Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 9564 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #90 vào: 04/01/2018, 17:04:25 »
Nhà thơ Viên Linh ra sách “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam”

Nhà thơ Viên Linh, người sáng lập và hiện là chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí văn học “Khởi Hành,” vừa hoàn tất cuốn sách biên khảo “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn,” mà theo ông là “sau 10 năm bỏ công sưu tầm tài liệu.”

Cuốn biên khảo “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam” của Viên Linh

MIDWAY CITY, California (NV) – Sách dày gần 500 trang do nhà xuất bản Khởi Hành phát hành. Theo tác giả, ông chưa có ý định ra mắt sách, chỉ mới liên lạc với một vài nhà sách ở California và nhật báo Người Việt.
             “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam” viết về 60 nhà văn, trong đó có một vài nhân vật lịch sử như Trưng Nữ Vương, Lý Chiêu Hoàng, Lý Thường Kiệt… là “những chuyện lịch sử đặc thù đã in vết trong tâm hồn người viết qua thời gian” như tác giả viết trong bài tựa ở đầu sách.
            Bài tựa còn cho biết sở dĩ tác giả chỉ đề cập đến 60 nhà văn là vì “Bộ sách này viết về các tác giả danh tiếng của một nền văn học, phần lớn xuất hiện vào nửa sau của thế kỷ 20 tại Việt Nam, và suốt trong khoảng thời gian mà người viết bước vào sinh hoạt báo chí ở miền Nam từ 1955 tới 1975 và tại hải ngoại từ 1975 tới 2017, trước sau trên 60 năm.”
            Sáu mươi nhà văn được dàn trải trong cuốn sách không theo thứ tự vần A, B, C,… như thường thấy mà theo năm sinh của các nhà văn này, trong cách sắp xếp theo lịch sách, một điều mới mẻ trong cách trình bày của các nhà biên khảo.
            Sách có 12 chương, ứng với 12 tháng trong năm, mỗi tháng có một số nhà văn có ngày sinh trong tháng đó. Mục đích là để cho người đọc mỗi tháng có thể “chiêm niệm văn chương” qua những nhà văn đã sinh ra trong tháng đó. Chẳng hạn, Tháng Giêng, tính từ đầu tháng có Xuân Vũ, Tam Ích, Mai Thảo, Nguyễn Bính, Tuệ Mai và Viên Chiếu Thiền Sư.
            Chân dung của 60 nhà văn này là những điều “mắt thấy, tai nghe” được tác giả kể lại, trừ các nhân vật lịch sử. Với những nhân vật lịch sử, tác giả trích dẫn những tài liệu kim cổ viết về nhân vật lịch sử ấy qua những điều mà tác giả tâm đắc về tư tưởng hay về những hoạt động yêu nước cao cả của những nhân vật này.
            Theo tác giả Viên Linh, với 60 năm lăn lộn trong nghề báo và giới văn chương nghệ thuật miền Nam Việt Nam, ông đã có dịp, hoặc ngẫu nhiên, hoặc cố ý, được gặp gỡ, quen biết, trò chuyện với những nhà văn này. Do đó chân dung các nhà văn được ông kể qua những cuộc gặp gỡ ngẫu nhiên hay cố ý rất sống và hiện thực, không màu mè tô vẽ, thêm bớt. Những câu chuyện kể lại ấy đã định hình được chân dung mỗi nhà văn cho dù tác giả không mô tả.
            Viên Linh là một nhà thơ và trong cuộc đời, ông không làm một nghề gì khác ngoài việc làm báo, viết báo, làm thơ. Ông chủ trương tạp chí “Thời Tập” vào những năm trước năm 1975 và tạp chí “Khởi Hành” “nối dài” từ trước 1975. Cả hai tạp chí này đều là những tờ báo văn chương, nghệ thuật.
            Niềm đam mê văn chương nghệ thuật trong ông đã khiến ông không tiếc thời gian để sưu tầm trong lãnh vực này. Sự đam mê và sưu tầm ấy là có chủ đích, nó là cội nguồn tinh thần, văn hóa của dân tộc Việt Nam, ông đã gắng công sức hơn nữa để không những duy trì được nền văn chương nghệ thuật ấy mà còn phát huy được nó trong những tác phẩm của ông và tạp chí “Khởi Hành” do ông chủ trương. Nó là một nền văn học nghệ thuật truyền thống của dân tộc mà những người Việt làm văn học nghệ thuật ở hải ngoại, còn duy trì và phát huy được.
            Cuốn biên khảo này giá $35, liên lạc nhà xuất bản Khởi Hành, P.O. Box 670 Midway City, CA 92655, email: tapchikhoihanh@gmail.com.


NGUYÊN HUY
Tháng 5/2017



http://www.nguoi-viet.com/little-saigon/nha-tho-vien-linh-ra-sach/
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #91 vào: 09/01/2018, 19:02:40 »
150 năm Đế chế Áo-Hung: Một thời vang bóng

Tròn 150 năm trước, ở vùng đất được coi là trái tim của châu Âu, đã ra đời một liên minh mới đáng nể, với 51 triệu cư dân và 621 ngàn km2, lớn thứ hai châu Âu, sau Nga về diện tích (hơn Pháp và cả Đức thống nhất) và đứng thứ ba châu Âu về dân số, chỉ sau Nga và Đức, vượt trên cả Anh quốc.

Hoàng đế Áo Franz Joseph

LIÊN MINH ẤY, với quân đội có hàng triệu binh lính, có thể đối địch với bất cứ thế lực quân sự của cường quốc nào khác ở Lục địa già. Điều đáng nói là liên minh tồn tại được tới hơn nửa thế kỷ, cho dù chứa chở trong lòng 13 dân tộc với những ngôn ngữ, phong tục tập quán và tín ngưỡng khác nhau.
            Đó là Đế quốc Áo-Hung, nền quân chủ kép được hình thành bởi Đế quốc Áo và Vương quốc Hungary, có lãnh thổ trải dài và ôm trọn lưu vực sông Danube, con sông mẹ của châu Âu. Không ít nhà nghiên cứu cho rằng, đây chính là tiền thân đầu tiên của Liên hiệp châu Âu, đem lại những năm tháng yên ả và hạnh phúc cho khu vực.
            Nền quân chủ ấy gắn liền với tên tuổi vị Hoàng đế của Đế chế Áo-Hung Franz Joseph Đệ nhất, người đăng quang ngôi vị quân vương Hungary mùa hạ năm 1867, chấm dứt vài trăm năm thù địch giữa hai quốc gia, nhất là từ khi cuộc cách mạng giành tự do của người Hung năm 1848-49 bị dìm trong biển máu.

Lễ đăng quang huy hoàng
            Chưa bao giờ Cung điện Hoàng gia Hungary trên đồi Buda lại náo nhiệt như thế, trong năm 1867 đáng nhớ. Trong những cuộc hòa đàm từ đầu năm, Hoàng đế Áo Franz Joseph và Hoàng hậu Elisabeth, người phụ nữ được coi là đẹp nhất châu Âu nửa sau thế kỷ trước, đã nhiều lần có mặt tại thủ đô Budapest.
            Ngày 08/06/1867, cư dân Budapest chờ đợi từ sáng sớm với hy vọng có cơ hội chứng kiến một sự kiện có thể là độc nhất vô nhị trong đời họ, và cả trong lịch sử đất nước: lễ đăng quang của Hoàng đế Franz Joseph, khép lại quá khứ khổ đau của dân tộc Hungary và “hợp thức hóa” Hiệp nghị Áo-Hung đã ký trước đó.
            Sử cũ ghi lại cảnh tượng cây Cầu Xích cổ nhất – và tới lúc đó là duy nhất – bắc qua dòng Danube, biểu tượng của hai thành phố bên bờ sông Buda và Pest đã được ngăn lại để chuẩn bị cho lễ đăng quang được tôn nghiêm. Đám đông tụ tập đông nghịt mọi phố phường, mong ngóng một buổi lễ trọng thể kéo dài.
            Nghi thức chính diễn ra tại Nhà thờ Mátyás trên Thành cổ Buda, thánh đường nổi tiếng, là nơi tổ chức những buổi lễ lớn truyền thống của Hoàng gia Hungary, như lễ đăng quang, cưới hỏi… Từ 6 giờ sáng, giới quý tộc và chính khách Hung đã có mặt tại đó, để chờ đón sự hiện diện của vị Hoàng đế Áo vào hồi 7 giờ.
            Trong bộ đồ thống soái Hungary, Franz Joseph tới địa điểm thiêng liêng ấy trên lưng ngựa, còn Hoàng hậu Elisabeth thì trên chiếc xe ngựa của Nữ hoàng Maria Therese, vị mẫu hậu của cả châu Âu thế kỷ 18. Trong buổi thánh lễ trọng thể, bản nhạc được đại nhạc sư Franz Liszt viết riêng cho dịp đăng quang được cử lên.
            19 năm kể từ khi lên ngôi hoàng đế nước Áo, Franz Joseph mới được choàng lên người tấm hoàng bào của các vị vua Hungary, cùng thanh quyền trượng, và thiêng liêng nhất, ông được đội lên đầu chiếc vương miện thần thánh của vị vua lập quốc Hungary, Thánh István, biểu tượng của nhà nước Hung.
            Khoảnh khắc bùng nổ nhất của buổi lễ là lúc bá tước Andrássy Gyula, Thủ tướng Vương quốc Hungary cùng người đứng đầu Giáo hội Công giáo Hung đương thời đặt chiếc vương miện lên đầu vị Hoàng đế Áo đang quỳ dưới đất, rồi giơ tay hô vang chúc tụng cặp vợ chồng Quân vương Hungary vừa đăng quang.
            Sau đó, Franz Joseph cưỡi ngựa tới chân cây Cầu Xích, tại đó, trên một gò cao được đắp bởi đất mang đến từ 72 tỉnh thành thuộc Vương quốc Hungary, vị tân Quân vương đã làm nghi thức chém bốn nhát kiếm, như một lời hứa sẽ bảo vệ đất nước Hung và tuân thủ Hiến pháp Hungary, mà ông đã giữ trọn đời.
            Buổi lễ đăng quang chính thức mở ra nửa thế kỷ mà cả hai quốc gia đạt được mức độ thịnh trị về rất nhiều mặt, khiến sách vở sau này đã gọi đó là những năm tháng hòa bình và hạnh phúc. Tròn 150 năm trôi qua, nền song quốc quân chủ Áo-Hung tới giờ vẫn để lại những hoài niệm không mờ trong nhiều thế hệ.

Con đường dài và khúc khuỷu
            Để có được nền hòa bình rất cần thiết cho cả nước cai trị, Đế chế Áo, và nước bị trị, Vương quốc Hungary thời đó, cả hai đều đã phải trải qua những chặng đường đầy cam go và có khi là đẫm máu.
            Mở đầu là việc triều đình Habsburg, với sự hỗ trợ của gần 200 ngàn tinh binh của Nga hoàng, đã đè bẹp ước mơ của cả một dân tộc sục sôi cho lý tưởng và mong mỏi độc lập: “Tổ quốc gọi người dân đứng lên đi! – Thời thế bây giờ hay chẳng bao giờ nữa – Thành người tự do hay mãi dân nô lệ? Các bạn ơi, hãy trả lời đi!”
            Thi hào Petofi Sándor, nhà cách mạng đại diện cho khát vọng tự do của người Hungary trong cuộc cách mạng kéo dài gần một năm, khởi đầu ngày 15/3/1848, đã viết như thế trong thi phẩm nổi tiếng “Bài ca Dân tộc”, bài ca về tự do và độc lập mà tới giờ người dân Hung vẫn luôn coi là ý nguyện vĩnh cửu của họ.
            Phù hợp với tâm cảm đó, nước Hung bị chà đạp và dìm trong bể máu, bị mất những người con ưu tú nhất của mình trong cuộc cách mạng, đã thực hiện một chính sách tẩy chay trên mọi lĩnh vực sự hiện diện và hoạt động của bộ máy cai trị Áo. Hình thành một sự bất tuân dân sự rộng rãi trong mọi giai tầng của dân Hung.
            Thủ lĩnh của phong trào đó là Deák Ferenc, một chính khách, nhân sĩ được cả nước Hung kính trọng vì tầm nhìn xa và thâm trầm. Song song với sự tẩy chay, ông quan niệm rằng Hungary phải đủ lớn mạnh để có được sự tự quyết với Đế quốc Áo, mà không cần phải thông qua những cuộc chiến mạo hiểm và chết chóc.
            Đối nghịch với quan điểm này là Kossuth Lajos, một tượng đài khác trong phong trào đấu tranh đòi độc lập của Hungary với tư tưởng chiến đấu đến cùng và bác bỏ suy nghĩ thỏa hiệp dưới mọi hình thức. Câu hỏi “nên hòa hay nên chiến?” đã được tranh luận rất hay gắt trong nền chính trị Hungary trong nhiều năm.
            Những thất bại trong ngoại giao và những cuộc chiến ngoài lãnh thổ Áo khiến Hoàng đế Franz Joseph nhận ra rằng không thể tiếp tục trị nước trên cơ sở bạo lực. Đế chế Áo cần phải được cải tổ để không tan thành từng mảnh trước sự căm thù và thù địch của những dân tộc bị trị, trong đó nguy hiểm nhất vẫn là Hungary.
            Phải nhượng bộ và thỏa hiệp để bảo toàn, cuối cùng Franz Joseph cũng rút ra kết luận đó. Một bộ phận trong giới quý tộc, chính khách tinh hoa Hungary cũng tán thành điều này. Liên minh Deák Ferenc – Andrássy Gyula đã thắng thế, dù rất khó khăn, và bị phe đối lập coi là đó là sự bội phản, sẽ dẫn tới cái chết của dân tộc Hung.
            Hiệp nghị Áo-Hung, rốt cục, khiến Hungary trở thành một quốc gia độc lập, có Quốc Hội riêng, và các bộ riêng, ngoại trừ những bộ quan trọng nhất như Ngoại giao, Chiến tranh và Tài chính là chung với phía Áo. Nền hòa bình được thiết lập trên toàn lãnh thổ của nền quân chủ này, trong vòng gần nửa thế kỷ.


Nữ hoàng Elisabeth (1837-1898)

Người phụ nữ định mệnh
             “Đây là công trình của Deák, Andrássy và cá nhân tôi”, Hoàng đế Franz Joseph đã viết như vậy, hoàn toàn bỏ qua một tác nhân không kém phần quan trọng khiến Đế chế Áo-Hung còn được nhiều người truyền tụng cho đến bây giờ: đó là vai trò của chính vợ ông, Hoàng hậu Elisabeth, hay được biết đến với cái tên Sissi trong văn hóa đại chúng.
            Nếu không có sự hiện diện của bà, những sự kiện lịch sử cách đây 150 năm có thể chỉ đơn thuần là những dòng khô cứng trong sách giáo khoa lịch sử. Người phụ nữ ấy, với những nỗ lực hiếm có, đã góp phần mang lại nền hòa bình cho hai xứ sở Áo-Hung, bằng tình cảm hiếm có với đất nước và con người Hungary.
            Giới sử học đã tốn không ít giấy mực để phân tích nguyên nhân của việc, tại sao Sissi lại yêu mến như thế Hungary, để dày công học tiếng Hung, kết bạn thân thiết với nhiều người Hung, tích cực “vận động hành lang” với chính giới Áo, Hung và với cả chính chồng mình, Hoàng đế Franz Joseph, để có được Hiệp nghị 1867.
            Một điều không thể phủ nhận: sử sách còn lưu lại những lá thư tay bà viết bằng tiếng Hung, gọi Hungary như mảnh đất quê hương mà bà cảm thấy khi tới đó như được trở về nhà. Những hành động mang tính hòa hợp, hòa giải của bà với người Hung đương thời, vốn căm thù đế quốc Áo, cũng được ghi nhận lại rất rõ ràng.
            Là một phụ nữ rất hiện đại – và do đó có cách hành xử đi ngược lại rất nhiều chuẩn mực của giới quý tộc đương thời –, trong đời Sissi rất mê lãng du, bà di chuyển không ngừng và không mấy khi không quan tâm cùng chồng trong công việc trị quốc. Ngoại lệ, chỉ là những năm tháng bà lao tâm khổ tứ cho nền hòa bình của hai nước Áo-Hung.
            Một lý do được truyền khẩu ngay từ thời đó – và tới giờ vẫn không ai chính thức bác bỏ được – cho nỗ lực chính trị của Sissi, là vì bà đã thầm yêu, hoặc ít nhất cũng có thiện cảm rất đặc biệt với vị Thủ tướng Hungary, sau này là Ngoại trưởng của cả Đế chế Áo-Hung, bá tước Andrássy Gyula, người hơn bà tới 14 tuổi.
             “Người bạn tốt duy nhất của tôi cho tới giờ, và mãi mãi”, đó là những lời mà Hoàng hậu Elisabeth thốt lên khi biết tin Andrássy qua đời. Ở người đàn ông văn võ song toàn, điển hình đẹp nhất của mẫu chính khách Vương quốc Hungary này, Sissi đã tìm được một người anh, người bạn không bao giờ khiến bà thất vọng.
            Tình cảm của họ đi đến đâu trong thực tế, hậu thế không biết, và có thể sẽ không bao giờ biết. Một điều chắc chắn: sự thể hiện trong bộ phim “Sissi” do nữ tài tử Romy Schneider thủ vai cách đây tròn 60 năm, đã khiến tên tuổi Elisabeth và mối tình của bà với Andrássy đi vào tâm thức nhiều thế hệ người yêu điện ảnh.
            Cuộc đời hoàng hậu Sissi có quá nhiều bất hạnh, kể từ cái chết tức tưởi của đứa con trai duy nhất, Hoàng thái tử Rudolph, tới sự ra đi của chính bà bởi một tên khủng bố vô chính phủ vào cuối hè 1898. Nhưng Elisabeth đã trở thành một phần của Nền quân chủ Áo-Hung, và cũng như chồng bà, hoàng hậu Sissi đã khiến lịch sử trở nên gần gũi với hậu thế…
            Tan rã sau Thế chiến thứ nhất, nền song quốc quân chủ Áo-Hung tới giờ vẫn còn để lại vô vàn dư âm ở hai thủ đô Vienna và Budapest, cũng như tại tất cả những mảnh đất mà nó ôm trọn trong lòng. Rất nhiều điều đã được tô đẹp trong ký thức hậu thế, như vũ điệu valse thành Vienna huyền thoại.
            Riêng Hungary, xứ sở bị mất hai phần ba diện tích đất nước và hai phần ba dân số sau sự cáo chung của Đế chế Áo-Hung, giờ đây có thể hoài niệm về một thời cực thịnh mà thủ đô Budapest phát triển chỉ sau Berlin ở châu Âu, với nền văn hóa, giáo dục ở đỉnh cao, đặt nền móng cho 15 giải Nobel về sau này…


HOÀNG NGUYỄN
Tháng 10/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171231-150-nam-de-che-ao-hung-mot-thoi-vang-bong
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #92 vào: 11/01/2018, 22:14:05 »
Nghệ sĩ Thành Lộc với “Tâm Thành và Lộc Đời”

Tạp chí VHNT kỳ này xin giới thiệu nghệ sĩ Thành Lộc và cuốn tự truyện của anh mang tên “Tâm Thành và Lộc Đời” vừa được Nhà xuất bản Phương Nam xuất bản.

Nghệ sĩ Thành Lộc Tâm Thành và Lộc Đời

Nền tảng văn hóa gia đình
Mặc Lâm: Cám ơn nghệ sĩ Thành Lộc rất nhiều đã giúp chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn rất đặc biệt này. Thưa anh cuốn sách mới nhất của anh có tên “Tâm Thành và Lộc Đời” theo chúng tôi được biết thì năm ngàn bản đã bán hết ngay những ngày phát hành đầu tiên và đang được in lại, đây là điểu đáng ngạc nhiên vì trong giới đọc sách tại Việt Nam ít có hiện tượng như vậy lắm. Khi đọc qua vài chương trên báo Tuổi Trẻ tôi có cảm nhận rằng man mác trong đó là một nền giáo dục rất nghiêm khắc của gia đình anh mặc dù gánh cải lương có trôi nổi như thế nào. Theo nhận xét của anh thì người nghệ sĩ trong giới sân khấu truyền thống nói chung ra sao thưa anh, tôi muốn nói về văn hóa ứng xử của anh chị em nghệ sĩ với nhau, thưa anh.
Thành Lộc: Dạ thưa anh xin được chia cái câu hỏi của anh trong phần trả lời của Lộc thành hai phần. Thứ nhất về nền văn hóa đọc ở Việt Nam hiện giờ cũng đang có một xu hướng mà theo Lộc nó đang có tín hiệu vui vui là hiện nay các bạn trẻ bắt đầu thích tìm đọc sách hơn là văn hóa nghe và nhìn. Có lẽ cái gì nó cũng có một giai đoạn bão hòa ở một loại hình nào đó và một loại hình khác người ta bắt đầu tìm hiểu khám phá nó. Có một khoảng thời gian văn hóa đọc nó đứng lại dành cho nghe và nhìn trong giới giải trí. Bây giờ độc giả trẻ người ta bắt đầu yêu thích sự đọc bởi vì đã có xuất hiện một vài cây bút trẻ với lối hành văn đơn giản không quá cầu kỳ phức tạp với những tản văn, những mẫu chuyện trải nghiệm cuộc đời mình, những gì đang thay đổi và xảy ra chung quanh họ. Điều đó nó gần với khán giả trẻ với những công chúng bây giờ và người ta bắt đầu quay lại với văn hóa đọc nhờ như vậy mà “Tâm Thành và Lộc Đời” của Lộc nói vui vui là nó ăn theo và nó tạo được sự quan tâm bởi vì hiện nay người ta đang thích thú trong trào lưu tìm hiểu những gì đang xảy ra đối với người thật việc thật, hơn là những câu chuyện mà nó xa rời cuộc sống của chính mình.
            Bản thân Lộc là người hoạt động nghệ thuật được nhiều người biết đến ở Việt Nam thành ra khi mình ra một cuốn tự truyện như vậy thì với bề dày tuổi đời và thời gian hoạt động nghệ thuật của mình nó cũng đủ để tạo được sự chú ý. Thật ra ngày hôm nay nói chuyện với anh là ngày 20 tháng Giêng thì cũng là ngày mà trong hai tiếng đồng hồ nữa Lộc sẽ chính thức ra mắt cuốn sách trên phạm vi toàn quốc với 5.000 bản đầu tiên khi chưa ra mắt thì đã được đặt hàng mua qua mạng và đã bán hết rồi! Cho nên nhà xuất bản Phương Nam sẽ tái bản với 7.000 cuốn nữa, hy vọng cũng giúp cho bạn đọc giải khuây được trong vài giờ đồng hồ vì cuốn sách chỉ có 156 trang thôi.
            Trở lại với phần thứ hai của câu hỏi mà anh đặt vấn đề với gia đình Lộc. Lộc phải cám ơn gia đình mình, cám ơn ba. Dù sinh ra trong một gia đình xuất thân từ giới sân khấu nghệ thuật truyền thống hát bội và cải lương, ba chỉ là một kép hát từ Vĩnh Long lên Sài Gòn lập nghiệp nhưng ba lại luôn luôn ý thức về vấn để văn hóa, đặc biệt cái nền tảng văn hóa cho gia đình mình, cho những người nghệ sĩ tương lai của ba! Cho nên ngay từ nhỏ mặc dầu tụi này cũng chưa có ai có trình độ đại học đâu nhưng mà cái nền tảng cơ bản nhất mà ba muốn là tất cả mọi đứa phải tốt nghiệp phổ thông trung học hết, tức là tốt nghiệp lớp 12 rồi sau đó là quá trình tự học, tìm hiểu trong cuộc sống, tự vận hành lấy mình mà cái này đều từ ý thức của ba cả.
            Ngay vào thời xưa ở trong một gia đình nghèo như vậy nhưng mà không có ai dốt cả và ai cũng có khả năng viết tạm được vì ba là một thầy tuồng ba viết tuồng được cho nên tất cả khả năng đó của ba, ba truyền lại cho đàn con. Đây là điều mình rất cám ơn ba.
            Giới nghệ sĩ, đặc biệt là bộ môn sân khấu truyền thống thường thường rất yêu nghề và bỏ học đi theo nghề thôi nhưng đối với gia đình mình thì ba lại không bao giờ chấp nhận chuyện đó thành ra mọi người hiểu được cái điều là một nghệ sĩ muốn thành danh thì nền tảng tri thức cần phải có. Chính vì vậy mà sau này khi Lộc chuyển sang kịch nói cũng là ý thức từ một người có tri thức hiểu biết cuộc sống, hiểu biết về mọi chuyện xung quanh mình và chọn một cái nghề bằng khả năng, tự giác, hiểu biết mà mình có được và mình chọn chứ không đơn thuần là nối nghiệp ông bà cha mẹ theo truyền thống.
            Có điều mình không phủ nhận được là môi trường làm nghệ thuật của nghệ sĩ Việt Nam. Mình đã trải qua một khoảng thời gian rất lâu thì hầu hết những nghệ sĩ ở bộ môn nghệ thuật truyền thống thì thường là những gia đình không giàu có mà vì đam mê nghề nghiệp thôi chính vì vậy mà văn hóa kiến thức của họ không được hoàn hảo. Sau này Lộc thấy rằng nghệ sĩ của mình dần dần có một ý thức là bao giờ cũng muốn học hỏi, bằng nhiều cách khác nhau chứ không nhất thiết phải học từ trong nhà trường. Họ học từ trong cuộc sống từ trong những người xung quanh.
            Lúc nãy anh có nói vấn đề ứng xử, cư xử với nhau trong giới văn nghệ thì Lộc nghĩ đây là một vấn đề rất là tế nhị đôi khi nó xuất phát từ một cái văn hóa nền nhưng đôi khi cũng không hẳn là như vậy. Tại vì bên cạnh Lộc học rất nhiều bậc tiền bối của mình. Họ cũng đâu phải là những người có một nền tảng văn hóa hoàn hảo nhưng mà trong cư xử, hành xử của họ với nhau thì có rất nhiều điều mình cần phải học hỏi.
            Cũng có những người có trình độ đại học có bằng này bằng nọ nhưng trong cư xử hàng ngày thì chưa chắc họ đã bằng người làm nghệ thuật cư xử có văn hóa. Cho nên Lộc nghĩ văn hóa này là một khái niệm rất là lớn không phải học hành tử tế mới là người có văn hóa mà nó thuộc về nền tảng từ gia đình, từ ý thức của con người. Đó là những kinh nghiệm mà Lộc thấy từ môi trường nghệ thuật mà Lộc là một thành viên ở đó.

Mặc Lâm: Vâng, trong cuốn sách chúng tôi thấy anh nói tới người cha với một lòng trìu mến đặc biệt và anh có nhắc lại câu chuyện cha anh thường chở anh đi xem biểu tình của các nhà sư và sinh viên học sinh. Mỗi lần như vậy thì mẹ lại nhét vào túi chị em của anh mỗi người một bao ny lông và miếng chanh để lỡ gặp lựu đạn cay thì nặn chanh vào mắt… đây là một kỷ niệm đặc biệt đáng quý và chúng tôi nghĩ rằng có phải vì được giáo dục như vậy cho nên anh có ý thức các vấn đề xã hội, chính trị một cách sâu sắc ngay từ nhỏ hay không?
Thành Lộc: Dạ thưa anh Lộc nghĩ Lộc cũng chịu ảnh hưởng cái đó từ ba tại vì hồi xưa đi đâu ba chở mấy chị em đi thì ba hay dạy dỗ các con trong khi ba lái xe, về luật giao thông rồi khi có biểu tình thì bản thân mình cũng hay thắc mắc chuyện này chuyện kia, tại sao lại có biểu tình, tại sao lại có chống đối? Ba mới giải thích là tại vì cái thời này nó có chuyện này chuyện kia, có những người bị thế này bị thế kia, vậy đó… thành ra ngay từ nhỏ mình đã được ba giáo dục nhận thức những gì xảy ra chung quanh mình cho đến bây giờ mình cảm thấy cám ơn ba vô cùng về chuyện đó.


Những cung bậc của nghệ sĩ Thành Lộc khi giao lưu với khán giả
trong buổi giới thiệu cuốn tự truyện Tâm Thành và Lộc Đời

Chịu trách nhiệm những gì mình kể
Mặc Lâm: Vâng, bên cạnh những điều đáng nhớ ấy thì cũng có việc làm cho anh xao xuyến không ít cho tới bây giờ. Trong “Tâm Thành và Lộc Đời” anh ghi lại cảm giác của mình về căn nhà và việc anh nhận danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, anh có ngại để nói vài lời về việc này hay không thưa anh?
Thành Lộc: Thưa anh tại vì đây là một cuốn tự truyện cho nên không ngại không kể và đó là câu chuyện có thật về mình. Đây đó Lộc cũng có trả lời phỏng vấn của nhiều tờ báo ở Việt Nam thì Lộc cũng nói thẳng suy nghĩ của mình rằng có thể đối với một số bạn trẻ và ngay cả những người cùng thời với mình chắc chắn họ sẽ đánh giá. Bên cạnh việc có người cho rằng Lộc thẳng thắn dám kể sự thật nhưng Lộc cũng tin chắc rằng cũng sẽ có người nói Lộc xuyên tạc, nói chuyện không có thật.
            Khi mà mình đã dám kể trong một quyển sách để phổ biến rộng rãi trong công chúng thì mình chịu trách nhiệm những gì mình kể bởi vì thứ nhất đó là câu chuyện của tôi chứ không phải tôi kể câu chuyện của anh, tôi không kể câu chuyện của bạn hay của mọi người mà nó là câu chuyện của đời tôi. Nó như vậy thì tôi kể như vậy thôi!
            Điều quan trọng là qua câu chuyện kể đó thì người ta thấy được điều gì? Người ta thấy được trong cuộc sống người ta có thể đón bắt những tai ương, trăn trở trong cuộc đời bởi vì trên con đường đời không ai hoàn toàn trơn tru cả. Tuy vậy người ta vẫn sống vẫn làm việc và vươn lên với niềm đam mê và ước mơ của mình. Đó là chân giá trị sống mà mình muốn gởi gấm trong cuốn tự truyện của mình.
            Bất cứ một nhà văn, một tác phẩm văn học nào cũng vậy người ta có kể bao nhiêu bi kịch trong tác phẩm của người ta thì cuối cùng người ta vẫn muốn truyền đạt đến với ít ra là với hậu bối của mình, là có một câu chuyện như vậy để nói rằng chúng ta hãy vượt lên chính mình, những điều đó hết sức đơn giản cho nên Lộc không ngại gì cả.

Mặc Lâm: Vâng trong tự truyện “Tâm Thành và Lộc Đời” anh cũng có kể lại cha anh là nghệ sĩ nhân dân Thành Tôn cũng có người con trai là hạ sĩ quan trong Quân lực VNCH và đã chết trận vào năm 1970, cảm giác sống giữa hai chế độ có làm cho gia đình họ Thành khó hòa nhập vào xã hội mới sau năm 1975 hay không thưa anh?
Thành Lộc: Dạ thưa cũng có, chắc chắn là có nhưng mà lịch sử là lịch sử. Lộc là người sống nặng về tôn giáo cho nên lộc nghĩ ngay cả chuyện lịch sử có thay đổi thì cũng là ý trời. Cho nên khi mình sống ở giữa thay đổi như vậy thì bản thân mình phải thích nghi để tồn tại và để mình hòa mình vào, mình không bỏ cuộc với cuộc sống ít ra là chịu trách nhiệm với chính cuộc đời mình. Điều đó nó giống như mình vật vã để mình tồn tại cho nên dĩ nhiên là có! Dĩ nhiên là sự đấu tranh mạnh mẽ với bản thân mình và đấu tranh với bản thân mình mới quan trọng hơn là đấu tranh với chung quanh.

Mặc Lâm: Thưa anh năm nay cũng là dịp kỷ niệm 40 năm ngày thống nhất đất nước nhưng xem ra thì bất công, thành kiến và những thói tật không đẹp giăng mắc toàn xã hội Việt Nam anh có nghĩ rằng mình sẽ trở thành một kịch tác gia để miêu tả những mặt trái ấy một cách cụ thể và không sợ chuyện nhạy cảm như Lưu Quang Vũ đã từng làm hay không?
Thành Lộc: Lộc không dám đặt mình vào cái vị trí như anh Lưu Quang Vũ đâu. Anh Lưu Quang Vũ là một hiện tượng nhưng Lộc thì đánh giá ảnh là một thiên tài, bởi vì ảnh là một người dũng cảm nữa. Lộc nghĩ rằng có dũng cảm hay không thì là cái type của người nghệ sĩ bởi vì bản thân ảnh là người đi trước thời đại một cái đầu rồi.
            Mình chỉ nghĩ với khả năng của một người làm nghệ thuật đơn thuần thì hướng tới giá trị chân thiện mỹ và những giá trị trong đời sống, Ngay cả viết chuyện hồi ký của Lộc cũng vậy, Lộc ví von chỉ là chuyện đơn giản thôi chứ còn cuộc sống chung quanh mình, nhất là cái nhà mình đang ở, mình đâu có hài lòng cái nhà mình đang ở đâu! Nhà mình có thể bị dột chỗ này, bị hư chỗ kia nhưng nếu cứ ngồi than thở thì cái nhà mình nó cũng sẽ như thế. Mình nghĩ điều đầu tiên là mình xắn tay áo lên làm cái nhà mình trước. Điều quan trọng là bản thân mình sống với nó chứ mình đâu có bỏ nó đi được? Mình đâu đủ giàu có để mình mua cái nhà khác?

Mặc Lâm: Thưa anh bước qua phần sự nghiệp của anh, là một nghệ sĩ trình diễn rất đa năng từ thiếu nhi cho tới chính kịch và bước sang hài hước nữa. Theo anh muốn thành công trong một vai diễn thì người nghệ sĩ phải chú ý đến yểu tố nào nhất, dĩ nhiên là rất nhiều yếu tố nhưng yếu tố quan trọng nhất theo anh là gì?
Thành Lộc: Thưa anh thật ra mà nói thì cái quan trọng nhất là khả năng thiên bẩm, khả năng trời cho nó mang tố chất không hẳn là quyết định nhưng nó góp phần vào sự thành công trong người nghệ sĩ đó tới sáu mươi phần trăm. Sau đó là sự rèn luyện, sự khổ luyện của chính bản thân bởi vì Lộc nghĩ ai cũng có thể là một viên ngọc nhưng nếu mình không mài giũa thì nó không phát sáng được.
            Lộc có cái may mắn là được người ta giao cho mình nhiều tác phẩm, nhiều vai diễn đa dạng về phong cách, phong phú về tính cách nhân vật cho nên mình mới có cơ hội bộc lộ ở nhiều dạng khác nhau cho nên người ta mới biết mình. Nhiều nghệ sĩ khác Lộc thấy người ta rất tài năng có khi còn hơn mình nhưng người ta không có cái cơ may. Sự may mắn quyết định cũng lớn lắm thưa anh. Mình có được cơ may đó mình sử dụng có hiệu quả nhất.
            Lộc nghĩ sự tích lũy vốn sống của người nghệ sĩ cũng rất quan trọng. Hàng ngày cuộc sống diễn ra chung quanh mình, luôn luôn mình có ý thức thu vào tầm mắt để mình lưu lại, mình chắt lọc nó để khi gặp những vai diễn có hoàn cảnh, cá tính hay hình ảnh gần giống như những gì mình thu nạp thì mình đem nó ra mình áp dụng bằng tư duy sáng tạo nghệ thuật của mình. Đó là một chức năng quan trọng của người nghệ sĩ, mình phải luôn luôn sáng tạo vận dụng suy nghĩ để làm ra tác phẩm của mình. Nói chung quy lại vẫn là sự nỗ lực của mình. Bản thân mình phải làm việc chứ không dám ỷ y vào cái gì cả.


Nghệ sĩ Thành Lộc

Không chạy theo những tiếng cười dễ dãi
Mặc Lâm: Chúng tôi nhận thấy khán giả rất thích thú khi xem Thành Lộc diễn trong những vai hài. Thành Lộc đã diễn tả chất hài trong các vai có trình độ cao hơn hẳn nhiều danh hài khác. Xin được hỏi là khi diễn hài anh có cho phép mình “cương” ra ngoài kịch bản hay không?
Thành Lộc: Thưa anh sự ngẫu hứng của người diễn viên trên sân khấu đặc biệt là sân khấu hài nó mang một tố chất nghệ sĩ rất lớn. Lộc nghĩ sân khấu của Việt Nam mình chịu ảnh hưởng nền sân khấu Pháp rất mạnh bởi vì mình có thời gian làm nghệ thuật của người Pháp lâu đời rồi, thực ra cả trăm năm rồi! Cho nên sáng tạo nghệ thuật của nghệ sĩ Việt Nam mình cũng gần giống với người nghệ sĩ Pháp mà sự trình diễn của Pháp thì sự ngẫu hứng nó phát tiết nên cái tinh hoa của người nghệ sĩ đó.
            Người Việt Nam mình đặc biệt với sân khấu cải lương thì người ta quen gọi là hát cương! Nhưng mà cái đó nó như một sợi chỉ mỏng manh giữa sự trí tuệ và tự nhiên chủ nghĩa một cách thô kệch. Bởi vì nó đòi hỏi người nghệ sĩ phải có trình độ kiến thức thẩm mỹ, nói chung là phông nền về văn hóa tương đối phải có thì người nghệ sĩ mới biết tiết chế, kiểm soát mình. Ngay cả những ngẫu hứng của mình nó cũng phải đáp ứng được nhân vật cho nó hoàn hảo chứ nó không bị chạy theo những tiếng cười dễ dãi thưa anh.

Mặc Lâm: Vâng, anh vừa nhắc tới yếu tố thẩm mỹ nên nảy sinh ra câu hỏi là anh có nghĩ rằng người nghệ sĩ trình diễn cũng như sáng tác có phải là người trực tiếp hướng dẫn thẩm mỹ của quần chúng hay không?
Thành Lộc: Thưa anh hoàn toàn đúng là như vậy. Lộc nghĩ người nghệ sĩ là người làm công việc văn hóa cho nên đã là công việc chuyển tải một thông điệp gì đó của tác giả kịch bản, của những người đương thời đặt những vấn để gì đó mang tính thời sự, đương đại nói chung thì nó phải có cái tầm triết học nhất định cho công chúng. Nhiều người nói rằng người nghệ sĩ cái bước chân của họ đi trước thời đại ít ra phải là nửa bước. Còn nhiều người thì nói đi trước cả cái đầu. Tức là công việc định hướng cho người ta có cả thẩm mỹ và triết học nữa thưa anh.
            Lộc nghĩ công việc của người nghệ sĩ nó rất quan trọng, nó không đơn thuần dừng lại ở yếu tố giải trí mà còn có giá trị chân thiện mỹ nữa.

Mặc Lâm: Theo anh nếu người nghệ sĩ có trách nhiệm với văn hóa trình diễn, ở đây chúng tôi chỉ nói là trách nhiệm thôi, thì việc gì họ phải làm mỗi khi xuất hiện trước khán giả thưa anh?
Thành Lộc: Dạ theo Lộc nghĩ cái gì mình phải làm thì làm cả cuộc đời mình chứ còn phải đợi tới khi bước ra xuất hiện với khán giả đâu à! Lộc chỉ biết là mình phải luôn luôn có một kỹ năng tiếp nhận thông tin hàng ngày, trong đó có việc đọc sách, theo dõi thời sự nâng cao kiến thức của mình hàng ngày để tác phẩm của mình không bị lạc hậu và nó theo kịp xu hướng, trào lưu mà thế giới chung quanh ta nó đang diễn ra. Xét cho cùng thì nó là tri thức và Lộc nghĩ người nghệ sĩ phải luôn luôn bổ túc kiến thức của mình để mình không bị đứng lại.
            Mình nói một chuyện cụ thể hơn nữa là trước khi mở màn trình diễn, bản thân Lộc nếu trong những vai diễn vào vai bi kịch hay các vở chính luận v.v… thì bản thân mình luôn luôn có một tâm thái là mình phải ổn định. Ổn định tâm thái cho thanh thản và bắt đầu nhập vai vào cốt chuyện mình sắp sửa kể cho khán giả nghe. Nói một cách hơi lý tưởng một chút là mình phải làm sạch tâm hồn mình, tâm thái mình trước giờ diễn. Gạt bỏ những hệ lụy nào nó không liên quan đến vai diễn, vở diễn mình sắp trình diễn trước công chúng.
            Trong nghề nghiệp của chúng tôi có một bậc thầy trong nghệ thuật sân khấu thế giới là ông Stanislavski, ông ta có nói một câu như thế này: Hãy bỏ những đôi hài khi qua cổng thánh đường. Nếu chúng ta xem nghệ thuật như thánh đường của mình thì trước khi chúng ta vào thánh đường thì chúng ta phải gạt bỏ những vướng mắc của cuộc sống để đến đó với tâm thái nhẹ nhàng bay bổng.
            Đối với Lộc trước khi mở màn trình diễn Lộc cũng luôn luôn chuẩn bị một tâm thái như vậy.

Mặc Lâm: Chúng tôi được biết là anh từng làm giám khảo nhiều chương trình trên TV, theo anh thì sự tôn trọng khán giả của chương trình có được xem là ưu tiên số một hay mục tiêu tìm số đông khán giả mới là chính thưa anh?
Thành Lộc: Thưa anh thật ra thì Lộc chỉ ngồi ở ghế nóng ở Việt Nam nó có một chương trình là Việt Nam got Talent thôi chứ Lộc không tham gia làm giáo khảo ở bất cứ chương trình nào cả. Trở lại câu hỏi của anh thì Lộc nghĩ rằng hiện nay ở Việt Nam đang có sự bùng phát những chương trình truyền hình thực tế về những cuộc tranh tài nhưng suy cho cùng thì nó cũng chỉ là giải trí cho nên ngay cả cái điều mà anh đặt vấn đề với Lộc thì Lộc thấy rằng đúng là không thể loại trừ yếu tố này.
            Cũng có những cái game người ta lại muốn khai thác sự chú ý của công chúng tới chương trình đó hơn là đi sâu vào chất lượng của chương trình để tạo nên uy tín và tên tuổi cho một chương trình truyền hình. Chính vì vậy mà đôi khi nó bị đánh đồng làm cho công chúng bị ngộ nhận giữa giá trị thật và giá trị không thật.
            Về cá nhân của Lộc khi Lộc đến với chương trình Việt Nam got Talent thì Lộc luôn luôn đứng đúng vị trí mà người ta giao cho mình là người cầm cân nảy mực mà cũng muốn góp phần định hướng cho công chúng Việt Nam làm quen được với những thể loại nghệ thuật mới, lạ, hấp dẫn và có tính sáng tạo nghệ thuật thực sự. Còn tất cả những cái gì nó không thuộc về cái đó thì dĩ nhiên với tư cách giám khảo mình phải có trách nhiệm.

Mặc Lâm: Xin cám ơn nghệ sĩ Thành Lộc.


MẶC LÂM
Tháng 1/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/interview-performing-artist-thanh-loc-ml-01312015080215.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #93 vào: 16/01/2018, 18:52:07 »
Ga Tây – Budapest, một kiệt tác kiến trúc của Trung Âu thế kỷ 19

Một trăm bốn mươi năm nay, sừng sững bên đại lộ Vòng Cung Lớn, trung tâm Budapest, là Ga Tây, một kiệt tác kiến trúc và xây dựng không chỉ của Hungary, mà còn mang tính đại diện và biểu tượng cho cả khu vực Trung Âu thế kỷ 19. Với diện tích 615m2, đó là nhà ga xe lửa quốc tế lớn nhất của Đế chế Áo-Hung vào thời điểm đó, và nếu điểm qua đội ngũ kiến trúc sư đã tạo dựng ra nó, có thể nói không quá rằng, đây là nơi hội tụ của những anh tài.

Nhà ga Budapest-Nyugatia, do Auguste de Serres thiết kế và công ty Eiffel thi công

ĐẶC BIỆT, Ga Tây gắn liền với Gustave Eiffel, tên tuổi lớn của nền kỹ nghệ Pháp, lừng danh với những giải pháp kỹ thuật tiên phong đương thời, 15 năm trước khi người kỹ sư này hoàn tất tác phẩm để đời: ngọn tháp mang tên ông tại Paris. Đáng ngạc nhiên là dù vậy, nhiều tình tiết về hoàn cảnh ra đời kỳ thú, cũng như những con người xuất chúng đã gây dựng nên nhà ga, tới giờ vẫn không được biết đến nhiều ngay cả trong giới chuyên môn.

Khởi đầu từ Auguste de Serres…
            Năm 1877 – mười năm sau khi thành lập, nền “song quốc quân chủ” Áo-Hung ở vào thời kỳ cực thịnh xét về mọi mặt. Đó là một liên minh tồn tại 51 năm, lãnh thổ trải dài bên dòng Danube gồm Đế quốc Áo và Vương quốc Hungary. Cho đến Đệ Nhất Thế Chiến (1914), đế chế này đứng thứ hai châu Âu kể về diện tích, thứ ba về dân số, và là nơi tụ hội của 13 dân tộc, xứng đáng với danh hiệu tiền thân đầu tiên của Liên Âu.
            Hơn nửa thế kỷ ấy của nền quân chủ Áo-Hung, về sau đi vào lịch sử và tâm thức người dân Hungary như những năm tháng hạnh phúc và hòa bình, sau nhiều thế kỷ chinh chiến liên miên. Đặc biệt, trong thời gian đó, Budapest được hợp nhất bởi ba phần thành phố nằm bên hai bờ sông Danube (năm 1873) đã trở nên một đô thị tầm cỡ ở châu Âu, với những công trình lớn kế chân nhau ra đời, xứng đáng với tên gọi “Tiểu Paris ở Đông Âu”.
            Liên tục, những đại lộ lớn với nhà cửa khang trang được thiết kế và thi công, tạo dựng diện mạo đô thị của Budapest, trong đó có đại lộ Vòng Cung Lớn được xây dựng trong vòng 24 năm (1872-1896), là tuyến đường chính yếu và quan trọng vào bậc nhất của thủ đô Hungary. Năm 1887, tuyến tàu điện đầu tiên tại Hungary đã được khởi động ở đây, và tới giờ nó vẫn là một trong các tuyến tàu điện sầm uất nhất châu Âu với 200 ngàn lượt hành khách mỗi ngày.
            Một trong những điểm thiết yếu về giao thông của đại lộ này, từ nửa đầu thế kỷ 19 đã là nơi tọa lạc của một ga tàu mang tên Ga Pest. Năm 1846, chuyến tàu đầu tiên trong lịch sử đường sắt Hungary khởi hành từ nhà ga này nối Budapest với thành phố Vác cách đó hơn 40km. Tuy nhiên, khi khởi xây đại lộ, các nhà thiết kế nhận thấy cần phải dỡ bỏ ga cũ, xây một ga mới bề thế và phù hợp hơn với cảnh quan và nhu cầu giao thông.
            Chủ sở hữu nhà ga, hãng Đường sắt Quốc gia Áo, giao công việc thiết kế ga mới cho kiến trúc sư, giám đốc xây dựng Auguste de Serres. Là một chuyên gia Pháp giàu kinh nghiệm, chính ông là người đã có sáng kiến vẫn giữ nguyên sảnh của ga cũ để đảm bảo giao thông trong thời gian xây dựng sảnh mới, rồi sau đó mới cho tháo dỡ. Đề án của ông được coi là mang nặng dấu ấn của nhà ga Vienna thời ấy, với hai cánh đối xứng và tráng lệ.

…Đến sự dự phần của Gustave Eiffel
            Chỉ tới gần đây nhất, khi nhiều tư liệu đương thời được “bạch hóa”, giới nghiên cứu lịch sử kiến trúc mới xác định được một cách tương đối chuẩn xác Gustave Eiffel và các đồng sự có vai trò cụ thể gì trong việc xây dựng nhà ga gắn liền với tên tuổi ông. Bao nhiêu phần trăm là công lao của ông, và bao nhiêu thuộc về nhà thiết kế de Serres, đồng hương của ông, người được khắc tên chính thức tại nhà ga trên cương vị nhà thiết kế chính?
            Câu hỏi này rất khó trả lời, vì các bản thiết kế gốc đặt tại Bảo tàng Giao thông Budapest đã biến mất sau Thế Chiến Đệ Nhị, và bản lẽ ra có thể còn lưu ở Paris, thì tới giờ cũng không ai tìm thấy. Chỉ biết, một cuộc đấu thầu để tìm nhà thầu chính cho việc xây dựng nhà ga theo mẫu của Auguste de Serres đã được tổ chức, và công ty Eiffel trúng thầu. Khả năng là chính de Serres cũng đã có liên hệ với Eiffel khi bắt tay vào công việc thiết kế.
            Tuy nhiên, không dừng lại ở chỗ đơn thuần chỉ thực hiện theo bản thiết kế cũ, công ty Eiffel còn có nhiệm vụ hoàn thiện hóa và phát triển nó để đưa ra giải pháp tối ưu. Ở đây, Eiffel và các kỹ sư của ông đã giữ lại những kiến trúc hoàn hảo và hoa mỹ của bản nguyên thủy, và tập trung vào những điểm thuộc sở trường, như kết cấu vòm sắt và kim loại, những họa tiết tân kỳ đòi hỏi kỹ thuật đúc thép ở tầm vóc lớn, hệ thống chịu lực, v.v…
            Giới nghiên cứu cho rằng, không thể coi nhẹ những công lao to lớn của giám đốc de Serres (Eiffel cũng thừa nhận điều này trong một ấn bản do công ty ông in năm 1878, và nói rằng mái vòm chính là tác phẩm của đồng nghiệp), nhưng vẫn có thể khẳng định được rằng Ga Tây chủ yếu là tác phẩm của văn phòng Eiffel, hơn thế nữa, là một trong những công trình thành công nhất của họ. Đặc biệt, toàn bộ cấu trúc sắt của sảnh nhà ga được đúc tại Pháp.
            Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, Ga Tây may mắn được kiến tạo bởi sự hội ngộ của hai anh tài đương thời, để trở thành một trong những nhà ga nổi tiếng nhất châu Âu thời bấy giờ. Bên cạnh đó, nó còn là một trong số ít những công trình còn lại cho tới giờ của Gustave Eiffel, mà vẫn giữ chức năng ban đầu, trong khi nhiều công trình khác hoặc đã bị dỡ hoặc tàn hại bởi thời gian, hoặc đã chuyển hẳn mục tiêu sử dụng.

Biểu tượng của một thời
            Một trong những nhà ga tối tân nhất của hậu bán thế kỷ 19 được xây dựng trong vòng ba năm (1874-1877), và khánh thành ngày 28/10/1877. Thoạt đầu, nó mang cái tên đơn giản Ga Budapest, nhưng rồi từ năm 1891 chuyển sang tên gọi quen thuộc bây giờ – Ga Tây. Không nhiều người biết, không phải vì nó nằm phía Tây hay là điểm xuất phát của các chuyến tàu đi về hướng Tây, mà đơn giản vì tên của hãng đầu tư xây dựng là như vậy.
            Trong những thập niên sau đó, Ga Tây trở thành một tâm điểm của giao thông Budapest, và đi đầu trong quá trình hiện đại hóa ngành đường sắt Hungary. Những con tàu chạy điện – phát minh của kỹ sư, nhà khoa học tên tuổi Kandó Kálmán khởi hành đầu tiên từ ga này, và cái tên Nyugati (Tây), trùng hợp thay, gợi nhớ Phương Tây trong nhiều năm Hungary dưới thể chế cộng sản, và quảng trường nhà ga thì bị đặt theo tên Karl Marx.
            Cũng rất mang tính biểu tượng, khi đúng vào ngày Hungary gia nhập Liên Âu (1/5/2004), một buổi lễ lớn đã được tổ chức tại nhà ga này. Dưới nền nhạc của Dàn Giao Hưởng Đường Sắt Hungary, một con tàu mang tính tượng trưng khởi hành chở khách vào châu Âu. Và, trong buổi lễ trọng thể ấy, có sự hiện diện của hai người chắt của Eiffel, cũng theo nghề kỹ sư, và đó là lần đầu tiên gia đình Eiffel tới thăm công trình của cha ông mình.

Tương lai nào cho Ga Tây?
            Với thời gian, sự hình thành của các nhà ga khác, cũng như việc tái cơ cấu giao thông đường sắt ở Budapest khiến lưu lượng hành khách quốc tế của Ga Tây sụt giảm, và hạn chế về kinh phí trùng tu khiến nhà ga trở nên điêu tàn. Hơn mười năm trước, từng có dự án “khai tử” ga để biến cả khu vực thành những văn phòng chính phủ, nhưng rồi kế hoạch bị đình chỉ, và Ga Tây vẫn tồn tại, đón du khách, chờ ngày được khoác lên mình bộ áo mới.
            Những người hoài cổ đau xót khi thấy phòng chờ Hoàng Gia của nhà ga – vốn nổi tiếng với kiến trúc kiêu sa và tinh tế, nơi năm xưa dành riêng cho Hoàng đế Franz Joseph và Hoàng hậu Elizabeth, người phụ nữ đẹp nhất châu Âu nửa cuối thế kỷ 19, giờ đóng cửa im ỉm vì không đủ tiền tu bổ. Nhà hàng lộng lẫy của Ga Tây, may thay được hãng McDonalds thuê lại, thì trở thành… tiệm bán đồ ăn nhanh đẹp nhất nhì thế giới theo các bình chọn.
            Số phận của nhà ga cổ nhất ở thủ đô Budapest, nơi Eiffel đã thi thố những giải pháp kỹ thuật nổi trội đương thời, tới giờ vẫn chưa được định đoạt. Mới đây nhất, một đề án cải tạo cả khu vực ga trở thành công viên cây xanh, cơ sở văn hóa, thể thao, đường đi dạo… được đề xuất, và nhà ga phải đóng cửa để tu chỉnh trong vòng hai năm. Chưa biết sẽ ra sao, và liệu không biết “hồn xưa” có còn được bảo tồn với sự can thiệp của thời hiện đại?


HOÀNG NGUYỄN
Tháng 8/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170802-ga-tay-budapest-mot-kiet-tac-kien-truc-cua-trung-au-the-ky-19

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #94 vào: 18/01/2018, 20:57:44 »
Vua Hàm Nghi: Cuộc đời nghệ sĩ

Ngoài hình ảnh một vị vua lưu vong, vua Hàm Nghi còn là một nghệ sĩ, một họa sĩ. Cuộc sống lưu đày và cuộc đời nghệ sĩ của vua Hàm Nghi là hai chủ đề được RFI tiếng Việt lần lượt đăng trong hai tạp chí. Trong số tạp chí lần trước, RFI tiếng Việt đã đề cập tới cuộc sống lưu đày của vua tại Alger. Lần này, chúng tôi sẽ đề cập tới cuộc đời nghệ sĩ-họa sĩ của ngài.

Bức họa Chiều tà (Le Déclin du jour) của vua Hàm Nghi, vẽ năm 1915 tại Alger

LÊN NGÔI năm 13 tuổi, tại vị trong vòng một năm (07/1884-07/1885), nhà vua trẻ Hàm Nghi (Nguyễn Phúc Ưng Lịch) (1871-1944) trở thành biểu tượng chống Pháp của phong trào Cần Vương trong suốt bốn năm.
            Bị bắt vào tháng 11/1888, chính phủ Pháp đưa vua Hàm Nghi sang lưu đày tại Alger, từ tháng 01/1889 cho tới cuối đời. Sử sách đề cập tới nhiều phong trào Cần Vương, thế nhưng quãng thời gian sống tại Alger của vua Hàm Nghi vẫn là một khoảng trống và thu hút sự quan tâm của mọi người.
            Ban tiếng Việt đài RFI đã có dịp nói chuyện với Amandine Dabat, cháu năm đời của vua Hàm Nghi. Hiện tại, chị đang làm luận văn tiến sĩ về cuộc đời và sự nghiệp của vua Hàm Nghi tại đại học Sorbonne-Paris 4 và có nhiều công trình nghiên cứu về chủ đề này. Chị cho biết, ngoài hình ảnh một vua An Nam lưu vong, vua Hàm Nghi còn là một nghệ sĩ, một họa sĩ. Đây là khía cạnh mà ít người biết tới.
            Cuộc đời lưu đày và cuộc đời nghệ sĩ của vua Hàm Nghi là hai chủ đề được RFI tiếng Việt lần lượt đăng trong hai tạp chí. Trong số tạp chí lần trước, RFI tiếng Việt đã đề cập tới cuộc sống lưu đày của vua tại Alger. Lần này, chúng tôi sẽ đề cập tới cuộc đời nghệ sĩ-họa sĩ của ngài.
            Khi tới Alger vào tháng 1 năm 1889, Hàm Nghi được đại úy Henri de Vialar tiếp đón và giúp ổn định cuộc sống trong thời gian đầu. Chính trong khoảng thời gian tiếp xúc này, sĩ quan người Pháp này đã phát hiện ra tài năng hội họa của Hàm Nghi, từ giờ được gọi là Hoàng tử Annam (Prince d’Annam). Phiên dịch của Hàm Nghi thuật lại như sau:

            “Trong suốt mùa đông năm đó, khi trời xấu, Hoàng từ vẽ để giải buồn và dù không biết luật phối cảnh, những bức họa của ngài không hề thiếu nét tinh xảo hay khéo léo. Nhận thấy khiếu hội họa, gần như thiên bẩm, của nhà vua, đại úy Vialar đã giới thiệu một trong những người bạn của mình là họa sĩ Reynaud và nói rằng nếu ngài muốn học hội họa, họa sĩ sẽ rất vui được làm thầy của ngài. Hàm Nghi chấp nhận tức thì đề xuất trên và đồng ý học với Reynaud mỗi tuần hai buổi, các ngày thứ 3 và 6. Ngay buổi đầu tiên, thầy họa người Pháp mang tới một hộp màu, một giá vẽ và nhiều dụng cụ cần thiết. Và Hoàng tử ngày càng có nhiều tiến bộ”.(1)

            Hàm Nghi học vẽ với Marius Reynaud. Sau này, khi sang Pháp, ngài học điêu khắc với nghệ sĩ Auguste Rodin nổi tiếng. Lý do gì khiến chính phủ Pháp tạo điều kiện giúp vua theo đuổi môn nghệ thuật này, cũng như nhiều hoạt động thể thao khác như đấu kiếm hay chơi quần vợt? Amandine Dabat giải thích:

            “Khi vua Hàm Nghi tới Alger, chính phủ Pháp muốn biến ngài thành một người thân Pháp và khiến cuộc sống lưu đày của ngài thoải mái hơn. Chính trong hoàn cảnh này mà chính phủ Pháp đã đề xuất cho vua Hàm Nghi theo học hội họa với họa sĩ theo trường phái phương Đông Marius Reynaud đang sống tại Alger. Ngài học vẽ với Marius Reynaud bắt đầu từ 1889, ngay vài tháng sau khi vua tới Alger. Và trong vòng 15 năm, Marius Reynaud là thầy dạy của ngài.
            Sau đó, bắt đầu từ năm 1893, có nghĩa là 4 năm sau khi tới Alger định cư, lần đầu tiên, vua Hàm Nghi được phép tới Pháp lục địa. Ngài được chính phủ Pháp cho phép du lịch trong vòng 3 tháng. Trước tiên, ngài đi điều trị một đợt chữa nước khoáng tại Vichy. Ngài cũng tới Paris, cũng như một số vùng khác của Pháp. Sau đó, ngài lại tới Pháp lục địa vào các năm 1895, 1897 và 1899. Và ngài đã gặp nghệ sĩ điêu khắc Auguste Rodin. Thế nhưng, chúng tôi vẫn chưa biết chính xác thời điểm cụ thể. Và chính nghệ sĩ đã đề nghị dạy ngài điêu khắc. Trong suốt vài năm, vua Hàm Nghi học điêu khắc với Rodin. Và trong suốt quãng thời gian sau này, ngài tiếp tục vẽ và điêu khắc. Tại thời điểm này, Rodin đã nhiều tuổi và ông mất vài năm sau đó
”.

Nghệ thuật, mối liên lạc với quê hương
            Từ một trò giải trí, học kĩ thuật hội họa phương tây trở thành niềm đam mê thực thụ. Nhà vua có thể bỏ cả ngày để chiêm ngưỡng và phác họa lên khung tranh cảnh thiên nhiên quanh nhà. Ngoài ra, tĩnh vật và chân dung cũng là những chủ đề chính trong tranh của Hàm Nghi. Trong một cuộc hội thảo gần đây, Amandine Dabat từng nhận xét: “Trong bối cảnh lưu đày, làm nghệ thuật đã tạo cơ hội cho vua Hàm Nghi lưu lại mối liên hệ với Đông Dương và nghệ thuật là không gian tự do, qua đó ngài có thể thoải mái thể hiện sự gắn bó với quê hương”.
            Amandine Dabat: “Khi vua Hàm Nghi vẽ, ngài được tự do thể hiện những gì mình muốn vì chúng ta biết là ngài không có quyền thể hiện ý kiến chính trị của mình và ngài cũng không có quyền nói về chính trị hay liên lạc với Đông Dương. Vì thế, đối với ngài, làm nghệ thuật là một cách để giữ liên hệ với Việt Nam. Với ngài, nghệ thuật là một không gian thể hiện tự do của mình, vì ngài không có quyền liên lạc với Đông Dương. Suốt đời, ngài bị coi là một nhà chính trị, một nhà vua bị phế truất, một người Việt Nam chống đối người Pháp hay một kẻ thù nguy hiểm của nước Pháp. Và vua Hàm Nghi muốn thay đổi hình ảnh chính trị này, hình ảnh mà sau vài năm không còn phù hợp với con người ngài. Nhưng đó lại là hình ảnh mà chính phủ Pháp lưu giữ lại.
            Chính vì thế mà, đối với vua Hàm Nghi, hội họa, nghệ thuật không chỉ là một khoảng trời tự do, mà còn là cái gì đó rất riêng tư để ngài có thể thoải mái thực hiện trong đời tư mà không phải lo lắng. Đó là không gian để ngài có thể thể hiện những gì mình muốn. Chính vì thế, đây là chiếc cầu nối nghệ thuật để ngài thể hiện tình cảm gắn bó đối với Việt Nam, dù rằng các tác phẩm đều thể hiện phong cảnh tại Algérie hay Pháp đại lục. Một điều thú vị khác là phần lớn chủ đề tranh của vua Hàm Nghi là phong cảnh. Ngoài ra cũng có một vài tranh chân dung, một vài lính thủy, nhưng tuyệt đối không hề có tranh về chủ đề chính trị
”.
            Amandine Dabat nhận xét có thể thấy được nét văn hóa Việt Nam của vua Hàm Nghi qua cách ngài xử lý quang cảnh, với vị trí các cây cổ thụ nổi bật bên trái của tranh. Cách phân bổ này được lấy cảm hứng từ bố cục truyền thống quang cảnh Việt Nam, ví dụ như vị trí các cây cổ thụ đơn độc giữa đồng làm nổi bật sự hiện diện các không gian thiêng liêng hay những nơi thờ cúng. Tổng quan tranh của ngài toát lên một cảm giác u sầu lặng lẽ như thầm gợi lên nỗi nhớ quê hương của người xa xứ. Vì thế, Amandine Dabat cho rằng vua Hàm Nghi cố thể hiện mối liên hệ mật thiết với quê hương, qua cách thể hiện phong cảnh Algérie hay Pháp lục địa theo những hình ảnh mà ngài còn lưu lại được về Việt Nam.

Từng học điêu khắc với Auguste Rodin
            Từ năm 1904, Hàm Nghi học điêu khắc với nghệ sĩ nổi tiếng Auguste Rodin. Những năm 1920 đánh dấu sự thăng hoa đối với sự nghiệp của ngài. Nếu như con người thường vắng mặt trong các tác phẩm hội họa, thì trong điêu khắc, Hàm Nghi tìm cách thể hiện những khuôn mặt phụ nữ, hay con người, qua những bức tượng bán thân.
            Ngoài ảnh hưởng từ Auguste Rodin, trong những tác phẩm của ngài cũng toát lên kỹ thuật của nhà điêu khắc Aristide Maillot. Hơn nữa, Hàm Nghi luôn thể hiện như một nghệ sĩ phương Tây và một nghệ nhân Việt Nam. Không phải tác phẩm nào của ngài cũng được kí ở dưới. Ngài chỉ kí những tranh được coi là hoàn thiện.
            Amandine Dabat nhận thấy tính hai mặt trong các chủ đề giữa tranh sơn dầu và tượng của Hàm Nghi. Đó chính là sự đoạn tuyệt giữa hai thế giới. Một bên là huyễn ảo với lòng thương nhớ quê hương được thể hiện qua thực tế. Còn bên kia là thực tại với những con người quanh nghệ sĩ, được thể hiện trong không gian ba chiều.
            Trong xưởng vẽ của mình, tại “Villa des Pins”, và sau này là tại “Villa Gia Long”, ngài bỏ rất nhiều thời gian cho môn nghệ thuật mà ngài đam mê. Cuộc sống lưu đày đã tạo cho ngài cơ hội phát triển năng khiếu nghệ thuật của mình. Vị vua bị truất ngôi và lưu đày trở thành một nghệ sĩ kín tiếng và say mê. Thế nhưng, công chúng vẫn chưa biết tới những tác phẩm của ngài.

Giá trị các tác phẩm
            Ngày 24/11/2010, RFI tiếng Việt có mặt tại nhà Drouot nơi tổ chức bán đấu giá bức tranh sơn dầu “Sur la route d’El Biar” (Trên đường El Biar, 35X46 cm) hay còn có tên khác là “Chiều tà” (Le Déclin du jour) do Hàm Nghi vẽ vào năm 1915. Được định giá từ 800 tới 1200 euro, cuối cùng tác phẩm được bán với giá 8800 euro, đã trừ chi phí (hoặc hơn 10000 euro bao gồm các chi phí khác).
            Amandine Dabat: “Tôi cũng có mặt ngày 24/11/2010 tại buổi bán đấu giá tại Drouot. Theo những gì tôi biết, thì đúng, đây là lần đầu tiên một tác phẩm của vua Hàm Nghi được bán đấu giá và được triển lãm cho công chúng chiêm ngưỡng”.
            Tuy nhiên, tác phẩm này không thuộc bộ sưu tập của gia đình vua Hàm Nghi. Hiện nay, phần lớn các tác phẩm của ngài được lưu trong các bộ sưu tập cá nhân. Vì sinh thời, Hàm Nghi không bán tranh mà chỉ tặng cho những người thân cận. Ví dụ, theo lời khuyên của thầy dạy Marius Reynaud, ngài đã từng tặng một bức tranh tĩnh vật cho Toàn quyền Pháp tại Algérie và một bức khác cho Vialar nhân dịp Năm Mới.
            Hậu duệ của vua Hàm Nghi từ chối cho biết số lượng tác phẩm mà gia đình đang bảo quản.
            Amandine Dabat: “Tình trạng các bức tranh được bảo quản hiện nay khá tốt. Gia đình lưu giữ một số các tác phẩm của ngài, một số khác được lưu giữ tại các gia đình hậu duệ của bạn bè vua Hàm Nghi. Đó là những người được ngài tặng tranh vào thời kì đó. Vì thế, toàn bộ tác phẩm của ngài khá tản mát”.
            Khi được hỏi về ý kiến đánh giá của các chuyên gia hội họa về những tác phẩm của Hàm Nghi, Amandine Dabat cho biết:

            “Cho tới nay, không một chuyên gia nào đánh giá tác phẩm của ngài. Hiện tại, tôi là người đang viết luận văn tiến sĩ về cuộc đời và sự nghiệp của vua Hàm Nghi. Vì thế, có thể nói, tôi là người kiểm nghiệm và đánh giá những tác phẩm của ngài. Đây là một phần nghiên cứu vẫn đang được thực hiện và tôi vẫn chưa thể đưa ra câu trả lời chính thức vì công việc nghiên cứu vẫn chưa kết thúc”.

            Ngoài cuộc triển lãm tác phẩm được đấu giá vào tháng 11/2010, những tác phẩm nghệ thuật của vua Hàm Nghi vẫn là một ẩn số đối với công chúng. Hiện tại, gia đình hậu duệ vua Hàm Nghi chưa có ý định triển lãm các tác phẩm của ngài.
            Amandine Dabat: “Về phần mình, tôi rất mong muốn là một ngày việc này có thể thực hiện được. Nhưng một mình tôi không thể quyết định được. Và hiện nay, câu hỏi này không nằm trong chương trình của gia đình”.
            Phải chăng, gia đình hậu duệ muốn giữ chúng như kho báu vô giá và chỉ lưu truyền trong nội bộ dòng họ? Hay phải chăng, đây cũng là lòng tôn trọng với cách sống mà vua Hàm Nghi đã lựa chọn: kín đáo và không phô trương?


THU HẰNG
Tháng 1/2015
________________________________________________
(1) Amandine Dabat, “Hàm Nghi artiste: le peintre et le sculpteur” (Hàm Nghi nghệ sĩ: họa sĩ và nhà điêu khắc). http://aejjrsite.free.fr/goodmorning/gm136/gm136_HamNghiArtistePeintreSculpteur.pdf


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150107-vua-ham-nghi-cuoc-doi-nghe-si

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #95 vào: 23/01/2018, 18:38:57 »
Cách Mạng Hung 1848 và thi phẩm xuất thần “Bài ca Dân tộc”

Với sáu khổ thơ, khổ nào cũng kết thúc bằng lời hiệu triệu: “Thề với Thượng đế của người Hung – Xin thề sẽ thôi kiếp tôi đòi”, “Bài ca Dân tộc” đưa ra hình ảnh đối lập giữa quá khứ điêu tàn và thực tại thôi thúc, giữa cảnh nô lệ đớn đau và niềm vui tự do xán lạn, và trở thành khúc ca lãng mạn và bi hùng, hừng hực niềm khát khao tự do của tinh thần quật khởi Hungary.

Thi hào Sandor đọc “Bài ca dân tộc” ngày 15/03/1848 tại Budapest. Tranh nghệ sĩ vô danh

                        “Vùng lên người Hung
                        Tổ quốc vẫy gọi
                        Thời cơ là đây
                        Giờ, hay không bao giờ
                        Sẽ là nô lệ
                        Hay người tự do
                        Câu hỏi là đây
                        Bạn hỡi, lựa chọn!”


            Đó là khổ thơ mở đầu trong “Bài ca Dân tộc”, thi phẩm được biết đến nhiều nhất của đại thi hào Hungary Petőfi Sándor, có vị trí hàng đầu trong nền thi ca ái quốc của đất nước này, một bài hịch có sức mạnh không kém gì những đạo quân mà những thông điệp, tới giờ, vẫn còn hết sức mang thời sự tính, cho dù gần 170 năm đã trôi qua.
            Được sáng tác và truyền bá hết sức rộng rãi trong cuộc cách mạng và cuộc chiến vì tự do của người dân Hungary năm 1848-1849, mà điểm khởi đầu, ngày 15/3, hiện nay là một trong ba quốc lễ thường niên của nước Hung, “Bài ca Dân tộc” được coi là hiệu kèn chiến đấu thúc giục mọi người dân Hung đứng lên vì nền độc lập dân tộc.
            Tên tuổi của Petőfi Sándor đã được đưa vào hàng những văn sĩ lớn của châu Âu thời bấy giờ, những người mang trong mình ngọn lửa dân chủ như Byron (Anh), Pushkin (Nga), Heiné (Đức), Mickiewicz (Ba Lan) và Victor Hugo (Pháp). Nếu chỉ hạn chế trong khuôn khổ văn học, tất cả những gì diễn ra sau đó trong nền thi ca Hung đều có khởi nguồn và xuất xứ từ ông!
            Bằng thi phẩm này và sự lựa chọn đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ một cách dứt khoát, Petőfi Sándor đã đi vào lịch sử của Hungary như một ca nhân vĩ đại của tình yêu và tự do, như lời thổ lộ của ông trong một bài thơ ngắn nổi tiếng “Tự do và ái tình – Vì các người, ta sống”. Bài thơ cũng là sự vinh danh cho cuộc cách mạng 1848, trang sử hào hùng của nước Hung.

Cuộc chiến giành tự do cho dân tộc
            Năm 1848 được biết đến trong lịch sử thế giới như một mốc thời gian, mà tại nhiều quốc gia châu Âu, làn sóng phản kháng và nổi dậy đã làm rúng động các thế lực cai trị. Nhưng xét cho cùng, chỉ tại Hungary, làn sóng ấy mới trở thành một cuộc chiến dai dẳng và cam go cho nền độc lập. Cuộc chiến kéo dài hơn một năm, và chỉ chịu thất bại khi đại quân Nga Hoàng vào cuộc.
            Tính tới thời điểm ấy, nước Hung đã nằm dưới sự quản lý và cai trị của Đế quốc Áo từ vài thế kỷ, và cho dù Hungary được hưởng nền tự trị hơn hẳn các dân tộc khác của nền quân chủ Habsburg, nhưng ước vọng độc lập luôn nung nấu trong lòng dân Hung, và chỉ chờ dịp để bùng phát. Những đòi hỏi cải tổ và thay đổi bắt đầu được đưa ra từ cuối năm 1847.
            Đầu năm 1848, sau gần hai chục năm thai nghén, bên cạnh những lãnh tụ của cuộc cách mạng trong tương lai đã hình thành nhóm thanh niên, sinh viên trẻ, trong số đó có chàng trai Petőfi Sándor 25 tuổi. Petőfi Sándor là một trong hai chục ngàn gương mặt của giới trẻ thủ đô Budapest, vào ngày 15/3 đã đứng lên đòi Đế chế Áo phải thực hiện bản yêu sách gồm 12 điểm.
            Mang tên “Dân tộc Hung muốn gì? Hãy mang lại hòa bình, tự do và đồng thuận”, bản yêu sách 12 điểm đòi hỏi Hungary phải có tự do báo chí, nền kiểm duyệt phải bị bãi bỏ, dân Hung phải được bình đẳng trên tư cách công dân và tôn giáo, tù chính trị phải được phóng thích, không đưa lính Hung ra nước ngoài, và quân đội ngoại quốc phải rời khỏi Hung, v.v…
            Cuộc tuần hành của giới trẻ Budapest đã gặt hái được những thành công vang dội ngay trong buổi chiều 15/3/1848: theo lời kể của nhà thơ Petőfi Sándor, một trong những gương mặt sáng giá nhất của ngày hôm đó, đại diện của vương triều Habsburg tại Hungary “mặt tái mét và run rẩy”, rồi “sau khoảng năm phút bàn bạc, đã chấp thuận tất cả”.
            Dưới sức ép của cuộc cách mạng, triều đình Áo buộc phải chấp nhận những đòi hỏi của phái đoàn đàm phán Hungary. Một chính phủ mới được thành lập tại Hung, và độc lập với hoàng đế Áo. Nội các này chỉ chịu trách nhiệm trước các dân biểu Hungary. Tuy nhiên, nỗ lực dân chủ và tự do của người dân Hungary chỉ được đáp ứng trong thời gian ngắn.
            Cuối hè 1848, triều đình Vienna phản công và cuộc chiến quân sự ác liệt nổ ra, và quân dân Hungary đã anh dũng chiến đấu chống lại kẻ thù với những chiến thắng quân sự đáng kể. Đầu tháng 05/1849, Áo phải cầu viện tới Nga Hoàng. Với gần 200 ngàn lính Nga, rốt cục liên minh Áo-Nga đã đè bẹp cuộc khởi nghĩa của Hungary vài tháng sau đó.
            Cuộc cách mạng và chiến đấu giành độc lập dân tộc của Hungary 1848-1849 là một sự kiện trọng đại của lịch sử nước Hung, đồng thời cũng là cuộc chiến nổi tiếng nhất của quốc gia này kể từ thời lập quốc. Năm 1848 cũng đọng lại như một nền tảng của bản sắc dân tộc Hung, là sự khởi đầu của những chuyển biến và cải tổ xã hội theo hướng dân chủ tư sản.
            Đặc biệt, những mong mỏi của người dân Hung được ghi lại trong yêu sách 12 điểm, về sau, cũng được lặp lại về cơ bản trong hai biến chuyển lịch sử lớn nhất của nước Hung trong thế kỷ XX: cuộc cách mạng 1956, và biến chuyển dân chủ 1989. Và nếu không có 1848, cũng sẽ không có nửa thể kỷ hòa dịu của nền quân chủ Áo-Hung, khởi đầu sau đó gần 20 năm.


Thi hào Petőfi Sándor

Bài ca thúc giục lòng ái quốc
            Mỗi cuộc cách mạng thường gắn liền với một hay nhiều tác phẩm nghệ thuật mang tính tiêu biểu, và đời sau thường nhớ tới sự kiện ấy không chỉ qua những giờ lịch sử, mà còn qua sự khắc họa nghệ thuật. Đối với biến cố 1848, gắn liền với đó là thi phẩm xuất thần “Bài ca Dân tộc” mà Petőfi Sándor đã sáng tác hai ngày trước mốc khởi đầu 15/03.
            Áng thiên cổ hùng văn ấy được viết trên một tờ giấy gập làm bốn, và được nhà thơ trao cho nhóm thanh niên yêu nước Budapest vào đêm 14/3. Ngày hôm sau, cùng với bản yêu sách 12 điểm, “Bài ca Dân tộc” là sản phẩm đầu tiên của nền báo chí tự do, khi nó được in thành nhiều ngàn bản để phát cho đoàn tuần hành, và nó đã được tác giả đọc ít nhất ba lần trong ngày.
            Mang ngòi bút xuống đường cùng nhân dân, nhà thơ Petőfi Sándor đã rực sáng trong ngày hôm đó - mà sau này hậu thế còn gọi bằng cái tên “Ngày Petőfi”, và theo một đánh giá, thi phẩm đó “quả thực đã định ra một ranh giới trong thi nghiệp của Petőfi. Đây là cái ngưỡng mà thông qua đó, mộng ước và lòng mong muốn của nhà thơ đã bước sang địa hạt của hành động”.
            Với sáu khổ thơ, khổ nào cũng kết thúc bằng lời hiệu triệu: “Thề với Thượng đế của người Hung – Xin thề sẽ thôi kiếp tôi đòi”, “Bài ca Dân tộc” đưa ra hình ảnh đối lập giữa quá khứ điêu tàn và thực tại thôi thúc, giữa cảnh nô lệ đớn đau và niềm vui tự do xán lạn, và trở thành khúc ca lãng mạn và bi hùng, hừng hực niềm khát khao tự do của tinh thần quật khởi Hungary.

                      “Bao lâu nay ta sống đời nô lệ
                        Tổ tiên ta cam chịu thiệt thòi
                        Chết tự do không chịu sống tôi đòi
                        Không yên nghỉ khi tự do chưa có.

                        Hỡi những kẻ vô loài đểu cáng
                        Tổ quốc cần sao không dám xả thân?
                        Cuộc sống mi giẻ rách tồi tàn
                        Sao quý hơn đất nước mình danh dự.

                        Thanh gươm sáng hơn nhiều lần xiềng xích
                        Nâng tay ta sang trọng bội phần
                        Thế mà ta vẫn mang xiềng xích!
                        Bỏ đi anh, tay nắm lấy gươm thần!

                        Như ngày xưa cái tên Hung lại đẹp
                        Xứng danh cùng liệt tổ, tiền nhân
                        Bao thế kỷ ấn tay ta giao phó
                        Rửa sạch đi ô nhục mấy lần.

                        Bao nấm mồ đùn lên cao ngất
                        Con cháu ta kính cẩn vái quỳ
                        Trước mộ phần kiêu hãnh thế hệ ta
                        Chúng cầu nguyện để chúng ta phù hộ
                        Kêu tên ta đầy thiêng liêng mến mộ…”


            Mang tính hành khúc, viết cho một dịp nhất định, nhưng “Bài ca Dân tộc” đã vượt qua được mọi hạn chế của những tác phẩm thời cuộc, để trở thành bài ca tự do của các dân tộc không chịu lùi bước trước bạo quyền. Riêng đối với Hungary, thi phẩm là một bản “Tuyên ngôn Độc lập”, và chính tác giả cũng coi đó là tác phẩm ông ưng nhất trong thi nghiệp gần 900 bài thơ.
            Sống một cuộc đời ngắn ngủi nhưng trọn vẹn với 26 năm trên dương thế, Petőfi Sándor đã ra đi trên chốn sa trường, hoặc bị bắt và phải sống cuộc đời mòn mỏi nơi xa xứ như một giả thuyết khác. Luôn tâm niệm không thể chết trên giường ấm đệm êm khi dân tộc còn trong vòng nô lệ, Petőfi đã sống và chết như một nghệ sĩ, một nhà ái quốc chân chính.

Nhạc điệu chắp cánh cho những vần thơ
            Ý thơ của “Bài ca Dân tộc”, sau này đã là cảm hứng để các nhà thơ Andrei Mureşanu (Romania) và Ján Botto (Slovakia) có những vần thơ mang âm hưởng tương tự cho những cuộc cách mạng ở xứ sở họ. Nhưng cần phải nói, ước vọng tự do ấy còn mãi vang vọng tới bây giờ, một phần cũng nhờ bài thơ đã được phổ nhạc một cách xuất thần vào năm 1973.
            Tác giả phần nhạc là ca-nhạc sĩ Tolcsvay László. Đây là một tên tuổi lớn và đa tài của nền nhạc nhẹ Hungary. Năm 1973, khi mới 23 tuổi, Tolcsvay László đã có ý tưởng tận dụng một cuộc vận động của chính quyền đương thời nhằm phổ nhạc cho thơ Petőfi để nói lên tiếng nói phản đối và giận dữ của thế hệ mình trước sự độc đoán và chuyên quyền của nhà nước.
            Hồi tưởng lại chuyện gần 45 năm trước, nhạc sĩ cho hay, khi bài hát được ông đưa ra giới thiệu trước một hội đồng, ông cảm thấy “thật đáng sống cho khoảnh khắc ấy”. Khi nghe xong, các thành viên hội đồng mặt mày tái xám, và tìm cách giải thích, biện bạch rằng một bài thơ lớn và kinh điển như thế, thì không nên phổ nhạc theo hơi hướng Rock.
            Ngay tối hôm đó, nhạc sĩ Tolcsvay László đã trình diễn ca khúc cùng ban nhạc của ông trong Câu lạc bộ thanh niên, và như lời ông kể, “lập tức cách mạng bùng nổ”. Chính quyền Hungary, trước sức mạnh biểu cảm của âm nhạc và ca từ, lập tức cấm bài hát và trong vòng 8-9 năm sau đó, ca khúc không hề được vang lên một cách chính thức và không được thu băng, đĩa.
            Chỉ tới khi cần quay một bộ phim hội tụ những anh tài của nền nhạc trẻ Hungary vào năm 1981, “Bài ca Dân tộc” mới được phép cất lên, và người ca-nhạc sĩ sững sờ khi thấy cả cầu trường đều thuộc giai điệu bài hát, và cùng hát với ông. Hóa ra, giới trẻ đã thu vào cassette bài ca khi nó được hát “nội bộ” trong các Câu lạc bộ sinh viên và chuyển cho đài Châu Âu Tự Do.
            Qua làn sóng phát thanh, ca khúc đã được phát thường xuyên, và trở thành một bản quốc ca không chính thức của Hungary thời thay đổi thể chế. Tolcsvay László thổ lộ rằng, đối với một nghệ sĩ, không còn vinh dự gì hơn khi ước vọng tự do của mình thể hiện trong bài hát được 70 ngàn người tập trung trước Dinh Tổng thống ở Budapest tán thưởng hát cùng.
            Sức mạnh huyền diệu của bài thơ, và ca khúc là ở chỗ nó đi vào lòng người dân, đánh thức tinh thần dân tộc và niềm mong mỏi yêu tự do, độc lập có khi đã nguội lạnh. Không phải ngẫu nhiên mà “Bài ca Dân tộc” luôn được vang lên trong những sự kiện chính trị cấp thời, khi người dân cảm thấy chính quyền đã không thực hiện, hay chà đạp “khế ước xã hội” do cử tri ủy nhiệm.
            Những câu thơ thấm đẫm tinh thần ái quốc của bài thơ “Sẽ là nô lệ – Hay người tự do – Câu hỏi là đây – Bạn hỡi, lựa chọn!” cũng đã xuất hiện trong bài phát biểu lịch sử, gây nhiều tiếng vang mà tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã đọc để biểu dương cuộc cách mạng 1956 của Hungary, nhân dịp kỷ niệm nửa thế kỷ biến cố lịch sử trọng đại đó vào năm 2006.
            Gần đây nhất, câu thơ “Hãy thành nô lệ – Hay người tự do?” còn được khắc trên tượng đài Bức màn sắt đặt tại đại lộ chính Andrássy của thủ đô Budapest, nhân kỷ niệm hai mươi năm ngày “bức màn sắt” ngăn cách biên giới Hungary-Áo được dỡ bỏ, mở đường cho sự thống nhất của nước Đức và đặt nền móng cho một châu Âu thống nhất, không biên giới.
            Đó là sức mạnh vĩnh cửu của “Bài ca Dân tộc”, khúc ca của một dân tộc nhỏ, nhưng quả cảm, can trường và luôn nuôi dưỡng trong lòng tình yêu tự do bất diệt…


HOÀNG NGUYỄN
Tháng 3/2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20170315-cach-mang-hung-1848-va-thi-pham-xuat-than-“bai-ca-dan-toc”

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #96 vào: 25/01/2018, 21:58:34 »
Song Ngọc và một đời sáng tác

Để tạo ra một nét riêng, mỗi một người nghệ sĩ hay thường dành cho mình một nghệ danh. Thế nhưng, cũng có nhiều nhạc sĩ, với những lý do riêng, họ có rất nhiều bút danh/nghệ danh. Chính vì vậy, mà không ít người nghe đã ngạc nhiên khi biết tác giả của một tác phẩm nổi tiếng này cũng chính là tác giả của một tác phẩm nổi tiếng khác, với hai bút danh khác nhau.

Nhạc sĩ Song Ngọc và những sáng tác được nhiều người yêu thích

MỘT TRONG những người đó, là nhạc sĩ Song Ngọc, hay được biết đến như nhạc sĩ Hàn Sinh của “Xin gọi nhau là cố nhân”, hay Hoàng Ngọc Ân của “Định mệnh”, cũng chính là Song Ngọc của “Tiễn đưa”, người đầu tiên phổ thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa.

                       “Người về chiều nay hay đêm mai
                        Người sắp đi hay đã đi rồi
                        Muôn vì hành tinh rung rung
                        Lung linh thềm ga vắng
                        Hay rượu tàn rung trên môi…

                        (Tiễn đưa)

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Có một người bạn gửi cho tôi một bài thơ của Nguyên Sa. Tôi nhìn bài thơ đó, thấy hay quá, trong vòng một đêm, tôi phổ nhạc cho bài “Tiễn đưa”. Về sau, nếu tôi không lầm, có thể tôi là người đầu tiên phổ thơ Nguyên Sa năm đó”.

            Năm đó, nhạc sĩ Song Ngọc 19 tuổi, và bài thơ của cố thi sĩ Nguyên Sa có tên là “Tiễn biệt”.
            Một điều thú vị là khi ấy, cố thi sĩ Nguyên Sa và nhạc sĩ Song Ngọc có thể nói là ở hai thế hệ, một thầy, một trò, nhưng họ đã gặp nhau qua một tác phẩm, và cùng tạo ra một tác phẩm khác.
            Đối với chàng nhạc sĩ Song Ngọc lúc bấy giờ, ca khúc “Tiễn đưa” là sự khởi đầu, để sau đó, những bản nhạc trữ tình được tiếp nối ra đời, đánh dấu cho dòng nhạc Song Ngọc đa dạng, phong phú về giai điệu lẫn thể loại.

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Bản nhạc này với bản nhạc kia nó khác, vì tính của tôi nó… kỳ kỳ. Tôi không thích một chỗ, tôi thích cái gì nó lạ hơn. Có những bản nhạc như Xin gọi nhau cố nhân khác hẳn với Định mệnh…

                       “Tôi trở về đây lúc đêm vừa lên
                        Giăng mắc trời mưa phố xưa buồn tênh…

                        (Xin gọi nhau là cố nhân)

            Tuy khác nhau, và tuy là mỗi ca khúc ông dùng một bút danh khác nhau, thế nhưng tất cả những nhạc phẩm của Song Ngọc đều có một điểm chung, đó là mỗi một bản nhạc là một kỷ niệm của riêng ông. Mỗi lời ca, giai điệu đều có liên hệ đến những nơi ông đã đi qua, những người ông đã gặp trong cuộc đời mình. Tất cả những điều ấy ông gọi là “kỷ niệm của dĩ vãng”.
            Một trong những kỷ niệm ấy là câu chuyện ông gửi vào ca khúc “Tình yêu như bóng mây”.

                       “Rồi mai tôi sẽ xa Đà Lạt
                        Thành phố này xin trả lại cho anh
                        Ngàn thông buồn chiều nay im tiếng
                        Ngôi giáo đường lặng đứng suy tư…

                        (Tình yêu như bóng mây)

            Đà Lạt năm đó theo ký ức của Song Ngọc là vào năm 1971, 1972. Ca khúc “Tình yêu như bóng mây” được ra đời tại thành phố sương mù, một thành phố mà ông nói rằng ông đã yêu và để lại một tình yêu không nhỏ.

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Khi đó tôi đi học và ở trọ nhà của thi sĩ Tô Kiều Ngân. Tôi viết hai bài, “Tình yêu như bóng mây” và “Chẳng làm sao”, phổ thơ của Phan Khôi. “Tình như bóng mây” có những chi tiết là thật. Ví dụ như cái nhà thờ mà “tôi cúi đầu từ giã Đà lạt ơi” là nhà thờ Con gà tại Đà Lạt. Bài này thật sự có nước mắt của Song Ngọc.
 
            Đà Lạt từ ngàn xưa đã được gọi là thành phố mộng mơ, với thông reo, với sương giăng mờ những con dốc nhỏ. Nếu Đà Lạt trong ca khúc của Lê Uyên Phương là nơi bắt đầu cho những cuộc tình thì hình ảnh Đà Lạt trong “Tình yêu như bóng mây” của Song Ngọc là nơi mà chỉ một ngày mai nữa thôi, sẽ là một cuộc chia xa.


Nhạc sĩ Song Ngọc

            Rồi cũng như bao thanh niên thế hệ thời ấy, nhạc sĩ Song Ngọc lên đường tòng quân. Và đó cũng là thời gian mà ông cho ra đời các ca khúc về nỗi nhớ của người trai xa đô thành, xa cố nhân, “vào đời manh áo chiến lúc tuổi còn xanh”

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Khi đi lính tôi 19 tuổi, thì anh Hoài Linh có viết thêm cho tôi lời của một bài nữa là “Chiều thương đô thị” để tiễn Song Ngọc đi lính”.

                       “Hôm xưa tay nắm tay nhau... anh hỏi tôi rằng:
                       “Những gì trong đời... ta ghi sâu vào tâm tư
                        Không tan theo cùng hư vô
                        Không theo tháng năm phai mờ
                        Tình nào tha thiết anh ơi?”
                        Tình quê hương gợi sâu
                        Tình tôi anh bền lâu…

                        (Chiều thương đô thị)

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Năm đó khoảng chừng năm 1961, ngày đó trước ngày tôi đi lính. Thời gian đó cũng là thời gian chiến tranh, anh Hoài Linh đặt lời cho “Chúng mình ba đứa”. Sau đó tôi có viết một bài nữa là bài “Một chuyến bay đêm”.

            Dù là ở dòng nhạc trữ tình hay dòng nhạc lính, thì trong những sáng tác của Song Ngọc đều toát lên một nét đẹp vừa hào phóng, vừa lãng mạn. Hiện lên trong những ca khúc ấy, là hình ảnh của người nghệ sĩ lãng mạn mang khí chất oai hùng. Ông đã bày tỏ hầu như trọn vẹn tinh thần của người trai đang ở lứa tuổi đẹp nhất đời người.
            Người trai trả nợ tang bồng với núi sông bằng ước mơ bay cao, bay xa bên dãy Ngân Hà, xem chuyện đời nhẹ như những chuyến bay.

                       “Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền
                        Người trai đi viết câu chuyện Một Chuyến Bay Đêm
                        Cánh Bằng nhẹ mơn trên làn gió
                        Đời ngây thơ xưa lại nhớ, lúc mình còn thơ
                        Nhìn trời cao mà reo mà mơ ước như diều
                        Để níu áo Hằng Nga ngồi bên dãy Ngân Hà…

                        (Một chuyến bay đêm)

            Thế rồi, nợ tang bồng của Song Ngọc và của bao người trẻ thời đó gác lại sau một ngày cuối tháng Tư. Ông rời quê hương, xa hẳn những chuyến bay đêm và màu áo xanh. Lần từ giã này lâu và xa hơn rất nhiều so với ngày ông “cúi đầu từ giã Đà Lạt mơ”.
            Nhưng có lẽ đã là nghệ sĩ, thì ở bất cứ hoàn cảnh nào, thời điểm, họ vẫn phải sáng tác. Tình yêu âm nhạc và sáng tác vẫn luôn đong đầy trong cuộc sống của nhạc sĩ Song Ngọc. Chỉ có rằng, theo thời gian và những xoay chuyển của cuộc sống, sáng tác của ông có thêm chỗ đứng cho sự mất mát và thất vọng. Cũng là xa cách, nhưng trong sự chia ly này giờ đây mang màu sắc của cô độc.

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Khi tôi qua Mỹ năm 75, khoảng thời gian năm 1983, 1984, người Việt Nam bên đây nam nhiều hơn nữ, nên những chuyện oan kiên trong tình yêu đầy dẫy. Tôi nhìn thấy nhiều chuyện mất hạnh phúc gia đình hoặc tan vỡ của các cặp tình nhân. Có lẽ những chuyện đó nó chạy vào tiềm thức của người sáng tác”.

            Ca khúc “Đàn bà” nổi tiếng ra đời từ câu chuyện đời của một người bạn của ông, với lời nói:

Nhạc sĩ Song Ngọc: “Ảnh ngồi buồn và tâm sự với tôi, Song Ngọc à, làm cho tôi một bài không có đàn bà trong đời tôi. Cùng với những ưu tư của mình đã nhìn thấy và những hiện trạng bây giờ, tôi về viết bản nhạc đó, và gọi tên là Đàn bà”.

                       “Đã từ lâu tôi vẫn thường trong bóng đêm.
                        Mang nỗi buồn không biết tên.
                        Tôi đã thầm thề mây hẹn gió.
                        Tôi muốn lánh xa chuyện đời.
                        Tôi muốn quên đi loài người.
                        Tôi ước mơ trong cuộc đời không có đàn bà…

                        (Đàn bà)

            Song Ngọc, người nhạc sĩ tự nhận rằng từ những năm 13 tuổi, ông đã đam mê những áng văn của Nhất Linh, Khái Hưng. Từ đó mà kỹ thuật dùng từ và âm hỏi, ngã trong nhạc phẩm của ông ảnh hưởng nhiều của Tự lực văn đoàn.
            Và có lẽ cũng do sự ảnh hưởng ấy mà nhạc của ông vừa có giai điệu bay bổng, lãng mạn, vừa có ca từ đơn giản, không trưởng giả. Dù là ông viết về tình ca hay viết cho người đồng đội, các ca khúc đều mang màu sắc riêng của một thời tuổi trẻ nhiều khát vọng.

CÁT LINH
Tháng 5/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/song-ngoc-a-life-for-music-cl-05082016101712.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #97 vào: 30/01/2018, 22:42:13 »
Bộ phim “Sissi”: Một đời vinh quang và cô độc của hoàng hậu Áo Quốc

“Đối với tôi, hạnh phúc được tăng gấp đôi bởi khi lựa chọn người phối ngẫu trong tương lai, tôi đã theo những cảm xúc sâu kín trong lòng, và từ trong sâu thẳm trái tim mình, tôi hy vọng sẽ tìm được niềm hạnh phúc của đời mình trong những đức tính tuyệt vời của Elisabeth”. Đó là những lời được ghi lại trong chính sử mà Hoàng đế Franz Joseph của Đế quốc Áo đã thổ lộ trong ngày trọng đại của ông, 24/04/1854, khi ông cùng Elisabeth, người em họ, nữ công tước xứ Bayern, bước vào ngôi thánh đường của dòng tu Augustiner tại thủ đô Vienna.

Diễn viên Romy Schneider trong vài hoàng hậu Sissi.
Ảnh chụp từ màn hình bộ phim Nữ hoàng Áo quốc

LỄ THÀNH HÔN của người đứng đầu vương triều Habsburg khởi đầu cho chuỗi lễ lạc linh đình kéo dài một tuần trên khắp xứ Áo, đồng thời cũng là điểm bắt đầu cho quãng thời gian kéo dài 44 năm trên ngôi vị Hoàng hậu của Elisabeth. Đó là ngôi vị hoàng hậu dài nhất trong lịch sử nước Áo.
            Người phụ nữ được tôn vinh là đẹp nhất châu Âu hậu bán thế kỷ 19 ấy, khi ở tuyệt đỉnh của danh vọng, vẫn cô đơn và vẫn phải trải qua muôn vàn thử thách, vì cá tính thẳng thắn, bình dân của bà đi ngược lại những lề luật, chuẩn mực hết sức khuôn phép của vương triều Áo.
            Không hề được chuẩn bị cho ngôi hoàng hậu, cũng không hề có chút kinh nghiệm trong cuộc sống hoàng tộc, nhưng với vẻ đẹp mê hồn, phong cách quyến rũ và cách hành xử khác biệt trong môi trường bà sống, Elisabeth đã vĩnh viễn để lại tên tuổi trong lịch sử Áo và châu Âu.

Bộ phim kinh điển của văn hóa đại chúng
            Tròn 180 năm kể từ khi bà chào đời, hình ảnh Elisabeth vẫn được hậu thế biết đến và nhớ tới nhiều nhất nhờ bộ phim “Sissi”, được khởi chiếu cách đây đúng sáu thập niên, ghi lại những năm tháng vừa huy hoàng, vừa cam go của cả Elisabeth và vương triều nước Áo.
            Mang tên chung là “Sissi”, bộ phim gồm ba phần riêng lẻ – “Sissi, Hoàng hậu Áo quốc”, “Vị hoàng hậu trẻ” và “Những năm tháng quyết định”. Ba phần được hoàn tất nối tiếp nhau trong những năm 1955-1957, và trở thành bộ phim được biết tới nhiều nhất trong lịch sử điện ảnh nói tiếng Đức.
            Phim có sự góp mặt của hai tài tử lớn của nền điện ảnh Áo, Romy Schneider và Karlheinz Böhm. Đặc biệt, Romy Schneider, tượng đài sau này của nghệ thuật thứ bảy thế giới, khi thủ vai Elisabeth ở phần một của phim, cũng mới chỉ chưa đầy 17 tuổi, xấp xỉ độ tuổi của Sissi trong phim.
            Được quay hết sức diễm lệ và ngoạn mục tại những địa điểm là biểu tượng của nền quân chủ Áo, như Hoàng cung Hofburg, lâu đài Schonbrunn…, với nhiều tình tiết vừa cuốn hút, hấp dẫn, vừa dí dỏm, nhẹ nhàng, phim “Sissi” đã ngay lập tức chinh phục người yêu điện ảnh.
            Hơn thế nữa, phim còn là sự khắc họa những năm tháng vàng son của nền “song quốc quân chủ” Áo-Hung, năm nay kỷ niệm 150 năm ngày thành lập, với những tên tuổi “vang bóng một thời”, nên rất thích hợp với những người hoài cổ, và cả giới trẻ muốn tìm hiểu lịch sử và quá khứ.
            Và cho dù bộ phim thường xuyên khiến các nhà sử học phải lắc đầu về những chi tiết hư cấu kiểu “ba phần thực, bảy phần hư”, những sự kiện được sắp xếp rất… thoải mái không theo trình tự biên niên sử, nhưng nó vẫn khiến người xem gợi nhớ một thời vinh quang của Đế quốc Áo.

Biến cố tình cờ hiếm hoi
            Mở đầu với hình ảnh đồng quê tuyệt đẹp của vùng Bayern, chúng ta được biết đến Sissi – tên thân mật của Elisabeth, một cô bé vô tư, yêu thiên nhiên và có lối sống phóng khoáng tự nhiên, con thứ tư của công tước Maximilian Joseph và vợ là công chúa Ludovika của Bavaria.
            Chào đời đúng vào Giáng Sinh năm 1837, Sissi sống những năm tháng tuổi thơ ở miền quê, xa những biến động chính trị và xã hội của triều đình Áo. Tuy nhiên, một ngày nọ, gia đình nàng nhận được thư mời gặp mặt của thái hậu Sophie, thân mẫu của hoàng đế Áo Franz Joseph.
            Đó là tháng 08/1853, Franz Joseph ở ngưỡng tuổi 23, độ tuổi đủ “chín” và chững chạc đối với một vị quân vương để trị vì và kết hôn. Thái hậu Sophie đã “nhắm” cho ông người vợ tương lai, chính là Helene, chị gái của Sissi, khi đó 20 tuổi và đã được chuẩn bị từ lâu cho vai trò này.
            Đây là một lựa chọn mang tính chính trị vì Vienna muốn thắt chặt thêm quan hệ với đồng minh – xứ Bayern. Với Franz Joseph, hai chị em Helene và Sissi chính là các em họ không xa lạ gì, và vị hoàng đế xứ Áo hẳn cũng đã chấp thuận Helene, nếu không có một bất ngờ thật thú vị.
            Ấy là việc cả hai chị em Helene và Sissi đều được mẹ, công chúa Ludovika, cho tới Bad Ischl, nơi có nhà nghỉ hoàng gia truyền thống của vương triều Áo, mà trong đời hầu như năm nào Franz Joseph cũng về đó trong dịp hè. Đó cũng chính là địa điểm “kén vợ” cho hoàng đế Áo.
            Một sự tình cờ đã khiến Franz Joseph gặp Sissi trước khi nghi lễ chính thức diễn ra trong tòa dinh thự, và vị hoàng đế trẻ đã ngây ngất trước vẻ đẹp hồn nhiên của cô gái 16 tuổi, nhưng ông không nhận ra đó chính là cô em họ, do hai người gặp nhau đã lâu, khi Sissi còn nhỏ.
            Kể từ đó, không gì có thể ngăn nổi cặp trai gái trẻ. Bất chấp lời hứa của thân mẫu là sẽ chọn người chị Helene, trong những khoảnh khắc bùng nổ của tình yêu sét đánh, Franz Joseph chọn Sissi. Và lễ đính hôn của họ diễn ra sau đó vài ngày, vào đúng sinh nhật lần thứ 23 của vị hoàng đế.

Gian truân và thử thách
             “Có phải ngày nào con người ta cũng “câu” được một vị vua thế này đâu!”, bà mẹ Ludovika đã mừng vui nói với Sissi như vậy khi vị quân vương Áo ngỏ lời với Sissi. Tuy nhiên, trong thực tế, Sissi không được chuẩn bị cho vai trò đó, và đây là nguồn gốc của rất nhiều rắc rối.
            Trước hết là giữa nàng với Thái hậu Sophie, ở điểm này mâu thuẫn nàng dâu – mẹ chồng đã được làm nổi bật trong phim. Là người có tính cách mạnh, thậm chí được coi là “người đàn ông duy nhất trong triều đình Áo”, thực chất thái hậu Sophie chỉ muốn dạy dỗ Sissi theo chuẩn mực cần có.
            Tình yêu với con trai, và mong muốn con dâu trở thành một hoàng hậu mẫu mực, xứng đáng với ngôi vị của mình đã khiến bà luôn bất hòa với cô gái trẻ hầu như còn chưa biết cư xử theo nghi lễ, với bản tính tự nhiên, yêu tự do, với suy nghĩ “giá chồng mình là thợ giày có hay hơn không”.
            Những mâu thuẫn nhiều khi đạt tới đỉnh điểm khi Sissi bị coi là còn quá trẻ, không có kinh nghiệm nuôi dạy con cái theo cách quý tộc, khiến ba người con đầu đều được thái hậu Sophie nuôi dưỡng. Vô tình hay cố ý, mọi hành động của Sissi gần như đều đi ngược lại ý muốn của mẹ chồng.
            Và trong những điểm dị biệt ấy, có một điểm mà nhiều sử gia cho là có thể lý giải cho tình yêu cuồng nhiệt của Sissi với nước Hungary, người Hung. Bởi lẽ, thái hậu Sophie căm ghét Hungary, đất nước chỉ muốn tự do và tách khỏi Đế quốc Áo với những cuộc khởi nghĩa của mình.

Mối tình với nước Hung, người Hung
            Trong cả cuộc đời, Sissi không thật để tâm tới chính trị, mặc cho người chồng lao tâm khổ tứ với núi công việc của Đế quốc Áo rộng lớn. Duy chỉ có một thời gian ngắn, bà thực sự tham chính, và nỗ lực của bà đã góp phần không nhỏ cho sự hòa dịu của hai kẻ thù Áo-Hungary.
            Đó là vào những năm 1866-1867, khi Sissi coi mỗi lần sang Hungary là “trở về nhà”, khi bà có gia sư riêng, bạn gái riêng dạy bà tiếng Hung, văn hóa và lịch sử Hung, khiến bà có cảm tình và khâm phục tình yêu tự do của dân tộc Hung, và vẻ đẹp của xứ sở này, nơi bà thường xuyên lui tới.
            Không những thế, khi sang Hung, Sissi còn không giấu giếm rằng, bà cảm thấy thoải mái hơn nhiều vì thoát được sự “quản lý” của bà mẹ chồng, và sự cứng nhắc của những nguyên tắc hoàng tộc. Và nhất là, ở đó bà có một người bạn lớn, người anh mà bà hằng thần tượng và tin cậy.
            Đó là bá tước Andrássy Gyula, người đã bị chính hoàng đế Franz Joseph cho kết án giảo hình khiếm diện do tham gia cuộc khởi nghĩa của người Hung năm 1848, và bởi thế ông phải lưu đày biệt xứ tại Pháp trong nhiều năm. Trở về Hung, ông đại diện cho khuynh hướng muốn Áo-Hung hòa giải.
            Đó là mẫu chính khách toàn tài của Vương quốc Hungary, và như một người đàn ông, Andrássy cũng được coi là vô cùng quyến rũ và tinh tế. Đương nhiên, sự gần gũi giữa ông và Sissi như trong phim là không có, nhưng giữa hai người đã hình thành một tình cảm trân quý và hết lòng tôn trọng.
            Để rồi, chính Sissi là người nhiều lần đề xuất với chồng mình, hãy đưa Andrássy lên cương vị xứng đáng để vị bá tước này có thể cống hiến cho cả Áo lẫn Hungary. Ngôi vị thủ tướng Vương quốc Hungary, rồi ngoại trưởng của cả nền quân chủ Áo-Hung của Andrássy, là có sự đóng góp của Sissi.

Vinh quang và khổ đau
            Phần hai của bộ phim đã dành những cảnh rất đẹp để mô tả lễ đăng quang năm 1867 của hoàng đế Franz Joseph trên cương vị quân vương của xứ sở Hungary, khởi đầu cho hơn nửa thế kỷ thịnh trị của nền “song quốc quân chủ” Áo-Hung, mà Sissi là người có những đóng góp không nhỏ.
            Đó cũng là những khoảnh khắc đỉnh cao trong cuộc đời và sự nghiệp của hai người đàn ông từng là cựu thù, nhưng đã gạt bỏ tất cả vì lợi ích của đất nước: Franz Joseph và Andrássy Gyula. Và là giây phút mãn nguyện của người phụ nữ xinh đẹp Sissi, khi mong ước của bà đã thành sự thực.
            Tuy nhiên, cuộc đời của Sissi không chỉ có những giây phút như vậy. Bệnh tật luôn dày vò bà, hoàng tộc cũng không ưa bà, khiến bà chọn lối sống lãng du nay đây mai đó, không mấy khi ở cùng chồng. Tình yêu nhanh chóng trôi qua, nhưng tới cuối đời Sissi vẫn giữ sự tương kính với chồng.
            Bộ phim không nhắc tới tấn thảm kịch của Sissi khi người con trai duy nhất có thể nối dõi tông đường của bà, hoàng thái tử Rudolph qua đời trong hoàn cảnh không rõ ràng, khiến bà kể từ đó chỉ mặc trang phục đen, trùm mặt và luôn u buồn. Nhưng vẻ đẹp huyền thoại thì vẫn theo Sissi tới cuối đời.
            Một số sự kiện lịch sử trong phim phản ánh sự đối kháng và lạnh lẽo của người dân vùng Bắc Ý trước vương triều Áo, cho thấy vấn đề dân tộc sẽ có tầm quan trọng sống còn tới vận mệnh của đế chế bao bọc trong mình 13 dân tộc này. Có điều, đó là câu chuyện của nhiều năm về sau…
            Những thước phim khép lại, đọng lại trong lòng khán giả là hình ảnh một người phụ nữ xinh đẹp, đã vượt qua những lễ giáo phong kiến để được là chính mình, và đã nghe theo tiếng gọi của cảm xúc để làm những điều tốt đẹp cho nhiều người khác… Một phần con người Sissi, hoàng hậu Áo Quốc, là như thế!


HOÀNG NGUYỄN
Tháng 10/ 2017


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20171230-hoang-hau-sissi-chua-co-anh

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #98 vào: 01/02/2018, 19:18:21 »
Nhật ký văn nghệ thời tuổi trẻ, Sài Gòn 1965

Những trang nhật ký sau đây viết về thời gian nhà văn Thanh Nam (1931-1985) và tôi thay nhau làm tổng thư ký tòa soạn tuần báo Nghệ Thuật, 1965-1966 (Chủ Nhiệm-Chủ Bút Mai Thảo). Có lúc chúng tôi ở chung phòng 9C trên cao ốc Cửu Long đường Hai Bà Trưng – lúc viết mấy đoạn này nay không nhớ rõ là sau hay trước giai đoạn đó. Anh yêu Thanh Nga, vốn hiền lành nên anh được bà bầu gánh thân mẫu Thanh Nga để tự do ra vào hậu trường, anh thường kéo tôi đi theo.

Bìa một số báo Nghệ Thuật

VIẾT VỀ nhà văn Thanh Nam người viết bài này có thể viết một cuốn sách dầy, không phải chúng tôi đều sinh ra trong một tỉnh thành, cùng ở Hà Nội trước 1954, cùng làm chung mấy tờ báo ở Sài Gòn, cùng sống với nhau trong một chung cư khi cả hai còn độc thân, mà chúng tôi còn chung những ngày giữa đời vui buồn trong làng văn làng báo từ miền Nam tới hải ngoại, và Tháng Tư 1975 anh đi cùng tàu với tôi tới Guam hôm 3 Tháng Năm, 1975. Thanh Nam người Nam Ðịnh, tên khai sinh là Trần Ðại Việt, mất tại Seattle vì bệnh ung thư cuống họng. Viết văn từ Hà Nội cùng nhóm Nguyễn Minh Lang, trước 1954 đã vào Nam, nhập tịch làng báo Sài Gòn, chuyên viết truyện dài từng kỳ.

22 giờ ngày 26 Tháng Chín, 1966
Tôi mặc bộ đồ ngủ còn thơm mùi băng phiến, khóa cửa, đặt chân xuống lòng con ngõ vắng. Trời đêm nay như những đêm qua, lặng thinh một miền ngoại ô xơ xác của Sài gòn. Con ngõ ngủ, đèn đã tắt, đêm tối miên man. Tiệm tạp hóa gần nhất đã đóng cửa, chỉ còn vàng vọt một ánh điện trong nhà. Tôi thong thả bước đi trong bóng tối, ngõ không một cột điện, thong thả hút từng hơi thuốc lá ngọt ngào. Ðêm nay tôi muốn nhớ lại vài điều, viết lại vài điều, nghĩ lại vài điều. Vài điều thôi nhưng thật ra nhiều lắm, và không giản dị gì đâu. Tôi bước vào tiệm tạp hóa đầu ngõ mua mấy hộp quẹt và lại đi trở vào. Lần mãi mới tra được chìa khóa vào ổ. Ðóng cửa, ngồi xuống trước chiếc bếp dầu hỏa Esso. Mồi lửa vào bấc, xách siêu ra sân sau múc một gáo nước mưa, đem vào đặt lên bếp. Tôi lách cách pha một ấm trà. Một người bạn lại chơi đêm trước đã kêu cậu có vẻ già rồi. Ừ, già rồi. Ðã biết uống trà rồi đấy. Nói rồi cười cười vu vơ, nhưng thật tình đầu óc lãng đãng lắm. Pha trà, ngồi một mình trong căn nhà rộng, âm thầm ngó ra khoảng sân lộ thiên. Chuyên trà từ ly lớn sang tách nhỏ, nhìn soi xuống lớp nước vàng quánh trong cái ly sứ trắng ngà.
            Ðêm nay tôi muốn nhớ lại vài điều, vài điều thôi, nhưng đó là vài điều cần thiết: một năm đã qua, có gì không để nói. Hẳn nhiên để có, có cả một tập báo phải nhìn lại. Trước mặt tôi đây là 49 số Nghệ Thuật, 49 tuần lễ đã qua. Có, có nhiều lắm, những anh em đã tới đã đi, những người không quen trở thành bạn hữu, những bạn hữu trở thành xa lạ, những xa lạ đang phải tới gần. Ðêm nay tôi muốn viết về tờ Nghệ Thuật, về một năm của tờ Nghệ Thuật này. Trước mắt tôi là tờ Nghệ Thuật số 1, là trang 27, bài Vô Ðề của Thanh Nam. Tôi muốn lấy một câu mà Thanh Nam, nguyên tổng thư ký tờ báo này, đã dùng trong bài đó, bài đầu tiên anh viết cho số báo đầu tiên của năm thứ nhất, để viết bài báo hôm nay, bài đầu tiên cho số đầu tiên của năm thứ hai: “Nghệ Thuật, tuần báo của ai?”
            Tôi còn nhớ như in rằng thường những ngày cuối Tháng Chín năm ngoái, dường như không ngày nào tôi không có mặt tại số 233 Phạm Ngũ Lão, trụ sở nhà in Thư Lâm Ấn Thư Quán của ông con rể nhà thơ Ðông Hồ. Lúc ấy tôi chưa thường trực. Tôi cũng còn nhớ như in rằng mấy năm sau khi các tạp chí Sáng Tạo, Văn Nghệ, đóng cửa, tôi thường phàn nàn bực bội lắm. Về sự thiếu một diễn đàn nghệ thuật đích thực. Những người viết trẻ như chúng tôi hồi ấy sau những dọ dẫm liều mạng bỗng bị ném vào một khoảng trống nhẽ ra không được có. Một chìm lỉm khôi hài, một chết đuối lãng nhách. Bởi vậy khi nghe tin tờ Nghệ Thuật được giấy phép xuất bản, và có phương tiện góp mặt, tôi không nề hà một chút gì để tới đây làm việc. Tòa soạn bấy giờ kể như thừa tôi. Nhìn vẻ mặt quản lý, tôi có cảm tưởng như thế. Cho tới bây giờ tôi cũng chẳng rõ cảm tưởng ấy có đúng không. Nhưng điều cần đối với tôi là được viết, được có chỗ viết, chỗ viết ấy phải là tờ Nghệ Thuật, mặc dù tôi đã chẳng hiểu mình nghĩ gì về câu hỏi Thanh Nam đặt ra trên tờ báo: “Nghệ Thuật, tuần báo của ai?”

0 giờ ngày 27 Tháng Chín, 1966
Một đêm đi với Thanh Nam bàn chuyện làm một số báo đặc biệt về nghệ thuật trình diễn. Cải lương, tân nhạc cải cách, kịch, điện ảnh. Vào lối 10 giờ đêm tới rạp đoàn Thanh Minh Thanh Nga đang trình diễn. Ðoàn Cải Lương Số Một miền Nam đang trình diễn vở “Sơn Nữ Phà Ca” của Kiên Giang. Vào hậu trường. Những tấm phông lớn, những khung gỗ to, những khuôn mặt trát phấn tươi cười. Cái bắt tay đặc biệt của Việt Hùng. Tấm thân nhỏ nhắn của Thanh Nga (ngồi chèo khoeo trên giường, miệng nhai ngon lành). Sang đoàn Dạ Lý Hương tìm soạn giả Hoa Phượng, hẹn một buổi tối gặp để viết bài. Bạch Tuyết là một bất ngờ. Tự tử mấy lần, nét mặt lặng thinh. “Tuyết thích nghệ thuật mới lắm”, Cô nói… Thanh Nam bảo báo phải viết bài về cải lương mới lấy quảng cáo được. Báo Nghệ Thuật lại đang cần quảng cáo. Thì viết. Thực tình cũng thích cải lương (vở Nỗi Buồn Con Gái của Hà Triều Hoa Phượng). Vào rạp thấy được sống cái không khí khán giả thật sự, gần gũi (như cả gia đình đi xem, bà cháu, mẹ con – không khí không thấy ở rạp xi-nê). Những con mắt khán giả dán chặt vào diễn viên, vào sân khấu.

1 giờ trưa ngày 27 Tháng Chín, 1966
Những cái bìa in offset đầy tên tác giả mà bài vở thì ít. Ðuổi không kịp dự định của chính mình. Thế là không được. Nghệ Thuật, tuần báo của ai? Ði xin bài các anh Nguyễn Mạnh Côn, Nguyên Sa, Kiêm Minh.
            Nguyễn Mạnh Côn: Ðộ bao giờ anh cần? Vài ngày nữa. Vài ngày nữa đúng y có bài.
            Kiêm Minh: Thứ năm đi. Thứ năm tới chưa viết được gì. Tuần sau đi. Tuần sau tới vẫn chưa viết được.
            Nguyên Sa: Muốn cái gì nào? Cái gì cũng được. Thơ, truyện, biên khảo. Thế thì thơ đi. Ðược, nhưng phải cái gì nữa chứ? Thế thì biên khảo đi. Tốt quá rồi còn gì nữa. Anh định viết cái gì? Viết cái gì à? Viết về triết thì chán chết. Viết về thơ đi. Tôi đang viết cái “Nhìn rõ mặt thơ.” Mà dài lắm, tuần báo có đăng được không? Ðăng được mà.
            Thế rồi chỉ đăng mới có 4 kỳ, dài quá, tác giả thì rất hăng, chưa chịu thôi. Sẽ tiếp tục cái vụ đó.
            Tại tòa soạn Nghệ Thuật. Ðọc thư và bài của bạn đọc gửi về, điều thấy rõ nhất là chiến tranh, là những cuộc sống rời biệt. Chiến tranh ở đây không có tiếng nổ, trận đánh, không có hiện chiến, gia nhập, mà chỉ có những hình ảnh rời rạc của một ánh sáng. Ðêm, tiếng vọng xa gần của trọng pháo. Chiến tranh cả ở thơ, ở văn nhất là ở những đoạn viết ngắn những tùy bút, những lá thư, những đoản văn: chiến tranh trong tâm sự. Ðiều được nói đến không rõ rệt, chỉ được gọi bằng những cái tên chung. Như buồn như chán, như vô lý, như dửng dưng. Ở cuối mỗi bài thường đưa đến một thái độ: như xác nhận hay hoài nghi, trong khi văn chương cần thiết một thái độ của nhà văn, dù bất cứ viết về cái gì. Nhiều sáng tác chỉ như một lá thư, một đoạn nhật ký có tính cách bày tỏ phân trần hơn là mô tả, trình bày trong một bố cục trong một bối cảnh, một đời sống. Tính chất u hoài bi cảm vẫn là tính chất dễ tìm thấy nhất. Chúng ta có thể cảm hoài một quá khứ, nhưng những điều được các cây bút trẻ nói đến lại là hiện tại.
            Nhìn lại 49 số báo, tìm thấy những Cao Thoại Châu, Phạm Kiều Tùng, Sơ Dạ Hương, Cung Tích Biền, Nguyễn Nhật Duật, có người còn chưa gặp mặt. Mở thêm một vài cánh cửa ngó nhìn đời, có thể đen có thể hồng, nhưng phải mở, mỗi lúc một đông mỗi lúc một nhiều. Khai phá thêm, dọn hoang thêm, tạo thêm một mảnh vườn, dựng thêm một mái ngói. Có thêm nhiều bạn hữu: Ðinh Thành Lam, Nha Trang. Trần Kim Vũ, Ðà Lạt. Nguyễn Kim Phượng, Ðà Nẵng. Những ông giáo văn chương cầm bút sáng tác.

            Một đoạn thơ trên tuần báo Nghệ Thuật:

                        Về Ðà Nẵng thăm vợ sắp cưới

                        Ðà Nẵng bây giờ trời nóng lắm
                        không tìm đâu thấy một chỗ ngồi
                        một lùm cây hay một quán nước
                        không thấy gì không thấy gì hết trọi

                        Ðà Nẵng bây giờ buốt óc lắm
                        tiếng phản lực lùng bùng bên tai
                        giá sinh hoạt lên cao vùn vụt
                        những con đường tình tự vắng hoe

                        Ðà Nẵng bây giờ nhiều thuốc lá lắm
                        những thuốc thơm mang hiệu nước ngoài
                        cả trẻ con cũng tập tành nhả khói
                        sách vở rồi đem bán cho ai

                        Ðà Nẵng bây giờ và Ðà Nẵng mai sau
                        làm sao giữ được những gì đang mất
                        làm sao cản được những gì đang còn
                        ngoại trừ tình yêu và đổ nát.

                                              Cao Thoại Châu
                                (Nghệ Thuật 33, Tháng Sáu, 1966)


VIÊN LINH
Tháng 4/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vienlinh-nhat-ky-van-nghe-thoi-tuoi-tre-sai-gon-1965/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #99 vào: 06/02/2018, 21:36:01 »
Sartre và Beauvoir: tình yêu và triết lý

Jean-Paul Sartre có lẽ không xa lạ với thế hệ sinh viên học sinh miền Nam Việt Nam thời thập niên 1960. Ông là người sáng lập Triết Thuyết Hiện Sinh, ảnh hưởng rộng lớn với xã hội Tây phương từ hai thập niên trước đó. Simone de Beauvoir, không được biết nhiều như Sartre, nhưng cũng không xa lạ lắm với những ai thích văn chương và triết. Mặc dù không nhận mình thuộc phong trào nữ quyền như được hiểu về sau này, tác phẩm quan trọng nhất của bà, “Le deuxième sexe” (Giới Tính Thứ Hai) được hầu hết giới nghiên cứu xem như văn bản sáng lập ra phong trào nữ quyền (feminist movement) hiện đại.

Từ trái qua phải: Beauvoir, Sartre và Sylvie Le Bon (con gái nuôi của Beauvoir)

LÂU QUÁ, không có dịp đọc lại Sartre. Mới đây, tình cờ bắt gặp cuốn sách có cái tựa đề là lạ, Tête-à-Tête, (tạm dịch là “Chuyện Riêng Tư”) đề cập đến cả Sartre lẫn Beauvoir. Sách khá dày, hơn 400 trang, tác giả là Hazel Rowley.
            Tưởng là đọc được một cuốn sách mới bàn về triết lý, hóa ra, không phải. Cuốn sách thuộc loại kể chuyện “trong nhà ngoài phố” (soap opera) của cặp tình nhân này. Toàn là chuyện linh tinh, lỉnh kỉnh: gặp gỡ, chuyện trò, hẹn hò, làm việc, đi đây đi đó, cà phê cà pháo rồi chuyện dan díu nhau, chuyện ngoại tình, chuyện phòng the, chuyện giận hờn, ghen tuông, vân vân và vân vân. Chúng được ghi lại qua phỏng vấn những người còn sống và qua hàng trăm lá thư trao đổi nhau giữa họ và bạn bè của họ, vốn chưa hề được công bố trước đó, khi họ còn sống.(1)
            Beauvoir xuất thân từ gia đình trưởng giả nề nếp. Về thể hình, bà đẹp đẽ, lúc nào cũng ăn mặc đúng mực. Còn Sartre, là người Âu châu nhưng thấp nhỏ, chỉ cao cỡ 1,5 mét, mặt mày tròn trĩnh, răng thì vàng, mắt lé (wall-eyed). Đã thế, Sartre ăn mặc cẩu thả, không thời trang, mẫu mã. Ông dường như chẳng thèm quan tâm săn sóc thân thể mình. Bù vào đó, ông là loại người thông minh, nhiệt tình, tham vọng, hài hước, rộng rãi. Ông thích uống và trò chuyện, có khi suốt đêm. Tài năng đã biến con người xấu xí đó thành hấp dẫn. Tài năng gặp tài năng!
            Do gắn bó nhau về mặt tư tưởng, hai người cùng sống và cùng làm việc với nhau cả cuộc đời, kể cả khi chết cũng được chôn cạnh nhau. Nhưng họ bài bác hôn nhân, vì hôn nhân chỉ là chứng tỏ sự ràng buộc, là mất tự do, là bị giới hạn. Họ yêu nhau, nhưng không là của nhau, không sở hữu nhau. Thậm chí, còn chia người yêu với nhau. Hai người chấp nhận một “hợp đồng yêu”: tình yêu giữa hai người là tình yêu thật (essential love), nhưng ai trong họ cũng có quyền ngoại tình, có quyền kinh qua những mối tình qua đường (contingent love), nhưng phải nói cho nhau biết. Đồng thời, là người đồng tính luyến ái (lesbian), Beauvoir không chỉ có bạn tình đàn ông mà còn có cả bạn tình đàn bà. Họ cam kết không ghen tuông.
            Ghen tuông, theo Sartre, sẽ kiểm soát mình; do đó, ghen tuông là kẻ thù của tự do.
            Sartre chết năm 1980, Beauvoir chết năm 1986. Họ không tiêu hủy tất cả những bức thư, nhật ký của họ với ý định rất rõ ràng: muốn chúng được công bố tất cả sau khi chết. Một số thư của Sartre được công bố vào năm 1983, và của Beauvoir vào năm 1990 cho thấy họ đã nói với nhau hết về quan hệ tình ái của họ, kể cả những điều vô cùng riêng tư, bí mật.
             “Tôi muốn vẽ lại chân dung của hai người bằng những chi tiết riêng tư nhất, thân mật nhất giữa hai người”, Rowley viết. Nhiều chi tiết gây “sốc”, khiến cho người hâm mộ nhất hai nhà tư tưởng này cũng phải sửng sốt. Cặp tình nhân trí thức với những tác phẩm vĩ đại hóa ra, trong chốn riêng tư, đầy dẫy những điều không ai tưởng tượng nổi. Suốt đời, họ sống như những kẻ lang chạ.
            Hai người gặp nhau từ năm 1929. Beauvoir yêu Sartre, nhưng đồng thời cũng yêu René Maheu và hiến thân cho anh này, một bạn học của cả hai người và đã có vợ con. “Tôi yêu Sartre và cũng yêu Maheu. Tôi yêu Sartre vì những gì anh ấy mang lại cho tôi, còn tôi yêu Maheu vì con người của anh ấy”, theo lời Beauvoir. Sau khi Beauvoir dan díu với Olga Kosakiewicz, nữ sinh viên 17 tuổi của mình, thì Sartre cũng quyến rũ cô này. Olga không chịu, Sartre lại tán tỉnh chị của Olga, Wanda. Khi Beauvoir dan díu với một nữ sinh viên khác, Bianca Bienenfeld, Sartre cũng tìm cách dan díu với Bianca. Trong lúc Beauvoir dan díu với anh chàng Jacques Laurent Bost thì đồng thời cũng tiếp tục dan díu với Bianca, và Sartre cũng tán tỉnh Bianca. Sartre đồng thời cũng tán tỉnh một cựu học sinh của Beauvoir, Nathalie Sorokine; cô này cũng đã từng là bạn tình của Beauvoir. Khi Beauvoir dan díu với Claude Lanzmann, Sartre lại dan díu với chị của anh này, Evelyn. Vân vân và vân vân.
            Rốt cuộc, không biết ai là tình nhân của ai. Họ “chia tình” với nhau như thể là một “gia đình”, chữ của Sartre. Tóm lại, Sartre và Beauvoir và bạn bè và học trò vừa trung thành với nhau lại vừa phản bội nhau. Đúng là một thứ quan hệ “vô luân”. Nhưng vô luân đối với họ, cũng là một thứ luân lý.
            Luân lý gì vậy? Tự do.
            Sartre cho rằng tự do chính là bản chất của con người, của hiện hữu cá nhân. Tại sao? Theo Sartre, cá nhân sống trong một tình trạng phi lý cùng cực: ngẫu nhiên. Không ai biết khi nào thì chết, khi nào thì gặp tai nạn, khi nào thì gặp may, vân vân. Trong cái thế giới đầy ngẫu nhiên ấy, chẳng có Thượng Đế nào, cũng chẳng có một số mệnh tất định nào chi phối hết. Mỗi một cá nhân tự đảm trách số phận đời mình, bằng tự do của mình. Thành thử, một cá nhân chẳng khác gì là tổng số những hành động mà mình thực hiện trong cuộc đời. Con người không chỉ tự do muốn làm gì thì làm mà còn không thể thoát khỏi nó. Nói theo kiểu của Sartre, trong tác phẩm triết lý quan trọng nhất của mình, “L’Etre et le Néant” (Hiệu Hữu và Hư Vô), “Con người bị bắt buộc phải tự do” (L’homme est condamné à être libre). Tự do, như thế, có tính áp đặt. Anh không muốn tự do cũng không được, vì hiện hữu của một cá nhân chẳng có gì khác ngoài… tự do cả. Mình làm và mình chịu. Quan điểm này hoàn toàn trái ngược với quan niệm cũ, cho rằng con người có số phận và số phận là tất định. Chính vì thế, hiện hữu có trước/tạo nên bản chất, chứ bản chất không tạo nên hiện hữu (L’existence précède l’essence).
            Beauvoir, cũng như Sartre, quan niệm hiện sinh con người là tự do. Bà giải thích khái niệm này qua hình ảnh của người đàn bà. Người ta vẫn cho rằng đàn bà là thụ động, là sinh ra chỉ để làm vợ, làm mẹ, là bộ máy đẻ, vân vân và vân vân. Điều đó hoàn toàn sai, theo bà. Những cái quy cho đàn bà như vừa kể, thực ra, xuất phát từ sự xã hội hóa, một xã hội do đàn ông thống trị. Đàn bà là một con người, một cá nhân, không khác gì đàn ông. Và cá nhân là tự do. Là đàn bà, nhưng Beauvoir, bằng tự do, tìm cách thoát ra khỏi cái tính cách đàn bà mà xưa nay xã hội vẫn quy cho. Beauvoir quả quyết rằng “người ta không sinh ra như là, mà trở nên, đàn bà” (On ne nait pas femme: on le devient). Nghĩa là, đàn bà không phải là bản chất mà là sự áp đặt. Trong thân thể của một người đàn bà, Beauvoir sống như một con người. Như một tự do. Như Sartre. Bà không muốn “trở nên” đàn bà.
            Trong lời tựa, Hazel Rowley cho biết chuyện tình của họ là một trong những truyện tình vĩ đại của mọi thời. Bà chỉ muốn ghi lại sự thật của chuyện tình đó và sự thật, theo bà, “không hề khớp với bất cứ tiêu chuẩn nào”. Riêng tôi, qua “Tête-à-tête”, nhận ra một điều: Sartre và Beauvoir đã tự bóc trần chính họ, đã sống và đã yêu bằng, yêu với và yêu trong triết lý của mình. Một tình yêu đượm mùi hiện sinh. Dường như họ không quan tâm đến chuyện đúng hay sai. Vì họ đã sống “đúng như như những gì họ muốn sống”, theo Rowley.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 10/ 2016
___________________________________________
(1) Nguồn tài liệu được tác giả ghi rõ ở phần cuối sách, từ trang 391-394.

Tham khảo:
Tête-à-tête, Simone de Beauvoir and Jean-Paul Sartre, nxb Harper Collins, New York, 2005.
Beauvoir and Sartre, and a Book in Dispute, The New York Times.
The strange liaison of Sartre and Beauvoir, The New Yorker.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/sartre-va-beauvoir-tinh-yeu-va-triet-ly/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #100 vào: 08/02/2018, 20:26:22 »
Một tách café cho hai người

“Hạnh phúc là một tách café và nhạc Trịnh Công Sơn…” Đây là một trong những định nghĩa về “hạnh phúc”, đọc được trong một tuyển tập những bài nhận định về âm nhạc Trịnh Công Sơn, ấn hành trong nước. Tôi không rõ người viết câu ấy đã căn cứ vào đâu để đưa ra định nghĩa này. Thực trạng đời sống và sinh hoạt văn hóa văn nghệ ở trong nước chắc? Bao nhiêu là quán xá lớn nhỏ ở ngoài đường, trên phố thường xuyên “chơi” nhạc Trịnh Công Sơn để thu hút khách và để những người khách bước vào đó tìm kiếm chút hạnh phúc.


Café một mình, café hai mình
            Hạnh phúc như thế kể ra cũng đơn giản. Chỉ là chuyện ngồi quán, mắt nhìn từng giọt café lặng lẽ nhỏ từng giọt, từng giọt, trong lúc tai lắng nghe tiếng nhạc vỗ về, để suy gẫm chuyện đời, cõi sống cõi chết, phận người phận mình, hay chỉ để ngậm ngùi tiếc thương về một cuộc tình đã mất, một người tình đã xa, và để thấy… đời mình là những quán không. Đời mình là những chuyến xe…, hoặc: Tôi là ai mà còn trần gian thế? Tôi là ai mà yêu quá đời này?…, hoặc: Tình ngỡ đã phôi pha/ nhưng tình vẫn còn đầy. Người ngỡ đã đi xa/ nhưng người vẫn quanh đây…
            Chỉ cần một tách café và một chút nhạc Trịnh Công Sơn là… “cũng đủ lãng quên đời”.(1) Thế nhưng, café đâu có bắt buộc phải “đi” với nhạc họ Trịnh. Người ta vẫn có thể nói khác đi một chút: “Hạnh phúc là một tách café và nhạc…” (của ai đó mình yêu thích), hoặc: “Hạnh phúc là một tách café và tiếng hát…” (của ai đó mình yêu thích), hoặc: “Hạnh phúc là một tách café và khói thuốc”, hoặc: “Hạnh phúc là một tách café và bạn bè”, hoặc: “Hạnh phúc là một tách café và người mình yêu” v.v… và v.v… Tương tự “rượu ngon” phải có “bạn hiền”, café ngon phải đi với cái gì “ngon” nữa thì mới ngon. Cần phải “café và…” cái gì đó nữa, chứ “café một mình” thì chưa đủ… hạnh phúc.
            “Một tách” (café) thì cũng được vậy nhưng phải có “hai mình” thì mới ngon. Kinh nghiệm này có được từ một quán café ở đường Cao Thắng, Sài Gòn, trước năm 1975. Café Chiêu. Quán này không có cô chủ quán (hay cô cashier) xinh đẹp nhưng café khá ngon và cách bày biện bàn ghế, tranh ảnh, cây cảnh… với những mầu sắc tối, đậm, hài hòa (màu nâu và café sẫm là những “gam” màu chính), tạo cảm giác ấm cúng, trầm lặng. Đến quán café này là phải đến vào buổi tối, phải ngồi ở vuông sân nhỏ ở ngoài vườn, trong bóng tối mờ mờ tỏa ra từ những ngọn đèn màu vàng đục, nghe nhạc trôi đi chầm chậm, nghe đêm trôi đi chầm chậm… “Thưa anh chị dùng gì?” “Café sữa nóng. Một tách.” “Thưa chị dùng gì?” “Vừa nói xong. Một café sữa nóng.” “Thưa…vậy là hai café sữa nóng?” “Không. Một café sữa nóng.” Cô bé thoáng chút bối rối, nhưng rồi quay đi, không hỏi han gì nữa. Lát sau, mang ra một tách café, đặt nhẹ lên mặt bàn. “Anh thử xem, vừa chưa?” Những ngón tay xinh xắn khuấy nhẹ chiếc thìa nhỏ. “Em thử đi. Em vừa là… anh vừa.” “Không. Anh thử đi.” “Không. Thử thách nhau làm gì. Khỏi cần thử cũng biết là ngon.”
            Vậy đó, chúng tôi nói với nhau bằng những “ngôn ngữ của tình yêu”. Rồi chúng tôi chia nhau tách café, như chia nhau những thời khắc của hạnh phúc, những thời khắc của tình yêu. Chúng tôi nhấm nháp từng ngụm nhỏ café, như nhấm nháp từng ngụm nhỏ hạnh phúc, từng ngụm nhỏ tình yêu. Chúng tôi nhắp dè sẻn từng ngụm café, gần như chỉ chạm môi, như sợ tình yêu sẽ cạn bớt, hạnh phúc sẽ vơi đi.
            Một tách café cho hai người. Được quá đi chứ, sao không? Tình yêu là chia sẻ mà. Và khi chúng tôi tìm môi nhau “trong bóng tối mờ mờ tỏa ra từ những ngọn đèn màu vàng đục” ấy, chúng tôi lại san sẻ một lần nữa chút vị café sữa nóng trên những đầu lưỡi. Khi café bắt đầu nguội, chúng tôi gọi một tách khác, và cứ thế… Những lần sau đó, chủ quán biết ý, tự động đặt lên mặt bàn một tách café sữa nóng và lặng lẽ rút lui.
            Ngồi bên nhau, có lúc chúng tôi nói đủ thứ chuyện, có lúc chúng tôi thật im lặng. Âm nhạc trôi bềnh bồng lẫn trong hương ngọc lan mơ hồ thoảng trong đêm. Đêm thơm như một dòng sữa…(2)
            Và không gian, thời gian như đọng lại.

Một thời để yêu, một thời để ngồi quán
            Lâu lắm mới nghe lại bài hát cũ ấy, giọng hát cũ ấy. Nghe mà nhớ quán café ấy vô cùng.
            Cô bạn ấy đã lấy một người khác (trong lúc tôi còn ở trong tù). Chắc cô chẳng còn phút giây nào nhớ đến tôi, cũng như không nhớ nổi những cái tên của những quán café mà cô từng cùng ai đó bước vào. Nhiều năm sau đó tôi có dịp về lại Sài Gòn nhưng không muốn đi ngang con đường ấy. Tôi mong sao con đường ấy đã thay tên (như nhiều con đường đã thay những cái tên lạ hoắc sau ngày thành phố ấy thay tên). Tôi mong sao quán café ấy không còn đấy nữa, như nhiều quán café đã biến mất sau cuộc đổi đời ấy, như cô gái ấy đã biến mất khỏi đời tôi, không để lại dấu vết gì. Nghe nói con đường ấy vẫn còn tên cũ, nghe nói quán café ấy vẫn còn tên cũ, vẫn còn ở nơi đấy (và đã “nâng cấp” lên hai, ba tầng gì đó). Tôi không có ý định tìm về chốn cũ, để ngồi nhìn những chiếc ghế trống, và để gọi “một tách café cho… một người”.

Một tách café cho hai người
            Đi tìm lại quán café cũ là tìm về dòng sông đời mình, là tìm lại chút hơi hướm hạnh phúc của những đời người đã cũ, nói văn vẻ là tìm lại những “dấu chân kỷ niệm”, tìm lại bóng hình nào đã đi qua đời mình. Tìm, nhưng không mong gì gặp lại.
            “Không hiểu là người ta biết uống café trước khi hay là sau khi biết yêu?” câu hỏi bâng khuâng triết lý ấy đọc được trong một bài “tản mạn” về những quán café quen tên, từ trong nước ra tới ngoài nước.(3) Câu hỏi không dễ trả lời, riêng tôi chỉ biết chắc một điều, tách café ngon nhất phải là tách café của những kẻ đang yêu. Cứ thử yêu đi thì biết, cứ thử nhâm nhi cái chất lỏng sanh sánh, đen đen ấy để thấy vị đăng đắng hay ngòn ngọt của café cũng đâu có khác gì vị đắng hay vị ngọt của tình yêu.
            Hầu như ai cũng có một quán café để nhớ, để quên, và để kể lại cho người khác nghe. Nói về những quán café là nói về “một trời kỷ niệm”, là nói về những năm tháng tươi đẹp nhất của một đời người. Ôi, những quán café đã xa như dĩ vãng, những quán café của những ngày vui mơ hồ, những quán café của “một thời để yêu, một thời để… ngồi quán”.
            Quán café, một nơi chốn yên bình, một không gian êm đềm. Được ngồi ở quán café mình yêu thích, một nơi sang trọng hay một chỗ tồi tàn, là hạnh phúc thu nhỏ. Những quán café cũng làm thân ái những tình bạn. Ngồi với nhau ở quán café là ngồi giữa những tình bạn ấm áp và dễ chịu. Café cũng đưa con người lại gần với nhau hơn. Thường thì ít ai (nỡ) từ chối một tách café. “Café chưa? / Café chứ? / Café nhé?” “Tuyệt! Cám ơn.”
            Những chuyện trò bên tách café thường không phải là vấn đề gì trọng đại, và cũng không có chủ đề chủ điểm gì nhất định. Không có những đề tài lớn lao, to tát được mang ra thảo luận, mổ xẻ trên mặt bàn café. Chỉ là chuyện tâm tình vụn vặt, chuyện thời tiết thời sự, chuyện văn hóa văn nghệ, chuyện mới chuyện cũ, chuyện xưa chuyện nay, chuyện vui chuyện buồn, chuyện lan man, chuyện phất phơ, không đầu không đuôi. Đôi lúc cũng có những bàn cãi, tranh luận sôi nổi, nhưng không gay gắt, hầu hết chỉ là những câu chuyện phiếm, những cuộc tán gẫu, mạn đàm, nói như người Mỹ, chỉ là “a small talk” hoặc “a chat over a cup of coffee”. Người Mỹ vẫn nói “coffee chat”, “coffee talk”, “coffee time”, “coffee break”…, nhưng ít nghe nói “coffee drop”, và nhất là không gọi giọt café bằng cái tên rất thơ, rất văn nghệ là “giọt buồn”, “giọt đắng”, “giọt sầu”… như người Việt mình (cứ làm như uống café là uống “thú đau thương” vậy), và cũng chẳng có cái thú ngồi nhìn ngắm những giọt buồn, giọt đắng ấy lặng lẽ nhỏ từng giọt, từng giọt xuống tận đáy cốc (hay đáy tim) để mà… “tôi chợt nhìn ra tôi”.
            Mỗi quán café có một số khách quen thuộc, khi đã “chịu” quán café nào rồi thì người ta chỉ muốn bước vào quán ấy, chứ không phải quán xá nào khác. Quán café trở thành một nơi gặp gỡ, một chốn hẹn hò lý tưởng. Bạn bè rủ rê nhau, chỉ nói “Ra quán café” là mọi người đều biết rõ điểm hẹn ở đâu. Tất cả, chỉ là thói quen. Từ cái tên quán, từ cô chủ quán (hay cô nàng cashier ngồi làm kiểng), từ những bàn ghế, từ một chỗ ngồi, một góc nhìn, một bức tượng, một bức tranh, một bình hoa hay một bài nhạc quen thuộc.
            Những quán café thì lúc nào cũng thiếu, lúc nào cũng đủ ở một thành phố như Sài Gòn. Một quán café là lạ mới khai trương vẫn luôn được khách hàng chiếu cố. Người ta luôn muốn “thử” một quán café mới xem có gì “đặc biệt”. Thử và so sánh với những quán khác. “Café thế nào? Có ngon không?”
            Thường là phải ngon thôi, nếu không phải café ngon thì cũng là cái gì đó ngon, như là khung cảnh, âm nhạc, những câu chuyện, những bạn bè… ngon. “Thích quán café này chứ?” “Tại sao hỏi? Thích thì sao, không thích thì sao?” “Tại vì… “Hãy nói cho tôi biết bạn thích quán café nào, tôi sẽ nói cho bạn biết bạn là người như thế nào”.”
            Thì ra là vậy… café, nói mãi chẳng hết chuyện. Không phải tự nhiên mà “cà-phê liền với cà-kê (dê ngỗng) một vần”.
            Thế nhưng, tại sao lại café mà không phải là thứ gì khác? Café thì có gì là ghê gớm, quan trọng lắm đâu. Nghĩ cho cùng, café (và thuốc lá) chỉ là sản phẩm của con người chứ đâu có làm nên con người. Không giống như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, café (và thuốc lá) chỉ là nhu cầu giả tạo. Ghiền, chỉ là một thói quen khó bỏ.
            Liệu người ta có thể nào sống mà không cần đến những quán café vớ vẩn? Liệu café có thực sự mang lại chút hương vị cho cuộc sống, có làm đẹp thêm cho cuộc sống? Liệu thực sự có cái gọi là “văn hóa café” với lại “triết lý café”, hay chỉ là bày vẽ ra cho có chuyện, hay chỉ là một kiểu “tạo dáng” cho ra vẻ “văn nghệ sĩ”?
            Đâu đến nỗi như thế! Không có café thì đâu có… chết ai! Đúng là “đâu có chết ai” thật; thế nhưng, không có café thì kể cũng…buồn. Thử tưởng tượng, một sớm mai nào thức dậy, tìm mãi không ra một quán café trên mặt đất này… “Một tách café cho hai người”, làm sao mà tìm lại được, vì làm sao mà tắm lại được hai lần một dòng nước sông.


LÊ HỮU
Tháng 6/2017
_____________________________________
(1) “Tự tình dưới hoa”, thơ Đinh Hùng.
(2) “Dạ lai hương”, nhạc Phạm Duy.
(3) “Cà phê Givral, cà phê Seattle”, tùy bút Nguyễn Công Khanh.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/qv-mot-tach-cafe-cho-hai-nguoi/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #101 vào: 13/02/2018, 20:58:50 »
Giải pháp nào cho ổ khóa tình yêu?

Các cụ ngày xưa có câu: “Yêu nhau cởi áo cho nhau, về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay”. Thanh niên thanh nữ thời nay không cởi áo cho nhau, mà lại thường rủ nhau móc ổ khóa tình yêu, đến nỗi sập gẫy thành cầu.

Thành cầu Pont des Arts chằng chịt những ổ khóa

VÀO THÁNG 6/2014, một thanh lan can dài hơn 2 thước trên Chiếc Cầu Nghệ Thuật (Pont des Arts) nổi tiếng ở Paris, đã bị sập do không chịu nổi sức nặng của các ổ khóa mà các đôi tình nhân từ khắp nơi trên thế giới tụ về để ghi dấu ấn tình yêu. Vào lúc đó, cây cầu cổ xưa đã phải đóng cửa để sửa chữa và may mắn thay, không một ai bị thương.
            Sau sự cố trên, chính quyền thành phố Paris cho biết sẽ cân nhắc việc hạn chế gắn ổ khóa vào các cây cầu ở thành phố. Cũng cần biết rằng khối lượng ổ khóa tình yêu trên mỗi thành cầu lên đến khoảng nửa tấn. Điều đó buộc Tòa Đô Chính Paris phải kiểm tra, tháo dỡ và thay thế thành cầu, cứ hai tuần một lần.
            Không chỉ có cây Cầu Nghệ Thuật mà nhiều chiếc cầu khác của thành phố Paris cũng gặp vấn đề tương tự. Hiện tượng gắn ổ khóa vẫn nhan nhãn tại bất cứ công trình kiến trúc mà người ta có thể móc khóa được. Các ổ khóa tình yêu bắt đầu xuất hiện trên các thành cầu Paris từ năm 2008: từ chiếc cầu Léopold Sédar Senghor đối diện bảo tàng Orsay cho tới cầu Simone de Beauvoir đối diện với Đại Thư viện quốc gia François Mitterand.
            Trong số 36 cây cầu bắt qua sông Seine thơ mộng của thủ đô Paris, Cầu Nghệ Thuật được nhiều cặp tình nhân trên khắp thế giới lựa chọn để gắn móc khóa vì trước hết đây là địa điểm thơ mộng lãng mạn ở Paris, kế đến là vì cầu chỉ dành riêng cho người bộ hành không có xe cộ qua lại. Hơn nữa, thủ đô Pháp còn được mệnh danh là “thành phố tình yêu” nên việc gắn ổ khóa tình yêu ở đây sẽ càng trở nên ý nghĩa hơn.
            Duy chỉ có những cây cầu được xây hoàn toàn bằng đá, chẳng hạn như cầu Pont Neuf hay cầu Mirabeau, mới thoát khỏi sức nặng của các ổ khóa tình yêu.
            Tuy nhiên, cho tới nay, Tòa đô chính Paris vẫn chưa ra lệnh cấm việc gắn các ổ khóa trên các thành cầu. Nhưng làm thế nào để giải quyết vấn đề này, ông Bruno Julliard, phó thị trưởng đặc trách văn hóa tại Tòa Đô Chính Paris, cho biết:

            Chúng tôi đang tiến hành theo hai giai đoạn. Trước tiên, chúng tôi vẫn tiếp tục kiểm tra và tháo gỡ thường xuyên các ổ khóa, thay đổi thành lan can cầu vì lý do an toàn. Còn trên phương diện thẩm mỹ, thực sự thì chúng tôi đang đi tìm giải pháp thay thế cho những ổ khóa tình yêu.
            Điều này thật không dễ dàng tí nào, vì trào lưu này thu hút rất nhiều cặp tình nhân trẻ Pháp cũng như người ngoại quốc. Hơn nữa nhiều du khách nước ngoài khi đến Paris, cũng muốn ghi khắc tình yêu của họ bằng những ổ khóa. Do đó, để thuyết phục họ làm cách khác thì chúng ta phải tìm ra một giải pháp thích hợp và hấp dẫn.
            Theo tôi nghĩ, sẽ chẳng có lợi lộc gì khi đưa ra một quyết định cấm móc ổ khóa tại Cầu Nghệ Thuật nói riêng và trên các cây cầu nói chung vì có khả năng là các đôi uyên ương trẻ sẽ tìm đến những nơi khác để móc khóa. Đó là trường hợp mà ta đã thấy ngay tại tháp Eiffel và một số nơi khác tại thành phố Paris. Do đó, chúng tôi sẽ làm việc với bà Thị trưởng Anne Hidalgo để tìm ra một giải pháp thích hợp. Hiện giờ, chúng tôi kêu gọi các nghệ sĩ quốc tế tham gia vào dự án
.

            Đâu là những biện pháp khả thi có thể giúp cho Paris hạn chế bớt các ổ khóa tình yêu, dung hòa được cả hai mặt: một bên là trào lưu của giới trẻ và một bên là bảo tồn các danh lam thắng cảnh thủ đô Paris. Phó thị trưởng Bruno Julliard nhận xét:

            Thực sự thì chúng tôi luôn muốn giữ hình tượng của thủ đô Paris là một thành phố lãng mạn, nơi hẹn hò lý tưởng của các đôi tình nhân. Việc ghi khắc dấu ấn tình yêu của các du khách là một ý kiến hay, không có lý do gì mà phải cấm đoán. Tuy nhiên, chúng tôi cũng có nhiệm vụ bảo tồn các công trình kiến trúc lịch sử cũng như các danh lam thắng cảnh giúp cho Paris trở thành một trong những thủ đô đẹp nhất thế giới.
            Tòa Đô chính Paris đề xướng một dự án, qua đó kêu gọi các nghệ sĩ tìm một giải pháp thay thế, và chúng tôi đã nhận được nhiều đề nghị từ phía các nghệ sĩ Pháp lẫn ngoại quốc. Đó có thể là móc những chiếc nơ bằng vải rực rỡ màu sắc thay vì gắn những ổ khóa bằng sắt quá nặng nếu chúng ta vẫn duy trì ý tưởng về ổ khóa tình yêu.
            Chúng ta cũng có thể dựng lên những bức tượng ở hai đầu chiếc cầu để các cặp tình nhân móc khóa vào đó. Ngoài ra, còn có một ý tưởng hoàn toàn khác hẳn, đó là tại sao không sử dụng những công nghệ thông tin hiện đại để cho các cặp uyên ương ghi lại những thông điệp tình yêu. Và như vậy sau đó, có thể phổ biến hoặc trình chiếu qua các màn ảnh lớn ở bất cứ nơi đâu trong thành phố Paris.
            Hoặc là chúng ta dựng lên một số bức tượng điêu khắc ở những góc phố, ở trong công viên, để các đôi tình nhân có thể viết lên đó những dòng chữ yêu thương. Tóm lại là chúng tôi không thiếu ý tưởng và đề nghị nhưng hiện tại, chúng tôi phải tìm cho ra giải pháp khả thi nhất có thể thực hiện một cách nhanh chóng.


            Vào năm 2010, khi phong trào ổ khóa tình yêu bùng phát tại Paris, giới chức thành phố không che giấu nguyện vọng muốn tháo gỡ các ổ khóa tình yêu nhằm mục đích “bảo tồn di sản văn hóa” nhiều hơn là làm hài lòng những cặp tình nhân. Họ đưa ra nhiều biện pháp như xây dựng những cây sắt ở gần hoặc dưới chân cầu để các cặp tình nhân treo những chiếc khóa tình yêu lên đó.
            Đêm 11/03/2010, khoảng 2.000 ổ khóa trên Cầu Nghệ Thuật đột ngột biến mất chỉ trong vòng một đêm. Tòa Đô Chính cho biết không hề liên quan gì đến chuyện này. Nhiều nghi ngờ, cáo buộc được đưa ra nhưng rồi cuối cùng, dường như thủ phạm là một sinh viên trường Mỹ thuật Paris đã đánh cắp để hoàn thành một dự án nghệ thuật. Sau sự kiện này, nhiều đôi tình nhân đã tìm một địa điểm khác an toàn hơn để ghi khắc tình yêu của mình. Thế là, họ đổ xô đến cầu Pont de l’Archevêché, đối diện nhà thờ Đức Bà Paris.



Khóa tình yêu làm chùn bước giới chức Paris
            Từ ngày đó, các ổ khóa vẫn cứ bình an vô sự, trong khi vào năm 2012, Tòa Đô Chính Paris buộc phải thoái lui do hiện tượng khóa tình yêu đã trở nên toàn cầu hóa. Một quan chức Paris cho biết: “Chúng tôi đang để cho hiện tượng này được diễn ra tự nhiên và nhìn nhận nó theo cách tích cực hơn. Người dân thích như vậy, họ sẽ loan truyền xung quanh và bằng cách đó, họ sẽ quảng cáo cho Paris”.
            Chính quyền thành phố không muốn áp dụng biện pháp cứng rắn vì lo sợ rằng điều này sẽ làm ảnh hưởng đến ngành du lịch và danh tiếng của thành phố Paris. Giới chức có liên quan chỉ dừng lại ở việc kiểm tra an toàn các cây cầu và thay các thành cầu đã bị hư hại.
            Tuy nhiên, quyết định trên không thuyết phục công dân Paris cho lắm. Peter, một giáo viên Anh văn nhận xét rằng, Cầu Nghệ Thuật là một huyền thoại, những ổ khóa này làm mất nét thẩm mỹ của khu vực… Ý tưởng móc khóa tình yêu rất hay nhưng không phải gắn tại bất cứ chỗ nào. Theo ông, nên tìm một nơi khác để gắn.
            Kể từ mùa hè năm 2014, để cứu lấy các cây cầu đang oằn mình trước sức nặng của các ổ khóa tình yêu, Tòa Đô Chính Paris đã đưa ra một chiến dịch kêu gọi các cặp tình nhân hãy chụp ảnh selfie trên cầu rồi đăng lên mạng Twitter hay Instagram thay vì treo ổ khóa.
            Sau sự cố sập thành cầu và để bảo vệ nơi được xếp vào hàng di tích lịch sử từ năm 1975, vào cuối tháng 9/2014, Tòa Đô Chính Paris đã tìm ra giải pháp cho vấn đề này bằng cách lắp lan can thủy tinh cường lực, mặt phẳng trơn tru không thể gắn ổ khóa. Nếu thử nghiệm thành công, thành phố Paris sẽ tiến hành thay toàn bộ các đoạn lan can của Cầu Nghệ Thuật bằng những tấm thủy tinh. Do đó, các đôi uyên ương sẽ hết cơ hội bày tỏ tình yêu bằng ổ khóa.
            Hội đồng thành phố miễn cưỡng thực hiện những biện pháp mạnh tay như cấm bấm ổ khóa ngay trên cầu hay phạt những cặp nào cố tình gắn ổ khóa bất chấp các bảng thông báo. Một thành viên mạng xã hội còn gợi ý bán những ổ khóa nhẹ hơn: “Họ nên làm những ổ khóa bằng nhựa thay vì bằng kim loại để cho bớt nặng”.



Sự toàn cầu hóa của ổ khóa tình yêu
            Mặc dù có nhiều ý kiến phản đối và chỉ trích, nhưng xu hướng này đã lan ra tới những cây cầu khác trên thế giới như tại Mátxcơva, New York, Seoul, Budapest, Roma, Tokyo. Hiện tượng này trở thành một thách thức cho giới cầm quyền sở tại. Không ít nơi sau đó đã buộc phải loại bỏ những dấu tích này vì sợ ảnh hưởng tới mỹ quan cây cầu.
            Cầu Ponte Vecchio ở thành phố Florence (Firenze), Ý cũng buộc phải cắt bỏ ổ khóa chi chít trên đó đi. Thủ đô Roma cấm bấm khóa trên cầu Ponte Milvio. Ngay từ năm 2007, Thị trưởng Roma đã quyết định cấm móc ổ khóa lên cầu, sau khi một cột đèn đường đã bị gãy do phải “oằn mình” gánh quá nhiều cặp khóa. Ai vi phạm lệnh cấm phải nộp 50 euro tiền phạt. Tại Chester, Anh, hội đồng thành phố đã đề nghị cắt 330 móc khóa khỏi cầu treo Queen’s Park vào tháng trước. Chính quyền nhiều thành phố ở Mỹ đã buộc phải sử dụng kềm sắt để bẻ gẫy những ổ khóa tình yêu vì lo ngại trọng lượng của chúng có thể làm sập cầu.
            Tại thủ đô Paris, ngay cả khi bầu trời xám xịt, thì trên Cầu Nghệ Thuật vẫn đông đảo du khách. Ai nấy tranh nhau chụp ảnh và tìm lấy một chỗ trống trên cầu để ghi dấu ấn tình yêu qua các ổ khóa đủ kiểu, cỡ, màu sắc, hoa văn và đủ mọi thứ tiếng… Nào là những ổ khóa bằng đồng, bằng nhựa, bằng vải, được chính tay các đôi tình nhân vẽ họa tiết lên đấy để tạo nét riêng cho mỗi cặp, như một cuộc chạy đua xem đôi nào sẽ có biểu tượng tình yêu đẹp nhất, ấn tượng nhất.
            Giá trị lên đến 80 euro cho một chiếc ổ khóa mạ vàng. Có đôi còn gắn cả khóa chống trộm xe đạp lên cầu. Nhìn từ xa, cầu Nghệ Thuật trông như được mạ vàng, với hai bên cầu điểm xuyết những ổ khóa mà các cặp đôi móc lên để thề non hẹn biển. Bất kỳ đôi tình nhân nào đến cây cầu này cũng đều mong muốn sự may mắn, đặc biệt là một tình yêu mãnh liệt, bất diệt.
            Thế nhưng các biện pháp hạn chế, qua hình thức phạt vạ hay treo bảng cấm, dường như vẫn chưa kềm hãm được trào lưu gắn ổ khóa tình yêu. Tuy mới rộ lên trong những năm gần đây nhưng phong trào này lại lan truyền rộng rãi đặc biệt vào mùa hè du lịch.
            Tại Mátxcơva, Berlin, Bruxelles, Kiev, Vilnius, Verona (xứ sở của Roméo và Juliette), Roma, Venezia, Thượng Hải, Marrakech, Praha, các ổ khóa tình yêu đều đang rất thịnh hành.



Mất vẻ mỹ quan và thiếu an toàn
            Trong khi một số du khách, những người đang yêu cho rằng cách biểu đạt tình yêu của họ là vô hại thì một số khác lại phản đối trào lưu này. Người dân Paris phàn nàn những chiếc khóa và chìa khóa gây ô nhiễm và lên án hành động trên là phá hoại danh lam thắng cảnh.
            Hiện nay, có gần 700.000 ổ khóa được móc trên các cây cầu và các công trình kiến trúc tại Paris. Người dân thủ đô Paris đặc biệt lo ngại cho các công trình kiến trúc lịch sử… Theo ông Jean-Pierre Lecoq, Thị trưởng quận 6 Paris, thì Tòa Đô Chính Paris phải chịu trách nhiệm giải quyết vấn đề. Ông không có ý chống lại các đôi tình nhân hay các ổ khóa của họ, nhưng trào lưu này đang làm hư hại các di sản văn hóa.
            Ngoài ra, ông Lecoq cũng quan ngại về vấn đề an toàn cho du khách: “Thử hỏi nếu một thanh cầu rơi xuống sông Seine trong khi tàu qua lại thì sẽ nguy hiểm thế nào?” Theo ông, biện pháp để tránh cho các cây cầu quá tải trước sức nặng của các ổ khóa là cứ ba đến sáu tháng nên tháo dỡ hết các ổ khóa này.
            Ngoài vấn đề sức nặng, các nhà sinh thái học lo lắng dòng sông Seine sẽ trở nên ô nhiễm bởi hàng nghìn chiếc chìa khóa bị ném xuống đây. Hồi tháng Hai vừa qua, hai người Mỹ là Lisa Anselmo và Lisa Taylor-Huff đã thực hiện một chiến dịch với tên gọi “Not Love Locks” (Bỏ khóa tình yêu) đã thu thập được hàng ngàn chữ ký các công dân tại Paris vì quan ngại về những hậu quả mà những móc khóa tình yêu có thể gây ra đối với các di tích này. Hai người sáng lập ra bản kiến nghị cho rằng, khi những chiếc ổ khóa này bắt đầu hoen rỉ sẽ lan sang các cây cầu, từ đó làm ảnh hưởng đến vẻ mỹ quan của thành phố. Do đó, họ mong muốn du khách đến Paris không tiếp tục tạo nên những hình ảnh phản cảm như vậy nữa.



Một nguồn gốc xa xưa, mơ hồ
            Chẳng ai biết phong tục gắn ổ khóa tình yêu xuất phát chính xác từ đâu nhưng chỉ biết là có nhiều nguồn giải thích khác biệt, đến từ khắp nơi trên thế giới. Ổ khóa như bằng chứng của tình yêu có nguồn gốc rất xa xưa: tương truyền rằng dưới thời Trung Cổ, khi người đàn ông tham gia Thập Tự Chinh, người phụ nữ ở nhà phải mặc một cái đai quần có ổ khóa và chỉ có người chồng mới có chìa khóa để mở, để tránh cho các bà ngoại tình trong lúc các ông vắng nhà.
            Một số giả thuyết cho rằng, tập tục trên bắt nguồn tại thành phố Pécs, Hungary, vào đầu những năm 1980 khi sinh viên đổ xô đến móc những chiếc ổ khóa lên một hàng rào sắt nối liền một đền thờ Hồi giáo với ngôi nhà thờ chánh tòa của thành phố. Khoảng cùng thời điểm ấy tại Cologne (Đức), những chiếc ổ khóa cũng được gắn trên thành cầu Hohenzollern, gần nhà ga mà cho đến lúc này người ta vẫn không biết trào lưu trên xuất hiện lần đầu tiên tại đâu. Người Ý cho rằng tại thành phố Firenze (Florence), những sinh viên tốt nghiệp Học viện Y tế San Giorgio đã từng có thói quen móc những ổ khóa của những chiếc tủ kim loại của họ tại cầu Ponte Vecchio. Có lẽ tập tục đó lại tiếp tục được lưu truyền tại Roma.
            Tuy nhiên, trong bộ phim truyện của đạo diễn Ý Federico Moccia, mang tên: “Ho voglia di te” tạm dịch là “Khao khát tình em” – phát hành vào năm 2007, có một tình tiết vô cùng “đắt giá” khiến nhiều người tin rằng Ý là đất nước đã khai sinh ra “ổ khóa tình yêu”. Hai nhân vật chính trong phim cùng nhau gắn ổ khóa vào một cột đèn trên cầu Ponte Milvio ở Roma, họ ôm hôn nhau, rồi vứt chìa xuống sông.
            Trong khi hầu hết các cặp đôi đều ném chìa khóa xuống sông, một số khác mang theo bên mình như kỷ vật cho con cháu sau này. Nguồn gốc của tập quán khóa chặt tình yêu cho đến nay vẫn còn nhiều bí ẩn và gây nhiều tranh cãi. Một số khác đã cho rằng truyền thống này có nguồn gốc xa xưa hơn, xuất phát từ Hungary đầu thế kỷ 20, dựa trên một câu chuyện về một người phụ nữ bị mất người yêu là một quân nhân, trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Người phụ nữ trẻ đã sử dụng một ổ khóa móc để gắn lên cây cầu, nơi cô và người yêu gặp nhau lần đầu tiên, như một cách để tượng trưng cho mối tình bất diệt của họ.
            Năm 2013, bộ phim hình sự Pháp-Mỹ mang tựa: “Insaisissables” (Phi vụ thế kỷ) được kết thúc bằng một cảnh trên Cầu Nghệ Thuật. Đó là hai diễn viên Mark Ruffalo và Mélanie Laurent, thủ vai hai nhân viên FBI đã cùng nhau móc chiếc ổ khóa tình yêu vào thành cầu làm cho trào lưu này thịnh hành hơn.
            Đối với những người yêu nhau nhưng không đến được những cây cầu nổi tiếng để ghi dấu tình yêu thì giờ đây, một số trang trên mạng cho phép các đôi có thể tạo một ổ khóa ảo và gắn nó trên Cầu Milvio (Ponte Milvio) ở Roma.
            Những ổ khóa giữ chặt tình yêu vẫn trường tồn qua bao năm tháng và người ta có thể đếm được, song đã có bao nhiêu mối tình tan vỡ, thì không ai biết được. Có người nhìn vấn đề với cái nhìn thực tế: tình mất là chuyện bình thường nhưng ít ra những ổ khóa này giúp cho ta nhớ mình đã từng được yêu.


LÊ VY
Tháng 1/2015


http://vi.rfi.fr/xa-hoi/20141226-giai-phap-nao-cho-o-khoa-tinh-yeu

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #102 vào: 15/02/2018, 19:29:14 »
Bài tình ca nổi tiếng “Khúc Thụy Du” cho ngày Valentine

Trong không khí ấm áp của Lễ Tình Nhân đang tràn ngập khắp nơi nơi, hôm nay, chương trình âm nhạc xin được cùng quý vị tìm hiểu về một trong những bản tình ca rất nổi tiếng của Việt Nam, đó là bản Khúc Thụy Du. Mặc dù, được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với giai điệu nhẹ nhàng, êm ái đầy chất trữ tình, nhưng thực chất, bài thơ gốc Khúc Thụy Du của thi sĩ Du Tử Lê lại rất mạnh mẽ, gào thét với những câu chữ gai góc, thậm chí chết chóc… Thế nhưng, ẩn chứa sau đó, thi sĩ Du Tử Lê lại làm bật lên một triết lý sâu sắc về tình yêu rằng khi yêu nhau hãy nhìn vào định mệnh, cuộc đời và hoàn cảnh của nhau dù cho sự chia lìa có thể xảy đến bất cứ lúc nào…

Thi sĩ Du Tử Lê


                              KHÚC THỤY DU

                        1.
                        như con chim bói cá
                        trên cọc nhọn trăm năm
                        tôi tìm đời đánh mất
                        trong vũng nước cuộc đời

                        như con chim bói cá
                        tôi thường ngừng cánh bay
                        ngước nhìn lên huyệt lộ
                        bầy quạ rỉa xác người
                        (của tươi đời nhượng lại)
                        bữa ăn nào ngon hơn
                        làm sao tôi nói được

                        như con chim bói cá
                        tôi lặn sâu trong bùn
                        hoài công tìm ý nghĩa
                        cho cảnh tình hôm nay

                        trên xác người chưa rữa
                        trên thịt người chưa tan
                        trên cánh tay chó gặm
                        trên chiếc đầu lợn tha
                        tôi sống như người mù
                        tôi sống như người điên
                        tôi làm chim bói cá
                        lặn tìm vuông đời mình

                        trên mặt đất nhiên lặng
                        không tăm nào sủi lên
                        đời sống như thân nấm
                        mỗi ngày một lùn đi
                        tâm hồn ta cọc lại
                        ai làm người như tôi?


                        2.
                        mịn màng như nỗi chết
                        hoang đường như tuổi thơ
                        chưa một lần hé nở
                        trên ngọn cờ không bay
                        đôi mắt nàng không khép
                        bàn tay nàng không thưa
                        lọn tóc nàng đêm tối
                        khư khư ôm tình dài

                        ngực tôi đầy nắng lửa
                        hãy nói về cuộc đời
                        tôi còn gì để sống
                        hãy nói về cuộc đời
                        khi tôi không còn nữa
                        sẽ mang được những gì
                        về bên kia thế giới
                        thụy ơi và thụy ơi

                        tôi làm ma không đầu
                        tôi làm ma không bụng
                        tôi chỉ còn đôi chân
                        hay chỉ còn đôi tay
                        sờ soạng tìm thi thể
                        quờ quạng tìm trái tim
                        lẫn tan cùng vỏ đạn
                        dính văng cùng mảnh bom
                        thụy ơi và thụy ơi
                        đừng bao giờ em hỏi
                        vì sao mình yêu nhau
                        vì sao môi anh nóng
                        vì sao tay anh lạnh
                        vì sao thân anh rung
                        vì sao chân không vững
                        vì sao anh van em
                        hãy cho anh được thở
                        bằng ngực em rũ buồn
                        hãy cho anh được ôm
                        em, ngang bằng sự chết

                        tình yêu như ngọn dao
                        anh đâm mình, lút cán
                        thụy ơi và thụy ơi

                        không còn gì có nghĩa
                        ngoài tình anh tình em
                        đã ướt đầm thân thể

                        anh ru anh ngủ mùi
                        đợi một giờ linh hiển

                                        (3-68)

VÀ TRONG chương trình âm nhạc kỳ này chúng tôi mời quí vị cùng nghe cuộc trò chuyện của Vũ Hoàng với thi sĩ Du Tử Lê về bài thơ Khúc Thụy Du.

Vũ Hoàng: Hôm nay là một dịp rất may mắn lại được trò chuyện với thi sĩ Du Tử Lê về một trong những bài thơ rất nổi tiếng của ông và được nhạc sĩ Anh Bằng phổ là bài Khúc Thụy Du, đây được xem là bài hát kinh điển về tình yêu của Việt Nam khi mà nhắc tới những bản tình ca. Thưa thi sĩ Du Tử Lê, một lần nữa ông có thể cho thính giả của đài RFA biết nguồn cội của bài Khúc Thụy Du này được không ạ?
Thi sĩ Du Tử Lê: Việc đầu tiên là cám ơn Vũ Hoàng và xin kính chào quý thính giả. Xin trả lời vào câu hỏi của Vũ Hoàng, bài thơ đó tôi viết ngay sau Tết Mậu Thân 1968. Bài thơ đó, tôi muốn ghi lại một bối cảnh và đặt vấn đề là trong một cuộc chiến tranh như vậy thì những người yêu nhau như vậy thì định mệnh và số phận họ như thế nào, thì đó là nguồn gốc của bài thơ.

Vũ Hoàng: Có một điểm rất đặc biệt trong bài thơ của thi sĩ Du Tử Lê là những lời thơ rất gào đau trong thời loạn nhưng khi được nhạc sĩ Anh Bằng phổ, thì bài này trở nên rất nhẹ nhàng. Vậy, nguyên cớ nào mà nhạc sĩ Anh Bằng lại tìm đến ông để phổ bài này ạ?
Thi sĩ Du Tử Lê: Thưa anh Vũ Hoàng, tôi cũng không rõ, những đại khái thế này. Trước đó, tôi và ông Anh Bằng hoàn toàn không biết nhau. Năm 1985, tôi cho tái bản ở bên này (Mỹ) cuốn thơ Du Tử Lê là cuốn đã in ở Việt Nam, trong đó có bài Khúc Thụy Du. Hồi đó, tôi có quán cà phê, tôi với anh Việt Dzũng và anh Trần Đức đang làm việc thì có người đến tìm tôi thì tôi nói vâng tôi đây. Người đó tự xưng “Tôi là nhạc sĩ Anh Bằng, tôi có phổ nhạc bài Khúc Thụy Du”, đại khái ông nói rằng nếu bên tôi có ca sĩ nào thì ông sẽ tập cho người ca sĩ đó hát. Vậy là chúng tôi quen nhau từ dạo đó. Tức là, ông ấy tự động tìm đến, ông đi mua cuốn sách và chọn bài thơ đó.

Vũ Hoàng: Lúc đó, thi sĩ Du Tử Lê có nhớ là nhạc sĩ Anh Bằng nói lý do vì sao ông chọn bài thơ này không ạ?
Thi sĩ Du Tử Lê: Tôi không hỏi, thưa anh. Tôi rất ngạc nhiên vì đó là bài thơ không đơn giản. Tôi ngạc nhiên lắm, vì nhạc sĩ Anh Bằng thường tìm đến những bài có tính truyện kể, có đầu có đuôi, chứ ông không tìm vào những bài thơ như thơ của tôi, vì bài thơ đó dài lắm, trên 100 câu, bị kiểm duyệt nữa nên chỉ còn vài chục câu thôi. Nhưng nhân đây, tôi cũng xin nói luôn, chắc Vũ Hoàng còn nhớ chúng ta có một nhà văn Pháp Antoine de Saint-Exupery, ông để lại một câu hay lắm là: Yêu nhau nhìn về cùng một hướng, ý của ông là khi người ta yêu nhau thì người ta hướng về một mục đích chung, một tương lai chung. Nhưng tôi thì nghĩ hơi khác, đồng ý yêu nhau thì nhìn về một hướng, nhưng đối với lại những cuộc tình trong cuộc sống tao loạn, chiến tranh như Việt Nam trong quá khứ, thì đó là điều gì đó rất bấp bênh và chia ly gần như thường trực, có những cuộc tình đổ vỡ, và như vậy thì làm sao nhìn về một hướng được. Thành ra, khi viết bài thơ đó, tôi muốn nói: Yêu nhau không phải là nhìn về một hướng mà yêu nhau là nên nhìn vào định mệnh, cuộc đời, hoàn cảnh của nhau, kể cả sự chia lìa trước sau cũng sẽ đến, đó là ý niệm sâu xa của bài Khúc Thụy Du.

Vũ Hoàng: Vâng, thưa thi sĩ Du Tử Lê đó cũng chính là câu hỏi Vũ Hoàng đang tính hỏi thi sĩ là thông điệp nào ông muốn gửi tới trong bài này thì rất may mắn thi sĩ đã giúp Vũ Hoàng. Nhưng Vũ Hoàng tin chắc là câu hỏi cuối cùng này là câu hỏi rất nhiều người muốn hỏi: người con gái tên Thụy ở đây là ai? Nếu như có cơ hội chia sẻ thì mời thi sĩ ạ?
Thi sĩ Du Tử Lê: Dạ vâng, thưa thứ nhất, hồi đó tôi mới yêu người đó, người đó tên là Thụy Châu, Thụy là chữ lót, sau đó, người đó người đó trở thành bạn đời của tôi. Nhưng vì lỗi của tôi mà chúng tôi đã chia tay nhau cũng đã khá lâu.

Vũ Hoàng: Vũ Hoàng cũng xin đoán chữ “Du” đây là một phần trong tên của thi sĩ Du Tử Lê để khép thành “Khúc Thụy Du”.
Thi Sĩ Du Tử Lê: Dạ, đúng vậy thưa anh Vũ Hoàng.

Vũ Hoàng: Thưa thi sĩ Du Tử Lê, chương trình hôm nay là dành cho những đôi tình nhân, ngày Valentine, một lời nói nào thi sĩ muốn gửi gắm tới những đôi tình nhân trong thời bình ngày nay.
Thi sĩ Du Tử Lê: Nhân đây tôi xin phép được chuyển lòng cầu mong của tôi đến tất cả những người yêu nhau và của cả những cuộc hôn nhân. Tôi mong rằng những người đang lắng nghe chúng ta không rơi vào tình trạng của tôi như trong quá khứ.

Vũ Hoàng: Và Vũ Hoàng cũng thay mặt thính giả đài RFA cám ơn thi sĩ Du Tử Lê rất nhiều, và mong là mỗi ngày đều là ngày Valentine đối với ông và gia đình.
Thi sĩ Du Tử Lê: Cám ơn anh Vũ Hoàng, câu hay quá. Tôi cũng xin mượn câu của anh mới nói để gửi tới quý thính giả, như một lời cám ơn chân thành của chúng tôi.

Vũ Hoàng: Dạ, cám ơn thi sĩ Du Tử Lê ạ.
Thi sĩ Du Tử Lê: Dạ, cám ơn anh Vũ Hoàng.


VŨ HOÀNG
Tháng 2/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/valen-famo-song-khucthuydu-02152015055845.html

 
The following users thanked this post: wind99, lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #103 vào: 20/02/2018, 21:36:18 »
Nước hoa Chanel số 5 vẫn là số một

Hàng năm trên thế giới, có hơn một trăm kiểu nước hoa mới được tung ra thị trường. Nhưng có bao nhiêu kiểu chai sẽ trở thành những sản phẩm ăn khách. Xa hơn nữa, có bao nhiêu mùi hương đầy ma lực quyến rũ như nước hoa Chanel số 5, nhỏ giọt cuốn hút người tiêu dùng, lan tỏa xúc cảm giác quan, khơi gợi trí tưởng tượng để rồi đọng lại trong tiềm thức công chúng.


CHANEL Số 5 không chỉ đơn thuần là một mỹ phẩm, mà còn là biểu tượng quen thuộc của ngành thời trang cao cấp. Một kiểu chai vuông vức, thẳng góc, với đường nét đơn giản mà tinh tế, nó nói lên quan niệm sáng tạo của một nhà thiết kế, nhưng đồng thời phản ánh cả một nghệ thuật sống. Ý tưởng sáng tạo thường là một quan niệm trừu tượng, vậy thì làm thế nào để tạo ra khuôn thước cho những gì không thể đo lường được.
            Cuộc triển lãm tại Paris mang tựa đề “Số 5 Văn hóa Chanel” (N°5 Culture Chanel) đưa người xem vào thế giới mỹ phẩm, và qua đó cho thấy cả hai vế: giá trị của mặt hàng và biểu tượng văn hóa. Suy cho cùng, cuộc triển lãm nói lên quan niệm của nhà thiết kế người Pháp Gabrielle Chanel, trong cách nâng một sản phẩm thời trang lên hàng nghệ thuật.
            Cuộc triển lãm tại Paris mang tựa đề “Số 5 Văn hóa Chanel” được tổ chức tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Palais de Tokyo, từ ngày 05/05 cho tới ngày 05/06 năm 2013. Cả trăm món trưng bày như ảnh chụp, bích chương, phim ảnh quảng cáo, vật dụng trang trí, các bức phác họa, bản thảo chép tay, phụ kiện thời trang hay các món trang sức đắt tiền, tất cả đều thấp thoáng hình bóng của bà Gabrielle Chanel (còn được gọi thân mật là Coco Chanel).
            Cuộc triển lãm cho thấy bề dày lịch sử của một sản phẩm, từ khi mới chỉ là một ý tưởng manh nha trong tâm trí của một người phụ nữ, cho đến sự hình thành qua việc chế biến kiểu chai nước hoa quen thuộc. Trong khuôn khổ triển lãm, ban tổ chức còn dựng lên một xưởng hương liệu, nơi mà khách thăm viếng có thể ngửi qua một số mùi hương tiêu biểu, để khám phá những nét cơ bản trong cách kết hợp các hương liệu với nhau.
            Bên cạnh đó còn có sự đóng góp của nhiều văn nghệ sĩ khác, giúp tăng thêm uy tín của nhãn hiệu Chanel. Ngoài khối lượng thư từ trao đổi với các nghệ sĩ cùng thời, cuộc triển lãm còn giới thiệu một số tác phẩm của nhiếp ảnh gia François Kollar, các bức phác họa của danh họa Picasso, của nhà văn Jean Cocteau, của nhà điêu khắc Diego Giacometti (em trai của nghệ sĩ Alberto Giacometti), hay của nhạc sĩ Igor Stravinsky (mà sắp tới đây RFI sẽ đề cập đến 100 năm ngày ra đời của vở múa Le Sacre du Printemps – Lễ Đăng Quang Mùa Xuân). Hình tượng và thế giới của Chanel đã gợi hứng sáng tác cho những nghệ sĩ này.
            Cuộc triển lãm Chanel số 5 đã từng rất thành công ở nước ngoài khi được tổ chức tại Matxcơva, thủ đô nước Nga, và sau đó là tại các thành phố Bắc Kinh và Thượng Hải. Được đưa về thủ đô Pháp lần này, triển lãm Chanel số 5 còn được sự hỗ trợ của bộ phim tư liệu Once Upon A Time của Karl Lagerfeld và cuộc triển lãm 150 năm thời trang cao cấp, tức là Haute Couture, của Pháp tại tòa Đô chính Paris.
            Không phải ngẫu nhiên mà Viện Bảo tàng Nghệ thuật Đương đại Palais de Tokyo đã chọn mồng Năm tháng Năm làm ngày khai mạc triển lãm. Bởi vì số 5 là số hên của bà Gabrielle Chanel. Sinh thời, bà Chanel tin rằng số 5 mang lại cho mình nhiều may mắn, vì thế cho nên bà lấy số 5 để đặt tên cho kiểu nước hoa đầu tiên cũng như hầu hết các bộ sưu tập thời trang đều được trình làng vào ngày 5 tháng Năm.
            Hên xui may rủi. Trong những năm tháng mới vào nghề, bà Chanel đã may mắn gặp đúng lúc những người đàn ông giúp bà gầy dựng cả một cơ nghiệp khổng lồ. Nếu như nhà quý tộc người Anh Arthur Edward còn được gọi là Boy Capel đã bỏ tiền giúp bà Chanel, tình nhân của ông thời bấy giờ, mở cửa hiệu thời trang đầu tiên vào năm 1913, thì trong lãnh vực mỹ phẩm, ông Ernest Beaux là người đã thành công trong việc kết hợp các hương liệu để diễn đạt ý tưởng của bà Chanel.
            Trong ngành mỹ phẩm, các nhà pha chế nước hoa thường có khứu giác bén nhạy phi thường. Thuật ngữ chuyên ngành thường gọi họ là “Le Nez” có nghĩa là Cái lỗ mũi, nhờ cái tài phân biệt được hàng trăm hương liệu khác nhau. Về điểm này, ông Ernest Beaux nổi tiếng là một người có khứu giác thần kỳ. Ông xuất thân từ một gia đình Pháp, nhưng sinh trưởng ở thủ đô nước Nga.
            Gia đình ông làm việc cho một công ty Pháp chuyên sản xuất nước hoa cho giới thượng lưu quý tộc ở Nga. Khi gặp ông Ernest Beaux vào năm 1921, bà Chanel ngỏ ý muốn ông pha chế một mùi hương khắc hẳn với tất cả các kiểu nước hoa thịnh hành thời bấy giờ. Một mùi hương để gợi lên hình ảnh của người đàn bà: phong cách dịu dàng mà đầy sức cám dỗ, quyến rũ khiêu gợi ở chỗ e ấp kín đáo chứ không nồng nàn đến mức sỗ sàng.
            Để diễn đạt ý tưởng này, ông Ernest Beaux đã kết hợp 80 hương liệu khác nhau, trong đó có mùi hoàng lan, diên vĩ, hoa hồng, hoa lài, mùi vani pha chế với gỗ đàn hương, mùi xạ hương hòa quyện với hổ phách và cam xanh (bergamote) vân vân… Tất cả đều là những hương liệu tinh lọc, chiết xuất từ các chất tự nhiên. Ông Ernest Beaux phối hợp một bản nhạc giao hưởng, trong đó những nốt trầm của thảo mộc được hòa quyện tài tình khéo léo với những nốt bay bổng của hương hoa vùng nhiệt đới.
            Nhà pha chế nước hoa khi kết hợp hàng chục hương liệu với nhau, đã đi ngược lại với truyền thống chế biến nước hoa thời bấy giờ vốn chỉ dựa trên một mùi hương chủ đạo lấy từ một loài hoa quý. Với Chanel số 5, mùi hương phụ nữ trở nên phức hợp, thế giới của người đàn bà phảng phất gợi cảm của những nụ hồng dưới ánh nắng ban mai miền Địa Trung Hải, mong manh tươi mát như những nhánh lan hoang dại đẫm ướt sương rừng, nhẹ nhàng theo gió thoảng để rồi nung cháy ánh mặt trời trên các vùng đất nóng. Một khi xức vào, Chanel số 5 diễn đạt tất cả những cung bậc cảm xúc trên cơ thể của người đàn bà.
            Giai thoại kể rằng ông Ernest Beaux đã cho bà Chanel ngửi thử 6 mùi hương mà ông đã pha chế. Mỗi chai được ghi thứ tự với một con số. Bà Chanel cảm thấy rất ưng ý với mùi hương của chai số 5. Mà số 5 lại là số hên của bà, cho nên mới lấy quyết định giữ nguyên như vậy làm tên gọi. Vào đầu thế kỷ XX, thời mà các kiểu chai nước hoa thường mang những tên gọi bóng bẫy, đẹp như tựa đề những bài thơ, thì cách gọi nước hoa là số 5 trở nên rất tiên phong, đi trước thời đại.
            Cách chọn kiểu chai cũng vậy vì những đường nét vuông vức thẳng góc của Chanel số 5, không hề gợi lại những đường cong của người phụ nữ, mà cũng chẳng có những chi tiết chạm trổ cầu kỳ như trang sức của người đàn bà. Qua hình tượng vuông vức của lọ nước hoa số 5, Chanel đã phản ánh quan niệm của mình về thời trang: nét đơn giản làm nên vẻ thanh lịch.
            Những gì chạy theo thời cũng đến lúc sẽ lỗi thời. Chỉ có phong cách mới trường tồn, vì nó thể hiện cho một quan niệm mà thời nào ta cũng có thể bắt gặp. Theo quan niệm của Chanel, nhan sắc chỉ là nhất thời, nữ tính mới là muôn thuở. Đường nét đơn giản coi vậy mà lại là đỉnh cao của sự tinh tế, lối thiết kế tỉnh lược, không rườm rà, không đầy dẫy chi tiết hoa lá cành lại trở nên tân kỳ, hiện đại.
            Bí quyết thành công của Chanel nằm ở trong tư tưởng táo bạo, tiên phong, dám đi ngược lại với tất cả những gì thịnh hành lúc bấy giờ, tạo ra một ngôn ngữ mới cho ngành mỹ phẩm, nơi mà cấu trúc pha chế sẽ là cú pháp, còn hương liệu sẽ là ngữ vựng. Bà Gabrielle Chanel và ông Ernest Beaux đã đưa ngành chế biến nước hoa sang một kỷ nguyên mới.
            Từ những năm 1940 trở đi, Chanel chinh phục nhiều khách hàng trên thế giới. Thông qua cuộc triển lãm tại Palais de Tokyo, ta có thể hiểu rằng bà Chanel có đủ tầm nhìn xa để nâng sản phẩm của mình lên hàng đẳng cấp quốc tế. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ tập trung phát huy nền kỹ nghệ điện ảnh Hollywood. Lối sống theo kiểu Mỹ (American way of life) nhờ phim ảnh mà được quảng bá trên toàn cầu.
            Hiệu thời trang Chanel nắm bắt yếu tố này để phát huy sức mạnh của mình, sánh vai với nghệ thuật thứ bảy để chinh phục những chân trời mới. Trong hơn nửa thế kỷ, Chanel ký hợp đồng quảng cáo với các ngôi sao màn bạc như Ali MacGraw, Candice Bergen, Lauren Hutton, Catherine Deneuve, Carole Bouquet, Nicole Kidman… để nâng cao uy tín của mình. Gần đây hơn nữa đến lượt trường hợp của nam diễn viên Brad Pitt. Lần đầu tiên, một hiệu thời trang mỹ phẩm lại sử dụng một biểu tượng của nam giới để ca ngợi nét quyến rũ của nữ giới.
            Về phần ngôi sao màn bạc Marilyn Monroe, trái với điều mà nhiều người thường nghĩ, cô hoàn toàn không có hợp đồng quảng cáo cho hiệu nước hoa Chanel. Nhưng vào năm 1954, câu nói bất hủ của Marilyn đã đi vòng quanh trái đất. Theo đó, ban đêm cô không mặc gì khi đi ngủ mà chỉ “khoác lên mình” vài giọt nước hoa Chanel số 5. Tác dụng của câu nói này mạnh hơn cả trăm lần các đợt quảng cáo chính thức. Nó rót vào lòng người, rồi lắng đọng trong tiềm thức bởi vì đó là câu nói của một người từng được mệnh danh là người đàn bà đẹp nhất hành tinh.
            Trong vòng 9 thập niên, từ khi ra đời vào năm 1921 cho tới nay, Chanel số 5 đã trải qua bao phong trào thời trang, mà công thức pha chế hầu như không thay đổi. Kiểu chai hình chữ nhật vẫn trung thành với đường nét đơn giản, cái tên gọi bằng số, trở thành một ký tự thông dụng, dễ nhớ dễ hiểu, vượt lên trên mọi rào cản ngôn ngữ. Mỗi năm trên thị trường, lại xuất hiện thêm hàng trăm loại nước hoa mới, nhưng tên gọi số 5 vẫn là nước hoa thông dụng nhất. Được mệnh danh là mùi hương của mọi thời đại, kiểu chai nước hoa này có thể bị soán ngôi bá chủ về khối lượng sản phẩm bán chạy. Nhưng về mặt uy tín, sau gần một thế kỷ, Number Five is still Number One: Chanel số 5 vẫn là số một.


TUẤN THẢO
Tháng 5/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130517-nuoc-hoa-chanel-so-5-sau-gan-mot-the-ky-van-la-so-mot

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #104 vào: 22/02/2018, 21:28:52 »
Paris và những bản tình ca

Có rất nhiều loại tình cảm mà chỉ cần một cái lần chạm nhẹ vào, là nó sẽ hiện diện ngay trong tâm tưởng. Và cũng có nhiều nỗi đau mà khi nghe qua, chúng ta cảm thấy như đó là sự mất mát của chính mình. Đó là tình nhân loại, tình dân tộc, tình quê hương. Với không ít người, Paris chính là tình yêu như thế. Cát Linh xin dành chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này cho những bản tình ca về Paris, như một chia sẻ nhỏ nhoi với những gì đã xảy đến với nước Pháp trong ngày Thứ Sáu, 13 tháng 11 vừa qua.

Tháp Eiffel ở giữa thủ đô Paris được chiếu sáng bằng ba màu theo cờ của nước Pháp ngày 15 tháng 11, 2015

Nắng Paris, nắng Sài Gòn
            Trong suy nghĩ của nhiều người chúng ta, Paris là một thành phố của tình yêu, là thiên đường của thời trang, là cái nôi của hội họa và kiến trúc. Không chỉ thế, mà nước Pháp còn được nhắc đến câu nói ngắn gọn nhưng thể hiện cả một tinh hoa của nền văn hóa, đó là “lịch sự như người Pháp”. Nước Pháp, với Paris, với sông Seine, với nhà thờ Notre Dame de Paris nổi tiếng.
            Ai đã từng một lần mơ về Paris? Mơ về một buổi sáng thức dậy trong tiếng chuông vang xa từ ngôi nhà thờ Notre dame de Paris, trong ánh bình minh lấp lánh từ con sông Seine chạy giữa lòng thủ đô?
            Đã từ lâu rồi, cái tên Paris như hiện thân của một thiên đường với tất cả những gì lộng lẫy và kiêu sa nhất. Paris với dòng sông Seine thơ mộng, hiền hòa, ngay bên cạnh là kỳ quan Eiffel, công trình kiến trúc bằng thép nằm trên công viên Cham-de-Mar, niềm kiêu hãnh của người dân Pháp và ước mơ một lần đặt chân đến của triệu triệu người trên thế giới.
            Paris thơ mộng và nắng Paris đẹp đến thế, nhưng khi bước đi trên đường phố, giữa cái nắng se se lạnh của thủ đô, nhạc sĩ Ngô Thuỵ Miên vẫn phải thốt lên rằng “tôi đi giữa trời Paris mà nhớ thương Sài Gòn”. Vì nắng Paris quá mặn nồng, quá đỗi thân thương như một mảnh tình quê hương.

             “Trong trái tim rất nhiều người Việt, Paris là một tình yêu, nguyên khôi, và lãng mạn nhẹ nhàng như cổ tích có thật. Bất kể, người ấy đã từng đặt chân đến Paris hay chưa. Những chuyến bay Saigon-Paris đã bao lần hoàn tất tâm nguyện “trở về” hay một lần đặt chân đến miền đất mơ mộng mà nhiều người đã lén mơ.

             Đó là những dòng chữ ghi vội vàng của Chương, một chàng trai từng có nhiều năm sống ở Paris, ngay sau buổi chiều tối ngày Thứ sáu 13 tháng 11 vừa qua.
            Người ta có thể đến Paris với nhiều mục đích khác nhau, ở lại Paris cũng trong những khoảng thời gian không giống nhau, và yêu Paris với những lý do cũng khác nhau. Có người chỉ ghé đến Paris trong vài ngày ngắn ngủi. Có người quay về Paris một, hai lần trong năm. Có người đã chọn Paris là nhà trong cuộc viễn du của đời mình. Và trong đó, có không ít người đã chọn Paris làm nơi hò hẹn.
            Paris, với công viên ghế đá, với quán nhỏ âm thầm, với rượu đỏ tràn ly, đó là mùa thu của thi sĩ Cung Trầm Tưởng, là người chọn Paris cho cuộc hẹn hò.

                       “Mùa thu Paris
                        Trời buốt ra đi
                        Hẹn em quán nhỏ
                        Hẹn em quán nhỏ
                        Rượu rưng rưng ly đỏ tràn chề…

                        (Mùa thu Paris)


Những quán cà phê lộ thiên ở gần Place de la Republique ở Paris ngày 16 tháng 11, 2015

            Mùa thu qua, tháng tư mùa đông về, Paris khoác áo tuyết trắng trời. Lúc này, người Sài Gòn ở Paris lại nặng tình với buổi sáng thức dậy cùng ly café nhỏ giọt thơm lừng. Những căn nhà gỗ vùng ngoại ô thành phố lại trở nên ấm cúng lạ lùng với ngọn lửa bập bùng cả ngày lẫn đêm. Cung Trầm Tưởng lại một lần nữa thốt lên:

                       “…Trời mùa đông Paris
                        Suốt đời làm chia ly.
                        Tiễn em về xứ Mẹ
                        Anh nói bằng tiếng hôn
                        Không còn gì lâu hơn
                        Một trăm ngày xa cách…

                        (Tiễn em)

             “Tôi là người Việt Nam, cho nên tôi vẫn nhìn Paris từ chỗ đứng của một người Việt Nam. Tôi không thấy mâu thuẫn giữa hai điều đó. Lẽ dĩ nhiên thời trẻ, bồng bột. tôi chỉ nhìn Paris, phảng phất qua bối cảnh của một tình quê hương. Tôi không dám nói là tình yêu nước. Từ xuất phát điểm đó, tôi có thể nói là tôi yêu Paris vô vàn.

            Đó là chia sẻ của thi sĩ Cung Trầm Tưởng với nhà báo Thụy Khuê trong một lần ông có dịp quay lại Paris sau gần nửa thế kỷ.
            Paris trong tâm tưởng của mọi người sẽ càng nên thơ và yêu kiều hơn với những bài tình ca của Phạm Duy, của Ngô Thụy Miên, phổ từ thơ của Cung Trầm Tưởng, của Nguyên Sa. Paris sẽ càng mặn nồng hơn khi bất chợt một lúc nào đó, giữa Sài Gòn náo nhiệt, ồn ào, người ta nghĩ đến sông Seine như một người đang mơ về người tình kiếp trước, với chiều Paris phố xưa còn vui, với điệu Tango giữa trời đêm Luxembourg.

                       “Nghìn năm sông Seine vẫn lững lừ trôi
                        Biết bao nhiêu đổi thay cuộc đời
                        Chiều Paris phố xưa còn vui
                        Tóc ai mây trời xa xôi.
                        Ngày xa xưa đó nhớ chăng người ơi
                        Những đêm Luxembourg lá rơi
                        Chiều Morvais có em và tôi
                        Khúc tango sầu chơi vơi…

                        (Khúc Tango sầu)

            Cung Trầm Tưởng hẹn người em nơi quán nhỏ, nơi công viên lá đổ giữa trời thu Paris, xin chờ em gắng khổ từng giờ. Còn thi sĩ Nguyên Sa thì không tránh được bồi hồi, không biết rằng ngày trở lại Paris sẽ có gì lạ không?

                       “Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về em có còn ngoan?
                        Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
                        Em có tìm anh trong cánh chim…

                        (Paris có gì lạ không em?)

            Paris khi được nhớ đến trong trái tim mỗi người có thể sẽ là những cung bậc khác nhau. Nhưng mãi mãi, Paris sẽ là tình yêu, là niềm cảm hứng bất tận cho những ai đã đến, chưa đến, và sẽ đến.


CÁT LINH
Tháng 11/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/paris-n-love-songs-11222015053300.html