Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 9475 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #120 vào: 24/04/2018, 23:47:56 »
Tháp Eiffel: Từ bà đầm thép bị chế nhạo tới biểu tượng của Paris

Tháp Eiffel là địa điểm không thể bỏ qua của bất kỳ du khách nào tới Paris. Là biểu tượng của nước Pháp và là địa điểm du lịch được thăm quan nhiều nhất thế giới, “Bà đầm thép” đã đón gần 250 triệu lượt khách từ khi được khánh thành vào năm 1889.

Tháp Eiffel về đêm

CAO 324 mét, (trong đó có 24 mét cột ăng-ten), tháp Eiffel rất dễ nhận ra từ nhiều địa điểm trong thành phố. Quảng trường Con Người (Parvis de l’Homme, lối ra từ bến tầu điện ngầm Trocadéro) là vị trí đẹp nhất có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh tháp. Khi màn đêm buông xuống, tháp Eiffel lung linh trong ánh đèn vàng và rực rỡ với những tia sáng nhấp nháy kéo dài khoảng 5 phút đầu tiên mỗi giờ.
            Dù mang tên Eiffel, nhưng bà đầm thép cao 312 mét (12 mét cột cờ) không phải do kiến trúc sư nổi tiếng Gustave Eiffel (1832-1923) thiết kế, mà là tác phẩm của hai kỹ sư cộng sự thân tín Emile Nouguier, Maurice Koechlin và kiến trúc sư Stephen Sauvestre tại công ty Levallois-Perret (ngoại ô Paris). Được Gustave Eiffel thành lập năm 1867, công ty Eiffel & Cie hoạt động dưới hình thức công ty góp vốn từ năm 1868 đến 1879, trước khi thuộc quyền sở hữu của Gustave Eiffel cho tới năm 1890, dưới tên gọi công ty xây dựng Levallois-Perret.
            Trong bản Báo cáo chung (Rapport général), ông Alfred Picard, tổng thanh tra cầu đường kiêm Chủ tịch công trình tại Hội Đồng Nhà Nước, tóm lược những lợi ích của dự án: “Trong suy nghĩ của ông Eiffel, công trình đồ sộ trên sẽ trở thành biểu tượng huy hoàng cho sức mạnh của nền công nghiệp Pháp, chứng minh những tiến bộ vượt bậc trong nghệ thuật kết cấu kim loại, ca ngợi sự thăng hoa chưa từng có của ngành xây dựng trong suốt thế kỷ này, thu hút đông đảo khách thăm quan và đóng góp vào thành công cho các buổi gặp gỡ hòa bình được tổ chức nhân 100 năm kỷ niệm nền Cộng hòa 1789”.
            Gustave Eiffel tin chắc công trình độc đáo này sẽ nổi tiếng khắp thế giới và thu hút du khách vì họ có thể ngắm toàn cảnh Paris và vùng ngoại ô từ trên đỉnh tháp mà không hề nguy hiểm tới tính mạng. Ông viết: “Dưới chân mình, du khách sẽ nhìn thấy thành phố rộng lớn với những công trình kiến trúc, đại lộ, tháp chuông và mái vòm hay dòng sông Seine nên thơ chảy quanh như một dải lụa bạc. Xa hơn nữa là những ngọn đồi tạo thành một vành đai xanh mướt, và phía trên những ngọn đồi là chân trời trải dài tới 180 km” (La Tour Eiffel en 1900 (Tháp Eiffel năm 1900), Paris: Masson et Cie, Editeurs, 1902).
            Ngoài những lợi ích kể trên, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, ngọn tháp hoàn toàn có thể trở thành đài quan sát hoạt động của kẻ địch từ trong vòng bán kính 70 km. Cuối cùng, tháp còn có thể trở thành trạm khí tượng thủy văn và thông tin điện báo giữa lòng Paris: sóng radio từ Tháp nối với điện Panthéon được kết nối ngay năm 1898, trạm radio quân sự được thành lập năm 1903, đài phát thanh công cộng đầu tiên vào năm 1925, sau đó là sóng truyền hình và cho đến nay là truyền hình TNT.
            Ngày 08/01/1887, Bộ trưởng Thương Mại và Công Nghiệp Ed. Lockroy, phụ trách giám sát cuộc triển lãm, và ông Poubelle, tỉnh trưởng tỉnh Seine (sau này là tỉnh Paris năm 1968, trước khi trở thành một tỉnh của vùng Ile de France được hình thành năm 1977), đã ký hợp đồng với Gustave Eiffel để xây dựng một tòa tháp cao 300 mét với điều kiện phải được khai thác vào đúng dịp khai mạc Triển Lãm Hoàn Cầu 1889.
            Tới lúc hoàn thiện, tổng chi phí xây dựng tháp là 7.799.401,31 franc, trong đó có 1.500.000 franc là kinh phí dự trù xây cổng chào dẫn vào triển lãm được ủy ban quản lý triển lãm giao thành ba đợt với khoản cuối cùng được thanh toán khi bàn giao công trình. Riêng năm 1889, tháp đã thu hút 1.968.287 lượt khách và thu về 5.919.884 franc.
            Công ty Levallois-Perret được phép khai thác tòa tháp trong suốt thời gian diễn ra cuộc triển lãm và trong vòng 20 năm tính từ ngày 01/01/1890: bán vé đi thang máy tới tầng thứ nhất (2 franc ngày thường và 0,50 franc ngày chủ nhật và nghỉ lễ) và tới đỉnh tháp (5 franc ngày thường và 2 franc ngày chủ nhật và lễ), xây dựng và khai thác nhà hàng, quán cafe tại các tầng... Sau thời hạn này, công trình sẽ được giao cho thành phố Paris quản lý và khai thác.


Tháp Eiffel vào mùa xuân

Giới văn nghệ sĩ Pháp ghét tòa tháp 300 mét
            Năm 1887, giới văn nghệ sĩ Paris kịch liệt phản đối dự án ngay trong giai đoạn phôi thai. Ý kiến phẫn nộ của họ được thể hiện rõ trong một bức thư chung gửi tới ban quản lý:

            “Nhân danh thị hiếu nghệ thuật đặc trưng của Pháp, nhân danh nền nghệ thuật và lịch sử Pháp đang bị đe dọa, chúng tôi – những nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ điêu khắc, kiến trúc sư, những người yêu vẻ đẹp nguyên vẹn của Paris cho tới nay – kịch liệt phản đối việc xây dựng tháp Eiffel khổng lồ và vô ích ngay giữa trung tâm thủ đô…
            Chỉ cần hình dung một ngọn tháp nực cười sừng sững giữa Paris, giống như một ống khói nhà máy màu đen khổng lồ, nhấn chìm Nhà Thờ Đức Bà, tháp Sainte-Chapelle, bảo tàng Louvre, mái vòm điện Invalides, Khải Hoàn Môn. Mọi công trình của chúng ta bị bôi nhọ, bị thu nhỏ và biến mất trong giấc mộng kinh hoàng này...”


            Ngoài giới văn nghệ sĩ, còn rất nhiều ý kiến phản đối khác vì cho rằng công trình này là bất khả thi; dự án sẽ không tìm được lực lượng nhân công có thể làm việc ở độ cao như vậy. Dù có thành công “trên giấy”, công trình cốt thép sẽ không thể chống chọi được với sức gió và chắc chắn các thanh kim loại sẽ lắc lư trong gió. Tuy nhiên, đây không phải là điểm mà kỹ sư Eiffel bận tâm vì thép là vật liệu có sức bền cao. Hơn nữa, ngành khoa học sức bền vật liệu đã đạt tới trình độ cao cho phép tính toán chính xác sức bền và điểm ứng lực của công trình.
            Sau nhiều lần thảo luận, địa điểm cuối cùng được lựa chọn để xây tháp là khu vực giữa Champs de Mars (nơi diễn ra Triển Lãm Hoàn Cầu) và quảng trường Trocadéro.


Tháp Eiffel vào mùa xuân

Tháp Eiffel và những con số
            Trong cuốn Tháp Eiffel năm 1900, Gustave Eiffel cho biết tháp được chia thành ba tầng: tầng thứ nhất cao 57,63 mét, tầng thứ hai cao 115,73 mét và tầng cuối cùng là 276,13 mét. Tính thêm gác bao quanh ở bên trên tháp cùng với khu vực chứa đèn, ngọn tháp cao 300,51 mét so với mặt đất (chưa tính ngọn ăng-ten cao 24 mét hiện nay). Khu vực ở giữa tầng ba được Gustave Eiffel dành riêng để làm phòng nghiên cứu và một phòng tiếp khách với lối bài trí được các nhà khoa học thời đó ưa chuộng. Tường được dán giấy có mầu sắc ấm cúng, đồ dùng bằng gỗ và một chiếc đàn dương cầm tạo thêm không khí thoải mãi, thư giãn.
            Bốn chân tháp được đánh số theo thứ tự gần sông Seine: trụ số 1 được gọi là Bắc – Nord, các trụ còn lại được đánh số theo chiều kim đồng hồ, lần lượt là Đông – Est (trụ số 2), Nam – Sud (trụ số 3) và Tây – Ouest (trụ số 4). Tại mỗi trụ đều có hệ thống thang máy đi từ mặt đất lên tới tầng hai, riêng trụ Nam có hai chiếc: một chiếc dành riêng cho khách của nhà hàng sang trọng Jules Vernes, chiếc thứ hai dùng để chở hàng hóa. Từ tầng hai lên trên đỉnh tháp là hai thang máy hai buồng và du khách không còn phải dừng ở giữa và đổi thang máy như trong những năm 1900. Vào thời điểm này, để đi từ mặt đất lên tầng hai, tháp Eiffel chỉ có hai thang máy thủy lực được lắp ở trụ Đông (số 2) và Tây (số 4).



            Thang máy là bộ phận quan trọng của công trình. Mỗi năm, tổng số lần lên xuống của toàn bộ hệ thống thang máy tương đương với chặng đường dài 103.000 km, gấp 2,5 lần vòng quanh Trái Đất. Nhưng bên cạnh đó, còn có hệ thống thang bộ với tổng số bậc ban đầu là 1710 bậc (trong đó có 125 bậc để đi từ tầng ba tới đỉnh cột cờ vào thời kỳ đó), song hiện nay chỉ còn 1665 bậc. Tuy nhiên, cầu thang bộ từ tầng hai lên tới đỉnh tháp không được mở cho công chúng.
            Từ mặt đất lên tầng một, thang bộ dành cho chiều đi lên được lắp ở trụ số 2 – Đông và 4 – Tây; cầu thang ở trụ Nam dành cho chiều đi xuống. Còn từ tầng một lên tầng hai là bốn cầu thang bộ khác được lắp ở mỗi chân tháp: hai chiều đi lên và hai chiều đi xuống.


Tháp Eiffel sáng rực về đêm

            Khởi công ngày 26/01/1887, tháp Eiffel được khánh thành vào ngày 31/03/1889. Nhân dịp này, Gustave Eiffel đã trèo 1710 bậc thang từ mặt đất lên cắm quốc kỳ Pháp trên đỉnh tháp. Tháp Eiffel trở thành công trình lớn nhất thế giới cho tới năm 1929, khi tòa nhà Chrysler cao 319 mét được xây dựng tại New York.
            Tổng trọng lượng của tháp là 10.100 tấn. Từ khi được khánh thành tới nay, tháp đã được sơn lại 19 lần. Trung bình cứ 7 năm, 250.000 m2 bề mặt tháp được sơn lại với kinh phí khoảng 4 triệu euro. Mỗi lần tháp Eiffel thay áo mới lại cần tới 60 tấn sơn, 25 thợ sơn chuyên nghiệp không sợ độ cao và làm việc trong vòng 18 tháng.


THU HẰNG
Tháng 5/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160513-thap-eiffel-tu-ba-dam-thep-bi-che-nhao-toi-bieu-tuong-cua-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #121 vào: 01/05/2018, 22:31:59 »
Thanh Nam đất khách, những ngày Tháng Tư

Hôm nay, 18 Tháng Tư, 2017, ngồi trước trang giấy trắng trên màn hình, từ sáng sớm tinh mơ, chỉ mới đánh mấy con số ghi ngày tháng, tôi đã thấy hiện lên khuôn mặt hình bóng người bạn văn có một thời đã thuê chung phòng khi chúng tôi còn độc thân: Thanh Nam (1931-1985).

Nhà văn Thanh Nam (1931-1985)

1.– Năm 1975, chúng tôi gặp nhau hàng ngày vào những ngày giữa Tháng Tư, có ngày gặp mấy lần, nhà anh và nhà tôi ở cùng một con đường Lý Thái Tổ gần ngã sáu Chợ Lớn, tan sở làm trước khi về nhà, tôi dừng xe trước ngõ nhà anh nói ba điều bốn chuyện trong năm mười phút, rồi mới cảm thấy yên tâm. Lúc ấy đang xuất bản tạp chí Thời Tập ra hàng tháng, song tôi vẫn làm thường trực ngày 8 tiếng cho Ðài Mẹ Việt Nam, còn vợ anh là cộng tác viên của đài, mỗi tuần gửi tới đài một bài “Câu Chuyện Phụ Nữ” đọc trong 5 phút phát thanh. Do đó, Thanh Nam và tôi cùng theo dõi các biến chuyển thời sự và bàn tính chuyện đi hay ở, chuyện nên chuyện không nên… trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn, những ngày Tháng Tư 1975.
            Có những tác giả được gọi là nhà thơ, mà trong thực tế, họ viết văn nhiều hơn làm thơ; ngược lại, có những người được gọi là nhà văn, mà tác phẩm tâm huyết hay được ưa thích của họ lại là một tập thơ, đó là trường hợp Thanh Nam: anh xuất bản và có vài chục tập tiểu thuyết in và đăng trên các báo, nhưng tập thơ Ðất Khách duy nhất của anh mới bày tỏ hết tâm tư của anh; tập thơ này lại chỉ được xuất bản ở hải ngoại vào năm 1983, hai năm trước khi Thanh Nam từ trần vào Tháng Sáu 1985.
            Mở đầu cho tập thơ là hai câu in ngay ở trang 5, tiếp theo là một bài thơ làm từ Tháng Mười Một 1975 khi đã ở Hoa Kỳ:

                        Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
                        Nghĩ đắt vô cùng giá tự do…


                                    Sương
                        Sớm nay trời đổ sương mù
                        Ðồi cao ngó xuống thấy mờ biển khơi
                        Bỗng dưng lòng thoáng bồi hồi
                        Tưởng đâu Phú Quốc đêm rời quê hương…

                        (Thanh Nam, Ðất Khách, tr. 9)

            Tưởng đâu Phú Quốc, đêm rời quê hương. Như tôi còn nhớ, cuối Tháng Ba 1975, nhân viên Ðài Mẹ Việt Nam được trao một tờ giấy với những câu hỏi, trong đó có câu đại ý “nếu tình hình chiến sự khiến đài phải di chuyển khỏi Sài Gòn, ông (bà) sẽ di chuyển theo đài hay không?” Ðây là câu hỏi quyết định, những ai trả lời sẽ di chuyển theo đài, như tôi, sau đó được liên lạc tiếp bằng cách nộp một danh sách những người trong gia đình sẽ đi theo mình. Thanh Nam không làm trong đài nhưng vợ anh là cộng tác viên của đài: Túy Hồng viết mục “Câu Chuyện Phụ Nữ.” Vào ngày 18 Tháng Tư 1975 tôi được cái hẹn sẽ di chuyển theo đài vào 9 giờ sáng 21 Tháng Tư 1975, với toàn thể gia đình 10 người của tôi như trong danh sách đã nộp. Chúng tôi hoàn toàn không rõ sẽ đi đâu, chỉ biết mình đã đồng ý rời Sài Gòn di chuyển theo đài, một khi vì tình hình, đài phải di chuyển.

2.– Chúng tôi tới điểm hẹn, bãi đậu xe ở góc đường Hiền Vương-Bà Huyện Thanh Quan, trước giờ hẹn khoảng 15 phút, không gặp ai quen. Một người mặc quân phục không rõ cấp bậc, chỉ biết có vẻ Á châu, dường như là một người Nùng, da vàng đậm, tới gặp thẳng tôi, trên tay cầm danh sách có chữ ký của tôi từ trước. Ông ta gật đầu ra vẻ chào, tôi cũng gật đầu đáp lại khi nhìn thấy bản danh sách có chữ ký của mình. Ông ta dẫn chúng tôi tới chiếc xe nhà binh Dodge 4×4 đậu bên lề đường, cả gia đình bước lên, xe chuyển bánh ngay, không có ai xa lạ khác. Xe chạy theo một chiếc motor Hadley dường như cũng do một binh sĩ người Nùng lái, chạy vào phi trường Tân Sơn Nhất qua khung cổng phía bên trái. Trước đây ra vào phi trường tôi thường đi qua khung cổng dân sự bên tay phải.
            Xe chở chúng tôi dừng lại trên một góc sân bay, cách chiếc DC 3 khoảng bốn hay năm chục thước. Từ lúc chạy tới lúc ngừng, cả xe im lặng. Chúng tôi được dẫn thẳng tới chân cầu thang của máy bay, mang theo hành lý bốn năm chiếc va-li lên máy bay với mình. Không lâu hơn mười lăm phút, chiếc DC 3 cất cánh. Tôi ngạc nhiên, nhất là khi đếm số người trên máy bay, trước gia đình tôi chỉ có 16 hành khách, cộng với gia đình tôi, chuyến bay rời Sài Gòn chỉ có 26 người, không kể phi hành đoàn. Cả máy bay không ai nói với ai, có trao đổi gì cũng chỉ nhìn nhau.
            Tôi chăm chú nhìn qua cửa kính máy bay, biết rõ lắm đây có lẽ là lần cuối cùng mình nhìn thấy thành phố thân yêu, thành phố mình đặt chân xuống khi chiếc DC 3 của quân đội Pháp rời Hải Phòng và đáp xuống Tân Sơn Nhất vào đêm Noel 1954. Giờ ra đi, 20 năm sau, rời Tân Sơn Nhất. Tôi nhìn xuống, không rời mắt những phong cảnh hiện ra phía dưới máy bay, cố ghi nhận, nhưng không nhận ra gì nữa. Không có gì quen thuộc nữa hết.
            Mấy ngày trước khi còn trong đài Mẹ Việt Nam, hôm 18 Tháng Tư 1975, nhận danh sách đã đánh máy có chữ ký của mình, tôi được dặn dò: nhớ mang theo 5 ngày lương khô. Hỏi vài người bạn đồng sở, nay tôi nhớ, các anh không còn ở đời này nữa, các anh đã đi lần lượt đi rồi, chúng tôi đã hỏi nhau: mang theo 5 ngày lương khô là thế nào? Chúng tôi hỏi nhau, cười, và lắc đầu, không ai trả lời được. Ban biên tập của chúng tôi lúc ấy có anh Nguyễn Thượng Tiến (danh sách gia đình anh khoảng 30 người!); anh Trúc Sĩ trong nhóm tạp chí Thế Kỷ Hà Nội 1950, tác giả Kẽm Trống, nay không còn nữa; anh Ch. Ph. của báo Ngôn Luận từ 1955 cả chục năm rồi không gặp; nhà văn Xuân Vũ tác giả Ðường Ði Không Ðến đã qua đời ở Austin, Texas;… Ngoài ra là các cộng tác viên chỉ gửi bài vào: có nhà văn Võ Phiến đã qua đời; có Túy Hồng ở đâu đó vùng Tây Bắc Washington state.
            Những ngày này, và cái hẹn 21 Tháng Tư năm 1975 ra bến xe để vào phi trường Tân Sơn Nhất đã là một cơn khủng hoảng cho các cộng tác viên với đài, nếu cộng tác viên ấy ngoài đời là công chức hay quân nhân. Họ đã đối đầu một cái hẹn sinh tử: ngày 21 Tháng Tư 1975 bỏ Sài Gòn ra đi, nếu anh là công chức: anh là kẻ đào nhiệm; nếu anh là quân nhân: anh là kẻ đào ngũ. Chính là vấn đề đó mà sau này tôi đoán ra tại sao chiếc DC 3 trên có gia đình tôi đã chỉ có 26 người: những người khác không tới vì họ không thể đào nhiệm hay đào ngũ vào ngày 21 Tháng Tư 1975. Buổi sáng hôm đó ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chưa đọc diễn văn từ chức trên truyền hình, mãi tối hôm đó ông mới đọc. Có thể nếu giờ hẹn là sáng hôm sau 22 Tháng Tư thì khác. Riêng tôi không có gì thay đổi vì đã giải ngũ từ năm 1972 sau khi thi hành xong nghĩa vụ quân sự. Tôi quyết định ra đi dù không giải nghĩa được rõ ràng tại sao đi theo đài phải mang theo 5 ngày lương khô. Chúng tôi (các anh Trúc Sĩ, Thượng Tiến… Thanh Nam và tôi) đã cười nói với nhau: họ gián tiếp cho mình biết rằng khoảng cách của chuyến di chuyển là 5 ngày lương khô, nếu đi đường biển: Saigon-Ðài Loan, Saigon-Subicbay; Saigon-Guam… khoảng 5 ngày lương khô là thế!
            Ðể nhớ Thanh Nam ngày cùng đi Phú Quốc, cùng lên tàu American Challenger lúc 11 giờ đêm 29 Tháng Tư 1975:
            Thơ Thanh Nam

                                    Buổi đầu
                        Tới đây mùa đã xuân hồng
                        Cây vui trổ lá, nụ mừng đơm hoa
                        Xin chào bằng hữu gần xa
                        Dẫu chưa quen biết đã là anh em
                        Ðất lành chào mộng bình yên
                        Tình Ðông nghĩa Bắc càng thêm mặn nồng
                        Ðường vui chào bước tao phùng
                        Rộn ràng phố thấp, chập cùng đồi cao
                        Ngất ngây hương vị buổi đầu
                        Say say men rượu ngọt ngào chất nho
                        Tới đây như tự bao giờ
                        Ngẫu nhiên nắng sớm, tình cờ mưa khuya
                        Tủi mừng dăm mặt cố tri
                        Tưởng xa nghìn dặm lại về một phương.
                        Ngậm ngùi câu chuyện tha hương
                        Nhìn nhau tóc đã điểm sương điểm buồn
                        Lạc trong trận đấu mê hồn
                        Còi chưa mãn cuộc, chân còn tới lui
                        Về đây chung phận chung đời
                        Chung tay tiếp lửa đẩy lùi bóng đêm
                        Thôi chào quá khứ ngủ yên
                        Những đau thương cũ vùi quên cuối trời
                        Giã từ luôn nữa nổi trôi
                        Cành tươi chim đậu, bên vui thuyền về…

                        (Seattle, 30 Tháng Tư, 1976)


VIÊN LINH
Tháng 4/2017



http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thanh-nam-dat-khach-nhung-ngay-thang-tu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #122 vào: 08/05/2018, 22:45:28 »
Nhà thờ Đức Bà Paris

Nghiêng mình thả một đồng tiền xu vào “Cột mốc số Không” trên quảng trường Nhà thờ Đức Bà, một nữ du khách người Tây Ban Nha nhắm mắt, hai bàn tay chắp trước ngực, ngước về phía mặt tiền nhà thờ nhẹ nhàng cầu nguyện.

Nhà thờ Đức Bà Paris (nhìn từ phía sông Seine)

THIẾU NỮ này chỉ là một trong khoảng 14 triệu du khách hàng năm tới thăm quan Nhà thờ Đức Bà Paris. Theo số liệu thống kê chính xác của Phòng Du lịch Paris, có tới 14.300.000 du khách tới công trình nổi tiếng này vào năm 2014, nhờ miễn phí vé vào cửa, nên nhà thờ Đức Bà đứng đầu danh sách 61 công trình văn hóa được thăm quan nhiều nhất tại thủ đô.
            Nằm trên đảo Cité, giữa lòng trung tâm lịch sử của Paris, du khách có thể khám phá Kho báu của nhà thờ Đức Bà và có chiêm ngưỡng toàn cảnh Paris từ hai ngọn tháp. Vào mùa hè hàng năm, tổ chức Cộng đồng tiếp đón tại các Khu vực nghệ thuật (gọi tắt là CASA), được Cha Alain Ponsar thành lập từ năm 1967, luôn tổ chức nhiều chương trình giới thiệu miễn phí bằng nhiều thứ tiếng để giúp du khách nước ngoài khám phá một số bí ẩn của Nhà thờ.
            Mùa hè năm nay, Thanh Thảo, một tình nguyện viên của CASA, giúp du khách và sinh viên Việt Nam, thậm chí là người Việt đang sinh sống tại Paris, có cơ hội khám phá một lần nữa vẻ đẹp và sự huyền bí của nhà thờ Đức Bà.

Gần 200 năm xây dựng nhà thờ Đức Bà Paris
            Nhà thờ Đức Bà được xây dựng vào thế kỷ XII, vào thời hoàng kim của Thiên Chúa giáo. Paris lúc đó đã trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa. Người dân Paris cần một thánh đường tương xứng với tầm quan trọng của thành phố. Năm 1163, viên đá đầu tiên của nhà thờ Đức Bà được đặt xuống. Dàn thờ Thiên chúa được quay về hướng Đông, nơi mặt trời mọc, và cũng là biểu tượng của sự phục sinh của Chúa. Mặt tiền được hoàn thành vào năm 1351. Cổng chính giữa của mặt tiền, gọi là cổng Phán xét cuối cùng, được xây quay về phía Tây, nơi mặt trời lặn và cũng là tượng trưng cho tận thế và cái chết.
            Trên mặt tiền có ba cổng, lần lượt từ trái qua phải là có cổng Đức Mẹ Đồng Trinh (le Portail de la Vierge), cổng Phán xét Cuối cùng (le Portail du Jugement dernier) và cổng Thánh Anna (le Portail Sainte-Anne). Nếu như cổng Thánh Anna nói về cuộc sống của Đức mẹ Maria và Chúa Giê-su ra đời, thì cổng Đức Mẹ Đồng Trinh nói về cái chết của Đức mẹ Maria và giây phút bà lên ngôi Nữ hoàng của Bầu trời. Ở trên cổng Đức Mẹ Đồng Trinh, chúng ta có thể nhìn thấy một bức điêu khắc nói về sự tích Adam và Eva, nhắc với con chiên về tội lỗi của tổ tiên loài người. Cái giá phải trả cho tội lỗi của loài người là lao động.
            Thời Trung cổ, hoạt động chủ yếu của người dân là nông nghiệp. Vậy nên, chúng ta có thể chiêm ngưỡng trên hai góc cổng các hoạt động nông nghiệp tương ứng với 12 tháng trong năm. Ở bên trái của cổng, chúng ta có thể thấy tượng của Thánh Denis đang cầm đầu của mình trong tay. Ông là người đã mang đạo Ki tô giáo từ Jerusalem về Paris năm 250. Và với hành động này, ông đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình. Ông bị chém đầu trên đỉnh Montmartre. Người ta kể lại rằng, sau khi bị tử hình, Thánh Denis đã cúi xuống và bưng đầu của mình lên. Ông mang đầu của mình đi khoảng 7-8 km lên phía Bắc của Paris trước khi ngã xuống. Và nơi ông ngã xuống, trở thành địa điểm xây dựng Nhà thờ Saint-Denis ngày nay.
            Ở giữa là cổng Phán xét Cuối cùng, nói về số phận của con người sau cái chết. Sau khi chết đi, con người sẽ sống lại và Chúa Giê-su sẽ phán xét xem con người có thể lên thiên đường hay xuống địa ngục. Ở giữa mái vòm trên bức điêu khắc giữa cổng, chúng ta có thể nhận thấy một bên là thiên thần còn bên kia là quỷ ác. Và nếu con người yêu chúa, thì sẽ được lên thiên đường cùng với thiên thần. Trong khi đó, nếu không tin vào Thiên chúa, con người sẽ phải xuống địa ngục.

Ba cửa sổ hình hoa hồng: ba kho báu của nhà thờ
            Bây giờ, khi mở cánh cổng ra, chúng ta có thể chiêm ngưỡng sự rộng lớn của nhà thờ Đức Bà. Ngước lên trần nhà, chúng ta có thể nhìn thấy những mái vòm cao 33 mét, được xây theo kiến trúc Gothic và hai bên nhà thờ Đức Bà có rất nhiều cửa sổ, giúp cho ánh sáng tự nhiên bên ngoài xuyên vào bên trong để chiếu sáng cả tòa nhà.
            Kiến trúc Gothic có những vòm cửa nhọn rất đặc trưng, giúp cho trọng lượng của đá được dẫn đều vào trụ thay vì tường. Nhờ đó, vai trò của tường giảm đi, nên người ta có thể phá tường và thay vào đó là các cửa sổ kính màu. Khi tiến đến cánh ngang của nhà thờ, chúng ta có thể chiêm ngưỡng được ba cửa sổ hình hoa hồng, cũng là ba kho báu của nhà thờ Đức Bà, được lắp đặt vào thời kỳ Trung cổ.
            Nhìn vào bông hồng phía Bắc, ở trung tâm là hình ảnh Đức Mẹ và Chúa hài đồng và xung quanh là các nhà tiên tri và các vua của Cựu Ước. Những nhân vật này có mặt trên những cánh hoa ở xung quanh tâm của hoa hồng, ánh nhìn của họ hướng về Đức Mẹ và Chúa hài đồng. Bởi vì sự giáng trần của Chúa là điều họ đã tiên đoán và trông đợi bấy lâu nay.
            Sau Cựu Ước là Tân Ước, đối diện với bông hồng phía Bắc là bông hồng phía Nam. Trên bông hồng phía Nam, chúng ta có thể nhìn thấy Chúa Giê-su ở tâm và xung quanh là 12 môn đồ cùng với các vị Thánh. Dĩ nhiên, tất cả những nhân vật này đều thuộc Tân Ước. Con số 12 được lặp đi lặp lại trong các vòng cánh hoa. Vì sao? Bởi vì con số 12 tượng trưng cho 12 môn đồ, tượng trưng cho 12 dân tộc Israel. 12 cũng là “3 nhân 4”: “3” như Cha, Con và các vị thánh thần; “4” là bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc, là bốn người phát ngôn, bốn cạnh của một hình vuông và hình vuông là tượng trưng cho Trái đất.
            Bông hồng phía Tây, đối diện với bàn thờ, bị đàn orgue che khuất một phần. Bông hồng này nói về chủ đề lao động, bởi vì lao động vừa là sự nguyền rủa của Thiên Chúa, vừa là nhiệm vụ của loài người. Vì vậy, trên bông hồng này, chúng ta có thể thấy 12 cung hoàng đạo tượng trưng cho 12 tháng trong năm, cũng như những hoạt động tương ứng với mỗi tháng trong năm.
            Bây giờ, khi hướng ánh nhìn về phía giàn thờ, chúng ta có thể quan sát thấy hai mảnh còn sót lại của một bức tường từ thời Trung cổ bao quanh giàn thờ. Những bức tường này có vai trò bảo vệ cho các Cha khỏi cái lạnh, cũng như âm thanh từ các con chiên ở trên hành lang. Và khi xây bức tường này, các Cha cũng mong muốn rằng đây là nơi giảng kinh thánh. Vì vậy, chúng ta có thể nhìn thấy trên bức tường những bức điêu khắc phác lại những sự kiện chính trong kinh thánh. Phải hình dung ra rằng, ngày trước, các con chiên và các Cha bị ngăn cách bởi một bức tường chắn. Sau quyết định của Concile de Trente (Hội đồng Ba mươi) vào thế kỷ XV, người ta đã phá bỏ phần bức tường ngăn cách giữa giàn thờ và khán đài, bởi vì bức tường này ngăn chặn sự tiếp xúc giữa các Cha và con chiên.
            Nhìn vào những bức điêu khắc này, chúng ta có cảm giác chúng được làm bằng gỗ, nhưng thực ra đây là những bức điêu khắc bằng đá. Chúng còn tồn tại được đến ngày nay là vì, vào thế kỷ XVIII, do kiến trúc Gothic bị coi là lỗi thời, nên người ta đã trát đất để che phủ những bức tượng này. Cho tới thế kỷ XIX, kiến trúc sư Viollet-le-Duc, người phụ trách quá trình trùng tu nhà thờ Đức Bà, đã phát hiện ra những bức tranh tường này và nhờ đó, ông đã cứu sống và tu sửa lại để chúng có thể tồn tại được tới ngày nay.
            Đi bộ ra phía sau giàn thờ, chúng ta có thể chiêm ngưỡng được vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su ở trong một hộp bằng kính màu đỏ. Vòng nguyệt quế là vương miện mà quân lính đã đặt lên đầu ngài trước khi bị đưa lên cây thánh giá. Bởi vì, như chúng ta đã biết, Chúa Giê-su là vua của người Do Thái. Và đặt vòng nguyệt quế lên đầu chúa Giê-su là biểu hiện của sự khinh bỉ.
            Vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su bắt đầu được các con chiên đến viếng thăm từ thế kỷ thứ IV tại Jerusalem. Sau này, giữa thế kỷ thứ VII và thế kỷ thứ X, vòng nguyệt quế được chuyển từ Jerusalem tới Constantinople (Istanbul ngày nay). Sau đó, vòng nguyệt quế lại rơi vào tay các Hoàng đế Byzantine. Những vị vua này gặp khó khăn về tiền bạc, nên họ đã bán vòng nguyệt quế cho một nhà buôn ở Venice (Ý). Vào thế kỷ XIV, vua Louis IX đã mua lại vòng nguyệt quế từ tay nhà buôn trên, với giá 135.000 franc. Vua Louis IX đã mang vòng nguyệt quế về Pháp và xây dựng nhà thờ Sainte-Chapelle để bảo vệ vòng nguyệt quế, cùng với một số linh vật khác của Chúa Giê-su. Vòng nguyệt quế được bảo quản ở Sainte-Chapelle cho đến cuộc Cách mạng Pháp vào năm 1789.
            Vào năm này, vua Louis XVI đã chuyển vòng nguyệt quế từ Sainte-Chapelle lên nhà thờ Saint-Denis ở phía Bắc Paris, sau đó lại chuyển về Thư viện Quốc gia Pháp. Năm 1801, Napoléon I ký kết hiệp ước giữa Nhà nước và Giáo hội. Hòa bình trở lại, Napoléon I trao trả vòng nguyệt quế cho nhà thờ Đức Bà và nhà thờ bảo vệ vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su từ năm 1801 cho tới nay. Mỗi thứ Sáu đầu tháng, các con chiên từ khắp nơi về nhà thờ Đức Bà để viếng vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su cùng với một cây đinh và một mảnh của cây thánh giá thật.


THU HẰNG
Tháng 10/2015


http://vi.rfi.fr/phap/20151023-nha-tho-duc-ba-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #123 vào: 15/05/2018, 23:56:58 »
Ngọc Lan, 15 năm tiếng hát về trời

Ngày này, 15 năm trước (06/03/2001), làng âm nhạc Việt Nam chia tay một người con gái với tiếng hát được biết đến như một hiện tượng của văn nghệ Việt Nam đầu thập niên 90. Cô ra đi để lại nhiều giai thoại về những ngày cuối đời của mình.

Ca sĩ Ngọc Lan – một hiện tượng của văn nghệ Việt Nam đầu thập niên 90

ĐÓ LÀ Ngọc Lan, người ca sĩ với gương mặt khả ái và tiếng hát nhẹ như sương.
            Cát Linh mời quí vị quay về những ca khúc đã mang cô đến với khán giả Việt Nam, nghe lại chính những lời tâm sự của cô trong những ngày chưa rời xa thế giới này, cùng những kỷ niệm trong thời gian làm việc với cô do ông Trần Thăng, giám đốc trung tâm ca nhạc Mây Production kể lại.

                        “Mưa buồn mãi rơi trên biển xưa âm thầm
                         Ôi biển vắng đêm nao tình trao êm đềm
                         Cơn sóng nào khơi lên nỗi đau trong em bao nhiêu chiều
                         Lang thang một mình…

                         (Mưa trên biển vắng)

Ngọc Lan rất muốn có cơ hội để phát triển khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Thứ nhất là để thỏa mãn đam mê nghệ thuật của chính mình. Thứ hai là Ngọc Lan hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ của mình vào lãnh vực thứ bảy của Việt Nam…

            Chắc có lẽ chúng ta, những ai đã từng có một thời nồng nàn với Mưa trên biển vắng, với Hai mươi năm tình cũ, với Mùa đông sắp đến trong thành phố, hay những ca khúc Pháp lời Việt như Joe Le Taxi, Mal De Toi, La Plus Belle Pour Aller Danser (Em đẹp nhất đêm nay)… thì sẽ không thể nào quên tiếng nói trong vắt, nhẹ như sương ấy, tiếng hát Ngọc Lan, người ca sĩ sở hữu gương mặt hiền như thánh nữ.
            Cô chia sẻ giấc mơ nghệ thuật đó với khán giả và MC Nam Lộc cách đây 24 năm, trong đêm nhạc đầu tiên của Mây Production Hollywood Night 1. Đêm ấy cũng là lần đầu tiên cô trình bày Mưa trên biển vắng, một ca khúc lời Việt của cố nhạc sĩ Nhật Ngân.
            15 năm sau, mơ ước ấy đã bay về trời cao, mang theo người ca sĩ tài hoa đoản mệnh.

                        “Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
                         Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím
                         Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
                         Gót chân đôi khi đã mềm gọi buồn cho mình nhớ tên…

                         (Chiều một mình qua phố)


Hình bìa trong album thứ 5 của ca sĩ Ngọc Lan

Những thuở ban đầu
            Không khó để tìm thấy những bài viết về cô, người nữ ca sĩ tài sắc vẹn toàn nhưng vắn số. Thế nhưng, rất hiếm, nếu không muốn nói là không có, những bài phỏng vấn về cô. Tất cả những gì chúng ta có thể tìm được là những tình cảm chưa bao giờ dứt của người ở lại dành cho nữ ca sĩ tài hoa bạc mệnh này.

Ông Trần Thăng: “Ngọc Lan là một người gần như là không có những sự bon chen về thương mại. Ngọc Lan rất ngại khi được người ta nói về mình, viết về mình. Gần như là Ngọc Lan trốn tránh hết những cái đó. Chính vì những cái đó tạo ra cho mọi người thấy rằng Ngọc Lan là một người mà người ta lúc nào cũng muốn tìm hiểu thêm, biết thêm”.

            Người rất gần gũi trong suốt sự nghiệp của cô, ông Trần Thăng, giám đốc của Mây Production, khi nhớ về cô, ông luôn nói rằng “chúng tôi làm chương trình với Ngọc Lan, chứ không làm cho Ngọc Lan.”
            Ông nhấn mạnh, đó là tính cách của cô. Ngọc Lan hoàn toàn không tạo ra điều đó. Sự bình dị ấy tự nhiên như tiếng hát của cô, không cầu kỳ, không phô trương kỹ thuật.

                        “Trong đôi mắt anh em là tất cả
                         Là nguồn vui, là hạnh phúc em dấu yêu
                         Nhưng anh ước gì
                         Mình gặp nhau lúc em chưa ràng buộc
                         Và anh chưa thuộc về ai…

                         (Như đã dấu yêu)

            Tiếng hát nồng nàn, cao vút và nhẹ như sương khói ấy đi vào lòng người ngay từ những ngày đầu tiên trong nghiệp hát. Cô chinh phục khán giả không chỉ bằng chất giọng êm đềm, phong cách dịu dàng mà còn với cả sự chân tình trong lời nói.

Lan nghĩ mọi người có một nghiệp dĩ. Và nghiệp dĩ của Lan đã gắn liền với cuộc sống ca hát. Cho nên từ sự tình cờ này nối tiếp sự tình cờ khác mà ngày hôm nay Lan trở thành một ca sĩ mang tên Ngọc Lan và được trình diễn trên đây cho tất cả quý vị”.

            Đối với người con gái này, hình như tất cả đều là định mệnh. Cô nhìn cuộc đời và sự nghiệp của mình nhẹ như sương như khói. Cô càng nâng niu trân trọng khán giả bao nhiêu thì cô càng khắt khe với chính mình bấy nhiêu.

Ông Trần Thăng: “Trong suốt thời gian sinh hoạt văn nghệ, tôi chỉ thấy ca sĩ Ngọc Lan là một người có tinh thần làm việc có thể nói rằng không ai sánh bằng. Tất cả những thành quả mà Ngọc Lan có được phần lớn là do Ngọc Lan chứ không phải do trung tâm hay do ai mà có thể làm ra như vậy được. Ngọc Lan là một người ca sĩ rất hiếm quý của nền âm nhạc Việt Nam”.

            Hình như khi nghe cô hát, nhìn cô trình diễn trên sân khấu người ta cảm thấy mọi sự hận thù không có chỗ đứng trong thế giới này. Cho dù, nhìn cô hát, chúng ta cứ ngỡ như đang chiêm ngưỡng một bức tranh hoạ người thiếu phụ buồn, buồn từ đôi mắt đến dáng người, và giọng hát.

                       “Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng.
                        Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời…

                        (Tình phụ)

            Ngọc Lan đa tài. Đúng thế. Có nghe cô nồng nàn với những ca khúc Pháp trữ tình lời Việt mới thấy được vì sao Ngọc Lan là một hiện tượng của thập niên 90.

                       “Ngày đó cứ ngỡ với nhau ta muôn đời chung bước về
                        Tình mới đó quá đắm say thoáng đã nghe những ê chề
                        Người hỡi có nhớ tới em những đêm xưa ta say ân tình…

                        (Comme Toi – Người yêu dấu ơi)

            Bao nhiêu là thế hệ thanh niên trưởng thành ở thập niên 90 thời đó từ phía bên kia bờ đại dương đã say mê bầu trời trong vắt với vô vàn vì sao, đắm mình nghe tiếng sóng biển giữa bãi khuya, chỉ qua tiếng hát ngọt ngào của cô

                       “Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya
                        Tôi đi vào thương nhớ,
                        Tôi đi tìm cơn gió
                        Tôi xây lại mộng mơ năm nào
                        Bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau…

                        (Nha Trang ngày về)

            Nhà văn Đỗ Vẫn Trọn, trong bài viết “Ngọc Lan một vầng trăng” có nói rằng: “Ngọc Lan chưa phải là một nhan sắc rực rỡ đứng ở tiền trường. Ngọc Lan – chưa phải là một giọng ca dội cuốn năm châu – nhưng Ngọc Lan, từ nhan sắc đến giọng ca của nàng đã thực sự trở thành giấc mơ thầm kín, trở thành ao ước ngọt ngào, kín lặng của những tâm hồn trai mới lớn, của những gương thanh niên vào đời, hăm hở chân đi.”


Ca sĩ Ngọc Lan trong một album do công ty Mây Production sản xuất

Những ngày cuối…
            Không dễ dàng chút nào khi nói về một huyền thoại.
            Ngọc Lan là một huyền thoại. Một huyền thoại trong vắt mà người đời chỉ có thể tìm thấy những tì vết cho chính người đời thêu dệt.
            Khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, cô phát hiện mình có bệnh, căn bệnh đa thần kinh hóa sợi tác động vào trung khu thị lực của cô. Nhưng không như những lời đồn đoán bên ngoài rằng người ca sĩ khả ái này đã bị mù, ông Trần Thăng cho biết những ngày sau đó, cô vẫn ngồi làm việc cùng ông trên những tác phẩm do Mây Production và Ngọc Lan cùng thực hiện.

Ông Trần Thăng: “Ngọc Lan vẫn ngồi editing với tôi, vẫn xem được video. Nhưng Ngọc Lan nói rằng Lan chỉ nhìn thẳng được thôi, cũng như Lan nhìn vào cái ống nhòm. Lan không thấy được những gì xung quanh. Lan chỉ thấy phía trước thôi. Không phải là Ngọc Lan không nhìn thấy.
            Ở ngoài thì người ta bắt đầu nói Ngọc Lan bị tiểu đường hay bị gì đó, hoàn toàn không có. Thậm chí có người gọi cho tôi nói là hôm nay tôi mới đi lễ cầu nguyện cho linh hồn cô ấy, người ta nói cô ấy mất rồi. Tôi không nói những điều đó với Ngọc Lan. Nhưng rồi cô ấy cũng biết. Và cô ấy chỉ nói rằng anh Thăng ơi, khi nào Lan không còn hát được nữa thì cho Lan biết để Lan ngưng, chứ Lan không muốn kéo dài mãi
”.

Loài hoa bất tử
            Ngọc Lan là một hiện tượng mà cho đến hơn mười lăm năm sau, kể từ ngày cô tạm biệt thế giới này, người ta vẫn còn nhắc, nói, nhớ về cô với vẹn nguyên hình ảnh một gương mặt đẹp khả ái, hiền hòa luôn phảng phất một nỗi buồn. Cái buồn làm cho người đối diện cảm thấy như cô có thể vỡ tan bất cứ lúc nào.

Ông Trần Thăng: “Thực sự vì mình đang nói chuyện qua điện thoại, nếu mà bây giờ đang là video thì sẽ thấy mắt tôi đang ứa lệ. Vì mỗi lần nhắc đến Ngọc Lan thì nhắc lại cho tôi nhiều kỷ niệm”.

                        Mỹ nhân tự cổ như danh tướng.
                        Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu.

            Ngọc Lan, người con gái mong manh với tiếng hát nhẹ như sương đã đến một nơi rất xa. Nơi đó tuy không có bờ cát trắng, không có những tiếng vỗ tay đón chờ cô cất tiếng hát, nhưng chắc chắn, cô sẽ nghe được lời gọi của những người ở lại, luôn gọi tên cô với tình yêu chưa bao giờ dứt.


CÁT LINH
Tháng 3/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/ngoc-lan-15yrs-a-time-has-gone-03062016075045.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #124 vào: 23/05/2018, 23:08:58 »
“Cô bé Quàng khăn đỏ”: Cẩm nang giáo dục giới tính

Cũng như bao câu chuyện cổ tích khác, Cô bé Quàng khăn đỏ của Grimm phản ảnh nỗi ám ảnh truyền kiếp của con người đối với sói, trên cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vì sói đại diện cho loài thú dữ mà còn là hiện thân cho “cái ác”. Nhưng đối với Bruno Bettelheim, một nhà tâm lý học người Mỹ, Cô bé Quàng khăn đỏ còn mô tả quá trình biến chuyển tâm sinh lý khó khăn của một bé gái trong độ tuổi dậy thì, độ tuổi mà các bản năng giới tính bắt đầu hình thành và làm nảy sinh các “cảm xúc mâu thuẫn” mà các em cần phải vượt qua.

Cô bé Quàng khăn đỏ, ảnh minh họa của Jessie Willcox Smith, năm 1911

CHUYỆN KỂ RẰNG, có một bé gái mà người dân trong làng thường hay gọi cô là Cô bé Quàng khăn đỏ. Một hôm cô phải băng rừng một mình để đem bánh, rượu và bơ cho bà đang ốm nặng. Bà sống đơn độc một mình bên kia khu rừng. Trên đường đi, cô gặp một con sói và vô tình rơi vào cái bẫy do nó giăng ra, để rồi cả hai bà cháu đều bị sói nuốt chửng vào bụng. Vừa hay có bác thợ săn đi ngang, bác mổ bụng sói và cứu sống cả hai bà cháu.
            Đó là nội dung câu chuyện cổ tích Cô bé Quàng khăn đỏ do hai anh em người Đức Jacob et Wilhelm Grimm phát hành vào năm 1812. Trước đó hơn 100 năm, Charles Perrault (1628-1703), một nhà văn Pháp thế kỷ XVII, đã từng biến câu chuyện dân gian truyền khẩu này thành một câu chuyện văn chương vào năm 1697.
            Dù là phiên bản của ai đi chăng nữa, đã mấy trăm năm qua câu chuyện này vẫn tiếp tục lôi cuốn biết bao thế hệ trẻ thơ, bởi tính chất ngây ngô, dễ thương, nhân vật gần gũi với trẻ em và mang nhiều ý nghĩa giáo dục đạo đức và tình người. Thoạt nhìn các tình tiết của câu chuyện có vẻ “hợp tình hợp lý” và nhất là còn được kèm theo một bài giáo huấn “đạo đức” bằng thơ dành cho trẻ ở cuối câu chuyện (theo như bản kể của Perrault).

Cô bé Quàng khăn đỏ dành cho trẻ từ 4-6 tuổi?
            Nhưng nếu bỏ chút thời gian ngồi nghiền ngẫm lại câu chuyện, chắc là chúng ta sẽ thấy nhiều điều khá thú vị, thậm chí còn thấy hơi “kỳ lạ” tùy theo từng quan điểm. Một loạt các câu hỏi sẽ xuất hiện: Câu chuyện này có thật “hợp tình hợp lý” hay không? Nếu có thì đâu là bản chất thật của sự “hợp tình hợp lý” đó? Nếu cho rằng câu chuyện này là dành cho trẻ con, vậy cho độ tuổi nào? Cho là Cô bé quàng khăn đỏ còn rất nhỏ, nhưng là bao nhiêu tuổi mới được?
            Có giả định rằng đây là câu chuyện dành cho trẻ trong độ tuổi 4-6. Điều đó cũng giải thích phần nào phản ứng ngây ngô của cô bé trước con sói dữ. Cô bé tiết lộ gần hết cho sói biết bà đang bị ốm, sống đơn độc một mình và đang đợi cô đến thăm. Nếu như thế, thái độ của người mẹ và người bà rõ ràng là khá “kỳ lạ”. Có người mẹ nào lại có thể gửi một đứa bé còn nhỏ như vậy, một mình băng qua một khu rừng âm u, một nơi đầy nguy hiểm với một trang phục quá đỗi bắt mắt để rồi thu hút sự chú ý của con sói. Đương nhiên, người mẹ cũng đưa ra nhiều lời dặn dò khôn ngoan, nhưng liệu một đứa trẻ còn nhỏ như vậy có ngoan ngoãn vâng lời hoàn toàn hay không. Ngoài điều đó ra, mối họa cho đứa trẻ có thể nói là chết người.


Tranh minh họa của Gustave Doré năm 1867

Cô bé Quàng khăn đỏ hay nỗi sợ hãi bị sói tấn công?
            Cũng có ai đó sẽ lập luận rằng đó là do hoàn cảnh lịch sử. Quả thật, khi Charles Perrault viết lại câu chuyện này, nước Pháp hứng chịu cùng lúc nạn đói hoành hành và tình trạng sói thật tấn công người rất dữ dội.
            Theo sử gia Jean-Marc Moriceau, chuyên nghiên cứu về lịch sử phát triển nông thôn Pháp (Nguyệt san Historia số ra tháng Giêng năm 2014), trong vòng 10 năm từ 8/1689-12/1699, đã có đến 400 người là nạn nhân của sói, tức bình quân 40 nạn nhân/năm. Đa phần nạn nhân là phụ nữ và trẻ em, chủ yếu xuất thân nông dân nghèo. Trẻ con buộc phải ra đồng một mình chăn dắt đàn gia súc trên những trảng cỏ hoang vu hay trong những tảng rừng thấp. Theo số liệu nghiên cứu có được, hầu hết số trẻ bị sói vồ đều nằm trong độ tuổi 5-14 tuổi, trong đó các bé gái chiếm đa số.
            Có thể nói, trong bối cảnh đó, Cô bé Quàng khăn đỏ là hình mẫu lý tưởng cho các nạn nhân của sói. Điều này cũng giải thích vì sao câu chuyện Cô bé Quàng khăn đỏ chiếm một vị trí khá quan trọng trong bộ tuyển tập “Những mẫu truyện kể hay những câu chuyện ngày xửa ngày xưa” của nhà văn Pháp Charles Perrault.
            Nhưng nếu nói như vậy, thì chi tiết chính của câu chuyện lại có vẻ không hợp lý. Bởi vì một đứa trẻ nghèo đói làm thế nào có được chiếc áo choàng đỏ đẹp đến thế.

Cô bé Quàng khăn đỏ hay “cẩm nang giáo dục giới tính” cho trẻ?
            Cứ cho là cô bé Quàng khăn đỏ không đến nỗi quá nhỏ, có thể cô ở độ tuổi 9-10. Vì điều này phù hợp với việc cô bé có thể tự mình băng qua khu rừng rậm, hãnh diện khoác trên người chiếc áo màu đỏ ưa thích của mình. Nhưng nếu như thế, xét về phương diện tâm lý, rõ ràng thái độ của cô bé trong lần đầu tiên gặp sói cũng thật là khó hiểu.
            Hơn nữa, dù ở độ tuổi nào đi chăng nữa, khi đối diện với người bà “giả mạo”, thái độ của cô bé thật là “kỳ lạ”. Không những cô không hay biết nguy hiểm đang rình rập, mà cô bé có vẻ như bị “mê hoặc” bởi con sói khi từ từ tiến gần lại phía giường nằm.
            Mặt khác ta cũng lưu ý thấy rằng mục đích của con sói dữ không chỉ nhằm ăn thịt cô bé, vì nó đã có thể vồ lấy ngay cô bé khi vừa bước chân vào nhà mà không cần phải chơi trò Hỏi-đáp.
            Đối với Bruno Bettelheim (1903-1990), một nhà tâm lý học về trẻ em trong một tác phẩm nổi tiếng Psychanalyse des contes de fée (Nguyên tác là: The Uses of Enchantment: The meanning and Importance of Fairy Tales – tạm dịch: Ý nghĩa phân tâm học của truyện cổ tích), tất cả những điều đó chỉ có thể giải mã được thông qua các tiếp cận phân tâm học.
            Cũng như nhiều nhà tâm lý và phân tâm học khác, Bettelheim cho rằng Cô bé Quàng khăn đỏ còn là một câu chuyện bàn về “bản năng giới tính” rõ nghĩa nhất trong số các câu chuyện cổ tích.
            Quả thật vốn dĩ ngay từ đầu Cô bé Quàng khăn đỏ do Charles Perrault viết đã mang một ý nghĩa giáo dục về “bản năng giới tính” cho các em gái nhỏ. Nhưng Bruno Bettelheim lấy làm tiếc rằng vì quá thiên về giáo dục “đạo đức”, Charles Perrault đã làm cho câu chuyện mất đi “cái hồn” vốn có. Ông bộc bạch quá rõ ý nghĩa thật sự của câu chuyện. Con sói trong câu chuyện rõ ràng không phải là một loài thú dữ, mà chỉ là hình ảnh ẩn dụ, khi ông viết rằng: “Khi cô bé cởi bỏ y phục và đến nằm cùng sói trên giường… và khi con thú dữ nói với cô bé rằng nó có đôi tay to là để ôm cô dễ hơn”.
            Sự đơn giản thái quá, kèm theo một bài học giáo huấn: “Các cô bé xinh xắn, biết cách ăn mặc và dễ thương, thường ít chịu lắng nghe người khác”, đã biến Cô bé Quàng khăn đỏ thành một câu chuyện “cảnh giác” thay vì là một câu chuyện cổ tích thật sự.
            Do đó, giữa hai phiên bản nổi tiếng này, Bruno Bettelheim ưng ý với bản kể của anh em nhà Grimm nhất. Câu chuyện do Grimm viết đã nêu bật được “một số vấn đề mấu chốt mà một bé gái đang ở tuổi học đường phải đối mặt khi các mối liên hệ Ê-đíp đang dần hình thành trong vô thức của các em. Những mối liên hệ đó có thể đẩy các em rơi vào cạm bẫy của một kẻ quyến rũ nguy hiểm…” Bởi vì, đây cũng là “độ tuổi mà các em chưa đủ chín chắn trên phương diện tình cảm, do chưa thể làm chủ được những xung đột Ê-đíp”.
            Ở đây cũng xin giải thích rõ về khái niệm “Ê-đíp”. Oedipus (tức Ê-đíp theo cách phát âm tiếng Việt) là một trong những anh hùng nổi tiếng nhất trong thần thoại Hy Lạp. Chàng là người giết cha, cưới mẹ, thắng con nhân sư quái ác rồi trở thành vua xứ Thebes (Hy Lạp). Rồi đến một ngày, Ê-đíp biết được sự thật, ông đau khổ, khi đó hoàng hậu đã tự tử, Oedipus lấy cái trâm trên đầu hoàng hậu mà chọc đui mù mắt của mình và bỏ đi. Từ đó, Oedipus sống trong sự đau khổ cho đến khi chết.
            Nhà phân tâm học Sigmund Freud đã mượn truyền thuyết này để đặt tên cho một đặc điểm tâm lý ở trẻ nhỏ từ ba đến năm tuổi mang tên “mặc cảm Ê-đíp”: đứa trẻ thể hiện sự quyến luyến người sinh thành ra mình, thuộc giới tính khác mình nhưng lại đố kỵ và căm ghét bậc phụ huynh cùng giới tính với mình.


Tranh minh họa của Gustave Doré

Nguyên lý sở thích và nguyên lý thực tiễn
            Trở lại với câu chuyện Cô bé Quàng khăn đỏ, Bettelheim cho rằng một trong những khó khăn chính mà bé gái sắp bước vào tuổi dậy thì cần phải giải quyết đó là vượt qua được trạng thái tâm lý mà Bettelheim gọi là “mâu thuẫn cảm xúc” (tiếng Pháp hay tiếng Anh viết là “ambivalence”).
            Ở độ tuổi này, các em nhỏ bắt đầu bị giằng co giữa hai nguyên lý “sở thích” và “thực tiễn”. Nguyên lý sở thích được thể hiện qua hình ảnh Cô bé Quàng khăn đỏ thích khám phá thế giới bên ngoài mà phớt lờ những lời cảnh báo của người lớn (tức nguyên lý thực tiễn): Không nghe lời cảnh cáo của mẹ là không nên rời xa con đường mòn.
            Cô còn để cho sói khơi dậy cảm xúc “sở thích” khi cô gặp nó ở cửa rừng: “Sao cháu không ngắm nhìn những bông hoa xinh đẹp quanh đây?… Dù sao đi nữa khu rừng này cũng rất là đẹp!
            Đối với Bettelheim, Cô bé quàng khăn đỏ là nạn nhân của mối xung đột “nguyên lý sở thích” và “nguyên lý thực tiễn”. Và việc để cho nguyên lý sở thích lấn át nguyên lý thực tiễn đã để lại nhiều hậu quả khôn lường như câu chuyện cảnh báo. Dù cảm thấy có điều gì đó bất bình thường khi đến nhà bà, nhưng cô bé vẫn cố tìm hiểu khi đặt các câu hỏi về tai, mắt, tay và miệng. Đó cũng chính là bốn giác quan của con người: nghe, nhìn, sờ và nếm. Những giác quan mà trẻ em cần dùng đến để khám phá thế giới bên ngoài.
            Khi bỏ ngoài tai các nguyên lý đạo đức, muốn rằng trẻ trong độ tuổi cắp sách đến trường, phải “đi thẳng” không được “tạt ngang tạt ngửa” như bổn phận yêu cầu, thì nữ nhân vật chính của chúng ta lại quay trở về trạng thái “Ê-đíp” của một đứa trẻ nhỏ: Chỉ tuân theo “sở thích”. Và vì không biết kiềm chế “sở thích”, cô đã nghe theo lời dụ dỗ của sói và tạo điều kiện cho nó đến ăn thịt bà mình.


Tranh minh họa của Carl Offterdinger

Trách nhiệm của người “Mẹ” và “Màu đỏ” của sự bạo lực
            Bruno Bettelheim cho rằng người bà (hay còn là hình ảnh của người mẹ) cũng xứng đáng nhận một hình phạt (qua việc bị sói nuốt vào bụng). Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển khó khăn, do đó bé gái rất cần một hình ảnh người mẹ mạnh mẽ để che chở và như là một tấm gương để noi theo.
            Thay vì như vậy, người bà trong câu chuyện lại để cho chính “sở thích” của mình vượt lên trên cả những gì là tốt cho trẻ: “Bà của cô bé… chẳng biết làm điều gì khác ngoài việc cho cô bé như một món quà”. Đối với Bettelheim, đó là một sự cưng chiều quá mức và điều đó chỉ có hại cho trẻ trong đời sống thực.
            Người bà (hay người mẹ) không những từ bỏ khả năng “quyến rũ” người khác phái của mình mà còn truyền khả năng đó lại cho đứa trẻ bằng cách trao tặng cho cháu chiếc áo choàng đỏ quá đỗi xinh đẹp. “Chiếc khăn choàng lụa đỏ mà bà cho cô bé cũng có thể được xem như là biểu tượng cho sự chuyển giao quá sớm khả năng quyến rũ tình dục, điều này còn được thể hiện rõ nét qua việc bà đã già và bệnh tật, quá yếu để có thể mà mở cửa”. Một nhận định có lẽ là khá lạ lẫm với độc giả Việt Nam.
            Đến đây, Bettelheim lưu ý đến màu đỏ của chiếc khăn choàng. Chi tiết này được nhắc đến rất nhiều lần trong toàn bộ câu chuyện và ngay trong bản thân tựa đề. Bởi vì nó “biểu trưng cho những cảm xúc mạnh bạo, nhất là những cảm xúc khơi dậy tính dục”.
            Ngay chính bản thân cái tên Bé quàng khăn đỏ cũng bao hàm một ý nghĩa rất quan trọng. Chiếc khăn ấy nhỏ bé, nhưng cô bé cũng vậy. “Không những cô còn quá nhỏ để choàng chiếc khăn đó, mà còn “quá bé” để mà đối diện với điều mà chiếc khăn choàng đỏ ấy tượng trưng”.
            Bởi vì, mối nguy hiểm đe dọa cô bé chính là bản năng giới tính của cô đang nảy sinh. Nhưng cô vẫn còn chưa đủ chín chắn trên phương diện tình cảm, do đó cô có thể dễ dàng rơi vào tay những kẻ dày dạn tình trường trên phương diện tâm lý.


Tranh minh họa của Walter Crane

Con sói và bác thợ săn: hình ảnh hai mặt của người đàn ông và cha
            Câu chuyện cổ tích này còn là một bức tranh tâm lý về vị trí quan trọng của người đàn ông dưới hai mặt đối lập: kẻ quyến rũ nguy hiểm – người sát hạt bà và cô bé quàng khăn đỏ và bác thợ săn, đại diện cho gương mặt người cha – mạnh mẽ, có trách nhiệm, người đã cứu sống hai bà cháu.
            Cả câu chuyện cứ như cho thấy là Cô bé quàng khăn đỏ đang cố tìm hiểu bản chất trái ngược nhau của nam giới thông qua việc trải nghiệm các mặt của cá tính, như là: những xu hướng ích kỷ và bạo lực thông qua hình tượng “Sói” và xu hướng vị tha và có suy nghĩ qua hình ảnh “bác thợ săn”.
            Như vậy, người đàn ông trong câu chuyện được thể hiện dưới hai hình dạng khác nhau: một bên là sói, đại diện cho những nguy hiểm của cuộc chiến Ê-đíp, và bên kia là bác thợ săn, trong vai trò người bảo vệ và cứu nguy, đó cũng chính là hình tượng của người cha.

Cái chết và sự hồi sinh
            Phần kết có hậu của câu chuyện cũng là một điểm nhấn khá lý thú trong con mắt nhà phân tâm học người Mỹ này. Cô bé Quàng khăn đỏ và bà thật sự không chết dù bị sói nuốt chửng vào bụng. Hình ảnh hai bà cháu bước ra khỏi bụng sói đối với Bruno Bettelheim biểu tượng cho sự “hồi sinh”.
            Đó chính là bước đi quan trọng cho phép bé gái đi vào một nấc mới cao hơn và cũng là một trong những chủ đề chính yếu trong một kho tàng truyện cổ tích bao la đó. Đứa trẻ hiểu một cách mơ hồ là người “chết” thật sự trong câu chuyện này chính là bé gái đã để cho con sói dụ dỗ. Nhưng khi cô bé chui ra từ bụng sói, thì đó lại là một con người hoàn toàn khác trở lại với cuộc sống.
            Cô bé Quàng khăn đỏ đã mất đi sự ngây ngô trẻ con khi gặp những nguy hiểm tồn tại ngay trong chính bản thân cô và thế giới bên ngoài. Cô bé cũng đã đánh đổi chúng để lấy sự khôn ngoan mà chỉ có những ai “được sinh ra hai lần” mới có thể có được. Đối với Bettelheim, hình ảnh cô bé chui ra từ bụng sói cho thấy là cô đã vượt qua được một ngưỡng tâm lý phức tạp nhất của tuổi dậy thì, để có thể duy trì những mối quan hệ tích cực với cha mẹ. Và cũng từ đó, cô bé thôi là một đứa nhỏ để bước vào một giai đoạn mới của một cô gái trẻ.


MINH ANH
Tháng 5/2014


http://vi.rfi.fr/tong-hop/20140430-%E2%80%9Cco-be-quang-khan-do-cua-grimm%E2%80%9D-cam-nang-giao-duc-gioi-tinh