Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 11171 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #75 vào: 14/11/2017, 09:55:02 »
Tầu bưu điện ngầm ở Luân Đôn: Một “kỳ tích” của ngành đường sắt Anh Quốc

Big Ben tạm lắng tiếng chuông trong vòng 4 năm để trùng tu. Như để bù đắp Luân Đôn mở cửa đường tầu bưu điện ngầm cho khách tham quan. Sau ba năm khôi phục, kể từ đầu tháng 9 năm 2017, du khách có thể ngồi xe đưa thư tham quan đường tầu bưu điện ngầm đầu tiên trên thế giới.

Hệ thống tầu điện chuyển thư của ngành dịch vụ bưu chính Luân Đôn

THEO TÍNH TOÁN của những kỹ sư giỏi nhất thời bấy giờ, sử dụng đường hầm để chở thư sẽ bảo đảm cho toàn bộ hệ thống hoạt động thông suốt và tiết kiệm thời gian so với phải chuyên chở bằng hệ thống giao thông bình thường. Đó là chưa kể các con tầu đều được tự động hóa để không cần phải có người lái mà vẫn di chuyển như con thoi giữa các trạm trung chuyển.

Tầu bưu điện ngầm, hầm trú ẩn lý tưởng thời chiến sự
            Và thế là người ta bắt tay xây dựng tuyến đường sắt đặc biệt này vào năm 1914. Một năm sau, dự án tưởng chừng phải bỏ dở. Công trình buộc phải tạm ngưng do tình trạng khan hiếm vật liệu và nhân công khi Đệ Nhất Thế Chiến nổ ra. Dù vậy, dự án xây đường tầu bưu điện ngầm này cũng được hoàn tất và được đưa vào sử dụng năm 1927. Trên thực tế, đường tầu ngầm này đã giúp giảm đi rất nhiều thời gian giao chuyển thư giữa các trạm phân thư từ nhiều giờ xuống còn 30 phút.
            Trong vòng 76 năm, con tầu bưu điện này chạy 22 giờ mỗi ngày, đi khắp dưới lòng thủ đô Luân Đôn. Thậm chí trong suốt chiến dịch Blitz, chiến dịch dội bom tăng cường của không quân Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến cũng không làm gián đoạn hoạt động của đường tầu.
            Nhiều đoạn đường hầm tầu đôi khi còn là nơi cất giấu lý tưởng các tác phẩm nghệ thuật trong suốt chiến dịch không kích đó, đặc biệt là phiến đá Rosette của British Museum. Đây là một mẩu tấm bia thời Ai Cập cổ đại cho phép các nhà khảo cổ giải mã các sắc lệnh được ban hành ở Memphis năm 196 TCN, nhân danh nhà vua Ptolemy V.
            Điều đặc biệt là trong vòng gần một thế kỷ tồn tại, ít có người dân Luân Đôn nào nói riêng và cả nước Anh nói chung biết đến sự hiện diện của đường tầu điện đó.
            Nay được mở cho công chúng, người xem được ngồi trên chiếc toa tầu rộng chừng 70 cm, vận tốc khoảng 6,4 km/giờ, chuyên dùng để chở thư và bưu phẩm, đi khám phá một thế giới khác tuy không lộng lẫy nguy nga như cung điện Wesminster, cầu tháp Tower Bridge, tháp đồng hồ Big Ben, hay giáo đường Saint Margaret… nhưng cũng không kém phần hấp dẫn.


Tầu bưu điện ngầm ở Luân Đôn

“Kỳ tích kỹ thuật” của các kỹ sư Anh
            Đó là những đoạn đường hầm rỉ sét, những khu nghĩa địa đường sắt hay những trạm xử lý thư từ, ngày nay đã bị hư hỏng nặng. Người tham quan được nghe chính những người từng làm việc ở đây hướng dẫn, giới thiệu về tuyến đường hầm đặc biệt này.

             “Toàn bộ hệ thống bắt đầu từ trung tâm phân thư ở phía Tây là khu Paddington rồi chạy dài sang phía đông đến khu White Chaple, với chiều dài trên 10km, gồm tổng cộng là 8 trạm chuyển giao thư tín và bưu phẩm, mà mỗi ga là một kết cấu chuyển nhận khác nhau, như có nơi trực tiếp đưa hàng từ xe goòng sang xe tải chạy ngoài đường. Hệ thống đường sắt kích thước nhỏ như chúng ta thường thấy trong các hầm mỏ, nhưng thực sự là những bước tiến rất xa trong ngành đường sắt, đều được ứng dụng vào tuyến đường này, một di tích đầy tự hào của ngành bưu điện Anh quốc.”

            Ông Adrian Steel, giám đốc Bảo tàng Bưu điện, tự hào cho rằng đường tầu bưu điện ngầm này là một “kỳ tích kỹ thuật” của ngành thiết kế đường sắt. Hệ thống đường sắt này giờ là một phần của bảo tàng bưu điện nước Anh, bên cạnh rất nhiều bảo tàng nổi tiếng khác. Thông tín viên Lê Hải, một cư dân ở Luân Đôn, giải thích về tầm quan trọng và vai trò của tuyến đường sắt này.

             “Chưa nói gì đến du khách nước ngoài, chỉ riêng du khách người Anh thôi có lẽ đã đủ khiến người ta phải đăng ký chờ đợi từ rất lâu mới có thể mua vé vào xem trong ngày khai trương tuyến đường du lịch này. Nước Anh nổi tiếng với các câu lạc bộ qui tụ người yêu thích ngành đường sắt, mà hình ảnh người ta túm tụm cầm ống nhòm và máy chụp hình đứng ở các ga để ngắm các loại xe lửa là chuyện rất bình thường ở Luân Đôn. Bây giờ một tuyến đường sắt nổi tiếng như vậy, trước nay chỉ vận hành nội bộ, nay lại mở cửa cho khách tham quan, thì rõ ràng là một sự kiện không thể vắng mặt.
            Nhìn từ góc độ khác, thì cuộc cách mạng đường sắt đã làm thay đổi hoàn toàn thế giới của chúng ta đang sống, và những gì được bảo tàng giữ lại đều là vật thể quan trọng để giúp không chỉ con cháu chúng ta mà ngay chính bản thân chúng ta hiểu thêm về quá khứ. Người ta có thể mường tượng cách đây 100 năm, khi nói đến một con phố thì ở rất nhiều nơi trên thế giới còn là điều gì đó rất là xa lạ, vậy mà hồi năm 1911 ngành bưu điện nước Anh đã phải họp bàn giải pháp để làm sao cho thư từ không bị chậm trễ do nạn tắc đường ở Luân Đôn.
            Thêm nữa, vào thời đó ở Việt Nam muốn ra kinh đô để giải quyết việc gì người ta phải đi rất là lâu. Vậy mà ở nước Anh, lượng thư tín cần phải phân phối đã nhiều đến mức phải xây riêng cho ngành bưu điện một tuyến đường ngầm. Tương tự vậy, năng lượng điện hiện vẫn còn là điều xa lạ với nhiều vùng đất thì từ năm 1926 hệ thống đường sắt ngầm của bưu điện nước Anh đã dùng động cơ điện và không lâu sau đó là lái tự động bằng máy. Sau Luân Đôn thì một số thành phố khác cũng xây dựng hệ thống tương tự như Munich ở Đức, Zurich ở Thụy Sĩ, và Chicago bên Hoa Kỳ.”


Tầu bưu điện ngầm: Điểm khảo cổ học đô thị
            Theo ước tính, hệ thống đường ngầm bưu điện ở Anh đã xử lý trung bình mỗi ngày 4 triệu thư tín. Nhưng đến một lúc nào đó, chi phí vận hành tính ra lại quá cao so với chở bằng xe tải. Người ta tính toán và thấy rằng chi phí đó cao gấp 3-5 lần bình thường và do vậy đã ra quyết định đóng cửa tuyến đường này vào năm 2003. Những người làm việc trên tuyến đường này ghi nhận một sự thay đổi rất rõ ràng trong thói quen của người dân Anh. Công nghệ và Internet phát triển, thư từ có thể trao đổi qua mail. Bưu điện giờ chỉ dùng để chuyển bưu kiện và hàng hóa là chính.
            Phương thức liên lạc thay đổi khiến cho các phương tiện như hệ thống đường sắt dưới lòng đất trở thành lạc hậu, và bị gạt bỏ. Cuộc sống và phương tiện đã tiến về phía trước, vậy còn những người lao động đã từng gắn bó cuộc đời với đường tầu ngầm bưu điện này thì sao? Một số người đã cố gắng lưu giữ lại một phần của lịch sử và giúp các lứa sinh viên nghiên cứu.
            Giờ đây, sau gần 15 năm đóng cửa, bưu điện Anh đã quyết định đưa tuyến đường này vào hoạt động trở lại, chuyển công năng thành phục vụ nhu cầu khám phá cho khách du lịch. Và theo thông tín viên Lê Hải, sự kiện này cũng nằm trong xu hướng chung tại Anh, biến những địa điểm công ích cũ xưa thành những điểm du lịch, bảo tồn di sản văn hóa-lịch sử. Chính vì điều đó mà trước ngày khai trương chính thức, đã có trên 15.000 người đã đặt mua vé sẵn từ trước để vào tham quan tầu điện ngầm ngay ngày mở cửa.

             “Như vậy là nghiên cứu khảo sát của nhiều khóa sinh viên trường Đại học Cambridge đã kết thúc bằng một dự án thành công là phục hồi tuyến đường sắt chở thư và mở cửa bảo tàng bưu điện. Đây mới thực sự là điều có thể khiến thính giả ở Việt Nam suy nghĩ. Trong lúc nhiều nơi coi các quần thể kiến trúc cũ là cái cần phải phá đi để tạo ra bộ mặt mới gọi là phát triển, thì trên thế giới đang có một xu hướng rất rõ ràng được gọi là khảo cổ đô thị, hay khảo cổ công nghiệp, tức là không đào bới đâu xa vào quá khứ, mà lên kế hoạch giữ lại một phần của quá khứ ngay trong chính những gì chúng ta đang có, được xây dựng từ thời hiện đại tức là trong Thế kỷ 20.
            Rất nhiều công trình giá trị đã bị phá nát mà không hề được nghiên cứu khảo sát để ghi lại bất kỳ điều gì từ quá khứ, như khu nhà xưởng Bason ở Sài Gòn, hay nhà máy dệt Nam Định từng là biểu tượng in trên tiền. Ở nước Anh này, tất cả những di tích kiểu như vậy, giống như là khu xưởng dệt hay sản xuất dây thừng giống như nhà xưởng của Engel mà Các Mác từng mô tả trong bộ Tư bản luận của ông, hay các khu cảng và hệ thống kênh đào vận tải, tất cả đều được các tổ chức và nhóm hội của người Anh cố gắng giữ lại một phần bên cạnh những công trình mới, hoặc thay đổi công năng thành phục vụ du lịch để giữ lại toàn phần. Nhìn từ góc độ đó, thì tuyến đường sắt ngầm chở thư tín ở Luân Đôn chính là một trong số những điểm đến quan trọng nhất cho giới lãnh đạo và tri thức trẻ Việt Nam trong chuyến du lịch Anh.”


            100 năm lịch sử không chỉ của nước Anh mà cả thế giới được lưu lại trong một quần thể vô cùng độc đáo này chắc chắn sẽ là điểm đến cho những ai quan tâm đến lịch sử công nghiệp và khảo cổ học đô thị.


MINH ANH & LÊ HẢI
Tháng 10/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171011-tau-buu-dien-ngam-luan-don-duong-sat-anh

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #76 vào: 16/11/2017, 22:45:38 »
Nh. Tay Ngàn, lập lòe trí nhớ

Tôi quen Nh. Tay Ngàn do tình cờ. Nhưng nhờ duyên văn nghệ. Năm đó, 1966, Phạm Công Thiện bỏ học từ Mỹ sang Paris sống lang thang. Tình cờ gặp Thiện chúng tôi làm quen rồi kéo nhau về ở chung nhà. Thiện bỏ tu, để tóc, mặc đồ civil.


TỪ NHỮNG ĐÊM say rượu ở Greenwich Village, Thiện làm một bài thơ hay, mang tên Quế Hương. Trong ấy có câu:

                        Trời mưa Nữu Ước cây mọc
                        Nhớ em trời mưa ngày tháng
                        Nhớ em đường hoang mái vắng
                        Nữu Ước chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Trên bến điện nghiến nát
                        Tim anh tràn máu
                        Con chim đã bay về rừng đạn
                        Em còn hát ca
                        Anh không còn làm tu sĩ
                        Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em…


            Sống với nhau một thời gian, giấc mộng văn chương và triết học bỗng nổi lên đùng đùng, dữ dội như cuộc chiến tranh ngút ngàn và bi thảm trên quê hương. Mọi ngày, sau khi xong việc ở Collège de France, tôi kéo Thiện ra công trường Contrescarpe uống cà phê, uống bia. Khi cơn say vừa ngấm, Thiện nói huyên thuyên về văn học bao la và giấc mộng thiên tài cho đến hai ba giờ sáng. Không vì khuya mà vì cạn túi. Hai đứa bước thấp bước cao trở về phòng trọ ở đường Guy de la Brosse xóm La tinh lục cơm nguội ra ăn.
            Chiến tranh bế tắc. Văn học bế tắc ở Hà Nội. Văn học bế tắc ở Saigon. Tôi rủ Thiện làm tờ báo văn học khác đời chơi, Thiện hăng hái tán đồng. Chúng tôi viết quảng cáo gửi về đăng trên Bách Khoa và Văn. Hai tờ rộng lượng không lấy tiền thuê đăng. Thiện chơi món độc chiêu, móc vào một câu: báo dành cho những cây bút mới, ai đã có danh và nổi tiếng xin miễn gửi bài tới. Đại loại như thế. Chúng tôi cao vọng muốn đặt lại tư tưởng Việt Nam qua tạp chí này. Nhờ Thanh Tuệ lo việc in ấn và phát hành ở Saigon. Tạp chí lấy tên một tập thơ của tôi: Hoa Nắng.
            Rất nhiều bạn đọc trẻ trong nước viết thư hoan nghênh và đóng góp bài vở. Lừng lửng trên chiến tranh, giới trẻ thời bấy giờ xem như một hiện tượng mới mẻ, hấp dẫn, giúp họ thoát ly tiếng đại bác và trái sáng thường đêm. Nội tên kinh đô Ánh sáng đã thu hút biết bao cơn mộng mị, đâu như bây giờ thế giới là khu làng với người Việt. Bài vở chuẩn bị xong, sẵn sàng cho hai số. Nhưng việc không thành, tạp chí chỉ là giấc mộng con.
            Vào lúc chúng tôi đang rồng mình vùng vẫy trong giấc mộng con này, thì Thượng tọa Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh sang Paris dự hội nghị Unesco cùng giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch đến thăm tôi. Thượng tọa mời tôi về giúp Vạn Hạnh. Tôi nhận lời nhưng giới thiệu và đề nghị mời thêm Phạm Công Thiện. Thượng tọa e thẹn ngạc nhiên thốt lên ủa chú Nguyên Tánh đây à! Rồi nhận lời tôi. Hôm ấy Thiện uống rượu say, mặt đỏ lừ.
            Sự đời thường hai với hai thành năm. Một lý do khách quan khiến tôi không về được. Thiện cạo đầu, mặc lại áo tu. Mặt mày nghiêm nghị không cười đùa như trước. Một hôm tôi thấy bài thơ Quế Hương bị xé vứt vào xọt rác. Tôi lượm đọc thấy một chữ sửa trong mấy câu trên:

                        Trời mưa Nữu Ước cây mọc
                        Nhớ em trời mưa ngày tháng
                        Nhớ em đường hoang mái vắng
                        Nữu Ước chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Trên bến điện nghiến nát
                        Tim anh tràn máu
                        Con chim đã bay về rừng đạn
                        Em còn hát ca
                        Anh không còn làm thi sĩ
                        Anh chỉ còn em trong giấc ngủ
                        Anh chỉ còn máu để đổ vào tim em…


            Thiện về mang theo tất cả bản thảo Hoa Nắng để in như dự trù. Nhưng rồi Hoa Nắng đi vào hoàng hôn mộng mị, dù tịch dương vô hạn hảo…


Thủ bút của Nh. Tay Ngàn

CÙNG THỜI GIAN lao xao lá ngô đồng ấy, thư Nh. Tay Ngàn gửi tới mừng vui tin tạp chí ra đời. Nhĩ tự giới thiệu sang Pháp du học ngành họa đồ kỹ nghệ, mong được gặp hai chúng tôi và hứa sẽ làm bất cứ gì nặng nhọc trong tòa soạn để đóng góp. Chúng tôi quen nhau từ đó.
            Nh. Tay Ngàn, tên thật Nguyễn Văn Nhĩ, sinh năm 1943, mất đầu tháng giêng 1978 tại Paris vào năm 35 tuổi. Chiến tranh là tên tử thần theo đuổi Nhĩ từ tấm bé. Nó đưa đẩy thi mệnh Nhĩ vào ngõ cụt. Cụt nhưng không kẹt trên bước đi khai phá của người thơ.
            Hồi còn thiếu niên, cha Nhĩ theo kháng chiến bị Tây bắn vỡ sọ trên đồng. Nhĩ chứng kiến. Nhĩ đưa hai bụm tay bé nhỏ hốt khối não bầy nhầy bỏ vào sọ cha.
            Phải chăng bụm tay ấy, khối não ấy đã đặt để vào đầu Nhĩ thành dấu hỏi lớn không lời đáp xuyên suốt cuộc tử sinh?
            Nhĩ ít nói, ít tâm sự. Đôi mắt nai đăm đăm. Tôi cũng là người ít nói, gặp nhau chúng tôi hỏi thăm qua loa về cuộc sống rồi ngồi trầm ngâm. Nhĩ dõi theo một cõi ngoài chẳng ai vào được. Một thứ săn đuổi nội tâm và độc thoại. Trực giác tôi cảm nhận, điều ấy làm an ủi Nhĩ. Theo niềm tin cậy này Nhĩ càng trầm ngâm yên lặng như cùng tôi song thoại nơi thinh không. Lâu lâu Nhĩ hỏi một vài câu về chuyện viết lách, văn học, các tác giả…
            Có thời Nhĩ theo người bạn gái người Tây Ban Nha sang sống ở Madrid cho đến khi biết mình mắc bệnh lao mới trở về Paris chữa chạy. Rồi Nhĩ quay cuồng theo bệnh tâm thần, người ta đã nhốt Nhĩ vào nhà thương điên Villejuif, vùng phụ cận Paris, với cách đốt điện trên đầu điên cuồng hơn cơn điên. Đây là thời gian địa ngục, mà dấu vết còn lưu trong văn thơ Nhĩ. Ít ai biết.
            Nhĩ làm thơ, viết văn và vẽ tranh. Có một lần triển lãm cá nhân tại phòng tranh Louis Soulanges trên đường Montparnasse.
            Mối tình đầu của Nhĩ là Liên trong Nỗi Liên đen tối vô cùng, mà Nhĩ trở về Saigon thăm lại năm 1973. May mắn cho Nhĩ là Liên vẫn yêu Nhĩ thiết tha, muốn sang Paris sống cùng Nhĩ. Nhưng cuộc sống không tiền bạc, không nghề nghiệp, Nhĩ đành thúc thủ. Nếu không có vài ba người bạn học cùng lứa thương yêu giúp đỡ Nhĩ, có lẽ Nhĩ đã chết sớm hơn.
            Tôi ít thấy ai say sưa viết như Nhĩ. Âm thầm. Cặm cụi. Không nói. Không ba hoa. Những chuyến viễn trình, những cuộc tình vặt, những đêm đốt thuốc bên quầy bar với rượu rhum từng ngụm cay nhè… chỉ để dàn ra từng dòng chữ chăm chỉ trang này sang trang khác. Có hôm tôi nhìn thấy trên 20 tập bloc, dễ cũng trên bốn nghìn trang, chữ nhỏ đều đặn. Từ chữ đầu đến chữ cuối không một lần mất kiên nhẫn, như một vũ trụ kiến kéo nhau đi thành hàng dọc. Khi thơ khi văn. Trong văn học Việt Nam có hai người không viết văn, viết thơ thành bài, mà dàn trải tới vô tận dòng thơ văn không có dấu chấm. Đó là Bùi Giáng và Nh. Tay Ngàn. Văn và ý tưởng, thơ và ý tưởng trộn nhau như chớp với đá kết ngọc. Hết õng ẻo với quá khứ, không thời trang thế cuộc, không nép mình vào ca dao hay bốc khói trên chợ trời văn học. Đọc Nhĩ phải có mắt xanh với tấm lòng rớm máu thì mới cùng Nhĩ song thoại trong “thế giới vốn nhỏ và hạt bụi muốn đau”, khi nhà văn Việt Nam “thấy ngu trước nhà văn quốc tế”.
            Nhĩ không thích văn thơ Saigon thời ấy, Nhĩ nói: “Có thể vốn sống trong thời loạn ly của họ bị nghẹt nên sanh ra nhiều tánh ganh tị trách móc hoặc ghen ghét nhỏ nhoi, bởi đó mức văn hóa trì trệ rồi rút lì vào ảo tưởng bất nhất kia” (thư viết ngày 17. 12. 76). Nhĩ không ưa văn thơ tiền chiến và Tự lực Văn đoàn, vì cho rằng: “Giá trị họ ở trong tầng lớp sinh viên học sinh còn trẻ, thiếu sáng tác chứ không thể là giá trị vĩnh cửu cho chúng ta nữa, đành rằng mọi tư thế phê bình luôn toa rập với số đông. Ngay cả tôi hồi nhỏ cũng chẳng bao giờ ưa “tự lực văn đoàn”, tới nay chuyện xưa rồi, nhắc lại để tự mình thấy điểm nào đó không hay ho nữa” (thư viết ngày 17. 12. 76).
            Thoạt đầu Nhĩ thích nhóm Sáng Tạo, có lẽ vì chiều hướng đập phá cổ lệ văn chương. Nhưng không hiểu vì sao sau chuyến đi Saigon về, Nhĩ bất bình với Mai Thảo và một thiên tài khác mà Nhĩ ôm ấp trước kia.
            Tôi cũng vì một thất vọng lớn trong đời, năm 1970 bỏ đi làm nhà in nuôi thân với tham vọng làm văn hóa qua nhà in. Những giấc mộng bạch diện thư sinh chỉ đem lại phương trình hai với hai thành năm. Không thành bốn. Bất ngờ tôi trở thành thợ in vì một sự phản bội. Chạy máy mỗi ngày 18 giờ để trả nợ. Cho tới năm 1975 nhà in bắt đầu mở mặt, thì chiến tranh chấm dứt. Nhưng hai với hai vẫn thành năm. Hai chữ nhân quyền bắt đầu nhỏ máu. Tôi sực nhớ năm 13 tuổi đọc hai bản kinh Kim Cang và Địa Tạng trong nhà lao. Thân phận tù nhân lúc nhúc, mồ hôi nhễ nhãi trộn lẫn mùi nhị thiên đường, dầu cù là, sau những lần tra tấn. Ngột ngạt. Tồi tàn. Hôi hám. Bốn người quần thảo bốn người, bất kể con nít, phụ nữ, thanh niên, cụ già… Ông chủ sự phòng tra ngồi sau chiếc bàn điều khiển. Ông bắt một người từ văn nghệ ngồi hát những bài ca kháng chiến cho ông nghe giữa tiếng la gào thảm thiết. Lúc ấy tôi có lời nguyện cứu thoát tù nhân nếu còn được sống sót.


Nh. Tay Ngàn, năm 1968

            Cuối năm 75, tôi cùng một số anh chị em văn nghệ ở Paris họp nhau ra tạp chí Quê Mẹ với ngưỡng vọng bảo tồn và phát huy văn hóa Việt. Qua 1976, Nhĩ đến thăm tôi và phụ tôi việc bếp núc tòa soạn một thời gian. Bao nhiêu năm, Nhĩ vẫn như thế, chừng ấy áo quần đơn giản, chừng ấy trầm ngâm trên đôi mắt buồn, ít nói, không than van chuyện mình. Nhưng tôi biết Nhĩ rất túng thiếu.
            Tôi hứa sẽ tìm phương tiện in thơ văn Nhĩ là điều Nhĩ cưu mang bao nhiêu năm dài. Chuyến đi Saigon năm 1973 là mong ước tột đỉnh cho một tập thơ ra đời. Hẳn nhiên chuyện ấy chẳng xẩy ra. Tạp chí Quê Mẹ kéo theo bao hoạt động dồn tới bất ngờ ăn hết lợi tức của nhà in. Vì vậy, đến năm 1982, nhà in vỡ nợ, bị tịch thu đem bán phát mại.
            Những khó khăn ấy làm cho tôi thành tên thất hứa. Tôi không in được tập thơ văn nào cho Nh. Tay Ngàn. Bài viết hôm nay là một lời tạ lỗi với Nh. Tay Ngàn trên cao xanh kia.
            Đầu tháng Giêng 1978, các bạn của Nhĩ gọi dây nói cho biết Nhĩ chết rồi. Một hôm, bà gác dan (concierge) thấy mấy ngày qua Nhĩ không ghé lấy thư. Bà lên đập cửa phòng. Không nghe hồi đáp, bà lo lắng mở cửa xem thì Nhĩ đã nằm chết trên giường nhiều ngày. Lâu quá tôi quên, nhưng có thể là ở địa chỉ 16, rue Jean Ferrandi – Paris quận 6.
            Các bạn hùn nhau làm đám. Thi hài đốt ở nghĩa địa Père-Lachaise, Paris quận 20. Dự tính sau này sẽ gửi tro về Việt Nam. Dường như Nhĩ có một người anh sống ở Saigon. Nghĩa địa Père-Lachaise còn lưu giữ những mộ chí của Gerard de Nerval, Chopin, Balzac, Alfred de Musset, Proust, Apollinaire, Pissaro, Oscar Wilde…
            Thời ấy, tôi viết mấy câu tiễn Nhĩ:

                                    VIẾNG NHĨ
                        Tay Ngàn
                        khua nhịp về đâu
                        Rừng thiêng vỡ một
                        ngấn sầu
                        rụng
                        hai
                        Nay theo bước nhỏ còn ai
                        Ta hơ tro cũ
                        tay dài dìu em.


            Nh. Tay Ngàn là một Van Gogh trong văn chương Việt Nam.


Paris, 8. 5. 2006
THI VŨ


http://www.gio-o.com/ThiVu/ThiVuNhTayNgan.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #77 vào: 21/11/2017, 15:57:32 »
70 ngày cuối đời của Van Gogh ở Auvers-sur-Oise, Pháp

Quãng đời 37 năm ngắn ngủi của Vincent Willem Van Gogh (1853-1890) có thể được miêu tả trong ba từ: nghèo khó, thất bại và tuyệt vọng. Khi còn sống, họa sĩ tài hoa không bán được một bức tranh nào. Chỉ vài ngày sau khi tác phẩm đầu tiên có người mua, Vincent Van Gogh qua đời.

“Phố ở Auvers-sur-Oise”, một tác phẩm của Van Gogh

NGAY TỪ NHỎ, Vincent là một đứa trẻ thất thường, có khiếu ngoại ngữ (nói được ba thứ tiếng Hà Lan, Anh, Pháp) và vô cùng mê hội họa. Đây là cách duy nhất giúp họa sĩ kìm hãm những xáo động trong lòng. Xuất thân trong một gia đình mục sư, Vincent Van Gogh ra đời cùng ngày và mang cùng tên người anh trai chết yểu ngay khi chào đời một năm trước.
            Năm 16 tuổi, Vincent Van Gogh học nghề bán tranh cho chi nhánh Galerie nghệ thuật Goupil tại La Haye nhờ giới thiệu của một người chú, đồng thời là nhà đồng sáng lập chi nhánh của Galerie này tại Paris. Năm 1873, ông được cử sang làm việc tại Luân Đôn. Tại đây, chàng thanh niên thương thầm nhớ trộm cô con gái bà chủ nhà trọ, Ursula Loyer, song không được đáp lại.
            Thất tình, Vincent chìm trong u uất, tỏ ra bí ẩn và chỉ thổ lộ trong những bức thư gửi về cho người em trai kém họa sĩ bốn tuổi, Theodorus (1857-1891). Théo, tên gọi thân mật của Theodorus, còn là người bạn tâm giao, người thường xuyên hỗ trợ họa sĩ cả về tinh thần lẫn vật chất trong suốt quãng đời ngắn ngủi.
            Van Gogh chạy trốn thực tế phũ phàng trong một thời gian ngắn tại Paris trước khi quay lại Luân Đôn và dạy học ở khu phố lao động Isleworth. Thất bại đầu tiên đã khiến Van Gogh không còn tập trung vào công việc và ngày càng đi theo đức tin. Bị các ông chủ khiển trách, Vincent xin nghỉ việc vào tháng 04/1876 sau 7 năm làm nghề bán tranh. Van Gogh truyền đạo cho những người thợ mỏ ở Borinage (Bỉ). Thế nhưng, mong muốn này của Van Gogh lại bị giáo hội phản đối nên buộc phải ngừng việc truyền đạo chỉ một năm sau (1879).
            Thêm một thất bại, Van Gogh lang thang cô độc, mất phương hướng cho đến khi hội họa thôi thúc nghệ sĩ từ bỏ việc truyền đức tin. Từ tháng 11/1879 đến tháng 02/1886 là quãng thời gian để Vincent Van Gogh tập trung vào con đường nghệ thuật mà nghệ sĩ đam mê từ nhỏ, từ tự học đến học chung với những người bạn họa sĩ hay học chính quy tại Viện Hàn Lâm Nghệ Thuật Hoàng Gia ở Anvers. Cũng vì tính cách đặc biệt, Van Gogh bỏ Viện Hàn Lâm sau hai tháng theo học vì chương trình quá gò bó với ông.


Van Gogh, chân dung tự họa sau khi tự cắt tai

Phiêu lưu trong nắng vàng miền nam nước Pháp
            Sau khi cha mất, tháng 02/1886, Vincent quyết định rời Bỉ đến Paris nơi người em trai Théo sinh sống. Tại đây, họa sĩ Hà Lan thường xuyên liên lạc với các họa sĩ trường phái Ấn tượng Pháp (Camille Pissaro, Paul Gauguin, Paul Signac). Ngoài ra, Emile Bernard và Henri de Toulouse-Lautrec cũng là những họa sĩ có ảnh hưởng sâu sắc đến tác phẩm của Van Gogh. Cả ba cùng tổ chức một triển lãm chung vào năm 1887, nhưng không ai bán được bức tranh nào. Họ hiểu rằng cơ hội chưa mỉm cười với họ.
            Năm 1888, Vincent Van Gogh chuyển xuống thành phố Arles để vẽ những cánh đồng bát ngát chìm trong nắng vàng rực rỡ, đặc trưng của miền nam nước Pháp: Cây cầu Langlois, các bức họa Hoa hướng dương (Tournesols) và Le Jardin du Poète, khu vườn trên quảng trường Lamartine. Sống một mình trong cộng đồng người dân Arles luôn nghi ngờ người đàn ông ngoại quốc kỳ cục này, Van Gogh dần trở nên trầm cảm. Họa sĩ người Hà Lan quyết định mời Gauguin xuống Arles chơi và cùng làm việc. Gauguin đến ngày 23/10/1888. Nhưng chỉ hai tháng sau, tối ngày 23/12, giữa hai người xảy ra một cuộc tranh cãi căng thẳng do bất đồng về tính cách và cách nhìn nhận về nghệ thuật. Giận giữ và bột phát, Van Gogh tự tay cắt tai phải của mình. Hai bức tự họa là bằng chứng cho hành động này.
            Được đưa vào bệnh viện, bác sĩ điều trị Félix Rey chuẩn đoán Vincent làm việc quá sức và bị động kinh. Cú sốc, hay lại thêm một thất bại, đã khiến Van Gogh rơi vào tình trạng ảo tưởng. Ông được điều trị nội trú tại Saint-Rémy-de-Provence nhưng vẫn được phép đi vẽ vào ban ngày. Thế nhưng, trước sức ép của người dân địa phương, Vincent bị chuyển sang nhà thương tư nhân Saint-Paul-de-Mausole và bị “giam lỏng” cùng với những bệnh nhân tâm thần thật. Ông hiểu rằng mình sẽ phát điên thật sự nếu còn ở lại miền nam nước Pháp.


Nhà trọ Ravoux, nơi ở cuối cùng của Van Gogh

Auvers-sur-Oise, nơi chấm dứt chuỗi đau khổ
            Ngày 20/05/1890, Van Gogh chuyển đến đến ngôi làng Auvers-sur-Oise ở ngoại ô Paris và được bác sĩ Paul-Ferdinant Gachet chăm sóc, theo lời khuyên của họa sĩ Pissaro với người em trai Théo. Nhà trọ Auberge Ravoux, với giá thuê bèo bọt 3 franc 50 mỗi ngày, là nơi ở cuối cùng của họa sĩ.
            Chị Marion André, hướng dẫn viên tại di tích Auberge Ravoux, kể lại những ngày cuối đời của Van Gogh:

             “Van Gogh trọ ở phòng trọ số 5, dưới mái nhà của Nhà trọ Ravoux. Vì mê tín nên căn phòng trở thành “phòng của người tự tử” và chưa bao giờ được cho thuê lại. Trong căn phòng chưa đầy 7m2, không còn gì để xem nhưng mọi người đều có thể cảm nhận được.
            Tổng cộng thời gian Van Gogh lưu lại Auvers là 70 ngày. Họa sĩ chọn quán trọ Auvers vì có hàng cà phê nổi tiếng với giá bình dân và hơn nữa, ông chỉ cần một phòng để ngủ qua đêm. Chính vì vậy, căn phòng 7m2 là đủ cho cách sống của Van Gogh. Vì ông là một người thích làm việc, rất chăm chỉ và vẽ ngoài trời từ 10 đến 12 giờ mỗi ngày. Chính vì vậy, họa sĩ người Hà Lan ở rất ít trong căn phòng nhỏ này.
            Căn phòng trọ này là nơi ở thứ 38 của họa sĩ trong vòng 37 năm. Van Gogh đi hết từ nhà trọ này sang nhà trọ khác, từ nước này sang nước khác. Ông nói thành thạo tiếng Anh và tiếng Pháp. Vì vậy, các nước Hà Lan, Anh, Pháp, Bỉ, Van Gogh đều đã đi qua và chưa một nước nào Van Gogh dừng chân lâu cả”
.


Mộ của Vincent Van Gogh và em trai Théo tại Auvers-sur-Oise

            Thực ra, nhà trọ Ravoux ở Auvers-sur-Oise cũng chỉ là một trạm dừng chân tạm thời để chữa bệnh. Nhưng trong suốt thế kỷ thứ XIX, Auvers-sur-Oise đã nổi tiếng trong giới họa sĩ là một vùng nông thôn đẹp như tranh, thơ mộng, êm đềm và chỉ cách Paris hơn một giờ đi xe lửa. Đã có nhiều họa sĩ nổi tiếng sống tại đây như Daubigny cùng với bạn bè như Corot, Daumier. Sau đó là Cézanne, Pissaro là những họa sĩ theo trường phái trừu tượng.

            “Đúng là chỉ sống tại Auvers-sur-Oise có 70 ngày, nhưng Van Gogh đã vẽ 80 bức tranh và khoảng 100 bức vẽ. Đây là một khối lượng tác phẩm rất quan trọng và đáng nể phục trong một khoảng thời gian ngắn như vậy.
            Cứ đến ngày chủ nhật, Van Gogh tới nhà bác sĩ Gachet ăn cơm. Họa sĩ vẽ khu vườn nhà bác sĩ, vẽ chân dung Maguerite, con gái của bác sĩ. Gia đình chủ nhà trọ Ravoux trở thành những người bạn thân thiết của họa sĩ và ông vẽ hai bức tranh cô con gái chủ nhà trọ.
            Van Gogh qua đời trong căn phòng của mình lúc 1 giờ 30 ngày 29/07/1890 khi mới 37 tuổi. Cho đến giờ, người ta vẫn không biết chính xác chuyện gì đã xảy ra. Chỉ biết là Van Gogh về nhà với một vết thương do đạn bắn trúng ngày 27/07. Họa sĩ trình báo với cảnh sát là ông vô tình bắn vào mình. Cuối cùng, ông đã không qua khỏi. Đám tang không được tổ chức theo nghi lễ tôn giáo. Chỉ có lễ truy điệu được tiến hành ngay tại nhà trọ sau đó linh cữu được quàn tại nghĩa trang địa phương”
.

            Théo để lại cho gia đình Ravoux các bức tranh của Van Gogh vẽ trong thời gian trọ ở đây, trong đó có hai bức chân dung cô con gái, và một số khác cho bác sĩ Gachet, để cảm ơn họ. Vài năm sau, gia đình Ravoux bán lại một số bức tranh của Van Gogh trong “Ngày dọn kho” (vide-grenier) chỉ với giá vài xu cho các họa sĩ Mỹ.
            Trước khi rời miền nam Pháp, Van Gogh cũng tặng tranh chân dung vị bác sĩ đã điều trị ông. Sau này, người ta tìm thấy một bức tranh được dùng để bịt chuồng gà nhà bác sĩ, trong tình trạng gần như bị hỏng hoàn toàn, nhưng may mắn là đã được khôi phục. Trong suốt 37 năm, Van Gogh gần như là một họa sĩ vô danh, từng kí tên trên hơn 800 tác phẩm nhưng chỉ bán được một bức tranh duy nhất, “Vườn nho đỏ” (La Vigne Rouge), tại Bruxelles vào năm 1890.
            Sáu tháng sau ngày Vincent mất, người em trai Théo, vì bị tổn thương và bệnh nặng, cũng qua đời tại Hà Lan. Năm 1914, Johanna, vợ của Théo, đã mang hài cốt của chồng đến an táng bên cạnh mộ Vincent ở Auvers-sur-Oise.


Bức tranh “Sunset at Montmajour” do Van Gogh vẽ vào khoảng 1890

Trả lại giá trị cho một bức tranh Van Gogh bị bỏ quên
            Đầu tuần này, Viện bảo tàng Van Gogh – Amsterdam đã chính thức cho trưng bày một bức tranh bị bỏ quên của danh họa bậc thầy người Hà Lan. Tuyệt tác nghệ thuật này đã nhiều năm bị xếp trong gác xép của một nhà sưu tập vì ông nghĩ đó là tranh nhái.
            Bức tranh sơn dầu vẽ năm 1888 có tiêu đề “Hoàng hôn ở Montmajour” lần đầu tiên được Viện bảo tàng Van Gogh đưa ra trưng bày trước sự thán phục của công chúng.
            Bức tranh mô tả khung cảnh những cây sồi trong thành phố Arles, miền nam nước Pháp. Giám đốc Viện bảo tàng, ông Axel Rueger cho biết phát hiện này là “một sự kiện độc nhất trong lịch sử của Viện bảo tàng Van Gogh”.
            Được một nhà sưu tập tranh mua từ năm 1908, từ nhiều năm nay tuyệt tác nghệ thuật này phải nằm phủ bụi trên gác xép. Chủ nhân của nó nghĩ rằng đây chỉ là một bức tranh nhái tầm thường.
            Các nhà khoa học và các chuyên gia về tranh Van Gogh đã xác nhận độ thực của bức tranh bằng cách so sánh kỹ thuật vẽ quen thuộc của Van Gogh, đồng thời dựa trên bức thư đề ngày 04/07/1888 trong đó Van Gogh mô tả bức tranh của mình. Ông Rueger khẳng định tất cả đều chỉ cho thấy bức vẽ này thực sự do Van Gogh thực hiện.
            Nhà nghiên cứu Louis van Tilborg, người hỗ trợ kỹ thuật để xác thực tuyệt tác bị bỏ quên thì nhận xét: “một phát hiện như chỉ xảy ra một lần trong đời”.
            Viện bảo tàng từ chối tiết lộ danh tính của chủ nhân hạnh phúc của tuyệt tác, nhà sưu tập đã nghi oan cho tác phẩm của nhà danh họa kỳ tài.
            Bảo tàng Van Gogh tại Amsterdam là nơi tập trung nhiều tác phẩm nhất của danh họa Van Gogh, mỗi năm nơi đây đón khoảng nửa triệu người yêu hội họa đến thưởng thức gần 140 bức vẽ của họa sĩ thiên tài người Hà Lan được trưng bày tại đây.
            Bức tranh “Hoàng hôn ở MontmaJour” sẽ được trưng bày tại Viện bảo tàng Van Gogh cho công chúng thưởng thức từ ngày 24/09/2013 và kéo dài trong một năm.


THU HẰNG
Tháng 7/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160624-70-ngay-cuoi-doi-cua-van-gogh-o-auvers-sur-oise-phap

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #78 vào: 23/11/2017, 20:15:15 »
Những năm tháng lưu đày của vua Hàm Nghi ở Alger

Lên ngôi năm 13 tuổi, tại vị trong vòng một năm (07/1884-07/1885), nhà vua trẻ Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch) (1871-1944) trở thành biểu tượng chống Pháp của phong trào Cần Vương trong suốt bốn năm. Tháng 11/1888, chính phủ Pháp đưa vua Hàm Nghi sang lưu đày tại Alger cho tới cuối đời. Sử sách đề cập tới nhiều phong trào Cần Vương, thế nhưng quãng thời gian sống tại Alger của vua Hàm Nghi vẫn là một khoảng trống và thu hút sự quan tâm của mọi người.

Chân dung vua Hàm Nghi những năm tháng cuối cuộc đời lưu đày.
(Ảnh tư liệu gia đình)

RFI đã may mắn gặp được cô Amandine Dabat, cháu năm đời của vua Hàm Nghi. Hiện chị đang làm luận văn tiến sĩ về cuộc đời và sự nghiệp của vua Hàm Nghi tại đại học Sorbonne-Paris 4. Chị cho biết, bên cạnh một ông vua An Nam bị lưu đày biệt xứ, Hàm Nghi còn là một nghệ sĩ đa tài, một họa sĩ.

Hoàn cảnh lưu đày
            Vua Hàm Nghi tới Alger vào tháng 1 năm 1889. Chính phủ Pháp bắt ngài vào tháng 11 năm 1888 để chấm dứt phong trào Cần Vương của người Việt và họ quyết định đày ngài sang Alger, cùng với một phiên dịch, một người hầu và một đầu bếp.

Amandine Dabat: “Khi tới Alger, họ được đại úy Henri de Vialar, lúc đó là sĩ quan tùy tùng của Tirman, Toàn quyền Algérie, tiếp đón. Và chính sĩ quan Vialar chịu trách nhiệm tìm nhà cho vua Hàm Nghi. Ngôi nhà có tên là “Biệt thự cây thông” (Villa des Pins), ở El Biar, trên một ngọn đồi thượng Alger. Bắt đầu từ lúc này, vua Hàm Nghi bị truất ngôi, chỉ được coi như hoàng tử và người ta thường gọi là “Hoàng tử An Nam”. Đây cũng chính là tên thông thường của vua trong suốt cuộc đời lưu vong tại Alger. Những năm đầu tiên, ngài sống trong ngôi nhà mà người Pháp thuê cho. Chỉ từ năm 1906 trở đi, sau khi kết hôn với một phụ nữ Pháp vào năm 1904, họ mới xây một ngôi nhà mới, có tên là “Biệt thự Gia Long”, do Guiauchain, một kiến trúc sư người Pháp tại Alger thiết kế. Và vua sống trọn đời tại đây cùng với gia đình”.

            Cụm từ “sống lưu đày” (vie d’exil) khiến nhiều người hình dung một cuộc sống vất vả và khó khăn. Liệu cuộc sống lưu đày của nhà vua có nặng nề như ý nghĩa của cụm từ đó? Amandine Dabat giải thích:

            “Cuộc sống lưu đày của nhà vua chắc chắn là nặng nề, hay khó khăn theo nghĩa xa cách quê hương. Đó chính là nỗi khổ tinh thần đối với gia đình. Nhưng thực ra, cuộc sống lưu đày của ngài khá thoải mái. Vì mục đích của chính phủ Pháp khi đưa vua Hàm Nghi đến Alger, trước hết là để biến ngài thành một người thân Pháp, vì thế, phải khiến ngài yêu nước Pháp. Quả thực, ngay khi bị lưu đày tại Alger, vua Hàm Nghi vẫn là một hoàng tử kế nghiệp và vẫn có thể kế ngôi vua Đồng Khánh. Chính vì vậy, từ thời điểm đó, ngài phải được đối đãi tử tế, phải học tiếng Pháp và hưởng phong cách Pháp. Từ đó để vua Hàm Nghi phải yêu nước Pháp. Vậy nên, dù vua Hàm Nghi buộc phải ở lại Alger, ngài vẫn được sống trong một ngôi nhà tiện nghi. Ngài có thể đánh quần vợt, đi xem hát, đi săn. Ngài có bạn bè và bắt đầu học vẽ. Tất cả các hoạt động này đều được chính phủ Pháp cho phép. Phải để cho vua Hàm Nghi cảm thấy thoải mái tại Alger, vì trong trường hợp ngài được đưa về Việt Nam và lên ngôi vua, cần phải để cho ngài có thiện cảm với nước Pháp”.

            Sau khi vua Hàm Nghi thoát ly triều đình, đứng đầu phong trào Cần Vương, chính phủ thuộc địa Pháp đưa vua Đồng Khánh (Nguyễn Phúc Ưng Kỷ) lên ngôi. Thế nên, dù sống lưu đày tại Alger, vua Hàm Nghi vẫn có khả năng nối ngôi, trong trường hợp vua Đồng Khánh băng hà.

Amandine Dabat: “Chính phủ Pháp tự hỏi là có nên đưa vua Hàm Nghi về kế vị vua Đồng Khánh hay không. Đây là những thông tin được lưu lại trong nhiều tài liệu lưu trữ thuộc địa. Nhưng cuối cùng, họ cho rằng việc này quá mạo hiểm. Vì vua Hàm Nghi còn có quá nhiều người ủng hộ tại Việt Nam và chính phủ Pháp e ngại rằng nhà vua sẽ lại đứng đầu phong trào kháng chiến chống Pháp. Chính vì vậy mà vua Hàm Nghi phải ở lại Algérie. Tôi không biết chính xác tới ngày nào, chính phủ Pháp vẫn coi ngài là quân cờ trong thế trận Đông Dương, hay là một hoàng tử kế vị. Tôi cũng không biết tới tận ngày nào, vua Hàm Nghi vẫn không được phép quay lại Đông Dương”.

Cuộc sống dưới vòng giám sát
            Dù có một cuộc sống khá thoải mái về vật chất và được phép tham gia một số hoạt động thể thao và nghệ thuật, nhưng vua Hàm Nghi suốt đời bị theo dõi, thậm chí các cuộc thăm viếng cũng bị kiểm soát. Ví dụ, ngài phải xin phép chính phủ Pháp để rời Alger du lịch trong nước Algérie, hay đi sang Pháp đại lục. Và khi ngài tới Pháp, ngài cũng liên tục bị theo dõi. Mọi thư từ trao đổi của ngài đều bị chính phủ Pháp chặn lại. Người ta chỉ đưa cho ngài những bức thư từ Algérie hay Pháp đại lục. Ngài không thể nào nhận được thư từ Đông Dương.

Amandine Dabat: “Biện pháp theo dõi này là do chính phủ Pháp đại lục áp đặt dưới sức ép của chính phủ Pháp tại Đông Dương. Thực vậy, chính phủ Pháp tại Đông Dương luôn giữ hình ảnh của vua Hàm Nghi như một người chống đối nguy hiểm. Họ cũng sợ rằng Hàm Nghi vẫn giữ liên hệ với phong trào Việt Nam chống chế độ thuộc địa. Chính chính phủ Đông Dương đã buộc chính phủ Pháp đại lục theo dõi vua Hàm Nghi. Nhưng chính phủ Pháp tại Algérie nhanh chóng hiểu rằng vua Hàm Nghi tại Alger không còn nguy hiểm và không thể liên lạc với Đông Dương và ngài cũng không còn là một mối đe dọa lớn. Chính vì thế, chính phủ Pháp tại Algérie giảm bớt việc theo dõi. Điều này cũng thể hiện rằng ngay trong nội bộ chính phủ Pháp vẫn có bất đồng quan điểm. Chính phủ Pháp tại Algérie cố bảo vệ vua Hàm Nghi và nới lỏng việc theo dõi. Trong khi đó, chính phủ Pháp đại lục và Đông Dương thì lại muốn việc theo dõi nghiêm ngặt hơn”.

            Với những biện pháp theo dõi chặt chẽ như vậy, liệu vua Hàm Nghi có tiếp cận được những thông tin về tình hình phong trào khởi nghĩa chống Pháp hay, sau này, là cuộc chiến tranh Đông Dương? Amandine Dabat cho biết chi tiết:

            “Chúng ta không biết được chính xác làm thế nào vua Hàm Nghi có được thông tin về những gì đang diễn ra tại Đông Dương. Vì về mặt chính thức, nhà vua không nhận được thư từ Đông Dương. Nhưng trên thực tế, Hàm Nghi có rất nhiều bạn, chủ yếu là những người bạn Pháp, sĩ quan hay nhà truyền giáo. Những người này thường đi lại giữa Algérie, Pháp đại lục và Đông Dương. Họ cung cấp cho ngài các tin tức về Đông Dương, nhưng đó chỉ là tin truyền miệng.
            Trong một vài bức thư, đôi khi có vài thông tin về những sự kiện đang diễn ra tại triều đình Huế. Nhưng chúng tôi không có một chút dấu tích gì về phản ứng của nhà vua. Điều duy nhất mà tôi biết là ngài luôn từ chối nói về chính trị, hay trong mọi trường hợp, viết về vấn đề chính trị. Vì ngài biết rằng nếu chẳng may chính phủ Pháp đọc được thư, ngài sẽ bị theo dõi chặt chẽ hơn và thậm chí có thể bị giam hãm. Vì thế, trong mọi thư từ, ngài từ chối nói chuyện chính trị. Nhưng thái độ của ngài tại Alger cũng chứng minh rằng ngài chưa bao giờ thật sự quan tâm tới chính trị, ngay cả tình hình chính trị Pháp thời bấy giờ. Khi ngài bình phẩm chính trị tại Pháp đại lục, luôn dưới góc độ hài hước và không có chút bận tâm thật sự nào.
            Tôi nghĩ rằng bắt đầu từ lúc đi đày, ngài đã hiểu ra rằng nếu muốn sống một cuộc sống an bình, thì cần phải thể hiện rõ mình không còn là một nhà chính trị, không còn là một mối nguy hiểm cho chính phủ Pháp. Đó là những gì mà các văn bản, những bằng chứng viết, cho thấy rõ. Còn chúng ta không biết được là chuyện gì xảy ra qua lời nói. Những gì mà vua Hàm Nghi viết không thể hiện điều ngài nghĩ. Chính vì thế, chúng ta không biết được tận sâu đáy lòng, ngài nghĩ gì. Chúng ta chỉ biết được qua những gì ngài viết về bối cảnh lúc đó
”.

Giữ liên lạc với Việt Nam
            Nhiều thông tin cho rằng vua Hàm Nghi từ chối học tiếng Pháp khi đặt chân tới Alger. Phải chăng đó là ngôn ngữ của kẻ xâm lược? Hay là sự từ chối hợp tác với kẻ thù? Sau này, khi lập gia đình, các con của vua Hàm Nghi lại không nói tiếng Việt. Hoàn cảnh nào đã dẫn tới việc quyết định chỉ cho các con học tiếng Pháp? Đó có phải là ý định đoạn tuyệt với Việt Nam? Amandine Dabat tiếp tục giải thích:

            “Vua Hàm Nghi bắt đầu cuộc sống đi đày vào tháng 01/1889 và trong những tháng đầu tiên, ngài từ chối học tiếng Pháp. Nhưng chỉ trong vài tháng. Bắt đầu từ tháng 7, có nghĩa là sáu tháng sau, ngài đã chấp nhận học tiếng Pháp và đã yêu cầu chính phủ Pháp cho mình một giáo viên tiếng Pháp. Tôi cho là nhà vua hiểu ra rằng phiên dịch của ngài sẽ không vĩnh viễn ở lại Alger. Nếu muốn giao tiếp, không chỉ giao tiếp với chính phủ Pháp, mà còn diễn giải cho chính phủ Pháp những nhu cầu của mình, hay những điều mà ngài không đồng tình, thì Hàm Nghi cần phải tự lập về ngôn ngữ. Vì thế, trên thực tế, Hàm Nghi nhanh chóng chấp nhận học tiếng Pháp.
            Chưa bao giờ vua Hàm Nghi từ chối cho các con mình học tiếng Việt. Ngài kết hôn với một phụ nữ Pháp vào năm 1904, trước khi Nhà thờ và Nhà nước tách rời nhau tại Pháp. Và trong bối cảnh xã hội thực dân tại thời điểm đó ở Algérie, con cái của ngài buộc phải được dạy dỗ như những người Pháp nếu muốn hòa nhập được vào xã hội. Và chính người vợ của vua Hàm Nghi nài nỉ để con cái của họ nói tiếng Pháp. Có lẽ vua Hàm Nghi cũng rất muốn dạy con học tiếng Việt, nhưng ngài không thể làm được. Một phần vì vợ ngài muốn dạy con tiếng Pháp, nhưng một phần cũng do những sức ép của xã hội trong giai đoạn đó. Trong bối cảnh thuộc địa tại Alger khá khép kín, con cái của họ cần phải được coi như những người Pháp.
            Tôi không nghĩ là vua Hàm Nghi có chủ ý cắt đứt quan hệ với Việt Nam, chỉ vì ngài không có lựa chọn. Chính chính phủ Pháp đã quyết định thay ngài. Chính họ là người ra sức cản trở ngài liên lạc với Đông Dương. Vua Hàm Nghi cũng đã gặp gỡ được một số người Việt tại Alger, đa số là học sinh trường trung học Alger. Một số học sinh này, khi quay về Đông Dương, vẫn giữ liên lạc với vua Hàm Nghi. Họ liên lạc đường vòng, bằng cách gửi thư qua người khác để vua có thể nhận được. Vì vậy, chưa bao giờ vua Hàm Nghi có ý định cắt đứt liên lạc với Việt Nam. Mà trái lại, ngài không ngừng tìm cách để giữ liên lạc với quê hương, với gia đình và bạn bè. Chỉ có điều ngài phải qua đường vòng, vì chính phủ Pháp tìm mọi cách để ngăn cản
”.

            Hậu duệ vua Hàm Nghi không muốn đưa di hài vua về an táng tại Huế. Hiện nay, ngài vẫn an nghỉ tại làng Thonac, vùng Dordogne (Pháp), nơi công chúa Như Mai, trưởng nữ của vua Hàm Nghi sinh sống. Đây là khu mộ gia đình, nơi các con của vua Hàm Nghi quyết định an táng cha mẹ mình, và sau này là công chúa Như Mai. Amandine Dabat cho biết, lý do chính là, với thế hệ ông bà của chị, vua Hàm Nghi là ông của họ. Điều quan trọng với họ là có thể đến viếng mộ tổ tiên. Ngoài ra, tuổi tác cao cũng sẽ không cho phép con cháu tới viếng mộ vua tại Việt Nam. Chính vì thế, thế hệ con cháu hiện nay vẫn tôn trọng nguyện vọng của thế hệ ông bà.
            Các thành viên hậu duệ gia đình vua Hàm Nghi đã từng tới du lịch Việt Nam với mong muốn khám phá quê hương tổ tiên mình. Đây là mối liên hệ duy nhất mà gia đình còn giữ lại với Việt Nam. Bản thân Amandine Dabat là người sống tại Việt Nam lâu nhất, khoảng 18 tháng, từ năm 2011 tới nay, để phục vụ luận văn nghiên cứu của chị.


THU HẰNG
Tháng 12/2014


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20141231-nhung-nam-thang-luu-day-cua-vua-ham-nghi-o-alger

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #79 vào: 28/11/2017, 15:14:14 »
Hà Lan lập “nhà thổ” tự quản để chống nạn buôn người

Vào trung tuần tháng 05/2017, một nhà thổ mới, bao gồm 14 chiếc “tủ kính”, ở đó những người hành nghề mãi dâm được phô bày những đường cong thân thể hấp dẫn, đã được khánh thành tại phố đèn đỏ Amsterdam. Dự án do tòa đô chính hỗ trợ, được mở ra nhằm chuyên nghiệp hóa ngành nghề và tạo điều kiện tốt nhất cho những người hành nghề. Nhưng đây cũng là cách để chống lại nạn buôn người.

Một góc phố Đèn Đỏ tại Amsterdam, Hà Lan

“NHÀ THỔ” tự quản, tức là do chính những người hành nghề tự điều hành, nằm trong phố đèn đỏ nổi tiếng De Wallen, được thành lập theo sáng kiến của Quỹ “My Red Light”, một hiệp hội thu hút đông đảo nhiều phụ nữ hành nghề mãi dâm tham gia. Theo ước tính, có khoảng 40 phụ nữ làm việc tại cơ sở kinh doanh mới này.
            Để biết thêm về cách thức hoạt động cũng như lợi ích của việc thành lập “nhà thổ” tự quản dưới sự hỗ trợ của chính quyền địa phương, ban Việt ngữ đài RFI có dịp trao đổi với anh Nguyễn Thanh Hùng, công dân Việt Nam sống lâu năm tại Hà Lan.

RFI: Trước hết, anh có thể giới thiệu sơ qua về khu phố đèn đỏ tại Amsterdam?
Nguyễn Thanh Hùng: Đây là một khu phố khá nổi tiếng ở thành phố Amsterdam, Hà Lan. Đây cũng là nơi mà các cô gái mãi dâm được phép hành nghề một cách hợp pháp và tự do.
            Cách hành nghề của các cô gái ở đây rất đặc biệt và phóng khoáng. Cơ thể của họ được trưng bày gần như là một món hàng. Địa điểm này nằm trong một khu phố rất đẹp của Amsterdam. Vì vậy, du khách đến đây thường rất thích đến xem, để được thấy sự tự do của Âu châu và thế giới tự do.

RFI: Nghề mãi dâm tại Hà Lan đã được nhà nước công nhận từ lâu. Do đó, chẳng có gì đáng ngạc nhiên với việc thành phố Amsterdam tham dự trực tiếp hay tổ chức một cơ sở nào đó. Người dân Amsterdam hưởng được lợi gì từ khu phố này?
Nguyễn Thanh Hùng: Thành phố Amsterdam và người dân thành phố này sống nhờ vào du lịch, và họ cũng thu được nhiều lợi lộc kinh tế qua khu phố đèn đỏ. Nhưng họ cũng có nhiều trở ngại với khu phố đèn đỏ lắm.
            Cũng như những thành phố lớn Paris hay Luân Đôn, du khách đến đây quá đông, dẫn đến tình trạng ô nhiễm, ồn ào. Những vấn đề tiêu cực do khách du lịch đưa đến không phải là ít. Tại khu phố đèn đỏ, người dân ở đây cũng điên đầu vì số lượng du khách quá lớn, quá tải, đi qua những con đường nhỏ của Amsterdam.

RFI: Hoạt động mãi dâm được chính phủ Hà Lan công nhận. Vậy anh có thể cho biết các cơ sở kinh doanh tại khu phố đèn đỏ này hoạt động theo một cơ chế như thế nào?
Nguyễn Thanh Hùng: Từ trước đến giờ họ vẫn hoạt động như bất cứ một cơ sở thương mại nào, không có sự khác biệt nào cả. Các cô hành nghề mãi dâm buôn bán cơ thể của họ, cũng giống như là một người bán hàng rau, bán hoa quả.
            Họ cũng phải chịu một số biện pháp chế tài, quản lý, hay những luật lệ giống như những người buôn bán bình thường. Có thể vấn đề mãi dâm thì có dính dáng đến vấn đề an ninh nhiều hơn. Tức là các cô gái hành nghề phải được một số bảo vệ nhất định của cảnh sát, của chính quyền.

RFI: Vì sao lần này hội đồng thành phố tham gia vào việc tổ chức “nhà thổ” tự quản?
Nguyễn Thanh Hùng: Ngày xưa, cách đây 5-6 năm, những cô gái hành nghề này phần lớn là người Hà Lan, và người phương Tây, đến từ những nước lân cận với Hà Lan chẳng hạn như là Đức, Bỉ, Pháp, Tây Ban Nha. Nhưng bây giờ, phần lớn các cô hành nghề này là bên Đông Âu. Và thường thường các tổ chức đưa các cô gái Đông Âu sang đây là có tính cách bất hợp pháp, những tổ chức mafia. Họ dụ dỗ các cô gái Đông Âu như là Nga, Bulgari, Hungary, hay Ba Lan…
            Những người đó bị dụ dỗ, bị hành nghề mãi dâm gần như là cưỡng bách, nhưng mà vẫn hợp pháp, nghĩa là họ bị đe dọa phải làm nghề mãi dâm. Nhưng bây giờ, nhà nước Hà Lan muốn chận đứng chuyện này, nên họ tổ chức các cơ sở kinh doanh này, để bảo đảm được những người hoạt động trong lĩnh vực này được hành nghề một cách tự do và tự nguyện, không bị cưỡng bách, bị đe dọa.
            Họ có lợi lộc nhiều hơn, thay vì họ phải làm nghề mãi dâm và tất cả những khoản tiền thu nhập được phải đưa cho các băng đảng, các tên “tú bà”, thì nay họ được quyền giữ số tiền đó do họ làm ra, họ có thể dùng số tiền đó theo ý họ.

RFI: Những người trong nghề và công luận Hà Lan nói chung, cũng như là người dân tại Amsterdam nói riêng, đã có phản ứng ra sao về dự án này?
Nguyễn Thanh Hùng: Tôi nghĩ là người Hà Lan là một dân tộc rất phóng khoáng và rất tôn trọng luật pháp. Họ thấy những hoạt động kinh doanh nào mà được quản lý và được kiểm soát thì họ đều hoan nghênh cả. Nhiều người Hà Lan đều công nhận là thời đại này là một thời đại phải tôn trọng phụ nữ, thành ra hoạt động mãi dâm phải được nhà nước đặc biệt chú ý đến, để bảo vệ người phụ nữ, để họ có thể hành nghề một cách lành mạnh và an toàn.


* * *

            Theo tiết lộ của nhật báo Hà Lan NL Times, sau hai năm nghiên cứu, thị trưởng thành phố Amsterdam đã chính thức giới thiệu dự án này vào tháng 02/2015. “Nhà thổ” này sẽ cho phép các cô gái “lầu xanh” được phép chọn giờ làm việc, mức giá, cũng như mở rộng hơn nữa yếu tố xã hội của nghề này.
            Cô Marieke de Ridder, thành viên của nhóm giám sát “My Red Light” cho NL Times biết thêm là một phòng trà dành riêng cho những người hoạt động trong nghề mãi dâm đã được mở, ở đó, “họ có thể đến dùng trà, học hỏi làm quen lẫn nhau và đương nhiên khách làng chơi không được phép bén mảng”.
            Tạo một không gian làm việc thoải mái và lành mạnh cũng là một trong những tiêu chuẩn của “nhà chứa” mới này. Bên cạnh phòng trà, các phòng tiếp khách cũng rộng rãi hơn, mầu sắc hơn những nơi khác trong khu phố đèn đỏ. Cũng theo cô Marieke de Ridder, nhiều chương trình đào tạo hướng nghiệp cũng được tổ chức, như mát xa, hay kế toán chủ yếu nghiêng về khía cạnh thuế khóa trong ngành nghề này.

“Nhà thổ tự quản”: Một sự nhìn nhận về mặt xã hội
            Với việc cho phép mở “nhà thổ tự quản” không có những tay môi giới tại Hà Lan được xem như là một bước tiến mới trong việc công nhận nghề mãi dâm. Bởi vì, việc hợp pháp hóa hoạt động kinh doanh “thể xác” trên thực tế là không đồng đều tại nhiều nước phương Tây được cho là có tư tưởng tiến bộ.
            Tại Pháp, Thụy Điển, Na Uy hay Bắc Ailen…, luật pháp tuy không cấm hẳn những người hoạt động trong lĩnh vực này, nhưng lại quy định phạt tù và tiền “khách làng chơi”. Những biện pháp đã bị các hiệp hội bảo vệ những người lao động trong nghề này chỉ trích, cho rằng chỉ làm gia tăng các hoạt động trái phép.
            Trong khi đó, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh Quốc, Ý, Cộng Hòa Séc, Ba Lan hay nhiều nước khác lại hợp pháp ngành nghề này, nhưng đặt dưới những luật lệ nghiêm ngặt. Theo từng quốc gia, các nhà thổ có thể được phép mở hay cấm, nhưng chài mồi khách được dung thứ (tại Pháp bị phạt), nhưng nghề dắt mối gái hầu như vẫn bị lên án.
            Theo nhận định của các nhà nghiên cứu trường đại học Nouvelle Sorbonne (Pháp), mô hình “nhà thổ tự quản” tại Hà Lan có thể được xem như là một sự nhìn nhận về mặt xã hội đầu tiên cần được thử nghiệm. Người dân sẽ bớt có cái nhìn tiêu cực hơn đối với ngành nghề này, được công nhận như một nghề nghiệp riêng biệt. Và như vậy, điều kiện sống của những người hoạt động trong lĩnh vực này nhìn chung sẽ được cải thiện tốt hơn.


MINH ANH
Tháng 9/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170831-ha-lan-khanh-thanh-«-nha-tho-»-tu-quan-chong-nan-buon-nguoi

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #80 vào: 30/11/2017, 20:09:17 »
Vũ Khanh, tiếng hát của tình yêu và niềm tin

Một người ca sĩ có tiếng nói trầm ấm, làn hơi mạnh mang đậm màu sắc và tình cảm của người Hà Nội đã không hề bị phai nhạt đi cho dù đã hơn 40 năm xa quê. Đó là tiếng hát Vũ Khanh.

Ca sĩ Vũ Khanh trong một chương trình ca nhạc

Từ một duyên may…

                        “Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
                        Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều
                        Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ
                        Ai đứng trông ai ven hồ
                        Khua nước trong như ngày xưa

                        Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say
                        Đôi tay ngọc ngà dương gian tình ái em đong thật đầy
                        Bạn lòng ơi, ngày ấy tôi mang cây đàn
                        Quen sống ca vui bên nàng
                        Nay khóc tơ duyên lìa tan…

                        (Nỗi lòng người đi)

            Vũ Khanh là con út trong một gia đình có 11 người anh em và là người duy nhất theo nghiệp đàn ca. Anh nói vui rằng chưa có ông thầy tướng số nào “chấm: cho anh cái mệnh ca sĩ trong lá số tử vi, mà tất cả là,

Ca sĩ Vũ Khanh: Tất cả chỉ là một cái duyên may mắn thôi chứ tôi không phải là một con gà nòi, không phải như là Ý Lan, bố mẹ là nghệ sĩ rồi mình bước vào sự nghiệp ca hát tự nhiên như vậy. Tất cả là tình cờ thôi. Hồi đó tại Mỹ này thì anh em nghệ sĩ chưa nhiều, mình chỉ là một nhóm anh em sinh viên đi học rồi ngao nghêu những buổi văn nghệ bỏ túi. Quay qua quay lại ở bên này đã 40 năm rồi, và tôi đóng góp cũng trên 30 năm trong lĩnh vực ca nhạc này.
            Bản nhạc đầu tiên mà tôi bước lên sân khấu là bản nhạc Cô hàng nước của anh Vũ Huyến.


                        “Anh còn còn có mỗi mỗi cây đàn
                        Anh đem là đem anh bán nốt
                        Anh theo, theo cô hàng, hàng chè xanh
                        Tình tính tang, tang tính tình
                        Cô hàng rằng, cô hàng ơi
                        Rằng có nhớ, nhớ hay chăng…

                        (Cô hàng nước)

            Với ca khúc Cô hàng nước, chàng thanh niên Vũ Công Khanh đã chinh phục hơn 5.000 khán giả của đêm đại nhạc hội ở San Diego năm đó, năm 1978. Và cũng chính Cô hàng nước là nốt nhạc đầu tiên mở đầu cho bản tình ca hơn 30 năm về cuộc đời nghệ sĩ của Vũ Khanh.
            Để rồi từ đó, anh chính thức bước vào trái tim của khán giả khắp nơi với hình ảnh lãng tử rất riêng của mình và giọng hát trầm ấm thấm sâu vào lòng người.
            Khi kể lại kỷ niệm của đêm khởi đầu ấy, Vũ Khanh không nghĩ rằng: “từ việc cầm đàn, hát những bản nhạc như một thói quen, rồi đón nhận những lời khen. Từ những lời khen đó, mình bắt đầu gia nhập vào những sinh hoạt văn nghệ, rồi trở thành ca sĩ của hải ngoại từ lúc nào tôi cũng không biết nữa.

                        “Hôm xưa tôi đến nhà em
                        Ra về mới nhớ rằng quên, quên cây đàn…

                        (Cây đàn bỏ quên)

            Theo như lời kể lại, ca khúc Cây đàn bỏ quên chính là nấc thang đưa tiếng hát Vũ Khanh tới ngôi vị cao của nền âm nhạc Việt Nam hải ngoại.
            Rất nhiều nhạc sĩ nổi tiếng chỉ sau một lần nghe tiếng hát của Vũ Khanh đã gửi gắm cho anh niềm tin đối với những tác phẩm đầu tiên của mình. Đó là những nhạc phẩm chưa được giới thiệu với người nghe. Người nhạc sĩ lúc ấy vẫn tìm cho mình một tiếng hát để chuyển tải hết tất cả những điều họ muốn nói bằng lời ca, bằng âm nhạc. Ca khúc “Lời tiền thân của cát” của cố nhạc sĩ họ Trầm, Trầm Tử Thiêng, là một trong những bản nhạc được viết ra để chờ một ngày, ông gặp được Vũ Khanh.

                        “Anh ngồi mãi đó, một chấm nhân sinh
                        Có hay không có trong cõi vô tình
                        Anh ngồi mãi đó, Anh ngồi mãi đó, một chấm nhân sinh!
                        Anh lại trở về bên bờ sông đó
                        Còn nỗi thương quê mất tròn tuổi nhỏ
                        Có phải mưa nguồn xóa phăng bờ cát
                        Cơn lũ nào tuôn, triền dâu xơ xác
                        Tuôn về biển mẹ sâu rộng muôn trùng
                        Sông thì nhỏ bé, máu góp sao cùng
                        Sông thì nhỏ bé, máu góp sao cùng…

                        (Lời tiền thân của cát)

            Có lẽ khi Trầm Tử Thiêng chọn Vũ Khanh để thực hiện ca khúc này, ông đã biết rằng tiếng hát trầm và rõ trong từng âm vực, sắc nét trong những nốt cao lẫn thấp của người ca sĩ này sẽ cùng ông nói lên một triết lý nhân sinh, nhỏ như dấu chấm trong cõi vô tình.
 
Ca sĩ Vũ Khanh: Nó khởi nguồn từ khi tôi gặp anh Trầm Tử Thiêng, ngồi chung máy bay khi đi qua trại Parawang ở Philippines để thăm các đồng bào tỵ nạn bên đó. Khi gặp anh, qua ca khúc “Có tin vui giữa giờ tuyệt vọng”, anh rất quí tôi, anh bảo rằng kỳ này về anh sẽ đưa cho em một số tác phẩm của anh. Khi tôi thực hiện thì anh lại ra đi, người tác giả không ở bên cạnh mình để nói cho mình biết hết tất cả chi tiết của bản nhạc đó. Thế là mình chỉ hát qua những cảm xúc của những âm thanh, melody thôi.

            Chính vì điều này mà sau khi đưa ca khúc “Lời tiền thân của cát” đến với khán thính giả, mặc dù rất nhiều người cho rằng ca khúc này như mặc định dành cho tiếng hát Vũ Khanh, nhưng anh chưa bao giờ hài lòng với lần thu âm ca khúc đó và cả những lần mình trình diễn.

Ca sĩ Vũ Khanh: Có nhiều người khen tôi hát bản đó nhưng thú thật tôi cảm thấy thẹn thùng lắm. Thứ nhất là khó hát. Điểm thứ hai nữa là mình chưa đủ để chuyển tải. Mỗi lần tôi nghe thấy bản đó tôi áy náy lắm. Nếu có dịp tôi sẽ thâu lại cho thật trọn vẹn hơn. Tôi chưa cho tôi được điểm tốt về bản nhạc đó. Mình cần phải hát hay hơn nữa. Mười phần thì tôi chỉ mới có chuyển tải được mới có sáu thôi. Tôi tiếc là không có anh ấy ở bên cạnh.


Vũ Khanh - Em đi bỏ lại con đường

Tiếng hát từ tình yêu
            Mỗi một người nghệ sĩ thường hay chọn một dòng nhạc của một nhạc sĩ phù hợp với phong cách và giọng hát của mình. Vũ Khanh tự nhận mình không có cái may mắn ấy.

Ca sĩ Vũ Khanh: Mỗi một ca sĩ đàn anh đàn chị bước lên thì thường có một nhạc sĩ sau lưng. Nhưng khi mình qua bên này, mình không có được may mắn đó, mình tự chọn bản nhạc. Ví dụ như tôi hát nhạc của Trịnh Công Sơn thì làm sao bằng Khánh Ly được nhưng có một bản nhạc mà tôi rất yêu, và có lẽ tôi tự chấm cho tôi, tôi tự khen tôi là tôi chuyển tải đầy đủ, đó là bài “Sóng về đâu” của Trịnh Công Sơn.

                        “Biển sóng biển sóng đừng xô tôi
                        Đừng xô tôi ngã dưới chân người
                        Biển sóng biển sóng đừng xô nhau
                        Ta xô biển lại sóng về đâu…

                        (Sóng về đâu)

            Hơn 30 năm đi hát, là hơn 30 năm Vũ Khanh gắn liền với những tình khúc bất tử của nhiều nhạc sĩ. Anh là người thể hiện rất thành công các ca khúc nổi tiếng của nhiều người như Trầm Tử Thiêng, Phạm Duy, Vũ Thành An, Từ Công Phụng, Song Ngọc…
            Người ta có thể nghe một Vũ Khanh “rất Hà Nội” với Hà Nội ngày tháng cũ của Song Ngọc thì cũng có thể nhìn thấy một Vũ Khanh rất hào hoa, lãng mạn với Áo lụa Hà Đông.

Ca sĩ Vũ Khanh: Tôi thích những bản nhạc thơ mộng hơn. Một bản nhạc như “Ta đưa em vào cõi chết” và một bản là “Áo lụa Hà Đông” sẽ khác nhau nhiều lắm. Nếu có chọn lựa thì tôi sẽ chọn Áo lụa Hà Đông vì nó thơ mộng, nó lãng mạn. Những hình ảnh nó tác dụng đến đời sống của mình.

            Nếu có người đã từng ví von rằng “nửa đêm nghe Sỹ Phú hát như đắp chăn bông vào người” thì tiếng hát của Vũ Khanh làm cho người ta cảm thấy như từng nốt nhạc đang chạy thẳng vào huyết mạch của họ, như họ đang được kể cho nghe một câu chuyện vừa mới ngày hôm qua, trên trần thế, nơi phố núi đầy sương.

                        “Phố núi cao phố núi đầy sương
                        Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
                        Anh khách lạ đi lên đi xuống
                        May mà có em đời còn dễ thương
                        Em Pleiku má đỏ môi hồng đây buổi chiều quanh năm mùa đông
                        Nên tóc em ướt và mắt em ướt...

                       (Còn chút gì để nhớ)

            Rồi cũng có những khi, tiếng hát trầm ấm của Vũ Khanh như chia sẻ cùng người nghe những hương vị đắng, cay, ngọt, mặn, khi cao vút, khi thủ thỉ nhẹ nhàng sâu tận trong tim.

                        “Khi em về chừng như sang đông
                        Trời tháng năm mà nghe lành lạnh
                        Khi em về ngồi nghe biển hát
                        Chiều qua nhanh như em xa anh…

                        (Tiễn đưa)

Và niềm tin, độ lượng
            Khi Vũ Khanh hát một ca khúc, người nghe có thể cảm nhận như anh đang ôm trọn cả bản nhạc ấy vào trong từng câu từng chữ. Lúc đó, mỗi một nốt nhạc anh hát lên, tình tứ, nhẹ nhàng, có cả vị tha và độ lượng.

                        “Ta cho em tất cả. Hỡi nụ hôn tình đầu!
                        Bây giờ tình tan vỡ, ta còn lại thương đau
                        Ta yêu em lầm lỡ. Ôm vòng tay dại khờ
                        Em là loài hoang thú. Ta vất vả tinh khôn
                        Loài cổ hoang (ngu si) mắt mờ
                        Bạc vàng phấn son mơ
                        Nơi mộ hoang lạc thú. Em bướm hồng lửng lơ
                        Ôi! Chông gai đầy lối. Cất bước đi về đâu
                        Một lần ta lầm lỡ, Trăm đường còn sầu đau!

                        (Ta yêu em lầm lỡ)

            Ta yêu em lầm lỡ là một ca khúc của cố nhạc sĩ Phạm Duy. Ai đã từng nghe Vũ Khanh thể hiện ca khúc này chắc chắn sẽ giật mình ngoảnh lại vì “bản nhạc này tôi hát cách đây cũng khoảng 25 năm rồi.”
            Tất cả những tác phẩm của người nghệ sĩ khi được tạo ra từ trái tim thì chắc chắn sẽ đi đến hàng triệu trái tim khác. Vũ Khanh hát bằng chính những thăng trầm của cuộc đời mình, cộng với niềm tin tôn giáo mà anh có được đã góp phần làm cho tiếng hát của anh độ lượng càng thêm độ lượng.

                       “Chuyện người đàn bà 2000 năm trước
                        Áo rách tả tơi, xác thân mệt nhoài
                        Chuyện người đàn bà nơi thành cổ đó
                        Dấu tích hành thân
                        Vì đâu? Vì đâu? Vì đâu
                        Nên tội tình mang nhục hình
                        Vì yêu, tội yêu, tội tình yêu…

                        (Chuyện người đàn bà 2000 năm trước)

Ca sĩ Vũ Khanh: Tôi hiểu về kinh thánh, và tôi biết được câu chuyện kinh điển về người đàn bà bị phạm tội và bị ném đá. Bản nhạc này được thể hiện cái kinh điển của kinh thánh, vừa nói được cuộc đời vừa nói trong lĩnh vực về tâm linh nữa. Hai mặt của cuộc đời, nên nó có một ý nghĩa đối với tôi. Nếu kết tội một người khác thì mình nhìn mình xem mình có tội hay không. Mình chưa phạm tội thì đó là một cái may mắn của mình. Biết đâu ngày hôm nay mình phạm tội thì sao. Tôi bám vào triết lý sống đó mà tôi răn dạy tôi.

            Vũ Khanh đến với âm nhạc với tình yêu trân trọng như niềm tin anh dành cho Đức Chúa Trời của mình. Chính vì thế mà những ca khúc nói về triết lý nhân sinh hay những tình yêu có màu sắc của thánh đường được anh diễn tả rất trọn vẹn và sâu lắng.

                        “Ngày xưa áo nhuộm hoàng hôn
                        Áo nhuộm hoàng hôn
                        Áo nhuộm hoàng hôn
                        Bóng ai cắp rổ cắp rổ lên cồn
                        Lên cồn hái dâu hái dâu…

                        (Gọi em là đóa hoa sầu)

Ca sĩ Vũ Khanh: Gọi em là đóa hoa sầu là cảm xúc của một tu sĩ khi ông gục đầu trên bàn và ông ấy mơ. Mơ về những hình ảnh đẹp.

            Không phải là tu sĩ, không phải là người rao giảng kinh thánh, cũng không phải người sinh ra trong gia đình nghệ thuật, nhưng bằng tình yêu và niềm tin của mình, tiếng hát trầm ấm như ru hồn người của người đàn ông lãng tử đã mang đến cho cuộc đời những khúc tình ca đẹp và trong như ngôi giáo đường. Tuổi trẻ rồi sẽ qua. Người rồi sẽ xa. Tác phẩm và tiếng hát sẽ còn mãi. Những gì Vũ Khanh muốn gửi lại cho một “chấm nhân sinh” trong cuộc đời này là sự bình lặng và sự cân bằng trong một kiếp.

                        “Anh ngồi mãi đó, một chấm nhân sinh
                        Có hay không có trong cõi vô tình
                        Xin làm hạt cát quay bến sông này.
                        Xin làm kiếp khác thay kiếp bèo mây...


CÁT LINH
Tháng 7/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/vu-khanh-sing-of-love-n-faith-cl-07102016085336.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #81 vào: 05/12/2017, 23:17:04 »
Khám phá nhà thờ Thánh Tâm Montmartre Paris – Basilique du Sacré-Cœur

Để lên tới nhà thờ Thánh Tâm, cần phải đi hết 237 bậc thang, tương đương với một tòa nhà hơn 10 tầng. Nhưng công sức bỏ ra được đền bù xứng đáng vì từ trên đỉnh đồi, du khách có thể chiêm ngưỡng toàn bộ thành phố Paris với những công trình nổi tiếng, và đặc biệt là cảnh hoàng hôn vào những ngày trời mùa hè nắng đẹp.

Basilique du Sacré-Coeur de Montmartre

NẾU CÁC BẠN muốn giữ sức để đi thăm nhà thờ hay khu quảng trường nghệ cạnh nhà thờ Sacré-Cœur, các bạn có thể đi thang máy được xây dựng ngay từ năm 1901.
            Ngự trên đồi Montmartre, nhà thờ Thánh Tâm (hay còn gọi là Vương cung thánh đường Sacré-Cœur, Basilique du Sacré-Cœur de Montmartre) được hoàn thiện vào đầu thế kỷ XX và hiện là một trong những công trình thu hút khách thăm quan nhiều nhất Paris.

Bối cảnh xây dựng nhà thờ Thánh Tâm Montmartre
            Năm 1870, người dân Paris sống trong cảnh giới nghiêm sau khi Hoàng đế Napoleon III bại trận tại Sedan (02/09/1870). Tiếp theo là hàng loạt sự kiện bi thương khác, người Paris đói đến mức phải giết động vật trong vườn bách thú để sống qua ngày, sau đó là giai đoạn đẫm máu của Công xã Paris, với khoảng 30.000 người chết.
            Giáo hội coi những sự kiện kinh hoàng này như sự trừng phạt của Chúa. Vì vậy, các con chiên liền tập hợp lại và tổ chức rước đức tin với lời hứa xây dựng một công trình ngợi ca thánh tâm của Chúa Jesus.
            Để thực hiện dự án đồ sộ này, người ta kêu gọi quyên góp. Và chính người dân Paris đã tài trợ toàn bộ quá trình xây dựng nhà thờ bằng cách mua từ một đến ba viên đá với giá dao động từ 120 đến 500 franc mỗi viên.
            Tổng giám mục Paris, Đức cha Guibert gửi tới Bộ trưởng Bộ Tôn giáo “Lời thỉnh cầu” (Vœu National) vào năm 1873 và yêu cầu nhà nước ủng hộ dự án bảo vệ thủ đô. Để công trình bảo vệ đạt hiệu quả và để mọi người đều chiêm ngưỡng được từ xa, người ta quyết định xây công trình trên một ngọn đồi cao. Đức cha Guibert có óc quan sát tuyệt vời khi ngài đi thăm đồi Montmartre và chọn nơi này vì từ đây có thể phóng tầm mắt khắp thành phố Paris.
            Một cuộc thi tuyển kiến trúc sư thiết kế đã được tổ chức dưới sự chủ tọa của Charles Garnier, kiến trúc sư và là cha đẻ Nhà hát Opéra. Cuối cùng, ông chọn Paul Abadie với dự án xây dựng một tòa nhà theo lối kiến trúc Roman-Byzantine, đặc trưng với các mái vòm tròn và nhô lên cao, như Đại đền Hồi giáo Sainte-Sophie ở Istanbul (hiện là một viện bảo tàng tại Thổ Nhĩ Kỳ). Trường phái này tạo thêm không gian bình yên trong nhà thờ. Ánh sáng và các chi tiết kiến trúc đều hướng tới thánh đường.
            Được khởi công ngày 16/06/1875 và kéo dài cho tới năm 1910, công việc xây dựng bắt đầu khá chật vật vì đây là khu đất rỗng ruột, giống như nhiều khu vực khác tại vùng Paris. Kiến trúc sư Abadie buộc phải cho gia cố nền đất trước khi xây nhà thờ. Ông cho đào tổng cộng 83 hố sâu tới 33 mét, sau đó được gia cố để xây thành các cột trụ cho tòa nhà. Nếu không có những cột trụ này, nhà thờ đã lún trong đất sét.
            Kiến trúc sư Paul Abadie qua đời năm 1884 khi công trình còn chưa hoàn thiện. Sau đó, công việc thi công được giao cho Lucien Magne, tác giả của gác chuông nổi tiếng (cao 84 mét), và còn trải qua thêm năm lần thay đổi kiến trúc sư cho tới khi hoàn thành vào năm 1914.

Nét đặc trưng của nhà thờ
            Nhà thờ rộng 85 mét, dài 35 mét, nóc vòm cao 83 mét. Phải leo thêm 300 bậc thang, không thang máy, để lên được tới nóc vòm. Sau lễ dâng Thánh, nhà thờ được nhận danh hiệu “Vương cung thánh đường” (Basilique), có nghĩa là nơi hành hương.
            Màu trắng tinh khiết, có thể nhận ra từ xa, là nét đặc trưng của nhà thờ. Bất chấp bụi bẩn hay mưa gió, nhà thờ vẫn luôn giữ một màu trắng. Hiện tượng này có được là nhờ loại đá vôi có tên “Château-Landon” khai thác từ mỏ đá Souppes (tỉnh Seine et Marne). Loại đá này rất cứng và ngày càng trắng cùng thời gian và thời tiết mưa gió. Chính vì vậy, những phần không bị thời tiết bào mòn thường có mầu sẫm hơn.
            Bức tranh ghép lớn nhất được làm từ năm 1900 đến 1922. Dàn đàn ống trong nhà thờ, được thực hiện vào năm 1898, là tác phẩm cuối cùng của nhà sản xuất đàn nổi tiếng Aristide Cavaillé-Coll trước khi qua đời. Giới chuyên gia nhận định đây là một trong những dàn đàn ống đáng chú ý nhất của Paris, cả nước Pháp và châu Âu, nhờ chất lượng hiếm có và âm thanh mượt mà. Chính vì vậy, vào năm 1981, nhà nước Pháp đã xếp loại “Công trình lịch sử” dàn đàn ống của nhà thờ Thánh Tâm. Còn các ô cửa kính được lắp đặt từ năm 1903 tới 1920 nhưng sau đó bị bom phá hủy vào năm 1944 và được làm lại vào năm 1946. Điều kỳ diệu là năm 1944, 13 quả bom dội xuống nhà thờ nhưng không ai thiệt mạng.
            Quả chuông “La Savoyarde” được treo trên gác chuông nhà thờ Thánh Tâm là quả chuông nặng nhất thế giới, khoảng 19 tấn. Quả chuông được bốn giáo phận vùng Savoie tặng và do công ty Paccard, rất có tiếng vào thời đó, đúc vào năm 1895 tại Annecy. Công ty này đã tìm lại được những bí mật của các nhà luyện kim Flamand vào thời Trung Cổ để phối hợp sự hài hòa bên trong của những quả chuông. 28 con ngựa đã được huy động để kéo quả chuông về tới Paris, vào đêm 16/10/1895, đúng ngày Thánh Marguerite-Marie.


Nhà thờ Thánh Tâm Sacré Coeur (Paris), thu hút 10,5 triệu khách
hàng năm là điểm đến thứ hai của du khách tại Paris

Những địa điểm thu hút du khách nhất Paris
            Nhà thờ Đức Bà, Nhà thờ Thánh Tâm Sacré Cœur và viện bảo tàng Louvre là ba địa điểm hấp dẫn nhất trong mắt khách du lịch đến Paris. Theo thống kê, cứ trên 100 du khách đến Paris thì có 65 cho biết họ tìm đến với các danh lam thắng cảnh, các công trình kiến trúc lịch sử của thủ đô Pháp.
            Theo một cuộc thăm dò do Cơ quan du lịch (Office de tourisme) của Paris tiến hành, đó là ba khu di tích văn hóa được đánh giá cao nhất tại thủ đô nước Pháp. Trong năm 2011, trên tổng số 64 khu kỳ quan của Paris thì đã có tới 13 địa điểm mở cửa đón tới hơn một triệu lượt khách tham quan.
            Nhà thờ Đức Bà ở khu trung tâm dẫn đầu bảng xếp hạng với 13,6 triệu lượt du khách đến thăm. Nhà thờ Thánh Tâm Sacré Cœur đồ sộ trên đồi Montmartre ở phía đông bắc thủ đô về nhì với 10 triệu rưỡi khách tham quan. Riêng lâu đài cổ kính và nổi tiếng nhờ những bộ sưu tập quý giá là viện bảo tàng Louvre, thì đã lọt vào mắt xanh của đến gần 9 triệu người say mê nghệ thuật.
            Tháp Eiffel biểu tượng của thành phố bị gạt xuống hàng thứ tư với chỉ hơn 7 triệu lượt người đến tham quan trong năm vừa qua. Khu triển lãm nghệ thuật đương đại Trung Tâm Pompidou và bảo tàng Orsay thua xa: chỉ cầm chân được – theo thứ tự – là 3,6 và 3,1 triệu khách.
            Trên 100 du khách đến Paris thì có 65 người tìm đến với thủ đô nước Pháp, vì muốn khám phá một góc kho tàng văn hóa trên quê hương của Victor Hugo. Khó có thể ngờ là, năm ngoái đã có tới 72,6 triệu người dừng chân tại các bảo tàng và di tích lịch sử của Paris trong năm qua.
            Trong số những thành phần yêu chuộng hội họa và nghệ thuật của Pháp, đứng đầu bảng là các du khách người Mỹ và người Anh. Những vị khách thập phương đến từ Brazil, Nga hay Trung Quốc thường ít khi bỏ lỡ cơ hội để chiêm ngưỡng một vài tác phẩm nghệ thuật mà tên tuổi đã gắn liền với Kinh đô Ánh sáng.


THU HẰNG
Tháng 11/2015


http://vi.rfi.fr/phap/20151120-kham-pha-nha-tho-thanh-tam-montmartre-basilique-du-sacre-coeur

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #82 vào: 07/12/2017, 21:14:08 »
Con đường Mặc Đỗ từ Hà Nội Sài Gòn tới Trưa trên đảo san hô

Mặc Đỗ nhà văn, nhà báo, dịch giả là một trong những tên tuổi của văn học Miền Nam trước 1975. Sau 1975, sang Mỹ ở cái tuổi 58 còn tràn đầy sức sáng tạo nhưng anh đã chọn một cuộc sống quy ẩn, chữ của Mai Thảo. Mặc Đỗ gần như dứt khoát không xuất hiện hay có tham dự nào trong sinh hoạt cộng đồng văn chương ở hải ngoại – (biển ngoài, chữ của Mặc Đỗ), thái độ chọn lựa đó khiến tên tuổi anh hầu như rơi vào quên lãng.

Chân dung Mặc Đỗ, ảnh Trần Cao Lĩnh

Tiểu sử Mặc Đỗ
            Tên Đỗ Quang Bình, sinh năm 1917 tại Hà Nội trong một gia đình Nho học nhưng hấp thụ một nền văn hóa Tây phương. Học Luật nhưng không hành nghề và chọn viết văn. Tên Mặc Đỗ được thân phụ đặt cho, có nghĩa là người họ Đỗ trầm lặng. Khởi đầu viết khá sớm các truyện ngắn, kịch và dịch sách đăng báo. Sau Hiệp định Geneve 1954 di cư vào Nam, cùng với Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan thành lập nhóm Quan Điểm, xuất bản sách của các thành viên trong nhóm. Về sinh hoạt báo chí, Mặc Đỗ đã cùng với các nhà văn Vũ Khắc Khoan, Tam Lang Vũ Đình Chí, nhà thơ Đinh Hùng, Như Phong Lê Văn Tiến, Mặc Thu Lưu Đức Sinh sáng lập tờ nhật báo Tự Do đầu tiên ở Miền Nam. Sau 1975 Mặc Đỗ tỵ nạn sang Mỹ.
            Tác phẩm: Bốn Mươi (1956), Siu Cô Nương (1958), Tân Truyện I (1967), Tân Truyện II (1973), Trưa Trên Đảo San Hô (2011), Truyện Ngắn (2014), chỉ trừ Tân Truyện II (1973) do Nxb Văn, sách Mặc Đỗ đều xuất bản với tên Nxb Quan Điểm.
            Dịch thuật: Lão Ngư Ông và Biển Cả / Ernest Hemingway (Quan Điểm 1956); Con Người Hào Hoa / F. Scott Fitzgerald (Quan Điểm 1956); Một Giấc Mơ / Vicki Baum (Cảo Thơm 1966); Người Vợ Cô Đơn / Francois Mauriac (Cảo Thơm 1966); Thời Nhỏ Trong Gia Đình Luvers / Boris Pasternak (Văn 1967); Tâm Cảnh / André Maurois (Văn 1967); Anh Môn / Alain-Fournier (Cảo Thơm 1968); Vùng Đất Hoang Vu / Leo Tolstoi (Đất Sống 1973); Giờ Thứ 25 / Virgil Georghiu (Đất Sống 1973).
            Trong Mộng Một Đời, rất sớm từ thuở niên thiếu, Đỗ Quang Bình – chưa có bút hiệu Mặc Đỗ, đã nuôi mộng trở thành nhà văn, “Để luyện văn phong, người trai chọn phương pháp đúng nhất là dịch văn ngoại ra Việt văn. Kỹ thuật viết của những tác giả truyện đã dịch đã giúp khá nhiều cho việc hoàn thiện những cấu trúc cho truyện dài dự định sẽ viết.” Lựa chọn của Mặc Đỗ có tác dụng “đôi”: một viên đá bắn hai con chim / kill two birds with one stone, anh tạo được một văn phong rất Mặc Đỗ với ảnh hưởng nền văn học Tây phương, và thành quả tiếp theo là các tác phẩm dịch thuật của Mặc Đỗ từ hai ngôn ngữ Pháp và Anh sang tiếng Việt rất chuẩn mực và tài hoa, đã như một phần sự nghiệp thứ hai của anh bên cạnh sự nghiệp sáng tác. Các sách dịch của anh được liên tục tái bản những năm về sau này.


Bìa tiểu thuyết Bốn Mươi của Mặc Đỗ, Nxb Quan Điểm, Sài Gòn 1957

Hơn nửa thế kỷ
            Về tuổi tác Mặc Đỗ hơn tôi hơn một thế hệ. Rất sớm đọc văn anh từ tiểu thuyết Bốn Mươi (1957), Siu Cô Nương (1959) tới Tân Truyện (1967). Tôi có mối giao tình với anh từ thập niên 1960, cho đến nay cũng đã hơn nửa thế kỷ. Cảm tưởng khi mới gặp, anh có phong cách của một nhà văn.
            Khi tôi chọn học Y khoa, làm báo Sinh Viên Tình Thương và bắt đầu viết báo viết văn. Báo Tình Thương Y khoa có gửi biếu anh. Năm 1962, một bản thảo truyện dài được viết xong, tôi gửi tới hai anh Mai Xuyên Đỗ Thúc Vịnh Bóng Tre Xanh, và Mặc Đỗ Bốn Mươi đọc trước. Từ hai anh tôi đã nhận được những lời phê bình thẳng thắn.
            Anh Đỗ Thúc Vịnh chú trọng tới sự trong sáng và văn phạm của tiếng Việt cùng với vốn sống của người viết, anh rất quan tâm tới thế hệ Những Người Đang Tới, cũng là tên một tác phẩm khác của anh sau này. Nhà văn Đỗ Thúc Vịnh thì nay đã mất (1920-1996), vậy mà cũng đã ngót 20 năm qua rồi.
            Anh Mặc Đỗ có quan niệm, với người trẻ bắt đầu viết văn nên tập viết truyện ngắn trước và kỹ thuật là phần quan trọng. Tác phẩm đầu tay của tôi không phải là tập truyện ngắn mà là một cuốn tiểu thuyết. Về chọn lựa bước khởi đầu này, tôi đã không theo được lời khuyên của anh. Mây Bão xuất bản 1963 với nguyên vẹn nội dung với mẫu bìa của người bạn tấm cám họa sĩ Nghiêu Đề.
            Do gần nửa phần đời sau ở hải ngoại, từ 1975 cuộc sống nhà văn Mặc Đỗ gần như khép kín, thật khó để để vẽ một chân dung toàn diện về anh. Chọn lựa và trích dẫn từ những bức thư anh gửi cho tôi, bớt đi những phần quá riêng tư có lẽ giúp bạn đọc biết được nhiều hơn về một nhà văn Mặc Đỗ quy ẩn.
            Sang thế kỷ 21 kỷ nguyên của computer, Mai Thảo thì vẫn cứ ẩn nhẫn viết tay kể cả trên những phong thư hàng tháng gửi báo Văn tới từng độc giả dài hạn, riêng anh Mặc Đỗ vẫn thủy chung với chiếc máy chữ xách tay thuở nào. Các thư anh gửi cho tôi đều là thư đánh máy. Chỉ một bức thư hiếm hoi hoàn toàn viết tay của anh mà tôi có được là do một tai nạn, chiếc máy chữ yêu quý thiết thân của nhà văn Mặc Đỗ bị rơi và hư gẫy. Ít lâu sau đó, anh được một ông bạn ở Pháp tặng cho một máy đánh chữ khác như món quà Giáng sinh, từ đó tôi lại nhận được những lá thư đánh máy, chỉ với chữ k. là thủ bút của anh.

            Cher Vinh,
            Tôi lọng cọng đánh rơi cái máy chữ yêu quý, nhà thương Mỹ thích thay parts hơn là chữa, trong khi chờ một bàn tay Á đông đành nắn nót viết, tập trung vào mấy ngón tay mệt óc quá, cho nên chỉ có thể ngắn gọn, trang thư qua printer mất personality.
            Cám ơn Vinh đã cho tôi thấy Vinh rõ hơn nữa. Nhúm lửa trong tôi, có trước ngày tôi nghe lời bạn chôn bản thảo “Đứng ngồi không yên” dưới ba lớp giấy gói và gác lên nóc tủ, nhúm lửa đó tôi thấy thấp thoáng đôi chỗ qua những lời đối thoại của Vinh. Sau ngày đó bút của tôi không tìm thấy AN nữa – chữ AN Phật dạy. Mừng thấy bút Vinh vẫn AN.
            Kết luận, thấy Vinh hơi lạc quan. Nhìn thêm cái “nửa vơi”, ngắm con người chúng sinh. Yêu nước cũng là một thứ tham. Thân,
(Mặc Đỗ, Feb 5 1996)

Từ bốn mươi Siu Cô Nương tới Tân truyện
            Bốn Mươi (1957) là một tiểu thuyết, Mặc Đỗ viết về giai tầng trí thức tiểu tư sản, ở cái tuổi không còn ngờ vực “tứ thập nhi bất hoặc”; họ xuất thân từ những gia đình giàu có, đi du học rồi tốt nghiệp, trở về nước và sống trong sự xa hoa của một xã hội thượng lưu. Họ là những chính khách salon, theo cái nghĩa rất thời thượng, tự đồng hóa với giai tầng sĩ phu trước kia, rất xa lạ với đời thường nhưng có ảnh hưởng trên chính trường, họ tin vào vai trò lãnh đạo của giai cấp trí thức tiểu tư sản trong cuộc chiến.
            Siu Cô Nương (1959) là tiểu thuyết thứ hai của Mặc Đỗ, viết về ba người đàn ông và hai phụ nữ trong bối cảnh một miền Bắc 1954, sau hiệp định Geneve khi một Việt Nam sắp chia đôi. Ba người đàn ông ấy cũng thế hệ bốn mươi có lý tưởng, tin vào vai trò lãnh đạo giai tầng trí thức tiểu tư sản với chủ trương xây dựng một chế độ dân chủ kiểu Tây phương. Và họ giã từ Hà Nội, di cư vào Miền Nam – tỵ Tần, chữ Mặc Đỗ dùng sau này để chỉ những cuộc lánh nạn. Không gian sinh hoạt của các nhân vật trong Siu Cô Nương trải rộng hơn Bốn Mươi nhưng vẫn là một thứ xã hội trên cao, với mấy mối tình ngang trái, tất cả chỉ cái cớ cho những tình huống lịch sử mà viễn kiến của nhà văn là cái nhìn tiên tri. Cũng để nhận ra rằng: cái thème chính của tác phẩm Bốn Mươi, Siu Cô Nương là cuộc đấu tranh giai cấp, đưa tới cuộc nội chiến Nam Bắc kéo dài 20 năm sau đó. Với hậu quả là cuộc tỵ Tần lần hai sau 1975 với hàng triệu người Việt Nam tung ra khắp thế giới.
            Hãy để chính Mặc Đỗ nói về tác phẩm Siu Cô Nương của mình: “Tôi nhớ trong đoạn kết Siu Cô Nương một nhân vật trên chuyến xe lửa ra đi ngó xuống những ruộng đồng hai bên đường với những nông dân đang cặm cụi đã thắc mắc, mai ngày những con người kia sẽ thành thù địch ư? Thắc mắc này trải dài trong 500 trang truyện tiếp Siu Cô Nương.” (Thư Mặc Đỗ, Sept 28, 1994)
            Tân Truyện I (Quan Điểm 1967) và Tân Truyện II (Văn 1973) là hai tập truyện ngắn mà Mặc Đỗ gọi là tân truyện / nouvelle. Mỗi truyện như một viên ngọc của một chuỗi ngọc thể hiện quan niệm dựng truyện ngắn với nhiều vận dụng kỹ thuật của Mặc Đỗ và ngôn ngữ thì giàu hình ảnh nhưng cô đọng và chau chuốt. Mỗi tân truyện của Mặc Đỗ đều để lại cho người đọc một ấn tượng rất đặc biệt và khó quên.
            Tưởng cũng nên ghi lại đây quan niệm viết của Mặc Đỗ: “Từ khi bắt đầu viết tôi đã chọn một đường lối nhất định, không bao giờ đem đời tư của riêng một ai, quen hay không quen vào truyện. Tất cả đều là những nhân vật được cấu thành do những chi tiết, hình ảnh, ngôn từ, đã ghi được qua bao nhiêu dịp quan sát, nhận định; mỗi nhân vật là một hội tụ đúng chỗ của những tài liệu chọn lọc”. (Phụ lục: Truyện Không Thể Viết, Trưa Trên Đảo San Hô. Nxb Quan Điểm 2011)
            Một số truyện ngắn trong Tân Truyện I & II được Mặc Đỗ chọn cho in lại trong hai tập truyện Trưa Trên Đảo San Hô (2011): 13 truyện và tuyển tập Truyện Ngắn (2014): 30 truyện, gồm cả 13 truyện đã in trong tập Trưa Trên Đảo San Hô. Và không có một truyện nào được ghi thời điểm sáng tác.


Bìa Trưa Trên Đảo San Hô (2011) tác phẩm giã từ của Mặc Đỗ

Như một giã từ
            Nói rằng nhà văn Mặc Đỗ hoàn toàn không viết gì khi ra hải ngoại thì không đúng. Anh có viết nhưng phải nói là rất ít. Anh đã góp bài cho ấn bản đầu tiên báo Lửa Việt với truyện Cái Áo Len Màu Rêu, anh cũng góp bài cho Tạp Chí Văn Học Nghệ Thuật của Võ Phiến gồm các bài nhận định văn học, truyện ngắn trong những số đầu tiên: số 1 (Kế hoạch chống đàn bà, truyện ngắn), số 2 (Làm văn học nghệ thuật trong hoàn cảnh tỵ nạn), số 4 (Văn Nghệ Việt Nam ở hải ngoại), số 7 (Con người Nga trong khuôn đúc) VHNT bộ cũ (1978) [http://tapchivanhoc.org].
            Trong một thư riêng anh viết: “Một hai năm đầu khi mới đến đây tôi có viết đôi chút để tiếp tay vài bạn cũ ra báo trong khi còn hiếm bút, sau này làng ta trở nên phồn thịnh thì tôi yên tâm ngồi im, trừ một số nhỏ dịp phải trả nợ nhiều số báo được tặng không (Văn, Thời Tập) thì có đóng góp một chút.” (Mặc Đỗ 25/08/1991)
            Và một năm sau, trong lá thư đánh dấu 17 năm tỵ Tần, anh viết: “Từ hôm qua tôi bắt đầu nhận được báo Xuân, sớm nhất là Văn (của nhà văn Mai Thảo). Vui thấy bạn còn nhớ cho báo đều đặn, đọc báo thì chẳng mấy vui. Rất hiếm đọc những bài viết cho thấy cái công phu của người chau chuốt nghệ thuật. Luôn luôn nổi rõ sự vội vàng sản xuất và vội vàng chấp nhận… Sự đời ở biển ngoài đã biết rồi, thưởng thức hiếm có dịp, thành ra chẳng thấy vui.” (Mặc Đỗ 11/01/1992)
            Trong sáng tác, Mặc Đỗ có quan niệm khá nghiêm khắc, cả với chính anh. Anh luôn luôn nhắc tới kỹ thuật là quan trọng nhất trong việc viết truyện.
            Anh kể lại: “đã mất khá nhiều bạn trẻ đã cho tôi đọc bản thảo hay sách đã in vì tôi rất thẳng trong ý kiến đưa ra sau khi đọc, tôi cũng than chuyện đó với một vài anh bạn già (không viết) thì được trả lời ai bảo đụng tới nhược điểm của người ta! Tôi tiếp tục không nghe lời khuyên đó vì tôi thấy cần phải sòng phẳng với ai có bụng tin tôi và chính tôi nữa…” (Mặc Đỗ 5/02/1994).
            Khi viết về chính anh: “Riêng phần tôi, sau từng trải và đánh giá mọi khả năng còn lại, tôi bây giờ rất sáng suốt mà bi quan và tiêu cực. Thái độ này tôi giữ từ sau khi tự tay đốt cuốn truyện “Bong Bóng Bay” kết quả của cả chục năm hì hục.” (Mặc Đỗ 01/11/1995) Cuộc “phần thư” lần này trên đất Mỹ là do chính tay anh, chứ không phải do kẻ bạo Tần của thế kỷ 21.
            Rồi ở cái tuổi đã ngoài 90, anh quyết định cho in tập truyện ngắn Trưa Trên Đảo San Hô (2011), mà anh gọi là “tác phẩm cuối đời” với một bìa lưng hoàn toàn trống trải chỉ với mấy câu thơ thật thanh thoát:

                        Tự nhiên thành núi băng
                        Lục địa lạnh một ngày tách biệt
                        Lênh đênh vào có không


            Trưa Trên Đảo San Hô gồm 13 truyện ngắn, được sắp xếp theo ngược dòng thời gian: 7 truyện đầu được viết thời tỵ nạn, 3 truyện tiếp theo được viết tại Sài Gòn trước 1975; 3 truyện cuối được viết tại Hà Nội khoảng 1946-52. Mặc Đỗ viết: “Ba truyện cuối trong toàn bộ cũng là ba truyện đầu tiên tôi viết sau nhiều năm học, tập, và đến lúc tự xét thấy có thể bắt đầu viết.” Chỉ là một tập truyện ngắn nhưng đã ghi dấu ấn ba chặng đường và cũng là ba không gian sáng tác của Mặc Đỗ: Hà Nội, Sài Gòn Việt Nam và Hoa Kỳ.
            Trong Lời cuối, anh tâm sự: “Thấy tương lai rất ngắn trước mặt (cũng như viễn tượng viết truyện ngắn/dài) tôi tự xuất bản tập truyện này sau một thời gian vắng bóng trong làng văn ở ngoài nước, coi như một giã từ.”
            Nhưng rồi tiếp theo đó, ba năm sau “Đứng ngồi không yên” – tên một tác phẩm của anh bị thất lạc, anh lại cho in thêm một tuyển tập Truyện Ngắn (2014), gồm các tân truyện viết trước và sau 1975; cả hai tác phẩm tác giả tự xuất bản vẫn với tên Tủ Sách Quan Điểm.


Bìa tuyển tập Truyện Ngắn (2014) tác phẩm giã từ 2 của Mặc Đỗ

Tác phẩm thất lạc
            Nhà của gia đình anh Mặc Đỗ ở Sài Gòn, không phải là ngôi biệt thự sang trọng như bối cảnh sinh hoạt của tiểu thuyết Bốn Mươi, chỉ là một căn phố lầu trên đường Trần Hưng Đạo nhưng rất ấm cúng bao năm, sau 30 tháng Tư, 1975 tôi có ghé thăm, trông thật lạnh lẽo, những chiếc ghế nệm bỏ trống, bức tranh lập thể sơn dầu của Tạ Tỵ rất đẹp cũng không còn treo trên tường nơi phòng khách, sau đó tôi mới được biết cả gia đình Mặc Đỗ đã âm thầm rời Sài Gòn đêm ngày 29 tháng Tư, chỉ một ngày trước đó. Dĩ nhiên, cũng như mọi người, anh chẳng mang được gì ngoài một chiếc túi nhỏ xách tay.
            Trong một thư, sau này anh kể rõ hơn về số phận tập bản thảo “Đứng ngồi không yên” và sau đó đã thành tro than ra sao. “Sau khi hoàn tất cuốn “Đứng ngồi không yên” tôi có đưa cho ba bốn người mà tôi kính trọng, (anh có kể tên nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh) vì nhiều lẽ đọc. Tình cờ tất cả chung một nhận định: lắm động chạm đủ thứ! Nhận định đã khiến tôi suy nghĩ và gói kín trọn vẹn bản thảo và tư liệu trong chiếc hộp, cột dây và gắn si cẩn thận với mảnh giấy dán bên ngoài: Để dành cho thế hệ sau. 75 tôi đi rồi thì một thằng cháu chạy đến lục lọi, nó lấy đi cùng với những thứ khác cái hộp tưởng quý lắm. Về nhà nó mở ra rồi vừa tức vừa sợ nó vứt tất cả trong chiếc thùng sắt đổ dầu đốt cháy sạch. Bao tâm tư đốt cháy khói khét lẹt! Mãi sau này tôi được kể lại chi tiết đã tức cười nghĩ, Thế cũng đáng! Đáng đốt! “Bên trên là nói chuyện với BS NTV, Biệt Cách Dù. Đây là nói chuyện với nhà văn NTV… Vào thu rồi, đang chuẩn bị nhận một flushot nữa và nhớ lại lũ trẻ trung học Pháp thời trước / sau TCII gọi những ông bà già là những PPH (Passera Pas cet Hiver / sẽ không qua khỏi mùa đông này – ghi chú của người viết). Chúng tôi thì chắc chưa!” (Mặc Đỗ, 28/09/1994)

Tác phẩm lớn không thể viết
            Sau Lời Cuối trong tập truyện Trưa Trên Đảo San Hô còn có thêm một Phụ Lục Truyện Không Thể Viết, Mặc Đỗ tâm sự: “Với một người viết đáng buồn nhất khi thấy cần thành thật với chính mình và quyết định không thể viết tác phẩm thèm viết… Theo dòng lịch sử đất nước, tôi không thấy thời cơ nào có thể so sánh với gần tròn một thế kỷ qua, với ba biến cố đặc biệt nối đuôi nhau, cùng hết sức giàu sinh động trong muôn vẻ chi tiết. Cảnh khổ ly tán được cụ thể hoá bằng một vụ phân ly giữa hai miền Nam Bắc. Kinh nghiệm độc lập người Việt ở hai miền cùng thâu góp, chất ngất, trong nước mắt. Biến cố thứ hai hào hùng thay! Nhưng đã hiện hình chẳng bao lâu sau, và kéo dài tới nay đã hơn ba mươi năm. (những dòng chữ này có lẽ Mặc Đỗ viết khoảng 2005, ghi chú của người viết) Hai biến cố đó xô tới biến cố lạ lùng, ngót hai triệu người Việt Nam thình lình tìm được tới, và bắt đầu mọc rễ trên những bến bờ lạ. Khơi lên từ cảnh đời một cô gái lai Mỹ, thiên truyện mọc lên trong đầu tôi khả dĩ ôm trọn ba biến cố vừa kể… Trong nhiều tháng sau tôi mê mải với đề tài Truyện, ra công sắp xếp cái sườn để gài lên những tình tiết… Ai sẽ viết? Cái vốn quan sát nhận định, rung cảm, chứa sẵn trong đầu, tôi có thể dùng cho phần đầu Truyện. Nhưng từ đêm 29 tháng Tư 1975 tôi đâu còn ở trong nước để quan sát, nhận định, rung cảm nữa… Tôi đã không thể viết… Tôi mong cho tôi, cũng mong cho đông đảo độc giả Việt Nam vì hiện chưa có một tác phẩm nào ghi lại liên tục giai đoạn lịch sử độc đáo vừa bi hùng vừa đáng cười ra nước mắt… Kho tàng đó đang chờ những người Việt Nam dám lãnh vinh dự và trách nhiệm là nhà văn.” (TTĐSH, lược dẫn Phụ Lục tr. 219-230)
            Đó là nỗi buồn và cũng là cái giá rất đắt phải trả của một nhà văn lưu đầy. Không thể viết nhưng Mộng-ngày bao năm trước về một tác phẩm lớn vẫn cứ vất vưởng như một ám ảnh khôn nguôi đối với nhà văn Mặc Đỗ.

                        Vào đời tràn háo hức
                        Tiếp theo liền dằng dặc ưu tư
                        Nhắm mắt còn ưu tư


Tìm chữ An trong Đạo Phật
            “Ngay từ thời đọc “Cạn Dòng” tôi đã buồn thấm thía trước viễn tượng sớm muộn sẽ thành sự thật và nông nỗi bất khả kháng trong thời thế toàn cầu hiện nay. Vinh và các bạn đang theo đuổi một cố gắng đúng, rất nhiều người khác tại các nước khác cũng theo đuổi những cố gắng khác với chung một mục đích cứu vãn đời sống trên mặt đất, khổ một nỗi loài người bây giờ quá ham tranh chấp đạp lên mọi lẽ phải. Sinh thời nhà tôi chúng tôi thường nhìn nhau, thu gọn mối sầu mênh mông vào một vòng nhỏ với cảm nghĩ: Tội nghiệp lũ con, cháu, chắt… sinh sau! Cũng như tôi, bất cứ độc giả nào đọc “Nghẽn Mạch” không thể không xúc động trước những sự thật đã hiển hiện sớm hơn cả viễn tượng lo lắng.” (Mặc Đỗ 06/04/2007)
            Dưới bức thư đánh máy, anh Mặc Đỗ có thêm một dòng tái bút viết tay:

            “Vinh có nghĩ tới trận chiến lớn sẽ có thể xảy ra và Việt Nam sẽ hứng chịu?

            Với một Biển Đông hiện đang ầm ầm dậy sóng hình như sắp chứng nghiệm cho lời tiên tri của anh. Mặc Đỗ luôn luôn nói tới chữ AN (viết hoa) trong đạo Phật. Cũng vẫn chữ “AN” trong một thư từ Austin, anh viết:

            “Cher Vinh, Năm nay Xuân từ Đồng Bằng Cửu Long không đem “AN” đến cho tôi. Đọc “Tìm về” trước Tết, cái arrière-goût dai dẳng từ trước cho đến sau Tết, không dứt. Tôi còn nhớ hồi nhỏ ở nhà khi có đám giỗ lớn, họp đông họ hàng, hay có một vài vị lớn tuổi, không hiểu dòng dõi với tiền nhân như thế nào nhưng đã được nghe truyền lại, kể thành tích chiến công Nam Tiến với những chi tiết… Mỗi lần Me tôi thường khóc và nói rằng, oán thù bao giờ rũ cho sạch được! Tết năm nay tôi cứ bị ám ảnh bởi nhận định bi thương đó… Bây giờ sắp tới thời không còn giấu bụi dưới thảm, càng buồn hơn. Nén buồn xuống chỉ còn mơ ước: Con người VN hồi tỉnh và biết nắm tay nhau cùng đối phó, và đối thoại.” (Mặc Đỗ, 18/02/2000)

* (Tìm Về là tên một chương sách Tìm Về Phương Đông, trong Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng, Nxb Văn Nghệ 2000)

            Ba nhà văn chủ lực trong nhóm Quan Điểm mà tôi được biết, phần cuối cuộc đời đều có khuynh hướng tìm về đạo Phật. Tuyết ngưu Vũ Khắc Khoan của Thành Cát Tư Hãn nơi xứ vạn hồ miệt mài với Đọc Kinh và nghe Kinh, để rồi “lâng lâng trong mù sương nơi ngưỡng cửa pháp hội, một mình.” [1917-1986], Tịnh Liên Nghiêm Xuân Hồng của Cách Mạng và Hành Động [1920-2000] sau 1975 tịnh tu, mang nặng suy tư từ những trang Kinh Lăng Nghiêm, viết sách Phật và giảng dạy Phật Pháp. Vũ Khắc Khoan và Nghiêm Xuân Hồng thì đã lần lượt ra đi trong sự thanh thoát và cả lặng lẽ tiếng kinh kệ. Mặc Đỗ thì sống quy ẩn từ bao năm như một hành giả không ngừng đi tìm một chữ AN trong đạo Phật.


ký hoạ chân dung Mặc Đỗ

Xướng Họa và Khai Bút
            “Hôm cuối năm, ông bạn già, anh Đoàn Thêm [nhóm Bách Khoa, tác giả Những Ngày Tháng Không Quên, ghi chú của người viết] làm bài thơ “Than già” gửi cho bạn già đọc. Bài thơ có năm vần rồi-trôi-nòi-thôi-hồi. Một bạn già khác họa lại, rồi lác đác nhiều bạn già khác cũng hoạ. Thấy anh em vui tôi cũng nhẩy vô, tuy trong đời đây là lần thứ hai tôi thử trò chơi nghĩ rằng chỉ dành cho các bậc túc nho. Nhảy vô thấy cũng thú giống như thú chơi mots croisés chẳng hạn… Tôi chép hai bài tặng Vinh đọc chơi làm quà cuối năm. Chơi trò xướng họa mới thấy cái thú vận dụng tiếng Việt, một vần có thể xoay chuyển qua nhiều nghĩa. Càng thú nữa là xướng họa không để đăng báo, thành danh”.” (Mặc Đỗ 11/01/1992)

                        Dư Sinh
                        Lời đẹp nghìn xưa đã dạy rồi
                        Đời người lãng đãng bóng mây trôi
                        Tham đeo đẳng không đành thoát
                        Muôn kiếp sinh sôi vẫn một nòi
                        Nợ nước tình nhà và sự nghiệp
                        Tuyết sương rồi cũng thế mà thôi
                        Sống thừa mới thấy thừa chi lắm
                        Lão giả chen nhau kiếm chỗ ngồi


                        Năm Mới
                        Đã đến thời thôi đếm tuổi rồi
                        Ngồi bên bờ cỏ để buông trôi
                        Cúi đầu cố học ngu không hết
                        Nghển cổ tầm sư lạc mất nòi
                        Tính sổ cuộc đời nhiều mực đỏ
                        Bài thua úp xuống xóa đi thôi
                        Cười xem thời vận mong Bùi Tín
                        Áo gấm về quê chẳng mấy hồi


            Phải nói là ngạc nhiên đến thú vị khi thấy một người theo Tây học như Mặc Đỗ, mới bước vào trường thơ xướng họa mà về vần và niêm luật, nhất là bài thứ hai Dư Sinh anh đã đạt được tới mức độ gần hoàn chỉnh.
            “Sáng mùng một tết Tây 2003, tỉnh dậy nằm suy ngẫm chợt nhớ tới những người Việt Nam lưu lạc khắp nơi”, anh Mặc Đỗ gửi tặng tôi bài thơ mới làm.

                        Khai bút
                        [Giao thừa lẻ hai vào lẻ ba]
                        Những khớp xương nghe đời phôi pha
                        Nhưng như xưa tấm lòng vẫn ấm
                        Tiễn đưa chào đón chén trà đậm
                        Cuộc tình trời đất dài thăm thẳm
                        Hai bàn tay khép mời nguyện ngắm
                        Theo nén nhang sợi khói bay cao
                        Những mối yêu nguyên vẹn thuở nào
                        Một mình bàu bạn không trăng sao
                        Tư bề không tiếng sóng dạt dào
                        Thời gian ngồi lại không chờ đợi
                        Buồn vui không cũ cũng không mới

                                                            Mặc Đỗ

Chuẩn bị một chuyến đi thanh thản
            Sau ngày Chị Mặc Đỗ mất, là một chấn thương lớn đối với anh, cả về tinh thần và sức khoẻ. Mối quan tâm lớn của anh là chuẩn bị cho riêng mình một chuyến đi thật nhẹ nhàng và thanh thản. Anh kể: “Tôi có một ông bạn Pháp 14 năm nuôi vợ ở tình trạng living death.” Năm 2006, anh đã tự tay viết một di chúc về sức khoẻ / Advance Medical Directives of Binh Do Quang, anh chia xẻ điều đó với tôi như một witness / nhân chứng ở xa, do tình thân và cũng có thể do nghề nghiệp y khoa của tôi. “Tôi viết directive bằng Pháp văn cho thật đúng. Nghĩ trước khi dịch ta Anh văn hợp với legalese.
            Anh viết về sự hiểu biết của anh đối với căn bệnh Alzheimer cùng những hậu quả do tiến trình căn bệnh trên người bệnh, gia đình và xã hội và với tất cả sáng suốt – như “một lão giả” chữ của Mặc Đỗ, anh đã thanh thản viết xuống giấy sự chọn lựa của anh:

            “Si j'amais j'attraperais ce mal Alzheimer, situation bien établie par mon docteur et d'autres spécialistes consultés, je demande que toute nourriture solide et liquide soit interrompue, nourriture ou d'autre substance donnée par quel moyen que ce soit. J'implore tous les membres de ma famille, toutes les autorités judiciares, administratives, religieuses, politiques, et autres, à ne pas s'opposer à ma décision et me laisser périr comme un vieil arbre aisiblement.”

            Chọn lựa của anh có thể là một tấm gương cho nhiều người, biết chấp nhận chu kỳ sinh diệt như lẽ tuần hoàn của trời đất, nó cũng cứu vãn cho một nền y tế Mỹ đang bị phá sản / bankrupt chỉ vì vẫn muốn duy trì lâu dài những cuộc sống thực vật / vegetative state hay living death, vẫn chữ của anh Mặc Đỗ.
            Năm 2015, đã chín năm sau ngày anh viết di chúc sức khỏe ấy, sáng nay từ nhà thương nơi tôi làm việc, rất vui mới được nói chuyện điện thoại khá lâu với anh (14/06/2015), vẫn là một nhà văn Mặc Đỗ giọng nói còn sang sảng và tinh thần thì rất ư là minh mẫn. Phải chăng một phần do gene, phần kia do một cuộc sống kỷ luật từ thời còn rất trẻ, sáng dậy sớm tập thể dục tắm nước lạnh và sống điều độ suốt những năm sau đó, có thời ở Sài Gòn anh đã chọn chế độ dinh dưỡng gạo lức muối mè, có lẽ vậy mà anh dễ dàng sống tới trăm tuổi, vẫn tự sinh hoạt độc lập với nguyên vẹn phẩm chất của cuộc sống. Một ngày nào đó mong còn xa, sự ra đi của anh theo quan điểm y khoa sẽ được coi như một cái chết tự nhiên / natural death, như một cây cổ thụ khô và tự héo dần – vẫn chữ của nhà văn Mặc Đỗ.


NGÔ THẾ VINH
Long Beach, 20/ 06/ 2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/vhnt062015-06202015114633.html
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #83 vào: 12/12/2017, 22:12:03 »
Luân vũ mùa đông

Một tuần lễ trôi qua với rất nhiều những sự kiện vui buồn, với Việt Nam và với cả thế giới. Trong lúc đó, đất trời cũng đang bước vào những ngày đầu tiên của mùa đông. Những chiếc que diêm cũng bắt đầu được đốt lên nhiều hơn để thổi bùng những đóm lửa sưởi ấm trong ngày đông giá. Có phải mùa đông sắp đến trong thành phố?

Cuối Thu

Mùa đông sắp đến…

                        “Mùa đông sắp đến trong thành phố
                        Buổi chiều trời lạnh
                        Heo may từng cơn gió bước chân về căn gác nhỏ
                        Nhìn xuống công viên
                        Ngồi xem lá úa trên đường vắng
                        Buổi chiều ngủ vùi
                        Cô đơn còn theo dấu những đêm dài nghe tiếng sầu
                        Thì thầm với nhau…”
                        (Mùa đông sắp đến trong thành phố)

            Sau một đêm thức dậy, chúng ta bỗng thấy những chiếc lá úa vàng cuối cùng trên cành cũng phải rơi theo cơn gió heo may đang tràn về. Ô cửa sổ không thể mở toang để có thể chào đón ánh nắng hiền hòa, se dịu của mùa thu. Những người hành khất không nhà cũng co ro hơn trong buổi chiều tắt nắng sớm. Những hàng cây dần dần trơ trụi lá tạo thành bức vẽ khô cằn trên bức tường thành phố. Bức vẽ ấy là dấu hiệu của một mùa đông nữa, sắp đến trong thành phố, như nhạc sĩ Đức Huy đã nói trong ca khúc của mình.
            Mùa đông, mùa cuối cùng trong một năm. Mùa tụ hội những trăn trở, băn khoăn, vui buồn khi thời gian đang chạm đến ngày cuối cùng của vòng quay 365 ngày. Lúc đó, trong cái cảm giác nôn nao đón chờ năm mới thì người ta cũng dễ say sưa với những giấc ngủ vùi mỗi sáng, cuộn tròn trong chiếc chăn ấm, mặc cho ngoài trời gió đông gõ cửa.
            Nếu mùa đông của Đức Huy là hình ảnh người thiếu nữ mang dáng vẻ cô đơn trong miền băng giá của buổi chiều lạnh cùng nỗi tương tư suốt những đêm dài cùng tiếng sầu, thì mùa đông của cố nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng là một bản tình ca cất lên cho một cuộc hẹn hò không tròn vẹn như lời đã hứa.

                        “Bài tình ca mùa đông anh hát giữa đêm lạnh giá
                        Tình còn mãi chờ mong thấp thoáng bóng em vợi xa
                        Hẹn hò sẽ vì nhau qua phong ba
                        Anh cố bước, đôi chân chậm quá!
                        Để rồi ta gặp nhau, mới biết em không đợi nữa
                        Trời lại thêm mùa đông, cho tuyết than trên đầu non
                        Kỷ niệm giăng ngập đêm nay trong mưa
                        Anh hứng nốt những giọt cuối mùa…”
                        (Bài tình ca mùa đông)

            Mùa đông về cùng với những kỷ niệm giăng ngập trong đêm mưa lạnh giá. Bên ngoài, tiếng nhạc đêm đông rả rích. Bên trong, là nỗi nhớ mỗi ngày mỗi đầy. Hình như mùa đông đã lạnh, nay càng thêm lạnh trong tiếng nhạc Tango giận hờn. Trầm Tử Thiêng đã chọn điệu Tango cho bài tình ca mùa đông của mình, khắc khoải càng thêm khắc khoải, cô đơn càng thêm cô đơn. Chỉ có thể là mùa đông mới có thể làm cho ông viết lên những giai điệu như thế.
            Nhưng rồi, cũng có những người yêu mùa đông, yêu cái lạnh giá, cho dù đó là mùa đông của chia ly, như cố nhạc sĩ Trần Thiện Thanh đã từng yêu một mùa đông như thế.

                        “Ngày nào anh yêu em, anh đã quen trong cay đắng tuyệt vời
                        Ngày nào em yêu anh, em hẳn quên với trời hạnh phúc mới
                        Em ơi Đông lại về từ trăm năm lạnh giá
                        Tim anh như ngừng thở, từ sau ân tình đó...
                        Em nghe không? Mùa đông, mùa đông
                        Ngày nào ta xa nhau, anh bước sâu trong vũng tối nhạt nhòa
                        Từng mùa đông theo qua, anh đã quen với đường đời băng giá
                        Xưa hôn em một lần, rồi đau thương tràn lấp
                        Anh yêu em một ngày và xa em trọn kiếp
                        Nên anh yêu mùa đông, nên anh yêu mùa đông, ôi Mùa Đông của anh…”
                        (Mùa đông của anh)


Mưa thu

Đêm đông và lữ khách
            Trong bốn mùa của đất trời, thì có lẽ mùa đông là mùa làm cho người ta dễ dàng thấy cô đơn nhất, cho dù đây cũng là một trong những mùa lễ hội lớn nhất và lãng mạn nhất trong năm, mùa Giáng Sinh, mùa của yêu thương và của những lời chúc tụng. Bất cứ người Việt Nam nào, mỗi khi nghĩ về mùa đông, thì hầu như người ta nghĩ ngay đến giai điệu trầm buồn, chậm chạp, lạnh lẽo của một đêm đông với lữ khách tha hương không nhà.

                        “Chiều chưa đi màn đêm rơi xuống
                        Đâu đấy buông lững lờ tiếng chuông
                        Đôi cánh chim bâng khuâng rã rời
                        Cùng mây xám về ngang lưng trời
                        Thời gian như ngừng trong tê tái
                        Cây trút lá cuốn theo chiều mây
                        Mưa giăng mắc nhớ nhung, tiêu điều
                        Sương thướt tha bay, ôi! đìu hiu…”
                        (Đêm đông)

            Trong lần trả lời phỏng vấn của nhà báo Lê Quang Thanh Tâm, danh ca Bạch Yến, hiện sống ở Pháp, là con dâu của GS. Trần Văn Khê kể rằng:

Tôi trình bày ca khúc này năm 1958, lúc đó tôi mới 16 tuổi. Thời ra đời của Đêm đông và Sơn nữ ca chỉ mới có các nhịp điệu fox trot, valse, tango, boston... Mãi sau năm 1950 mới có điệu slow rock. Đêm đông ngay từ lúc mới ra đời đã mang giai điệu tango. Chính tôi đã gặp nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, trao đổi và xin ý kiến đổi cách hát Đêm đông từ điệu tango sang điệu slow rock. Thật bất ngờ, khán giả hài lòng và giai điệu này được giữ cho đến bây giờ…

            Đêm đông được cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết khi ông đang học chuẩn bị thi tú tài ở Hà Nội năm 1939. Năm ấy, vì không có tiền, nên ông không thể về nhà ăn Tết cùng gia đình. Lang thang trên phố phường giữa cái lạnh mùa đông Hà Nội cho đến khi mệt nhoài, ông về phòng trọ của mình và cho ra đời ca khúc Đêm đông trong đêm đó.
            Những tư liệu về ca khúc nổi tiếng này đều nói rằng hình ảnh người ca nhi trong ca khúc chính là người ông đã nhìn thấy trong đêm ông đi lang thang giữa phố Hà Nội.
            Cho đến tận bây giờ, người ca nhi đối gương ôm sầu riêng bóng, và người thiếu phụ ngẩn ngơ mong chồng trong ca khúc này đã trở thành tiếng nói chung cho tâm tư của tất cả những người xa quê, mơ về một mái ấm, một gia đình, một quê hương xa vời vợi.
            Và cho dù đến khi họ đã dừng bước phiêu lãng, nhưng Đêm đông vẫn được nhắc đến như kỷ niệm của ngày tháng cũ, như câu chuyện của Trang, cô gái đã trải qua năm mùa đông ở Ottawa cách đây 10 năm.

Trước đây, và cả bây giờ, dù đã không còn sống xa gia đình, bạn bè, nhưng tôi vẫn còn thói quen nghe ca khúc này mỗi khi Giáng Sinh về, vào cuối năm. Ở Sài Gòn, mùa đông, và Giáng Sinh không lạnh như nơi tôi đã từng sống và học, trời chỉ hơi se lạnh. Nhưng cái lạnh đó cũng đủ để tôi cảm nhận hết sự cô đơn của tác giả khi viết lên ca khúc này. Tôi nghĩ, Đêm đông là ca khúc kinh điển của Việt Nam khi nói về mùa đông”.

            Như một vòng luân vũ, mùa đông này trôi qua, mùa đông khác sẽ đến. Xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa thay áo. Mỗi sớm mai thức dậy, chúng ta biết rằng một đêm đông đã trôi qua, và một ngày mai đang đến. Cho nên, dù đó có là cơn gió lạnh cắt da, nhưng đâu đó, vẫn sẽ luôn có những ngọn lửa ấm áp nuôi dưỡng nguồn khát vọng cháy bùng cùng ngày mới.


CÁT LINH
Tháng 11/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/dance-of-the-winter-11292015055605.html
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #84 vào: 14/12/2017, 22:52:27 »
“Tha La xóm đạo” và “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”

Trong chương trình Văn Hóa Nghệ Thuật kỳ này Mặc Lâm xin giới thiệu hai bài thơ rất nổi tiếng của hai nhà thơ Vũ Anh Khanh với bài “Tha La xóm đạo” và Kiên Giang Hà Huy Hà với bài “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”.

Nhà thờ Họ Đạo Tha La

CHO TỚI NAY thân thế của nhà văn Vũ Anh Khanh vẫn còn là một bí ẩn người ta chỉ biết ông tên thật là Võ Văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết. Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và các truyện ngắn như Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông… Tuy nhiên bài thơ “Tha La xóm đạo” mới làm cho rất nhiều người nhớ đến tên tuổi của ông mãi tận sau này.
            Xóm đạo Tha La nằm tại xã An Hòa, huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Xóm đạo này được thành lập vào khoảng năm 1863 nhờ sự cho phép và khuyến khích của người Pháp. Mặc dù họ đạo Tha La phát triển ngày một mạnh mẽ và vững vàng nhưng người Công giáo Tha La đã phản ứng khi thực dân Pháp ngày một lộ rõ dã tâm khống chế toàn bộ đất nước. Mùa Thu năm 1945 thanh niên Tha La tham gia phong trào kháng chiến ở đất Nam kỳ và trong chính thời điểm này, nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần thăm Tha La đã cảm tác tinh thần chống ngoại xâm ấy để bài thơ “Tha La xóm đạo” ra đời.
            Vũ Anh Khanh có lẽ là một nhà văn có cuộc đời ngắn ngủi và số phận hẩm hiu nhất trong các nghệ sĩ cùng thời. Ông không được cả hai chế độ miền Nam và miền Bắc thừa nhận tài năng vì các hoạt động chính trị phát xuất từ lòng yêu nước. Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc năm 1954, bị chính quyền miền Nam kết tội do đó suốt thời gian 1955-1975, tác phẩm của ông bị cấm không được tái bản, lưu hành, và ngay cả không có tên trong chương trình giáo dục như Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên…
            Bài thơ “Tha La xóm đạo” của Vũ Anh Khanh đi vào lòng người bao nhiêu năm qua phải nói là có sự đóng góp của hai nhạc sĩ Dũng Chinh và Sơn Thảo. Hai nhạc sĩ này đã phổ bài thơ thành hai ca khúc: “Tha La xóm đạo” và “Hận Tha La” khiến cho bài thơ lan rộng vào quần chúng.
             “Tha La xóm đạo” được nhạc sĩ Dũng Chinh, cũng là người Phan Thiết phổ nhạc vào năm 1964, sau đó một năm nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên “Hận Tha La” và cũng trong năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên “Vĩnh Biệt Tha La”.
            Ngoài ra soạn giả cải lương nổi tiếng Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên “Tha La xóm đạo”.
            Bài thơ “Tha La xóm đạo” còn lưu hành tới ngày nay ngoài giá trị nghệ thuật nó còn có tác dụng nhắc nhở cho cả dân tộc về những ngày đau buồn đó.

                                  Tha La xóm đạo
                        Đây Tha La xóm đạo
                        Có trái ngọt cây lành
                        Tôi về thăm một dạo
                        Giữa mùa nắng vàng hanh.

                        Ngậm ngùi Tha La bảo:
                        – Đây rừng xanh rừng xanh
                        Bụi đùn quanh ngõ vắng,
                        Khói đùn quanh nóc tranh.
                        Gió đùn quanh mây trắng,
                        Và lửa loạn xây thành.

                        – Viễn khách ơi!
                        Hãy dừng chân cho hỏi,
                        Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
                        Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
                        Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
                        Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
                        Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
                        Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
                        Ai đưa đón?

                        – Xin thưa, tôi lạc bước!
                        Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
                        Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!

                        Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
                        Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
                        Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
                        Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
                        Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.

                        Tha La hỏi:
                        – Khách buồn nơi đây vắng?

                        Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
                        – Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?

                        Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
                        Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
                        Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:

                        Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
                        Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
                        Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!

                        Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
                        Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
                        Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
                        Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
                        Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.

                        – Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
                        Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
                        Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
                        Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
                        Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.

                        – Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
                        Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
                        Nhẹ bảo chàng:
                        “Em chẳng biết gì ư?
                        Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
                        Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
                        Tha La vắng vì Tha La đã biết,
                        Thương giống nòi đau đất nước lầm than.”

                        Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng,
                        Ngày hiu quạnh. Ờ… ơ… hơ tiếng hát.
                        Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.

                        Tiếng hát rằng:
                        Tha La giận mùa thu,
                        Tha La hận quốc thù,
                        Tha La hờn quốc biến,
                        Tha La buồn tiếng kiếm,
                        Não nùng chưa!
                        Tha La nguyện hy sinh.

                        Ơ… ơ… hơ… có một đám chiên lành.
                        Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
                        Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:

                        Lạy Đức Thánh Cha!
                        Lạy Đức Thánh Mẹ!
                        Lạy Đức Thánh Thần!
                        Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
                        Rồi… cởi trả áo tu.
                        Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
                        Rồi… nhẹ bước trở về trần…

                        Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
                        Người hãy dừng chân.
                        Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
                        Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
                        Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
                        Vui gì đâu mà tâm sự?
                        Buồn làm chi mà bẽ bàng?

                        Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
                        Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
                        Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
                        Tha La thương người viễn khách đi thôi!

                        Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
                        Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
                        Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
                        Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:

                        – Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
                        Hãy về thăm xóm đạo
                        Có trái ngọt cây lành.
                        Tha La dâng ngàn hoa gạo,
                        Và suối mát rừng xanh.

                        Xem đám chiên lành thương áo trắng.
                        Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.



Thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà

CÓ THỂ cảm hứng từ khung cảnh của xóm đạo Tha La đã lan sang thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà vì thế vào năm 1958 ông đã cho ra đời bài thơ nổi tiếng khác đó là bài “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”. Bài thơ có nội dung của một chuyện tình dang dở lấy khung cảnh chiến tranh trong xóm đạo làm nền. Câu chuyện tình buồn này đã làm cho danh tiếng của nhà thơ Kiên Giang đi vào lòng người đọc mãi tới ngày nay.
            Kiên Giang Hà Huy Hà tên thật là Trương Khương Trinh, ông sinh năm 1927 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ông còn là soạn giả tuồng cải lương nổi tiếng qua nghệ danh Hà Huy Hà. Từ năm 1955 Kiên Giang Hà Huy Hà xuất hiện nhiều trên văn đàn Sài Gòn. Không những làm thơ, soạn tuồng cải lương ông còn là một ký giả kịch trường nổi tiếng cho các tờ báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng.
            Các tác phẩm cải lương của soạn giả Hà Huy Hà không thể quên là “Áo cưới trước cổng chùa”, “Người vợ không bao giờ cưới” rồi “Sơn Nữ Phà ca”… Chính tác phẩm “Người vợ không bao giờ cưới” đã đưa nữ nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải thưởng Thanh Tâm và từ đó Thanh Nga trở thành một ngôi sao trong giới nghệ sĩ cải lương.
             “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” ngay sau khi xuất hiện giới sinh viên học sinh của miền Nam trong thập niên 60-70 đã đón nhận bài thơ ngoài sự tưởng tượng của nhà xuất bản và của chính tác giả. “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được giới trẻ chuyền tay nhau và không ít người thuộc lòng bài thơ cho dù vài chục năm sau đó. Chất lãng mạn thường thấy của Thơ Mới, lồng trong bối cảnh chiến tranh tại miền Nam và dư âm của câu chuyện “Tha La xóm đạo” đã khiến bài thơ nổi lên như một nguồn cảm hứng mới cho thanh niên thời bấy giờ. Mời quý vị thưởng thức “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”:

                                    Hoa trắng thôi cài trên áo tím
                        Lâu quá không về thăm xóm đạo
                        từ ngày binh lửa cháy quê hương
                        khói bom che lấp vùng quê mẹ
                        che cả người thương nóc giáo đường
                        Mười năm trước em còn đi học
                        Áo tím điểm tô đời nữ sinh
                        Hoa trắng cài duyên trên áo tím
                        Em còn nguyên vẹn tuổi băng trinh.
                        Quen biết nhau qua tình lối xóm
                        cổng trường đối diện ngó lầu chuông
                        mỗi lần Chúa nhật em xem lễ
                        anh học bài ôn trước cổng trường.
                        Thuở ấy anh hiền và nhát quá!
                        Nép mình bên gác thánh lầu chuông
                        để nghe khe khẽ lời em nguyện
                        thơ thẩn chờ em trước giáo đường.
                        Mỗi lần tan lễ chuông ngừng đổ
                        Hai bóng cùng chung một lối về
                        E lệ… em cầu kinh nho nhỏ…
                        thẹn thùng… anh đứng lại không đi…

                        Sau mười năm lẻ anh thôi học
                        nức nở chuông trường buổi biệt ly
                        rộn rã từng hồi chuông xóm đạo
                        tiễn nàng áo tím bước vu quy.
                        Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
                        chiếc áo tang chôn mái tóc sầu
                        Hoa trắng thôi cài trên áo tím
                        giữ làm chi kỷ vật ban đầu.
                        Em lên xe cưới về quê chồng
                        Dù cách đò ngang cách mấy sông…
                        vẫn nhớ bóng vang thời áo tím
                        nên tình thơ ủ kín trong lòng.

                        Từ lúc giặc ruồng vô xóm đạo
                        Anh làm chiến sĩ giữ quê hương
                        giữ màu áo tím, cành hoa trắng
                        giữ cả trường xưa, nóc giáo đường
                        Giặc chiếm lầu chuông xây gác súng,
                        Súng gầm rung đổ gạch nhà thờ
                        Anh gom gạch nát xây tường lũy
                        chiếm lại lầu chuông, giết kẻ thù.

                        Nhưng rồi người bạn đồng sông ấy,
                        Đã chết hiên ngang dưới bóng cờ
                        Chuông đổ chiều hôm em nức nở…
                        tiễn anh ra khỏi cổng nhà thờ.
                        Hoa trắng thôi cài trên áo tím
                        Mà cài trên nếp áo quan tài
                        điểm tô công trận bằng hoa trắng
                        hoa tuổi học trò mãi thắm tươi.

                        Xe tang đã khuất nẻo đời
                        Chuông nhà thờ đổ khóc người ngàn thu
                        từ đây tóc rũ khăn sô
                        em cài hoa trắng lên mồ người xưa…


            Quý vị vừa theo dõi hai bài thơ “Tha La xóm đạo” của Vũ Anh Khanh và “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” của nhà thơ Kiên Giang. Trong không khí của mùa Giáng Sinh tiếng chuông nhà thờ báo hiệu sự ra đời của Chúa Hài Đồng trên mọi miền đất nước hy vọng rằng tất cả người Việt Nam sẽ không bao giờ gặp lại cảnh tàn phá của Tha La và các mối tình đẹp sẽ không còn dang dở như “Hoa trắng thôi cài trên áo tím”…


MẶC LÂM
Tháng 12/2011


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/read-poems-on-xmas-eve-12242011131439.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #85 vào: 19/12/2017, 19:01:32 »
Truyền thống Giáng sinh tại châu Âu

Ý nghĩa của mùa Giáng sinh rất khác nhau trong tâm niệm của người châu Âu. Đối với người Anh và người Đức, thì Noel trước hết là một Đêm Thánh. Còn theo phong tục của người Bulgari, lễ mừng Chúa giáng trần chỉ thực sự bắt đầu khi đồng hồ điểm 12 tiếng chuông nửa đêm 24.


TRUYỀN THỐNG Giáng sinh đối với người châu Âu trước hết là một dịp đoàn tụ gia đình, để mỗi người nói lên tình yêu của mình với những người thân với bạn bè, hàng xóm. Trong Liên Hiệp Châu Âu, truyền thống và phong tục đón mừng Noel của 27 nước thành viên có rất nhiều khác biệt.
            Khác biệt đầu tiên liên quan đến ngày lễ Giáng sinh: nếu như ở Pháp đỉnh điểm của mùa Noel là đêm 24 và ngày 25 tháng 12 kỷ niệm Chúa giáng trần thì ở phần lớn các nước Bắc Âu như Phần Lan, Thụy Điển… ngày 13 tháng 12 tức lễ thánh Lucie, nữ thánh đem lại ánh sáng cho muôn loài, được coi như là lễ chính.
            Đúng ngày 13, người Phần Lan bầu ra một nữ thánh Lucie. Mặc áo đầm trắng, đội vương miện bằng đèn nến, nữ thánh Lucie này có trọng trách đem ánh sáng, niềm vui và hy vọng đến cho những người thiếu may mắn, cho người già yếu, bệnh tật.
            Còn đối với con trẻ ở những quốc gia như Bỉ hay Đức, Áo thì lễ thánh Nicolas 6 tháng 12 được coi là một ngày đặc biệt, vì thánh Nicolas là người đem quà tặng cho những đứa bé ngoan suốt cả năm.
            Tại Tây Ban Nha mùa Giáng sinh kéo dài cho đến hết ngày 6 tháng Giêng, khi Ba Vua tìm đến được hang đá Bêlem và người đem quà đến cho trẻ con không phải là ông già áo đỏ, râu tóc trắng như tuyết như ở Pháp mà lại chính là ba vua Melchior, Balthazar và Gaspard.
            Ý nghĩa của mùa Giáng sinh cũng rất khác nhau trong tâm niệm của người châu Âu. Đối với người Anh và người Đức, thì Noel trước hết là một Đêm Thánh và quan trọng hơn cả là Thánh lễ nửa đêm. Còn theo phong tục của người Bulgari, lễ mừng Chúa giáng trần chỉ thực sự bắt đầu khi đồng hồ điểm 12 tiếng chuông nửa đêm 24, và Giáng sinh còn là mùa để cho những đôi trai gái đến tuổi lập gia đình tìm đến với nhau.
            Người Đan Mạch xem mùa Giáng sinh như một chiếc “bánh xe” lăn tròn từ năm cũ sang năm mới. Noel là lễ hội của mặt trời, của ánh sáng, gieo mầm cho sự sống và hạnh phúc. Vì thế mỗi gia đình đều phải đốt một khúc gỗ sồi để giữ được ngọn “lửa thiêng”.



Phong tục “hang đá sống” ở Ý
            Về tập tục dựng hang đá, ôn lại chuyện xưa mừng Chúa hài đồng, nên biết rằng hang đá đầu tiên của nhân loại đã xuất hiện trên đất Ý. Theo truyền thống thì người Ý dựng hang đá 9 ngày trước đêm Thánh, và một nét đặc thù khác nữa là truyền thống dựng hang đá sống đã trở thành rất phổ biến trên toàn quốc.
            Thông tín viên Huê Đăng từ Roma cho biết thêm về tập tục đặc biệt này của người dân Ý:


            “Ở Ý hàng năm, cứ vào khoảng cuối tuần đầu của tháng Giêng, rất nhiều làng mạc hay thành phố có tục lệ tổ chức “hang đá sống”.
            Đó là cảnh dàn dựng lại Hang đá Bêlem. Theo truyền thuyết công giáo thì Đức Chúa sinh ra trong một hang đá nhỏ, nơi máng cỏ của các mục đồng chăn chiên tại thành Bêlem.
            Gọi là “hang đá sống” bởi vì trong dịp này các nhân vật trong truyền thuyết đều được tái diễn bằng người thật: người thì đóng vai Thánh Joseph, dưỡng phụ của Đức Chúa, người thì thủ vai Đức Mẹ Đồng Trinh Maria. Cả hai quỳ bên một cái máng rơm trong đó người ta để một đứa bé sơ sinh đóng vai Đức Chúa mới ra đời. Chung quanh máng rơm có ba người sắc phục uy nghiêm thủ vai Ba Vua mang theo châu báu ngọc ngà, trầm hương loại quý giá đến để dâng tặng Đức Chúa. Chung quanh là các thiên thần ca hát. Trong hang đá sống người ta còn để chung quanh những chú lừa, chiên và trâu bò để làm sống lại cảnh Chúa ra đời trong hang đá bên máng lừa.
            Không chỉ dừng lại cảnh tái dựng của hang đá nơi Chúa giáng trần, nhân dịp này người ta còn dàn dựng lại nguyên cảnh của một góc thành phố Bêlem với những cửa tiệm thủ công thời đó: tiệm làm nông cụ, tiệm làm giày, quầy bán tơ lụa, quầy bán hàng hóa thực phẩm và những trẻ chăn chiên dẫn thú đi quanh làng... tất cả với những nhân vật vận theo trang phục thời đó.
            Để làm sống động thêm truyền thuyết, có người được thủ vai làm quan chức hay lính La Mã vì theo lịch sử thì ở vào thời điểm Đức Chúa ra đời vùng đất Bêlem thuộc quyền cai trị của đế quốc La Mã.
            Đây cũng là những dịp để các làng mạc hay thành phố thi đua nhau xem nơi nào tổ chức “hang đá sống” hay nhất. Du khách các nơi cũng đổ xô về dự các buổi lễ hang đá sống này.
            Người ta kể rằng “hang đá sống” đầu tiên là do sáng kiến của ông Thánh San Francesco D’Assisi, một nhà chân tu sinh năm 1182 ở vùng Umbria (Trung Ý), và là người lập ra dòng tu Francescano, một dòng tu khổ hạnh với mục tiêu đi làm nhiệm vụ tông đồ.
            Năm 1223, trên đường đi hành đạo, khi đến làng Greccio dưới chân núi Lacerone (thuộc thành phố Rieti, Trung Ý), San Francesco muốn làm sống lại hình ảnh Giáng sinh của Chúa Hài Đồng nên nẩy ra sáng kiến dàn dựng lại trong một hang đá cảnh Giáng sinh với những con người thật đóng vai Thánh Giuse, Đức Mẹ Đồng Trinh Maria, máng cỏ với Chúa Hài Đồng và Ba Vua với các thiên thần cùng các thú vật như lừa, chiên vây quanh máng đồng.
            Từ đó, cứ hàng năm đến mùa Giáng sinh là người ta dàn dựng hang đá với cảnh Đức Chúa ra đời.
            Theo đúng tục lệ, hang đá được lập lên vào ngày lễ Thánh San Nicola (khoảng 5 hay 6 tháng 12), nhưng lúc đó thì máng đồng để trống cho đến đêm 25 là đêm Giáng sinh thì mới có tượng Chúa Hài Đồng trong máng cỏ.
            Trong khi đó, vẫn theo truyền thuyết, thì có Ba Vua biết tin Chúa giáng trần, nhưng không biết ở đâu, may nhờ có một vì sao sáng dẫn đường, Ba Vua cứ theo ánh sao và mãi đến ngày 6 tháng giêng Ba Vua mới đến được hang đá, dâng lên Chúa Hài Đồng châu báu ngọc ngà trầm hương quý giá.
            Đấy cũng là lý do vì sao mãi khi ra Giêng, ăn Tết xong rồi người ta mới tổ chức tục làm “hang đá sống”, bời vì lúc đó mới có Chúa Hài Đồng và có đủ Ba Vua”.



Giáng sinh Hungary và vị vua lập quốc
            Noel là lễ trọng đại nhất trong năm của Hungary và người dân xứ này tỏ ra rất mê tín trong công việc sửa soạn bữa tiệc Giáng sinh.
            Thông tín viên Hoàng Nguyễn từ Hungary cho biết thêm về tập tục đặc biệt ở nước này:


            “Mùa Giáng sinh với ngày lễ chính vào 24-25/12 hàng năm luôn là dịp lễ quan trọng nhất đối với người dân Hungary, một đất nước có chừng 75% cư dân theo Kitô giáo. Đặc biệt, nó gắn liền với tên tuổi István Đệ nhất, vị vua lập quốc của nước này, “lưỡng thánh” của cả hai giáo hội Công giáo và Chính thống giáo.
            Noel có lẽ là ngày lễ cổ xưa nhất của Hungary vì nó có cùng niên đại với sự ra đời của quốc gia Hung. Vốn là một dân tộc mang tính du mục nay đây mai đó, sau những cuộc di cư vĩ đại từ Châu Á sang vùng Đông Âu, vào năm 896, các bộ lạc Hung cắt máu ăn thề dừng lại và định cư tại mảnh đất nay gọi là Hungary.
            Tuy nhiên, phải tới mốc thời gian 01/01/1001, khi István Đệ nhất được nhận chiếc “vương miện thiêng liêng” từ Đức Giáo hoàng Sylvester Đệ nhị và đăng quang như vị vua đầu tiên, đồng thời cũng là người sáng lập Giáo hội Công giáo Hungary, thì Giáng sinh mới trở thành ngày lễ chính thức ở nước này, trước hết là đối với các tín hữu Công giáo.
            Giáng sinh ở đâu trên thế giới cũng mang những đặc điểm và tập tục chung, như tặng quà gửi thiếp cho bạn bè, người thương, trang trí cây thông Noel, dọn dẹp trang hoàng cửa nhà, đi lễ nhà thờ, v.v... Bên cạnh đó, Hungary có thêm một số phong tục ít nhiều khác biệt và khá đặc sắc, được duy trì từ đời này qua đời khác và bảo tồn tới ngày nay.
            Như đã biết, ở các nước, Mùa vọng (Advent) được khởi đầu từ ngày Chủ nhật bốn tuần trước ngày lễ cho đến ngày 24 tháng 12. được coi là khoảng thời gian để ăn chay, cầu nguyện và tĩnh tại tinh thần trước lễ Giáng sinh. Nhưng tại Hungary, có thể coi mùa Giáng sinh còn kéo dài tới ngày mồng 1 năm mới, với tên gọi Tiểu Giáng sinh, để phân biệt với Đại Giáng sinh vào 25/12.
            Tất nhiên, điểm sáng của cả mùa Noel tại Hungary là dịp Lễ thánh Giáng sinh, tổ chức vào đêm 24 (lễ vọng), hoặc trong ngày 25/12 (lễ chính ngày). Các gia đình Hung bao giờ cũng tập trung vào tối 24, Đêm Thánh vô cùng.

Bàn tiệc của người Hungary
            Theo truyền thống, trong ngày 24/12, các gia đình Hung vẫn ăn chay và bữa chay tối hết sức được coi trọng với các món táo, hạnh nhân, mật và tỏi, kèm xúp đậu nấu với bơ nhưng không có thịt. Về sau, khi những tập tục chay không còn quá bó buộc, thêm món cá hoặc bắp cải nhồi thịt được đặt lên bàn tiệc.
            Tập tục Hungary cho rằng bàn tiệc Noel đóng vai trò rất quan trọng trong dịp lễ, việc trang trí bàn và trình tự các món ăn phải được tuân thủ một cách ngặt nghèo. Những món ăn trong lễ Giáng sinh được coi là có sức mạnh kỳ diệu và huyền bí.
            Trước đây, tại Hungary, chiếc khăn trải bàn trong dịp Giáng sinh được dùng để gói hạt ngũ cốc đề chờ gieo hạt vào mùa xuân với niềm tin là sẽ được mùa màng bội thu. Cụ thể, sau khi trải khăn ra bàn, các bà nội trợ đặt hạt ngũ cốc lên trên, rồi đem cho gia cầm ăn để chúng đẻ nhiều trứng.
            Ngoài ra, rơm thì được đặt dưới bàn để tưởng nhớ sự tích Chúa Giêsu ra đời trong máng cỏ. Sau đó, rơm này được đặt trong chuồng gia súc đề chúng khỏe mạnh, chống được bệnh tật và hay ăn chóng lớn. Rơm cũng còn được buộc lên cây ăn quả để có nhiều trái ngọt.
            Bữa tối 24/12 bắt đầu khi sao Hôm hiện trên bầu trời. Bà chủ nhà, sau khi bày biện các món ăn lên bàn, sẽ không được rời bàn trong suốt bữa ăn để lũ gà để được nhiều trứng. Hơn thế nữa, cả gia đình sẽ phải đứng ăn từ đầu đến cuối. Bánh mì, bánh kalács (làm từ bột, sữa, bơ và rồi đan xoắn vào nhau và nướng trong lò) được đặt nguyên lên bàn tiệc với hy vọng năm mới sẽ no đủ.
            Mùa chay kết thúc vào đêm 24/12 nên trong bữa trưa và bữa tối Giáng sinh 25/12, thịt và cá đã xuất hiện. Theo tập tục dân gian, dân Hung thích thịt lợn quay trong ngày lễ vì lợn được coi là biểu tượng của sự no đủ, sung túc, trong khi gia cầm thì bị coi là trì trệ vì luôn vẫy cánh về phía sau và như thế, hạnh phúc sẽ bay đi.
            Tuy nhiên, truyền thống này những năm gần đây không còn được tuân thủ: ảnh hưởng của Âu-Mỹ, nhiều người dân Hung cũng ăn đùi vịt rán, hoặc gà tây bỏ lò, bên cạnh món xúp cá “quốc hồn quốc túy” (halászlé), niềm tự hào của nghệ thuật ẩm thực Hungary.
            Cho đến nay, trong lễ Giáng sinh, rất nhiều người dân Hung vẫn ưa ăn các loại đỗ, đậu, đậu ván, hạt anh túc... là những loại ngũ cốc được coi là mang lại tiền tài, tài lộc. Bên cạnh đó, táo được xem như biểu hiện của sự mật thiết, gắn bó giữa các thành viên trong gia đình.
            Sau các bữa ăn, chủ gia đình đếm xem có bao nhiêu thành viên thì bổ táo theo đúng từng ấy miếng. Mỗi người nhận được một lát với hy vọng trong năm mới, cả gia đình sẽ gắn bó với nhau như trái táo tròn, các thành viên sẽ tìm lại được nhau và tìm được đường về gia đình, dù có lang bạt nơi đâu đi nữa.
            Tất nhiên, Giáng sinh không chỉ là ngày hội ẩm thực. Phong tục Noel quan trọng bậc nhất tại Hungary – tới nay vẫn được diễn ở rất nhiều nơi – là một trò trơi được trẻ em rất thích thú, khi các em diễn lại sự tích Chúa Giêsu chào đời tại Bethlehem, thoạt tiên diễn trong nhà thờ, sau đó đến từng gia đình trong làng. Sau khi diễn trò, các em sẽ được gia chủ thết đãi và trao quà tặng”.

            Cám ơn Hoàng Nguyễn và Huê Đăng, chúc các anh cùng quý quyến một đêm Noel thật đầm ấm và thật hạnh phúc.


HUÊ ĐĂNG, HOÀNG NGUYỄN & THANH HÀ
Tháng 12/2012


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20121223-truyen-thong-giang-sinh-tai-chau-au

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #86 vào: 21/12/2017, 22:32:55 »
Nguồn gốc tập tục Cây thông Noël

“Mon beau sapin, Roi des forêts…”, cứ mỗi dịp Noel về lời bài hát này do ông Ernst Anschütz, một người Đức sáng tác năm 1824 như lại văng vẳng bên tai. Noel đến người dân Pháp cũng như những nước theo truyền thống Kitô giáo đều hối hả tìm chọn một gốc thông đẹp nhất để bày ở góc nhà hay cạnh lò sưởi bập bùng ánh lửa. Trẻ nhỏ lại xúm xít phấn khởi tô điểm cho cây thông thật trang hoàng lộng lẫy, và mong đợi những món quà Noel bất ngờ dưới bóng cây thông. Những hình ảnh đó khiến ta chợt hỏi: Cây thông Noel có tự bao giờ và từ đâu mà đến?



Truyền thống có từ đâu?
            Giống như hầu hết các biểu tượng Lễ Giáng Sinh, cây thông có nguồn gốc từ các tôn giáo ngoại đạo cách nay từ 2.000-1.200 năm trước Kitô giáo mừng ngày chí đông, ngày ngắn nhất trong năm. Thời kỳ đế chế La Mã, ngày 25 tháng 12 – vốn tương ứng với ngày đông chí – còn là ngày lễ thần Mặt Trời Sol Invictus.
            Ngày lễ này diễn ra trước tuần lễ Saturnalia, tôn vinh Saturne, vị thần nông nghiệp. Thời gian này là dịp để mọi người tặng quà nhau. Điều này hầu như không đáng ngạc nhiên, ngay cả ngày Chúa Giê-su Giáng Sinh cũng đã được chọn theo cách như thế để mà xen kẽ với các ngày lễ đông chí ngoại giáo.
            Vào thời đó, người La Mã cũng trang trí nhà cửa bằng các nhánh thông trong dịp lễ này. Với các xứ Bắc Âu, tại một số dân tộc người Đức và Scandinavia (Bắc Âu), đây còn là mùa lễ hội Yule, cũng mừng mùa đông chí. Theo thần thoại Bắc Âu, khi đêm xuống, thần Heimdall đến thăm từng nhà và để lại một món quà cho nhà nào đã hành xử tốt trong năm.
            Trong tất cả những ngày lễ đó, việc sử dụng các cây thường xanh như là các yếu tố trang trí là muôn thuở. Còn gì mang tính biểu tượng hơn bằng những cây xanh có gai vào giữa mùa đông lạnh giá để mừng sự trở lại ngày dài và mùa xuân? Hơn nữa, biểu tượng của cây như hình ảnh của sự sống và tái sinh cũng đã được phổ biến rộng rãi từ xa xưa và cũng không lạ lẫm gì đối với Kitô giáo.
            Hình ảnh đó làm cho người ta nghĩ đến “cây sự sống” trong vườn Ê-đen, cách biểu đạt ẩn dụ thông thường về chiếc thập giá của đấng Giê-su. Thế nhưng, để biến tập tục này thành một truyền thống của Kitô giáo, Giáo Hội từ lâu đã phải chống lại các tín ngưỡng tôn thờ cây cối.
            Chuyện kể rằng vào thế kỷ VII, Thánh Boniface xứ Mainz, “sứ đồ của người Đức” muốn thuyết phục các đạo sĩ người Giec-ma-ni rằng “cây sồi thần Thor” không phải là một cây thiêng, nên đã cho đốn hạ một cây trước sự chứng kiến của họ. Những người ngoại đạo đó sau này đã nhanh chóng cải đạo khi nhận thấy rằng thần Sấm Sét Thor đã không có phản ứng tức thì ngay sau vụ việc.




Người Công Giáo lấy lại tập tục này từ khi nào?
            Người ta cho rằng tập tục này được người Công giáo sử dụng lại lần đầu là nhờ Thánh Colomban, một tu sĩ người Ailen vốn dĩ đã đi du hành rất nhiều tại Gallia. Một đêm Giáng Sinh, có lẽ ông ấy đã lên đỉnh núi cùng với một vài tu sĩ tu viện Luxeuil, do ông dựng nên dưới chân dãy núi Vosges năm 590.
            Tại đây, họ đã tìm thấy một cây thông cổ thụ, vật tôn thờ của một ngoại đạo. Theo quan điểm của người Celts, cây vân sam (một họ thông) được ví như là “cây sinh sản”. Tương truyền rằng Colomban và những người đồng hành dường như đã treo đèn lồng của họ lên các cành cây nhằm tạo thành một cây thánh giá tỏa sáng. Thế nhưng cho đến giờ câu chuyện này vẫn chỉ mang tính huyền thoại vì chưa có một tài liệu nào thời kỳ đó chứng minh sự việc.
            Theo giải thích của kênh truyền hình KTO, tập tục cây thông Noel dường như đã có tại châu Âu vào thế kỷ XI, nhưng xuất hiện một cách chính thức là vào thế kỷ XVI.

            Mãi đến thế kỷ XI, Giáo Hội vốn ngờ vực các tập tục ngoại giáo nên đã quyết định Kitô hóa tục cây thông Noel. Đây là lý do giải thích bí ẩn vì sao trong những vở kịch tôn giáo được diễn trong các nhà thờ mùa Noel, người ta đều thấy xuất hiện một cây nặng trĩu quả, được đặt ngay giữa sàn diễn, biểu tượng cho thiên đường.
            Nhưng trên thực tế, tập tục cây thông Noel xuất hiện chính thức tại châu Âu vào năm 1546. Còn ở Pháp, chính tại vùng Alsace, người ta tìm thấy dấu vết đầu tiên, nhất là khi thành phố Selestat cho phép chặt cây trong mùa Noel”.


            Báo Công Giáo La Croix trong một số ra đầu tháng 12/2017 cho biết bản ghi chép sổ sách kế toán của thành phố Selestat năm 1521 còn lưu lại rằng: “Bốn đồng silinh (tiền Áo) cho người gác rừng để bảo vệ “mais” kể từ ngày Thánh Thomas (bắt đầu từ ngày 21/12)”. Đó là những khoản chi cho người bảo vệ rừng hòng ngăn chặn nạn chặt phá thô bạo các cây “mais” (trong tiếng Thụy Sĩ cổ gọi là cây lễ hội).
            Với chính quyền thành phố Selestat ngày nay, không còn cách diễn giải nào khác: “Nếu như thành phố Selestat phải bảo vệ rừng qua việc dự phòng một khoản chi như vậy, điều đó có thể là việc trang trí một cây thông vào thời điểm này của năm là khá phổ biến và là một phần của tập tục”.
            Thành phố Riga, thủ đô của Latvia cũng chính thức tự nhận là nơi xuất phát tập tục cây thông Noel. Truyền thống này rất có thể do một phường buôn du nhập vào Latvia năm 1510. Mục đích ban đầu là dùng để đốt cho ngày chí đông, nhưng cuối cùng cây thông đã được giữ lại, trang trí và dựng tại khu chợ của thành phố để mừng Noel. Ngày nay vẫn còn một tấm đá lát đánh dấu vị trí.




Nghệ thuật trang trí bắt nguồn từ đâu?
            Nói đến cây thông Noel mà không thể không nói đến nghệ thuật trang trí. Cây thông Noel mà chúng ta biết đến ngày nay là kết quả của một sự hòa trộn kế thừa từ những phong tục ngoại đạo và những điều thần bí công giáo.
            Thuở sơ khai, vào thời kỳ trước Công Nguyên, người Celts mừng sự hồi sinh của Mặt Trời bằng việc trang trí cây vân sam, biểu tượng của sự sống. Họ treo trên cành cây các loại hoa quả, lúa mì để cúng tế các vị thần.
            Cùng với thời gian, sự phát triển mạnh mẽ của Công giáo, những thay đổi của khoa học-kỹ thuật, mà tập tục trang trí cây thông cũng có những biến đổi theo cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển xã hội.
            Vào thế kỷ XI, biểu tượng của cây thiên đường được trang hoàng bằng các loại mứt kẹo, các loại bánh và những quả táo đỏ, ám chỉ đến những trái cấm trong vườn Eden và Eva. Thế nhưng, theo ông Fréderic Picard, phóng viên tờ Le Figaro, phải đợi đến thế kỷ XVI, cây thông mới được thắp sáng lần đầu:

            “Theo tương truyền, ông Martin Luther bị lóa mắt trước vẻ đẹp của cây thông phủ đầy tuyết. Những chiếc cành xanh lá phản chiếu ánh sao lấp lánh. Và ông tạo dựng lại hình ảnh này bằng cách để những ngọn nến trên cây thông của mình”.

            Tập tục này được tiếp tục phát triển mạnh vào thế kỷ XVII. Cây thông Noel thời kỳ này được tháp sáng bằng những chiếc vỏ sò đầy ắp dầu. Đèn điện xuất hiện cũng đã làm thay đổi triệt để nghệ thuật trang trí cây thông. Dây đèn điện trang trí đầu tiên lần đầu ra mắt là tại Hoa Kỳ, năm 1882, do một người bạn của Thomas Edison, một nhà phát minh và thương gia nổi tiếng của Mỹ lúc bấy giờ.
            Thế còn những quả cầu Noel thì sao? Theo lời kể của Frédéric Picard, quả cầu trang trí Noel đầu tiên được chế tạo vào năm 1858 tại Moselle của Pháp một cách tình cờ.

            “Một mùa hè khô hạn và một mùa đông khắc nghiệt đã làm cho mùa thu hoạch táo dùng để treo cây thông theo truyền thống bị mất mùa. May mắn thay, một người thổi thủy tinh đã nảy ra sáng kiến thay thế trái cây bằng những quả cầu bằng thủy tinh”.

            Giờ đây, được trang trí bằng muôn ngàn ánh đèn mà cây thông Noel đã trở thành một phong tục được cả thế giới đi theo và chia sẻ. Có lẽ không có gì hạnh phúc bằng trong đêm Noel giá lạnh, dưới gốc thông xanh lấp lánh ánh đèn, bên bếp sưởi hồng, cả nhà quây quần hòa chung tiếng hát: “Chúc Mừng Giáng Sinh”.


MINH ANH
Tháng 12/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171220-nguon-goc-tap-tuc-cay-thong-noel
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #87 vào: 26/12/2017, 23:50:31 »
Đêm Thánh Vô Cùng

CÁT LINH và toàn ban Việt ngữ đài RFA xin dành tạp chí ngày hôm nay để gửi đến quí vị những ca khúc bất hủ của mùa Giáng Sinh. Kính chúc quí vị một mùa Noel an bình và hạnh phúc.

Đêm Giáng Sinh

                      “Một mùa giáng sinh an lành và một mùa tuyết ôm cây cành
                        Một trời trắng bao la tình một nỗi sống vui hồi sinh
                        Mừng ngày Chúa sinh ra đời người người đó đây vui cười
                        Và người sẽ không buồn nữa ta mong giáng sinh như mong ơn lành…”

            Cứ như một lời hẹn hò đã được giao ước trước, sau ngày lễ Tạ Ơn, khi những giai điệu rộn rã này vang lên cùng với đợt không khí lạnh ùa về trong băng tuyết, thì người ta biết rằng, mùa lễ hội cuối cùng trong năm đã đến, mùa chúc tụng, mùa ban phước ơn lành, mùa của những bài Thánh ca, của Đêm Thánh vô cùng.

                      “Đêm thánh vô cùng
                        Giây phút tưng bừng
                        Đất với trời se chữ Đồng
                        Đêm nay Chúa con thần thánh tôn thờ…”
                        (Đêm thánh vô cùng)

            Cũng chính từ bài hát này, mà sau đó, một giai điệu sâu lắng trầm buồn được ra đời vào năm 1972, trở thành một trong những ca khúc nổi tiếng về Giáng Sinh của nền âm nhạc Việt Nam. Đó là Bài Thánh ca buồn, của nhạc sĩ Nguyễn Vũ.

                      “Bài thánh ca đó còn nhớ không em
                        Noel năm nào chúng mình có nhau
                        Long lanh sao trời đẹp thêm môi mắt
                        Áo trắng em bay tựa cánh thiên thần
                        Đẹp môi hôn dưới tháp chuông ngân…”
                        (Bài thánh ca buồn)

            Giai điệu buồn bã cùng với ca từ lại nói lên tâm trạng hoài niệm, ray rứt về một cuộc tình đã rất xa. Cho nên tuy là nhạc có chủ đề Giáng Sinh, nhưng nhạc phẩm này lại chất chứa nhiều những tục lụy của trần thế. Cũng có giáo đường, cũng có thánh ca, cũng có tiếng chuông ngân, nhưng bao trùm lên đó là một tình yêu dưới thế. Và có vẻ như bài ca này dành riêng cho những ai có hoài niệm về một tình yêu đã có và đã mất trong đêm Giáng Sinh lạnh giá.


Thánh đường La vang Quảng Trị, 1931

            Giáng Sinh là tên gọi có nguồn gốc từ tiếng Latinh, chữ Natalis, có nghĩa là “ngày sinh ra đời”. Theo nhiều tài liệu của người Kito giáo, một thế kỷ trước kỷ nguyên Thiên Chúa, đã có một buổi lễ được tổ chức vào ngày 25 tháng 12, gọi là lễ tôn thờ Mirthra, vị thần ánh sáng của người Ba Tư. Cho đến thế kỷ II, tại La Mã, giáo hội Thiên Chúa đã chọn ngày 25 tháng 12 làm ngày sinh của Chúa Jesus. Những tín hữu Kito giáo tin là Chúa Jesus được sinh ra tại Bethlehem thuộc xứ Judea của nước Do Thái.

                      “Đêm đông, lạnh lẽo Chúa sinh ra đời
                        Chúa sinh ra đời nằm trong hang đá nơi máng lừa
                        Trong hang Bêlem, ánh sáng tỏa lan tưng bừng
                        Nghe trên không trung tiếng hát thiên thần vang lừng
                        Đàn hát, réo rắt tiếng hát, xướng ca, dư âm vang xa
                        Đây Chúa thiên tòa giáng sinh vì ta
                        Người hỡi, hãy kịp bước tới, đến xem, nơi hang Bêlem
                        Ôi Chúa giáng sinh khó khăn thấp hèn…”
                        (Hang Belem)

            Nếu tính đến năm nay thì ca khúc Hang Belem đã tròn 70 tuổi kể từ khi nhạc sư Hải Linh sáng tác đúng vào mùa Giáng Sinh năm 1945. Từ đó đến nay, ca khúc bất hủ này luôn vang lên trong những đêm thánh, như ngọn lửa sưởi ấm thắp sáng lòng tin của những con chiên ngoan đạo vào Thiên Chúa. Nhưng nào có phải chỉ thế thôi, có những người ngoại đạo, vẫn lắng nghe và tìm đến “Hang Belem” như tìm đến niềm tin vĩnh cữu trong cõi trần thế.
            Kể từ thời Phục hưng cho đến sau này, ngày Lễ Giáng Sinh đã không còn chỉ là của riêng những người Thiên Chúa giáo. Giáng sinh đã trở thành ngày lễ quốc tế, ngày lễ của gia đình. Mọi người thuộc các thế hệ tề tựu về bên cạnh nhau, thể hiện tình yêu thương cho nhau theo cách của họ. Trẻ con sẽ là những thiên thần lên ngôi trong mùa lễ hội này. Những thiên thần ấy sẽ đi vào giấc ngủ cùng với hình ảnh ông già tuyết leo vào từ ống khói, đặt vào trong chiếc vớ len màu đỏ món quà mà chúng mong đợi nhất và hát vang bài hát vui tươi Jingle Bells, một thông điệp của mùa lễ Giáng sinh.


Hang Belem

            Rất thú vị là ca khúc nổi tiếng này có tên gọi ban đầu là One Horse Open Sleigh, được sáng tác năm 1840 dành cho ngày lễ Tạ Ơn. Nhưng sau đó, đã trở thành ca khúc chủ đề Giáng Sinh nổi tiếng nhất và có ảnh hưởng rộng lớn nhất. Jingle bell đã được dịch ra hằng trăm ngôn ngữ trên thế giới, trong đó có tiếng Việt là ca khúc Chuông vang vang do nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện dịch lời.

                      “Chuông vang vang, chuông vang vang
                        Chuông giáo đường ấm cúng
                        Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh
                        Tiếng dây chuông chạy nhanh
                        Chuông ngân ngân, chuông ngân ngân
                        Chuông giáo đường ấm cúng
                        Chuông thanh thanh, chuông thanh thanh
                        Ôi tiếng chuông trong tim mình…”
                        (Chuông vang vang)

            Thế giới có Jingle Bell rộn rã vang lên khi mùa Giáng Sinh về, thì Việt Nam chào đón mùa lễ hội này với những giai điệu du dương, nhẹ nhàng như chính dòng chảy của dân tộc.

                      “Cao cung lên khúc nhạc thiên thần Chúa
                        Hòa trong làn gió nhè nhẹ vấn vương
                        Ôi linh thiêng lắng nghe thoang thoảng cung đàn
                        Một đêm khuya vang vẳng trong tuyết sương
                        Đàn ơi cứ rung những điệu réo rắt
                        Hát khen con một Chúa Trời, rày sinh xuống cõi đời
                        Hỡi người dương thế lặng nghe cung đàn
                        Mau tìm cho tới thờ kính vua giáng trần…”
                        (Cao cung lên)

            Cao Cung Lên, tác phẩm đầu tiên của nhạc sỹ Hoài Đức tức Linh Mục Giuse Lê Đức Triệu và Linh mục Nguyễn Khắc Xuyên sáng tác năm 1945. Đây là bài hát được được coi là một trong những bài Thánh ca Giáng sinh bất hủ của Việt Nam.
            Có lẽ do người sáng tác là một linh mục, cho nên từng nốt nhạc trầm bổng của ca khúc này nghe như một bài thánh ca, ca từ và giai điệu trong vắt như dòng nước thánh. Tiếng ngân vang vọng trong đêm khuya, đánh thức người dương thế, báo cho biết tin rằng Người đã xuống cõi đời, này thế nhân hãy cùng tôn kính, cùng hòa vào đêm thánh để đón nhận ơn lành.
            Đất nước và dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao mùa Giáng Sinh trong chinh chiến. Cho đến tận bây giờ, cứ mỗi mùa Noel về, người ta vẫn còn gửi cho nhau những tấm ảnh của người lính chiến, quỳ bên những thánh đường đổ nát. Những tấm ảnh qua bao năm tháng vẫn còn vang vọng tiếng nguyện cầu bình an, cầu xin cho quê hương ngừng tiếng súng.

                      “Có ai về miền quê lửa khói cho tôi nhắn vài câu
                        Cách xa lâu rồi không biết em còn giận hờn anh nữa thôi
                        Chuyện ngày xưa hai đứa thương nhau trong đêm nhiều sao sáng
                        Dưới lầu chuông anh khắc tên nhau chung trong lời khấn xin chan chứa niềm tin…”
                        (Bóng nhỏ giáo đường)

            Bóng nhỏ giáo đường của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông luôn được nhắc đến mỗi khi tiết trời trở lạnh cuối năm, báo hiệu mùa Giáng Sinh đang về. Tác giả là một người lính, nên hơn ai hết, ông hiểu rõ cảm giác lạnh lẽo, cô đơn của người lính trận xa nhà trong đêm thánh. Tình yêu Thiên Chúa và tình yêu trong thời chiến được khắc sâu trong ngôi giáo đường đổ nát.
            Mỗi chúng ta ai cũng có những kỷ niệm rất riêng của mỗi mùa Giáng Sinh. Dù vui, hay buồn, dù là người ngoại đạo hay là con chiên của Chúa thì đêm thánh mãi mãi là một đêm huyền diệu, lấp lánh muôn màu những ước mơ và niềm tin bất tử. Đêm thánh vô cùng!!!


CÁT LINH
Tháng 12/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/seasons-greeting-12252015102503.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #88 vào: 28/12/2017, 12:24:13 »
Nhận diện lại Nam Phong tạp chí

NAM PHONG TẠP CHÍ tồn tại qua 17 năm (1917-1934) với hơn 210 số, song dấu ấn của nó vang mãi, đến 100 năm sau vẫn còn nhiều giá trị được ghi nhận thêm cũng như cần đánh giá lại.
      Từ lúc ra đời, Nam Phong đã khiến tầng lớp nhà văn, trí thức ở Việt Nam say sưa theo dõi. Người ta có thể học được trên mặt báo nền văn minh phương Đông, văn minh Pháp, tư tưởng nước Nhật, Tàu, và âm hưởng thi phú Hán ngữ đầy sinh khí thời cuộc. Giới phê bình đánh giá Nam Phong như một bách khoa toàn thư, giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm; các nhà biên tập của Nam Phong là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.
      Chủ bút Phạm Quỳnh – một tấm lòng yêu nước, yêu dân nồng nàn và sâu sắc. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây, qua Nam Phong tạp chí, cụ Phạm đã nêu cao tinh thần gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước, đồng thời xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.
      Chuyên đề 100 năm Nam Phong tạp chí, qua góc nhìn chuyên sâu của các nhà nghiên cứu ở Huế và Hà Nội, Sông Hương hầu mong độc giả có được cái nhìn đầy đủ, xác thực hơn về nhà văn hóa kiệt xuất Phạm Quỳnh và tờ tạp chí đã không dễ dàng đứng vững trong thời kỳ biến động của đất nước; trong đó người chủ bút như vị thuyền trưởng đã chèo lái con thuyền ấy.





“Ở các nước văn minh tiên tiến thì văn học đều có trước báo chí,
mà ở nước ta thì chính lại nhờ báo chí xây dựng nền văn học.”
(1)
                                                          (Thiếu Sơn)

1.– Số đầu Nam Phong tạp chí ra ngày 1/7/1917, tính đến nay đã tròn 100 năm. Đây là tờ báo bách khoa nguyệt san, khổ 19×27,5cm, gồm hai phần: chữ Quốc ngữ và chữ Hán, mỗi phần có khoảng từ sáu mươi đến bảy mươi trang. Bắt đầu từ năm 1923 trở về sau, tạp chí có thêm phần phụ trương bằng chữ Pháp và từ số 195, ra ngày 1/5/1934, Nam Phong chuyển thành bán nguyệt san, nhưng chỉ tồn tại đến cuối năm thì đình bản. Louis Marty, Giám đốc Phòng An ninh chính trị của phủ Toàn quyền Đông Dương là người đứng ra sáng lập tạp chí, Phạm Quỳnh (hàn lâm viện trước tác) làm chủ bút phần chữ Quốc ngữ, Nguyễn Bá Trác (hàn lâm viện thị giảng) làm chủ bút phần chữ Hán và ông Lê Văn Phúc, chủ nhà in Đông Kinh làm quản lý kiêm luôn việc phát hành báo. Tòa soạn đóng tại số 80 phố Hàng Gai, Hà Nội. Qua 17 năm tồn tại, nhân sự của ban biên tập cũng có sự vận động thay đổi: Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Trác, Dương Bá Trạc, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Hữu Tiến, Phan Khôi, Tản Đà, Hoàng Tích Chu, Nguyễn Mạnh Bổng (1917-1922); Phạm Quỳnh, Lê Dư (phụ trách phần chữ Hán thay cho Nguyễn Bá Trác), Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Triệu Luật, Hoàng Ngọc Phách, Trần Trọng Kim, Phạm Duy Tốn, Vũ Đình Long (1922-1925), Nguyễn Trọng Thuật (thay Phạm Quỳnh), Lê Dư, Nguyễn Hữu Tiến, Bùi Kỷ, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam, và một số văn nhân thi sĩ phương Nam như Đông Hồ, Mộng Tuyết, Nguyễn Văn Kiêm, Trúc Hà (1925-1932); Nguyễn Tiến Lãng, Lê Văn Phúc, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Đôn Phục, Đỗ Đình Thạch (1932-1934).
            Nam Phong được thành lập theo “chủ thuyết” của Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut, một người đã từng làm báo, từng là biên tập viên thường trực cho tờ La Depêche du Midi ở Toulouse, hiểu rất rõ về sức mạnh của báo chí, nên mục tiêu của tờ báo là quá rõ ràng, là nhằm “cung cấp cho giai cấp sĩ phu và trí thức An Nam những bài chính xác ngỏ hầu họ quan niệm được cái vai trò của người Pháp trên thế giới về phương diện văn hóa, khoa học và kinh tế. Tạp chí mới này, lấy tên là Nam Phong, sẽ đăng những bài phân tích chính xác về những tác phẩm khoa học và văn chương hay nhất, tiểu sử những nhà bác học danh tiếng của chúng ta, những sự mô tả đẹp đẽ về nước Pháp, những bài phiên dịch những truyện ngắn hay tiểu thuyết… Ngay sau khi phát hành, tạp chí này đã hoàn toàn thành công trong giới độc giả trí thức mà nó muốn chinh phục và nhóm người nầy lần đầu tiên đã tìm thấy được một cái gì tương đương với những sách vở mà họ đã gửi mua từ bên Tàu trước đây”.(2) Ngay cả việc in câu nói của Tổng thống Mỹ Roosevelt lên trang bìa của tạp chí, cũng cho thấy dụng ý chính trị của thực dân: “Có đồng đẳng mới bình đẳng được”. Câu nói như một lời đề từ, vừa khuyến dụ, vừa có ý chê bai trình độ văn minh thấp kém của người An Nam. Cái tên Nam Phong bắt nguồn từ bài cổ thi của Trung Hoa dưới thời vua Thuấn (2.255 năm TCN) với cái nghĩa là ngọn gió khai hóa, cải tạo xứ An Nam.
            Ngoài mục tiêu ca ngợi người Pháp, phổ biến nền văn minh Pháp, A. Sarraut và L. Marty còn muốn dùng Nam Phong cách ly sự ảnh hưởng của người Trung Hoa đối với nước ta, đồng thời chống lại sự tuyên truyền, nói xấu của người Đức đối với người Pháp ở các nước thuộc địa, khi ở bìa sau của tạp chí có in hình “rồng Nam phun lửa diệt Đức tặc”. Louis Marty cũng đã từng thừa nhận rằng: “Tờ báo này nay tên là Nam Phong, viết bằng chữ quốc ngữ và chữ Nho, nhằm mục đích gieo rắc một cách khéo léo và sâu đậm ảnh hưởng của nước Pháp vào giới sĩ phu ở khắp ba kỳ, kể luôn các tỉnh Trung Hoa giáp giới Bắc Kỳ”.(3) Vì vậy, hàng tháng chính phủ thuộc địa đã trợ cấp cho tạp chí 400 đồng, nhằm hỗ trợ chi phí cho tòa soạn và ấn loát (4, tr. 211).

2.– Về nội dung, những số đầu Nam Phong gồm có tám mục: luận thuyết, văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, văn tuyển, tạp trở, thời đàm và cuối cùng là tiểu thuyết. Về sau, tạp chí có thêm những mục như tùng đàm, hài văn kỷ yếu, tồn danh thần lục, yếu lược về kinh tế. Nhưng làm nên hồn cốt, diện mạo đặc sắc và khẳng định vị trí của Nam Phong là các chuyên mục văn học, triết học và khoa học. Về triết học, tạp chí chủ trương truyền bá tư tưởng triết học của phương Tây, nhằm cải biến nhận thức truyền thống của người Việt thoát khỏi ảnh hưởng tư tưởng triết học Nho giáo, dịch và đăng những công trình triết học của Déscartes, Bergson, Voltaire, Julessimon, J. Rousseau, Montesquieu… (Chẳng hạn, Phạm Quỳnh dịch và giới thiệu học thuyết của Voltaire in trên số 114, hoặc Thượng Chi (bút danh của Phạm Quỳnh) dịch thuyết Tự do luận của Julessimon in trên số 121). Ngay trong Mấy lời nói đầu in ở số đầu tiên, ra ngày 1/7/1917, chủ bút Phạm Quỳnh đã nói rõ: “Trong những bài bình luận về triết học, chúng tôi lấy cái chiết trung chủ nghĩa làm cốt, nghĩa là không thiên về một học thuyết nào, cái nào hay cũng thâu nhặt lấy. Nhưng cái tôn chỉ của chúng tôi là giúp cho sự tiến bộ của quốc dân về đường tri thức, về đường đạo đức, thì tất khuynh hướng về cái “duy tâm chủ nghĩa” hơn là cái “duy kỹ chủ nghĩa”. Vậy về đường tư tưởng, chúng tôi thiên trọng cái triết học của nước Pháp, vì cái triết học Pháp thực là gồm cả bấy nhiêu cái khuynh hướng “duy tâm”, “duy tha” mà thực tế đáng làm mẫu cho cái lý tưởng mới của ta”. Về văn học, tạp chí dịch và giới thiệu văn học Hy La, các tác giả văn học Pháp như thơ của Charles Pierre Baudelaire, truyện ngắn của Guy de Maupassant… Văn học trong nước được giới thiệu ở mục văn tuyển, chọn đăng thơ của các tác giả thành danh trong quá khứ (Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Khóc quan thượng thư Vân Đình Dương Khuê, Đùa ông bạn điếc của Nguyễn Khuyến…), thơ của các tác giả đương thời (Đông Dương tổng ca của Tôn Thất Pháp, Chơi chùa Ngũ Hành, Tới Ải Vân không gặp bạn của Trần Hữu Giương…), hoặc văn xuôi, mà chủ yếu là truyện ngắn (Lòng yêu nước của Mân-Châu Nguyễn Mạnh Bổng, Đồng tiền nói chuyện của Điếu Hoàng…) Về khoa học, tạp chí giới thiệu những phát minh/kiến thức mới mẻ của phương Tây, như bài viết về kỹ thuật đóng tàu ngầm của kỹ sư người Pháp Laubeuf, bài Tâm lý học – định lệ của cảm giác (Nguyễn Triệu Luật dịch), hoặc các bài viết về khoa học thường thức như Mấy lời về phép vệ sinh (Phan Khôi dịch), Bệnh lao có chữa được không của Phạm Quỳnh, Cái hại thuốc lá của Mã Nhân… Nhìn chung, nội dung tạp chí đã đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống của con người, xứng đáng với sự tôn vinh là bách khoa tạp chí đương thời. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Muốn hiểu biết những vấn đề tôn giáo hay văn học, những thơ văn Việt Nam từ xưa cho đến thế kỷ thứ XIX, để hiểu hơn lịch sử hay cuộc đời của những nhân vật lịch sử Việt Nam, những vấn đề chính trị hay xã hội Âu châu… chúng ta chỉ cần đọc theo dõi tạp chí này. Chỉ cần đọc tạp chí Nam Phong cũng có thể mở mang kiến thức được”. (5, tr. 210)
            Về hình thức, tùy thuộc vào nội dung phản ánh và khuôn khổ của các chuyên mục mà các tác giả lựa chọn một thể tài để chuyển tải thông tin đến với người đọc, trong đó đáng chú ý là những bài bình luận hoặc những phản ánh có tính chất phóng sự, đã cung cấp một nội dung chuyên sâu về một vấn đề tư tưởng, văn hóa-xã hội. Tạp chí có đăng tải thể tài tin, nhưng thường nằm trong mục tạp trở hoặc thời đàm, phản ánh những sự kiện diễn ra trong tháng trước, về chính trị, văn hóa, ngoại giao của thế giới, mà chủ yếu là của nước Pháp. Về tin trong nước, tạp chí đăng tải những sự kiện liên quan đến các hoạt động và công việc của các chính khách Pháp ở nước ta và các quan lại triều Nguyễn. Tất nhiên, tin thời kỳ này còn hạn chế về kết cấu, thiếu sự cô đọng, súc tích, đôi khi tối nghĩa. Chẳng hạn, tin sau đây in trên số 19 (1919): “1 tháng 1 (năm 1919) – Điện Paris: Quan giám quốc Wilson từ Paris đi sang chơi bên Ý-đại-lợi (Italia) thăm vua Ý/ Tới thành Rome là kinh đô nước Ý, vua cùng hoàng hậu ra đón, nhân dân nghênh tiếp thật long trọng. Quan Wilson đến thăm điện Panthéon là nơi lăng tẩm các vua Ý. Ngài lại đến Capitole là thị sảnh thành Rome, dân tặng ngài chức công dân thành Rome. Ngài vào yết kiến đức Giáo Hoàng ở điện Vatican. Ngày 5 tháng 1 ngài từ Rome đi ra thành Gênes, quê ông Christophe Colomb là người đã tìm ra châu Mỹ trước nhất, năm 1692. Ngài mang một vòng hoa đến viếng mả ông, có đọc mấy lời, nhân dân nghe rất cảm động, có người muốn nắm lấy vạt áo, cầm lấy tay ngài mà hôn. Ngày 7 lại trở về Paris”. Bình luận là thể tài chiếm ưu thế trên tạp chí Nam Phong. Ít nhất có ba chuyên mục được đặt tên là bình luận: văn học bình luận, triết học bình luận, khoa học bình luận, và ngay cả các chuyên mục khác không gọi tên là bình luận, nhưng đều được viết dưới dạng bình luận: Tiếng dùng trong quốc văn (Nguyễn Văn Ngọc, số 19), Bàn về tiếng An Nam (Dương Quảng Hàm, số 22), Chữ Pháp có dùng quốc văn An Nam được không? (Thượng Chi, số 22), Đàn bà phương Đông (Nguyễn Đôn Phục, số 101)… Phần lớn những bài bình luận đều sử dụng phương pháp diễn dịch, chứ không phải quy nạp, nên thường diễn giải dài dòng, thiếu sự chặt chẽ trong kết cấu. Điều đáng chú ý là trên tạp chí này đã xuất hiện một số bài viết có tính chất phóng sự-du ký có giá trị bền vững, được coi là sự mở đầu cho phóng sự hiện đại trong quá trình hiện đại hóa nền văn học nước ta những năm đầu thế kỷ XX: Mười ngày ở Huế (Phạm Quỳnh), Cuộc chơi trăng sông Nhuệ (Mai Khuê), hoặc các phóng sự dài kỳ Một tháng ở Nam Kỳ (Phạm Quỳnh), Hạn mạn du ký (Nguyễn Bá Trác)…

3.– Như đã nói, Nam Phong ra đời với mục tiêu chính trị rõ ràng nhưng, các nhà biên tập của nó là những nhà văn hóa, đã nỗ lực xây dựng tờ báo trở nên một cơ quan ngôn luận có tầm ảnh hưởng và có đóng góp hết sức quan trọng trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong quá trình hiện đại hóa văn học và ngôn ngữ.
            Đương thời, nhà phê bình văn học Thiếu Sơn từng cho rằng, “có những kẻ không hiểu biết gì về văn chương Pháp và Trung Hoa, nhưng với tạp chí Nam Phong họ có thể có được một trình độ tri thức cần thiết cho cuộc sống hằng ngày. Những học giả chỉ cần đọc tạp chí này cũng có được một kiến thức rộng rãi. Và trong khi đọc tờ Nam Phong người ta cũng có thể học hỏi được nền văn hóa phương Đông” (6, tr. 176). Đăng tải những tác phẩm văn học nước ngoài, không chỉ dừng lại ở việc giới thiệu thành tựu, đánh thức và vun đắp thị hiếu và năng lực thẩm mỹ, mà còn mở ra môi trường giao lưu văn hóa, tiếp thu và phát triển các yếu tố văn hóa hiện đại. Những thành tựu nổi bật của nền văn học Pháp thế kỷ XIX lần đầu tiên được giới thiệu với độc giả nước ta, với nhiều trường phái, nhiều trào lưu, nhiều hệ thống quan niệm. Chỉ tính riêng tiểu thuyết, Nam Phong đã trình chánh nhiều tác giả tiêu biểu của văn học Pháp như Alfred Victor de Vigny, Henry Bordeaux, Paul Bourget, bên cạnh tiểu thuyết chương hồi của Trung Hoa, như Tuyết hồng lệ sử, Song phượng kỳ duyên, Lục mẫu đơn, Phong kiếm xuân thu… Về văn học trong nước, Nam Phong ủng hộ và tạo điều kiện cho nhiều khuynh hướng mới trong văn học ra đời và khẳng định vị trí trong lịch sử văn học nước ta. Những tác phẩm văn xuôi được coi là mở đầu cho dòng văn học hiện thực phê phán ở nước ta, đều xuất hiện trên tạp chí này: Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn (in số 18/1918), Câu chuyện một tối của người tân hôn của Nguyễn Bá Học (in số116/1920) hoặc bài thơ Khuê phụ thán của Thượng Tân Thị làm thay lời vợ vua Thành Thái thương nhớ đến chồng (vua Thành Thái) con (vua Duy Tân) bị chính quyền thực dân đày sang châu Phi (in số 112/1919)… Là sự tiếp tục và thay thế cho Đông Dương tạp chí đã bị tàn lụi và “thay tên đổi họ”, nhưng Nam Phong còn làm được nhiều hơn thế, có tầm ảnh hưởng trong đời sống tinh thần tư tưởng, văn hóa-văn học cả nước, nơi thu hút và qui tụ nhiều học giả, nhiều gương mặt văn hóa của đất nước. Cũng chính từ văn học, đã thúc đẩy ý nghĩa văn hóa lấn át mục tiêu chính trị, mà nhà đương cục đề ra ban đầu làm mục tiêu cho tạp chí.
            Cố nhiên, ở một mức độ nào đó, Nam Phong vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi lối văn biền ngẫu, lối đặt câu bốn chữ, sáu chữ hoặc sử dụng quá nhiều điển tích, điển cố, trộn lẫn với những câu văn Pháp chưa thuần thục, không phù hợp với tư duy người Việt. Những hạn chế tất yếu này không làm che lấp tầm ảnh hưởng sâu rộng của Nam Phong trong đời sống văn học của đất nước, bởi lẽ, “trong khoảng 17 năm tạp chí Nam Phong đã xây dựng nên một nền văn học căn bản và vững chắc cho văn chương chữ quốc ngữ, bằng những bài báo hay, những bài khảo cứu văn học mà những nhà văn, những nhà trí thức Việt Nam ở Bắc Kỳ cũng như ở Nam Kỳ lúc bấy giờ đã say sưa theo dõi” (7, tr. 120).
            Về ngôn ngữ, trong quá trình hoàn thiện chữ quốc ngữ, Nam Phong đã góp phần “làm giàu thêm ngôn ngữ nước nhà bằng cách đặt nhiều danh từ mới có liên quan đến triết học, khoa học bằng cách mượn chữ Hán làm hoàn hảo tiếng Việt trong dịch thuật và diễn tả những tư tưởng và học thuyết triết học” (8, tr. 97). Quan trọng hơn, những con chữ từ tạp chí đã trở nên sinh động và ngày càng thấm sâu trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt.
            Bên cạnh tạp chí Nam Phong, ban biên tập còn thành lập nhà xuất bản Nam Phong tùng thư, cho in sách nhằm cung cấp tài liệu cần thiết giúp cho việc học chữ quốc ngữ được dễ dàng. Trong tạp chí Nam Phong, số 114 (1927), có nêu rõ mục đích của việc làm này: “Chữ quốc ngữ ngày nay đã phổ thông khắp trong nước, có thể dùng để làm cái lợi khí để truyền bá cái sự học trong nhân gian. Kể sách quốc ngữ gần đây xuất bản cũng nhiều, nhưng ngoài những sách giáo khoa để dùng trong các trường sơ học, phần nhiều là những sách thơ văn, tiểu thuyết, tuy cũng có quyển có giá trị, bổ ích cho quốc văn, song vẫn là sách văn chương “chơi” không giúp gì cho việc truyền bá sự học. Mà việc này chính là cần cấp ngày nay/ Nho học mỗi ngày một tàn, Tây học dẫu có lấn tới mà ngôn ngữ bất đồng, văn tự sai biệt, cũng khó lòng phổ cập trong dân gian. Phổ cập tri thức trong nước ta gần đây có phần sút kém cũng là bởi cái lẽ đó. Vậy ngày nay thể tất phải dùng chữ quốc ngữ làm cái lợi khí để giới thiệu các học thuật tư tưởng Đông Tây cho phần nhiều quốc dân được biết, ngõ hầu giúp cho cái trình độ trí thức trong nước ngày một lên cao/ Bộ phận Nam Phong tùng thư này mở ra là muốn theo đòi cái mục đích đó/ Cái chí chúng tôi là muốn giúp cho phần nhiều người Việt Nam ta, không cần phải đọc sách Tây, chỉ biết chữ quốc ngữ cũng có thể thông hiểu được cái điều nghĩa lý làm gốc cho văn hóa đời xưa đời nay/ Chúng tôi ao ước rằng sau này người An Nam chỉ học bằng tiếng An Nam có thể trở nên được người thông hiểu, chỉ đọc bằng sách quốc ngữ cũng đủ bổ ích được cho trí khôn, ngày ấy thời sự khai hóa trong nước mới thật là có kết quả vậy.”



4.– Nói đến Nam Phong không thể không nhắc Phạm Quỳnh (1892-1945), người được coi là linh hồn của tờ báo. Ông quê ở Bình Giang, Hải Dương, nhưng sinh ra ở phố Hàng Trống, Hà Nội. Chín tháng sau khi sinh, mẹ ông lâm bệnh qua đời; chín năm sau, bố ông cũng đột ngột qua đời ngay tại phòng thi khi dự kỳ thi Hương năm 1901. Ông được ông bà nội nuôi, cho đi học tại trường tiểu học Pháp Việt, rồi trường trung học Bảo hộ (trường Bưởi), đỗ đầu kỳ thi Thành chung năm 16 tuổi (1908), về làm việc tại trường Viễn Đông Bác Cổ. Năm 1913, cộng tác với Đông Dương tạp chí, 1917 thành lập Nam Phong tạp chí, 1922 thành lập Hội Khai trí tiến đức, 1924 kiến nghị thành lập trường tiểu học học bằng tiếng Việt ở Đông Dương, từ 1924-1932 làm giảng sư khoa Văn chương và ngôn ngữ Hán Việt tại trường Cao đẳng Hà Nội, Hội trưởng Hội Trí tri Bắc Kỳ, 1932 Bảo Đại về nước làm vua, ông được cử chức Ngự tiền Văn phòng, rồi Thượng thư Bộ Học, sau đó là Thượng thư Bộ Lại, 1939 cùng vua Bảo Đại sang Pháp xin trả lại Bắc Kỳ như Hiệp ước 1884 nhưng không thành. Tháng 3/1945, Nhật đảo chánh Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim thành lập, ông xin rút lui. Sau Cách mạng tháng Tám, ông bị bắt và qua đời tại Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa Thiên Huế.
            Phạm Quỳnh là người đề xướng thuyết quân chủ lập hiến, một chủ trương lỗi thời trong tình hình nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, đó là sai lầm về chính trị. Nhưng đóng góp về văn học và báo chí của ông vào đầu thế kỷ XX thì không thể phủ nhận được. Là người am hiểu sâu rộng về nhiều lĩnh vực văn hóa Đông Tây: văn học, triết học, khoa học, tôn giáo, ngôn ngữ, phong tục, tập quán… được người đương thời suy tôn đứng đầu trong “tứ trụ” là bốn nhà văn hóa tiêu biểu của đất nước: Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố. Nói đến Phạm Quỳnh là nói đến trữ lượng văn hóa tích tụ từ Nam Phong. Nhà phê bình Vũ Ngọc Phan cho rằng: “Phạm Quỳnh có đủ khả năng để tranh luận thấu đáo và minh bạch bất cứ vấn đề nào: văn chương, triết học, tôn giáo, chính trị, xã hội. Trước khi đề cập đến một vấn đề, ông chịu khó nghiên cứu kỹ lưỡng. Nếu so sánh Nam Phong với các tạp chí xuất bản bên Pháp như Revue de Paris, Grande Revue, Mercure de France, Nouvelle Revue Françase, độc giả thấy các tạp chí Pháp cũng đề cập đến những vấn đề tương tự, nhưng không tờ nào chú ý đến vấn đề của Đông phương, thời xưa cũng như thời nay” (9, tr. 127). Vì vậy, trước hết với tầm nhìn văn hóa sâu rộng, Phạm Quỳnh có khả năng xóa dần các khoảng cách so le lịch sử, đưa nền báo chí non trẻ của nước ta ngang tầm với thế giới.
            Phạm Quỳnh là tác giả của một khối lượng đồ sộ với hàng trăm tác phẩm sáng tác, nghiên cứu, biên khảo và dịch thuật gồm nhiều lĩnh vực như triết học, văn hóa, lịch sử, địa lý, văn học, nghệ thuật, báo chí, trong đó có những tác phẩm chủ yếu như Văn minh luận, Lịch sử thế giới, Chính trị nước Pháp, Văn học sử Pháp, Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo về Truyện Kiều, Khảo về chữ quốc ngữ, Hán Việt văn tự… Về nghiên cứu lý thuyết văn chương, có thể coi Khảo về tiểu thuyết (in rải rác trên báo, mà chủ yếu là Nam Phong, từ năm 1922, in thành sách 1925) là công trình lý luận văn học đầu tiên của nước ta; các tác phẩm Mười ngày ở Huế, Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký là những phóng sự đầu tiên của văn học hiện đại. Sai lầm của ông là khi đề ra một học thuyết “Pháp Việt đề huề” và yên tâm với lý tưởng về một nền quân chủ lập hiến, mà “sự thực hiện lý thuyết này không ích lợi gì cho đồng bào, nó càng làm tổn thương cho văn nghiệp của ông. Bây giờ người ta không thấy hậu quả của việc làm ấy. Điều hiển nhiên là từ khi ông chủ nhiệm ra đi, ai nấy đều nhận rằng giá trị văn chương của Nam Phong trở nên sa sút”.(10) Tất nhiên, ông có sai lầm về chính trị, và sai lầm khi thiếu trách nhiệm với cả Nam Phong, nhưng không thể nói rằng ông không yêu nước, không có tinh thần tự tôn dân tộc, khi ông kêu gọi gìn giữ quốc hồn quốc túy, gìn giữ nền văn hóa lâu đời để phát triển đất nước. Năm 1922, khi phát biểu tại Ban Luân lý và chính trị Viện Hàn lâm Pháp, ông đã khẳng định nền văn hóa dân tộc với tất cả bầu nhiệt huyết: “Dân Việt Nam chúng tôi không thể ví như một tờ giấy trắng. Chúng tôi là một quyển sách dày đầy những chữ viết bằng một thứ mực không phai từ mấy mươi thế kỷ”. (11, tr. 683).
            Thời gian cứ trôi không ngừng nghỉ. Sừng sững trên nền vách của thời gian, những nguồn mạch nóng hổi nhiệt huyết của Phạm Quỳnh từ thuở Nam Phong vẫn còn tỏa bóng.


PHẠM PHÚ PHONG
(TCSH341/07-2017)

______________________________________________________________
(1), (6) Thiếu Sơn (1933), Phê bình và cảo luận, Nam Ký xuất bản, Hà Nội.
(2), (3) Louis Marty (1917), Phúc trình về tạp chí Nam Phong, ngày 22/8/1917.
(4), (7), (8) Huỳnh Văn Tòng (1973), Lịch sử báo chí Việt Nam – từ khởi thủy đến 1930, Trí Đăng xuất  bản, Sài Gòn.
(5), (9) Vũ Ngọc Phan (1960), Nhà văn hiện đại, Nxb. Khai Trí, Sài Gòn.
(10) Thiếu Sơn (1931), Phạm Quỳnh, báo Phụ nữ tân văn, số ra ngày 30/7.
(11) Dẫn theo Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.


http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p75/c163/n25771/Nhan-dien-lai-Nam-Phong-tap-chi.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #89 vào: 02/01/2018, 22:50:29 »
Bốn “huyền thoại” giúp sâm banh của Pháp nổi tiếng

Tiếng nổ vui tai khi bật nắp sâm banh trong lễ rót rượu tại tiệc cưới ngày càng trở nên phổ biến. Một buổi lễ khai trương triển lãm nghệ thuật hay để đánh dấu chiến thắng trong thể thao, đặc biệt là giải đua xe Công thức 1, luôn hoàn hảo hơn với tiếng bật nắp sâm banh và lớp bọt tràn trắng khỏi miệng chai. Sâm banh trở thành biểu tượng của thành công và không khí hội hè!

Rượu sâm banh của vùng Champagne, Pháp

SÂM BANH được sản xuất từ những giống nho trồng trên khu vực khoanh vùng và được bảo hộ ở vùng Champagne (đông bắc nước Pháp), nằm giữa hai thành phố Reims và Troyes. Theo giải thích với RFI của ông Jean-Baptiste Denisart, đồng sở hữu nhãn hiệu sâm banh André Robert, chỉ có rượu sản xuất ở trong khu vực này mới được mang tên “Champagne” (Sâm banh):

            “Chúng tôi may mắn nằm trong khu vực được bảo hộ. Chúng tôi có 33.000 ha được xếp hạng “Tên gọi được bảo hộ nguồn gốc” (Appelation d’Origine Protégée, A.O.P.). Và chỉ những người làm việc và những cánh đồng nho nằm trong khu vực này mới có thể nhận được A.O.P. Champagne. Sản phẩm của chúng tôi được bảo vệ và không sản phẩm nào có thể được gọi là “Sâm banh” nếu như không được làm ở vùng Champagne”.

            Ruộng nho nhà sản xuất André Robert nằm ở Mesnil-sur-Orge, phía Bờ Trắng, nổi tiếng với loại nho trắng “chardonnay”. Cùng với loại nho đỏ “pinot noir” và nho đen “pinot meunier”, đây là một trong ba loại nho chính làm nên danh tiếng của sâm banh. Ngoài ra, niên hiệu (millésime) cũng là dấu hiệu cho thấy giá trị của rượu. Nho được thu hoạch vào năm được cho là tốt sẽ được cất và xử lý riêng. Loại rượu không ghi năm thường là tổng hợp từ các giống nho và năm thu hoạch của mỗi nhà: đây cũng chính là nền tảng và danh tiếng của mỗi nhà sản xuất.
            Vậy những yếu tố nào đã giúp loại rượu vang bình dị, có nguồn gốc từ một vùng trồng nho bình thường, lại trở thành đồ uống nổi tiếng trong các sự kiện trọng đại? Trên trang The Conversation, giáo sư marketing Joonas Rokka, trường Thương Mại Lyon, phân tích bốn “huyền thoại” giúp sâm banh nổi tiếng: nguồn gốc, thước đo giàu sang, lòng tự hào dân tộc và tính hiện đại.

Huyền thoại về nguồn gốc
            Trước đây, vùng Champagne nổi tiếng về nghề bán len hơn là sản xuất rượu, vì đất ở đây có vẻ không thích hợp để làm rượu vang ngon. Do vậy, những thùng rượu đầu tiên được sản xuất chỉ dành làm quà tặng cho khách mua len.
            Chất lượng sâm banh dần được cải thiện nhờ các tu sĩ dòng thánh Benedicto (Biển Đức) để gây quỹ cho các nhà dòng. Nhưng họ không phải là người “phát minh” ra sâm banh như nhiều người vẫn nghĩ. Sau này, tu sĩ Pierre “Dom” Pérignon (1635-1713), quản lý một tu viện ở thành phố Reims, được lưu danh là “huyền thoại về nguồn gốc” do chất lượng rượu mà tu viện sản xuất, thường được gọi dưới tên “vang Pérignon”. Sở hữu tu viện từ giữa thế kỷ XIX, Nhà Moët & Chandon đã đưa ra dòng rượu đặc biệt Dom Pérignon vào năm 1936. Từ đó, rượu Dom Pérignon nổi tiếng trên khắp thế giới.
            Sâm banh chỉ thật sự phát triển khi các nhà sản xuất len vùng Champagne nhận được nhiều đơn đặt hàng rượu hơn là len từ phía khách hàng. Với họ, đó là cơ hội để thoát khỏi ngành công nghiệp len với loại sản phẩm mang lại nhiều lợi nhuận hơn và có tương lai hơn.


Rượu sâm banh của Nhà Moët

Huyền thoại về giàu sang quyền quý
            Sâm banh còn là biểu tượng của sự giàu sang quyền quý, là một mặt hàng xa xỉ… và điều này đến cũng rất tình cờ.
            Năm 496, vua Clovis của người Francs (tức người Pháp thời xưa) được rửa tội tại thánh đường Reims. Sau này, theo truyền thống, kinh thành Reims trở thành nơi đăng quang của hầu hết các vị vua Pháp. Dĩ nhiên, sau mỗi buổi lễ là bữa tiệc linh đình và khách mời thưởng thức sâm banh của địa phương. Từ đó, sâm banh được coi là đồ uống hội hè, chỉ một bộ phận thượng lưu mới được thưởng thức.
            Biểu tượng giàu sang của sâm banh còn được khẳng định nhờ vị vua giàu nhất nước Pháp, Louis XIV. Sau lần đầu tiên thử sâm banh vào năm 16 tuổi ở nhà thờ Reims, vị vua Mặt Trời đã gắn liền sâm banh với những khát vọng của ông: thời trang, uy quyền và xa hoa.
            Ngành công nghiệp rượu có thêm lực đẩy mới nhờ một sắc lệnh của vua Louis XIV. Lần đầu tiên, sâm banh – và chỉ duy nhất loại rượu này – được phép vận chuyển trong chai thuỷ tinh thay vì chứa trong các thùng phuy bằng gỗ. Trong những năm 1660, sâm banh sủi bọt đã xuất hiện ở Anh Quốc, nhờ hầu tước Saint-Evremond xuất thân từ vùng Champagne nhưng sống ở Luân Đôn.
            Trả lời RFI, chị Fanny Heucq, chủ một cửa hàng rượu ở khu Saint-Michel, Paris, cho biết chính người Anh đã nghĩ ra hình thức đóng chai kiểu mới này:

             “Đó là một loại rượu vang được người Anh mua rất nhiều. Chính họ đã yêu cầu đóng rượu vào chai vì khi vượt biển Manche, rượu trong thùng lớn thường bị sóng sánh và thỉnh thoảng khi tầu cập cảng trễ, đó không còn là rượu nữa mà giống như dấm vậy. Sâm banh ra đời từ đó. Mỗi khi mở nắp chai, người ta nghe thấy tiếng “pop”, có nghĩa là rượu đã lên men và chính điều này khiến người Anh thích thú”.

            Từ luật mới của vua Louis XIV, bao bì đóng gói rượu được thiết kế trau chuốt hơn và được in hình của người nổi tiếng để quảng cáo, như hoàng hậu Marie-Antoinette, Jeanne d’Arc, sĩ quan của đoàn quân thắng trận, các nhà quý tộc, nghệ sĩ… Các nhà sản xuất sâm banh nhanh chóng hiểu được lợi ích của kỹ thuật xây dựng hình ảnh để tăng thêm tiếng tăm cho thương hiệu và để kích thích đam mê của một bộ phận khách hàng ngày càng đông và giàu có hơn.


Mùa hái nho ở Champagne: 17 vùng phía đông nước Pháp trồng nho để sản xuất rượu Champagne

Huyền thoại quốc gia
            Cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789 đánh dấu chấm hết cho sự liên kết giữa sâm banh với giới quý tộc giàu có. Chính cuộc cách mạng cũng là nguồn gốc của huyền thoại thứ ba, và có lẽ là huyền thoại thế lực nhất, khi liên hệ chặt chẽ sâm banh với “linh hồn” và giá trị của nền Cộng hòa mới của Pháp. Theo Voltaire, chai “sâm banh là hình ảnh chói sáng của đất nước chúng ta” và đến lúc phải coi đó là “biểu tượng vinh quang nhất” của nền văn minh Pháp.
            Trong giai đoạn Đế Chế, sứ mệnh vẻ vang của sâm banh được hoàn thiện. Hoàng đế Napoléon dùng loại rượu này khi muốn xây dựng một xã hội tư sản, công nghiệp và trung thành mới. Jean-Rémy Moët thành lập thương hiệu Moët ở Hoa Kỳ và phát triển một bộ phận khách hàng mới, trong đó có tổng thống George Washington. Sau khi quân Nga đánh tan đội quân của Napoléon và chiếm được thành phố Reims, nhà sản xuất, bà quả phụ Clicquot đã mở các hầm rượu của gia đình cho quân đội Nga với hy vọng nhờ đó bà sẽ chinh phục được thị trường Nga.
            Tất cả các chiến lược trên đều mang lại kết quả. Sau khi Đế Chế sụp đổ và trước cuộc Cách Mạng Công Nghiệp lần thứ nhất, sâm banh đạt đến thời kỳ vàng son. Nhờ hệ thống đường sắt, sâm banh được chuyển nhanh hơn đến các thị trường xa xôi, với số lượng lớn hơn. Thêm vào đó, trang thiết bị mới cũng giúp quá trình sản xuất hiệu quả hơn và giúp sâm banh trở nên thu hút hơn cả về thẩm mỹ lẫn chất lượng. Sâm banh nhanh chóng trở thành một biểu tượng của nước Pháp trong mắt các nước trên thế giới.

Huyền thoại về tính hiện đại
            Ngay từ đầu những năm 1900, sâm banh đã được các nhà quảng cáo nâng thành một biểu tượng của tính hiện đại. Trong “Thời Kỳ Tươi Đẹp” (Belle Epoque), các quảng cáo sâm banh thường được dàn dựng thành những “câu chuyện thần tiên” thời hiện đại mà tầng lớp trung lưu ngày càng mơ đến, như hình ảnh ô tô, khinh khí cầu, tầu thủy, máy bay…
            Có lẽ vì thế, không có gì là lạ khi thấy sâm banh được chiêu đãi trên con tầu Titanic hay được thử tại Triển Lãm Hoàn Cầu Paris năm 1889, hay khi tháp Eiffel được giới thiệu với khắp thế giới. Sâm banh trở thành biểu tượng cho sự hiện đại vào thời điểm mà nước Pháp đang cố quên những nỗi đau kinh hoàng do Thế Chiến Thứ Nhất gây ra và muốn hướng đến một thời kỳ mới, đầy hứa hẹn.
            Năm 2016, tổng doanh thu nhờ xuất khẩu sâm banh lên đến 4,71 tỉ euro. Theo Ủy ban Champagne (Comité Champagne), năm 2016 là năm thứ hai liên tiếp đạt kỷ lục về doanh thu (sau năm 2015 với 4,74 tỉ euro). Người tiêu dùng ngày càng chuộng những dòng rượu quý hiếm, điều mà các nhà sản xuất vùng Champagne không ngừng cố gắng để bảo vệ danh tiếng sản phẩm đã được ghi vào di sản thế giới của Unesco.


THU HẰNG
Tháng 8/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170804-bon-huyen-thoai-giup-sam-banh-cua-phap-noi-tieng