày xưa
                        Buồn trơ đón trên từng lá mong chờ
                        Quán chiều ngủ say, giấc buồn trên cây...

                        (Mùa thu cánh nâu)

            Và có lẽ đó cũng là hình ảnh thân quen nhất của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 mà ai cũng có thể hình dung ngay được mỗi khi nhắc đến ông.
            Ông, người được các nghệ sĩ gọi bằng cái tên trìu mến: bố Chín, cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời mình, trái tim của ông luôn dành một khoảng trống không nhỏ cho âm nhạc, tình yêu lớn của đời ông. Ông đã sống trọn vẹn với tình yêu đó từ ngày đầu tiên ông tự tìm đến phím đàn piano trên những bìa giấy carton. Nhưng, đó cũng chính là nỗi cô đơn lớn nhất mà ông thừa nhận trong một ca khúc ông viết cho riêng mình.
            Trong một lần đứng trên sân khấu hải ngoại, ông từng chia sẻ rằng nếu một ngày nào đó ông còn nữa, thì ông chỉ mong khán thính giả của mình nhớ đến một bài hát mà ông yêu nhất và trân trọng nhất, đó là bài Cô đơn.

                        “Hạnh phúc như đôi chim uyên tung bay ngập trời nắng ấm
                        Hạnh phúc như sương ban mai long lanh đầu cành nắng ấm…

                        (Cô đơn)

            Đó là sự cô đơn mà nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 xin được dành riêng cho mình. Ông nói thay cho triệu triệu người những nỗi vui nỗi buồn, nhưng chỉ xin viết riêng cho ông, dành tặng cho cá nhân ông một nỗi niềm, chính là sự đam mê âm nhạc.
            Ai đã từng quen biết ông, có dịp trò chuyện với ông đều có thể hiểu vì sao nhạc của ông lại nhẹ nhàng và trữ tình đến thế. Chỉ một chữ đơn giản để người ở lại nhắc về ông, đó là “hiền”. Ông hiền hòa từ nụ cười, lời nói, giọng nói, cho đến thái độ sống, cho đến cả những sáng tác của mình, cho dù đó là lúc ông thốt lên rằng “không, tôi không còn yêu em nữa”.
            Ca sĩ Đức Tuấn đã nhớ lại khoảnh khắc thể hiện ca khúc “Không” cùng tiếng dương cầm của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9: “Một lần đích thân bác Nguyễn Ánh 9 ngồi diễn giải cho Tuấn cặn kẽ vì sao bác viết như vậy. Rồi tâm lý, diễn biến của người hát nó sẽ không như mọi người hay nghĩ về bài đó. Nó không đơn thuần là sự giận dữ, phủi bỏ. Nó là một diễn biến tâm lý cực kỳ phức tạp của người đàn ông khi nói lên được những câu đó. Chính bác Nguyễn Ánh 9, người mà Tuấn hay gọi là bố Chín đã giải thích cặn kẽ chữ không này phải hát thế nào, chữ không kia phải hát thế nào. Chính bố ngồi đệm đàn cho Tuấn hát. Đó là khoảnh khắc rất ngẫu hứng, cảm giác rất chân thực, không bị tác động bởi ngoại cảnh, bởi khán giả. Nó cũng không hẳn là bản thu để phát hành. Nó đơn thuần là tình cảm giữa âm nhạc và giữa hai bố con với nhau.

                        “Không… tôi không còn… tôi không còn… yêu em nữa
                        Không…
                        Không… tôi không còn… tôi không còn… yêu em nữa
                        Không…

                        (Không)


Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 và các bài hát được nhiều người yêu mến của ông

            Rất nhiều người nhạc sĩ khi sáng tác nhạc phẩm đã dùng chính câu chuyện của cuộc đời mình. Riêng Nguyễn Ánh 9 thì trái tim nghệ sĩ của ông có thể viết nên những ca khúc khi ông bất chợt nhìn thấy một hình ảnh đẹp, lãng mạn nào đó thoáng qua trong cuộc sống.
            Khi ông nhìn thấy những giọt nước còn đọng lại trên tán cây sau cơn mưa rơi xuống một đôi tình nhân đang đi bên cạnh nhau, thì ông thầm mong cho ân tình đầu đó sẽ mãi mãi dài lâu. Từ đó, Tình khúc chiều mưa đã ra đời.

                        “Tình chết không đợi chờ!
                        Tình xa ai nào ngờ!
                        Tình đã phai nhạt màu tình đâu?!
                        Lời trót trao về người
                        Dù đã lỡ làng rồi
                        lòng vẫn xin trọn đời… lẻ loi!

                        (Tình khúc chiều mưa)

            Rất nhiều người sau khi có dịp tiếp xúc với ông đều nói rằng nhạc sĩ là một người ít nói. Hầu như “người” mà ông trò chuyện nhiều nhất là cây đàn dương cầm của ông. Và các sáng tác của ông đã thay ông nói lên tâm hồn của mình, một tấm lòng nhẹ nhàng, khoan thai, một tâm hồn từ bi luôn đón nhận tình yêu, dù đó là tình yêu đến trong giã từ.
            Khi mình nghe những nhạc phẩm như vậy, mình cảm thấy mình phải nên tôn trọng và trân quí tình cảm mình có được trong đời. Bởi vì cho dù kết quả có thế nào, có rất là buồn đi chăng nữa nhưng mà nó không có một cái gì oán trách, cay đắng cả, nó rất là nhẹ nhàng.

                        “Mưa vẫn rơi mãi trên đường phố vắng đêm khuya
                        Mưa vẫn rơi mãi cho lòng thương nhớ khôn nguôi
                        Thôi hỡi em nhé xin đừng tiếc nuối làm gì
                        Tình yêu đến trong lần cuối…

                        (Tình yêu đến trong giã từ)

            Trong nghệ thuật, ông là một nhạc sĩ. Ông yêu các sáng tác của mình và xem đó là những vật thể vô giá. Vì chỉ có vô giá thì người sở hữu mới có thể dâng tặng vô điều kiện cho những người thật sự yêu mến nó. Trong đêm nhạc Những khúc hát ân tình cách đây 20 năm, Nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 đã từng nói trước hàng ngàn khán thính giả của ông rằng: “Tôi viết nhạc ra là không phải để bán. Tôi viết nhạc ra không phải để kiếm thêm tiền. Tôi viết nhạc là từ trái tim tôi viết ra. Tôi muốn viết nên những nỗi niềm, tâm sự của những người bạn hay là của những kỷ niệm nào đó. Khi tôi được các bạn hát, bất cứ người nào cũng đem lại cho tôi một niềm hạnh phúc. Vì tôi biết rằng có người đã nghe nhạc mình, có người đã thông cảm, yêu thích nhạc mình và đã hát”.
            Khi người nghệ sĩ nói lên những lời từ trái tim mình, thì đó là tuyệt tác.
            Trong cuộc sống, ông là người thầy, người cha, người bạn mang đến cho người đối diện một cảm giác gần gũi và niềm tin về một cuộc sống có trước, có sau.

Khi mình nghe những nhạc phẩm như vậy, mình cảm thấy mình phải nên tôn trọng và trân quí tình cảm mình có được trong đời. Bởi vì cho dù kết quả có thế nào, có rất là buồn đi chăng nữa nhưng không có một cái gì oán trách, cay đắng cả mà rất là nhẹ nhàng. Vì vậy mà giòng nhạc này tạo cho mình một cảm xúc là đời sống này mình phải luôn trân quí mà mình đang có. Hòa Ái nhớ có một kỷ niệm rất đặc biệt đó là khi mà Hòa Ái được mời đi làm MC chuyên nghiệp thì có đến hỏi thăm chú góp ý giùm, chú chỉ nói một câu ngắn gọn là “Chú nghĩ con không thích hợp với môi trường này đâu, đừng nên bước chân vào nghề này”. Hòa Ái nhớ mãi điều đó”.

            Những sáng tác của nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 cũng như cách sống của ông đã đi vào lòng người bằng tất cả sự kính trọng. Giờ đây, ở một nơi rất xa, cho dù ông mong muốn mọi người nếu nhớ ông thì hãy nhớ bài hát “Cô đơn”, nhưng ông sẽ không bao giờ cô đơn, vì tiếng nói chân tình, nhẹ nhàng và tấm lòng bao dung rộng lượng của ông luôn ở trong trái tim người ở lại.


CÁT LINH
Tháng 4/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/nguyen-anh9-sound-of-the-piano-cl-04172016135242.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #65 vào: 10/10/2017, 09:03:14 »
“Bánh mì của tổng thống Pháp”: niềm tự hào của thợ làm bánh thủ công

Những ngày này, cả nước Pháp đang bàn luận sôi nổi về tổng thống tân cử Emmanuel Macron. Ông Macron sẽ nhậm chức tổng thống vào ngày Chủ Nhật 14/05/2017 và chính thức trở thành chủ nhân mới của điện Elysée. Và cách đây vài ngày, tại Paris đã diễn ra một cuộc thi bánh mì ngon. Đây là sự kiện được rất nhiều người quan tâm bởi người thắng cuộc có vinh dự trở thành nhà cung cấp bánh mì cho phủ tổng thống (điện Elysée) trong vòng một năm.

Những chiếc bánh mì dài được gửi tới tham gia dự thi năm 2017

Bánh mì dài – một biểu tượng của nền ẩm thực Pháp
            Bánh mì dài (baguette) là một biểu tượng của nền ẩm thực Pháp. Bánh mì dài được bán từ ở siêu thị, chợ phiên cho tới các tiệm bánh mì, bánh ngọt ở khắp các khu phố. Hình ảnh một người Pháp – từ các ông bà lão cho tới thanh niên, tay cầm chiếc bánh mì dài đi bộ trên phố, các em nhỏ được bố mẹ bẻ cho một mẩu bánh, vừa đi vừa ăn ngon lành – không phải là hiếm thấy ở khắp nơi trên nước Pháp.
            Để vinh danh những người thợ làm bánh mì, hàng năm tại Paris, cứ vào mùa xuân, mỗi năm một lần, liên tục trong suốt 23 năm qua, kể từ năm 1994, cuộc thi bánh mì baguette theo kiểu thủ công, truyền thống ngon nhất Paris lại được tổ chức. Đến hẹn lại lên, cuộc thi năm nay diễn ra vào ngày 04/05 với sự tham gia của gần 200 thợ làm bánh theo phương pháp thủ công, truyền thống. Cuộc thi do thành phố Paris phối hợp với nghiệp đoàn thợ làm bánh mì-bánh ngọt thủ công của Paris và các vùng phụ cận (Hauts-de-Seine, Seine-Saint-Denis và Val de Marne) tổ chức.

“Bánh mì của tổng thống Pháp”
            Năm 2017, giải thưởng thuộc về thợ làm bánh Sami Bouattour, tiệm bánh Brun, số 193 phố Tolbiac, quận 13 – Paris. Đây không phải lần đầu tiên Sami Bouattour tham gia cuộc thi bánh mì baguette. Năm 2015, Sami Bouattour đã đoạt giải nhì. Phần thưởng dành cho người chiến thắng theo thông lệ là 4.000 euro, nhưng có lẽ điều quan trọng nhất là tiệm bánh được cung cấp bánh mì baguette cho phủ tổng thống trong vòng 1 năm.
            Vậy là, anh Sami Bouattour sẽ là thợ làm bánh đầu tiên có vinh dự phục vụ bánh mì suốt năm đầu tiên trong nhiệm kỳ của ông Emmanuel Macron, người mới đắc cử tổng thống Pháp ngày 07/05/2017 và cũng là vị tổng thống trẻ tuổi nhất trong lịch sử nước Pháp. Không những vậy, anh Sami Bouattour còn được làm bánh phục vụ tổng thống mãn nhiệm François Hollande trong những ngày cuối nhiệm kỳ của ông. Được phục vụ bánh mì cho hai tổng thống, đó là một vinh dự mà không phải mấy thợ làm bánh có được!
            Theo quy định của cuộc thi, người đoạt giải nhất còn được làm thành viên danh dự trong ban giám khảo cuộc thi năm sau. Và đương nhiên, cùng với giải thưởng, khách hàng sẽ đổ xô đến mua bánh. Uy tín của người thợ làm bánh cùng danh tiếng, lợi nhuận của tiệm bánh sẽ ngày càng tăng. Chẳng hạn, tờ báo Le Parisien (Người Paris) cho biết, sau khi thợ làm bánh Djibril Bodian ở tiệm bánh Grenier à Pain (số 38 phố Abbesses) đoạt giải năm 2010, doanh thu của tiệm đã tăng 30%.
            Còn Anh Pascal Barillon, người thắng cuộc năm 2011 cũng chia sẻ: “Đương nhiên là doanh thu của tiệm tăng. Khách hàng rất hiếu kỳ. Họ tới và hỏi mua bánh baguette của tổng thống. Họ gọi như vậy đấy! Đó không còn là bánh của chúng tôi nữa, mà là bánh mì baguette của tổng thống”.


Một người dân Pháp đi bỏ phiếu bầu tổng thống với chiếc bánh mì baguette trên tay

Vài nét về cuộc thi bánh mì ngon nhất
            Hội đồng giám khảo gồm 15 thành viên, trong đó có 9 người hoạt động trong lĩnh vực ẩm thực có danh tiếng hay đại diện cho các hiệp hội ngành nghề liên quan tới ẩm thực. Ngoài ra, còn có 6 người dân Paris được thành phố chọn làm thành viên ban giám khảo bằng cách bốc thăm trong số 400 người đăng ký.
            Chủ tịch ban giám khảo là trợ lý của thị trưởng Paris, phụ trách về thương mại, sản xuất thủ công truyền thống và các ngành nghề tự do. Trong ban giám khảo cuộc thi năm nay, có ông Christian Le Lann – chủ tịch hiệp hội AFPTS (Association Française pour la Promotion des Terroirs et des Saveurs) chuyên bảo vệ và quảng bá cho các sản phẩm ẩm thực truyền thống của các vùng miền của nước Pháp, ông Claude Maret – thợ làm pho-mát và chủ tịch liên đoàn các nhà sản xuất pho-mát của Pháp, ông Guillaume Gomez – đầu bếp trưởng của phủ tổng thống Pháp và anh Florian Charles, ở tiệm bánh La Parisienne (số 48 phố Madame, quận 6 Paris). Anh Florian Charles, cùng với Micheal Reydelet đồng đoạt giải thợ làm bánh baguette ngon nhất trong cuộc thi năm 2016.
            Bánh mì phải được làm ngay tại tiệm và tiệm bánh phải gửi hai chiếc đến địa điểm tổ chức cuộc thi trong khoảng thời gian 10h30-13h. Bánh được bọc kín trong gói giấy không có dấu hiệu đặc biệt bên ngoài, kèm theo họ tên thợ làm bánh, tên và địa chỉ tiệm bánh. Năm nay, có 187 thợ làm bánh dự thi, nhưng có 46 thí sinh bị loại vì không đáp ứng đúng yêu cầu của cuộc thi. Chỉ còn 141 thí sinh được chính thức dự thi.
            Những chiếc bánh mì baguette dự thi đều phải có độ dài 55-65cm, nặng 250-300g. Lượng muối theo quy định là dưới 18g/100g bột mì. Mọi loại phụ gia và chất điều vị đều bị cấm. Bánh mì dài dự thi được đánh giá về năm nội dung: độ chín của bánh, mùi thơm, vị bánh, ruột bánh và hình dáng chiếc bánh. Mỗi nội dung được chấm điểm từ 1 tới 4. Tổng điểm tối đa là 20.
            Ông Guillaume Gomez, bếp trưởng của phủ tổng thống Pháp, thành viên ban giám khảo năm 2017 đánh giá: “Hình dáng bên ngoài của bánh rất quan trọng. Tôi thích bánh nướng chín kỹ. Ăn bánh chưa chín thì chẳng khác gì ăn bột sống trộn với nước. Bánh chín kỹ sẽ có màu nâu hạt dẻ. Đường khía trên mặt bánh rất quan trọng. Đó là “chữ ký” của thợ làm bánh. Đó không phải phong cách mà là “danh tính” của bánh. Và cuối cùng, phải nói tới vị ngon của bánh. Tất cả đều phục vụ vị giác: người ta không mua bánh mì để treo lên hay để trang trí rồi chụp ảnh. Bánh mì phải thật ngon trước đã!
            Anh Jocelyn Lohezic, đã hai năm được xếp thứ hạng cao trong cuộc thi, chia sẻ: “Rất khó để tạo nên sự khác biệt với những người khác chỉ bằng bốn nguyên liệu là bột mì, nước, một chút muối và bột nở. Tất cả chỉ có từng đó nguyên liệu. Bất cứ ai cũng có thể làm bánh mì. Nhưng không phải chiếc bánh nào cũng giống nhau. Có cái baguette dở tới mức không thể ăn nổi, những cũng có bánh vô cùng ngon. Lại có cả chiếc bánh ngon tuyệt hảo, cứ ăn không, chẳng cần phết bơ đã thấy ngon rồi. Điều này khiến người ta thích thú. Nhất là mỗi mẻ bánh đều khác nhau, không lần nào giống lần nào”.
            Muốn làm ra một chiếc bánh ngon, người thợ phải toàn tâm, toàn ý vào mọi khâu trong quá trình làm bánh. Đây là điều anh Hami Méxème, thợ làm bánh có thâm niên 27 năm chia sẻ: “Tôi chú ý tới từng bước khi làm bánh, từ thời gian nướng, thời gian ủ bột… tất cả mọi khâu. Tôi phải nói thật là tôi rất nhớ con gái, vì lúc nào tôi cũng bận bịu, không chỉ vì làm bánh mì, nhưng có thể nói rằng bánh mì cũng như đứa con thứ hai của tôi vậy”.
            Kể từ khi cuộc thi được tổ chức lần đầu năm 1994 tới nay, quận 18 Paris là quận có nhiều thợ làm bánh giỏi nhất (8 lần đoạt giải nhất). Đứng thứ hai là quận 17 (hai lần đoạt giải nhất). Có ba người từng đoạt giả nhất hai lần. Người gần đây nhất chiến thắng hai lần (năm 2010 và 2015) là anh Djibril Bodian, thợ làm bánh của tiệm Grenier à Pain, số 38 phố Abbesses. Lần đầu đoạt giải năm 2010, anh Djibril Bodian, người Pháp gốc Sénégal, mới 33 tuổi. Anh Djibril Bodian bắt đầu làm thợ học việc ở tiệm bánh Grenier à Pain vào năm 2004. Chỉ sau mười một năm, anh được thăng chức làm quản lý tiệm bánh và đã hai lần nắm trong tay giải thưởng danh giá mà mọi thợ làm bánh mì baguette truyền thống đều ao ước.
            Sau chiến thắng lần hai (năm 2015), anh Djibril Bodian chia sẻ: “Từ lâu nay, tôi vẫn muốn thử lại vận may. Tham dự thi lần thứ hai làm tôi rất vui. Nhưng thật lòng mà nói, tôi chưa bao giờ nghĩ có thể chiến thắng thêm một lần nữa, mặc dù tôi biết bánh mì baguette tôi làm ngon vô cùng! Thông điệp mà tôi muốn gửi tới những người muốn đi theo nghiệp làm bánh mì theo kiểu thủ công, truyền thống là: Các bạn hãy cứ làm việc! Phải thật kiên trì! Rồi sẽ tới ngày các bạn được nhận phần thưởng xứng đáng!

Biểu tượng của nghề thủ công, truyền thống của Pháp
            Nói về vai trò của cuộc thi và giá trị của nghề làm bánh mì baguette kiểu thủ công, truyền thống ngon nhất, theo anh Florian Charles, đồng giải nhất cuộc thi năm 2016 – một thành viên Ban giám khảo cuộc thi Bánh mì baguette thủ công ngon nhất năm 2017, cuộc thi là một biểu tượng cho nghề thủ công, truyền thống của nước Pháp và “nghề làm bánh mì là nghề tiêu biểu cho các giá trị của nước Pháp. Đối với người nước ngoài, bánh mì là một biểu tượng thực thụ của nước Pháp. Vì thế, cần đề cao giá trị nghề làm bánh mì kiểu thủ công truyền thống. Đó là một nghề vất vả, nhưng đầy đam mê”.
            Còn anh Pascal Barillon, người thắng cuộc năm 2011 phát biểu: “Chúng ta đã có nhiều phóng sự, nhiều chương trình truyền hình phát khắp nơi trên thế giới. Chúng ta giới thiệu bánh mì. Đó là di sản của chúng ta”.
            Bánh mì dài, một loại bánh được người dân Pháp ăn hàng ngày quả đúng là một biểu tượng của nước Pháp. Với niềm đam mê, tài năng của những người thợ làm bánh mì thủ công truyền thống như anh Djibril Bodian, anh Hami Méxème… hương vị thơm ngon đậm chất Pháp của chiếc bánh mì baguette sẽ luôn là niềm tự hào của người dân nơi đây.


THÙY DƯƠNG
Tháng 5/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170512-%C2%AB-banh-mi-cua-tong-thong-phap%C2%BB-va-giai-thuong-vinh-danh-tho-lam-banh-thu-cong
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #66 vào: 12/10/2017, 09:11:46 »
Tuổi trẻ Vạn Hạnh

Đã từ lâu và vài ba lần mỗi khi nói đến sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam, lúc phân chia các thời kỳ, niên biểu 1963 và những năm tiếp theo cho thấy sự chuyển hướng ngoạn mục cho tinh thần và sự sáng tạo bật lên lan tràn cho ít ra là một thế hệ thanh niên mà sự vận động của thời thế đã mang lại. Không có cuộc thay đổi quyền lực quyết liệt năm 1963 – ở đây tránh dùng chữ cách mạng – có thể dùng chữ đảo chánh – sẽ không có sự ngoạn mục vừa nói.

Tuệ Sỹ tại Sài Gòn trong thập niên 1990

TINH THẦN Đông phương, sự hòa hài của nhân quần, Thiền tính và thiên nhiên xanh mát một sớm một chiều đã từ các mái chùa lan tỏa vào tuổi trẻ thành phố, các phường khóm, những con đường quê, tiếng chuông thu không, lời kinh niệm Phật, và trở thành thơ, thành nhạc, thành văn chương nghệ thuật miền Nam Việt Nam trong ít nhất là 10 năm sau đó (nó chỉ biến đổi năm 1973 với Hội Nghị Quốc Tế về ngưng bắn và vãn hồi hòa bình ở Paris, một vận động chính trị ở ngoài tầm tay của Sài Gòn). Mười năm trước đó, với dấu mốc 1963, sách vở báo chí nay còn ghi lại cho đời sau: các trí thức thất thế dưới “chính quyền nhân vị” và dưới một bầu trời rợp ác điểu mây đen đã thấy lại Phương Đông, dập dìu nơi mái trường Vạn Hạnh lại thấy thày xưa, vẻ cũ thân thuộc: những Nguyễn Đăng Thục, Thích Minh Châu, Thạch Trung Giả, Ngô Trọng Anh, Tam Ích… một phía, phía khác những người trẻ tuổi tràn đầy sức sáng tạo trên tờ tạp chí Tư Tưởng với các nhà xuất bản An Tiêm, Lá Bối, Ca Dao, Hoàng Hạc và Ban Tu Thư Vạn Hạnh và cả trăm cả ngàn cuốn sách viết và dịch với Tuệ Sỹ, Phùng Khánh Trí Hải, Phùng Thăng, Phạm Công Thiện, Chơn Pháp, Phước An, Lê Tôn Nghiêm, Chơn Hạnh, Vũ Hoàng Chương, Bùi Giáng, Trúc Thiên, Hoài Khanh, Phạm Thiên Thư… Hôm nay mục Thời Sự Nhân Văn sẽ nói về  những người trẻ nhất trong những danh tính vừa kể.

Nhà thơ Tuệ Sỹ
            Trong tổ chức của đại học Vạn Hạnh, Tuệ Sỹ là khoa trưởng Phật học. Ông nổi tiếng với sự thấu suốt “Triết Học Về Tánh Không”, được coi là học giả xuất sắc về Long Thọ. Lúc ấy ông mới hơn hai mươi tuổi. Vào đời ngày 15 tháng 2, 1943 tại Paksé, Lào, nguyên quán Quảng Bình, tên khai sinh là Phạm Văn Thương, vào chùa tu năm 7 tuổi, tức “đồng nhi xuất gia”. Năm 21 tốt nghiệp cao đẳng Phật Học, năm 1965 học xong phân khoa Phật học đại học Vạn Hạnh, đến năm 1970 được hội đồng viện đặc cách phong giáo sư thực thụ. Năm 1972 chủ biên Tạp chí Tư Tưởng. Tác phẩm đầu tay là “Tô Đông Pha những phương trời viễn mộng”, 1973. Ông đọc Tô Đông Pha từ nguyên tác chữ Hán. Ngoài sự uyên bác về Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo đại thừa, ông còn là một học giả về văn chương cổ Trung Hoa. Thượng tọa Tuệ Sỹ từng là đệ nhất phó viện trưởng Viện Hóa Đạo Kiêm Tổng Thư Ký Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất trước khi trở về chùa vùng Bảo Lộc. Cố Hòa Thượng Mãn Giác Phó Viện Trưởng Đại Học Vạn Hạnh từng nói: “Tuệ Sỹ đã tu từ ngàn kiếp trước, Phật Giáo Việt Nam phải đợi tới 350 năm mới có một Thiền sư uyên bác như Tuệ Sỹ.”
            Trong mấy tháng gần đây một bộ sách 900 trang khổ lớn nhan đề là “Tuệ Sỹ Văn Tuyển” được Hương Tích xuất bản tại Hoa Kỳ. Trước khi đi vào Văn Tuyển này, về Tư Tưởng Phật học, tiểu luận triết học và về văn học, trước hết là những đề mục của cuốn I:
            Tư Tưởng Phật Học: Tổng Thuyết Vũ Trụ Luận: Vũ trụ luận thần thoại, Vũ trụ luận cổ đại, Ý nghĩa thần thoại.
            Dẫn vào Duy Thức học: Thức là gì? Tâm-ý-thức, Thức biến, Thành duy thức, Thành duy thức luận. Giá trị của Bồ tát hạnh. Thức ăn để tồn tại: đoàn thực hay đoạn thực, xúc thực, ý tư thực, thức thực.
            Vấn đề ngữ pháp trong phiên dịch kinh tạng Phạn ngữ và Hán ngữ. Lý luận phiên dịch, Cấu tạo từ. Bát quan trai giới, tu giới, ý nghĩa bát quan trai, ý nghĩa thọ giới, nội dung tám giới, tăng trưởng thiện căn. Du già bồ tát giới. Và lễ Tháng Bảy cho những oan hồn phiêu bạt.
            Xin trích một đoạn dẫn giải và quan điểm của Tuệ Sỹ vế vấn đề đã tốn nhiều giấy mực, đó là “vấn đề ngữ pháp trong phiên dịch”.
            “Theo định nghĩa chung ngày nay, phiên dịch là sự chuyển dịch một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Tất nhiên trong Hán văn hai từ ‘dịch’ trong đây cơ bản không đồng nghĩa. Chúng ta nói là chuyển dịch, vì quen với từ Anh “translation”, mà gốc La-Tinh của nó, translatio là từ phát sinh từ phân từ thụ động quá khứ – translatus, của động từ transfere mà chúng ta tạm cho là tương đương với từ chuyển dịch. Nội hàm của từ ngữ như vậy cũng cho ta thấy rõ mục đích của công việc này và cách thức thực hiện. Về cơ bản, và có lẽ kể từ nguyên thủy, dịch là chuyển một vật từ ngôn ngữ này sang này sang ngôn ngữ khác để người nghe đồng nhất nội hàm của hai từ khác nhau. Như khi một Phạn tăng muốn chuyển từ ãmra-vana sang Hán, vì lúc bấy giờ đức Phật đang ở tại chỗ đó. Theo chứng kiến hiện trường, hay do mô tả chính xác, họ chuyển được từ vana sang từ viên là cái vườn, mặc dù nhiều khi họ phân vân giữa viên và lâm. Nhưng hiện trường không có vật gì đương với từ ãmra, và cũng không thể mô tả để người Hán hiểu, đành phải phiên âm là yêm-ma-la viên. Hoặc giả khi họ phiên dịch những điều Phật quy định về thức ăn cho tỳ kheo. Họ đưa ra từ khãdanĩya. Sự kiện được đề cập này có thể mô tả xác thực, mà cũng có thể chứng kiến hiện trường. Nhưng Hán văn không hề có từ tương đương, vì người Hán không bao giờ nghĩ đến thực phẩm theo cách đó. Vậy lại phải phiên âm khư-đà-ni, hay khư-xà-ni, hay tương tự, tất nhiên phát âm lơ lớ với nguyên ngữ.
            Đó là trường hợp phiên chuyển những từ cụ thể, sờ nắm được, mà vẫn vấp phải những điều bất khả. Trường hợp liên hệ đến ý tưởng, sự việc tất phải khó hơn. Nhưng cũng có thể dễ hơn. Vì người ta nói vẽ quỷ dễ hơn vẽ người.” (Tuệ Sỹ, Tư Tưởng Phật Học, tr. 183-4.)


Bìa bộ sách “Tuệ Sỹ Văn Tuyển” do Hương Tích Phật Việt xuất bản, 2015

            Cuốn thứ hai là tiểu luận triết học. Cuốn thứ ba là văn học. Người sưu tập lại các bài viết này, anh Hạnh Viên mà tôi đã có gặp, đã trích dẫn một số thơ tuyển của sư phụ anh, rồi viết một “Hậu Từ” ý vị. Tôi sẽ làm như thế, cũng trích dẫn một vài đoạn thơ của người bạn tôi, trên nửa thế kỷ qua, rồi dùng hậu từ của anh để tạm kết luận bài đọc sách này.

                                    Thiên Lý Độc Hành
                        1– Ta về một cõi tâm không
                        Vẫn nghe quá khứ ngập trong nắng tàn
                        Còn yêu một thuở đi hoang
                        Thu trong đáy mắt sao ngàn nửa khuya

                        2– Ta đi dẫm nắng bên đèo
                        Nghe đau hồn cỏ rủ theo bóng chiều
                        Nguyên sơ là dáng yêu kiều
                        Bỗng đâu đảo lộn tịch liêu bến bờ
                        Còn đây góc núi trơ vơ
                        Nghìn năm ta mãi đứng chờ đỉnh cao

                        3– Bên đèo khuất miễu cô hồn
                        Lưng trời ảo ảnh chập chờn hoa đăng
                        Cây già bóng tối bò lan
                        Tôi ôm cỏ dại mơ màng chiêm bao

                        4– Đã mấy nghìn năm đợi mỏi mòn
                        Bóng người cô độc dẫm hoàng hôn
                        Bởi ta hồn đã phơi màu nắng
                        Ôm trọn bờ lau kín nỗi buồn
                                    Tuệ Sỹ

            “Hậu từ của người sưu tuyển:
            Chuỗi thơ khép lại tập sách, lại mở ra một phương trời cô tịch. Hình ảnh trong thơ đọng thành những vì sao xa lấp lánh trong đêm dài.
            Tập ba này đến tay độc giả đã góp thành bộ ba tập Tuệ Sỹ Văn Tuyển, tạm chia theo ba chủ đề: Phật học, Triết học và Văn học, là bước đầu sưu tập những bài viết rải rác của tác giả còn lại sau quãng đường 50 năm xuôi ngược. Ba tập sách mỏng hẳn không thể tập thành đầy đủ các bài viết của tác giả trong gần nửa thế kỷ, với bao biến động của xã hội cũng như bản thân người viết không ngừng lưu chuyển; chúng tôi hy vọng trong tương lai, các bạn hữu có thể tình cờ tìm thấy, giúp chúng tôi sưu tập lại các bài viết mà vì nhiều hoàn cảnh đã thất lạc hay còn nằm đâu đó trong các ngăn tủ bị bỏ quên. Ở đây trong các tập sách này, chúng tôi chỉ đơn giản sưu tập và sắp xếp lại theo thời gian, còn lại tất cả đều được giữ nguyên, dù qua đó độc giả có thể thoáng thấy dấu vết ngang tàng sôi nổi của tuổi trẻ một thời xung thiên chí hay sự trầm mặc bao dung của tuổi già lúc ngoảnh lại ngắm màu dương liễu, hay chuẩn mực nghiêm trang nơi giảng đường Phật học. Những vết tích trong từng dấu chân như vậy vẫn miệt mài để lại bên đường.
            Nhớ chuyện xưa. Khi còn trẻ, trong một lần chán chường thất vọng, tác giả đã liều bỏ chùa đi hoang. Buổi tối nằm trong phòng trọ một bến xe tỉnh lẻ để chờ chuyến xe sáng hôm sau, ông tình cờ nghe được mẩu chuyện của hai cô gái phòng bên cạnh:
            – Cả ngày chưa có thằng khách nào, xui thiệt! Kiểu này chắc tối nay húp cháo.
            Im lặng một lúc, có tiếng trả lời:
            – Hay mày làm bộ qua gõ cửa phòng kế bên thử. Tao thấy hồi chiều có thằng cha mới tới. Mặt mày coi cũng ngon lắm.
            – Tao thấy rồi, thầy chùa đó bà. Ai lại…
            – Thầy chùa thì cũng là đàn ông chớ mậy…
            Ông nằm im không dám cử động, vờ như đã ngủ để cô nàng kia đừng có bạo gan tìm đến.
            Ấy là thời chiến tranh, thời buổi nhiễu nhương, những số phận không may phải ngụp lặn trong một thực tế trần trụi và một lý tưởng xa xôi, mơ hồ.
            Gần nửa thế kỷ sau, thời bình, với tuổi 70 ông còn phải giả ngủ lần nữa, tuy trên một cung bậc khác…” (Tuệ Sỹ Văn Tuyển, tr. 267-8).


Ni sư Trí Hải (1938-2003)
Năm 1964, Ni sư tốt nghiệp Thạc sỹ Văn chương tại Đại học Princeton, Hoa Kỳ

Ni Sư Trí Hải và Ngọa Bệnh Ca
            Tác giả Trí Hải dịch nhiều hơn sáng tác, dịch giả đúng hơn là tác giả, nhưng văn xuôi của tác giả thì cuồn cuộn như thác nước, nhất là văn kể truyện, và nhất là trong tập san văn hóa Tuệ Uyển do Ni trưởng (chữ Hòa thượng Minh Châu gọi Trí Hải) sáng lập điều hành từ 1994 ở Sài Gòn, ra tới năm thứ chín thì con thiên nga đầu đàn bay về cõi Niết Bàn. Có thể nói Tuệ Uyển là tập san mà chủ nhiệm chủ bút viết từ đầu tới cuối, từ “Lời Đầu Quyển” cho tới “Kho Tàng Nguyên Thủy” (dịch kinh), “Phật Pháp Song Ngữ” và nhất là ký sự “Những Chuyến Đi”, đều do một người dịch, giảng, và kể. Trong bài “Đàm Hoa Lạc Khứ”, Trí Hải đặc biệt viết về Huế, Huế của riêng mình, mà Huế là tất cả của Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh.
            Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh, pháp hiệu Trí Hải, dòng dõi Tuy Lý Vương, sinh ngày 8 Tháng Ba, 1938 tại Vỹ Dạ, Huế, nguyên quán Gia Miêu Thanh Hóa, khi còn trong bụng mẹ đã được qui y tam bảo bởi Hòa thượng Thích Tịnh Khiết, sau này là đệ nhất Tăng Thống Phật Giáo Việt Nam. Cô đậu tú tài năm 17 tuổi, tốt nghiệp sư phạm và dạy học tại trường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng. Du học Hoa Kỳ, đậu cao học ngành thư viện, về nước năm 1963. Quản thủ thư viện Viện Đại Học Vạn Hạnh. Năm 1970 thọ Bồ Tát Giới tại đại trai đàn Vinh Gia, sau đó giảng dạy tại các trường cao đẳng và đại học.
            Người viết bài may mắn có một tập bản thảo thơ nhan đề Ngọa Bệnh Ca do Trí Hải sáng tác các tháng đầu năm 2003, khoảng 9 tháng trước khi xả thân trong một tai nạn lưu thông trên đường tự nguyện đi cứu tế xã hội, lúc từ Phan Thiết về Sài Gòn, ở thế 65 năm. Tập thơ bản thảo do ni sư Tuệ Dung dàn trang và in ra bằng máy vi tính, dày 250 trang, với non 200 bài thơ ngắn dài.
            Trong bản thảo Ngọa Bệnh Ca, có vài chục trang Trí Hải Phùng Khánh viết cho thân quyến hay viết về bà mẹ, về người cha, các anh các chị, bằng thơ hoặc ngũ ngôn hay bảy chữ, có thể coi như phần tự truyện – chỉ khác tự truyện thông thường là văn xuôi, ở đây mối thân tình ràng buộc đó, từ lúc ấu thời tới khi tự coi mình như “một người gỗ”, nằm trên giường bệnh trước và trong đầu năm 2003 vì bệnh xương cốt trầm trọng – Trí Hải viết bằng văn vần. Nhiều chỗ, đoạn văn vần ấy trở thành một bài thơ hay.
            Ni trưởng trong mấy năm cuối đời bị bệnh xương cốt, phải nằm yên một chỗ, thỉnh thoảng bị giật bắn người, đau đớn khôn tả xiết. Có lúc bà nghĩ: Hay hồi trước ta đã hạ dao chặt một con cá, nên bây giờ ta bị chặt quả báo như thế này? Riết rồi, coi mình như một người gỗ, bà chấp nhận những ngày tháng nằm trên cái giường xoay như những ngày tháng bình thường:

                        Phải chăng cá bị chặt
                        Hóa thân vào trong đây
                        Để cho ta nếm thử
                        Quả báo sát sinh này?
                        (Hỏi cột sống, Ngọa Bệnh Ca, 42)

                        Hãy biến ngay giường bệnh
                        Thành một chốn đạo tràng
                        Cho mọi người vui vẻ
                        Đất trời cũng ngát hương.
                        (Nhắn nhủ, Ngọa Bệnh Ca, 9)

            Phùng Khánh mồ côi mẹ lúc 6 tuổi, ở với cha là ngự y trong triều vua Khải Định (trị vì 1916-1925). Gà trống nuôi con nên khi ông ngoại vào triều phải mang con gái theo, để cho rong chơi trong cung An Định, do đó được Hoàng Thái Hậu Đoan Huy dạy dỗ, tắm rửa cho, mà lúc ấy Đoan Huy còn là một cung nữ, do đó bà mẹ Phùng Khánh coi cung khuyết như nhà riêng, chạy nhảy khắp ngõ ngách trong cung. Khi ở nhà, có thày dạy riêng mà không tới trường học, vì một lần ở trường “vì biếng học”, (chữ Phùng Khánh) bị thày đánh cho một roi, nên không tới trường nữa.
            Tới tuổi đôi mươi, bà mẹ được tuyển vào “làm dâu” phòng Tuy Lý Vương.
            Theo Phùng Khánh, bà mẹ “suốt đời soi tâm theo sách “Minh Tâm Bửu Giám”, để vàng cho con cháu không bằng truyền lại cho chúng nếp sống theo âm đức, gìn giữ thiện tâm, việc mình làm được thì dù có quyền cũng không nên sai phái kẻ khác, thọ ơn ai không được quên, gia ơn cho người không chờ được trả. Lúc nằm trên giường bệnh, nhớ lại lời mẹ dạy, dịch giả cuốn “Tạng Thư Sống Chết” tự nhủ với nếp sống ấy, Trí Hải cho biết mình đang yên bình “trên đường về bến đỗ”. Còn người cha? Ông lúc nào cũng đọc sách văn chương kim cổ, sách tây sách tàu, giảng văn giọng sang sảng, “thân tại chốn hỏa binh và lòng Phùng tăng nơi chân không khách địa”.
            Trong phần thân quyến, Phùng Khánh tả từng người, tả các anh trước rồi đến các chị, anh Minh thay cha nuôi các em, anh Đích là cuốn từ điển bách khoa cái gì cũng biết, anh Đệ hiền từ; các chị thì có Khánh Trợ, Phùng Mai, bị chị Khánh la là “dại cách chi”, bảo ngồi ngoài xe trông đồ để chị chạy vào chợ mua thêm một món cần, ra thấy mất mấy món đồ quí hỏi em thì Phùng Khánh chỉ vào trong chợ nói có một bà đến lấy đi vào trong chợ chỗ chị vào đó! Thế là bị bà chị than thở: “Đấy là kẻ ăn cắp, sao không la lên? Em quá dại cách chi!” Sau này nhắc đến, bà chị còn cười hoài, mà không trách cứ gì, chỉ thấy cô em bé khờ dại quá. Phùng Khánh cũng nhớ đến vài chuyện ăn trộm nữa, vì nhà ở gần sông, phía sau nhà có bến, nên kẻ trộm thường thừa cơ bơi thuyền qua xẹt vào lấy cái này cái kia mang xuống thuyền, mà bà chị cũng chỉ nói, “mấy thứ đó bán chẳng được bao nhiêu, chúng vơ vét càng hay, ta có dịp mua cái khác hay may đồ mới”.
            Ngọa Bệnh Ca dày đến 250 trang, không rõ đã được in thành sách chưa? Đó là tập thơ làm trên giường bệnh, và rất nhiều bài nhiều đoạn nói về chuyện sinh tử. Nhân ngày kỵ giỗ Trí Hải (mất ngày 7 tháng 12 năm 2003 tại Phan Thiết) chúng ta hãy đọc một bài điển hình của người đã khuất:

                                   Sống chết
                        Sống trong hơi thở vào
                        Chết cùng với hơi ra
                        Ngày đêm liên tục chuyển
                        Kiếp số như hằng sa
                        Hít vào, ta còn đó
                        Thở ra, đã hết ta
                        Ta hòa cùng với gió
                        Thành vũ trụ bao la

                        Ta như làn sóng nhỏ
                        Giữa đại dương cuộc đời
                        Sóng có khi còn mất
                        Biển cả không đầy với.

                        (Ngọa Bệnh Ca, trang 23)

            Trí Hải đã cho xuất bản các tác phẩm chính sau đây:
            – Câu Chuyện Dòng Sông, dịch Herman Hesse, Lá Bối, 1965.
            – Con Đường Thoát Khổ, dịch W. Rahula, Ban Tu Thư Vạn Hạnh ,1966.
            – Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học giả, Vạn Hạnh, 1966.
            – Bắt Trẻ Đồng Xanh, dịch D. Salinger, Thanh Hiên 1967, Nhã Nam 2008.
            – Gandhi Tự Truyện, dịch Gandhi, Võ Tánh, 1971.
            – Câu Chuyện Triết Học, dịch cùng Bửu Đích, Will Durant, Viện Đại Học Vạn Hạnh.
            – Thanh Tịnh Đạo, dịch B. Buddhaghosa.
            – Tư Tưởng Phật Học, dịch W. Rahula, Vạn Hạnh, 1974.
            – Giải Thoát Trong Lòng Tay, dịch Pabongka Rinpoche, Thanh Văn xuất bản.
            – Đường Vào Nội Tâm, soạn dịch, 1993.
            – Tạng Thư Sống Chết, dịch The Tibetan Book of Living and Dying của S. Rinpoche, 1996.
            – Tâm Bất Sinh, dịch Bankei, Hoa Đàm, 2005.


Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu, dịch giả hai cuốn sách của văn hào Mỹ Henry Miller ra Việt ngữ trước 1975,
tại nhà Miller, Big Sur, California, 1980

Chơn Pháp tìm hiểu tiên tri, chân lý
            Vào mỗi thời điểm sang mùa, nhất là vào thời điểm chấm dứt một năm, từ năm này qua năm khác, trong khi lễ lạc được sửa soạn, các nghi thức tôn giáo và cuộc sống dân gian đi vào vòng quay chót một năm, thì các vị đạo gia, các vị lãnh đạo tôn giáo và cộng đồng, nhìn vào cuốn lịch, nhìn lại các biến cố đã qua, hầu tìm ra những giải thích hay dự đoán cho tương lai.
            Trong sinh hoạt tinh thần của miền Nam trước 1975 và sau này tiếp nối ở hải ngoại, có một nhóm trẻ tiếp tục đọc sách, biên soạn về kinh điển Thiền tôn thuộc trường cao đẳng Phật Học, có một nhóm trẻ mới đầu ở cao đẳng Phật Học, tiền thân của nhóm đại học Vạn Hạnh, cùng một thế hệ và chỉ hơn kém nhau ba bốn tuổi là nhiều, gồm có Tuệ Sỹ, Phạm Công Thiện, Chơn Pháp và Trí Hải, dĩ nhiên còn nữa song người viết bài này chỉ xin sơ lược vào một bài ngắn, trước khi có thể tiếp tục nới rộng. Trí Hải và Phạm Công Thiện đã ra đi, mây ngàn nước biếc, Tuệ Sỹ còn ở lại quê hương, vẫn cần cù tạo tác những bộ sách ngàn trang, còn Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu chuyển qua học Tiền Kiếp Trị Liệu, tiếp xúc với nhiều đạo sĩ nước người, viết rải rác cho một số tạp chí văn học, trong có một bài nhỏ trích dẫn ở đây, nhan đề sự đồng thanh tương ứng giữa các đạo gia và các nhà khoa học. Cụ thể của bài viết có mấy mục tiêu là thẩm định hai lời tiên tri, hai nhận định và chứng minh tính phổ quát của chân lý tối thượng.
            Trước hết là hai lời tiên tri một của Đức Phật, và một của Liên Hoa Sinh Padma Sambhava, vị thiền sư Ấn Độ thế kỷ thứ tám, người thành lập Phật Giáo Tây Tạng.

            1.– “Hai nghìn năm trăm năm sau khi ta nhập Niết Bàn, Diệu Pháp Tối Thắng sẽ lan tràn tới xứ những người mặt đỏ.”
             “Two thousand and five hundreds years after I have passed away into Nirvana, the Highest Doctrine will become spread in the country of the red-face people.”
            Đức Phật nói với Thiên Nữ Vimala (Goddess Vimala).

            2.– “Khi nào mà chim sắt bay trên trời và ngựa chạy trên bánh xe thì dân Tây Tạng sẽ bị tung đi khắp thế giới như kiến và Đạo Pháp sẽ tới xứ người mặt đỏ.”
            “When the iron bird flies, and horse run on the wheels, the Tibetan people will be scattered like ants across the World and the Dharma will come to the land of the red-face people.”
            Liên Hoa Sinh, đại đạo sư thế kỷ thứ tám và là tổ khai sáng Phật giáo Tây Tạng.

            Chơn Pháp đọc và dịch ra Việt ngữ, kèm thêm phần Anh ngữ, mà không giải thích, có lẽ vì không cần giải thích. Chơn Pháp, nguyên trưởng ban Tu thư Viện Đại Học Vạn Hạnh trước 1975, sinh năm 1944 tại Hà Nam, học Trần Lục và Chu Văn An, rồi Đại học Văn khoa Sài Gòn, học tiếng Anh, Đức ngữ và tiếng Phạn, tốt nghiệp cử nhân Triết. Đã có 15 dịch phẩm in thành sách trước 1975, trong có Bác Sĩ Jhivago của Boris Pasternak, gần 1000 trang, tái bản nhiều lần ở Việt Nam, Tinh hoa và sự phát triển của Đạo Phật của Edward Conze, 370 trang, Con Người Chịu Chơi dịch Alexis Zorba của Nikos Kazantzaki, 530 trang, toàn tập 49 truyện ngắn của văn hào Ernest Hemingway, v.v…
            Cũng trong chủ đề đồng thanh tương ứng, phần thứ hai Chơn Pháp trình bày nhận định của các danh nhân về các vấn đề như hai hạng người, hai cách sống, hai cách suy nghĩ, v.v… Trong những vấn đề này, người tóm tắt bài viết sẽ có thể không trích dẫn phần Anh ngữ, vì sẽ quá dài, sau đây là những danh ngôn đã được Chơn Pháp Nguyễn Hữu Hiệu dịch ra Việt ngữ.

Hai cách sống
            Chỉ có hai cách sống đời. Một là như thế là không có gì là phép lạ cả. Hai là như thế tất cả đều là phép lạ. Tôi tin cách thứ hai.
            Albert Einstein (1879-1955). Bác học người Đức năm 1905 phát kiến thuyết tương đối, được trao Nobel khoa học năm 1921 cho công trình hiệu ứng điện tử trên âm điện tử (photoelectric effect).

Hai cách suy nghĩ
            Cách theo thời gian và cách vĩnh cửu và phi thời gian, cả hai đều là một phần của nỗ lực của con người nhằm thấu hiểu cái thế giới mà trong đó hắn sống. Không có cách nào hiểu được cách kia, mà cũng chẳng thể giản lược được vào cách kia, mỗi cách bổ túc cho nhau và chẳng cách nào trong cả hai là nói lên được toàn thể câu chuyện cả.
            J. Robert Oppenhelmer (1904-1967). Vật lý gia Hoa Kỳ, cha đẻ của bom nguyên tử. Kinh hoàng và hối hận, ông chống lại việc phát triển bom khinh khí nên bị kết tội thân Cộng.

Song hành nhưng nhất nguyên
            Không có “đa” mà chỉ có “đơn”. Kẻ nào chỉ thấy phức tính mà không thấy nhất tính, kẻ ấy sẽ luân lạc từ cái chết này đến cái chết kia.
            Áo-Nghĩa-Thư, 700 năm trước công nguyên.


VIÊN LINH
June 22, 2016


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Tuoi-tre-Van-Hanh-Tue-Sy-2255/
 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #67 vào: 17/10/2017, 17:54:07 »
Ký ức, thời gian dưới ngòi bút của Kazuo Ishiguro

“Bằng những cảm xúc dạt dào, văn chương của ông (Kazuo Ishiguro) đánh thức góc sâu thẳm, huyền bí trong chúng ta về mối liên hệ với thế giới”… “Hãy lấy một chút từ Jane Austen, một chút từ Franz Kafka, thêm một phần của Marcel Proust và bạn có được điều gì đó giống phong cách viết của Kazuo Ishiguro”. Bằng những từ ngữ trên, Viện Hàn Lâm Thụy Điển nhận xét về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017, nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro.

Nhà văn Anh gốc Nhật Kazuo Ishiguro,
tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017

THEO CHA MẸ đến Anh Quốc từ năm 6 tuổi, Kazuo Ishiguro (sinh ngày 08/11/1954 tại Nagasaki) chưa từng nghĩ một ngày sẽ theo nghiệp văn chương. Ông từng mơ biểu diễn ghi-ta trên sân khấu nhạc rock hơn là cầm bút, vì 5 tuổi, cậu bé Kazuo đã biết chơi piano và 14 tuổi, đã chơi thành thạo ghi-ta.
            Suốt thời thanh niên trong những năm 1970, Kazuo Ishiguro không đoái hoài đến văn chương vì “có rất ít nhà văn gây phấn khích, ngoài Kerouac và Beat Generation”, như ông từng thổ lộ với tạp chí L’Express năm 1997 khi giới thiệu với độc giả Pháp cuốn The Unconsoled (Kẻ không khuây khỏa).
            Cuối cùng, ông chọn con đường văn chương khi bắt đầu “đối chiếu giữa cuộc sống ở Anh với nhiều sự kiện diễn ra trong nước Nhật ngày trước. Năm 23 tuổi, tôi muốn trưởng thành và muốn làm sống lại ký ức của quê hương mình mà tôi có cảm giác đang biến mất”. (L’Express, 1997).
            Tốt nghiệp trường đại học Kent năm 1978 và nhận bằng thạc sĩ khóa sáng tác văn chương của trường đại học East Anglia năm 1980, ông bắt đầu sự nghiệp sáng tác từ năm 1982 với tác phẩm đầu tay A Pale View of Hills (Những ngọn đồi xa mờ), đoạt giải thưởng Winifred Holtby của Viện Văn Học Hoàng gia Anh, tiếp theo là An Artist of the Floating World (1986). Cả hai tác phẩm gợi lại một nước Nhật thời hậu chiến, chật vật đứng lên từ đống đổ nát, về số phận của các nhân vật bị coi là “phản quốc”.
            Từ đó đến nay, ông viết thêm nhiều cuốn tiểu thuyết khác, với chất lượng khá ổn định: The Remains of the Day (Tàn dư ngày ấy, 1989, đoạt giải Booker), The Unconsoled (Kẻ không khuây khỏa, 1995), When We Were Orphans (Khi chúng ta mồ côi, 2000), Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi, 2005) và The Buried Giant (Người khổng lồ ngủ quên, 2015) và một tập truyện ngắn Nocturnes: Five Stories of Music and Nightfall (Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, 2009).
            Cuốn tiểu thuyết Never Let Me Go (Mãi đừng xa tôi) được Time Magazine xếp vào danh sách 100 cuốn sách tiếng Anh hay nhất từ năm 1923 đến năm 2005. The Remains of the Day được James Ivory chuyển thể thành phim cùng tên năm 1993 với hai diễn viên chính Anthony Hopkins vào vai quản gia Stevens tận tụy, lịch thiệp chấp nhận chối bỏ và chôn sâu cả tình yêu thầm lặng với cô Kenton (Emma Thompson) dành cho ông. Năm 2010, khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thế giới “giả tưởng” của ba nhân vật Kathy, Ruth và Tommy có chung một số phận được định đoạt trong Mãi đừng xa tôi được Mark Romanek đưa lên màn ảnh nhỏ.
            Hai tác phẩm được chuyển thể thành phim này cùng với cuốn The Unconsoled nằm trong danh sách ba tác phẩm cần đọc, theo nhật báo Le Figaro, nhân dịp công bố tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.


"Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông" của nhà văn Kazuo Ishiguro
do NXB Văn học và Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam ấn hành bản tiếng Việt

Tác phẩm của Kazuo Ishiguro: 10 năm có mặt tại Việt Nam
            Riêng tại Việt Nam, tiểu thuyết gia Kazuo Ishiguro không phải là một tên tuổi xa lạ. Ba trong số tám tác phẩm của ông đã được Nhà xuất bản Nhã Nam kết hợp với Hội Nhà Văn biên dịch và phát hành: Mãi đừng xa tôi, Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông, Người khổng lồ ngủ quên.
            Trả lời RFI tiếng Việt, anh Nguyễn Xuân Minh, phụ trách bản quyền của Nhã Nam, giải thích thêm về tân khôi nguyên Nobel Văn Học 2017.

RFI: Nhà xuất bản Nhã Nam dịch và phát hành ba tác phẩm của nhà văn Kazuo Ishiguro từ cách đây vài năm, dĩ nhiên trước khi ông được trao giải Nobel Văn Học 2017. Những điểm nổi bật nào của nhà văn Anh gốc Nhật đã thu hút Nhã Nam?
Nguyễn Xuân Minh: Tác phẩm đầu tiên của Kazuo Ishiguro mà Nhã Nam xuất bản là tác phẩm Mãi đừng xa tôi, không phải là vài năm trước mà là 10 năm trước, từ những năm đầu tiên Nhã Nam mới thành lập. Sau đó, đến năm 2015, chúng tôi ra tiếp một tập truyện ngắn của ông tên là Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông. Và gần đây nhất, chúng tôi mới ra tác phẩm, và cũng là tác phẩm mới nhất của ông, Người khổng lồ ngủ quên.
            Tác giả này đã được Nhã Nam khai thác từ những năm đầu tiên. Vì khi đó chúng tôi có quan niệm muốn giới thiệu những tác giả văn chương đương đại, có phong cách đặc biệt, đến với độc giả Việt Nam, bởi vì khi đó, thị trường sách văn học Việt Nam, trong thời điểm 10 năm trước, không được phong phú như bây giờ. Chúng tôi cảm thấy cần có trách nhiệm giới thiệu những tác giả xuất sắc của văn chương thế giới, như Ishiguro, Ian McEwan, Salman Rushdie, Margaret Atwood và Mugakami đến với độc giả Việt Nam.
            Khi đó, cùng với Ian McEwan, Ishiguro là một trong hai tác giả người Anh mà chúng tôi lựa chọn, vì chất văn chương rất đặc trưng của nước Anh. Dù ông là người gốc Nhật, nhưng ảnh hưởng của gốc gác đối với văn chương của ông không nhiều, mà ông viết rất đặc trưng chất Anh. Chính vì thế, chúng tôi đã muốn giới thiệu tác giả này với độc giả Việt Nam từ 10 năm trước.

RFI: Có nhiều ý kiến cho rằng văn phong của Kazuo Ishiguro mang phong cách cổ điển, đôi khi quá trau chuốt về câu chữ. Liệu điều này có phải là một trở ngại để thu hút nhiều độc giả Việt Nam hơn, khi mà hiện nay nhiều tác phẩm được viết với phong cách nhẹ nhàng đang rất “ăn khách”?
Nguyễn Xuân Minh: Về mặt đón nhận, khi chúng tôi xuất bản Mãi đừng xa tôi lần đầu tiên, chúng tôi nhận được nhiều lời khen và nhận xét tích cực từ giới phê bình và độc giả yêu văn chương. Tuy nhiên, cũng như nhiều tác giả văn chương đương đại khác rất nổi tiếng trên thế giới, khi mà xuất bản tại Việt Nam, các tác phẩm này đều khá kén chọn độc giả và không phải có nhiều người biết đến tác phẩm Mãi đừng xa tôi. Một phần cũng do khi đó, công tác truyền thông của Nhã Nam chưa tốt lắm nên chúng tôi lấy làm tiếc là không có nhiều người biết đến tác phẩm này. Đấy cũng là một phần nguyên nhân khiến chúng tôi đã không nghĩ đến xuất bản tiếp các tác phẩm của Ishiguro.
            Đến năm 2013-2014, chúng tôi nhận được một vài tác phẩm mới do người đại diện của tác giả gửi đến, vì Nhã Nam là đơn vị đầu tiên xuất bản Ishiguro tại Việt Nam, nên khi có tác phẩm mới, họ gửi đến. Chúng tôi đọc thử và cảm thấy là văn phong và câu chuyện của ông đều rất tuyệt vời và chúng tôi nghĩ là không thể không tiếp tục xuất bản, nên chúng tôi tiếp tục mua bản quyền thêm ba cuốn của Ishiguro: Dạ Khúc, Người khổng lồ ngủ quên và cuốn nổi tiếng nhất của ông là cuốn được giải BookerThe Remains of Day, tạm dịch là Tàn dư ngày ấy. Cuốn này là cuốn đạt giải cao nhất của ông và khá dầy và tương đối khó dịch nên chúng tôi hy vọng có thể xuất bản được vào năm 2018.

RFI: Độc giả Việt Nam đón nhận các tác phẩm của nhà văn Anh gốc Nhật này như thế nào?
Nguyễn Xuân Minh: Trước khi ông được giải Nobel, cũng có một bộ phận độc giả yêu văn chương nước ngoài, yêu văn chương Anh rất thích tác phẩm này (Mãi đừng xa tôi) và cũng có nhiều người đã gửi thư và gửi tin nhắn cho chúng tôi, yêu cầu chúng tôi xuất bản thêm các tác phẩm của ông. Tuy nhiên, như tôi đã nói ở trước là văn chương của ông khá kén độc giả. Con số bán hàng ở Việt Nam cho thấy chưa phải là có nhiều người thực sự đọc và yêu thích Ishiguro.
            Thực ra, mỗi khi có một cuốn sách quan trọng được xuất bản, chúng tôi đều cố gắng tổ chức chương trình tọa đàm, những buổi ra mắt để giới thiệu sách đến với độc giả. Ví dụ khi cuốn Mãi đừng xa tôi được xuất bản lần đầu, chúng tôi cũng có một buổi tọa đàm, giới thiệu tác phẩm này ở Hội Đồng Anh (Hà Nội). Có khá đông đảo phóng viên và bạn đọc đến tham dự buổi ra mắt này. Buổi đó khá là lớn.
            Sau khi ông được giải Nobel, tất nhiên chúng tôi hy vọng rằng cuốn sách này sẽ được nhiều độc giả biết đến hơn và được đọc rộng rãi ở Việt Nam.


THU HẰNG
Tháng 10/2017

_______________________________
Mãi đừng xa tôi  |  Kazuo Ishiguro (dịch giả Trần Tiễn Cao Đăng)  |  NXB Văn Học, Nhã Nam, 2008, 434 trang.
Dạ khúc: Năm câu chuyện về âm nhạc và đêm buông  |  Kazuo Ishiguro (dịch giả An Lý)  |  NXB Văn Học, Nhã Nam, 2013, 294 trang.
Người khổng lồ ngủ quên  |  Kazuo Ishiguro (dịch giả Lan Young)  |  NXB Văn học, Nhã Nam, 2017, 460 trang.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171006-nobel-van-hoc-2017-ky-uc-thoi-gian-duoi-ngoi-but-cua-kazuo-ishiguro
 
The following users thanked this post: lenhale, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #68 vào: 19/10/2017, 17:28:24 »
Mai Thọ Truyền, từ chùa Xá Lợi tới Phủ Văn Hóa

Ông quốc vụ khanh đặc trách Văn Hóa, nhà biên soạn Phật học Mai Thọ Truyền, bước vào khách sạn Continental lặng lẽ như bất cứ một nhà văn nào. Hôm đó một số tạp chí tại Sài Gòn đã thuê phòng hội của khách sạn này, ngay bên cạnh trụ sở Quốc Hội, để bày tỏ và tìm một quyết định chung trước vấn đề kiểm duyệt. Trong lời diễn từ, sau bài diễn văn gây hấn của người chủ trương nhà xuất bản Trình Bày, sau những phát biểu ý kiến của ông Cao Thế Dung chủ trương tạp chí Quần Chúng, và của ông Thế Uyên chủ trương nhà xuất bản Thái Độ, và một vài ý kiến của người viết bài này, nhân danh tuần báo Khởi Hành, ông quốc vụ khanh đã nói trước micro, rằng ông đến dự buổi họp mặt với tư cách một nhà văn, chủ nhiệm một tạp chí Phật Giáo.(1)

Ông Mai Thọ Truyền (trái) bắt tay Trung Tướng Nguyễn Khánh

ÔNG NÓI: “Nếu không với tư cách đó, tôi đã ra về ngay sau bài diễn văn của ông Thế Nguyên.” Sự ở lại của ông, trong buổi họp mặt của những người cầm bút đòi bãi bỏ kiểm duyệt, được minh định như thế, là sự ở lại của một người cầm bút khác.
            Nhưng ông vẫn phải đón nhận sự cách biệt vốn có giữa một nhân viên chính phủ cấp bậc bộ trưởng, và một cá nhân nào đó, dù cả hai cùng làm việc văn hóa. Chỉ có vài ba người tới tiếp xúc với ông. Tôi tới, tự giới thiệu là một ký giả, hơn nữa, là thư ký tòa soạn tuần báo Khởi Hành. Ông gật đầu: “Tôi có đọc một hai số Khởi Hành.” Vì sự cách biệt nói trên, các nhà văn, nhà thơ có mặt trong buổi tiếp tân đã để tôi ngồi từ đầu tới cuối, một bàn, với ông. Đó là dịp để tôi có thể viết bài này, sau khi đã đề cập với ông các vấn đề như xuất bản, Tuần Lễ Sách Báo sắp được tổ chức, vấn đề hội đồng văn hóa và những chuyện ngẫu nhiên khác.
            Cuộc nói chuyện gián đoạn mấy lần, một lần bởi nhân viên Đài Truyền Hình Việt Nam, một lần bởi lời phát biểu của nhà văn Doãn Quốc Sỹ, người chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo, một lần bởi sự xúc động của Linh Mục Nguyễn Ngọc Lan, khi ông nói lớn trên micro, ông sẵn sàng vào tù vì in sách lậu. (Chữ lậu hiểu theo nghĩa của Sở Phối Hợp Nghệ Thuật, không hiểu theo nghĩa của điều 12 Hiến Pháp như ông nói đi nói lại.) Lần khác, với bút và giấy trên tay, một nhà báo tới phỏng vấn. Ông Mai Thọ Truyền giơ tay ngăn lại: tôi tới đây với anh em nhà văn họp mặt, nếu muốn phỏng vấn, hẹn anh em ở văn phòng (Phủ Văn Hóa).
            Vì thế, bài viết này không nên nghĩ là một bài phỏng vấn. Tôi chỉ ghi lại một giờ nói chuyện với ông quốc vụ khanh, cho dù ông đến dự cuộc họp mặt với tư cách nhà văn Mai Thọ Truyền.

Vấn đề kiểm duyệt
            Đáp câu hỏi của tôi, ông nói:
            – Chính quyền có lợi gì khi duy trì kiểm duyệt? Trong số các anh em, biết đâu không có bên kia trà trộn? Ai có thể cả quyết chỗ này không có bên kia, chỗ nọ không có bên kia? Cả người kiểm duyệt lẫn người bị kiểm duyệt, chúng ta đều là nạn nhân của bên kia. (Tôi đưa mắt tìm mấy tà áo màu, và thấy nhà văn nữ Minh Quân bên một cây cột đá lớn, chị cũng chạm mắt tôi. Có người nói với tôi chị làm việc cho bên kia.)
            Đáp câu hỏi vì sao có những chuyện đăng báo rồi, mà báo có đến hàng chục ngàn độc giả, khi in thành sách nhằm một số độc giả chỉ bằng một phần mười, lại bị cấm, bị gạch bỏ, ông cười nói:
            – Sách quan trọng hơn báo. Báo người ta đọc một ngày rồi liệng bỏ, còn sách, người ta giữ. Tất cả những cuộc cách mạng làm đảo lộn lịch sử đều khởi nguồn từ sách vở. Ngòi bút vô cùng quan trọng. Ngòi bút cũng vô cùng tai hại.
            – Thưa cụ, sách không phục vụ cho một giai đoạn.
            Tôi góp ý ngắn gọn không có tính cách thảo luận, chỉ là nói ra ý mình. Xoa xoa hai ngón tay cái và ngón tay trỏ của bàn tay trái, ông nói:
            – Chúng ta đang ở trong một tình trạng đặc biệt. Chính quyền phải tìm những biện pháp để an dân. Ở trong tình trạng đặc biệt đừng đòi hỏi một tình trạng bình thường.
            Khuôn mặt bình thản, chân thật, tự tin, ông nói tiếp:
            – Chính tôi cũng bị kiểm duyệt.
            Rồi ông cười, nói tiếp một câu mà tôi còn ghi nhớ:
            – Mấy ông kiểm duyệt bây giờ kém quá.
            Lúc này kịch sĩ Thiếu Lang đã tới ngồi bên và có cả kịch tác gia Mĩ Tín, ngồi trên một cái ghế kê hơi xa mép bàn. Ba vị đều sàn sàn tuổi nhau, nghĩa là đều hơn tôi khoảng 30 tuổi. Chúng tôi đã quen biết, gặp mặt trong sinh hoạt văn nghệ thủ đô những năm qua. Chỉ một cái gật đầu thay cho lời chào hỏi.
            Ông Mai giải thích lời chê trách vừa nói:
            – Mấy ông kiểm duyệt bây giờ ít tuổi, chưa hiểu được chỗ dụng bút của nhà văn. Tôi cầm bút 18 năm nay, tôi thấy có những cái người ta chủ tâm đưa lên cao để rồi quật xuống, thì mấy ông lại gạch bỏ đi.
            Đọc ông không nhiều, chỉ biết ông trông coi tạp chí Từ Quang.
            – Thưa cụ – tôi nói – trên một số của tờ Khởi Hành mới đây, chúng tôi đề nghị nếu phải kiểm duyệt sách, sao chính phủ không trao việc này cho Phủ Văn Hóa làm, mà lại trao cho các cán bộ thông tin?
            Ông quốc vụ khanh phân trần:
            – Tôi là người vào sau trong một gia đình, không lẽ tôi dành lấy việc của người đến trước?
           
Tuần Lễ Sách Báo
            Tôi hỏi về Tuần Lễ Sách Báo được dự định tổ chức tại Sài Gòn nhiều tuần qua.
            – Thưa có một giải thưởng nào được dự trù cho tuần lễ triển lãm này không?
            Ông lắc đầu. Tôi nhắc đến Đại Hội Sách Quốc Tế vừa được tổ chức tại Nice (Đại hội này khai mạc vào đầu Tháng Sáu vừa qua, được 22 quốc gia gửi sách tới tham dự. Một ban giám khảo được thành lập, nhiều cuốn sách, cuối cùng, được trao giải, mà giải Meilleur Livre, được trao cho cuốn Stèles (Bia Đá) của thi sĩ quá cố Victor Segalen. Theo tờ Le Figaro Litéraire số 1204, cuốn sách in có 300 bản trong lần xuất bản đầu. Trong kỳ xuất bản năm 1922 in 1,300 bản mà tôi có mua được một cuốn với giá 10 đồng khi nó được thải ra bán trên một hè sách cũ tại lề đường Lê Văn Duyệt).
            Tôi đề nghị đặt giải thưởng, chia làm nhiều giải: giải sách in đẹp nhất, giải tặng nhà xuất bản nào có số sách in mỗi năm cao nhất, một cách để tìm hiểu thị trường chữ nghĩa, làm những bản thống kê về các loại sách v.v… Ông quốc vụ khanh gật đầu nói là sẽ nghiên cứu đề nghị này của tôi.
            Nhân đó, ông nói sang chuyện xuất bản:
            – Làm xuất bản bây giờ thật là phiêu lưu. Số độc giả có là bao. Giỏi lắm mấy ngàn người thôi. Tuy nhiên, phải nhận là độc giả đã tăng tiến nhiều lắm. Người đọc sách ở Việt Nam mặc dù sống trong tình trạng chiến tranh, vẫn không quên các vấn đề văn hóa. Ngoài chợ người ta cũng đọc.
            Quả thế. Tôi thấy ông biết nhiều hơn là trước khi trao đổi với ông. Sự xa cách xảy ra hoàn toàn tự nhiên, Sài Gòn thủ đô văn hóa miền Nam có cả trăm tờ báo, lại chia thành nhiều luồng, báo Nam báo Bắc, tệ nhất là một cách chính thức, người ta có Nghiệp Đoàn Ký Giả Việt Nam, lại có cả Nghiệp Đoàn Ký Giả Nam Việt.(2)
            Nhà văn Mai Thọ Truyền hiệu là Chánh Trí, sinh năm 1905 tại làng Long Mỹ, tỉnh Bến Tre, thuở niên thiếu học các trường sơ học Pháp-Việt Bến Tre, rồi trung học Mỹ Tho, và Chasseloup Laubat Sài Gòn. Năm 1931, ông thi đậu tri huyện rồi đốc phủ sứ, nổi tiếng chính trực. Ông là một trong những người sáng lập và xây dựng chùa Xá Lợi và Hội Phật học Nam Việt.(3)
            Mai Thọ Truyền trước tác nhiều, dịch các kinh sách, có uy tín trong ngành Phật học, từng giữ chức phụ tá Viện trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, đặc trách hành chánh và tài chánh, kiêm tổng thư ký niên khóa 1967-1968. Ông mất ngày 17 Tháng Tư, 1973 tại Sài Gòn, thọ 68 tuổi.
            Tác phẩm Mai Thọ Truyền: Tâm và Tánh, Đuốc Tuệ Hà Nội ấn hành, 1950. Ý nghĩa Niết Bàn, 1962. Một đời sống vị tha, 1962. Tâm kinh Việt giải, 1962. Le Bouddhisme au Viet Nam, 1962. Pháp Hoa huyền nghĩa, 1964. Địa Tạng mật nghĩa, 1965.
            Tác phẩm còn lại: Truyền tâm pháp yếu, Hư Vân Lão Hòa Thượng, Kinh Vô Lượng Thọ, Vòng quanh thế giới Phật Giáo, Đạo đời, Khảo cứu về Tịnh Độ Tông, Mật Tông.


VIÊN LINH
Tháng 12/2016

________________________________________
(1) Tạp chí Từ Quang xuất hiện đều đặn từ 1957, Mai Thọ Truyền là nhân vật nòng cốt. Theo một bài viết của Thích Nhất Hạnh, Từ Quang ra tới số 242 và vẫn tiếp tục.
(2) Thanh Thương Hoàng (hiện nay 2016 đang cư ngụ tại San Jose) là chủ tịch Nghiệp đoàn Ký giả Việt Nam. Nguyễn Kiên Giang là chủ tịch Nghiệp đoàn Ký Giả Nam Việt.
(3) Hội Phật Học Nam Việt thành lập năm 1950. Chùa Xá Lợi khởi công xây dựng từ 1956, tọa lạc tại đường Bà Huyện Thanh Quan, bên trường nữ trung học Gia Long, Sài Gòn.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/mai-tho-truyen-tu-chua-xa-loi-toi-phu-van-hoa/
 
The following users thanked this post: lenhale