Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 8190 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi wind99

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #105 vào: 22/02/2018, 21:50:50 »
Bài tình ca nổi tiếng “Khúc Thụy Du” cho ngày Valentine

Trong không khí ấm áp của Lễ Tình Nhân đang tràn ngập khắp nơi nơi, hôm nay, chương trình âm nhạc xin được cùng quý vị tìm hiểu về một trong những bản tình ca rất nổi tiếng của Việt Nam, đó là bản Khúc Thụy Du. Mặc dù, được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc với giai điệu nhẹ nhàng, êm ái đầy chất trữ tình, nhưng thực chất, bài thơ gốc Khúc Thụy Du của thi sĩ Du Tử Lê lại rất mạnh mẽ, gào thét với những câu chữ gai góc, thậm chí chết chóc… Thế nhưng, ẩn chứa sau đó, thi sĩ Du Tử Lê lại làm bật lên một triết lý sâu sắc về tình yêu rằng khi yêu nhau hãy nhìn vào định mệnh, cuộc đời và hoàn cảnh của nhau dù cho sự chia lìa có thể xảy đến bất cứ lúc nào…


Thơ Du Tử Lê







« Sửa lần cuối: 22/02/2018, 22:07:35 gửi bởi wind99 »
 
The following users thanked this post: lenhale, huhu, nduytai
The way to learn is to forget

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #106 vào: 27/02/2018, 20:48:08 »
Dưới bóng những cây cầu cổ kính, lộng lẫy của Paris

Sông Seine đoạn chảy qua Paris và ngoại ô có tới 37 cây cầu bắc qua. Nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là Pont Neuf – cây cầu lâu đời nhất Paris và Alexandre Đệ Tam – cây cầu lộng lẫy nhất Paris.

Cầu Pont Neuf – Paris

Pont Neuf – cầu lâu đời nhất của Paris
            Pont Neuf có nghĩa là Cầu Mới. Đây là cây cầu lâu đời nhất trong số những cây cầu hiện đại bắc qua sông Seine, đoạn chảy qua Paris. Sở dĩ cầu có tên gọi là Cầu Mới vì đây là cây cầu bằng đá đầu tiên của Paris. Trước kia, các cây cầu ở Paris đều bằng gỗ.
            Pont Neuf nằm ở vị trí trung tâm Paris, được xây dựng từ năm 1578 đến năm 1607, trong thời gian trị vì của vua Henri Đệ Tam và Henri Đệ Tứ. Phải mất gần 30 năm cây cầu mới được hoàn thành vì các khó khăn tài chính, Chiến tranh Tôn giáo (1588-1598) và các xung đột chính trị.
            Anh Louis Antoine, hướng dẫn viên du lịch và là đồng sáng lập Hiệp Hội “Một người bạn ở Paris” giới thiệu: “Viên đá đầu tiên được đặt vào một ngày mưa to, và vị vua đặt viên đá đó cũng chứa chan nước mắt khóc thương vì hai cận thần được ông sủng ái đã qua đời một tháng trước đó. Vì thế, người dân Paris đã mệnh danh Pont Neuf là “cây cầu nước mắt” (…) Ngay khi mới được khai trương, cây cầu đã đón nhận thành công lớn vì đây là cây cầu có tầm nhìn rất rộng ra sông Seine. Những cây cầu xây trước Pont Neuf đều có các ngôi nhà được xây dọc theo hai bên thành cầu. Vì thế, khi đi trên cầu, người dân Paris không thể ngắm nhìn sông Seine”.
            Như vậy, Pont Neuf cũng là cây cầu đầu tiên không có nhà cửa bao quanh lòng cầu, chỉ có một trạm bơm được xây trên một hệ thống cọc để bơm nước từ sông Seine tới Louvre (khi đó là cung điện) và vườn Tuilerie. Trạm bơm có tên gọi Samaritaine, đây là trạm bơm nước đầu tiên của Paris. Đến năm 1813, khi Paris có hệ thống dẫn nước mới thì trạm bơm Samaritaine mới bị dỡ bỏ.
            Pont Neuf cũng là cây cầu đầu tiên của Paris có vỉa hè. Và trong vòng 200 năm sau khi Pont Neuf được khánh thành, đây vẫn là cây cầu có vỉa hè duy nhất ở Paris. Người ta phỏng đoán phần vỉa hè của Pont Neuf theo dự tính ban đầu có lẽ là dành để xây dựng các ngôi nhà như những cây cầu trước đó.
            Nhờ không có các ngôi nhà chắn tầm nhìn mà khi đi trên cầu, mọi người có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn dòng sông Seine trải dài và các công trình nổi tiếng của Kinh Đô Ánh Sáng nằm dọc hai bên bờ sông.
            Dài hơn 230m, đây là cây cầu đầu tiên bắc qua cả hai nhánh của sông Seine, nối liền quận 6 ở tả ngạn và quận 1 ở hữu ngạn sông Seine, bắc qua cả mũi đất phía Tây của đảo Île de la Cité, nơi có quảng trường Dauphine. Pont Neuf rộng 20,5m, gồm 11,5m lòng cầu và hai bên vỉa hè, mỗi bên rộng 4,5m.
            Pont Neuf có 12 nhịp cầu uốn hình vòng cung. Phần cầu bắc qua nhánh lớn của sông Seine nối sang quận 1 gồm 7 nhịp. Còn phần nối sang quận 6 gồm 5 nhịp. Tại mỗi trụ cầu có một “ban công” hình bán nguyệt nhô ra phía ngoài sông Seine. Mạn ngoài của cầu được trang trí bằng 381 bức điêu khắc gương mặt của các vị thần trong các truyền thuyết cổ đại, chẳng hạn như thần dê, thần rừng. Mỗi bức tượng lột tả một cảm xúc khác nhau, nhiều bức tượng khắc họa vẻ nhăn nhó, trông khá kỳ dị. Đại văn hào Victor Hugo xưa kia đã gọi những bức tượng đó là “những cơn ác mộng hóa đá”.
            Trong một thời gian rất dài, cây cầu đã trở thành một trung tâm náo nhiệt và sầm uất về thương mại của thành phố. Trong bài thơ có tiêu đề “Thành phố Paris”, được sáng tác vào năm 1660, thi sĩ Berthod đã miêu tả Pont Neuf là nơi bán hàng quen thuộc của những người bán thuốc bôi, thuốc mỡ, sách truyện, quần áo cũ, là nơi hành nghề của những người nhổ răng dạo… Vào năm 1619, chính trên cầu Pont Neuf, quầy bán sách cũ đầu tiên của Paris đã xuất hiện.
            Vào cuối giai đoạn trị vì của vua Henri Đệ Tam, các nhà buôn và thợ thủ công đã dựng các quầy hàng bằng gỗ tại các ban công bán nguyệt để buôn bán. Năm 1775, các quầy hàng bằng gỗ này bị dỡ bỏ và thay vào đó là các quầy hàng xây bằng đá, do kiến trúc sư danh tiếng Soufflot thiết kế. Kiến trúc sư Soufflot cũng chính là người đã thiết kế Điện Panthéon – Đền thờ các vĩ nhân của Pháp. Đến năm 1854 thì các quầy hàng bằng đá cũng bị dỡ bỏ, việc buôn bán và làm nghề thủ công trên vỉa hè của cầu chấm dứt. Vỉa hè cầu Pont Neuf trở thành nơi dạo bộ lý tưởng cho người dân.
            Trong tác phẩm mang tựa “Bức họa Paris” năm 1781, tác giả Louis-Sébastien Mercier đã viết: “Pont Neuf trong thành phố giống như trái tim trong cơ thể con người, trung tâm của mọi sự chuyển động và tuần hoàn, người dân và khách nước ngoài đổ tới cầu nhiều tới mức chỉ cần đi dạo trên cầu mỗi ngày một tiếng là có thể gặp được người mà ta muốn gặp”.
            Trải qua hơn bốn thế kỷ, với biết bao đổi thay của lịch sử, cây cầu vẫn còn đó và đã trở thành cảm hứng sáng tạo và đi vào tác phẩm hội họa của một số họa sĩ nổi tiếng như Pierre-Auguste Renoir hay Camille Pissarro. Họa sĩ Renoir vẽ bức tranh “Pont Neuf” vào năm 1872. Bức tranh sơn dầu này hiện nằm tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Quốc Gia ở Washington, Mỹ. Còn bức tranh “Pont Neuf” của họa sĩ Pissarro vẽ năm 1901 được trưng bày tại bảo tàng Nghệ Thuật Philadelphia, Mỹ. Cây cầu cũng là bối cảnh chính của bộ phim “Les Amants du pont Neuf” (Những tình nhân của cây cầu Pont Neuf), sản xuất năm 1991.
            Cũng trong năm 1991, cùng với quần thể dọc bờ sông Seine, Pont Neuf đã được công nhận là Di Sản Thế Giới của UNESCO.


Cầu Alexandre Đệ Tam – Paris

Alexandre Đệ Tam – cầu lộng lẫy nhất Paris
            Nếu Pont Neuf nổi tiếng là cây cầu lâu đời nhất Paris thì cầu Alexandre Đệ Tam lại nổi tiếng là cây cầu đẹp nhất, lộng lẫy nhất, hoành tráng nhất “Kinh Đô Ánh Sáng”.
            Cầu Alexandre Đệ Tam nằm ở một khu vực quan trọng, tập trung nhiều công trình lịch sử có giá trị của của thành phố Paris. Cầu nằm trên trục thẳng nối từ Điện Invalides bên tả ngạn sông Seine (quận 7) tới đại lộ Wilson Churchill bên hữu ngạn (quận 8) với hai công trình Grand Palais và Petit Palais nằm hai bên. Gần đó là tháp Eiffel, đại lộ Champs Elysée, Phủ Tổng Thống (Điện Elysée), quảng trường Concorde, Tòa nhà Quốc Hội (Palais Bourbon)…
            Cầu Alexandre Đệ Tam là biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước Nga và Pháp. Sa hoàng Nga Alexandre Đệ Tam và tổng thống Pháp Sadi Carnot đã cho xây dựng cây cầu nhân dịp Triển Lãm Hoàn Cầu được tổ chức ở Paris vào năm 1900. Sa hoàng Nicolai Đệ Nhị – con trai của sa hoàng Alexandre Đệ Tam đã đặt viên đá đầu tiên khởi công xây dựng cầu vào năm 1896 và vào ngày 14/04/1900, cũng chính Nikolai Đệ Nhị, cùng với tổng thống Pháp Emile Loubet, đã khánh thành cây cầu. Đây cũng là ngày tổng thống Emile Loubet khai mạc Triển Lãm Hoàn Cầu tại Grand Palais.
            Năm 1975, cầu Alexandre Đệ Tam được công nhận là công trình lịch sử của Pháp. Năm 1991, cũng như Pont Neuf, cùng với các công trình hai bên bờ sông Seine, cầu Alexandre Đệ Tam được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới.
            Nét đẹp của cầu Alexandre Đệ Tam nằm ở sự giao hòa giữa kỹ thuật xây dựng hiện đại và phong cách nghệ thuật mới. Nhà báo Patrick de Carolis và nhà sử học Louis Laforge, trong cuốn sách “Paris – dọc theo sông Seine”, đã trích dẫn các quy định mời thầu, cho biết là các kiến trúc sư phải đảm bảo là “cây cầu sẽ không làm ảnh hưởng đến những cảnh đẹp mắt và sống động trên sông Seine, nhìn từ phía quảng trường Concorde thì những cảnh đó là độc nhất vô nhị: các cây cầu nối tiếp nhau với tầu thuyền tấp nập trên sông”, độ cao của cây cầu không được quá cao, che lấp các cảnh quan nổi tiếng xung quanh, nhưng cũng không được quá thấp làm ảnh hưởng tới tàu thuyền đi lại trên sông, và đặc biệt cây cầu phải hài hòa với hai công trình nằm ngay gần đó cùng được xây dựng để phục vụ Triển Lãm Hoàn Cầu là Grand Palais và Petit Palais.
            Cầu Alexandre Đệ Tam chỉ có một nhịp dài 107m, với ba điểm nối và không có cột chống trung gian nào. Cầu rộng 40m. Toàn bộ khung cầu được đúc sẵn bằng thép từ nhà máy Le Creusot rồi được vận chuyển đến lắp ghép tại chỗ bằng đinh ốc. Đây là một trong những công trình đầu tiên trên thế giới được xây dựng theo công nghệ này. Loại thép dùng để xây cầu cũng là loại thép đặc biệt, chỉ được dùng cho các mục đích quân sự ở Pháp vào thời đó. Vì thế, phải có giấy phép đặc biệt mới được sử dụng loại thép này để xây dựng cây cầu. Để chống lại sức đẩy của nước, phần móng cầu sát bờ sông được gia cố bằng các khối bê tông khổng lồ, có thể nói là chưa từng có vào thời kỳ đó.
            Việc trang trí cây cầu được giao cho các nhà điêu khắc nổi tiếng thời đó như Dalou, Garder, Gauquié… Với các tác phẩm điêu khắc lộng lẫy, cầu Alexandre Đệ Tam được coi như một viện bảo tàng.
            Hai bên thành cầu được trang trí bằng 32 cột đèn bằng đồng với các tượng thiên thần nhỏ có cánh. Ở mỗi đầu cầu, có hai cột lớn bằng đá cao 17m. Phía dưới mỗi cột được trang trí bằng một bức tượng đá tượng trưng cho nước Pháp dưới thời trị vì của vua Charlemagne, thời Phục Hưng, thời trị vì của vua Louis XIV và thời hiện đại. Còn trên đỉnh mỗi cột đặt một bức tượng đồng mạ vàng hình nữ thần và ngựa có cánh, tượng trưng cho nghệ thuật, nông nghiệp, trận chiến đấu và chiến tranh. Ở chính giữa, hai bên mạn ngoài cầu được trang trí bằng bức tượng các nữ thần sông Neva với các loại vũ khí của Nga và các nữ thần sông Seine với các loại vũ khí của Pháp. Ngoài ra, hai bên thành cầu còn có các bức tượng các em nhỏ dắt sư tử, các vị thần sông với cá hoặc ốc.
            Từ tháng 04-11/1900, trong thời gian diễn ra Triển Lãm Hoàn Cầu, đã có 50 triệu du khách đến chiêm ngưỡng cây cầu.
            Cây cầu lộng lẫy và nổi tiếng bậc nhất Paris đã đi vào nhiều tác phẩm điện ảnh, chẳng hạn như bộ phim “Midnight in Paris” (Paris lúc nửa đêm) của đạo diễn gạo cội Woody Alen. Danh ca Adèle của nước Anh, người đã thắng 6 hạng mục quan trọng tại giải Grammy năm 2012 cũng đã chọn cây cầu Alexandre Đệ Tam để quay clip “Someone like you”.


THÙY DƯƠNG
Tháng 2/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170204-duoi-bong-nhung-cay-cau-co-kinh-long-lay-cua-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #107 vào: 01/03/2018, 19:02:32 »
Doãn Quốc Sỹ, một ngòi bút chân phương, cổ điển

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ, một ngòi viết được nhiều nhà phê bình văn học cho là đôn hậu trong hầu hết các tác phẩm của ông. Ông viết hơn 25 tác phẩm song song với sự nghiệp giáo từ thập niên 1950.

Nhà văn Doãn Quốc Sỹ

SAU KHI vào Nam, cùng với Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên và nhiều nhà văn, nhà thơ khác, Doãn Quốc Sỹ và các bạn của ông đã đóng góp tài năng của họ vào sự hình thành một trào lưu mới của nền văn học Miền Nam Việt Nam khi họ thành lập nhóm Sáng Tạo. Sự đóng góp của nhóm Sáng Tạo đã góp phần quan trọng đa dạng hóa văn chương nghệ thuật của Miền Nam sau thời gian dài bị chiếm lĩnh bởi Tự Lực Văn Đoàn và Thơ mới.

Hơn nửa thế kỷ cầm bút
            Doãn Quốc Sỹ sinh năm 1923, tại Hạ Yên Quyết (Hà Đông), nay thuộc quận Cầu Giấy (Hà Nội). Cha ông là Doãn Hưu, một nhà nho và người em trai của ông là nhạc sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam, Doãn Nho. Năm 1946, ông lập gia đình với bà Hồ Thị Thảo là con gái nhà thơ trào phúng Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.
            Năm 1954, ông cùng gia đình di cư vào miền Nam. Ông dạy học tại nhiều trường trung học công lập ngoài Bắc cũng như trong Nam. Ông còn là Giáo sư cho các trường Đại học Sư Phạm, Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Ông du học tại Hoa Kỳ về ngành giáo dục và rồi trở về nước tiếp tục công việc giảng dạy cho đến năm 1975.
            Tác phẩm nổi tiếng nhất của Doãn Quốc Sỹ là Khu Rừng Lau, một trường thiên tiểu thuyết gồm có: Ba Sinh Hương Lửa (1962), Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến (1964), Tình Yêu Thánh Hóa (1965).
            Ông là tác giả của khoảng 25 cuốn sách, trong đó có: Sợ Lửa, U Hoài, Gánh Xiếc, Gìn Vàng Giữ Ngọc, Dòng Sông Ðịnh Mệnh, Khu Rừng Lau, Người Vái Tứ Phương, Dấu Chân Cát Xóa, Mình Lại Soi Mình…  Năm 1995, ông định cư tại Hoa Kỳ. Hiện nay ông sống tại Houston, tiểu bang Texas.

Những đoản văn đầu tay thời thanh niên
Mặc Lâm: Thưa Ông, có lẽ ông là một trong số rất ít ỏi các nhà văn sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn cầm viết. Ông còn nhớ kỷ niệm đầu tiên khi bước chân vào văn giới và muốn chia sẻ với thính giả ngày hôm nay không?
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Năm 1954 danh từ thời thượng thời đó cứ gọi là “Bắc Cờ 54” tức là dưới thời di cư từ Bắc vào Nam vào năm 1954. Khi vào Nam tôi ở trong cái đoàn gọi là “Sinh viên Hà Nội di cư” mà anh Trần Thanh Hiệp, tức luật sư Trần Thanh Hiệp, là chủ tịch.
            Tôi cũng có cái khuynh hướng viết văn vào khoảng 16,17 tuổi. Thời đó là có tờ Hà Nội Báo của các bậc trưởng thượng mà cái thời đó cùng với thời Tự Lực Văn Đoàn, có những ông Lê Trần Kiều, Vũ Trọng Cam là có tờ Hà Nội Báo. Dạo đó thì tôi viết từng đoạn văn thôi, từng đoản văn nho nhỏ tả một cái tình nào đó hay tả một cái cảnh nào đó, chứ chưa phải là một truyện ngắn.
            Thì các vị trưởng thượng lúc đó là Lê Trần Kiều, Vũ Trọng Cam khuyến khích giới trẻ nên đăng những đoản văn đó trên Hà Nội Báo. Được khuyến khích như vậy nên thành ra tôi giữ cái lòng thích viết từ cái thuở 16 tuổi đó. Thế rồi đến mãi 1954 theo đoàn sinh viên Hà Nội di cư vào Nam, tôi có mang một truyện ngắn viết dưới dạng truyện cổ tích, bây giờ không còn là đoản văn nữa. Và tôi đã viết từ ngoài Bắc một truyện dưới dạng truyện cổ tích lấy tên là Sợ Lửa.
            Khi vào trong Nam, đoàn sinh viên Hà Nội Di cư chúng tôi trình diện đồng bào Miền Nam bằng cái tập gọi là tập Xuân Chuyển Hướng. Tập Xuân Chuyển Hướng đó là do đoàn sinh viên Hà Nội di cư đứng ra trông nom ấn loát, ấn hành, thì may sao tôi mang được truyện ngắn Sợ Lửa từ miền Bắc vào miền Nam thì tôi đóng góp cho anh chủ tịch cái tập Xuân Chuyển Hướng đó cái truyện ngắn Sợ Lửa của tôi.
            Tôi vẫn nghĩ rằng nếu Sợ Lửa mà tôi quên không mang vào trong Nam, hoặc đã mang vào trong Nam rồi thì lại quên mà để ở đâu đó, mất đi, thì chính tôi tôi cũng chẳng để ý đến nữa. Nhưng mà một khi đã thấy tác phẩm của mình được in thành chữ đàng hoàng trên một tờ báo thì tự nhiên lòng cảm hứng của tôi nổi lên. Thế là như lửa gặp gió, tôi cầm bút tiếp tục viết để đi vào cái nghiệp viết văn từ thuở đó.

Nghiệp văn song song với nghiệp giáo
Mặc Lâm: Ông là một trong vài người đầu tiên thành lập nhóm Sáng Tạo, xin ông cho biết một vài kỷ niệm của ông vào những ngày đầu cũng như bối cảnh sinh hoạt văn học nghệ thuật thời ấy như thế nào, thưa ông?
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Tôi có đứng ra làm chủ nhiệm một tờ tuần báo lấy tên là Người Việt thì cũng là do chúng tôi, tôi đứng làm chủ nhiệm, rồi thì có những Trần Thanh Hiệp, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Sỹ Tế, v.v… Báo Người Việt của tôi cũng chỉ ra được mấy số thì đình bản. Thế rồi sau đó tôi gặp thêm được Mai Thảo xúm lại để ra tờ báo có thể nói là vượt xa là tờ Sáng Tạo.
            Tờ Sáng Tạo chúng tôi ra cứ một tháng một kỳ, thì ra được – nếu tôi nhớ không lầm – vào khoảng số 31 thì đình bản. Sau đó cũng lại cố gắng ra được thêm một vài số nữa rồi thì hoàn toàn là đình bản hẳn.

Mặc Lâm: Có gì đặc biệt về vấn đề nhân sự của nhóm Sáng Tạo, thưa Ông?
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Sau cái khoảng thời gian 31 số tờ nguyệt san Sáng Tạo chúng tôi ở đó thì bấy giờ tôi chính thức đi vào nghiệp viết văn bên cạnh nghiệp cầm phấn của nhà giáo rồi.
            Trong nhóm Sáng Tạo ban đầu thì Thanh Tâm Tuyền là phải kể và anh cũng là người mà chúng tôi thấy kiểu như là đem lại đường hướng mới trong thi ca, mới về tư tưởng hay là cách diễn đạt. Cách chấm câu của Mai Thảo cũng đem lại những đường nét mới cho văn chương của cái thuở ban đầu, lúc chúng tôi di cư vào Miền Nam. Thanh Tâm Tuyền về thơ, Mai Thảo thì về cách viết, thì là có đem lại cái đường lối mới. Có tôi là vẫn cứ đủng đỉnh theo con đường bình thường, cổ điển mà viết thôi.

Kinh nghiệm kháng chiến chống ngoại bang trong Khu Rừng Lau
Mặc Lâm: Tác phẩm Khu Rừng Lau được Ông lấy bối cảnh nào để dựng nên mà khiến ông bị di lụy với nhiều năm trong trại cải tạo như vậy?
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Khu Rừng Lau là truyện dài vào khoảng độ ngót hai ngàn trang, gồm có Ba Sinh Hương Lửa, Người Đàn Bà Bên Kia Vĩ Tuyến, rồi tập thứ ba là Tình Yêu Thánh Hóa. Tập thứ tư và là tập cuối cùng là Đàm Thoại Độc Thoại, hình như khoảng độ trên dưới hai ngàn trang. Cái chuyện Khu Rừng Lau đó thì cũng là bối cảnh của thời kháng chiến, rồi kéo dài ra với những kinh nghiệm bản thân của tôi được chứng kiến, và tôi dựng thành tập truyện coi như là trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau.

Mặc Lâm: Bản thân Ông cũng như các thành viên trong gia đình có gợi ra một liên tưởng nào đó tới các nhân vật trong Khu Rừng Lau hay không?
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ: Hết bộ Khu Rừng Lau tôi cũng viết bằng cả cái kinh nghiệm bản thân của tôi, có nhân vật từ thuở gia nhập chống Pháp. Thời đó chống Pháp là tất cả các thanh niên và chính bản thân tôi ở trong Đoàn Thanh niên Cứu Quốc để mà chống Pháp. Rồi thì chính tôi, bản thân tôi đã từng họp dân chúng biểu tình để đi phá kho thóc của Nhật để phân phát gạo cho người dân vào cái thời đó.
            Với cái việc của bản thân như vậy thì tôi dựng lại thành cái bộ truyện trường thiên tiểu thuyết Khu Rừng Lau đó. Và cái bối cảnh cùng những tình tiết thì đều là lẽ cố nhiên là viết dưới hình thức tiểu thuyết, nhưng mà kinh nghiệm là do kinh nghiệm bản thân của tôi với những điều mắt thấy tai nghe, và rồi thì là để vào viết thành cuốn tiểu thuyết như vậy.


MẶC LÂM
Tháng 6/2008


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/author_Doan_Quoc_Sy_MLam-06232008172417.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #108 vào: 13/03/2018, 20:33:50 »
“Nhà nổi” trên sông Seine, sở thích đắt tiền của người Paris lãng du

Dọc bờ sông Seine, đoạn chảy qua Paris, không ít du khách tỏ thích thú khi nhìn thấy những con tầu đậu hai bên bờ, bắt đầu từ cây cầu dành cho người đi bộ mang tên nhà văn Léopold Sédar Senghor ngay gần bảo tàng Orsay và xuôi về phía tháp Eiffel.

Một con tầu bên tả ngạn sông Seine

NHỮNG CON TẦU này đậu song song thành hàng hai, thậm chí hàng ba. Chủ nhân của con tầu đậu gần bờ nhất dành một phần mũi tầu để hàng xóm bước qua. Nếu để ý một chút, rất dễ nhận ra những hòm thư được gắn chung trên tường, ngay chân con phố phía trên, còn xe ô tô hay xe máy được đậu ngay trước cửa “nhà”.
            Bên hữu ngạn sông Seine, gần cây cầu Alexandre III dẫn đến quảng trường Concorde, người ta có cảm giác như đi vào một xóm nhỏ, không ồn ào, dù dòng xe vẫn ngược xuôi trên cao. Mareva, Le Libertin, Romanès, Spes… mỗi con tầu có một tên gọi thể hiện phong cách của chủ sở hữu. Dấu ấn riêng này còn được thể hiện qua cách bài trí trên con tầu mà người ngoài dễ dàng nhận ra được: một khu vườn nhỏ rực rỡ hoa, một hàng rào bằng trúc để giữ chút không gian riêng khỏi những ánh mắt hiếu kỳ của người đi đường, những chiếc ghế dài nằm phơi nắng, một bộ bếp nướng thịt hay một bộ ghế sofa bằng mây để đón tiếp bạn bè…
            Đây là mái ấm của những người thích có một không gian sống thoáng đãng, không bị gò bó trong diện tích chật hẹp quanh bốn bức tường. Hàng xóm của họ là thiên nhiên, là quang cảnh đẹp như tranh được tô điểm bởi những công trình kiến trúc lộng lẫy của Paris và đôi khi là những chú ngỗng hay thiên nga khi con tầu xuôi theo dòng nước.
            Phong cách sống chuộng không gian và đề cao tự do xuất hiện từ những năm 1970. Cùng với việc giá bất động sản không ngừng tăng, nên nhiều người chuyển sang sống phiêu lưu cùng sông nước. Thế nhưng, để thỏa mãn cách sống phóng khoáng như vậy, một điều chắc chắn là phải có một khoản đầu tư khá lớn, tùy theo loại tầu và diện tích sống. Họ thường mua lại những con tầu thương mại từ Bỉ hay Hà Lan, kéo về Pháp và tân trang lại tiện nghi như một căn hộ trên mặt đất.


Xóm nhỏ bên hữu ngạn sông Seine, gần quảng trường Concorde

Giá của một giấc mơ…
            Một con tầu theo chuẩn “Freycinet” dài 39,5m và rộng 5m (để có thể đi qua được các âu thuyền) có diện tích hơn 150m2 gồm một phòng ăn, một phòng khách có kiểu bếp mở của Mỹ, ba phòng ngủ và một nhà tắm cùng với một sân thượng ngập nắng vào những ngày đẹp trời, có giá dao động từ 400.000 đến 500.000 euro. Song những con tầu hiện đại và sang trọng hơn thì có giá trên 700.000 euro.
            Riêng “tại trung tâm Paris, sẽ không tìm được con tầu nào dưới giá 900.000 euro”, theo lời giải thích với trang Capital của bà Sylvie Desbonnet, chủ một văn phòng môi giới bất động sản đường thủy. Riêng những con tầu tương xứng với vị trí ngắm toàn cảnh tháp Eiffel qua ô cửa sổ nhỏ mỗi sớm thức dậy có giá tối thiểu là 1.500.000 euro.
            Có khoảng 2.500 “ngôi nhà nổi”, với dân số khoảng 5.000 người, sống trên các dòng sông và kênh rạch tại Pháp trong năm 2013, từ Strasbourg đến vùng Ile-de-France (gồm Paris và các vùng ngoại ô), từ con kênh Midi ở Toulouse đến thung lũng sông Rhône…
            Thế nhưng, sở hữu được một con tầu không đồng nghĩa với việc sẽ có được một chỗ neo đậu. Đơn vị quản lý khu vực neo đậu của con tầu, trực thuộc cơ quan Đường Thủy Pháp (Voies navigables de France), là nhà cấp “giấy phép neo đậu tạm thời” (convention d’occupation temporaire, COT), trong đó ghi rõ địa điểm cụ thể cùng với những điều kiện neo đậu. Không có giấy phép trên, chủ sở hữu sẽ bị phạt 150 euro mỗi ngày. Thế nhưng, trước tình trạng khan hiếm chỗ đậu tại các cảng sông, rất nhiều người vẫn cố tình vi phạm, đặc biệt vào những ngày đẹp trời, khi họ chu du theo dòng nước tới những khu vực khác.
            Ông Claude Denet, phụ trách phát triển tại cơ quan Đường Thủy Pháp, cho biết: “Hơn 200 người hiện đang nằm trên danh sách chờ của vùng Ile-de-France (gồm cả thủ đô Paris). Hàng năm chỉ có khoảng 10 chỗ neo đậu được giải phóng, như vậy, những người mới đăng ký chắc chắn sẽ phải chờ đến 20 năm mới đến lượt họ”.
            Tuy nhiên, tấm giấy phép quý giá này chỉ có thời hạn 5 năm. Nếu chủ sở hữu bán tầu và mua tầu mới, họ phải làm lại thủ tục từ đầu chứ không được giữ lại giấy phép neo đậu đã được cấp cho con tầu trước đó.


Những “ngôi nhà nổi” bên hữu ngạn sông Seine, gần quảng trường Concorde

            Sở hữu một “ngôi nhà nổi” là chấp nhận những khoản chi phí cao hơn so với một tổ ấm trên mặt đất. Tại lưu vực Paris, ngoài thuế sở hữu và thuế chỗ ở, các chủ sở hữu “nhà nổi” còn phải trả thêm phí neo đậu (VNF), dao động từ 2.500 đến 14.000 euro/năm, tùy theo độ dài của con tầu, vị trí neo đậu và trang thiết bị của các cảng. Thêm vào những khoản chi phí này là phí bảo hiểm, đắt hơn rất nhiều so với một chỗ ở cố định, có thể lên tới 2.000 euro/năm. Tự do chu du thiên hạ cũng có cái giá riêng: mỗi con tầu phải trả một khoản phí di chuyển, trung bình khoảng 45 euro/ngày.
            Cuối cùng phải kể đến phí bảo trì, cũng rất cao. Ông Bernard Kuntz, chủ tịch Liên Đoàn các nhà sử dụng đường thủy, cho biết: “Trên mặt nước, những lần sửa chữa trở nên thường xuyên hơn. Cứ 10 năm, các chủ sở hữu phải trả một khoản tiền khoảng 5.000 euro để kiểm tra vỏ tầu”. Nếu vỏ tầu không đạt yêu cầu, bằng lái tầu của chủ sở hữu có thể bị treo, đồng thời con tầu sẽ bị kéo ra khỏi vị trí.
            Với rất nhiều chủ sở hữu “ngôi nhà nổi” trên sông Seine phía ngoại ô Paris, bước qua cầu tầu dẫn về “nhà” sau một ngày làm việc là họ được sống trong một thế giới hoàn toàn khác, bỏ lại đằng sau những ồn ào và ô nhiễm của một Paris đầy sôi động hay những xích mích hàng xóm vì rò rỉ nước hay sử dụng không gian chung.
            Nhưng có lẽ thực tế này không phù hợp với những con tầu neo đậu trong Paris. Hai bờ sông Seine nổi tiếng là những địa điểm tụ tập và vui chơi của thanh niên và khách du lịch. Cư dân của những ngôi nhà nổi chắc hẳn phải làm quen với những ánh mắt hiếu kỳ, những tiếng cười đùa hay tiếng đàn ca hát. Thế nhưng, hẳn họ cũng không giấu được niềm tự hào sở hữu một căn nhà nổi thu hút sự chú ý của người qua đường.


THU HẰNG
Tháng 7/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160722-%E2%80%9Cnha-noi%E2%80%9D-tren-song-seine-so-thich-dat-tien-cua-nguoi-paris-lang-du

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #109 vào: 16/03/2018, 19:09:18 »
Paris khám phá tranh Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần

Chiều 28/10/2010, phòng trưng bày Annam Héritage ở Paris đã khai mạc một cuộc trưng bày sáng tác mới nhất của hai họa sĩ Đinh Cường và Nguyễn Đình Thuần, hiện định cư ở Hoa Kỳ. Triển lãm giới thiệu 17 bức tranh sơn dầu của Đinh Cường và 10 bức khác của Nguyễn Đình Thuần, tất cả đều cỡ vừa hoặc nhỏ.

Nguyễn Đình Thuần (T) và Đinh Cường (P) trước tác phẩm của mình

ĐỐI VỚI họa sĩ Nguyễn Đình Thuần, hiện định cư ở Orange County tiểu bang California, đây là lần đầu tiên anh ghé Paris, còn đối với Đinh Cường, đây là lần thứ hai trong vòng một năm. Và lần này, Đinh Cường đã cống hiến cho người yêu tranh một số hồi ức về Paris trong lần ghé thăm trước, đã được ghi lại trong các tác phẩm như “Paris trong trí nhớ”, “Góc phố”.
            Trả lời RFI, ngay tại buổi khai mạc phòng tranh, họa sĩ Đinh Cường đã nêu bật niềm vui của anh khi trở lại Paris lần này và triển lãm chỉ là cái cớ để anh gặp lại bạn bè:

            “Đây không hẳn là một cuộc bày tranh, nhưng là một chuyến đi thăm bạn bè, đem theo một ít tranh trong va-li, bày ra để có cớ thăm lại bạn bè, vậy thôi. Viếng thăm Paris và thăm bạn bè là chính. Năm ngoái khi tôi qua đây, các bạn có dẫn tôi tới đây xem cái galerie này, và tôi đã hứa sẽ trở lại bày một số tranh… Lần này tôi đem khoảng gần hai mươi bức tranh nhỏ bỏ trong va-li, để có một cái dịp gặp lại bạn bè chiều nay – một buổi chiều rất dễ thương ở Paris, mặc dù là đã có những cuộc đình công và biểu tình”.

            Nhưng mà trong chuyến trở lại Paris lần này, Đinh Cường cũng mang theo những ký ức Paris mà anh đã thể hiện qua một số tranh được trưng bày: “Tôi là người sống bằng những hoài niệm, những ký ức, và tới một thành phố nào, dù ở Việt Nam hay nơi khác, thì tôi vẫn ghi nhớ trong ký ức của mình, và tôi vẽ lại bằng những ký ức đó, cộng với những tình cảm quý hiếm của bạn bè đối với tôi. Paris rất gần với tôi từ thuở đi học, qua sách vở, qua những bài thơ, bài hát. Paris lại gần với Sài Gòn…, nó có những cái gì đó gần gũi, ở phố xá, ở những quán cà phê lề đường. Và nhất là những người bạn thân thiết của tôi ở đây cũng còn đông”.
            Trong loạt tranh của Đinh Cường cũng có một bộ ba mang tên “Vòng luân hồi”, đậm sắc đỏ. Đinh Cường giải thích: “Đến một cái tuổi nào đó, tự nhiên người ta sáng tác tranh như thế, từ những tranh trừu tượng lớn, rồi tự nhiên như năm ngoái tôi ra một loạt tranh Phật. Đến một tuổi nào đó, mình thấy tự nhiên mình trầm xuống, rồi thêm những người bạn của mình lần lượt ngả bịnh, mình thấy cuộc sống có đó, rồi mất đó. Có rồi không, đến rồi đi, cuộc đời không có cái gì là vĩnh viễn, quan trọng, thành ra có một loạt tranh ra như vậy, một kiểu buông thả, không thấy gì là quan trọng nữa.
            Còn màu đỏ là một cái technique. Từ một gương mặt Phật giống như trong một hoa văn, một đầu hồi, ban đầu là một cái phông đen cho nổi hình Phật màu vàng ở giữa, nhưng rồi sau tôi nhìn tới nhìn lui, cái màu đen thấy không thích, tôi lại chuyển qua màu đỏ. Thì màu đỏ cũng dính tới màu đen ở dưới – một cái cách như vậy
”.
            Một điểm lý thú là Đinh Cường đã triển lãm ở rất nhiều nơi, nhưng đây là lần đầu tiên anh triển lãm ở Paris: “Thời trước 75, có Phủ Văn hóa (ở Sài Gòn) chọn tranh đem qua đây triển lãm thôi, triển lãm chung với tất cả các họa sĩ ở miền Nam. Còn triển lãm cá nhân thì tôi chưa có dịp. Thời những năm 87, 88, Nhà Việt Nam Paris có đem một số tranh của tôi qua triển lãm ở đó, nhưng cũng triển lãm chung với anh em”.
            Phải nói là tên tuổi Đinh Cường không xa lạ gì với giới hâm mộ hội họa Việt Nam. Các tác phẩm của anh đã chu du thế giới, trong hàng chục cuộc triển lãm, cá nhân cũng như tập thể. Là người Thủ Dầu Một, nhưng Đinh Cường lại rất gắn bó với Huế, nơi anh tốt nghiệp Cao đẳng Mỹ thuật rồi giảng dạy hội họa nhiều năm. Sau năm 1975, Đinh Cường qua Hoa Kỳ định cư ở tiểu bang Virginia.
            Bảo Thạch, một người hâm mộ Đinh Cường từ hàng bao nhiêu năm nay, đã ghi nhận nhiều cái mới nơi Đinh Cường nhân cuộc triển lãm lần này ở Paris.

            “Đây là một cuộc triển lãm khiêm tốn, khoảng 17 bức tranh, cỡ nhỏ và vừa, nhưng dành nhiều ngạc nhiên cho khách. Ngạc nhiên là bởi vì bên cạnh một số tranh “thiếu nữ”, một phong cách đã nổi tiếng của Đinh Cường, hôm nay còn có loạt sáng tác về Paris, bộ ba mang chủ đề Phật giáo mang tên là “Vòng luân hồi”, và một số thử nghiệm mới mà tôi tạm gọi là “expressionniste”, (biểu hiện chủ nghĩa). Đó là 3 bức “Đứng trên đá tảng”, “Những cửa sổ đỏ”, “Dâng”.
            Nhưng chủ đề có thế nào đi chăng nữa, cách biểu hiện và màu sắc có thay đổi chăng nữa, Đinh Cường vẫn là Đinh Cường, mềm mại, tinh tế, thanh tao. Cái cốt cách Huế sang trọng vẫn reo ca trong các tảng màu hoặc vây quanh đường nét nhân vật thiếu nữ.
            Đối với riêng tôi, thật là cảm động trước loạt tranh về Paris, và bức về dãy nhà phố Commerce với nóc nhà thờ. Bởi vì năm ngoái, Đinh Cường sang Paris, về khu này vài ngày. Ngờ đâu, dãy phố bình dị này đã lọt vào ký ức của anh và đẹp hẳn lên trong tác phẩm
”.


            Theo Bảo Thạch, một nghệ sĩ như Đinh Cường, với sự nghiệp trải dài nửa thế kỷ mà vẫn luôn luôn tìm tòi cái mới rất đáng được vinh danh.

            “Tôi quen biết anh Đinh Cường vào những năm 80 tại Sài Gòn, nhưng tôi ngưỡng mộ tranh của anh từ rất lâu. Đối với tôi, Trịnh Công Sơn thế nào trong âm nhạc thì Đinh Cường là như vậy trong hội họa. Họ là hai người bạn chí thân đã cùng chia sẻ một thời tuổi trẻ, cùng một thế giới thi ca, một cung cách cảm thụ. Hơn nữa, cả hai đều có vốn “Tây” học, cho phép họ đạt được tầm hiểu biết rộng.
            Có thể vì cả hai đều gốc Huế, cho nên họ nhạy cảm sâu sắc với cái chất lãng mạn rất đặc biệt mà riêng người Huế mang trong dòng máu. Họ hoài niệm về một cõi Chân Thiện Mỹ mà họ bắt gặp được một vài phản ảnh qua nghệ thuật.
            Vào những năm 80, khi về Sài Gòn, lúc nào tôi cũng bắt gặp Trịnh Công Sơn trong phòng vẽ của Đinh Cường, ngày nào Đinh Cường cũng rủ tôi sang thăm nhà anh Trịnh Công Sơn.
            Có lần khi chiêm ngưỡng màu xanh lam thăm thẳm của Đình Cường trên một tác phẩm, tôi hỏi anh khu này là ở đâu, kỷ niệm với nó là thế nào. Đinh Cường trả lời: đó là mầu xanh của Đơn Dương, một nơi không xa Đà Lạt, mà trước đây, anh và Trịnh Công Sơn đã từng đến phiêu bạt giang hồ!
            Năm ngoái khi Đinh Cường đúng 70 tuổi, anh sang Paris chơi, tôi ra sân bay đón. Lúc chờ xe, anh lôi một quyển vở ghi chép tay ra, tôi thấy có ảnh của Trịnh Công Sơn, và Đinh Cường cho biết, đó là kỷ niệm mà lúc trẻ thúc đẩy anh sáng tác thành một vần thơ như sau: “Đêm mù sương ngoài trời thấp nhang”.
            Lần này, sang Paris triển lãm, trong số tranh trưng bày, có một chân dung của Trịnh Công Sơn, tôi hỏi thì Đinh Cường trả lời ngắn gọn: “Mang Sơn theo mình sang Paris, để nó phù trợ cho mình”.
            Đinh Cường là như vậy, rất tử tế với bạn bè, rất tốt, rất trung thành. Đinh Cường gần đây bị kẻ tiểu nhân phỉ báng, lăng mạ, nhưng anh cũng mặc kệ, chẳng cần thanh minh, chỉ vì đã trót nhiều năm xem nó như bạn.
            Nhưng đối với tôi, quý nhất là những kỷ niệm cho tôi khám phá một Đinh Cường nghệ sĩ. Năm ngoái, dẫn anh bảo tàng Georges Pompidou, anh lặng lẽ, thảng thốt trước tranh của Chagall mang tên “Người đàn bà mang mặt nạ”.
            Năm nay, cùng với anh dạo phố Paris, tôi thấy anh say sưa với nóc nhà thờ Saint Germain Des Prés, anh còn ghép vào quyển vở mang theo mình một vài lá cây vàng ủ của mùa thu. Tôi bất chợt hiểu rằng: tất cả sẽ là chất liệu cho nhiều tác phẩm mai sau. Có lẽ, một hạt cát, một tia nắng cũng sẽ được thăng hoa trong những bức tranh mà ký ức của anh dường như đang thanh lọc.
            Đinh Cường là nghệ sĩ không bao giờ ngơi nghỉ. Một tài hoa như anh mà sự nghiệp trải dài nửa thế kỷ có thể lên đến hàng ngàn bức tranh, sơn dầu, sơn mài, ký họa, quả là con người hiếm hoi, đáng vinh danh
”.



            Riêng về Nguyễn Đình Thuần, anh là một họa sĩ cũng xuất thân từ Huế, được rất nhiều người ở Hoa Kỳ biết đến, và ba lần triển lãm chung với Đinh Cường. Đặc điểm của Nguyễn Đình Thuần: đây là lần đầu tiên anh ghé Paris, một nơi nổi tiếng là kinh đô của nghệ thuật:

            “Cách nay rất là lâu, từ hồi tôi học trường Mỹ thuật Huế, tôi khi nào cũng ước ao một lần tới được Paris. Hồi xưa học Art, hình như kinh đô mỹ thuật là ở Paris. Về sau dần dà mấy chục năm, thì trong tâm tưởng khi nào mình cũng ước ao được đến Paris một lần. Tôi tới đây ngày 25/10, bây giờ ngày khai mạc là 28, mới trải qua có mấy ngày, nhưng mà cũng bồi hồi. Hình như những cảnh ở đây nó còn trong trí nhớ, do đọc sách báo hồi xưa tìm hiểu về Paris”.

            Tựa đề tranh Nguyễn Đình Thuần mang qua triển lãm ở Paris lần này nói rất nhiều về hoài niệm, về thời gian. Anh giải thích: “Thường thường tựa đề là những cái nấc để đưa người thưởng ngoạn đi tìm hiểu vào trong tranh của mình. Hoài niệm hoặc là về những cái cũ, để mình nhớ những kỷ niệm. Hình như những hoài niệm đó là xúc tác để mình nhớ lại, hỗ trợ cho những sáng tác của mình”.
            Về phương diện màu sắc, tranh Nguyễn Đình Thuần có những bức có thể nói rất dữ dội, nhưng bên cạnh đó cũng những bức màu nhạt, màu pastel. Theo anh sắc màu đã biến đổi theo nội tâm của anh: “Trong sáng tác, cái náo động là do tâm tính. Rồi thỉnh thoảng có thể lòng mình chùng xuống, thành thử ra nó theo cảm xúc của mình. Một đoạn thời gian nào đó lòng mình thấy buồn, chùng xuống, hoặc là mình thấy mang mang một cái gì đó. Thành ra couleur thường nó diễn đạt được cái tâm cảm của mình”.


TRỌNG NGHĨA
Tháng 10/2010


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20101029-paris-kham-pha-tranh-dinh-cuong-va-nguyen-dinh-thuan

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #110 vào: 20/03/2018, 22:46:04 »
400 năm rực trầm vườn Lục Xâm

Cách đây đúng bốn thế kỷ, vào năm 1615 tại Pháp, trong một bức thư gửi đến kiến trúc sư Salomon de Brosse, thái hậu Marie de Médicis đốc thúc việc khởi công mở rộng cung điện Luxembourg và xây dựng khu vườn cùng tên. Việc trồng cây tạo phong cảnh đã bắt đầu từ ba năm trước, và công trình xây cất này được hoàn tất gần hai thập niên sau.

Cung điện vườn Luxembourg nay là trụ sở Thượng Viện Pháp

NĂM 1615 cũng là một cột mốc lịch sử quan trọng. Louis XIII thành hôn rồi lên ngôi vua, kế vị vua cha là Henri đệ tứ, kết thúc giai đoạn nhiếp chính của thái hậu Marie de Médicis. Quan hệ giữa nhà vua và thái hậu cũng không được khắn khít gần gũi cho lắm. Việc rời hoàng cung để về sống tại cung điện Luxembourg chẳng khác gì một hình phạt, “một khoảng cách” hầu như do áp đặt giữa vua Louis XIII với người mẹ là thái hậu Marie de Médicis.
            Sau giai đoạn nhiếp chính, thái hậu Marie de Médicis lui về “ở ẩn”. Bà mua lại mảnh đất và dinh thự của công tước xứ Luxembourg, do bà rất thích lối kiến trúc của cung điện này. Về lối kiến trúc mặt tiền cũng như trang trí nội thất, cung điện Luxembourg gợi hứng rất nhiều từ lối thiết kế thời Phục Hưng, cách bố trí sắp đặt theo kiểu Ý.
            Hình dáng của cung điện này có nhiều nét giống như cung điện Pitti tại thành phố Florence (Firenze), nguyên quán của Marie de Médicis trước khi bà thành hôn với vua Henri đệ tứ và trở thành hoàng hậu vương triều Pháp. Một khi sở hữu cung điện Luxembourg, Thái hậu Marie de Médicis cho mở rộng khuôn viên từ 8 hécta ban đầu lên thành 23 hécta, và trong lối thiết kế, khu vườn này tái tạo nhiều phong cảnh của nước Ý. Có lẽ suốt đời hoàng hậu của nước Pháp không bao giờ quên được xứ sở quê hương mình.
            Vườn Luxembourg chỉ thành hình nhờ nhà thiết kế Jacques Boyceau, và được hoàn tất nhờ vào sự hỗ trợ của kiến trúc sư danh tiếng André Le Nôtre, phác họa ra những lối đi và tạo dựng phong cảnh theo mô hình của một thế giới thu nhỏ. Nhưng tại sao người Pháp lại dùng hai cách gọi khác nhau vườn Luxembourg thì gọi là jardin, trong khi vườn Monceau thì gọi là parc?
            Trong phạm trù ngữ vựng, chữ parc và jardin có một sự khác biệt nho nhỏ, parc là công viên dành cho công chúng còn jardin là vườn của tư nhân. Sau này cho dù Luxembourg thuộc về quyền sở hữu của nhà nước, và mở cửa cho mọi người, nhưng chữ Jardin du Luxembourg chứng tỏ ban đầu đây là khu vườn riêng của thái hậu.
            Nằm ở quận 6, giữa lòng thủ đô nước Pháp, vườn Lục Xâm (tên tiếng Pháp là Jardin du Luxembourg) có nhiều cảnh hữu tình nên thơ, những hàng cây thẳng dọc thay màu áo theo bốn mùa, hồ nước xanh mát bên tòa trụ sở Thượng Viện Pháp, vườn hoa trồng cây ăn trái để làm hạt giống, góc nhà lợp kính để trữ các loài cây kiểng mùa đông nay được biến thành phòng triển lãm…
            Vườn Luxembourg, công viên lớn hàng thứ nhì của Paris, chỉ thua có công viên Tuileries về mặt diện tích. Nơi đây có đặt nhiều tượng danh nhân như thiên tài Beethoven, thi sĩ Paul Verlaine, văn hào Georges Sand… Các cụ thời xưa gọi tên Luxembourg theo từ Hán-Việt: cái chữ Lục Xâm Bảo thoáng nghe có nét gì đó thật trang trọng quý phái: nếu Paris mang hình tượng của một phụ nữ, thì Lục Xâm là viên ngọc quý màu xanh, khảm trên xâu chuỗi sáng ngời.
            Vườn Luxembourg từng được văn hào Victor Hugo chọn làm một trong những bối cảnh nổi bật trong tác phẩm Les Misérables (Những Người Khốn Khổ, phát hành vào năm 1862). Thi sĩ Gérard de Nerval, một trong những tên tuổi xuất sắc của phong trào lãng mạn trong văn học Pháp từng sáng tác vào năm 1832 bài thơ đề tựa Une allée du Luxembourg, thơ thẩn trên Lối đi vườn Lục Xâm, trong tâm trạng nhung nhớ người tình (cô Jenny Colon) dù biết rằng đó chỉ là một mối tình đơn phương.
            Nhà văn Alexandre Dumas khi viết tác phẩm Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Les Trois Mousquetaires, với sự cộng tác của Auguste Maquet), đã mô tả tài tình nhân vật D'Artagnan hẹn đấu kiếm với Athos, Porthos và Aramis tại vườn Luxembourg. Gần đây hơn nữa (2014), hai tác giả Milan Kundera (La Fête de l’Insignifiance) và Jean Echenoz (Vingt femmes dans le Jardin du Luxembourg) đều có đưa vườn Lục Xâm vào trong tác phẩm của họ.
            Riêng đối với người Việt Nam, thế hệ trẻ ở miền nam học trường Pháp những năm 1960 đều biết đến bài “Ngày Tựu Trường” của ông Thanh Tịnh, gợi hứng từ đoản bút tản văn của Anatole France. Trích từ tác phẩm “Quyển sách của bạn tôi” (Le Livre de Mon Ami, phát hành vào năm 1885), nhà văn Anatole France mô tả trong đoạn văn này những kỷ niệm đẹp thời thơ ấu, cái thuở cặp sách đến trường…
            Một cậu bé đi qua vườn Lục Xâm Bảo vào một buổi sáng đầu thu, những chiếc lá vàng rơi ngẩn ngơ trên những pho tượng trắng, gió se se lạnh trong một khung cảnh thoáng buồn nhưng thơ mộng hơn bao giờ hết… tâm hồn xao xuyến bồi hồi, nhà văn người Pháp bắt gặp lại hình ảnh của chính mình, của một thằng nhóc trong vườn Lục Xâm, tay thọc vào túi, dây cặp đeo lưng, huýt sáo khe khẽ tung tăng tựa chim sẻ…
            Qua việc truy tìm ký ức lắng đọng tuổi thơ, vẽ lại phong cảnh lá vàng tượng trắng, tuổi thơ rực trầm trong vườn Lục Xâm, nhà văn Anatole France đã góp phần đưa những hình tượng này vào nền văn học Pháp. Nhờ vậy, vườn Luxembourg lững thững đi vào tiềm thức của công chúng từ lúc nào không hay…


TUẤN THẢO
Tháng03/2015


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20150304-400-nam-vuon-luc-xam

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #111 vào: 22/03/2018, 22:32:52 »
“Đây, chương trình Thi văn Tao Đàn…”

Trong sinh hoạt văn nghệ mang tính trình diễn thi ca cao nhất của miền Nam trước năm 1975 có hai chương trình nổi tiếng là Thi văn Tao Đàn của Đinh Hùng và Mây Tần của nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà trên đài phát thanh Sài Gòn. Chương trình Thi văn Tao Đàn có vẻ vượt trội hơn về mặt đóng góp của nhiều khuôn mặt danh tiếng trong làng thi ca Việt Nam.

Ban Tao Đàn

Sinh hoạt thi ca Việt Nam
Mặc Lâm: Hôm nay chúng tôi mời quý vị theo dõi lại một chương trình Tao Đàn cũng như các hoạt động của chương trình này qua lời kể của nghệ sĩ Đan Hùng, người giữ chân xướng ngôn viên chương trình này nhiều năm cho đến khi chấm dứt vào năm 1975. Chương trình được Mặc Lâm thực hiện sau đây, trước tiên nghệ sĩ Đan Hùng cho biết.
Đan Hùng: Thưa quý vị, chương trình Thi văn Tao Đàn được thi sĩ Đinh Hùng thành lập ở Đài phát thanh Sài Gòn vào năm 1955. Lúc đó đồng sáng lập với ông là anh Tô Kiều Ngân. Chương trình này lúc đó phần diễn đọc do thi sĩ Đinh Hùng cũng như Thanh Nam, Thái Thủy, chương trình dài 45 phút gồm giới thiệu chương trình thi văn cùng những sinh hoạt của nền thi ca Việt Nam. Được phát thanh vào mỗi tối thứ Bảy từ lúc 21 giờ 15 cho tới 22 giờ.

Mặc Lâm: Thưa anh trong chương trình này có tiếng sáo của Tô Kiều Ngân rất là độc đáo… vai trò của anh ấy về thổi sáo cho chương trình có liên tục hay không?
Đan Hùng: Anh Tô Kiều Ngân rất tài tử anh ấy thường xuyên thổi sáo nhưng nhờ vào tiếng đàn thập lục của anh Bửu Lộc hay tiếng Piano của nhạc sĩ Ngọc Bích và sau này có anh Phạm Đình Chương đệm Piano cho chương trình ngâm thơ. Anh Tô Kiều Ngân thường xuyên thổi sáo cho chương trình Thi Văn Tao Đàn nhưng mấy lúc về sau khi anh ấy yếu thì có sự phụ giúp của anh Nguyễn Đình Nghĩa thổi sáo.

Mặc Lâm: Vâng anh Nguyễn Đình Nghĩa phải nói là một tay sáo cự phách của Việt Nam mình rồi, có thể nói tiếng sáo của anh ấy rất lôi cuốn người nghe. Thưa anh chương trình Thi văn Tao Đàn thường thì ai là người biên tập cũng như dựng kịch bản thưa anh?
Đan Hùng: Về phần biên tập thì do anh Đinh Hùng phụ trách, thỉnh thoảng anh Tô Kiều Ngân cũng phụ với anh Đinh Hùng. Chương trình Tao Đàn này nó chia ra làm ba bộ phận: Bộ phận quan trọng nhất là biên tập và diễn đọc gồm có anh Đinh Hùng anh Thanh Nam, Thái Thủy và vài năm sau thì có anh Huy Quang và anh Vũ Đức Vinh từ Nha Trang vào cộng tác. Bộ phận thứ hai là ban ca ngâm gồm những tài tử nam nữ trình diễn thường xuyên hay tùy hứng. Cũng có những anh như Tô Kiều Ngân rất đa năng, anh ấy chơi sáo, chơi đờn nhưng khi nổi hứng thì anh ấy cũng ngâm thơ vì anh không thường xuyên là người ca ngâm. Anh ấy vừa biên tập lại vừa trong ban nhạc.
            Về phần giọng nữ khởi đầu của chương trình Thi văn Tao Đàn là nữ nghệ sĩ Giáng Hương, rồi tới bà Đàm Mộng Hoàng bà này danh tiếng một thời ở Khâm Thiên sau đó nổi bật lên là Hồ Điệp và một đàn em nhỏ đó là ca sĩ Hoàng Oanh.


Nghệ sĩ Đan Hùng (trái) tại Đêm nhạc mừng 57 năm thơ Quốc Nam và
Một đời văn nghệ Đan Hùng ở thành phố Portland ngày 7/12/2013

Sống lại cùng Thi văn Tao Đàn
Mặc Lâm: Thưa anh chắc anh cũng biết rằng mọi người đang chờ đợi được nghe một chương trình Thi văn Tao Đàn do anh làm xướng ngôn viên mà khi xưa vẫn xuất hiện trên làn sóng Đài phát thanh Sài Gòn. Bây giờ phương tiện thiếu thốn chẳng hạn như không có đàn, không có sáo hay Piano để nâng lời giới thiệu của anh thêm phong phú, hấp dẫn… có thể nào ngắn gọn anh diễn tả lại một chương trình như thế với một giọng ngâm nào đó thưa anh…
Đan Hùng: Vâng thưa anh đó là điều mà không có gì khó vì mình đã làm qua rồi. Nếu quý vị muốn nghe để sống lại cái thời của thi sĩ Đinh Hùng thì chúng tôi xin trình bày sau đây:

             “Kính thưa quý vị, đây Tao Đàn, tiếng nói của thơ văn miền tự do do thi sĩ Đinh Hùng phụ trách. Với sự cộng tác của Thanh Nam, Tô Kiều Ngân, Huy Quang, Thái Thủy cùng sự hiện diện của các nam nữ nghệ sĩ Quách Đàm, Hồ Điệp, Giáng Hương, Hoàng Thư xin thân ái kính chào quý vị thính giả.
            Kính thưa quý vị trong chương trình Thi văn Tao Đàn đêm nay Đan Hùng xin giới thiệu đến quý vị một giọng ngâm truyền cảm của nữ nghệ sĩ Hồ Điệp mời quý vị thưởng thức một thi phẩm nổi tiếng của nhà thơ Hữu Loan “Màu tím hoa sim”…

                         (Giọng ngâm thơ của Hồ Điệp)
                         Nàng có ba người anh
                         Đi bộ đội
                         Những đứa em nàng có em chưa biết nói
                         Khi tóc nàng xanh xanh.

                         Tôi người chiến binh
                         Xa gia đình
                         Yêu nàng như tình yêu em gái
                         Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo cưới,
                         Tôi mặc đồ quân nhân
                         Đôi giày đinh bết bùn đất hành quân,
                         Nàng cười xinh xinh
                         Bên anh chồng độc đáo.
                         Tôi ở đơn vị về
                         Cưới nhau xong là đi!

                         Từ chiến trường xa
                         Nhớ về ái ngại
                         Lấy chồng thời chiến chinh
                         Mấy người đi trở lại
                         Lỡ khi mình không về
                         Thì thương người vợ chờ
                         Bé bỏng chiều quê…

                         Nhưng không chết người trai khói lửa
                         Mà chết người em gái nhỏ hậu phương
                         Tôi về không gặp nàng
                         Má tôi ngồi bên mộ con
                         Đầy bóng tối
                         Chiếc bình hoa ngày cưới
                         Thành bình hương
                         Tàn lạnh vây quanh…

                         Tóc nàng xanh xanh
                         Ngắn chưa đầy búi
                         Em ơi!
                         Giây phút cuối
                         Không được nghe em nói
                         Không được trông thấy nhau một lần.

                         Ngày xưa nàng thích hoa sim tím
                         Nàng vá cho chồng tấm áo
                         ngày xưa…

                         Một chiều rừng mưa
                         Ba người anh
                         Trên chiến trường Đông Bắc,
                         Được tin em gái mất
                         Trước tin em lấy chồng.

                         Gió sớm thu về
                         Rờn rợn nước sông
                         Đứa em nhỏ lớn lên
                         Ngỡ ngàng trông ảnh chị
                         Khi gió sớm thu về
                         Cỏ vàng chân mộ chí.

                         Chiều hành quân
                         Qua những đồi hoa sim…
                         Những đồi hoa sim…
                         Những đồi hoa sim…
                         Màu tím hoa sim
                         Tím cả chiều hoang biền biệt
                         Nhìn áo rách vai
                         Tôi hát trong bài ca.

                         Áo anh sứt chỉ đường tà,
                         Vợ anh chết sớm mẹ già chưa khâu…

            Kính thưa quý vị đến đây Tao Đàn xin tạm ngừng tiếng và xin hẹn gặp lại quý vị cũng vào giờ này trên các làn sóng điện thường lệ của đài phát thanh Sài Gòn. Xin thân ái kính chào quý vị thính giả bốn phương…


MẶC LÂM
Tháng 9/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/program-of-tao-dan-literary-ml-09042014145401.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #112 vào: 27/03/2018, 23:33:41 »
Champs-Elysées: Từ “bãi sình lầy” tới “đại lộ đẹp nhất thế giới”

Người Pháp không chỉ tự hào về các công trình văn hóa-lịch sử như tháp Eiffel, nhà thờ Đức Bà Paris, bảo tàng Louvre, cung điện Versailles… mà còn rất tự hào về Champs-Elysées, được mệnh danh là đại lộ đẹp nhất thế giới. Và cũng không quá lời nếu gọi Champs-Elysées là một biểu tượng của thủ đô Paris hoa lệ.

Duyệt binh trên đại lộ Champs Elysées nhân ngày Quốc Khánh Pháp 14/07/2015

NHƯNG KHÔNG MẤY ai biết rằng trước khi trở thành đại lộ Champs-Elysées sầm uất, một điểm du lịch thu hút vô vàn du khách từ bốn phương tới Kinh Đô Ánh Sáng, khu vực đó xưa kia chỉ là một bãi sình lầy, một cánh đồng được trồng lúa mì, yến mạch và bạt ngàn cây cối, thậm chí có cả một bãi chăn thả gia súc.
            Năm 1667, theo ý tưởng của vua Louis XIV, bộ trưởng tài chính Pháp thời bấy giờ là Jean-Baptiste Colbert cho mở một con đường nối từ cung điện Tuileries tới các nơi ở khác của nhà vua. Hai bên lối đi được trồng nhiều hàng cây. Công việc được giao cho thợ làm vườn André Le Nôtre của vua Louis XIV.
            Con đường chỉ dành riêng cho các buổi dạo chơi của Hoàng tộc. Ban đầu, con đường đó được gọi là “lối đi Roule” (Grande allée de Roule). Đến năm 1678, “lối đi Roule” được đổi tên thành “đại lộ Grille Royale” (Avenue de la Grille Royale), rồi lại được mang tên “đại lộ Cung điện Tuileries” (Avenue du Palais des Tuileries) từ năm 1680.
            Cái tên “đại lộ Champs-Elysées” xuất hiện lần đầu vào năm 1694 nhưng phải đến năm 1709 thì mới thành tên gọi chính thức. Champs-Elysées, theo thần thoại Hy Lạp cổ đại, có nghĩa là thiên đường, là nơi yên nghỉ của những anh hùng, những người có đức hạnh ở bên kia thế giới. Nhưng từ “champs”, trong tiếng Pháp có nghĩa là cánh đồng, cũng gợi nhớ tới nguồn gốc nơi này xa xưa đã từng là cánh đồng lúa mì, yến mạch.


Đại lộ Champs-Elysées, Paris. Ảnh chụp năm 1880

Đại lộ Champs-Elysées xưa kia…
            Vào thời kỳ Cách Mạng Tư Sản Pháp (1789-1799), đại lộ Champs-Elysées, cụ thể là quảng trường Concorde, ghi dấu ấn là nơi đặt máy chém hành quyết Vua Louis XVI, Hoàng hậu Marie-Antoinette (1793), nhà lãnh đạo Cách Mạng Tư Sản Maximilien de Robespierre (1794), cũng như nhiều nhân vật nổi tiếng khác thời đó.
            Cho đến những năm đầu thế kỷ XIX, đại lộ Champs-Elysées vẫn giữ nguyên dáng vẻ sơ khai, vẫn là một con đường rợp bóng cây xanh, mang dáng dấp yên ả nơi đồng quê. Năm 1806, Hoàng Đế Napoléon Đệ Nhất cho xây dựng Khải Hoàn Môn trên quảng trường Ngôi Sao (Place de l’Etoile), nay là quảng trường Charles de Gaulle, để vinh danh chiến công của quân đội Pháp. Khải Hoàn Môn được vua Louis Philippe khánh thành 20 năm sau đó, vào năm 1836. Tới năm 1896, Khải Hoàn Môn được xếp hạng di tích lịch sử của Pháp.
            Vào những năm 1820-1830, đại lộ Champs-Elysées trở thành một địa điểm dạo chơi thanh lịch, quý phái bậc nhất kinh thành Paris. Các quán cà phê, nhà hàng, quán đồ uống chế biến từ sữa, khu chơi bóng… bắt đầu mọc lên dọc hai bên đại lộ. Từ năm 1835, vua Louis Philippe cho chỉnh trang, làm đẹp đại lộ. Dáng dấp hiện đại của đại lộ Champs-Elysées có được là nhờ công quy hoạch của kiến trúc sư Hittorff vào những năm 1836-1840, rồi sau đó là quy hoạch của bá tước Haussmann vào năm 1858.
            Trong những năm nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự phát triển kinh tế, nhiều khách sạn hạng sang, ngân hàng, cửa hiệu cao cấp, nhà hàng, quán xá, rạp hát… mọc lên dọc đại lộ. Champs-Elysées trở thành một trung tâm thời thượng của giới quý tộc Paris.
            Năm 1915, lần đầu tiên quân đội Pháp diễu hành trên đại lộ Champs-Elysées vào ngày Quốc Khánh để chuyển tro cốt của Rouget de Lisle, nhạc sĩ sáng tác bản Quốc ca La Marseillaise, tới điện Invalides. Gây nhiều ấn tượng mạnh là lễ duyệt binh trong ngày Quốc Khánh 14/07/1919, sau khi Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất kết thúc. Thống chế Joseph Joffre, thống chế Philippe Pétain và thống chế Ferdinand Foch – những vị anh hùng dân tộc góp phần mang lại chiến thắng cho quân Đồng Minh trong Chiến Tranh Thế Giới lần thứ nhất dẫn đầu đoàn quân đại thắng diễu hành trên đại lộ.
            Theo một phóng sự trên kênh truyền hình Pháp France 24, “đại lộ Champs-Elysées là nơi chứng kiến những thời khắc quan trọng nhất, đôi khi là những sự kiện tồi tệ nhất trong lịch sử nước Pháp, như sự kiện Đức Quốc Xã chiếm đóng Paris. Tháng 07/1941, quân phát xít Đức đã rập gót giầy trên đại lộ đẹp nhất thế giới. Đây là thời khắc đen tối nhất của nước Pháp và ngay tại chính nước Pháp. Nhưng cũng chính trên đại lộ Champs-Elysées, ngày 16/08/1944, tướng Charles de Gaulle dẫn đầu đoàn quân chiến thắng đã phát biểu trước dân chúng. Paris được giải phóng khỏi Đức Quốc Xã. Hình ảnh về lòng tự hào dân tộc mà người Pháp mới giành lại được và tình đoàn kết dân tộc đã che khuất nỗi nhục nhã trong quá khứ”.


Đại lộ Champs Elysées, mùa thu năm 2010

Đại lộ Champs-Elysées ngày nay…
            Qua hơn 300 năm tồn tại và phát triển, giờ đây, đại lộ Champs-Elysées đã được vinh danh là đại lộ đẹp nhất thế giới, một trong những biểu tượng du lịch của Paris. Với lượng du khách tăng không ngừng, năm 2016, Hội đồng thành phố Paris đã quyết định đại lộ danh tiếng nhất hành tinh sẽ được dành cho người đi bộ vào Chủ Nhật đầu tiên hàng tháng, kể từ ngày 08/05/2016, mọi phương tiện giao thông đều bị cấm trên đại lộ Champs-Elsyées trong những ngày này.
            Đại lộ dài hơn 2 km cũng là nơi tổ chức nhiều sự kiện, lễ hội văn hóa, thể thao, xã hội, chính trị quan trọng của nước Pháp nói chung và Paris nói riêng.
            Ngày Quốc Khánh Pháp 14/07, người dân nô nức đổ tới đại lộ ngắm duyệt binh và chào đón đoàn xe diễu hành của tổng thống Pháp. Hàng năm, cứ tới ngày 08/05, kỷ niệm Chiến Tranh Thế Giới lần thứ hai kết thúc, tổng thống Pháp và giới chính trị gia thường đến thăm đài tưởng niệm chiến tranh, đặt vòng hoa tưởng niệm những người lính Pháp hi sinh trong chiến tranh.
            Năm 1998, đội tuyển bóng đá Pháp giành chức vô địch Cúp Bóng Đá Thế Giới. Hàng chục triệu người Pháp đã đổ tới Champs-Elysées hân hoan hò reo ăn mừng chiến thắng của “những chú gà trống Gaulois”. Từ nhiều năm nay, Champs-Elysées là chặng đua cuối của “Tour de France” – cuộc đua xe đạp Vòng Quanh Nước Pháp nổi tiếng thế giới và là chặng đầu của giải đua chạy việt dã Marathon de Paris thu hút vài chục ngàn vận động viên đến từ hàng trăm quốc gia trên khắp thế giới.
            Từ năm 1980, theo thông lệ, vào mùa Noel, thị trưởng thành phố Paris cùng một nhân vật nổi tiếng trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, giải trí của Pháp sẽ cùng bấm nút thắp đèn Giáng Sinh trang trí đại lộ Champs-Élysées. Trong những năm gần đây, vinh dự thắp đèn đã thuộc về diễn viên Marion Cotillard (2008), ca sĩ Charlotte Gainsbourg (2009), ca sĩ – diễn viên Mélanie Laurent (2010), diễn viên Audrey Tautou (2011), diễn viên Diane Kruger (2012), diễn viên – người mẫu Laetitia Casta (2013), diễn viên Omar Sy (2014), diễn viên Jean Dujardin (2015) và nhà vô địch nhu đạo Thế Giới Teddy Riner (2016). Với hàng ngàn ngàn dây đèn, chùm đèn nhấp nháy trên hai hàng cây chạy dọc đại lộ từ nửa cuối tháng 11 tới đầu tháng 01 năm sau, Champs-Elysées vốn đã lộng lẫy lại càng trở nên lung linh.
            Từ năm 2007, mùa lễ hội cuối năm còn được ghi dấu ấn trên đại lộ Champs-Elysées với khu chợ Giáng Sinh vào hàng lớn nhất nước Pháp gồm hàng trăm gian hàng lưu niệm, quà tặng và đặc sản nhiều vùng miền của Pháp. Trong cái giá lạnh mùa đông, đi dạo bộ trên đại lộ danh tiếng nhất thế giới, ngắm chợ Noel dưới ánh đèn lung linh, với một cốc rượu vang nóng hổi trên tay, đối với du khách, quả không còn gì thú vị bằng! Và tới đêm 31/12, hàng triệu người dân thường đổ về đại lộ lộng lẫy nhất thế giới để ngắm pháo hoa, đón chào năm mới.
            Đại lộ Champs-Elysées còn thu hút được nhiều tín đồ mua sắm trong nước và quốc tế nhờ các cửa hàng, cửa hiệu của các thương hiệu thời trang, kim hoàn, đồng hồ, mỹ phẩm… từ bình dân như Yves Rocher, H and M, Zara… tới sang trọng, đẳng cấp như Louis Vuitton, Hugo Boss, Cartier, Montblanc, Guerlain… Không ngoa khi gọi Champs-Elysées là “thiên đường mua sắm” và nói rằng “dưới ánh mặt trời hay trong cơn mưa, vào ban trưa hay vào lúc nửa đêm, bất cứ thứ gì bạn muốn, bạn đều có thể tìm thấy, trên đại lộ Champs-Elysées” như lời bài hát nổi tiếng “Champs-Elysées”.


THÙY DƯƠNG
Tháng 3/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170310-champs-elysees-tu-%C2%AB-bai-sinh-lay-%C2%BB-toi-%C2%AB-dai-lo-dep-nhat-the-gioi-%C2%BB

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #113 vào: 31/03/2018, 22:25:18 »
Nhạc sĩ Thanh Sơn, người viết cho kỷ niệm

Có một người nhạc sĩ, mà khi nhắc đến ông, người ta nghĩ đến những ca khúc về mùa hè dành cho tuổi học trò, với hình ảnh của hoa phượng, của những dòng lưu bút. Không chỉ thế, ông còn là một nhạc sĩ sáng tác rất nhiều những ca khúc về tình yêu quê hương, mang đậm chất miền Tây Nam Bộ.

Cố nhạc sĩ Thanh Sơn và những sáng tác được nhiều khán giả yêu thích của ông

                        Rồi chiều nay lá khô rơi đầy có người nhìn buồn lây
                        Gom nhớ thương sưởi tình cô liêu ấm thêm lòng ít nhiều
                        Tâm tư bâng khuâng ngày đôi ta đến đây
                        Cũng vườn xưa chốn này
                        Nhặt hoa tím rụng cài lên áo
                        Có ai đâu ngờ hoa tím cả người thương.

                        Hương xưa ơi! Tìm đâu thấy kỷ niệm
                        Bởi một màu hoa tím?
                        Còn lại đây những khung trời chơ vơ
                        Tháng năm lòng ngóng chờ
                        Rồi từ đó những đêm buồn mang tới
                        Thương nhớ khôn nguôi người xưa xa cách rồi
                        Ân tình suốt đời, giấu trong lòng riêng nức nở mà thôi.

                        Nhìn màu hoa ngỡ như em cười lúc mình vừa gặp nhau
                        Xuân vẫn qua, đếm thời gian trôi biết ai về chốn nào
                        Đâu đây dư hương gởi tâm tư luyến thương
                        Ngước nhìn hoa tím rụng tình sao hững hờ
                        Người xưa hỡi! thấu cho nỗi lòng hoa tím còn người đâu?

                        (Hoa tím người xưa)

Bài hát Hoa tím người xưa này là một chuyện tình có thật. Một kỷ niệm của đời tôi. Lúc đó vào năm 1965. Tình yêu của tôi rất tràn trề. Tuổi đời của tôi lúc đó ngoài 20. Tôi có quen với một người con gái, và chúng tôi có hẹn hò lên Đà Lạt, vào một vườn hoa tím rất đẹp. Chúng tôi tâm sự rồi sau đó chia tay. Hai năm sau, tôi trở lại cũng vườn hoa đó, mà người xưa thì không còn nữa. Tôi thẫn thờ, buồn, và thốt lên một câu “Người xưa hỡi thấu cho nỗi lòng hoa tím còn người đâu”.

            Đó là lời tâm tình của cố nhạc sĩ Thanh Sơn khi ông còn tại thế trong một buổi nhạc vinh danh ông được tổ chức trong nước. Tiếng nói trầm ấm, hiền hòa đậm chất miền Tây Nam Bộ của người nhạc sĩ làm cho người nghe phần nào hiểu được vì sao nhạc của ông tuy phần nhiều chuyên chở những nỗi buồn, nhưng trong nỗi buồn ấy, vẫn thấp thoáng cái tình ngọt ngào, không có vị mặn của sự trách hờn, giận dỗi.
            Có lẽ do đó mà các sáng tác của ông đơn giản, mộc mạc từ ca từ cho đến giai điệu.

Người viết cho kỷ niệm
            Điều này được thể hiện trong suốt cuộc đời sáng tác của ông. Những hình ảnh bình thường giản dị trong cuộc sống xuất hiện trong hầu hết các nhạc phẩm của ông, từ các ca khúc tuổi học trò, những ca khúc nói về tình yêu, tình bạn trong chiến tranh, cho đến những sáng tác về tình yêu quê hương,
            Trong giai đoạn đầu của cuộc đời sáng tác của mình, ông dành nhiều thời gian viết về tình yêu tuổi học trò. Nỗi buồn hoa phượng được ra đời năm 1963, là một ca khúc nổi tiếng nói về thời học sinh vào những năm đầu thập niên 60.

                        Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn
                        Chín mươi ngày qua chứa chan tình thương
                        Ngày mai xa cách hai đứa hai nơi
                        Phút gần gũi nhau mất rồi
                        Tạ từ là hết người ơi!

                        Tiếng ve nức nở buồn hơn tiếng lòng
                        Biết ai còn nhớ đến ân tình không
                        Đường xưa in bóng hai đứa nay đâu
                        Những chiều hẹn nhau lúc đầu
                        Giờ như nước trôi qua cầu

                        Giã biệt bạn lòng ơi! Thôi nay xa cách rồi
                        Kỷ niệm mình xin nhớ mãi,
                        Buồn riêng một mình ai chờ mong từng đêm gối chiếc
                        Mối u hoài này ai có hay?

                        Nếu ai đã từng nhặt hoa thấy buồn
                        Cảm thông được nỗi vắng xa người thương
                        Màu hoa phượng thắm như máu con tim
                        Mỗi lần hè sang kỷ niệm
                        Người xưa biết đâu mà tìm?

                        (Nỗi Buồn Hoa Phượng)

            Cho đến tận bây giờ, có thể nói Nỗi buồn hoa phượng là một ca khúc bất hủ theo thời gian mỗi khi nói về mùa hè, về hoa phượng, về tuổi học trò.
            Cố nhạc sĩ Thanh Sơn viết nhiều ca khúc cho tuổi học sinh, về mùa hè (như Ba tháng tạ từ, Hạ buồn, Lưu bút ngày xanh). Và ông cũng là nhạc sĩ có nhiều sáng tác gắn liền với hình ảnh hoa phượng nhất. Hoa phượng được ông dùng cho cả tên gọi của bài hát. Một loạt những ca khúc như Nỗi buồn hoa phượng, Ve sầu mùa phượng, Phượng buồn, Buồn như phượng… đã trở thành những bài ca sống mãi với thời gian, gắn với kỷ niệm của rất nhiều tuổi học trò qua các thế hệ.
            Ông viết về tuổi học trò như viết về chính cuộc đời ông. Mà những ai yêu nhạc của Thanh Sơn, hiểu về ông đều biết rằng ông không có được ba tháng tạ từ với những dòng lưu bút ngày xanh. Nhạc sĩ Thanh Sơn phải dở dang con đường học vấn vì hoàn cảnh gia đình lúc đó.
            Có thể vì thế mà chúng ta cảm nhận trong ca khúc tuổi học trò của ông, có chút gì nuối tiếc.

                        Lòng vẫn hay buồn
                        Vì đời thay đen đổi trắng, người dối gian
                        Dẫu là đem vui, cho những người nhiều tình yêu
                        Càng xót xa nhiều.

                        Trong tiếng hát ve phượng hồng là hoàng hậu đó
                        Phượng buồn vì tình ta tan theo sóng biển nổi trôi
                        Ngàn năm trong tôi, tình này không phai phôi
                        Xuân qua hè tới ta nhớ nhau luôn phượng ơi!

                        (Phượng buồn)

            Cho đến nay, không có tài liệu nào giải thích được vì sao ông yêu hoa phượng như thế. Có phải vì ông viết về một khoảng thời gian đẹp nhất của đời người, và hoa phượng chính là nhân chứng cho khoảng thời gian ấy? Có lẽ như thế. Đơn giản như chính tâm hồn và con người của ông.
            Nữ ca sĩ Phương Dung, người đầu tiên thể hiện ca khúc Lưu bút ngày xanh của ông cũng từng phát biểu với báo giới trong nước tâm tư của bà về sự ra đi của ông, Cát Linh xin được trích lại sau đây:
            “Nhạc về mùa hè của Thanh Sơn thường nói về nỗi buồn và điều này chinh phục người hát lẫn người nghe. Tôi khi ấy còn trẻ, đón nhận ca khúc của ông đều cảm thấy lâng lâng niềm cảm xúc. Vì khi ấy mình mới giã từ đời áo trắng, khi mà hè sang, phượng nở, bạn bè chẳng gặp nhau... thì âm nhạc của ông nói hộ niềm tâm tư đó”.

                        Lòng xao xuyến mỗi khi hoa phượng rơi
                        Nhắc lại câu chuyện buồn
                        Trường còn kia ôi mái đổ tường rêu
                        Nơi kỷ niệm êm ái
                        Đâu dư âm của tiếng nói ngây thơ
                        Ngày hai đứa dìu nhau đến sân trường
                        Cùng đuổi bướm hái hoa trên cuối đường
                        Tiếng cười vạn tình thương...

                        (Lưu Bút Ngày Xanh)

            Các sáng tác của ông thường buồn. Rất buồn. Nỗi buồn ấy được ông đưa vào dòng nhạc bolero, trở thành những bài thi ca mang đậm phong cách của Thanh Sơn. Và ông cũng chính là một trong những nhạc sĩ có nhiều sáng tác theo thể loại bolero nhất.
            Đặc biệt, các ca khúc bolero của ông là những câu chuyện kể về tình bạn, tình đồng đội của người lính trận.


Cố nhạc sĩ Thanh Sơn trong đêm nhạc của ông vào ngày 15 tháng 6 năm 2007

Người chuyên chở hồn quê Nam Bộ
            Cố nhạc sĩ Thanh Sơn sinh ra và lớn lên ở Sóc Trăng, thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Miền quê tỉnh nhỏ hiền hòa ở hạ nguồn con sông Hậu, cùng với những vùng miền ông đi qua trong cuộc hành trình của đời mình là mạch cảm xúc để ông viết lên các ca khúc quê hương đậm đà chất trữ tình. Trong các tài liệu nói về ông đều viết rằng từ năm 1973 thì ông bắt đầu chuyển sang các sáng tác về đề tài quê hương, mang âm hưởng dân ca Nam Bộ.
            Và cũng từ đây, hoa phượng trong nhạc của ông được thay thế bằng hình ảnh của người dân miền Tây đôn hậu hiền hòa, cùng với những hình ảnh bình dị nhưng sâu lắng.

                        Nghe tiếng đàn ai rao sáu câu
                        Như sống lại hồn Cao Văn Lầu
                        Về Bạc Liêu danh tiếng ôn lại giấc ngủ vàng son
                        Một thời để nhớ ngày đó xa rồi.

                        Bên nước mặn biển cho muối nhiều
                        Bên nước ngọt phù sa vun bồi
                        Bạc Liêu đưa ta tới thăm đồng lúa trải ngàn khơi
                        Cò bay thẳng cánh nhìn mỏi mắt người...

                        (Bạc Liêu Hoài Cổ)

            Ông sáng tác về tình yêu, tình bạn, về kỷ niệm của tuổi học trò mộc mạc và giản dị bao nhiêu thì khi viết về quê hương cũng chân tình và sâu lắng như thế. Và đặc biệt, khi viết về quê hương, giai điệu trong nhạc của ông trở nên vui tươi như một bài dân ca. Ông đưa vào trong sáng tác của mình vẫn là những hình ảnh thân thiết của cuộc sống người dân Nam Bộ, như những câu hò, con nước chảy xuôi, những mẻ lưới cua đồng…

                        Về tới đầu làng con chim sáo nhỏ hót vang rộn ràng
                        Qua nhịp cầu tre, qua mấy con đê thắm đượm tình quê
                        Bao năm qua cách trở đường xa xuôi ngược bôn ba
                        Ôi kỷ niệm yêu, mái tranh nghèo tỏa khói lam chiều.

                        Còn nhớ nụ cười, câu ca mát rượi chứa chan tình người
                        Đâu rồi ngày xưa, ai đón ai đưa nắng đổ chiều mưa
                        Quê hương ơi, ấm mãi đời tôi uống ngọt đôi môi
                        Thương quá là thương, tuổi thơ nào ngọt đắng vui buồn.

                        À ơi, con nước lớn chảy xuôi
                        Đưa con thuyền chao nghiêng
                        Theo nhịp chèo bơi ai ngân nga câu hò
                        Hò ơi, gió đưa gió đẩy, về rẫy ăn còng
                        Về sông ăn cá, về sông ăn cá, về đồng ăn cua.

                        Từ lúc vào đời, chân quen đất nẻ sớm trưa chiều hè
                        Ôi đẹp làm sao, đêm sáng trăng cao gõ nhịp chày mau
                        Nghe quê hương tiếng gọi mời thương những ngày tha phương
                        Trong cõi đời ta, giữ bên lòng hình bóng quê nhà.

                        (Hình Bóng Quê Nhà)

            Những ca khúc cố nhạc sĩ Thanh Sơn để lại cho đời sẽ mãi mãi là tiếng nói thân thương, là hơi thở, là tình yêu nhắc nhở mỗi người về một nơi gọi là quê hương.


CÁT LINH
Tháng 4/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/in-memory-to-musician-thanh-son-cl-04102016080942.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #114 vào: 03/04/2018, 23:28:37 »
Điện Elysée – nơi ghi dấu quyền lực nước Pháp

Elysée là “cung điện được khao khát, thèm muốn nhất nước Pháp”. Nhiều câu chuyện lịch sử quan trọng và cả những câu chuyện nhỏ đã bắt nguồn từ nơi ấy, và lôi cuốn chúng ta với những thủ đoạn, niềm đam mê, chiến thắng và cả những bi kịch. Điện Elysée biết tất cả mọi chuyện. Vì thế mà Elysée mê hoặc chúng ta. Lịch sử của điện Elysée cũng là lịch sử của nước Pháp.

Lính Vệ Binh Cộng Hòa đứng gác trong một sự kiện ngoại giao
được tổ chức tại điện Elysée, ngày 10/04/2017

PHỦ TỔNG THỐNG PHÁP hay còn gọi là điện Elysée nằm ở số 55 phố Faubourg Saint-Honoré, quận 8 Paris, gần đại lộ Champs-Elysées. Điện Elysée gồm một tòa nhà chính và hai dãy nhà hai bên cánh, với tổng cộng 365 phòng, trải rộng 1.500m2. Bao quanh điện là một khu vườn rộng 1,5 ha với hàng trăm loài cây trồng, đặc biệt nhất phải kể tới những cây tiêu huyền cổ thụ có từ trước Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789, cây cao nhất cao tới 40m.

Từ dinh thự Evreux…
            Về lịch sử, khu vực hiện nay là phố Faubourg Saint-Honoré hồi đầu thế kỷ XVIII chỉ là một bãi chăn thả gia súc và một khu vườn trồng rau với vài nóc nhà lẻ tẻ. Kiến trúc sư Armand-Claude Mollet có một mảnh đất nối từ làng Roule tới Grand Cours (nay là đại lộ Champs-Elysées). Năm 1718, ông bán mảnh đất này cho Henri-Louis de la Tour d’Auvergne – bá tước Evreux. Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có ghi Armand-Claude Mollet chịu trách nhiệm xây một tòa nhà làm dinh thự cho bá tước Évreux. Công việc thi công được tiến hành từ năm 1718 tới năm 1822. Dinh thự của bá tước Évreux được thiết kế theo phong cách kiến trúc thịnh hành thời đó và được ngợi ca là một trong những hình mẫu đẹp nhất theo phong cách cổ điển.
            Sau khi bá tước Evreux qua đời vào năm 1753, vua Louis XV đã mua dinh thự Evreux để tặng cho người phụ nữ mà ông sủng ái là hầu tước Pompadour. Theo biến chuyển của lịch sử, dinh thự Evreux được mua đi bán lại nhiều lần và thuộc quyền sở hữu của nhiều nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Pháp như nữ công tước Bourbon, hoàng đế Napoléon, vua Louis XVIII, vua Louis-Philippe… Khi thì là dinh thự, khi lại trở thành nhà khách đón tiếp các sứ giả nước ngoài, có thời gian tòa nhà lại trở thành kho cất giữ đồ đạc, xưởng in, nơi trưng bày các tác phẩm hội họa hay tổ chức các buổi khiêu vũ đông người.
            Về tên gọi, dinh thự đã được đổi tên nhiều lần theo tên của chủ nhân, chẳng hạn như dinh thự Bourbon, dinh thự Beaujon. Đến nửa cuối những năm 1790, dinh thự mang tên Elysée, dựa theo tên đại lộ Champs-Elysées danh tiếng nằm gần đó. Nhưng cũng có nhiều nguồn tư liệu giải thích đó là tên của nữ công tước Elysée Bourbon, một trong những cựu chủ nhân của dinh thự.


Ngày 15/05/2012, tổng thống Nicolas Sarkozy chuyển giao quyền lực
cho tổng thống François Hollande tại điện Elysée

…thành phủ tổng thống Pháp
            Năm 1808, hoàng đế Napoléon Đệ Nhất sở hữu Elysée và đổi tên dinh thự thành Elysée-Napoléon. Kể từ đó, lịch sử của điện Elysée gắn liền với lịch sử quyền lực của nước Pháp. Hoàng đế đã sống ở điện Elysée-Napoléon trong nhiều năm và nơi đây đã chứng kiến những giờ khắc cuối cùng của đế chế Napoléon I – năm 1815. Năm 1816, Elysée trở thành tài sản quốc gia. Từ năm 1874, Elysée trở thành phủ tổng thống Pháp.
            Mặc dù đã được sửa sang trong suốt nhiều thế kỷ theo nhu cầu sử dụng và gu thẩm mỹ của mỗi đời chủ nhân, nhưng điều đáng nói là điện Elysée vẫn giữ được đa phần cấu trúc chính theo thiết kế ban đầu.
            Nói như phóng viên Stéphane Bern trong chương trình truyền hình “Bí mật lịch sử” trên kênh France 2 với tựa đề “Nếu những bức tường của điện Elysée biết nói…”, thì Elysée là:

            “Cung điện được ao ước, thèm muốn nhất nước Pháp”“Điện Elysée đã khiến nhiều người choáng váng vì ngưỡng mộ, đam mê, say đắm và cũng là nguồn gốc của những trận chiến và những vụ đấu đá chính trị.
            Nhưng từ khi được xây dựng, đó cũng là nơi ở của rất nhiều nhân vật quyền lực, những người phụ nữ đang yêu, các nghệ sĩ, những người có cá tính mãnh liệt hay u sầu, buồn bã. Có những vị vua, hoàng hậu, những người phụ nữ được vua sủng ái, vài vị hoàng đế đã từng sống hay thường lui tới nơi này, và cả vị tổng thống đầu tiên của Pháp nữa.
            Nhiều câu chuyện lịch sử quan trọng và cả những câu chuyện nhỏ đã bắt nguồn từ đây, và lôi cuốn chúng ta với những thủ đoạn, niềm đam mê, chiến thắng và cả những bi kịch. Elysée biết tất cả mọi chuyện. Vì thế mà Elysée mê hoặc chúng ta. Lịch sử của Elysée cũng là lịch sử của chúng ta (nước Pháp)”
.

            Vào thời của tổng thống Charles de Gaulle, ông thấy rằng điện Elysée không phù hợp làm phủ tống thống. Đề xuất chuyển phủ tổng thống tới một nơi khác, đặc biệt là tới điện Invalides hoặc lâu đài Vincennes được xem xét vì những nơi này rộng rãi hơn và có bãi đáp cho trực thăng. Do vấp phải sự phản đối của nhiều người thân cận của Charles de Gaulle và đội ngũ nhân viên phủ tổng thống, dự án trên đã phải ngưng lại.
            Năm 1978, tổng thống Valéry Giscard d’Estaing đề xuất chuyển phủ tổng thống tới Ecole Militaire (nay là trụ sở của nhiều cơ quan bộ Quốc Phòng Pháp). Năm 1981, tổng thống François Mitterand, khi vừa chính thức nhậm chức, cũng đề nghị chuyển phủ tổng thống tới điện Invalides (hiện là bảo tàng quân đội và là nơi đặt lăng mộ của Napoléon Bonaparte). Nhưng tất cả các đề xuất trên đều đã không thành hiện thực. Năm 2008, một lần nữa, việc di dời phủ tổng thống lại được chính quyền của tổng thống Nicolas Sarkozy đặt ra. Nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế 2008-2009 đã khiến việc di dời phủ tổng thống trở nên quá tốn kém và không thể thực hiện. Điện Elysée cho tới giờ vẫn là biểu tượng quyền lực của nước Pháp.
            Điện Elysée nằm trong khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nếu nước lũ sông Seine dâng quá cao. Vì thế, vào hai đợt mưa lũ tháng 07/2010, cũng như vào tháng 06/2016, chính quyền đã lên kế hoạch nhằm tạm thời di dời phủ tổng thống về lâu đài Vincennes trong trường hợp Paris bị ngập lụt. May mắn thay, điều này đã không xảy ra.
            Hiện nay đội ngũ nhân viên phục vụ phủ tổng thống có khoảng 1.000 người, từ lái xe, nhân viên đưa thư cho tới thợ điện, đầu bếp… Có một thợ đồng hồ chuyên làm nhiệm vụ lên dây cót 320 chiếc đồng hồ quả lắc trong điện mỗi sáng. Ngân sách chi cho hoạt động của phủ tổng thống vào năm 2012 dưới thời tổng thống Nicolas đạt mức cao kỷ lục 112,5 triệu euro. Tới thời tổng thống François Hollande, con số này đã giảm dần và xuống còn 100 triệu euro vào năm 2014, sớm hơn một năm so với mục tiêu của tổng thống Hollande.
            Hầm rượu của điện Elysée tổng thống có từ thời tổng thống Vincent Auriol (1947-1954). Dưới thời tổng thống Nicolas Sarkozy, hầm rượu của phủ tổng thống Pháp là hầm rượu hàng đầu nước Pháp với 15.000 chai rượu. Tháng 05/2013, điện Elysée cho bán đấu giá 1.200 chai rượu, từ rượu vang tới cognac, champagne cho khách hàng tới từ khắp nơi trên thế giới, và thu được gần 720.000 euro – số tiền lớn hơn rất nhiều do với dự đoán.


Ngày diễn ra lễ nhậm chức của tổng thống François Hollande tại điện Elysée, 15/05/2012

Điểm tham quan đặc biệt
            Lần đầu tiên điện Elysée mở cửa đón công chúng là vào năm 1977, theo lệnh của tổng thống Valéry Giscard d’Estaing. Chỉ trong 3 giờ, có tới gần 10.000 người tới xếp hàng vào thăm điện. Vì không thể đảm bảo an ninh trước lượng du khách quá đông nên việc này không lặp lại cho đến năm 1990. Hiện nay, phủ tổng thống Pháp chỉ mở cửa đón khách tham quan vào hai ngày Di Sản Châu Âu diễn ra vào thứ Bảy – Chủ Nhật tuần thứ ba của tháng Chín hàng năm. Cùng với Ngân Hàng Trung Ương Pháp, tòa nhà Quốc Hội…, điện Elysée thu hút rất nhiều khách tham quan, không chỉ du khách quốc tế mà cả người Pháp từ nhiều vùng miền khác nhau. Trung bình mỗi năm, chỉ trong hai ngày này mà có tới 20.000 du khách tới thăm phủ tổng thống.
            Anh Nguyễn Thành đã từng vào thăm điện Elysée nhân ngày Di Sản Châu Âu năm 2015. Trò chuyện với RFI, anh chia sẻ:

            “Hôm đó, tôi đến từ sáng sớm và đã có một hàng dài người chờ trên phố. Có những ông bà già kể là họ sống ở tận miền Nam nước Pháp. Họ đã đi tàu 4-5 tiếng tới Paris từ hôm trước. Mặc dù đến sớm như vậy nhưng tôi đã phải xếp hàng tổng cộng 6 tiếng mới vào đến bên trong điện Elysée. Những người khuyết tật hoặc có con nhỏ thì được ưu tiên đi theo lối riêng, họ chỉ cần xếp hàng khoảng 30 phút đến 1 giờ.
            Nói thật thì nhìn bên ngoài thì tôi thấy điện Elysée không đẹp lắm nhưng vào bên trong thì tôi thấy rất thích. Hôm đó, khách tham quan không được đi xem hết toàn bộ phủ tổng thống mà chỉ được xem một số phòng tại một khu vực nhất định thôi. Nhưng như thế cũng đã thấy tuyệt lắm rồi. Phải nói là rất lộng lẫy, hoành tráng với những bức tranh lớn trang trí tường, trần, những tấm thảm nhung đỏ trải dưới nền nhà, những bộ đèn chùm lớn, rực rỡ và đồ nội thất rất tinh xảo.
            Nói chung là tôi có cảm giác đang ở trong một lâu đài, cung điện cho vua chúa thời xưa. Tôi rất tự hào vì không phải ai cũng được vào tham quan nơi tổng thống Pháp ở và làm việc. Cũng bõ công đứng xếp hàng 6-7 tiếng ngoài trời lạnh”
.

            Cần nói rõ là từ khi trở thành phủ tổng thống, điện Elysée là nơi làm việc của tổng thống chứ không nhất thiết là nơi ở của tổng thống và gia đình. Chẳng hạn, trong suốt nhiệm kỳ, tổng thống Valéry Giscard d’Estaing (1974-1981) và phu nhân cùng 4 người con hay vợ chồng tổng thống François Mitterand (1981-1995) vẫn sống tại căn hộ riêng của họ tại Paris. Những căn hộ này được gọi vui là “điện Elysée bis”.
            Gia đình tổng thống Jacques Chirac (1995-2007) là gia đình tổng thống đầu tiên sống hoàn toàn tại điện Elysée, kể cả những ngày nghỉ cuối tuần. Tổng thống Nicolas Sarkozy cùng người vợ trước là bà Cécilia đã dự tính ở chính thức tại điện Elysée sau khi ông nhậm chức. Sau đó, họ ly hôn. Tổng thống Nicolas Sarkozy kết hôn với bà Carla Bruni và sống tại nhà riêng của bà tại quận 16 – Paris. Chỉ thỉnh thoảng, vào ngày nghỉ cuối tuần, vợ chồng tổng thống Sarkozy mới tới sống tại điện Elysée. Nhưng điện Elysée lại là nơi tổ chức lễ cưới của vợ chồng tổng thống Sarkozy.
            Tổng cộng đã có 23 đời tổng thống Pháp làm việc tại điện Elysée. Nước Pháp đang chứng kiến những thay đổi trọng đại trong đời sống chính trị. Tổng thống François Hollande chỉ còn ít ngày tại Elysée. Ai sẽ là vị tổng thống tiếp tục ghi dấu tại điện Elysée? Marine Le Pen hay Emmanuel Macron? Chỉ còn vài chục giờ đồng hồ nữa, vào cuối ngày 07/05/2017 là chúng ta sẽ biết tên chủ nhân mới của điện Elysée.


THÙY DƯƠNG
Tháng 5/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170505-dien-elysee-noi-ghi-dau-quyen-luc-nuoc-phap

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #115 vào: 08/04/2018, 23:19:16 »
Nhà văn Nhật Tiến

Nhà văn Nhật Tiến tên thật là Bùi Nhật Tiến, sinh năm 1936 tại Hà Nội. Ông bắt đầu sáng tác từ những năm 50 của thế kỷ 20. Năm 1951, truyện ngắn đầu tay của Nhật Tiến là “Chiến nhẫn mặt ngọc” được đăng trên tờ Giang Sơn. Đây là tác phẩm đầu tiên của ông được đăng trên báo.

Nhà văn Nhật Tiến

SAU 1951, Nhật Tiến cộng tác với tạp chí Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh. Ngoài ra, ông còn viết cho các báo Tân Phong, Văn, Bách khoa, Văn Học, Đông Phương. Ông làm chủ bút tuần báo Thiếu Nhi từ năm 1971 cho tới 1975 do nhà sách Khai Trí xuất bản.
            Năm 1954, ông di cư vào Nam, đầu tiên sống tại Đà Lạt. Hoạt động của ông trong thời gian này là viết kịch cho Đài phát thanh sau đó về Sài Gòn dạy học tại các trường tư thục.
            Ông viết nhiều thể loại, truyện dài, truyện ngắn, kịch. Ông đã xuất bản trên 20 tác phẩm trong đó nổi tiếng nhất là Những Người Áo Trắng, Chim Hót Trong Lồng, Thềm Hoang, Người Kéo Màn, Giấc Ngủ Chập Chờn.
            Nhà phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh đã viết về ông:
            “Có rất nhiều chân dung nhà văn Nhật Tiến: nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, nhà văn của hiện thực xã hội, nhà văn của lưu lạc xứ người, mà mẫu chân dung nào cũng đều có nhiều cá tính văn chương và trong mỗi dòng chữ, mỗi ý tưởng đều có những thông điệp trao gửi theo…”
            Chúng tôi có cuộc mạn đàm ngắn với nhà văn trong những ngày cuối tháng 4 sau đây, mời quý vị theo dõi.


Bìa một số sách Nhật Tiến xuất bản tại Miền Nam

Kỷ niệm thời thơ ấu
Mặc Lâm: Trước tiên xin cảm ơn nhà văn Nhật Tiến đã dành cho chúng tôi buổi nói chuyện thân mật ngày hôm nay. Thưa ông, có thể nói tác phẩm đầu tay “Những người áo trắng” đã được xuất bản rất lâu, và từ tác phẩm này nói về những dòng tu kín ở Việt Nam dẫn tới tác phẩm “Chim hót trong lồng” cũng là một câu chuyện bên trong phạm vi bốn bức tường của nhà dòng, xin ông cho biết nguyên cớ nào mà ông thích viết về bốn bức tường trắng của nhà tu kín như vậy?
Nhà văn Nhật Tiến: Dạ vâng. Cảm ơn anh đã nhắc đến hai tác phẩm gần như là loại đầu tay của tôi. Cuốn “Những người áo trắng” thì tôi sáng tác vào khoảng năm 1955 hay 1956 gì đó. Đấy chỉ là một kỷ niệm của tôi vào thời còn sinh sống ở Hà Nội, khi đó tôi là một hướng đạo sinh.
            Quý vị đã biết rằng hướng đạo sinh thì thường hay đi làm các công tác từ thiện, làm những việc gọi chung là giúp ích. Đoàn của tôi cũng làm những công việc như mùa đông thì chúng tôi thường hay đẩy những xe bò đi các đường phố ở Hà Nội để quyên góp quần áo của bà con trong thành phố rồi đem giúp cho những người nghèo. Hoặc giả chúng tôi tình nguyện đứng ở đầu phố Hàng Trống hoặc là Hồ Gươm để bán những cuốn sách của những tác giả thời đó, thí dụ như vở kịch của kịch sĩ Văn Thuật mà tôi còn nhớ, thì tiền tác quyền của kịch sĩ Văn Thuật mà bán được thì lại cho vào một quỹ để đem giúp đồng bào bão lụt hay người nghèo thời đó.
            Một công tác khác về vấn đề từ thiện là chúng tôi hay lui tới ở cái trại mồ côi, và trại mồ côi đó bây giờ gọi là đường Nguyễn Thái Học, nhưng hồi đó gọi là đường Hàng Đẫy rồi đi sâu xuống Phố Hàng Bột. Có một trại mồ côi mà chúng tôi hay lui tới sinh hoạt ở đó. Và chính thời gian tôi sinh hoạt ở trại mồ côi này thì hình ảnh những người áo trắng như trẻ mồ côi mặc quần áo trắng, những bức tường trắng và những cô thiếu nữ ở viện mồ côi lớn tuổi hơn trông nom đàn em nhỏ đã gây cho tôi nhiều xúc động. Và sau này khi sáng tác tác phẩm dài đầu tay thì tôi đã dùng hình ảnh ở trại mồ côi đó để viết cuốn “Những người áo trắng”.

Mặc Lâm: Mọi người đều công nhận ông là một nhà văn của tuổi thơ bất hạnh, đặc biệt là tác phẩm “Chim hót trong lồng” viết về một cô bé rất cảm động. Từ những nỗi niềm của cô bé đó, ông mang theo trong những chuyến vượt biên sau này… có một sự dính líu nào đó trong những hoàn cảnh của những người vượt biên, chắc chắn ông đã gặp những cô bé bất hạnh trên đường đi, ông có liên tưởng đến nỗi bất hạnh mới từ cô bé trong “Chim hót trong lồng”…?
Nhà văn Nhật Tiến: Theo tôi thì sự liên tưởng từ cô bé trong “Chim hót trong lồng” đến những cô bé vượt biên thì đó là sự liên tưởng hơi quá xa, bởi vì “Chim hót trong lồng” tôi viết từ thập niên 1960 mà chuyện vượt biên thì mãi sau ngày 30-4-1975, thành ra tôi nghĩ rằng nếu tôi viết cuốn “Chim hót trong lồng” thì cũng là dư âm của những hình ảnh đọng lại trong tâm tưởng của tôi khi tôi viết “Những người áo trắng”.


Lễ trao giải Văn Chương Toàn Quốc 1960-1961
nhà văn Nhật Tiến đứng thứ hai từ trái sang

“Chim hót trong lồng” tập truyện bị từ chối
            Khi tôi sáng tác truyện “Chim hót trong lồng” thì nó cũng có nhiều kỷ niệm đáng nhớ lắm, thành ra tôi viết rất là lẹ, có lẽ cũng là nguồn cảm xúc của tôi trong suy nghĩ những em bé mồ côi, nhất là những buổi chiều mùa thu ở Hà Nội mà nhìn ra trời đầy mây xám với những cành cây trơ trọi, mà các em lại không có ba mẹ nào đến đón ra ngoài cả, nên có nhiều cảm xúc lắm.
            Tôi viết trong vòng hơn một tuần là xong cuốn sách đó. Lúc bấy giờ tôi gửi cho nhà văn Nguyễn Thị Vinh làm chủ nhiệm tạp chí Tân Phong để đăng thì chị Vinh ngần ngại, chị thấy nó hơi dài, có thể là vì một phần nó hơi dài cho Tân Phong vốn là một tạp chí nên nó chiếm nhiều chỗ quá và thứ hai có thể là cái đề tài đó chị Vinh không thích, thành ra khi đưa bản thảo đó cho chị Vinh thì chị từ chối.
            Tôi thấy chắc là hồi đó mình cũng mới viết mà nên chắc là nó không có giá trị gì nên tôi cất đi. Đến một thời gian sau thì anh Trần Phong Giao, tôi nhớ hồi đó ảnh xin ra tạp chí Văn, chắc là vì vấn đề tài chính hay sao đó mà đến lúc giấy phép sắp hết hạn ra báo vẫn chưa đủ tài chính để ra một tờ báo đàng hoàng. Ảnh đến nhà tôi ảnh bảo: “Cậu có truyện nào không? Nó vừa vừa thôi để in trong một xấp giấy để tôi giữ cái giấy phép của tờ Văn.” Tôi bảo: “Tôi có cái truyện vừa vừa mà chị Vinh đã từ chối đấy. Cậu có lấy thì lấy.”
            Tôi đưa truyện “Chim hót trong lồng” và quả nhiên là anh Trần Phong Giao cho in trong cuốn Văn số 1. Cuốn Văn đó thật sự ra nó gần như là một cuốn chưa hoàn chỉnh lắm, nhưng vì giấy phép sắp hết hạn cho nên ảnh đưa vào. Đó là một kỷ niệm. Vâng.
            Nhưng không ngờ truyện đó được rất nhiều thế hệ độc giả tiếp đón. Có thể nói là trước sau tôi in tất cả mười bốn – mười lăm lần tái bản cuốn “Chim hót trong lồng”.

Mặc Lâm: Bên cạnh “Chim hót trong lồng” một tác phẩm khác cũng làm cho người ta chú ý nhiều lắm, mà đặc biệt là chính quyền Hà Nội trước đó đã chú ý rất là nhiều và họ lên án cuốn này dữ dội, đó là cuốn “Giấc ngủ chập chờn”. Ông có thể nói sơ một chút về tác phẩm này được không?
Nhà văn Nhật Tiến: Ồ! Cuốn “Giấc ngủ chập chờn” tôi sáng tác vào giữa thập niên 1960, may lúc bấy giờ cuộc chiến ở Việt Nam cũng dữ dội lắm, tràn lan khắp mọi miền. Tôi viết về hoàn cảnh của một vùng xôi đậu. “Xôi đậu” có nghĩa là một nửa xôi một nửa đậu, tức là một vùng tranh tối tranh sáng. Ban ngày thì do quốc gia kiểm soát, nhưng ban đêm thì do bên kia, thành ra dân chúng sống trong vùng đó thì gia đình rất là phân tán, có anh em thì theo bên này, có anh em thì theo bên kia, và họ chết đi vì cuộc chiến.
            Cả đám thanh niên và con nít ở cái làng đó họ thân thiết với nhau và sống trong thanh bình lắm. Nhưng đến lúc cuộc chiến tràn về thì anh em giết nhau, hàng xóm đồng bào giết nhau, gây ra thảm cảnh đau khổ trong cuộc chiến.

Mặc Lâm: Chế độ lên án tác phẩm này nhưng sau đó theo chúng tôi biết cũng có một tác phẩm in chung với Nhật Tuấn được một nhà xuất bản trong nước in. Ông có thể cho biết sự thực như thế nào không?


Cuốn Quê Nhà, Quê Người của Nhật Tiến & Nhật Tuấn

Sự thực về cuốn “Quê nhà, quê người”
Nhà văn Nhật Tiến: Vâng. Đó là cuốn “Quê nhà, quê người”. Cuốn sách này gây sóng gió và bị dư luận hải ngoại chống đối rất nặng nề, nhưng thực sự là như thế này. Quan điểm của tôi trong thời điểm vào khoảng đầu thập niên 1990, lúc bấy giờ Nhật Tuấn đang làm nhà xuất bản Văn Học ở trong nước và cậu ấy cũng đã là một cây bút nổi tiếng từ trước năm 1975. Cậu ấy đề nghị là “Bây giờ anh em mình hợp tác in chung một cuốn. Anh viết những chuyện xảy ra ở hải ngoại và em viết những chuyện xảy ra ở trong nước. Những chuyện xảy ra ở hải ngoại thì gọi là “Quê người”, và những chuyện ở trong nước thì gọi là “Quê nhà”. Đó là tên truyện “Quê nhà, quê người” ra đời trong hoàn cảnh đó.
            Tôi gom một số truyện đã viết ở hải ngoại và được đăng rất nhiều trên báo chí ở hải ngoại và đưa cho Tuấn, thì Tuấn in ra thôi, chứ hoàn toàn không có một chính sách, một chủ trương hay một kế hoạch nào tiến hành trong việc giao lưu…
            Nhân dịp này tôi cảm ơn anh Mặc Lâm đã dành cho tôi cơ hội để tôi có thể nói rõ hơn một lần về cuốn sách “Quê nhà, quê người” này.

Mặc Lâm: Thưa, một câu hỏi cuối cùng. Thưa ông, cũng hơn 60 năm cầm bút ông là cây viết có thể nói rất là kỳ cựu kể từ khi nhóm Tự Lực Văn Đoàn sinh hoạt cho tới ngày nay và vẫn còn sáng suốt, vẫn còn mạnh khỏe và vẫn còn có thể sáng tác được…
Nhà văn Nhật Tiến: Cảm ơn anh.

Mặc Lâm: Thưa ông, điều còn đọng lại nơi ông duy nhất hiện nay mà ông muốn chia sẻ với thính giả nói chung là điều gì ạ?
Nhà văn Nhật Tiến: Vâng. Xin cảm ơn anh Mặc Lâm, trước tiên tôi xin được cải chính một chút ít. Đối với Tự Lực Văn Đoàn thì là những bậc trưởng thượng và đi trước tôi rất là xa, và tôi không dính líu gì đến sự nghiệp của Tự Lực Văn Đoàn cả. Tôi chỉ là một hậu duệ, một độc giả đọc Tự Lực Văn Đoàn mà thôi.
            Còn đặt vấn đề những năm cuối của sự nghiệp – nếu có thể gọi là sự nghiệp – 60 năm cầm bút của tôi như anh Mặc Lâm hỏi là còn đọng lại những điều gì nhất thì phải nói ngay thế này, là tôi rất đau buồn khi nhìn thấy cái khung cảnh sinh hoạt chữ nghĩa ở hải ngoại này nó có nhiều ngòi bút quấy hôi bôi nhọ nhiều quá. Nếu anh chịu khó vào những trang web trên Net hoặc đọc một số báo, thì anh thấy nhiều cây bút đã lạm dụng sự tự do ở xứ sở này để viết nên những bài không còn đúng nghĩa là chữ nghĩa nữa. Nó quấy hôi bôi nhọ, nó làm cho nhếch nhác bộ mặt văn học hải ngoại. Khi tôi nghĩ tới điều đó thì tôi rất đau buồn và có lẽ rằng tôi sẽ phải làm cái việc cuối đời tức là góp phần dọn dẹp cho sạch sẻ cái môi trường chữ nghĩa từ lâu bị quấy hôi bôi nhọ như thế này.

Mặc Lâm: Dạ vâng. Một lần nữa xin cảm ơn nhà văn Nhật Tiến đã dành cho thính giả của Đài RFA một buổi nói chuyện rất là thú vị với nhiều chi tiết như thế này. Xim cảm ơn ông.
Nhà văn Nhật Tiến: Cảm ơn anh Mặc Lâm. Kính chào quý thính giả của Đài.


MẶC LÂM
Tháng 5/2012


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/writer-nhat-tien-05092012095046.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #116 vào: 10/04/2018, 22:54:16 »
Khải Hoàn Môn Paris và ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt

L’Arc de Triomphe de Paris – Khải Hoàn Môn Paris là một trong những công trình nổi tiếng nhất của nước Pháp, không chỉ bởi Khải Hoàn Môn là công trình có kiến trúc vòng cung lớn nhất thế giới, vô cùng tráng lệ, mà còn vì đó là một biểu tượng lịch sử danh tiếng bậc nhất của Pháp, nơi đã chứng kiến nhiều sự kiện trọng đại trong lịch sử đất nước.

Khải Hoàn Môn và đại lộ Champs Eslysées, ngày Quốc Khánh Pháp 14/07/2017

KHẢI HOÀN MÔN nằm ở quận 8 của Paris, chính giữa quảng trường Charles de Gaulle (trước đây là quảng trường Ngôi Sao), điểm giao nhau của 12 đại lộ, trong đó có Champs-Elysées – vốn được vinh danh là đại lộ đẹp nhất thế giới. Cao 50m, rộng 45m và có bề dày 22m, tính cả phần móng sâu gần 9m dưới lòng đất, Khải Hoàn Môn Paris có trọng lượng 100.000 tấn. Muốn tới chân Khải Hoàn Môn, từ đại lộ Champs-Elysées và đại lộ Grande Armée, du khách phải đi theo một đường ngầm dưới lòng đất có tên Passage du Souvenir (Lối Đi Kỷ Niệm).

Công trình vinh danh đạo quân Napoléon
            Ý tưởng xây Khải Hoàn Môn Paris là của Hoàng đế Napoléon Đệ Nhất. Phóng viên Stéphane Bern, chuyên gia về các công trình lịch sử cho biết:

            “Ngày nay, Khải Hoàn Môn là một biểu tượng quốc gia. Mỗi ngày, hàng chục ngàn du khách từ khắp nơi trên thế giới tới chiêm ngưỡng Khải Hoàn Môn. Tuy nhiên, dự tính ban đầu của Napoléon là dựng một công trình có hình con voi khổng lồ để tôn vinh chiến thắng của đạo quân Napoléon.
            Ngày 02/12/1805 là ngày kỷ niệm một năm Napoléon làm Hoàng Đế và cũng là ngày Napoléon thắng trận Austerlitz – trận đánh có thể coi là chiến thắng vang dội của triều đại Napoléon. Sau thắng lợi lẫy lừng Austerlitz, Hoàng đế Napoléon yêu cầu cho xây một khải hoàn môn để vinh danh chiến thắng của các đạo quân Pháp. Napoléon hứa với các binh lính là họ sẽ trở về dưới một cánh cổng khải hoàn.
            Khi tham khảo các công trình của một kiến trúc sư Pháp ở thế kỷ 18, Napoléon đã tự đặt câu hỏi tại sao không cho dựng một khải hoàn môn hình con voi. Ở bên trong con voi sẽ đặt một viện bảo tàng – bảo tàng về lịch sử đế chế, lịch sử các đạo quân. Vòi voi sẽ là đài phun nước để lấy nước tưới cho khu vườn của điện Elysée.
            Nhưng tất nhiên, điều khiến Napoléon quan tâm là tính biểu tượng của con voi. Nó khiến người ta liên tưởng tới các cuộc chinh phục ở thời cổ đại. Nhưng nhờ lời khuyên của các cố vấn, Napoléon đã quyết cho xây một khải hoàn môn theo kiểu truyền thống và rất hoành tráng theo phong cách La Mã cổ đại.
            Viên đá đầu tiên được đặt vào đúng ngày sinh nhật của Napoléon, ngày 15/08/1806. Nhưng Hoàng Đế không có cơ hội nhìn thấy công trình hoàn tất. Việc thi công chậm trễ đã khiến phải đến 30 năm sau, Khải Hoàn Môn mới được khánh thành, dưới thời trị vì của vua Louis-Philippe”.


            Truyền thống đoàn quân đi dưới Khải Hoàn Môn có nguồn gốc từ thời La Mã cổ đại, theo đó các đạo quân La Mã trở về từ các cuộc chinh chiến sẽ phải đi qua một “cánh cổng thần kỳ” cho phép binh lính gột rửa hết những năng lượng hủy diệt bên trong mỗi người trước khi họ tiến vào bên trong thành phố yên bình.
            Tại Pháp, trước Hoàng đế Napoléon, các vị vua Louis XIV, Louis XV cũng đã cho dựng Khải Hoàn Môn ở nhiều thành phố như Lille, Montpelier, Nancy… Và Hoàng Đế Napoléon đã tiếp nối truyền thống La Mã cổ đại và theo bước chân của vua Louis XIV, Louis XV trong việc dựng Khải Hoàn Môn Paris.
            Ban đầu, Napoléon muốn đặt Khải Hoàn Môn tại một nơi mang tính biểu tượng cao là quảng trường Bastille – nơi từng diễn ra sự kiện chiếm ngục Bastille vào ngày 14/07/1789 trong Cách Mạng Tư Sản Pháp. Tuy nhiên, bộ trưởng Nội Vụ Champagny đã thuyết phục được Hoàng đế xây Khải Hoàn Môn ở quảng trường Ngôi Sao – nơi có tầm nhìn rất đẹp.
            Còn lý do phải mất 30 năm mới hoàn thành Khải Hoàn Môn không chỉ là vì tiến độ thi công chậm chạp vì còn vì sự kiện Napoléon bại trận tại Nga năm 1812 và Hoàng Đế phải thoái vị năm 1814.
            Tới triều đại của vua Louis XVIII và vua Charles X, hai người anh em của vua Louis XVI, việc thi công Khải Hoàn Môn mới được tiếp tục. Nhưng vua Louis XVIII và Charles X không muốn vinh danh đạo quân của Napoélon, người họ coi là kẻ thù nên muốn Khải Hoàn Môn trở thành công trình vinh danh dòng họ vua Louis XVI. Nhưng đến đời vua Louis-Philippe, đã từng chiến đấu trong đạo quân của Napoléon và thời Cách Mạng nên đã quyết giữ nguyên mục đích ban đầu của công trình là nhằm vinh danh Đại Quân Napoléon. Vậy là sau 30 năm, trải qua triều đại của Hoàng đế Napoléon, 3 đời vua và 5 đời kiến trúc sư, cuối cùng thì Khải Hoàn Môn cũng được khánh thành vào ngày 29/07/1836.
            Theo truyền thống La Mã cổ đại, các khải hoàn môn được trang trí bằng các công trình chạm khắc, phù điêu miêu tả các trận đánh nổi tiếng, mặt ngoài 4 trụ Khải Hoàn Môn Paris được trang trí bằng 4 công trình điêu khắc lớn với chủ đề Xuất Quân, Khải Hoàn, Kháng Chiến và Hòa Bình. Các tác phẩm chạm khắc ở mặt trong các trụ miêu tả các trận đánh nổi tiếng thời Cách Mạng Tư Sản Pháp và Đế chế Napoléon. Phía dưới có khắc tên các nhân vật quan trọng trong giai đoạn lịch sử đó. Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm mô tả các sự kiện lớn của Cách Mạng Tư Sản Pháp và Đế chế.


Khải Hoàn Môn vào mùa đông

Nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của nước Pháp
            Từ một công trình mà khởi đầu là biểu tượng cho Đại Quân Napoléon, Khải Hoàn Môn Paris đã trở thành nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của nước Pháp. Năm 1840, 19 năm sau khi Napoléon từ trần trên đảo Saint-Hélène, nơi ông sống lưu đày suốt 6 năm cuối đời, vua Louis-Philippe đã cử hoàng tử Joinville tới đảo Saint-Hélène đưa linh cữu Napoléon về Pháp. Và linh cữu Napoléon đã được rước đi qua dưới mái vòm Khải Hoàn Môn để tới nhà thờ Saint-Jérôme. Sau này, lăng mộ Napoléon được đặt chính thức tại điện Invalides, nơi có bảo tàng Quân Sự Pháp.
            Ngày 01/06/1845, nhà nước Pháp tổ chức lễ quốc tang cho đại thi hào Victor Hugo với 2 triệu người tham dự. Đêm trước đó, quan tài của Victor Hugo đã được đặt cả đêm dưới mái vòm Khải Hoàn Môn để dân chúng tới tỏ lòng tôn kính. Thi hài của ông hiện để tại điện Panthéon – đền thờ các vĩ nhân Pháp.


Ngày 14/05/2017, sau lễ nhậm chức ở điện Elysée, tân tổng thống Macron tới Khải Hoàn Môn
đặt vòng hoa tưởng niệm trước mộ Chiến Sĩ Vô Danh và thực hiện nghi lễ tiếp lửa thiêng liêng

Mộ Chiến Sĩ Vô Danh và “ngọn lửa thiêng”
            Sau hai cuộc Thế Chiến, quân đội Đồng Minh đều diễu hành qua Khải Hoàn Môn để ăn mừng chiến thắng.
Trong Thế Chiến Thứ Nhất, 1.400.000 lính Pháp đã ngã xuống, 3.6 triệu người bị thương và 500.000 bị cầm tù. Chính quyền dựng đài tưởng niệm liệt sĩ ở khắp các thành phố. Ngày 23/01/1921, mộ Chiến Sĩ Vô Danh được đặt dưới vòm Khải Hoàn Môn để tôn vinh tất cả những người lính đã hy sinh để bảo vệ nước Pháp trong Thế Chiến Thứ Nhất.
            Năm 1923, vào lễ kỷ niệm kết thúc Thế Chiến Thứ Nhất, ngày 11/11, để tôn vinh những người đã hy sinh để bảo vệ tự do cho nước Pháp, bộ trưởng Chiến Tranh André Maginot thắp “ngọn lửa thiêng” trên tượng đài Chiến Sĩ Vô Danh. Đó là lần đầu tiên ngọn lửa thiêng được thắp trên mộ Chiến Sĩ Vô Danh.
            Kể từ đó cho tới nay, ngọn lửa thiêng dưới Khải Hoàn Môn chưa bao giờ tắt, kể cả trong giai đoạn 1940-1944, Paris bị Đức Quốc Xã chiếm đóng. Hàng ngày, nghi lễ tiếp lửa trên mộ Chiến Sĩ Vô Danh được tiến hành vào 18h30 với sự tham gia của đại diện các hiệp hội Cựu Chiến Binh Pháp, hội Chữ Thập Đỏ…
            Ngày 14/05/2017, sau lễ nhậm chức ở điện Elysée, cũng như theo truyền thống ngày Quốc khánh Pháp 14/07, tân tổng thống Emmanuel Macron đã tới Khải Hoàn Môn đặt vòng hoa tưởng niệm trước mộ Chiến Sĩ Vô Danh và thực hiện nghi lễ tiếp lửa thiêng liêng. Ngọn lửa thiêng không bao giờ tắt đó tượng trưng cho niềm hy vọng vào tương lai và niềm tin vào vận mệnh của nước Pháp.


THÙY DƯƠNG
Tháng 7/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170714-khai-hoan-mon-paris-va-ngon-lua-thieng-khong-bao-gio-tat

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #117 vào: 14/04/2018, 23:06:20 »
Nguyễn Tất Nhiên: “Thà như giọt mưa”

Năm 1971, tạp chí của nhà văn Mai Thảo bắt đầu xuất hiện những vần thơ của một người tự cho mình là “kẻ hoang đàng”, “tên vô đạo” bất tín đồ trong tình yêu, Nguyễn Tất Nhiên. Ngay sau đó, lời thơ với ý tưởng và những hình ảnh kỳ lạ, hư hư thật thật, những thú nhận ngông cuồng nhưng cũng rất nồng nhiệt, đã đi vào nhạc của Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, Anh Bằng, trở thành một hiện tượng trong làng thơ và nhạc Việt Nam thời kỳ bấy giờ.

Chân dung nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên

CHÚNG TA cùng đến với những câu chuyện kể về cuộc đời Nguyễn Tất Nhiên từ những người bạn gần gũi trong cuộc đời ông, những bài tình ca được phổ từ thơ của ông đã đi vào trái tim người nghe qua nhiều thập kỷ.

                       “Tay ta từng ngón tay
                        Vuốt lưng em tóc dài
                        Những trưa ngồi quán vắng
                        Chia nhau tình phôi thai
                        Xa nhau mà không hay
                        Hỡi em cười vô tội
                        Ðeo thánh giá huy hoàng
                        Hỡi ta nhiều sám hối
                        Tính nết vẫn hoang đàng!

                        (trích bài thơ Em hiền như Ma soeur)

            Những năm 70, Sài Gòn xuất hiện và truyền cho nhau những vần thơ tình của một người ký tên Nguyễn Tất Nhiên. Ngay sau đó thì những vần thơ ấy được thổi vào thêm những giai điệu slowrock nhẹ nhàng, trở thành những bản tình ca nổi tiếng.

                        Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa
                        Như mưa đời phất phơ, chắc ta gần nhau chưa?
                        Tay ta từng ngón tay, vuốt tóc em lưng dài
                        Đôi ta vào quán trưa, nhắc nhau tình phôi pha.

                        Em mang hồn vô tội, đeo thánh giá huy hoàng
                        Còn ta nhiều sám hối mà sao vẫn hoang đàng.
                        Đưa em về dưới mưa, nói năng chi cũng thừa
                        Đưa em về dưới mưa, có nhau mà như xa.

                        Em hiền như ma-soeur, vết thương ta bốn mùa
                        Trái tim ta bệnh hoạn, ma-soeur này ma-soeur
                        Ta nhờ em ru ta, hãy ru tên vô đạo,
                        Hãy ru tên khờ khạo, ma-soeur này em ma-soeur

                        Đưa em về dưới mưa, chiếc xe lăn dốc già
                        Đưa em về dưới mưa, áo em bùn lưa thưa
                        Đưa em về dưới mưa, hỡi cô em bé nhỏ
                        Ôi duyên tình đã qua, có bao giờ không xưa?

                        Vai em tròn dưới mưa, ướt bao nhiêu cũng vừa
                        Như ưu tình đã xa, thấm linh hồn ma-soeur…

                        (Em hiền như Masoer)

Những bài đó được viết vào khoảng thập niên 1971, 1972. Sài Gòn lúc đó ai cũng biết những bài thơ đó. Có lẽ nhờ Phạm Duy phổ nhạc nên những bài thơ đó được phổ biến một cách rộng rãi hơn.” – Nhà báo Đinh Quang Anh Thái, nhớ về người bạn mà ông gọi rằng “bạn từ thuở hàn vi ở Sài Gòn trước 1975”.
            Có thể nói cho đến bây giờ, hiếm có ai dành cho người yêu của mình những tên gọi đẹp, thánh thiện như Nguyễn Tất Nhiên đã từng. Đặc biệt cái đẹp và sự thánh thiện ấy càng được tôn vinh hơn gấp vạn lần hình ảnh ông dùng khi ông so sánh với chính mình là một “người bệnh hoạn”, một “kẻ nhiều sám hối”, một “tên vô đạo”.

Nguyễn Tất Nhiên là ai?
            Nếu nói theo ngôn ngữ thi ca, thì Nguyễn Tất Nhiên sinh ra là để làm thơ. Mà phàm là nhà thơ thì cuộc sống không như cuộc sống của những người bình thường, huống chi, đó lại là Nguyễn Tất Nhiên, một người đến với cuộc đời này là một nhà thơ và đi ra khỏi cuộc đời này cũng là một nhà thơ.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái: Nguyễn Tất Nhiên rất trong sáng. Chưa bao giờ thấy Nguyễn Tất Nhiên có một điều gì tính toán trong cuộc đời này hết. Chơi với bạn bè một cách chân tình.

            Vì sự hồn nhiên đó mà âm thanh và màu sắc trong thơ của Nguyễn Tất Nhiên cũng rất trong sáng. Ông thà là một giọt mưa để được rơi chạm vào mặt người thương, cho dù ông biết giọt mưa ấy rồi sẽ vỡ loang.

                       “Thà như giọt mưa vỡ trên tượng đá
                        Thà như giọt mưa khô trên tượng đá
                        Thà như mưa gió đến ôm tượng đá
                        Có còn hơn không, có còn hơn không
                        Có còn hơn không, có còn hơn không…

                        (Thà như giọt mưa)

            Cũng vì sự hồn nhiên đó mà chúng ta sẽ thấy một lần ông đã từng “chia nhau tình phôi thai” với “em hiền như ma soeur” thì một linh mục trong tâm hồn ông cũng sẵn sàng biến người tình thành ác quỷ khi người tình bỏ ông đi.
 
                       “Mất vì tin tín đồ là người tình
                        Có ngờ đâu người tình là ác quỷ
                        Ác quỷ đầy quyền năng
                        Giam tôi trong tín đồ
                        Tín đồ là người tình
                        Người tình bỏ tôi đi
                        Thiêu hủy lòng tin si
                        Người tình bỏ tôi đi
                        Thiêu hủy lời kinh xưa
                        Người tình bỏ tôi đi
                        Giáo đường buồn lê thê
                        Lời chia xa...

                        (Vì tôi là linh mục)

            Những hình ảnh trong thơ Nguyễn Tất Nhiên giản dị, đôi khi giản dị đến cay nghiệt, không màu mè. Những vần thơ thể hiện một tâm hồn với suy nghĩ không có gì quan trọng trong cuộc sống này, một người sống rất tự nhiên như cây cỏ.
            Thánh thiện cũng là Nguyễn Tất Nhiên. Cay nghiệt cũng là Nguyễn Tất Nhiên. Hồn nhiên cũng là Nguyễn Tất Nhiên. Và thất chí cũng là Nguyễn Tất Nhiên.


Bìa trước và bìa sau tập thơ Thiên tai của Nguyễn Tất Nhiên

Kẻ sĩ hồn nhiên

Anh biết tất cả mọi chuyện, anh cũng biết anh thất chí, anh biết hết. Anh biết, anh chấp nhận và anh chịu đựng. Thành ra trong sự chấp nhận ấy dĩ nhiên có cái cay đắng và cái bất ưng.” – Nữ ca sĩ Lê Uyên, một trong những người trong giới văn nghệ sĩ đã ở bên cạnh, giúp đỡ Nguyễn Tất Nhiên vào năm 1991, lúc ông khó khăn nhất, một năm trước khi Nguyễn Tất Nhiên xếp bút giã từ thơ nghiệp, nhớ về một tài năng mà bà quí mến.

Nữ ca sĩ Lê Uyên: Cách sống của Nguyễn Tất Nhiên tôi thấy khá giống Bùi Giáng, tinh thần không bao giờ thực tế, lúc nào cũng ở trên mây, mà ý nghĩ trong đầu thì lúc nào cũng đẹp. Có lẽ là đời sống thực không được đẹp như thế nên đã sáng tác những điều đó để phản ánh phần nào ước mơ của mình.

            Cái đẹp trong suy nghĩ của Nguyễn Tất Nhiên là những niềm vui của giây phút thực tại, không toan tính không cần biết trước ngày mai sẽ ra sao.

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái: Khi ông cụ thân sinh ra Nguyễn Tất Nhiên may cho anh một cái quần mới, vì hình ảnh của Nguyễn Tất Nhiên là một cái quần ống cao ống thấp. Anh để cái quần đó trên cái baga xe đạp cột lại đi xe lửa từ Biên Hòa lên Sài Gòn kiếm bạn bè, và bảo thôi đi bán cái quần này rồi đi kiếm món nào ăn cho vui.

            Cái thất chí, bất ưng trong cuộc sống của Nguyễn Tất Nhiên được ông che lấp bằng chính sự hồn nhiên của mình. Có thể hiểu đó là sự hồn nhiên của một tâm hồn luôn trong trạng thái đi mưu cầu cái đẹp và sự hoàn hảo trong cõi đời của chính họ.
            Tiếc thay, Nguyễn Tất Nhiên không tìm thấy những gì ông mong muốn. Những lúc cuối đời, ông muốn tất cả mọi nỗi khổ đau của mình biến mất, nhưng không thể, để rồi phải có những vần thơ:

                        Tôi hô biến cái tôi buồn
                        Tôi hô biến nỗi thuồng luồng đời tôi
                        Tôi hô biến vợ
                        Tôi hô biến con
                        Tôi hô biến nỗi đói
                        Tôi hô biến nỗi buồn


            Và câu cuối cùng là

                        Tôi hô cái nào, biến cái nào thì nó hiện lên cái đó.

            Phạm Duy từng viết trong tùy bút của ông rằng:  “Đi qua đời tôi có khá nhiều thi nhân thuộc nhiều thế hệ, đa số đều như tôi, đều khá hồn nhiên, nghĩa là có tí máu điên. Nhưng trong làng thơ Việt Nam, có ba nhà thơ hồn nhiên nhất, đó là Nguyễn Ngu Í, Bùi Giáng, và Nguyễn Tất Nhiên… Cả ba vị đều đã từng là thượng khách của Dưỡng trí Viện Biên Hòa, nơi tôi đã có lần đến thăm một trong ba vị đó.

            Nguyễn Tất Nhiên có điên không? Có điên không mà một người sống giữa bè bạn đó, giữa lòng xã hội đó, nhưng đầu óc luôn bị ám ảnh bởi thơ ca và những tiếng gọi từ muôn trùng kiếp nào khác.

                       “Người từ trăm năm
                        Về ngang sông rộng
                        Ta ngoắc mòn tay
                        Trùng trùng gió lộng…

                        (Thà như giọt mưa)

Nhà báo Đinh Quang Anh Thái: Tôi đã gặp Nguyễn Tất Nhiên nhiều vào những ngày cuối đời của ảnh, thì có những lúc hai tên ngồi với nhau, Nguyễn Tất Nhiên bảo tôi đuổi bà bán hàng đi chỗ khác đi vì bà cứ rao hàng hoài khó chịu quá. Nhưng lúc đó chúng tôi ngồi ở một căn nhà rất yên tĩnh. Tôi biết lúc đó trong đầu Nguyễn Tất Nhiên đã có những âm thanh hình ảnh cho thấy là tâm trí ảnh không bình thường.

            Cái chết đã hiện diện trong tâm tưởng của Nguyễn Tất Nhiên từ những năm tháng tuổi trẻ, khi ông 16, 17 tuổi. Để cuối cùng chính những câu thơ của Nguyễn Tất Nhiên đã vận vào cuộc đời ông:

                       “Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
                        Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
                        Phải đau theo từng hớp rượu tàn
                        Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định…


Nhà báo Đinh Quang Anh Thái: Tôi nhớ Nguyễn Tất Nhiên đã nói nhiều lần ý định muốn tự tử. Bạn bè thân thì cứ nghĩ Nguyễn Tất Nhiên nói đùa. Một tuần lễ trước khi Nguyễn Tất Nhiên chọn con đường ra đi từ một ngôi chùa ở Quận Cam California thì tôi có ngồi với Nguyễn Tất Nhiên trước cửa tòa báo Người Việt. Tôi nhớ đó là bữa cơm đón nhà báo Ngô Nhân Dụng, tôi có nói Nguyễn Tất Nhiên thôi đi vô kiếm cái gì ăn đi. Anh nói rằng một thằng sắp chết thì không có ăn. Tôi nghe câu đó hoài nên cứ nghĩ đó là câu nói đùa. Tôi nói thôi không ăn thì hút với nhau điếu thuốc lá. Anh nói một thằng sắp chết thì không hút thuốc lá. Như thế, một tuần lễ sau thì được tin anh tự tử chết.

            Nguyễn Tất Nhiên đã chọn một nơi chốn khác để tiếp tục thả rong sự hồn nhiên của mình. Có thể nơi đó ông không cần phải hô biến đi cái buồn đã từng ngự trị trong ông, không phải nghe những tiếng ồn ào vọng về từ một tâm thức nào đó. Nơi ấy, ông sẽ được hồn nhiên làm tên vô đạo, hay hóa thành giọt mưa rơi phủ trên cây thánh giá huy hoàng.


CÁT LINH
Tháng 7/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/nguyen-tat-nhien-would-rather-b-a-rain-drop-cl-07312016090430.html

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #118 vào: 17/04/2018, 23:24:34 »
Cột đá Obélisque: Biểu tượng sức mạnh trên quảng trường Concorde, Paris

Cao 22,37 mét và nặng gần 230 tấn, cột đá Obélisque vươn cao giữa quảng trường Concorde, quận 8 Paris. Vượt hơn 12.000 km từ đền Luxor thờ thần Amun ở Ai Cập, cột đá Luxor có niên đại khoảng 3.300 năm (thế kỷ XIII, TCN) đến Paris sau hành trình 2 năm và 9 tháng. Đây cũng là món quà Ai Cập tặng nước Pháp, đồng thời để ghi công nhà nghiên cứu Jean-François Champollion (1790-1832), người đầu tiên giải mã được chữ tượng hình Ai Cập cổ.

Quảng trường Concorde và cột đá Obélisque, quận 8 Paris

CỘT ĐÁ được đặt trên bệ đỡ cao 9 mét, nằm giữa quảng trường Concorde được quy hoạch lại theo yêu cầu của vua Louis-Philippe I (trị vì 1830-1848). Tên gọi của quảng trường rộng nhất Paris (8,64 ha) được thay đổi liên tục trong thế kỷ XIX cho thấy sự bất ổn về chính trị và xã hội của nước Pháp trong giai đoạn này. Từng mang tên Quảng trường Louis XV, rồi quảng trường Cách Mạng, quảng trường Concorde, trước khi được đổi thành quảng trường Louis XVI, quảng trường Charte, để cuối cùng lại được chính thức mang tên quảng trường Concorde vào năm 1835 với mục đích đề cao sự hòa giải dân tộc.
            Từ khi triều đại Charles X (1824-1830) sụp đổ, dựng bức tượng đồ sộ một vị vua ở trung tâm quảng trường không còn ý nghĩa như trước. Có lẽ vì thế, sự kiện cột đá Luxor được đưa về Paris lại là một điều may mắn cho vua Louis-Philippe I. Vì kiệt tác kiến trúc này mang tính trung lập, không gắn liền với bất kỳ khái niệm chính trị nào ngoài biểu tượng cho quan hệ Pháp-Ai Cập.
            Đặt cột đá Luxor ở quảng trường Concorde là phương án thứ hai của kiến trúc sư phụ trách quy hoạch Jacques Ignace Hittorff và được Hội đồng Thành phố thông qua ngày 24/04/1835, vì quảng trường gần bến Concorde, nơi con tầu chở cột đá sẽ neo đậu, tiện hơn là đặt trên quảng trường Invalides.
            Chính nhờ vị trí này, tháp Luxor trở thành điểm giao giữa hai trục quan trọng. Theo hướng bắc-nam, cột đá nằm giữa điện Bourbon (trụ sở Hạ Viện Pháp) và Hôtel de la Marine (từng là trụ sở của Hải Quân Pháp), nơi quyết định và thực hiện quá trình vận chuyển cột đá từ Ai Cập về Paris.
            Đặc biệt hơn, cột Luxor còn nằm trên trục đông-tây lịch sử của Paris (đường hoàng gia – voie royale), từ điện Louvre qua vườn hoa Tuileries đến đại lộ Champs-Elysées và Khải Hoàn Môn. Đến thời tổng thống François Mitterrand, trục này được kéo dài thêm về phía tây với công trình Grande Arche de la Fraternité (tạm dịch: Tương Ái Môn, thường được gọi là Arche de la Défense hay Grande Arche) và phía đông với Thư Viện Quốc Gia Pháp mới (Bibliothèque nationale de France, BNF).


Tượng vua Louis XV cưỡi ngựa trên quảng trường Concorde. Sau này là vị trí của cột Luxor

Cột đá Ai Cập: Paris chỉ có 1, Roma có 13
            Cột đá Obélisque trên quảng trường Concorde chỉ là một trong số vài chục cột đá có từ thời Ai Cập cổ đại. Thường được làm theo hình trụ và đỉnh được đẽo thành hình kim tự tháp, những cột “benben” – theo tiếng Ai Cập cổ mang nghĩa “đứng thẳng và tỏa sáng” – tượng trưng cho tia sáng mặt trời hằn trong đá, được dựng lên để thờ thần Mặt Trời Amun Rê.
            Vào thế kỷ XIX, chỉ riêng thủ đô Roma (Ý) đã có 13 cột đá Ai Cập nổi tiếng, trong khi Paris chưa có một kiệt tác nào. Dưới triều đại của vua Louis XVIII (1815-1824), chính quyền Pháp thương lượng với phó vương Ai Cập Méhémet-Ali, người gốc Albani và nổi tiếng muốn hiện đại hóa Ai Cập theo mô hình phương Tây, để có được một trong những cột đá của đền Thoutmosis III ở Alexandria.
            Đến năm 1828, nam tước Isidore Taylor (1789-1879), cố vấn của hoàng đế Charles X (1824-1830), tiếp tục cuộc thương lượng. Trong thư gửi vua Ai Cập, nam tước Taylor cho rằng “Paris, dù có những lâu đài và quảng trường nhưng vẫn chưa đạt đến vẻ lộng lẫy huy hoàng mà Roma có được. Ở đây, người ta không thấy bất kỳ một cột đá nào được chuyển từ Ai Cập về châu Âu”.
            Tuy nhiên, nhà Ai Cập học Jean-François Champollion lại không ủng hộ lựa chọn cột đá ở Alexandria mà đề xuất với vua Charles X (ngày 04/07/1829) chọn hai cột Luxor, ít bị hư hỏng hơn và được trang trí nhiều chữ tượng hình hơn. Champollion thuyết phục phó vương Ai Cập Méhémet-Ali tặng nước Anh một cột đá Alexandria và một cột khác ở đền Karnak mà ông biết rõ là không thể chuyển được về châu Âu.


Quảng trường Concorde khoảng năm 1900 (bưu thiếp)

Hành trình 2 năm 9 tháng từ Luxor đến Paris
            Tháng 11/1829, Ủy ban Nghiên cứu Vận chuyển các cột đá Ai Cập về Pháp được thành lập và do bộ Hải Quân chỉ huy. Theo báo cáo Miêu tả các tháp đá Louqsor trên quảng trường Concorde và Invalides,(1) công việc đầu tiên là đóng một con tầu lớn có sàn phẳng, đủ rộng để có thể chở được hai cột đá theo dự kiến. Ngoài ra, độ sâu của con tầu phải đủ để di chuyển được ngoài biển song cũng có thể xuôi ngược trên dòng sông Nil và sông Seine.
            Sau khi bác đề án năm 1829 của một sĩ quan Hải Quân Pháp kiêm giám đốc xưởng đóng tầu Alexandria, Ủy ban quyết định đóng một tầu vận tải chuyên biệt tại cảng Toulon (miền nam Pháp) theo thiết kế của kỹ sư Rolland (1769-1837) và đặt tên là “Luxor”. Để phân bổ đều trọng lượng của các cột đá, tầu Luxor gồm 5 khoang, dài 42 mét và rộng 9 mét. Ba cột buồm có thể hạ được để phủ bạt chống nóng tại Ai Cập và tránh những cây cầu bắc qua sông Seine ở Paris. Quá trình hạ và vận chuyển cột đá được giao cho kỹ sư Hàng Hải Apollinaire Lebas (1797-1873).
            Chở đầy lương thực và dụng cụ, con tầu xuất phát từ cảng Toulon ngày 15/04/1831 với 121 thủy thủ đoàn và cập cảng Alexandria ngày 03/05. Vẫn theo tập Miêu tả các tháp đá Louqsor trên quảng trường Concorde và Invalides, khó khăn thực sự chỉ bắt đầu khi con tầu ngược dòng sông Nil: phải mất 50 giờ mới đi được một hải lý (hơn 5,5 km) dưới cái nóng 38 độ Réaumur (khoảng 47,5 độ C). Cuối cùng, con tầu cũng đến được khu đền cổ ngày 14/08/1831. Suốt tháng Chín, thủy thủ đoàn xây cơ sở hạ tầng cho đoàn làm việc: lán trại, bếp, cối xay, vườn rau với hạt giống mang từ Pháp và bệnh viện dã chiến vì đúng lúc dịch tả hoành hành.
            Không thể chở cả hai cột đá về Pháp, kỹ sư Lebas quyết định chọn cây cột hướng tây, nhỏ hơn nhưng có tình trạng tốt hơn và dễ vận chuyển hơn. Ngày 31/10/1831, cột đá được hạ xuống nhờ hai hệ thống tời đứng và cần cẩu pa lăng cùng với 200 nhân lực. Ngay hôm sau, tháp được chuyển xuống tầu Luxor. Thủy thủ đoàn cắt phần đầu tầu và mất khoảng 1 giờ 30 để đẩy tháp lên, sau đó đóng lại như cũ. Công việc hoàn thành ngày 25/12/1831 nhưng mất 8 tháng chờ nước sông lên. Cập cảng Alexandria ngày 02/01/1833, tận ba tháng sau, tầu Luxor mới bắt đầu hành trình vượt Địa Trung Hải và được móc vào tầu Sphinx chạy bằng hơi nước.
            Đến cảng Le Havre, tầu Luxor tiếp tục cuộc hành trình trên sông Seine do một tầu hơi nước nhỏ kéo thay tầu Sphinx. Khi đến bến Concorde vào tháng 08/1834, cột Obélisque được đặt trên bờ. Phải hai năm sau, cột đá mới được chính thức dựng trên quảng trường Concorde. Người ta phải sử dụng đến 14, rồi 28 con ngựa để kéo cột đá đến trung tâm. Một con dốc dài 120 mét được dựng lên để kéo tháp lên bệ.


Dựng cột Obélisque Luxor trên quảng trường Concorde ngày 25/10/1836.
Tranh mầu nước 1837. Bảo tàng Hải Quân Quốc Gia Pháp

            Ngày 25/10/1836, khoảng 100 nhạc công chơi bản Les mystères d’Isis (tạm dịch: Những bí ẩn của nữ thần Isis) của Mozart cùng với ánh mắt hiếu kỳ của khoảng 200.000 người đổ về quảng trường. Vào lúc 11 giờ 30, 350 pháo binh được phân công vào 10 chiếc tời để kéo dựng cột Luxor. Không xuất hiện trước công chúng, vua Louis-Philippe I và hoàng tộc theo dõi từ Hôtel de la Marine sự kiện hiếm có này, vừa vì lý do an toàn, vừa sợ bị thất bại. Đến 14 giờ 30, cột đá đứng vững trên bệ và lá cờ Pháp phấp phới trên đỉnh tháp. Chứng kiến cảnh này, vua Louis-Philippe I ra hiệu cho người dân hoan hô, lúc đó vẫn còn đang nín thở theo dõi.
            Dù không dựng tượng mình giữa quảng trường như những triều đại khác, hình ảnh vua Louis-Philippe I luôn gắn liền với biểu tượng Obélisque giữa quảng trường Concorde. Năm 1839, một bản tóm tắt quá trình vận chuyển, tên những nhân vật chính tham gia… được khắc dưới chân tháp. Kiến trúc sư Hittorff tiếp tục quy hoạch quảng trường với hai đài phun nước lớn, 8 bức tượng đại diện các thành phố lớn của Pháp, 18 cột đèn trang trí hình mũi tầu chiến.
            Đến năm 1937, cột đá Luxor được xếp hạng di tích Lịch Sử. Năm 1981, chính phủ Pháp chính thức trả lại cho Ai Cập cột đá thứ hai được tặng, và vẫn ở nguyên trước đền Luxor. Năm 1998, theo đề xuất của nhà Ai Cập học Christiane Desrochers-Noblecourt, cột Obélisque được dựng thêm phần chóp, hình kim tự tháp, được làm bằng đồng và mạ vàng, theo đúng truyền thống cổ đại. Ngày nay, cứ vào ngày 14/07 hàng năm, dưới chân Obélisque là khán đài của tổng thống, chính phủ và quan khách để tham dự lễ diễu binh chào mừng Quốc Khánh Pháp.


THU HẰNG
Tháng 5/2017

_________________________________
(1) Alexandre de Laborde, Description des obélisques de Louqsor figurés sur les places de la Concorde et des Invalides (Miêu tả các tháp đá Louqsor trên quảng trường Concorde và Invalides), Paris: Chez Bohaire, 1833.


http://vi.rfi.fr/phap/20170519-cot-da-obelisque-bieu-tuong-suc-manh-tren-quang-truong-concorde-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #119 vào: 21/04/2018, 23:20:41 »
Báo cũ, Sáng Tạo 60 năm trước

Cầm trên tay tờ tạp chí đã cầm đã đọc 60 năm trước, trong tôi một ngày đầu năm dương lịch 2017, có lác đác vài giọt mưa thưa thớt hiếm hoi của Little Saigon ở Nam California, là một trời sũng mưa của Sài Gòn 1957, một mình trong áo mưa đứng trước một sạp báo bên lề đường, hay một mình trên chiếc velo-solex chạy băng băng trên đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, lòng ngổn ngang những nỗi bâng khuâng đơn lẻ đang đi kiếm bạn tâm giao.

Sáng Tạo số 8, Tháng Năm, 1957, 60 năm trước với ba bài thơ hay; và bên cạnh là mục lục Sáng Tạo số 11

1.– Hồi ấy người bạn ngồi quán thân nhất của tôi là Hoán, em ruột họa sĩ Phạm Tăng nổi tiếng trên tờ Bách Khoa, Hoán vẽ đẹp không thua anh, tiếc thay đã không bao giờ đi theo nghiệp vẽ, đậu tú tài xong theo học Sư Phạm, và trở thành một nhà giáo chuyên nghiệp, song tôi tin anh chỉ là nhà giáo vì việc mưu sinh, con người ấy không sinh ra để chỉ sống giữa bốn bức tường lớp học. Thế mà hình như tôi đã sai, người tôi tin sẽ là một họa sĩ tài ba lại chẳng bao giờ là họa sĩ, trừ thời gian ngắn ngủi anh trình bày minh họa cho tạp chí Văn Chương của nhóm Joseph Huỳnh Văn, Phạm Kiều Tùng, Nguyễn Tường Giang. Còn tôi trái lại, lăn vào đời, mài miệt với bút mực, không thiết cái gì khác, sáng mê báo sáng tin tức nóng hổi, chiều mê báo chiều tin tức mới hơn, đọc và đọc, không biết đọc để làm gì, nhưng đọc trước hết để thấy để biết có cái gì mới hơn vừa xảy ra. Hôm nay đọc chưa hết báo hôm nay thì sáng mai lại có báo kế tiếp, báo chẳng bao giờ ngừng ra nên tôi chẳng bao giờ ngừng đọc, thú vị biết bao khi ta có được thứ chẳng bao giờ hết?

2.– Mấy hôm nay đầu năm dương lịch, lòng tôi trống vắng từ nửa tháng qua khi xuống máy bay ở phi trường Dulles, IAD, trở về vùng tam biên Hoa Thịnh Đốn 14 ngày, thì 3 ngày đầu Virginia lạnh có lúc tới 20 độ, không ra tới đường, bấm điện thoại cho các bạn cũ, không thấy một ai. Bạn Cao Thế Dung gan thật, gọi mãi không nghe. Thanh Hà thổi sáo cũng thế, (hôm sau mới biết Hà về Việt Nam ở lại, mà qua đời cũng hai ba tháng rồi). Trong 9 ngày liền chỉ gặp hai người bạn tị nạn năm xưa, ra phố được hai buổi, bằng hữu cũ tiêu sơ, đúng ra là hoang vắng. Đầu năm Đinh Cường ra đi, cuối năm Nguyễn Ngọc Bích lên trời rồi không bước xuống nữa. À còn Đào Trường Phúc, gọi mới hay tuần báo Phố Nhỏ mới đóng cửa, chàng ký giả trẻ (trẻ có nghĩa là lớp sau, chứ cũng cỡ hơn sáu mươi rồi). Bây giờ người bạn trẻ có nghề mới: làm thông dịch viên Tòa Án. Thế là lớp làm báo vùng tam biên nơi tôi khởi sự năm 1975 với các tờ Lửa Việt, Đuốc Tuệ, Thời Tập nay không còn ai là người cũ theo nghề báo nữa, sau 42 năm. Đi sớm nhất là Linh Mục Trương Duy Nhất của tờ Việt Chiến, rồi nhà thơ Nguyễn Đức Vinh chủ xướng thơ Phi Thi, rồi Giang Hữu Tuyên của Hoa Thịnh Đốn Việt Báo, còn quá trẻ; rồi Hồ Anh Nguyễn Thanh Hoàng của Văn Nghệ Tiền Phong (tờ báo mà hai nhân viên bị bắn chết vì bị thanh toán – trong có một ký giả và một chỉ là người sửa bài) – còn Chử Bá Anh của tờ Phụ Nữ đột sinh đột tử; đến Ngô Vương Toại, cũng còn quá trẻ; rồi Văn Uyển của Trần Nghi Hoàng đã dọn lên gần New York…
            Ngôi nhà tôi cư ngụ ít ngày ở Virginia lại không có internet, thành ra sự liên lạc bị cắt đứt, cũng may cửa sau nhìn thẳng ra Hồ Ngỗng Trời, nhờ đó tôi có cái thú đếm xem buổi sáng trong cái hồ bên Jaguar Trail ấy có mấy chục con, sao buổi chiều chỉ còn lác đác, chúng bay đi đâu, hay chui vào hang hốc ven hồ. Không có bạn văn nghệ báo chí, cũng may còn một hai bạn 75, bạn Mai Thọ lái bà già L.19, bạn Cảnh đầu bò trực thăng võ trang… Dù sao, đó là những ngày cho tôi thấy rõ, như một nhan đề tiểu thuyết của Ngọc Linh: “Tới một tuổi nào…” Đúng thế, tới một tuổi nào, lẳng lặng và bất ngờ, tất cả lịm đi mất tăm mất tích. Cũng đến lúc đứng trước tủ sách, đi tìm những gáy sách cũ nhất, những tập báo vàng ố nhất, tìm lại người xưa, bóng cũ, để thấy thật sự ai còn ai mất, ai đã mất mà vẫn còn, ai vẫn còn mà thực sự đã mất. Nhớ một lời nhạc hình như là của Y Vân: “60 năm cuộc đời…”

3.– Mấy tờ Sáng Tạo trong năm 1957 còn rất hiền hòa, tác giả nửa này nửa kia, chưa phải tất cả đều đã “đứng về phía những cái mới” như lời hô hào của Mai Thảo sau này. Trên tờ số 8 tháng 5.1957 bên bài thơ tự do “Bài ngợi ca tình yêu” của Thanh Tâm Tuyền còn cái đoản văn mở đầu “Bích Hà mến” của Tô Kiều Ngân; nhưng tờ báo trông đã đẹp, sáng sủa và gọn gàng, chững chạc, bài vở đa diện với các tác giả tên tuổi: Duy Thanh bàn về hội họa, Nguyên Sa nói về triết, truyện ngắn của Vĩnh Lộc, Lý Hoàng Phong, thơ của Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng, Nguyễn Sỹ Tế viết biên khảo văn học và Thanh Nam đọc sách mới của Doãn Quốc Sỹ. Báo còn mỏng, có 56 trang, song không tẻ vì thứ gì cũng có, tin tức, phê bình, viết ngắn viết dài, thư tín trả lời bạn đọc, quảng cáo sách… bên cạnh những sáng tác nhận định đã kể ở trên.
            Cũ như thế, cũ đã 60 năm, song thơ văn của nó cho tới giờ vẫn không cũ. Những gì gọi là sáng tác – chữ nghĩa nẩy sinh từ những cây bút ý thức, viết từ sự khổ công tra vấn tìm tòi, sẽ còn mới mãi vì những chữ chủ yếu trong ấy là do các tác giả dùng theo sự xếp đặt, cấu trúc riêng của bài thơ câu văn của họ, sẽ không ai có thể dùng lại được giống như họ. Có những bài thơ trong số báo này đã trở thành những bài thơ của văn học Việt Nam thế kỷ XX.

                                    Bài ngợi ca tình yêu
                        ĐEN
                        Một người da đen một khúc hát đen
                        Bầu trời đen sâu không cùng
                        Những giòng nước mắt
                        Xé nát thân thể bằng tiếng kèn đồng
                        Bằng giọng của máu của tủy của hờn bắt đầu ngày tháng
                        Giữa rừng không lối rừng mãi trống không
                        Ném mình ném đám đông vào trần truồng tủi cực hơn xác thịt
                        Tan vỡ hôm qua hôm nay kể gì ngày mai.

                        (Thanh Tâm Tuyền, Sáng Tạo số 8, 5.1957, trang 48)

            Nhan đề “Bài ngợi ca tình yêu” do Thanh Tâm Tuyền đặt ra, trong có nhiều khúc, mà khúc trên có ghi ở đầu bài chữ ĐEN (viết hoa), có những câu nhiều người thuộc lòng. Bài thơ nhắc đến điệu kèn nhạc Blues của người da đen: “Vì Blues không xanh vì điệu blues đen.” Lúc này thi phẩm đầu tay của ông, “Tôi không còn cô độc” mới xuất bản được vài tháng (1956). Tên ông còn mới tinh trên văn đàn miền Nam. Cũng còn mới tinh là bài thơ và bút hiệu Tô Thùy Yên dưới đây, xuất hiện ở trang 10 trong cùng số báo:

                                    Tôi lên tiếng
                        Tôi gật đầu trước mặt ái tình
                        Như một loài cỏ ngoan vâng lời gió dạy
                        Kìa máu chảy ngoài đường
                        Kìa máu chảy
                        Tôi ra giữa công trường cất tiếng kêu oan
                        Nhân loại ngây thơ đời đời chịu tội
                        Sắt đỏ cày nhăn trán mịn màng
                        Lúa đầy đồng người gặt thiếu ăn
                        Chúng nó đòi thủ tiêu thi sĩ
                        Tôi là thi sĩ tôi yêu
                        Chúng ta góp tay đẩy đời đi tròn.

                        (Tô Thùy Yên, Sáng Tạo số 8, 5.1957, trang 10)

            Và ở hai trang trước, cũng cùng số báo, là một bài thơ và người thơ sau này đều cùng nổi tiếng bên nhau, gần nhau, trở thành ba thi sĩ thơ tự do trong văn học sử Việt Nam suốt 60 năm qua:

                                    Tôi sẽ bỏ đi rất xa
                        Tôi sẽ bỏ đi rất xa thành phố
                        Có những bờ hè
                        Và những người gặp nhau buổi sáng thứ hai
                        Không cười với nhau một lần
                        Không nói với nhau lấy một câu
                        Người con gái áo tím đã trả lời: không có thì giờ!

                        Phải người con gái đã trả lời: không có thì giờ!
                        Và tôi không dám góp ý kiến
                        Vào chuyện người ta
                        Nhưng lòng tôi thầm hỏi:
                        Như một người bơ vơ
                        Hỏi một người bơ vơ
                        Có những người yêu nhau không có thì giờ
                        Chim lấy đâu mà về tổ
                        Tôi lấy đâu mà làm thơ
                        Em lấy đâu mà đọc những bài thơ sắp viết.

                        (Nguyên Sa, Sáng Tạo số 8, 5.1957, trang 8)

            Chỉ một số báo, Sáng Tạo số Tháng Năm, 1957, 60 năm trước, chúng ta có ba bài thơ như thế, ba thi sĩ như thế, tạp chí như thế mới là tạp chí văn chương. Và văn chương như thế mới gọi là văn chương sáng tạo. Khi tôi viết những dòng này, hai người trong số trên đã ra đi, chỉ còn Tô Thùy Yên ở Houston, nhưng không thấy lên tiếng gì nữa.*


VIÊN LINH
Tháng 1/2017

_______________________________________________
(*) Tòa soạn Sáng Tạo trước sau chỉ có hai người: Mai Thảo và Đặng Lê Kim, như ghi trong ô vuông trong hình trên ở trang bìa 3 tờ báo. Sau này ở Sài Gòn có người tự nhận là thư ký tòa soạn Sáng Tạo, điều đó không đúng. Ông quản lý Đặng Lê Kim hiện ở Úc, có qua thăm gia đình ở California, có ghé thăm tôi ở tòa báo, ông có thể xác nhận điều này. (3 Tháng Giêng, 2017).


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/bao-cu-sang-tao-60-nam-truoc/

 
The following users thanked this post: tnghia