Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 3963 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #75 vào: 14/11/2017, 09:55:02 »
Tầu bưu điện ngầm ở Luân Đôn: Một “kỳ tích” của ngành đường sắt Anh Quốc

Big Ben tạm lắng tiếng chuông trong vòng 4 năm để trùng tu. Như để bù đắp Luân Đôn mở cửa đường tầu bưu điện ngầm cho khách tham quan. Sau ba năm khôi phục, kể từ đầu tháng 9 năm 2017, du khách có thể ngồi xe đưa thư tham quan đường tầu bưu điện ngầm đầu tiên trên thế giới.

Hệ thống tầu điện chuyển thư của ngành dịch vụ bưu chính Luân Đôn

THEO TÍNH TOÁN của những kỹ sư giỏi nhất thời bấy giờ, sử dụng đường hầm để chở thư sẽ bảo đảm cho toàn bộ hệ thống hoạt động thông suốt và tiết kiệm thời gian so với phải chuyên chở bằng hệ thống giao thông bình thường. Đó là chưa kể các con tầu đều được tự động hóa để không cần phải có người lái mà vẫn di chuyển như con thoi giữa các trạm trung chuyển.

Tầu bưu điện ngầm, hầm trú ẩn lý tưởng thời chiến sự
            Và thế là người ta bắt tay xây dựng tuyến đường sắt đặc biệt này vào năm 1914. Một năm sau, dự án tưởng chừng phải bỏ dở. Công trình buộc phải tạm ngưng do tình trạng khan hiếm vật liệu và nhân công khi Đệ Nhất Thế Chiến nổ ra. Dù vậy, dự án xây đường tầu bưu điện ngầm này cũng được hoàn tất và được đưa vào sử dụng năm 1927. Trên thực tế, đường tầu ngầm này đã giúp giảm đi rất nhiều thời gian giao chuyển thư giữa các trạm phân thư từ nhiều giờ xuống còn 30 phút.
            Trong vòng 76 năm, con tầu bưu điện này chạy 22 giờ mỗi ngày, đi khắp dưới lòng thủ đô Luân Đôn. Thậm chí trong suốt chiến dịch Blitz, chiến dịch dội bom tăng cường của không quân Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến cũng không làm gián đoạn hoạt động của đường tầu.
            Nhiều đoạn đường hầm tầu đôi khi còn là nơi cất giấu lý tưởng các tác phẩm nghệ thuật trong suốt chiến dịch không kích đó, đặc biệt là phiến đá Rosette của British Museum. Đây là một mẩu tấm bia thời Ai Cập cổ đại cho phép các nhà khảo cổ giải mã các sắc lệnh được ban hành ở Memphis năm 196 TCN, nhân danh nhà vua Ptolemy V.
            Điều đặc biệt là trong vòng gần một thế kỷ tồn tại, ít có người dân Luân Đôn nào nói riêng và cả nước Anh nói chung biết đến sự hiện diện của đường tầu điện đó.
            Nay được mở cho công chúng, người xem được ngồi trên chiếc toa tầu rộng chừng 70 cm, vận tốc khoảng 6,4 km/giờ, chuyên dùng để chở thư và bưu phẩm, đi khám phá một thế giới khác tuy không lộng lẫy nguy nga như cung điện Wesminster, cầu tháp Tower Bridge, tháp đồng hồ Big Ben, hay giáo đường Saint Margaret… nhưng cũng không kém phần hấp dẫn.


Tầu bưu điện ngầm ở Luân Đôn

“Kỳ tích kỹ thuật” của các kỹ sư Anh
            Đó là những đoạn đường hầm rỉ sét, những khu nghĩa địa đường sắt hay những trạm xử lý thư từ, ngày nay đã bị hư hỏng nặng. Người tham quan được nghe chính những người từng làm việc ở đây hướng dẫn, giới thiệu về tuyến đường hầm đặc biệt này.

             “Toàn bộ hệ thống bắt đầu từ trung tâm phân thư ở phía Tây là khu Paddington rồi chạy dài sang phía đông đến khu White Chaple, với chiều dài trên 10km, gồm tổng cộng là 8 trạm chuyển giao thư tín và bưu phẩm, mà mỗi ga là một kết cấu chuyển nhận khác nhau, như có nơi trực tiếp đưa hàng từ xe goòng sang xe tải chạy ngoài đường. Hệ thống đường sắt kích thước nhỏ như chúng ta thường thấy trong các hầm mỏ, nhưng thực sự là những bước tiến rất xa trong ngành đường sắt, đều được ứng dụng vào tuyến đường này, một di tích đầy tự hào của ngành bưu điện Anh quốc.”

            Ông Adrian Steel, giám đốc Bảo tàng Bưu điện, tự hào cho rằng đường tầu bưu điện ngầm này là một “kỳ tích kỹ thuật” của ngành thiết kế đường sắt. Hệ thống đường sắt này giờ là một phần của bảo tàng bưu điện nước Anh, bên cạnh rất nhiều bảo tàng nổi tiếng khác. Thông tín viên Lê Hải, một cư dân ở Luân Đôn, giải thích về tầm quan trọng và vai trò của tuyến đường sắt này.

             “Chưa nói gì đến du khách nước ngoài, chỉ riêng du khách người Anh thôi có lẽ đã đủ khiến người ta phải đăng ký chờ đợi từ rất lâu mới có thể mua vé vào xem trong ngày khai trương tuyến đường du lịch này. Nước Anh nổi tiếng với các câu lạc bộ qui tụ người yêu thích ngành đường sắt, mà hình ảnh người ta túm tụm cầm ống nhòm và máy chụp hình đứng ở các ga để ngắm các loại xe lửa là chuyện rất bình thường ở Luân Đôn. Bây giờ một tuyến đường sắt nổi tiếng như vậy, trước nay chỉ vận hành nội bộ, nay lại mở cửa cho khách tham quan, thì rõ ràng là một sự kiện không thể vắng mặt.
            Nhìn từ góc độ khác, thì cuộc cách mạng đường sắt đã làm thay đổi hoàn toàn thế giới của chúng ta đang sống, và những gì được bảo tàng giữ lại đều là vật thể quan trọng để giúp không chỉ con cháu chúng ta mà ngay chính bản thân chúng ta hiểu thêm về quá khứ. Người ta có thể mường tượng cách đây 100 năm, khi nói đến một con phố thì ở rất nhiều nơi trên thế giới còn là điều gì đó rất là xa lạ, vậy mà hồi năm 1911 ngành bưu điện nước Anh đã phải họp bàn giải pháp để làm sao cho thư từ không bị chậm trễ do nạn tắc đường ở Luân Đôn.
            Thêm nữa, vào thời đó ở Việt Nam muốn ra kinh đô để giải quyết việc gì người ta phải đi rất là lâu. Vậy mà ở nước Anh, lượng thư tín cần phải phân phối đã nhiều đến mức phải xây riêng cho ngành bưu điện một tuyến đường ngầm. Tương tự vậy, năng lượng điện hiện vẫn còn là điều xa lạ với nhiều vùng đất thì từ năm 1926 hệ thống đường sắt ngầm của bưu điện nước Anh đã dùng động cơ điện và không lâu sau đó là lái tự động bằng máy. Sau Luân Đôn thì một số thành phố khác cũng xây dựng hệ thống tương tự như Munich ở Đức, Zurich ở Thụy Sĩ, và Chicago bên Hoa Kỳ.”


Tầu bưu điện ngầm: Điểm khảo cổ học đô thị
            Theo ước tính, hệ thống đường ngầm bưu điện ở Anh đã xử lý trung bình mỗi ngày 4 triệu thư tín. Nhưng đến một lúc nào đó, chi phí vận hành tính ra lại quá cao so với chở bằng xe tải. Người ta tính toán và thấy rằng chi phí đó cao gấp 3-5 lần bình thường và do vậy đã ra quyết định đóng cửa tuyến đường này vào năm 2003. Những người làm việc trên tuyến đường này ghi nhận một sự thay đổi rất rõ ràng trong thói quen của người dân Anh. Công nghệ và Internet phát triển, thư từ có thể trao đổi qua mail. Bưu điện giờ chỉ dùng để chuyển bưu kiện và hàng hóa là chính.
            Phương thức liên lạc thay đổi khiến cho các phương tiện như hệ thống đường sắt dưới lòng đất trở thành lạc hậu, và bị gạt bỏ. Cuộc sống và phương tiện đã tiến về phía trước, vậy còn những người lao động đã từng gắn bó cuộc đời với đường tầu ngầm bưu điện này thì sao? Một số người đã cố gắng lưu giữ lại một phần của lịch sử và giúp các lứa sinh viên nghiên cứu.
            Giờ đây, sau gần 15 năm đóng cửa, bưu điện Anh đã quyết định đưa tuyến đường này vào hoạt động trở lại, chuyển công năng thành phục vụ nhu cầu khám phá cho khách du lịch. Và theo thông tín viên Lê Hải, sự kiện này cũng nằm trong xu hướng chung tại Anh, biến những địa điểm công ích cũ xưa thành những điểm du lịch, bảo tồn di sản văn hóa-lịch sử. Chính vì điều đó mà trước ngày khai trương chính thức, đã có trên 15.000 người đã đặt mua vé sẵn từ trước để vào tham quan tầu điện ngầm ngay ngày mở cửa.

             “Như vậy là nghiên cứu khảo sát của nhiều khóa sinh viên trường Đại học Cambridge đã kết thúc bằng một dự án thành công là phục hồi tuyến đường sắt chở thư và mở cửa bảo tàng bưu điện. Đây mới thực sự là điều có thể khiến thính giả ở Việt Nam suy nghĩ. Trong lúc nhiều nơi coi các quần thể kiến trúc cũ là cái cần phải phá đi để tạo ra bộ mặt mới gọi là phát triển, thì trên thế giới đang có một xu hướng rất rõ ràng được gọi là khảo cổ đô thị, hay khảo cổ công nghiệp, tức là không đào bới đâu xa vào quá khứ, mà lên kế hoạch giữ lại một phần của quá khứ ngay trong chính những gì chúng ta đang có, được xây dựng từ thời hiện đại tức là trong Thế kỷ 20.
            Rất nhiều công trình giá trị đã bị phá nát mà không hề được nghiên cứu khảo sát để ghi lại bất kỳ điều gì từ quá khứ, như khu nhà xưởng Bason ở Sài Gòn, hay nhà máy dệt Nam Định từng là biểu tượng in trên tiền. Ở nước Anh này, tất cả những di tích kiểu như vậy, giống như là khu xưởng dệt hay sản xuất dây thừng giống như nhà xưởng của Engel mà Các Mác từng mô tả trong bộ Tư bản luận của ông, hay các khu cảng và hệ thống kênh đào vận tải, tất cả đều được các tổ chức và nhóm hội của người Anh cố gắng giữ lại một phần bên cạnh những công trình mới, hoặc thay đổi công năng thành phục vụ du lịch để giữ lại toàn phần. Nhìn từ góc độ đó, thì tuyến đường sắt ngầm chở thư tín ở Luân Đôn chính là một trong số những điểm đến quan trọng nhất cho giới lãnh đạo và tri thức trẻ Việt Nam trong chuyến du lịch Anh.”


            100 năm lịch sử không chỉ của nước Anh mà cả thế giới được lưu lại trong một quần thể vô cùng độc đáo này chắc chắn sẽ là điểm đến cho những ai quan tâm đến lịch sử công nghiệp và khảo cổ học đô thị.


MINH ANH & LÊ HẢI
Tháng 10/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171011-tau-buu-dien-ngam-luan-don-duong-sat-anh

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #76 vào: 16/11/2017, 22:45:38 »
Nh. Tay Ngàn, lập lòe trí nhớ

Tôi quen Nh. Tay Ngàn do tình cờ. Nhưng nhờ duyên văn nghệ. Năm đó, 1966, Phạm Công Thiện bỏ học từ Mỹ sang Paris sống lang thang. Tình cờ gặp Thiện chúng tôi làm quen rồi kéo nhau về ở chung nhà. Thiện bỏ tu, để tóc, mặc đồ civil.


TỪ NHỮNG ĐÊM say rượu ở Greenwich Village, Thiện làm một bài thơ hay, mang tên Quế Hương. Trong ấy có câu:

                        Trời mưa Nữu Ước cây mọc
                        Nhớ em trời mưa ngày tháng
                        Nhớ em đường hoang mái vắng
                        Nữu Ước chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Trên bến điện nghiến nát
                        Tim anh tràn máu
                        Con chim đã bay về rừng đạn
                        Em còn hát ca
                        Anh không còn làm tu sĩ
                        Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em…


            Sống với nhau một thời gian, giấc mộng văn chương và triết học bỗng nổi lên đùng đùng, dữ dội như cuộc chiến tranh ngút ngàn và bi thảm trên quê hương. Mọi ngày, sau khi xong việc ở Collège de France, tôi kéo Thiện ra công trường Contrescarpe uống cà phê, uống bia. Khi cơn say vừa ngấm, Thiện nói huyên thuyên về văn học bao la và giấc mộng thiên tài cho đến hai ba giờ sáng. Không vì khuya mà vì cạn túi. Hai đứa bước thấp bước cao trở về phòng trọ ở đường Guy de la Brosse xóm La tinh lục cơm nguội ra ăn.
            Chiến tranh bế tắc. Văn học bế tắc ở Hà Nội. Văn học bế tắc ở Saigon. Tôi rủ Thiện làm tờ báo văn học khác đời chơi, Thiện hăng hái tán đồng. Chúng tôi viết quảng cáo gửi về đăng trên Bách Khoa và Văn. Hai tờ rộng lượng không lấy tiền thuê đăng. Thiện chơi món độc chiêu, móc vào một câu: báo dành cho những cây bút mới, ai đã có danh và nổi tiếng xin miễn gửi bài tới. Đại loại như thế. Chúng tôi cao vọng muốn đặt lại tư tưởng Việt Nam qua tạp chí này. Nhờ Thanh Tuệ lo việc in ấn và phát hành ở Saigon. Tạp chí lấy tên một tập thơ của tôi: Hoa Nắng.
            Rất nhiều bạn đọc trẻ trong nước viết thư hoan nghênh và đóng góp bài vở. Lừng lửng trên chiến tranh, giới trẻ thời bấy giờ xem như một hiện tượng mới mẻ, hấp dẫn, giúp họ thoát ly tiếng đại bác và trái sáng thường đêm. Nội tên kinh đô Ánh sáng đã thu hút biết bao cơn mộng mị, đâu như bây giờ thế giới là khu làng với người Việt. Bài vở chuẩn bị xong, sẵn sàng cho hai số. Nhưng việc không thành, tạp chí chỉ là giấc mộng con.
            Vào lúc chúng tôi đang rồng mình vùng vẫy trong giấc mộng con này, thì Thượng tọa Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh sang Paris dự hội nghị Unesco cùng giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đến thăm tôi. Thượng tọa mời tôi về giúp Vạn Hạnh. Tôi nhận lời nhưng giới thiệu và đề nghị mời thêm Phạm Công Thiện. Thượng tọa e thẹn ngạc nhiên thốt lên ủa chú Nguyên Tánh đây à! Rồi nhận lời tôi. Hôm ấy Thiện uống rượu say, mặt đỏ lừ.
            Sự đời thường hai với hai thành năm. Một lý do khách quan khiến tôi không về được. Thiện cạo đầu, mặc lại áo tu. Mặt mày nghiêm nghị không cười đùa như trước. Một hôm tôi thấy bài thơ Quế Hương bị xé vứt vào xọt rác. Tôi lượm đọc thấy một chữ sửa trong mấy câu trên:

                        Trời mưa Nữu Ước cây mọc
                        Nhớ em trời mưa ngày tháng
                        Nhớ em đường hoang mái vắng
                        Nữu Ước chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Trên bến điện nghiến nát
                        Tim anh tràn máu
                        Con chim đã bay về rừng đạn
                        Em còn hát ca
                        Anh không còn làm thi sĩ
                        Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em…


            Thiện về mang theo tất cả bản thảo Hoa Nắng để in như dự trù. Nhưng rồi Hoa Nắng đi vào hoàng hôn mộng mị, dù tịch dương vô hạn hảo…


Thủ bút của Nh. Tay Ngàn

CÙNG THỜI GIAN lao xao lá ngô đồng ấy, thư Nh. Tay Ngàn gửi tới mừng vui tin tạp chí ra đời. Nhĩ tự giới thiệu sang Pháp du học ngành họa đồ kỹ nghệ, mong được gặp hai chúng tôi và hứa sẽ làm bất cứ gì nặng nhọc trong tòa soạn để đóng góp. Chúng tôi quen nhau từ đó.
            Nh. Tay Ngàn, tên thật Nguyễn Văn Nhĩ, sinh năm 1943, mất đầu tháng giêng 1978 tại Paris vào năm 35 tuổi. Chiến tranh là tên tử thần theo đuổi Nhĩ từ tấm bé. Nó đưa đẩy thi mệnh Nhĩ vào ngõ cụt. Cụt nhưng không kẹt trên bước đi khai phá của người thơ.
            Hồi còn thiếu niên, cha Nhĩ theo kháng chiến bị Tây bắn vỡ sọ trên đồng. Nhĩ chứng kiến. Nhĩ đưa hai bụm tay bé nhỏ hốt khối não bầy nhầy bỏ vào sọ cha.
            Phải chăng bụm tay ấy, khối não ấy đã đặt để vào đầu Nhĩ thành dấu hỏi lớn không lời đáp xuyên suốt cuộc tử sinh?
            Nhĩ ít nói, ít tâm sự. Đôi mắt nai đăm đăm. Tôi cũng là người ít nói, gặp nhau chúng tôi hỏi thăm qua loa về cuộc sống rồi ngồi trầm ngâm. Nhĩ dõi theo một cõi ngoài chẳng ai vào được. Một thứ săn đuổi nội tâm và độc thoại. Trực giác tôi cảm nhận, điều ấy làm an ủi Nhĩ. Theo niềm tin cậy này Nhĩ càng trầm ngâm yên lặng như cùng tôi song thoại nơi thinh không. Lâu lâu Nhĩ hỏi một vài câu về chuyện viết lách, văn học, các tác giả…
            Có thời Nhĩ theo người bạn gái người Tây Ban Nha sang sống ở Madrid cho đến khi biết mình mắc bệnh lao mới trở về Paris chữa chạy. Rồi Nhĩ quay cuồng theo bệnh tâm thần, người ta đã nhốt Nhĩ vào nhà thương điên Villejuif, vùng phụ cận Paris, với cách đốt điện trên đầu điên cuồng hơn cơn điên. Đây là thời gian địa ngục, mà dấu vết còn lưu trong văn thơ Nhĩ. Ít ai biết.
            Nhĩ làm thơ, viết văn và vẽ tranh. Có một lần triển lãm cá nhân tại phòng tranh Louis Soulanges trên đường Montparnasse.
            Mối tình đầu của Nhĩ là Liên trong Nỗi Liên đen tối vô cùng, mà Nhĩ trở về Saigon thăm lại năm 1973. May mắn cho Nhĩ là Liên vẫn yêu Nhĩ thiết tha, muốn sang Paris sống cùng Nhĩ. Nhưng cuộc sống không tiền bạc, không nghề nghiệp, Nhĩ đành thúc thủ. Nếu không có vài ba người bạn học cùng lứa thương yêu giúp đỡ Nhĩ, có lẽ Nhĩ đã chết sớm hơn.
            Tôi ít thấy ai say sưa viết như Nhĩ. Âm thầm. Cặm cụi. Không nói. Không ba hoa. Những chuyến viễn trình, những cuộc tình vặt, những đêm đốt thuốc bên quầy bar với rượu rhum từng ngụm cay nhè… chỉ để dàn ra từng dòng chữ chăm chỉ trang này sang trang khác. Có hôm tôi nhìn thấy trên 20 tập bloc, dễ cũng trên bốn nghìn trang, chữ nhỏ đều đặn. Từ chữ đầu đến chữ cuối không một lần mất kiên nhẫn, như một vũ trụ kiến kéo nhau đi thành hàng dọc. Khi thơ khi văn. Trong văn học Việt Nam có hai người không viết văn, viết thơ thành bài, mà dàn trải tới vô tận dòng thơ văn không có dấu chấm. Đó là Bùi Giáng và Nh. Tay Ngàn. Văn và ý tưởng, thơ và ý tưởng trộn nhau như chớp với đá kết ngọc. Hết õng ẻo với quá khứ, không thời trang thế cuộc, không nép mình vào ca dao hay bốc khói trên chợ trời văn học. Đọc Nhĩ phải có mắt xanh với tấm lòng rớm máu thì mới cùng Nhĩ song thoại trong “thế giới vốn nhỏ và hạt bụi muốn đau”, khi nhà văn Việt Nam “thấy ngu trước nhà văn quốc tế”.
            Nhĩ không thích văn thơ Saigon thời ấy, Nhĩ nói: “Có thể vốn sống trong thời loạn ly của họ bị nghẹt nên sanh ra nhiều tánh ganh tị trách móc hoặc ghen ghét nhỏ nhoi, bởi đó mức văn hóa trì trệ rồi rút lì vào ảo tưởng bất nhất kia” (thư viết ngày 17. 12. 76). Nhĩ không ưa văn thơ tiền chiến và Tự lực Văn đoàn, vì cho rằng: “Giá trị họ ở trong tầng lớp sinh viên học sinh còn trẻ, thiếu sáng tác chứ không thể là giá trị vĩnh cửu cho chúng ta nữa, đành rằng mọi tư thế phê bình luôn toa rập với số đông. Ngay cả tôi hồi nhỏ cũng chẳng bao giờ ưa “tự lực văn đoàn”, tới nay chuyện xưa rồi, nhắc lại để tự mình thấy điểm nào đó không hay ho nữa” (thư viết ngày 17. 12. 76).
            Thoạt đầu Nhĩ thích nhóm Sáng Tạo, có lẽ vì chiều hướng đập phá cổ lệ văn chương. Nhưng không hiểu vì sao sau chuyến đi Saigon về, Nhĩ bất bình với Mai Thảo và một thiên tài khác mà Nhĩ ôm ấp trước kia.
            Tôi cũng vì một thất vọng lớn trong đời, năm 1970 bỏ đi làm nhà in nuôi thân với tham vọng làm văn hóa qua nhà in. Những giấc mộng bạch diện thư sinh chỉ đem lại phương trình hai với hai thành năm. Không thành bốn. Bất ngờ tôi trở thành thợ in vì một sự phản bội. Chạy máy mỗi ngày 18 giờ để trả nợ. Cho tới năm 1975 nhà in bắt đầu mở mặt, thì chiến tranh chấm dứt. Nhưng hai với hai vẫn thành năm. Hai chữ nhân quyền bắt đầu nhỏ máu. Tôi sực nhớ năm 13 tuổi đọc hai bản kinh Kim Cang và Địa Tạng trong nhà lao. Thân phận tù nhân lúc nhúc, mồ hôi nhễ nhãi trộn lẫn mùi nhị thiên đường, dầu cù là, sau những lần tra tấn. Ngột ngạt. Tồi tàn. Hôi hám. Bốn người quần thảo bốn người, bất kể con nít, phụ nữ, thanh niên, cụ già… Ông chủ sự phòng tra ngồi sau chiếc bàn điều khiển. Ông bắt một người từ văn nghệ ngồi hát những bài ca kháng chiến cho ông nghe giữa tiếng la gào thảm thiết. Lúc ấy tôi có lời nguyện cứu thoát tù nhân nếu còn được sống sót.


Nh. Tay Ngàn, năm 1968

            Cuối năm 75, tôi cùng một số anh chị em văn nghệ ở Paris họp nhau ra tạp chí Quê Mẹ với ngưỡng vọng bảo tồn và phát huy văn hóa Việt. Qua 1976, Nhĩ đến thăm tôi và phụ tôi việc bếp núc tòa soạn một thời gian. Bao nhiêu năm, Nhĩ vẫn như thế, chừng ấy áo quần đơn giản, chừng ấy trầm ngâm trên đôi mắt buồn, ít nói, không than van chuyện mình. Nhưng tôi biết Nhĩ rất túng thiếu.
            Tôi hứa sẽ tìm phương tiện in thơ văn Nhĩ là điều Nhĩ cưu mang bao nhiêu năm dài. Chuyến đi Saigon năm 1973 là mong ước tột đỉnh cho một tập thơ ra đời. Hẳn nhiên chuyện ấy chẳng xẩy ra. Tạp chí Quê Mẹ kéo theo bao hoạt động dồn tới bất ngờ ăn hết lợi tức của nhà in. Vì vậy, đến năm 1982, nhà in vỡ nợ, bị tịch thu đem bán phát mại.
            Những khó khăn ấy làm cho tôi thành tên thất hứa. Tôi không in được tập thơ văn nào cho Nh. Tay Ngàn. Bài viết hôm nay là một lời tạ lỗi với Nh. Tay Ngàn trên cao xanh kia.
            Đầu tháng Giêng 1978, các bạn của Nhĩ gọi dây nói cho biết Nhĩ chết rồi. Một hôm, bà gác dan (concierge) thấy mấy ngày qua Nhĩ không ghé lấy thư. Bà lên đập cửa phòng. Không nghe hồi đáp, bà lo lắng mở cửa xem thì Nhĩ đã nằm chết trên giường nhiều ngày. Lâu quá tôi quên, nhưng có thể là ở địa chỉ 16, rue Jean Ferrandi – Paris quận 6.
            Các bạn hùn nhau làm đám. Thi hài đốt ở nghĩa địa Père-Lachaise, Paris quận 20. Dự tính sau này sẽ gửi tro về Việt Nam. Dường như Nhĩ có một người anh sống ở Saigon. Nghĩa địa Père-Lachaise còn lưu giữ những mộ chí của Gerard de Nerval, Chopin, Balzac, Alfred de Musset, Proust, Apollinaire, Pissaro, Oscar Wilde…
            Thời ấy, tôi viết mấy câu tiễn Nhĩ:

                                    VIẾNG NHĨ
                        Tay Ngàn
                        khua nhịp về đâu
                        Rừng thiêng vỡ một
                        ngấn sầu
                        rụng
                        hai
                        Nay theo bước nhỏ còn ai
                        Ta hơ tro cũ
                        tay dài dìu em.


            Nh. Tay Ngàn là một Van Gogh trong văn chương Việt Nam.


Paris, 8. 5. 2006
THI VŨ


http://www.gio-o.com/ThiVu/ThiVuNhTayNgan.html

 
The following users thanked this post: tnghia