Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 13342 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #120 vào: 24/04/2018, 23:47:56 »
Tháp Eiffel: Từ bà đầm thép bị chế nhạo tới biểu tượng của Paris

Tháp Eiffel là địa điểm không thể bỏ qua của bất kỳ du khách nào tới Paris. Là biểu tượng của nước Pháp và là địa điểm du lịch được thăm quan nhiều nhất thế giới, “Bà đầm thép” đã đón gần 250 triệu lượt khách từ khi được khánh thành vào năm 1889.

Tháp Eiffel về đêm

CAO 324 mét, (trong đó có 24 mét cột ăng-ten), tháp Eiffel rất dễ nhận ra từ nhiều địa điểm trong thành phố. Quảng trường Con Người (Parvis de l’Homme, lối ra từ bến tầu điện ngầm Trocadéro) là vị trí đẹp nhất có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh tháp. Khi màn đêm buông xuống, tháp Eiffel lung linh trong ánh đèn vàng và rực rỡ với những tia sáng nhấp nháy kéo dài khoảng 5 phút đầu tiên mỗi giờ.
            Dù mang tên Eiffel, nhưng bà đầm thép cao 312 mét (12 mét cột cờ) không phải do kiến trúc sư nổi tiếng Gustave Eiffel (1832-1923) thiết kế, mà là tác phẩm của hai kỹ sư cộng sự thân tín Emile Nouguier, Maurice Koechlin và kiến trúc sư Stephen Sauvestre tại công ty Levallois-Perret (ngoại ô Paris). Được Gustave Eiffel thành lập năm 1867, công ty Eiffel & Cie hoạt động dưới hình thức công ty góp vốn từ năm 1868 đến 1879, trước khi thuộc quyền sở hữu của Gustave Eiffel cho tới năm 1890, dưới tên gọi công ty xây dựng Levallois-Perret.
            Trong bản Báo cáo chung (Rapport général), ông Alfred Picard, tổng thanh tra cầu đường kiêm Chủ tịch công trình tại Hội Đồng Nhà Nước, tóm lược những lợi ích của dự án: “Trong suy nghĩ của ông Eiffel, công trình đồ sộ trên sẽ trở thành biểu tượng huy hoàng cho sức mạnh của nền công nghiệp Pháp, chứng minh những tiến bộ vượt bậc trong nghệ thuật kết cấu kim loại, ca ngợi sự thăng hoa chưa từng có của ngành xây dựng trong suốt thế kỷ này, thu hút đông đảo khách thăm quan và đóng góp vào thành công cho các buổi gặp gỡ hòa bình được tổ chức nhân 100 năm kỷ niệm nền Cộng hòa 1789”.
            Gustave Eiffel tin chắc công trình độc đáo này sẽ nổi tiếng khắp thế giới và thu hút du khách vì họ có thể ngắm toàn cảnh Paris và vùng ngoại ô từ trên đỉnh tháp mà không hề nguy hiểm tới tính mạng. Ông viết: “Dưới chân mình, du khách sẽ nhìn thấy thành phố rộng lớn với những công trình kiến trúc, đại lộ, tháp chuông và mái vòm hay dòng sông Seine nên thơ chảy quanh như một dải lụa bạc. Xa hơn nữa là những ngọn đồi tạo thành một vành đai xanh mướt, và phía trên những ngọn đồi là chân trời trải dài tới 180 km” (La Tour Eiffel en 1900 (Tháp Eiffel năm 1900), Paris: Masson et Cie, Editeurs, 1902).
            Ngoài những lợi ích kể trên, trong trường hợp xảy ra chiến tranh, ngọn tháp hoàn toàn có thể trở thành đài quan sát hoạt động của kẻ địch từ trong vòng bán kính 70 km. Cuối cùng, tháp còn có thể trở thành trạm khí tượng thủy văn và thông tin điện báo giữa lòng Paris: sóng radio từ Tháp nối với điện Panthéon được kết nối ngay năm 1898, trạm radio quân sự được thành lập năm 1903, đài phát thanh công cộng đầu tiên vào năm 1925, sau đó là sóng truyền hình và cho đến nay là truyền hình TNT.
            Ngày 08/01/1887, Bộ trưởng Thương Mại và Công Nghiệp Ed. Lockroy, phụ trách giám sát cuộc triển lãm, và ông Poubelle, tỉnh trưởng tỉnh Seine (sau này là tỉnh Paris năm 1968, trước khi trở thành một tỉnh của vùng Ile de France được hình thành năm 1977), đã ký hợp đồng với Gustave Eiffel để xây dựng một tòa tháp cao 300 mét với điều kiện phải được khai thác vào đúng dịp khai mạc Triển Lãm Hoàn Cầu 1889.
            Tới lúc hoàn thiện, tổng chi phí xây dựng tháp là 7.799.401,31 franc, trong đó có 1.500.000 franc là kinh phí dự trù xây cổng chào dẫn vào triển lãm được ủy ban quản lý triển lãm giao thành ba đợt với khoản cuối cùng được thanh toán khi bàn giao công trình. Riêng năm 1889, tháp đã thu hút 1.968.287 lượt khách và thu về 5.919.884 franc.
            Công ty Levallois-Perret được phép khai thác tòa tháp trong suốt thời gian diễn ra cuộc triển lãm và trong vòng 20 năm tính từ ngày 01/01/1890: bán vé đi thang máy tới tầng thứ nhất (2 franc ngày thường và 0,50 franc ngày chủ nhật và nghỉ lễ) và tới đỉnh tháp (5 franc ngày thường và 2 franc ngày chủ nhật và lễ), xây dựng và khai thác nhà hàng, quán cafe tại các tầng... Sau thời hạn này, công trình sẽ được giao cho thành phố Paris quản lý và khai thác.


Tháp Eiffel vào mùa xuân

Giới văn nghệ sĩ Pháp ghét tòa tháp 300 mét
            Năm 1887, giới văn nghệ sĩ Paris kịch liệt phản đối dự án ngay trong giai đoạn phôi thai. Ý kiến phẫn nộ của họ được thể hiện rõ trong một bức thư chung gửi tới ban quản lý:

            “Nhân danh thị hiếu nghệ thuật đặc trưng của Pháp, nhân danh nền nghệ thuật và lịch sử Pháp đang bị đe dọa, chúng tôi – những nhà văn, họa sĩ, nghệ sĩ điêu khắc, kiến trúc sư, những người yêu vẻ đẹp nguyên vẹn của Paris cho tới nay – kịch liệt phản đối việc xây dựng tháp Eiffel khổng lồ và vô ích ngay giữa trung tâm thủ đô…
            Chỉ cần hình dung một ngọn tháp nực cười sừng sững giữa Paris, giống như một ống khói nhà máy màu đen khổng lồ, nhấn chìm Nhà Thờ Đức Bà, tháp Sainte-Chapelle, bảo tàng Louvre, mái vòm điện Invalides, Khải Hoàn Môn. Mọi công trình của chúng ta bị bôi nhọ, bị thu nhỏ và biến mất trong giấc mộng kinh hoàng này...”


            Ngoài giới văn nghệ sĩ, còn rất nhiều ý kiến phản đối khác vì cho rằng công trình này là bất khả thi; dự án sẽ không tìm được lực lượng nhân công có thể làm việc ở độ cao như vậy. Dù có thành công “trên giấy”, công trình cốt thép sẽ không thể chống chọi được với sức gió và chắc chắn các thanh kim loại sẽ lắc lư trong gió. Tuy nhiên, đây không phải là điểm mà kỹ sư Eiffel bận tâm vì thép là vật liệu có sức bền cao. Hơn nữa, ngành khoa học sức bền vật liệu đã đạt tới trình độ cao cho phép tính toán chính xác sức bền và điểm ứng lực của công trình.
            Sau nhiều lần thảo luận, địa điểm cuối cùng được lựa chọn để xây tháp là khu vực giữa Champs de Mars (nơi diễn ra Triển Lãm Hoàn Cầu) và quảng trường Trocadéro.


Tháp Eiffel vào mùa xuân

Tháp Eiffel và những con số
            Trong cuốn Tháp Eiffel năm 1900, Gustave Eiffel cho biết tháp được chia thành ba tầng: tầng thứ nhất cao 57,63 mét, tầng thứ hai cao 115,73 mét và tầng cuối cùng là 276,13 mét. Tính thêm gác bao quanh ở bên trên tháp cùng với khu vực chứa đèn, ngọn tháp cao 300,51 mét so với mặt đất (chưa tính ngọn ăng-ten cao 24 mét hiện nay). Khu vực ở giữa tầng ba được Gustave Eiffel dành riêng để làm phòng nghiên cứu và một phòng tiếp khách với lối bài trí được các nhà khoa học thời đó ưa chuộng. Tường được dán giấy có mầu sắc ấm cúng, đồ dùng bằng gỗ và một chiếc đàn dương cầm tạo thêm không khí thoải mãi, thư giãn.
            Bốn chân tháp được đánh số theo thứ tự gần sông Seine: trụ số 1 được gọi là Bắc – Nord, các trụ còn lại được đánh số theo chiều kim đồng hồ, lần lượt là Đông – Est (trụ số 2), Nam – Sud (trụ số 3) và Tây – Ouest (trụ số 4). Tại mỗi trụ đều có hệ thống thang máy đi từ mặt đất lên tới tầng hai, riêng trụ Nam có hai chiếc: một chiếc dành riêng cho khách của nhà hàng sang trọng Jules Vernes, chiếc thứ hai dùng để chở hàng hóa. Từ tầng hai lên trên đỉnh tháp là hai thang máy hai buồng và du khách không còn phải dừng ở giữa và đổi thang máy như trong những năm 1900. Vào thời điểm này, để đi từ mặt đất lên tầng hai, tháp Eiffel chỉ có hai thang máy thủy lực được lắp ở trụ Đông (số 2) và Tây (số 4).



            Thang máy là bộ phận quan trọng của công trình. Mỗi năm, tổng số lần lên xuống của toàn bộ hệ thống thang máy tương đương với chặng đường dài 103.000 km, gấp 2,5 lần vòng quanh Trái Đất. Nhưng bên cạnh đó, còn có hệ thống thang bộ với tổng số bậc ban đầu là 1710 bậc (trong đó có 125 bậc để đi từ tầng ba tới đỉnh cột cờ vào thời kỳ đó), song hiện nay chỉ còn 1665 bậc. Tuy nhiên, cầu thang bộ từ tầng hai lên tới đỉnh tháp không được mở cho công chúng.
            Từ mặt đất lên tầng một, thang bộ dành cho chiều đi lên được lắp ở trụ số 2 – Đông và 4 – Tây; cầu thang ở trụ Nam dành cho chiều đi xuống. Còn từ tầng một lên tầng hai là bốn cầu thang bộ khác được lắp ở mỗi chân tháp: hai chiều đi lên và hai chiều đi xuống.


Tháp Eiffel sáng rực về đêm

            Khởi công ngày 26/01/1887, tháp Eiffel được khánh thành vào ngày 31/03/1889. Nhân dịp này, Gustave Eiffel đã trèo 1710 bậc thang từ mặt đất lên cắm quốc kỳ Pháp trên đỉnh tháp. Tháp Eiffel trở thành công trình lớn nhất thế giới cho tới năm 1929, khi tòa nhà Chrysler cao 319 mét được xây dựng tại New York.
            Tổng trọng lượng của tháp là 10.100 tấn. Từ khi được khánh thành tới nay, tháp đã được sơn lại 19 lần. Trung bình cứ 7 năm, 250.000 m2 bề mặt tháp được sơn lại với kinh phí khoảng 4 triệu euro. Mỗi lần tháp Eiffel thay áo mới lại cần tới 60 tấn sơn, 25 thợ sơn chuyên nghiệp không sợ độ cao và làm việc trong vòng 18 tháng.


THU HẰNG
Tháng 5/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160513-thap-eiffel-tu-ba-dam-thep-bi-che-nhao-toi-bieu-tuong-cua-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #121 vào: 01/05/2018, 22:31:59 »
Thanh Nam đất khách, những ngày Tháng Tư

Hôm nay, 18 Tháng Tư, 2017, ngồi trước trang giấy trắng trên màn hình, từ sáng sớm tinh mơ, chỉ mới đánh mấy con số ghi ngày tháng, tôi đã thấy hiện lên khuôn mặt hình bóng người bạn văn có một thời đã thuê chung phòng khi chúng tôi còn độc thân: Thanh Nam (1931-1985).

Nhà văn Thanh Nam (1931-1985)

1.– Năm 1975, chúng tôi gặp nhau hàng ngày vào những ngày giữa Tháng Tư, có ngày gặp mấy lần, nhà anh và nhà tôi ở cùng một con đường Lý Thái Tổ gần ngã sáu Chợ Lớn, tan sở làm trước khi về nhà, tôi dừng xe trước ngõ nhà anh nói ba điều bốn chuyện trong năm mười phút, rồi mới cảm thấy yên tâm. Lúc ấy đang xuất bản tạp chí Thời Tập ra hàng tháng, song tôi vẫn làm thường trực ngày 8 tiếng cho Ðài Mẹ Việt Nam, còn vợ anh là cộng tác viên của đài, mỗi tuần gửi tới đài một bài “Câu Chuyện Phụ Nữ” đọc trong 5 phút phát thanh. Do đó, Thanh Nam và tôi cùng theo dõi các biến chuyển thời sự và bàn tính chuyện đi hay ở, chuyện nên chuyện không nên… trong những ngày cuối cùng của Sài Gòn, những ngày Tháng Tư 1975.
            Có những tác giả được gọi là nhà thơ, mà trong thực tế, họ viết văn nhiều hơn làm thơ; ngược lại, có những người được gọi là nhà văn, mà tác phẩm tâm huyết hay được ưa thích của họ lại là một tập thơ, đó là trường hợp Thanh Nam: anh xuất bản và có vài chục tập tiểu thuyết in và đăng trên các báo, nhưng tập thơ Ðất Khách duy nhất của anh mới bày tỏ hết tâm tư của anh; tập thơ này lại chỉ được xuất bản ở hải ngoại vào năm 1983, hai năm trước khi Thanh Nam từ trần vào Tháng Sáu 1985.
            Mở đầu cho tập thơ là hai câu in ngay ở trang 5, tiếp theo là một bài thơ làm từ Tháng Mười Một 1975 khi đã ở Hoa Kỳ:

                        Muốn rơi nước mắt khi tàn mộng
                        Nghĩ đắt vô cùng giá tự do…


                                    Sương
                        Sớm nay trời đổ sương mù
                        Ðồi cao ngó xuống thấy mờ biển khơi
                        Bỗng dưng lòng thoáng bồi hồi
                        Tưởng đâu Phú Quốc đêm rời quê hương…

                        (Thanh Nam, Ðất Khách, tr. 9)

            Tưởng đâu Phú Quốc, đêm rời quê hương. Như tôi còn nhớ, cuối Tháng Ba 1975, nhân viên Ðài Mẹ Việt Nam được trao một tờ giấy với những câu hỏi, trong đó có câu đại ý “nếu tình hình chiến sự khiến đài phải di chuyển khỏi Sài Gòn, ông (bà) sẽ di chuyển theo đài hay không?” Ðây là câu hỏi quyết định, những ai trả lời sẽ di chuyển theo đài, như tôi, sau đó được liên lạc tiếp bằng cách nộp một danh sách những người trong gia đình sẽ đi theo mình. Thanh Nam không làm trong đài nhưng vợ anh là cộng tác viên của đài: Túy Hồng viết mục “Câu Chuyện Phụ Nữ.” Vào ngày 18 Tháng Tư 1975 tôi được cái hẹn sẽ di chuyển theo đài vào 9 giờ sáng 21 Tháng Tư 1975, với toàn thể gia đình 10 người của tôi như trong danh sách đã nộp. Chúng tôi hoàn toàn không rõ sẽ đi đâu, chỉ biết mình đã đồng ý rời Sài Gòn di chuyển theo đài, một khi vì tình hình, đài phải di chuyển.

2.– Chúng tôi tới điểm hẹn, bãi đậu xe ở góc đường Hiền Vương-Bà Huyện Thanh Quan, trước giờ hẹn khoảng 15 phút, không gặp ai quen. Một người mặc quân phục không rõ cấp bậc, chỉ biết có vẻ Á châu, dường như là một người Nùng, da vàng đậm, tới gặp thẳng tôi, trên tay cầm danh sách có chữ ký của tôi từ trước. Ông ta gật đầu ra vẻ chào, tôi cũng gật đầu đáp lại khi nhìn thấy bản danh sách có chữ ký của mình. Ông ta dẫn chúng tôi tới chiếc xe nhà binh Dodge 4×4 đậu bên lề đường, cả gia đình bước lên, xe chuyển bánh ngay, không có ai xa lạ khác. Xe chạy theo một chiếc motor Hadley dường như cũng do một binh sĩ người Nùng lái, chạy vào phi trường Tân Sơn Nhất qua khung cổng phía bên trái. Trước đây ra vào phi trường tôi thường đi qua khung cổng dân sự bên tay phải.
            Xe chở chúng tôi dừng lại trên một góc sân bay, cách chiếc DC 3 khoảng bốn hay năm chục thước. Từ lúc chạy tới lúc ngừng, cả xe im lặng. Chúng tôi được dẫn thẳng tới chân cầu thang của máy bay, mang theo hành lý bốn năm chiếc va-li lên máy bay với mình. Không lâu hơn mười lăm phút, chiếc DC 3 cất cánh. Tôi ngạc nhiên, nhất là khi đếm số người trên máy bay, trước gia đình tôi chỉ có 16 hành khách, cộng với gia đình tôi, chuyến bay rời Sài Gòn chỉ có 26 người, không kể phi hành đoàn. Cả máy bay không ai nói với ai, có trao đổi gì cũng chỉ nhìn nhau.
            Tôi chăm chú nhìn qua cửa kính máy bay, biết rõ lắm đây có lẽ là lần cuối cùng mình nhìn thấy thành phố thân yêu, thành phố mình đặt chân xuống khi chiếc DC 3 của quân đội Pháp rời Hải Phòng và đáp xuống Tân Sơn Nhất vào đêm Noel 1954. Giờ ra đi, 20 năm sau, rời Tân Sơn Nhất. Tôi nhìn xuống, không rời mắt những phong cảnh hiện ra phía dưới máy bay, cố ghi nhận, nhưng không nhận ra gì nữa. Không có gì quen thuộc nữa hết.
            Mấy ngày trước khi còn trong đài Mẹ Việt Nam, hôm 18 Tháng Tư 1975, nhận danh sách đã đánh máy có chữ ký của mình, tôi được dặn dò: nhớ mang theo 5 ngày lương khô. Hỏi vài người bạn đồng sở, nay tôi nhớ, các anh không còn ở đời này nữa, các anh đã đi lần lượt đi rồi, chúng tôi đã hỏi nhau: mang theo 5 ngày lương khô là thế nào? Chúng tôi hỏi nhau, cười, và lắc đầu, không ai trả lời được. Ban biên tập của chúng tôi lúc ấy có anh Nguyễn Thượng Tiến (danh sách gia đình anh khoảng 30 người!); anh Trúc Sĩ trong nhóm tạp chí Thế Kỷ Hà Nội 1950, tác giả Kẽm Trống, nay không còn nữa; anh Ch. Ph. của báo Ngôn Luận từ 1955 cả chục năm rồi không gặp; nhà văn Xuân Vũ tác giả Ðường Ði Không Ðến đã qua đời ở Austin, Texas;… Ngoài ra là các cộng tác viên chỉ gửi bài vào: có nhà văn Võ Phiến đã qua đời; có Túy Hồng ở đâu đó vùng Tây Bắc Washington state.
            Những ngày này, và cái hẹn 21 Tháng Tư năm 1975 ra bến xe để vào phi trường Tân Sơn Nhất đã là một cơn khủng hoảng cho các cộng tác viên với đài, nếu cộng tác viên ấy ngoài đời là công chức hay quân nhân. Họ đã đối đầu một cái hẹn sinh tử: ngày 21 Tháng Tư 1975 bỏ Sài Gòn ra đi, nếu anh là công chức: anh là kẻ đào nhiệm; nếu anh là quân nhân: anh là kẻ đào ngũ. Chính là vấn đề đó mà sau này tôi đoán ra tại sao chiếc DC 3 trên có gia đình tôi đã chỉ có 26 người: những người khác không tới vì họ không thể đào nhiệm hay đào ngũ vào ngày 21 Tháng Tư 1975. Buổi sáng hôm đó ông Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chưa đọc diễn văn từ chức trên truyền hình, mãi tối hôm đó ông mới đọc. Có thể nếu giờ hẹn là sáng hôm sau 22 Tháng Tư thì khác. Riêng tôi không có gì thay đổi vì đã giải ngũ từ năm 1972 sau khi thi hành xong nghĩa vụ quân sự. Tôi quyết định ra đi dù không giải nghĩa được rõ ràng tại sao đi theo đài phải mang theo 5 ngày lương khô. Chúng tôi (các anh Trúc Sĩ, Thượng Tiến… Thanh Nam và tôi) đã cười nói với nhau: họ gián tiếp cho mình biết rằng khoảng cách của chuyến di chuyển là 5 ngày lương khô, nếu đi đường biển: Saigon-Ðài Loan, Saigon-Subicbay; Saigon-Guam… khoảng 5 ngày lương khô là thế!
            Ðể nhớ Thanh Nam ngày cùng đi Phú Quốc, cùng lên tàu American Challenger lúc 11 giờ đêm 29 Tháng Tư 1975:
            Thơ Thanh Nam

                                    Buổi đầu
                        Tới đây mùa đã xuân hồng
                        Cây vui trổ lá, nụ mừng đơm hoa
                        Xin chào bằng hữu gần xa
                        Dẫu chưa quen biết đã là anh em
                        Ðất lành chào mộng bình yên
                        Tình Ðông nghĩa Bắc càng thêm mặn nồng
                        Ðường vui chào bước tao phùng
                        Rộn ràng phố thấp, chập cùng đồi cao
                        Ngất ngây hương vị buổi đầu
                        Say say men rượu ngọt ngào chất nho
                        Tới đây như tự bao giờ
                        Ngẫu nhiên nắng sớm, tình cờ mưa khuya
                        Tủi mừng dăm mặt cố tri
                        Tưởng xa nghìn dặm lại về một phương.
                        Ngậm ngùi câu chuyện tha hương
                        Nhìn nhau tóc đã điểm sương điểm buồn
                        Lạc trong trận đấu mê hồn
                        Còi chưa mãn cuộc, chân còn tới lui
                        Về đây chung phận chung đời
                        Chung tay tiếp lửa đẩy lùi bóng đêm
                        Thôi chào quá khứ ngủ yên
                        Những đau thương cũ vùi quên cuối trời
                        Giã từ luôn nữa nổi trôi
                        Cành tươi chim đậu, bên vui thuyền về…

                        (Seattle, 30 Tháng Tư, 1976)


VIÊN LINH
Tháng 4/2017



http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thanh-nam-dat-khach-nhung-ngay-thang-tu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #122 vào: 08/05/2018, 22:45:28 »
Nhà thờ Đức Bà Paris

Nghiêng mình thả một đồng tiền xu vào “Cột mốc số Không” trên quảng trường Nhà thờ Đức Bà, một nữ du khách người Tây Ban Nha nhắm mắt, hai bàn tay chắp trước ngực, ngước về phía mặt tiền nhà thờ nhẹ nhàng cầu nguyện.

Nhà thờ Đức Bà Paris (nhìn từ phía sông Seine)

THIẾU NỮ này chỉ là một trong khoảng 14 triệu du khách hàng năm tới thăm quan Nhà thờ Đức Bà Paris. Theo số liệu thống kê chính xác của Phòng Du lịch Paris, có tới 14.300.000 du khách tới công trình nổi tiếng này vào năm 2014, nhờ miễn phí vé vào cửa, nên nhà thờ Đức Bà đứng đầu danh sách 61 công trình văn hóa được thăm quan nhiều nhất tại thủ đô.
            Nằm trên đảo Cité, giữa lòng trung tâm lịch sử của Paris, du khách có thể khám phá Kho báu của nhà thờ Đức Bà và có chiêm ngưỡng toàn cảnh Paris từ hai ngọn tháp. Vào mùa hè hàng năm, tổ chức Cộng đồng tiếp đón tại các Khu vực nghệ thuật (gọi tắt là CASA), được Cha Alain Ponsar thành lập từ năm 1967, luôn tổ chức nhiều chương trình giới thiệu miễn phí bằng nhiều thứ tiếng để giúp du khách nước ngoài khám phá một số bí ẩn của Nhà thờ.
            Mùa hè năm nay, Thanh Thảo, một tình nguyện viên của CASA, giúp du khách và sinh viên Việt Nam, thậm chí là người Việt đang sinh sống tại Paris, có cơ hội khám phá một lần nữa vẻ đẹp và sự huyền bí của nhà thờ Đức Bà.

Gần 200 năm xây dựng nhà thờ Đức Bà Paris
            Nhà thờ Đức Bà được xây dựng vào thế kỷ XII, vào thời hoàng kim của Thiên Chúa giáo. Paris lúc đó đã trở thành một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa. Người dân Paris cần một thánh đường tương xứng với tầm quan trọng của thành phố. Năm 1163, viên đá đầu tiên của nhà thờ Đức Bà được đặt xuống. Dàn thờ Thiên chúa được quay về hướng Đông, nơi mặt trời mọc, và cũng là biểu tượng của sự phục sinh của Chúa. Mặt tiền được hoàn thành vào năm 1351. Cổng chính giữa của mặt tiền, gọi là cổng Phán xét cuối cùng, được xây quay về phía Tây, nơi mặt trời lặn và cũng là tượng trưng cho tận thế và cái chết.
            Trên mặt tiền có ba cổng, lần lượt từ trái qua phải là có cổng Đức Mẹ Đồng Trinh (le Portail de la Vierge), cổng Phán xét Cuối cùng (le Portail du Jugement dernier) và cổng Thánh Anna (le Portail Sainte-Anne). Nếu như cổng Thánh Anna nói về cuộc sống của Đức mẹ Maria và Chúa Giê-su ra đời, thì cổng Đức Mẹ Đồng Trinh nói về cái chết của Đức mẹ Maria và giây phút bà lên ngôi Nữ hoàng của Bầu trời. Ở trên cổng Đức Mẹ Đồng Trinh, chúng ta có thể nhìn thấy một bức điêu khắc nói về sự tích Adam và Eva, nhắc với con chiên về tội lỗi của tổ tiên loài người. Cái giá phải trả cho tội lỗi của loài người là lao động.
            Thời Trung cổ, hoạt động chủ yếu của người dân là nông nghiệp. Vậy nên, chúng ta có thể chiêm ngưỡng trên hai góc cổng các hoạt động nông nghiệp tương ứng với 12 tháng trong năm. Ở bên trái của cổng, chúng ta có thể thấy tượng của Thánh Denis đang cầm đầu của mình trong tay. Ông là người đã mang đạo Ki tô giáo từ Jerusalem về Paris năm 250. Và với hành động này, ông đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình. Ông bị chém đầu trên đỉnh Montmartre. Người ta kể lại rằng, sau khi bị tử hình, Thánh Denis đã cúi xuống và bưng đầu của mình lên. Ông mang đầu của mình đi khoảng 7-8 km lên phía Bắc của Paris trước khi ngã xuống. Và nơi ông ngã xuống, trở thành địa điểm xây dựng Nhà thờ Saint-Denis ngày nay.
            Ở giữa là cổng Phán xét Cuối cùng, nói về số phận của con người sau cái chết. Sau khi chết đi, con người sẽ sống lại và Chúa Giê-su sẽ phán xét xem con người có thể lên thiên đường hay xuống địa ngục. Ở giữa mái vòm trên bức điêu khắc giữa cổng, chúng ta có thể nhận thấy một bên là thiên thần còn bên kia là quỷ ác. Và nếu con người yêu chúa, thì sẽ được lên thiên đường cùng với thiên thần. Trong khi đó, nếu không tin vào Thiên chúa, con người sẽ phải xuống địa ngục.

Ba cửa sổ hình hoa hồng: ba kho báu của nhà thờ
            Bây giờ, khi mở cánh cổng ra, chúng ta có thể chiêm ngưỡng sự rộng lớn của nhà thờ Đức Bà. Ngước lên trần nhà, chúng ta có thể nhìn thấy những mái vòm cao 33 mét, được xây theo kiến trúc Gothic và hai bên nhà thờ Đức Bà có rất nhiều cửa sổ, giúp cho ánh sáng tự nhiên bên ngoài xuyên vào bên trong để chiếu sáng cả tòa nhà.
            Kiến trúc Gothic có những vòm cửa nhọn rất đặc trưng, giúp cho trọng lượng của đá được dẫn đều vào trụ thay vì tường. Nhờ đó, vai trò của tường giảm đi, nên người ta có thể phá tường và thay vào đó là các cửa sổ kính màu. Khi tiến đến cánh ngang của nhà thờ, chúng ta có thể chiêm ngưỡng được ba cửa sổ hình hoa hồng, cũng là ba kho báu của nhà thờ Đức Bà, được lắp đặt vào thời kỳ Trung cổ.
            Nhìn vào bông hồng phía Bắc, ở trung tâm là hình ảnh Đức Mẹ và Chúa hài đồng và xung quanh là các nhà tiên tri và các vua của Cựu Ước. Những nhân vật này có mặt trên những cánh hoa ở xung quanh tâm của hoa hồng, ánh nhìn của họ hướng về Đức Mẹ và Chúa hài đồng. Bởi vì sự giáng trần của Chúa là điều họ đã tiên đoán và trông đợi bấy lâu nay.
            Sau Cựu Ước là Tân Ước, đối diện với bông hồng phía Bắc là bông hồng phía Nam. Trên bông hồng phía Nam, chúng ta có thể nhìn thấy Chúa Giê-su ở tâm và xung quanh là 12 môn đồ cùng với các vị Thánh. Dĩ nhiên, tất cả những nhân vật này đều thuộc Tân Ước. Con số 12 được lặp đi lặp lại trong các vòng cánh hoa. Vì sao? Bởi vì con số 12 tượng trưng cho 12 môn đồ, tượng trưng cho 12 dân tộc Israel. 12 cũng là “3 nhân 4”: “3” như Cha, Con và các vị thánh thần; “4” là bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc, là bốn người phát ngôn, bốn cạnh của một hình vuông và hình vuông là tượng trưng cho Trái đất.
            Bông hồng phía Tây, đối diện với bàn thờ, bị đàn orgue che khuất một phần. Bông hồng này nói về chủ đề lao động, bởi vì lao động vừa là sự nguyền rủa của Thiên Chúa, vừa là nhiệm vụ của loài người. Vì vậy, trên bông hồng này, chúng ta có thể thấy 12 cung hoàng đạo tượng trưng cho 12 tháng trong năm, cũng như những hoạt động tương ứng với mỗi tháng trong năm.
            Bây giờ, khi hướng ánh nhìn về phía giàn thờ, chúng ta có thể quan sát thấy hai mảnh còn sót lại của một bức tường từ thời Trung cổ bao quanh giàn thờ. Những bức tường này có vai trò bảo vệ cho các Cha khỏi cái lạnh, cũng như âm thanh từ các con chiên ở trên hành lang. Và khi xây bức tường này, các Cha cũng mong muốn rằng đây là nơi giảng kinh thánh. Vì vậy, chúng ta có thể nhìn thấy trên bức tường những bức điêu khắc phác lại những sự kiện chính trong kinh thánh. Phải hình dung ra rằng, ngày trước, các con chiên và các Cha bị ngăn cách bởi một bức tường chắn. Sau quyết định của Concile de Trente (Hội đồng Ba mươi) vào thế kỷ XV, người ta đã phá bỏ phần bức tường ngăn cách giữa giàn thờ và khán đài, bởi vì bức tường này ngăn chặn sự tiếp xúc giữa các Cha và con chiên.
            Nhìn vào những bức điêu khắc này, chúng ta có cảm giác chúng được làm bằng gỗ, nhưng thực ra đây là những bức điêu khắc bằng đá. Chúng còn tồn tại được đến ngày nay là vì, vào thế kỷ XVIII, do kiến trúc Gothic bị coi là lỗi thời, nên người ta đã trát đất để che phủ những bức tượng này. Cho tới thế kỷ XIX, kiến trúc sư Viollet-le-Duc, người phụ trách quá trình trùng tu nhà thờ Đức Bà, đã phát hiện ra những bức tranh tường này và nhờ đó, ông đã cứu sống và tu sửa lại để chúng có thể tồn tại được tới ngày nay.
            Đi bộ ra phía sau giàn thờ, chúng ta có thể chiêm ngưỡng được vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su ở trong một hộp bằng kính màu đỏ. Vòng nguyệt quế là vương miện mà quân lính đã đặt lên đầu ngài trước khi bị đưa lên cây thánh giá. Bởi vì, như chúng ta đã biết, Chúa Giê-su là vua của người Do Thái. Và đặt vòng nguyệt quế lên đầu chúa Giê-su là biểu hiện của sự khinh bỉ.
            Vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su bắt đầu được các con chiên đến viếng thăm từ thế kỷ thứ IV tại Jerusalem. Sau này, giữa thế kỷ thứ VII và thế kỷ thứ X, vòng nguyệt quế được chuyển từ Jerusalem tới Constantinople (Istanbul ngày nay). Sau đó, vòng nguyệt quế lại rơi vào tay các Hoàng đế Byzantine. Những vị vua này gặp khó khăn về tiền bạc, nên họ đã bán vòng nguyệt quế cho một nhà buôn ở Venice (Ý). Vào thế kỷ XIV, vua Louis IX đã mua lại vòng nguyệt quế từ tay nhà buôn trên, với giá 135.000 franc. Vua Louis IX đã mang vòng nguyệt quế về Pháp và xây dựng nhà thờ Sainte-Chapelle để bảo vệ vòng nguyệt quế, cùng với một số linh vật khác của Chúa Giê-su. Vòng nguyệt quế được bảo quản ở Sainte-Chapelle cho đến cuộc Cách mạng Pháp vào năm 1789.
            Vào năm này, vua Louis XVI đã chuyển vòng nguyệt quế từ Sainte-Chapelle lên nhà thờ Saint-Denis ở phía Bắc Paris, sau đó lại chuyển về Thư viện Quốc gia Pháp. Năm 1801, Napoléon I ký kết hiệp ước giữa Nhà nước và Giáo hội. Hòa bình trở lại, Napoléon I trao trả vòng nguyệt quế cho nhà thờ Đức Bà và nhà thờ bảo vệ vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su từ năm 1801 cho tới nay. Mỗi thứ Sáu đầu tháng, các con chiên từ khắp nơi về nhà thờ Đức Bà để viếng vòng nguyệt quế của Chúa Giê-su cùng với một cây đinh và một mảnh của cây thánh giá thật.


THU HẰNG
Tháng 10/2015


http://vi.rfi.fr/phap/20151023-nha-tho-duc-ba-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #123 vào: 15/05/2018, 23:56:58 »
Ngọc Lan, 15 năm tiếng hát về trời

Ngày này, 15 năm trước (06/03/2001), làng âm nhạc Việt Nam chia tay một người con gái với tiếng hát được biết đến như một hiện tượng của văn nghệ Việt Nam đầu thập niên 90. Cô ra đi để lại nhiều giai thoại về những ngày cuối đời của mình.

Ca sĩ Ngọc Lan – một hiện tượng của văn nghệ Việt Nam đầu thập niên 90

ĐÓ LÀ Ngọc Lan, người ca sĩ với gương mặt khả ái và tiếng hát nhẹ như sương.
            Cát Linh mời quí vị quay về những ca khúc đã mang cô đến với khán giả Việt Nam, nghe lại chính những lời tâm sự của cô trong những ngày chưa rời xa thế giới này, cùng những kỷ niệm trong thời gian làm việc với cô do ông Trần Thăng, giám đốc trung tâm ca nhạc Mây Production kể lại.

                        “Mưa buồn mãi rơi trên biển xưa âm thầm
                         Ôi biển vắng đêm nao tình trao êm đềm
                         Cơn sóng nào khơi lên nỗi đau trong em bao nhiêu chiều
                         Lang thang một mình…

                         (Mưa trên biển vắng)

Ngọc Lan rất muốn có cơ hội để phát triển khả năng của mình trên mọi lĩnh vực. Thứ nhất là để thỏa mãn đam mê nghệ thuật của chính mình. Thứ hai là Ngọc Lan hy vọng sẽ đóng góp một phần nhỏ của mình vào lãnh vực thứ bảy của Việt Nam…

            Chắc có lẽ chúng ta, những ai đã từng có một thời nồng nàn với Mưa trên biển vắng, với Hai mươi năm tình cũ, với Mùa đông sắp đến trong thành phố, hay những ca khúc Pháp lời Việt như Joe Le Taxi, Mal De Toi, La Plus Belle Pour Aller Danser (Em đẹp nhất đêm nay)… thì sẽ không thể nào quên tiếng nói trong vắt, nhẹ như sương ấy, tiếng hát Ngọc Lan, người ca sĩ sở hữu gương mặt hiền như thánh nữ.
            Cô chia sẻ giấc mơ nghệ thuật đó với khán giả và MC Nam Lộc cách đây 24 năm, trong đêm nhạc đầu tiên của Mây Production Hollywood Night 1. Đêm ấy cũng là lần đầu tiên cô trình bày Mưa trên biển vắng, một ca khúc lời Việt của cố nhạc sĩ Nhật Ngân.
            15 năm sau, mơ ước ấy đã bay về trời cao, mang theo người ca sĩ tài hoa đoản mệnh.

                        “Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
                         Có khi nắng khuya chưa lên mà một loài hoa chợt tím
                         Chiều một mình qua phố âm thầm nhớ nhớ tên em
                         Gót chân đôi khi đã mềm gọi buồn cho mình nhớ tên…

                         (Chiều một mình qua phố)


Hình bìa trong album thứ 5 của ca sĩ Ngọc Lan

Những thuở ban đầu
            Không khó để tìm thấy những bài viết về cô, người nữ ca sĩ tài sắc vẹn toàn nhưng vắn số. Thế nhưng, rất hiếm, nếu không muốn nói là không có, những bài phỏng vấn về cô. Tất cả những gì chúng ta có thể tìm được là những tình cảm chưa bao giờ dứt của người ở lại dành cho nữ ca sĩ tài hoa bạc mệnh này.

Ông Trần Thăng: “Ngọc Lan là một người gần như là không có những sự bon chen về thương mại. Ngọc Lan rất ngại khi được người ta nói về mình, viết về mình. Gần như là Ngọc Lan trốn tránh hết những cái đó. Chính vì những cái đó tạo ra cho mọi người thấy rằng Ngọc Lan là một người mà người ta lúc nào cũng muốn tìm hiểu thêm, biết thêm”.

            Người rất gần gũi trong suốt sự nghiệp của cô, ông Trần Thăng, giám đốc của Mây Production, khi nhớ về cô, ông luôn nói rằng “chúng tôi làm chương trình với Ngọc Lan, chứ không làm cho Ngọc Lan.”
            Ông nhấn mạnh, đó là tính cách của cô. Ngọc Lan hoàn toàn không tạo ra điều đó. Sự bình dị ấy tự nhiên như tiếng hát của cô, không cầu kỳ, không phô trương kỹ thuật.

                        “Trong đôi mắt anh em là tất cả
                         Là nguồn vui, là hạnh phúc em dấu yêu
                         Nhưng anh ước gì
                         Mình gặp nhau lúc em chưa ràng buộc
                         Và anh chưa thuộc về ai…

                         (Như đã dấu yêu)

            Tiếng hát nồng nàn, cao vút và nhẹ như sương khói ấy đi vào lòng người ngay từ những ngày đầu tiên trong nghiệp hát. Cô chinh phục khán giả không chỉ bằng chất giọng êm đềm, phong cách dịu dàng mà còn với cả sự chân tình trong lời nói.

Lan nghĩ mọi người có một nghiệp dĩ. Và nghiệp dĩ của Lan đã gắn liền với cuộc sống ca hát. Cho nên từ sự tình cờ này nối tiếp sự tình cờ khác mà ngày hôm nay Lan trở thành một ca sĩ mang tên Ngọc Lan và được trình diễn trên đây cho tất cả quý vị”.

            Đối với người con gái này, hình như tất cả đều là định mệnh. Cô nhìn cuộc đời và sự nghiệp của mình nhẹ như sương như khói. Cô càng nâng niu trân trọng khán giả bao nhiêu thì cô càng khắt khe với chính mình bấy nhiêu.

Ông Trần Thăng: “Trong suốt thời gian sinh hoạt văn nghệ, tôi chỉ thấy ca sĩ Ngọc Lan là một người có tinh thần làm việc có thể nói rằng không ai sánh bằng. Tất cả những thành quả mà Ngọc Lan có được phần lớn là do Ngọc Lan chứ không phải do trung tâm hay do ai mà có thể làm ra như vậy được. Ngọc Lan là một người ca sĩ rất hiếm quý của nền âm nhạc Việt Nam”.

            Hình như khi nghe cô hát, nhìn cô trình diễn trên sân khấu người ta cảm thấy mọi sự hận thù không có chỗ đứng trong thế giới này. Cho dù, nhìn cô hát, chúng ta cứ ngỡ như đang chiêm ngưỡng một bức tranh hoạ người thiếu phụ buồn, buồn từ đôi mắt đến dáng người, và giọng hát.

                       “Chuyện tình mười mấy năm qua nay bỗng xót xa những khi sầu dâng.
                        Còn đâu ngày quen biết nhau đã yêu em rồi, yêu cả cuộc đời…

                        (Tình phụ)

            Ngọc Lan đa tài. Đúng thế. Có nghe cô nồng nàn với những ca khúc Pháp trữ tình lời Việt mới thấy được vì sao Ngọc Lan là một hiện tượng của thập niên 90.

                       “Ngày đó cứ ngỡ với nhau ta muôn đời chung bước về
                        Tình mới đó quá đắm say thoáng đã nghe những ê chề
                        Người hỡi có nhớ tới em những đêm xưa ta say ân tình…

                        (Comme Toi – Người yêu dấu ơi)

            Bao nhiêu là thế hệ thanh niên trưởng thành ở thập niên 90 thời đó từ phía bên kia bờ đại dương đã say mê bầu trời trong vắt với vô vàn vì sao, đắm mình nghe tiếng sóng biển giữa bãi khuya, chỉ qua tiếng hát ngọt ngào của cô

                       “Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya
                        Tôi đi vào thương nhớ,
                        Tôi đi tìm cơn gió
                        Tôi xây lại mộng mơ năm nào
                        Bờ biển sâu, hai đứa tôi gần nhau…

                        (Nha Trang ngày về)

            Nhà văn Đỗ Vẫn Trọn, trong bài viết “Ngọc Lan một vầng trăng” có nói rằng: “Ngọc Lan chưa phải là một nhan sắc rực rỡ đứng ở tiền trường. Ngọc Lan – chưa phải là một giọng ca dội cuốn năm châu – nhưng Ngọc Lan, từ nhan sắc đến giọng ca của nàng đã thực sự trở thành giấc mơ thầm kín, trở thành ao ước ngọt ngào, kín lặng của những tâm hồn trai mới lớn, của những gương thanh niên vào đời, hăm hở chân đi.”


Ca sĩ Ngọc Lan trong một album do công ty Mây Production sản xuất

Những ngày cuối…
            Không dễ dàng chút nào khi nói về một huyền thoại.
            Ngọc Lan là một huyền thoại. Một huyền thoại trong vắt mà người đời chỉ có thể tìm thấy những tì vết cho chính người đời thêu dệt.
            Khi đang ở đỉnh cao sự nghiệp, cô phát hiện mình có bệnh, căn bệnh đa thần kinh hóa sợi tác động vào trung khu thị lực của cô. Nhưng không như những lời đồn đoán bên ngoài rằng người ca sĩ khả ái này đã bị mù, ông Trần Thăng cho biết những ngày sau đó, cô vẫn ngồi làm việc cùng ông trên những tác phẩm do Mây Production và Ngọc Lan cùng thực hiện.

Ông Trần Thăng: “Ngọc Lan vẫn ngồi editing với tôi, vẫn xem được video. Nhưng Ngọc Lan nói rằng Lan chỉ nhìn thẳng được thôi, cũng như Lan nhìn vào cái ống nhòm. Lan không thấy được những gì xung quanh. Lan chỉ thấy phía trước thôi. Không phải là Ngọc Lan không nhìn thấy.
            Ở ngoài thì người ta bắt đầu nói Ngọc Lan bị tiểu đường hay bị gì đó, hoàn toàn không có. Thậm chí có người gọi cho tôi nói là hôm nay tôi mới đi lễ cầu nguyện cho linh hồn cô ấy, người ta nói cô ấy mất rồi. Tôi không nói những điều đó với Ngọc Lan. Nhưng rồi cô ấy cũng biết. Và cô ấy chỉ nói rằng anh Thăng ơi, khi nào Lan không còn hát được nữa thì cho Lan biết để Lan ngưng, chứ Lan không muốn kéo dài mãi
”.

Loài hoa bất tử
            Ngọc Lan là một hiện tượng mà cho đến hơn mười lăm năm sau, kể từ ngày cô tạm biệt thế giới này, người ta vẫn còn nhắc, nói, nhớ về cô với vẹn nguyên hình ảnh một gương mặt đẹp khả ái, hiền hòa luôn phảng phất một nỗi buồn. Cái buồn làm cho người đối diện cảm thấy như cô có thể vỡ tan bất cứ lúc nào.

Ông Trần Thăng: “Thực sự vì mình đang nói chuyện qua điện thoại, nếu mà bây giờ đang là video thì sẽ thấy mắt tôi đang ứa lệ. Vì mỗi lần nhắc đến Ngọc Lan thì nhắc lại cho tôi nhiều kỷ niệm”.

                        Mỹ nhân tự cổ như danh tướng.
                        Bất hứa nhân gian kiến bạc đầu.

            Ngọc Lan, người con gái mong manh với tiếng hát nhẹ như sương đã đến một nơi rất xa. Nơi đó tuy không có bờ cát trắng, không có những tiếng vỗ tay đón chờ cô cất tiếng hát, nhưng chắc chắn, cô sẽ nghe được lời gọi của những người ở lại, luôn gọi tên cô với tình yêu chưa bao giờ dứt.


CÁT LINH
Tháng 3/2016


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/ngoc-lan-15yrs-a-time-has-gone-03062016075045.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #124 vào: 23/05/2018, 23:08:58 »
“Cô bé Quàng khăn đỏ”: Cẩm nang giáo dục giới tính

Cũng như bao câu chuyện cổ tích khác, Cô bé Quàng khăn đỏ của Grimm phản ảnh nỗi ám ảnh truyền kiếp của con người đối với sói, trên cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Vì sói đại diện cho loài thú dữ mà còn là hiện thân cho “cái ác”. Nhưng đối với Bruno Bettelheim, một nhà tâm lý học người Mỹ, Cô bé Quàng khăn đỏ còn mô tả quá trình biến chuyển tâm sinh lý khó khăn của một bé gái trong độ tuổi dậy thì, độ tuổi mà các bản năng giới tính bắt đầu hình thành và làm nảy sinh các “cảm xúc mâu thuẫn” mà các em cần phải vượt qua.

Cô bé Quàng khăn đỏ, ảnh minh họa của Jessie Willcox Smith, năm 1911

CHUYỆN KỂ RẰNG, có một bé gái mà người dân trong làng thường hay gọi cô là Cô bé Quàng khăn đỏ. Một hôm cô phải băng rừng một mình để đem bánh, rượu và bơ cho bà đang ốm nặng. Bà sống đơn độc một mình bên kia khu rừng. Trên đường đi, cô gặp một con sói và vô tình rơi vào cái bẫy do nó giăng ra, để rồi cả hai bà cháu đều bị sói nuốt chửng vào bụng. Vừa hay có bác thợ săn đi ngang, bác mổ bụng sói và cứu sống cả hai bà cháu.
            Đó là nội dung câu chuyện cổ tích Cô bé Quàng khăn đỏ do hai anh em người Đức Jacob et Wilhelm Grimm phát hành vào năm 1812. Trước đó hơn 100 năm, Charles Perrault (1628-1703), một nhà văn Pháp thế kỷ XVII, đã từng biến câu chuyện dân gian truyền khẩu này thành một câu chuyện văn chương vào năm 1697.
            Dù là phiên bản của ai đi chăng nữa, đã mấy trăm năm qua câu chuyện này vẫn tiếp tục lôi cuốn biết bao thế hệ trẻ thơ, bởi tính chất ngây ngô, dễ thương, nhân vật gần gũi với trẻ em và mang nhiều ý nghĩa giáo dục đạo đức và tình người. Thoạt nhìn các tình tiết của câu chuyện có vẻ “hợp tình hợp lý” và nhất là còn được kèm theo một bài giáo huấn “đạo đức” bằng thơ dành cho trẻ ở cuối câu chuyện (theo như bản kể của Perrault).

Cô bé Quàng khăn đỏ dành cho trẻ từ 4-6 tuổi?
            Nhưng nếu bỏ chút thời gian ngồi nghiền ngẫm lại câu chuyện, chắc là chúng ta sẽ thấy nhiều điều khá thú vị, thậm chí còn thấy hơi “kỳ lạ” tùy theo từng quan điểm. Một loạt các câu hỏi sẽ xuất hiện: Câu chuyện này có thật “hợp tình hợp lý” hay không? Nếu có thì đâu là bản chất thật của sự “hợp tình hợp lý” đó? Nếu cho rằng câu chuyện này là dành cho trẻ con, vậy cho độ tuổi nào? Cho là Cô bé quàng khăn đỏ còn rất nhỏ, nhưng là bao nhiêu tuổi mới được?
            Có giả định rằng đây là câu chuyện dành cho trẻ trong độ tuổi 4-6. Điều đó cũng giải thích phần nào phản ứng ngây ngô của cô bé trước con sói dữ. Cô bé tiết lộ gần hết cho sói biết bà đang bị ốm, sống đơn độc một mình và đang đợi cô đến thăm. Nếu như thế, thái độ của người mẹ và người bà rõ ràng là khá “kỳ lạ”. Có người mẹ nào lại có thể gửi một đứa bé còn nhỏ như vậy, một mình băng qua một khu rừng âm u, một nơi đầy nguy hiểm với một trang phục quá đỗi bắt mắt để rồi thu hút sự chú ý của con sói. Đương nhiên, người mẹ cũng đưa ra nhiều lời dặn dò khôn ngoan, nhưng liệu một đứa trẻ còn nhỏ như vậy có ngoan ngoãn vâng lời hoàn toàn hay không. Ngoài điều đó ra, mối họa cho đứa trẻ có thể nói là chết người.


Tranh minh họa của Gustave Doré năm 1867

Cô bé Quàng khăn đỏ hay nỗi sợ hãi bị sói tấn công?
            Cũng có ai đó sẽ lập luận rằng đó là do hoàn cảnh lịch sử. Quả thật, khi Charles Perrault viết lại câu chuyện này, nước Pháp hứng chịu cùng lúc nạn đói hoành hành và tình trạng sói thật tấn công người rất dữ dội.
            Theo sử gia Jean-Marc Moriceau, chuyên nghiên cứu về lịch sử phát triển nông thôn Pháp (Nguyệt san Historia số ra tháng Giêng năm 2014), trong vòng 10 năm từ 8/1689-12/1699, đã có đến 400 người là nạn nhân của sói, tức bình quân 40 nạn nhân/năm. Đa phần nạn nhân là phụ nữ và trẻ em, chủ yếu xuất thân nông dân nghèo. Trẻ con buộc phải ra đồng một mình chăn dắt đàn gia súc trên những trảng cỏ hoang vu hay trong những tảng rừng thấp. Theo số liệu nghiên cứu có được, hầu hết số trẻ bị sói vồ đều nằm trong độ tuổi 5-14 tuổi, trong đó các bé gái chiếm đa số.
            Có thể nói, trong bối cảnh đó, Cô bé Quàng khăn đỏ là hình mẫu lý tưởng cho các nạn nhân của sói. Điều này cũng giải thích vì sao câu chuyện Cô bé Quàng khăn đỏ chiếm một vị trí khá quan trọng trong bộ tuyển tập “Những mẫu truyện kể hay những câu chuyện ngày xửa ngày xưa” của nhà văn Pháp Charles Perrault.
            Nhưng nếu nói như vậy, thì chi tiết chính của câu chuyện lại có vẻ không hợp lý. Bởi vì một đứa trẻ nghèo đói làm thế nào có được chiếc áo choàng đỏ đẹp đến thế.

Cô bé Quàng khăn đỏ hay “cẩm nang giáo dục giới tính” cho trẻ?
            Cứ cho là cô bé Quàng khăn đỏ không đến nỗi quá nhỏ, có thể cô ở độ tuổi 9-10. Vì điều này phù hợp với việc cô bé có thể tự mình băng qua khu rừng rậm, hãnh diện khoác trên người chiếc áo màu đỏ ưa thích của mình. Nhưng nếu như thế, xét về phương diện tâm lý, rõ ràng thái độ của cô bé trong lần đầu tiên gặp sói cũng thật là khó hiểu.
            Hơn nữa, dù ở độ tuổi nào đi chăng nữa, khi đối diện với người bà “giả mạo”, thái độ của cô bé thật là “kỳ lạ”. Không những cô không hay biết nguy hiểm đang rình rập, mà cô bé có vẻ như bị “mê hoặc” bởi con sói khi từ từ tiến gần lại phía giường nằm.
            Mặt khác ta cũng lưu ý thấy rằng mục đích của con sói dữ không chỉ nhằm ăn thịt cô bé, vì nó đã có thể vồ lấy ngay cô bé khi vừa bước chân vào nhà mà không cần phải chơi trò Hỏi-đáp.
            Đối với Bruno Bettelheim (1903-1990), một nhà tâm lý học về trẻ em trong một tác phẩm nổi tiếng Psychanalyse des contes de fée (Nguyên tác là: The Uses of Enchantment: The meanning and Importance of Fairy Tales – tạm dịch: Ý nghĩa phân tâm học của truyện cổ tích), tất cả những điều đó chỉ có thể giải mã được thông qua các tiếp cận phân tâm học.
            Cũng như nhiều nhà tâm lý và phân tâm học khác, Bettelheim cho rằng Cô bé Quàng khăn đỏ còn là một câu chuyện bàn về “bản năng giới tính” rõ nghĩa nhất trong số các câu chuyện cổ tích.
            Quả thật vốn dĩ ngay từ đầu Cô bé Quàng khăn đỏ do Charles Perrault viết đã mang một ý nghĩa giáo dục về “bản năng giới tính” cho các em gái nhỏ. Nhưng Bruno Bettelheim lấy làm tiếc rằng vì quá thiên về giáo dục “đạo đức”, Charles Perrault đã làm cho câu chuyện mất đi “cái hồn” vốn có. Ông bộc bạch quá rõ ý nghĩa thật sự của câu chuyện. Con sói trong câu chuyện rõ ràng không phải là một loài thú dữ, mà chỉ là hình ảnh ẩn dụ, khi ông viết rằng: “Khi cô bé cởi bỏ y phục và đến nằm cùng sói trên giường… và khi con thú dữ nói với cô bé rằng nó có đôi tay to là để ôm cô dễ hơn”.
            Sự đơn giản thái quá, kèm theo một bài học giáo huấn: “Các cô bé xinh xắn, biết cách ăn mặc và dễ thương, thường ít chịu lắng nghe người khác”, đã biến Cô bé Quàng khăn đỏ thành một câu chuyện “cảnh giác” thay vì là một câu chuyện cổ tích thật sự.
            Do đó, giữa hai phiên bản nổi tiếng này, Bruno Bettelheim ưng ý với bản kể của anh em nhà Grimm nhất. Câu chuyện do Grimm viết đã nêu bật được “một số vấn đề mấu chốt mà một bé gái đang ở tuổi học đường phải đối mặt khi các mối liên hệ Ê-đíp đang dần hình thành trong vô thức của các em. Những mối liên hệ đó có thể đẩy các em rơi vào cạm bẫy của một kẻ quyến rũ nguy hiểm…” Bởi vì, đây cũng là “độ tuổi mà các em chưa đủ chín chắn trên phương diện tình cảm, do chưa thể làm chủ được những xung đột Ê-đíp”.
            Ở đây cũng xin giải thích rõ về khái niệm “Ê-đíp”. Oedipus (tức Ê-đíp theo cách phát âm tiếng Việt) là một trong những anh hùng nổi tiếng nhất trong thần thoại Hy Lạp. Chàng là người giết cha, cưới mẹ, thắng con nhân sư quái ác rồi trở thành vua xứ Thebes (Hy Lạp). Rồi đến một ngày, Ê-đíp biết được sự thật, ông đau khổ, khi đó hoàng hậu đã tự tử, Oedipus lấy cái trâm trên đầu hoàng hậu mà chọc đui mù mắt của mình và bỏ đi. Từ đó, Oedipus sống trong sự đau khổ cho đến khi chết.
            Nhà phân tâm học Sigmund Freud đã mượn truyền thuyết này để đặt tên cho một đặc điểm tâm lý ở trẻ nhỏ từ ba đến năm tuổi mang tên “mặc cảm Ê-đíp”: đứa trẻ thể hiện sự quyến luyến người sinh thành ra mình, thuộc giới tính khác mình nhưng lại đố kỵ và căm ghét bậc phụ huynh cùng giới tính với mình.


Tranh minh họa của Gustave Doré

Nguyên lý sở thích và nguyên lý thực tiễn
            Trở lại với câu chuyện Cô bé Quàng khăn đỏ, Bettelheim cho rằng một trong những khó khăn chính mà bé gái sắp bước vào tuổi dậy thì cần phải giải quyết đó là vượt qua được trạng thái tâm lý mà Bettelheim gọi là “mâu thuẫn cảm xúc” (tiếng Pháp hay tiếng Anh viết là “ambivalence”).
            Ở độ tuổi này, các em nhỏ bắt đầu bị giằng co giữa hai nguyên lý “sở thích” và “thực tiễn”. Nguyên lý sở thích được thể hiện qua hình ảnh Cô bé Quàng khăn đỏ thích khám phá thế giới bên ngoài mà phớt lờ những lời cảnh báo của người lớn (tức nguyên lý thực tiễn): Không nghe lời cảnh cáo của mẹ là không nên rời xa con đường mòn.
            Cô còn để cho sói khơi dậy cảm xúc “sở thích” khi cô gặp nó ở cửa rừng: “Sao cháu không ngắm nhìn những bông hoa xinh đẹp quanh đây?… Dù sao đi nữa khu rừng này cũng rất là đẹp!
            Đối với Bettelheim, Cô bé quàng khăn đỏ là nạn nhân của mối xung đột “nguyên lý sở thích” và “nguyên lý thực tiễn”. Và việc để cho nguyên lý sở thích lấn át nguyên lý thực tiễn đã để lại nhiều hậu quả khôn lường như câu chuyện cảnh báo. Dù cảm thấy có điều gì đó bất bình thường khi đến nhà bà, nhưng cô bé vẫn cố tìm hiểu khi đặt các câu hỏi về tai, mắt, tay và miệng. Đó cũng chính là bốn giác quan của con người: nghe, nhìn, sờ và nếm. Những giác quan mà trẻ em cần dùng đến để khám phá thế giới bên ngoài.
            Khi bỏ ngoài tai các nguyên lý đạo đức, muốn rằng trẻ trong độ tuổi cắp sách đến trường, phải “đi thẳng” không được “tạt ngang tạt ngửa” như bổn phận yêu cầu, thì nữ nhân vật chính của chúng ta lại quay trở về trạng thái “Ê-đíp” của một đứa trẻ nhỏ: Chỉ tuân theo “sở thích”. Và vì không biết kiềm chế “sở thích”, cô đã nghe theo lời dụ dỗ của sói và tạo điều kiện cho nó đến ăn thịt bà mình.


Tranh minh họa của Carl Offterdinger

Trách nhiệm của người “Mẹ” và “Màu đỏ” của sự bạo lực
            Bruno Bettelheim cho rằng người bà (hay còn là hình ảnh của người mẹ) cũng xứng đáng nhận một hình phạt (qua việc bị sói nuốt vào bụng). Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển khó khăn, do đó bé gái rất cần một hình ảnh người mẹ mạnh mẽ để che chở và như là một tấm gương để noi theo.
            Thay vì như vậy, người bà trong câu chuyện lại để cho chính “sở thích” của mình vượt lên trên cả những gì là tốt cho trẻ: “Bà của cô bé… chẳng biết làm điều gì khác ngoài việc cho cô bé như một món quà”. Đối với Bettelheim, đó là một sự cưng chiều quá mức và điều đó chỉ có hại cho trẻ trong đời sống thực.
            Người bà (hay người mẹ) không những từ bỏ khả năng “quyến rũ” người khác phái của mình mà còn truyền khả năng đó lại cho đứa trẻ bằng cách trao tặng cho cháu chiếc áo choàng đỏ quá đỗi xinh đẹp. “Chiếc khăn choàng lụa đỏ mà bà cho cô bé cũng có thể được xem như là biểu tượng cho sự chuyển giao quá sớm khả năng quyến rũ tình dục, điều này còn được thể hiện rõ nét qua việc bà đã già và bệnh tật, quá yếu để có thể mà mở cửa”. Một nhận định có lẽ là khá lạ lẫm với độc giả Việt Nam.
            Đến đây, Bettelheim lưu ý đến màu đỏ của chiếc khăn choàng. Chi tiết này được nhắc đến rất nhiều lần trong toàn bộ câu chuyện và ngay trong bản thân tựa đề. Bởi vì nó “biểu trưng cho những cảm xúc mạnh bạo, nhất là những cảm xúc khơi dậy tính dục”.
            Ngay chính bản thân cái tên Bé quàng khăn đỏ cũng bao hàm một ý nghĩa rất quan trọng. Chiếc khăn ấy nhỏ bé, nhưng cô bé cũng vậy. “Không những cô còn quá nhỏ để choàng chiếc khăn đó, mà còn “quá bé” để mà đối diện với điều mà chiếc khăn choàng đỏ ấy tượng trưng”.
            Bởi vì, mối nguy hiểm đe dọa cô bé chính là bản năng giới tính của cô đang nảy sinh. Nhưng cô vẫn còn chưa đủ chín chắn trên phương diện tình cảm, do đó cô có thể dễ dàng rơi vào tay những kẻ dày dạn tình trường trên phương diện tâm lý.


Tranh minh họa của Walter Crane

Con sói và bác thợ săn: hình ảnh hai mặt của người đàn ông và cha
            Câu chuyện cổ tích này còn là một bức tranh tâm lý về vị trí quan trọng của người đàn ông dưới hai mặt đối lập: kẻ quyến rũ nguy hiểm – người sát hạt bà và cô bé quàng khăn đỏ và bác thợ săn, đại diện cho gương mặt người cha – mạnh mẽ, có trách nhiệm, người đã cứu sống hai bà cháu.
            Cả câu chuyện cứ như cho thấy là Cô bé quàng khăn đỏ đang cố tìm hiểu bản chất trái ngược nhau của nam giới thông qua việc trải nghiệm các mặt của cá tính, như là: những xu hướng ích kỷ và bạo lực thông qua hình tượng “Sói” và xu hướng vị tha và có suy nghĩ qua hình ảnh “bác thợ săn”.
            Như vậy, người đàn ông trong câu chuyện được thể hiện dưới hai hình dạng khác nhau: một bên là sói, đại diện cho những nguy hiểm của cuộc chiến Ê-đíp, và bên kia là bác thợ săn, trong vai trò người bảo vệ và cứu nguy, đó cũng chính là hình tượng của người cha.

Cái chết và sự hồi sinh
            Phần kết có hậu của câu chuyện cũng là một điểm nhấn khá lý thú trong con mắt nhà phân tâm học người Mỹ này. Cô bé Quàng khăn đỏ và bà thật sự không chết dù bị sói nuốt chửng vào bụng. Hình ảnh hai bà cháu bước ra khỏi bụng sói đối với Bruno Bettelheim biểu tượng cho sự “hồi sinh”.
            Đó chính là bước đi quan trọng cho phép bé gái đi vào một nấc mới cao hơn và cũng là một trong những chủ đề chính yếu trong một kho tàng truyện cổ tích bao la đó. Đứa trẻ hiểu một cách mơ hồ là người “chết” thật sự trong câu chuyện này chính là bé gái đã để cho con sói dụ dỗ. Nhưng khi cô bé chui ra từ bụng sói, thì đó lại là một con người hoàn toàn khác trở lại với cuộc sống.
            Cô bé Quàng khăn đỏ đã mất đi sự ngây ngô trẻ con khi gặp những nguy hiểm tồn tại ngay trong chính bản thân cô và thế giới bên ngoài. Cô bé cũng đã đánh đổi chúng để lấy sự khôn ngoan mà chỉ có những ai “được sinh ra hai lần” mới có thể có được. Đối với Bettelheim, hình ảnh cô bé chui ra từ bụng sói cho thấy là cô đã vượt qua được một ngưỡng tâm lý phức tạp nhất của tuổi dậy thì, để có thể duy trì những mối quan hệ tích cực với cha mẹ. Và cũng từ đó, cô bé thôi là một đứa nhỏ để bước vào một giai đoạn mới của một cô gái trẻ.


MINH ANH
Tháng 5/2014


http://vi.rfi.fr/tong-hop/20140430-%E2%80%9Cco-be-quang-khan-do-cua-grimm%E2%80%9D-cam-nang-giao-duc-gioi-tinh

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #125 vào: 02/06/2018, 17:12:47 »
Nhân Phật Ðản, đọc bài Quốc Tộ

Chép lại Quốc Tộ, giữa lúc đất nước thời bình trong mùa Phật Ðản, mà nghe đâu đây như vẫn vọng âm đao binh hỗn loạn, chúng sanh oán thán. Cao kiến của người xưa, nay chắc gì đã thấu được tâm kẻ phàm phu, hơn nữa lại là những kẻ… thói thường kiêu ngạo.


NHÂN DỊP, chép lại bài thơ Quốc Tộ của thiền sư Pháp Thuận (914-990), bài thơ được coi là một trong những áng thơ đầu tiên của Phật Giáo Việt Nam, mang tư tưởng chính trị. Khi được vua Lê Ðại Hành (941-1005) hỏi về vận nước (quốc tộ), thiền sư Pháp Thuận đã đề xuống mấy dòng:

                        Quốc tộ như đằng lạc
                        Nam thiên lý thái bình
                        Vô vi cư điện các
                        Xứ xứ tức đao binh.


            Bản dịch:
                        Vận nước như dây mây leo quấn quýt,
                        Ở cõi trời Nam [mở ra] cảnh thái bình.
                        Vô vi ở nơi cung điện,
                        [Thì] khắp mọi nơi đều tắt hết đao binh.


1.– Câu thứ nhất: Quốc tộ như đằng lạc: Quốc tộ là khái niệm chỉ vận mệnh đất nước do vua nắm quyền và chi phối toàn bộ cuộc sống con người. Cho nên, người ta cũng gọi Quốc Tộ là quốc vận nước nhà, là ngôi vua. Lại nữa, các vua anh minh thường vời những bậc tiên tri làm cố vấn và thường hỏi họ Quốc Tộ như thế nào? Nghĩa là, vua rất muốn biết, đất nước này, ngôi vị này tốt hay xấu, có biến cố hay không có biến cố, thế tạm thời hay cố định, nước vận suy hay thịnh, yên hay nguy…? Một lần, vua Lê Ðại Hành hỏi pháp sư: Quốc Tộ trường đoản. Pháp sư trả lời: Quốc Tộ như đằng lạc! Vậy, như đằng lạc có ý nghĩa gì?
            Trước hết, nói về cây đằng lạc: Cây này do thiên nhiên sinh ra và từ lâu vẫn được gọi là đằng lạc hoặc như dằng lạc. Về hình thức, chúng bám vào cây cao và to, vươn tới 20 mét, thậm chí còn bao trùm toàn bộ một cây cổ thụ lớn. Ðặc biệt, lá và ngọn đằng lạc vươn lên như ở thế đang xông thẳng trời. Vì thế, người xưa lấy cây đằng lạc làm biểu tượng văn chương và thư pháp. Nhiều sách cổ đã miêu tả cây đằng lạc tung hoành, vươn cao và bò xa, tựa như con người đang ở thế thịnh vượng bao trùm. Bởi thế, Quốc Tộ sẽ kéo dài mãi mãi. Nhưng thú vị hơn, đằng lạc lại là cây thuộc y dược quan trọng mà người xưa đã phát hiện ra tính chất đặc quý của chúng. Y dược viết rằng, các loại thuốc công hiệu đặc biệt, như tử hà xa, hải cẩu thận, có “ích khí bổ tinh”; loại có hình dây dài giống loại đằng lạc, như nhẫn đồng đằng, kê huyết đằng có thể thông mạch kinh lạc. Nếu dùng tử hà xa, hải cẩu thận cùng với các đằng lạc như nhẫn đồng đằng, kê huyết đằng… sẽ làm mạch máu chuyển lưu, khiến thân thể tráng kiện, da đẹp, tóc đen và đặc biệt thọ trường, vạn bệnh hồi xuân. Cho nên câu trả lời Quốc Tộ như đằng lạc của pháp sư vừa chỉ ra sự thực vận mệnh đất nước ta, ngôi vị vua ta, đồng thời cũng là câu chúc tụng Hoàng Ðế Lê Ðại Hành: thượng thọ vĩnh hằng.
            Ðúng vậy! Ta hãy xem, Ngô Vương Quyền khi lên ngôi đã ở 42 tuổi, làm vua chỉ có 6 năm và mất vào tuổi 47; vua Ðinh Tiên Hoàng lên ngôi đã 45 tuổi, nắm quyền 12 năm và mất 56 tuổi. Nhưng, nếu so hai vị vua trên với Lê Ðại Hành thì sẽ hiểu được câu Quốc Tộ như đằng lạc. Ðó là vì, năm 980, khi vua Lê Ðại Hành mới 36 tuổi tráng kiện mà đã lên ngôi và lúc pháp sư nói Quốc Tộ như đằng lạc thì vua Lê Ðại Hành đang ở tuổi 43! Có lẽ Lê Văn Hưu đánh giá rất đúng: “Lê Ðại Hành giết Ðinh Ðiền, bắt Nguyễn Bặc, bắt Quân Biện, Phụng Huân dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ, chưa đầy vài năm mà cõi bờ yên tĩnh, cái công đánh ấy tuy nhà Hán, Ðường cũng không hơn được (…). Về mặt dẹp gian bên trong, đánh giặc bên ngoài để làm mạnh nước Việt ta và ra uy với người Tống thì Lý Thái Tổ công không bằng…” (Toàn thư, tr.167). Ðó là chưa kể đến công lao của Lê Ðại Hành khai thác đất nước, đào sông, vét kênh, mở rộng ngoại giao với Trung Hoa và đưa đất nước ta bùng lên nền văn học.

2.– Câu thứ hai: Nam Thiên lý thái bình: Nam Thiên là Trời Nam, chỉ Thiên tử nước Nam. Ðúng như Nguyễn Giác đã viết: Thiên ngoại hữu Thiên. Nếu câu đầu, chủ ngữ là Quốc Tộ thì câu hai có chủ ngữ là Nam Thiên và có động từ lý, thuộc bộ y, bao quát toàn bộ đất nước; nghĩa là đất nước ta hoàn toàn thái bình. Ta cứ xem, bắt đầu lên ngôi năm 980, Lê Ðại Hành đã dẹp yên nội nạn (giết Ðỗ Thích ở Hoa Lư, chém Ðinh Ðiền tại Ái Châu, bắt Nguyễn Bặc đem chém, bắt sống Phạm Hạp tại Bắc Giang, Ngô Nhật Khánh bị chết chìm ở cửa biển…) Rồi cùng một lúc, ngài đánh Tống 2 năm (Canh Thìn 980 – Tân Tỵ 981), dẹp tan Chiêm Thành năm Quý Mùi 983. Quả đúng như Ngô Sĩ Liên nhận xét: vua Ðại Hành “đẩy lùi ngoại khấu để an dân, trong nước thì yên vui, Bắc Nam vô sự”.

3.– Câu thứ ba: Vô vi cư điện các: Trước hết là điện các. Ðây là cơ quan chính phủ, nơi vua và triều đình điều hành đất nước. Còn động từ cư chỉ hành xử, cư xử của bậc hoàng đế. Nghĩa là, vua Lê Ðại Hành điều hành đất nước ta: Cư điện các. Riêng vô vi thuộc khái niệm triết học. Vả chăng, đã là thuật ngữ khoa học thì chúng chỉ có một nghĩa, không thể có nghĩa đen và nghĩa bóng như soạn giả ngữ văn 10 tập một đã viết trong phần Tiểu dẫn.
            Về cơ bản, ở Việt Nam thời trung đại có ba học thuyết Nho, Phật, Lão và chúng đều có thuật ngữ vô vi. Song mỗi học thuyết đều dùng nghĩa vô vi khác nhau. Nhưng, rõ ràng pháp sư nói với vua Lê Ðại Hành rất đàng hoàng: Vô vi cư điện các. Ðiện các là cơ quan hành pháp. Cho nên, đây không phải là khái niệm vô vi của nhà Phật, cũng không phải thuộc vô vi của Ðạo gia. Nho gia chủ trương chọn người hiền, giao chức tước cho người tài đức. Bởi vậy, vô vi của nhà nho lấy đức để giáo hóa con người. Việc lấy đức để giáo hóa con người, chọn và giao chức tước cho người tài đức sẽ đưa đất nước tới đích: Quốc Tộ như đằng lạc, Nam Thiên lý thái bình.

4.– Câu cuối cùng: Xứ xứ tức đao binh: Ðây cũng là điều pháp sư mong mỏi khắp nơi sẽ chấm dứt việc đao binh, cũng có nghĩa là, toàn quốc thái bình. Toàn quốc thái bình thì “quốc tộ” sẽ “như đằng lạc” mãi mãi dài lâu.
            Lời nói của Ðỗ Pháp Sư dung dị như những lời nói thường ngày, ý tứ rõ ràng, hình ảnh dễ hiểu và dễ nhớ. Ðấy cũng là đặc điểm của văn học chức năng hành chính được dưới hình thức thơ ngũ ngôn.


NS TUẤN KHANH
Tháng 5/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/quanvan-nhan-phat-dan-doc-bai-quoc/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #126 vào: 06/06/2018, 18:07:52 »
“Alice ở xứ sở thần tiên”: Truyện cho trẻ con hay là cho người lớn?

Năm 2015, tập truyện “Những cuộc phiêu lưu của Alice ở xứ sở thần tiên” tròn 150 tuổi. Tiểu thuyết do nhà văn người Anh Lewis Carroll sáng tác chính thức ra mắt công chúng ngày 04/07/1865. Trước đó hơn nửa năm, tức vào ngày 26/11/1864, “Alice ở xứ sở thần tiên” lại là một món quà Giáng sinh đặc biệt mà nhà văn dành tặng riêng cho cô bé Alice “thật” ngoài đời. Trong nhãn quan nhiều nhà phân tích, đây lại là một tập truyện dành cho người lớn nhiều hơn do liên quan đến ba vấn đề: Tình dục, Sự nổi loạn và các chất gây ảo giác.

Ảnh minh họa

Quốc tế mừng 150 năm tác phẩm Alice ở xứ sở thần tiên
            Mừng Alice ở xứ sở thần tiên được 150 tuổi, một số quốc gia đông người hâm mộ đã có nhiều hoạt động văn hóa. Nước Pháp đã dành cho Alice một vị trí đặc biệt trong dịp Hội chợ Sách Thiếu nhi Montreuil năm 2015. Nhật Bản nhân lễ kỷ niệm cho tái hiện nhân vật dưới nét vẽ truyện tranh manga, với một cô bé Alice có đôi mắt to tròn, màu sắc sinh động, bắt mắt để thu hút các độc giả nhí.
            Nhưng có lẽ rộn rịp nhất là tại Anh Quốc, quê hương của Alice. Thông tín viên Lê Hải tại Luân Đôn đã có dịp gặp gỡ trao đổi với hai em Kathy và Emily và tường thuật lại các chương trình văn hóa liên quan đến Alice ở xứ sở thần tiên:

            “Hàng năm, Bảo tàng chuyện kể – Story Museum ở Oxford đều tổ chức Ngày Alice, vào đầu tháng Bảy, để kỷ niệm ngày nhà văn Charles Dodgson ngồi trên chiếc thuyền bơi dọc sông Thames và kể chuyện cho cô bé Alice Liddel, mà sau này xuất bản thành tác phẩm Cuộc phiêu lưu của Alice vào Xứ sở thần tiên. Nếu đến Oxford không đúng vào ngày này, du khách vẫn có thể thuê du thuyền để nghe người hướng dẫn kể lại câu chuyện năm xưa và cả gia đình cùng thưởng thức”.

            “Ở Brighton có khách sạn tên là Ngôi nhà trong Xứ sở thần tiên – Wonderland House. Khách đến đây có thể ngủ trong những căn phòng nổi tiếng như là Alice’s room, The Queen of Heart’s room, hay là The Tweedles Bedroom, và ăn sáng trên chiếc bàn Enchanted Table. Bên cạnh là khu nhà xây theo nội dung của câu chuyện tiếp theo – The Looking Glass Cottage, nằm cách không xa bờ biển tuyệt đẹp miền nam nước Anh”.

            Theo anh Lê Hải, “Luân Đôn luôn là tâm điểm của mọi hoạt động văn học Anh. Mùa Giáng Sinh năm nay Thư viện quốc gia British Library vừa khai mạc lễ hội đặc biệt kỷ niệm 150 năm ngày xuất bản tác phẩm văn học thiếu nhi nổi tiếng – Những cuộc phiêu lưu của Alice vào Xứ sở thần tiên.
            Các bậc phụ huynh lũ lượt đem con tới thư viện không chỉ để xem bản thảo viết tay của tác phẩm này, mà còn nghiên cứu sự thay đổi của cốt truyện theo thời gian, và chuyển thể sang truyện ngắn, kịch bản phim, hay nhạc kịch, và cả những vở diễn ở trường học.
            Không chỉ trẻ em ở độ tuổi cấp một ở Anh biết đến tác phẩm này trong chương trình môn văn ở trường, mà rất nhiều du khách cũng bị cuốn hút qua bộ phim Hollywood nổi tiếng gần đây. Ở London có hàng chục địa điểm dành sẵn cho họ: từ các vở diễn trong nhà hát cho đến cửa hàng được bài trí theo những câu chuyện của Lewis Carroll, và vô số tiệm sách ở khắp nơi
”.

“Alice ở xứ sở thần tiên”: Một câu chuyện không đầu không đuôi
            Một thế kỷ rưỡi đã trôi qua, nhưng câu chuyện của Lewis Carroll vẫn thu hút sự đam mê hàng triệu độc giả trên thế giới, làm bay bổng bao trí tưởng tượng của trẻ thơ, đôi khi chính cả người lớn, là nguồn cảm hứng cho biết bao ca sĩ từ The Beatles cho đến Damon Albarn, từ Marilyn Manson đến cả Indochine… và cả cho điện ảnh nữa.
            Có thể nói là thành công của Alice ở xứ sở thần tiên gần như vượt cả không gian lẫn thời gian. Bàn về công lao, công đầu đương nhiên phải thuộc về nhà văn Lewis Carroll. Đích thân ông chăm chút cho tập sách, từ việc chọn họa sĩ minh họa, chọn nhà in sách cho đến cả phần đóng bìa… Nói tóm lại, ông theo dõi sít sao từng công đoạn cho đến cả khâu phát hành.
            Nhưng đối với giới nghiên cứu phân tích, chiếc chìa khóa của sự thành công có thể nói là toàn cầu này chính là bố cục độc đáo. Về mặt hình thức, đó là một câu truyện dành cho thiếu nhi, vì trong tác phẩm của Lewis Carroll tràn ngập các sinh vật tưởng tượng như đến từ một câu chuyện dành cho trẻ con. Một câu chuyện tưởng tượng hoàn toàn đặc biệt.
            Mà tính đặc biệt đó đến cũng thật tình cờ. Vào ngày 04/07/1862, Charles Dodgson, tên thật của nhà văn Lewis Carroll, chèo thuyền dạo sông Thames cùng với Lorina (13 tuổi), Alice (10) và Edith Liddell (8), ba cô kiều nữ của ngài hiệu trưởng trường Christ Church College. Chính tại ngôi trường nổi tiếng vùng Oxford này, Lewis Carroll giảng dạy môn toán.
            Cả ba cô bé, nhất là Alice trong một lúc chán nản đã nài nỉ nhà văn kể một câu chuyện phiêu lưu, nhưng với một yêu cầu đó phải là một câu chuyện “không đầu, không đuôi” (nonsense). Làm sao cưỡng lại đây? Thế là, Charles thực hiện, và bút danh Lewis vì thế mà ra đời.
            Câu truyện kể về một nữ nhân vật chính tên Alice. Vì hiếu kỳ đuổi theo một con con Thỏ Trắng, vẻ vội vàng, vừa đi vừa lẩm bẩm một mình với chiếc đồng hồ, cô bé Alice rơi vào cái hang sâu hun hút rơi mãi rơi mãi mà vẫn không chạm được đến đáy.
            Rồi tình cờ cô bé nhặt được chiếc chìa khóa vàng, cùng với một lọ thần dược có ghi hàng chữ “hãy uống tôi đi”. Khi nốc lọ dung dịch có “mùi bánh mứt quả anh đào và gà tây hầm”, cô bé bất thình lình bị thu nhỏ lại. Và như thế cuộc phiêu lưu của Alice được bắt đầu.

“Một câu chuyện có nhiều cách đọc”
            Câu truyện của Lewis Carroll đặc biệt là vì độc giả có thể diễn giải ý nghĩa của nó dưới nhiều góc cạnh khác nhau, tùy theo từng quan điểm. Đấy là một câu chuyện hoang đường không đầu, không đuôi, không một trình tự lô-gic. Nhưng câu truyện lại ngập tràn những hình ảnh tưởng tượng và đượm đầy nét đẹp thẩm mỹ. Đấy là những gì một nhà thơ hay một người hay mơ mộng thích tìm đến. Giống như là những gì con mèo Cheshire trước khi biến mất còn cười nói là: “Ở đây tất cả mọi người đều điên khùng cả!
            Đó cũng có thể là cái nhìn của một người nghiện thuốc. Đối với họ, cả hành trình mà Alice trải qua kể từ khi rớt xuống hang thỏ giống như là một cảm giác “ngây ngất” do phê thuốc. Mà hình ảnh cụ thể là cảnh chú sâu con đang phì phèo hút thuốc.
            Còn nếu nghiêm túc hơn, câu truyện Alice ở Xứ sở thần tiên biểu hiện một hình thức nổi loạn chống lại luật lệ hà khắc, trói buộc người phụ nữ của xã hội Anh quốc dưới thời Nữ hoàng Victoria, theo như quan điểm của các nhà xã hội học.
            Người phụ nữ thời ấy chỉ có thể thoát ra được sự nghiêm khắc đó bằng một giấc mơ mà thôi. Mà hình ảnh cô bé Alice thoát ra khỏi thế giới thần kỳ khi giật mình tỉnh giấc mới biết đó là một giấc mơ là một ví dụ điển hình.

“Alice” là một câu chuyện cho trẻ con hay cho người lớn?
            Nhưng cũng như bao nhiêu câu chuyện cổ tích khác tại phương Tây, Alice ở xứ sở thần tiên cũng lọt qua được cái nhìn chi tiết của các nhà phân tích tâm lý. Tờ nhật báo Libération (số ra ngày 03/12/2015) tóm lược quan điểm của chuyên gia phân tích tâm lý Christophe Bormans, có cho rằng Alice mê hoặc chúng ta là vì, cách đây 150 năm, Lewis Carroll đã viết cho chúng ta một cuốn tiểu thuyết nhập môn bàn về tình dục, mà ở đây là phái nữ.
            Cách mổ xẻ và phân tích vấn đề của Christophe Bormans cũng giống như nhà phân tâm học người Mỹ, Bruno Bettelheim, nổi tiếng với tác phẩm Psychanalyse des contes de fée (Tạm dịch là Phân tích tâm lý các câu truyện cổ tích). Phải chăng là tập truyện Alice ở xứ sở thần tiên là một tiểu thuyết nói về tình dục của đàn bà? Bởi vì theo quan điểm của ông Christophe Bormans, câu chuyện “Alice” tập trung xoay quanh một vấn đề mấu chốt: Như thế nào là một bé gái? Làm thế nào trở thành một cô gái, nói thẳng ra một phụ nữ?
            Qua việc nghiên cứu kỹ cấu trúc giấc mơ trong tác phẩm, Christophe Bormans, chứng minh được là câu truyện của Lewis Carroll mô tả những diễn biến tâm sinh lý của một bé gái trong giai đoạn chuyển tiếp từ một cô bé ngây thơ bước sang giai đoạn tuổi dậy thì.
            Sự khởi đầu của giai đoạn chuyển tiếp đó được bắt đầu từ hình ảnh cô bé Alice ngây thơ (tượng trưng cho giai đoạn trước tuổi dậy thì) vì hiếu kỳ đuổi theo một con Thỏ Trắng (biểu tượng cho sự khao khát dục vọng). Một chú thỏ rất dễ nhận ra nhờ vào bộ lông trắng (đại diện cho phái nữ).
            Đó là những giai đoạn mà các bé gái phải vượt qua trong tiềm thức. Cùng một lúc Alice cảm thấy vui thích khi khám phá ra những cảm giác ham muốn mới về tình dục nhưng đồng thời cũng cảm thấy lo sợ trước những phát hiện mới đó. Tác phẩm của Lewis Carroll đã lột tả được những giai đoạn phát triển trong vô thức mà một bé gái phải vượt qua để xử lý những cảm giác mới đó sao cho có thể đạt được một cuộc sống sinh lý của một người phụ nữ bình thường.
            Vấn đề nguy hiểm đầu tiên mà Christophe Bormans muốn đề cập đến đó là sự quyến rũ. Khi hai anh em sinh đôi Tweedle-Dee và Tweedle-Dum kể lại câu chuyện con hải tượng mời các con hào biển không chút tự vệ đến dùng bữa chiều để rồi nuốt tươi nuốt sống cả bầy không lời cảnh báo, Alice đã không sợ hãi hỏi lại rằng: “Các ông nghĩ là ở tuổi nào thì tốt như thế?
            Câu hỏi đó cũng hàm ý là sự quyến rũ, nhất là với một đối tác lớn tuổi hơn là một sự nguy hiểm, nhưng đó cũng là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển giới tính: một cô gái trẻ bị cuốn hút bởi một người đàn ông khác tuổi hay xu hướng muốn thu hút sự chú ý của phái nam trong độ tuổi dậy thì.
            Chính vì Alice ở xứ sở thần tiên có cốt truyện “đa tầng”, có nhiều cách đọc và nhiều cách hiểu, nên 150 năm sau ngày ra đời tác phẩm này vẫn có tiếng vọng cho đến tận ngày nay. Nhất là các xã hội Âu-Mỹ đã và đang tiếp tục nghiên cứu các lãnh vực “tâm lý, tình dục và giới tính học”.


MINH ANH
Tháng 12/2015


http://vi.rfi.fr/phap/20151226-%C2%AB-alice-o-xu-so-than-tien-%C2%BB-truyen-cho-tre-con-hay-la-cho-nguoi-lon

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #127 vào: 12/06/2018, 22:18:26 »
Những bước tiên phong và thành quả của Ðại Học Huế (1957-1975)

Sáu mươi năm trước, Ðại Học Huế ra đời do Nghị Ðịnh số 45-GD ban hành ngày 1 Tháng Ba, 1957 và Linh Mục Cao Văn Luận là viện trưởng đầu tiên. Vào lúc đó, Hiệp Ðịnh Geneva 1954 mới chia đôi nước ta chưa được ba năm. Chính quyền miền Nam phải bận rộn đối phó với rất nhiều vấn đề từ tổ chức hành chánh, tư pháp và lập pháp, từ hạ tầng cơ sở đến các cơ quan trung ương. Trong bối cảnh vô cùng phức tạp và khó khăn đó, Ðại Học Huế ra đời như một sách lược của chính phủ quyết tâm xây dựng đại học để đào tạo nhiều nhân tài, góp phần bảo tồn văn hóa dân tộc và xây dựng một miền Nam tự do được phồn thịnh.

Thư Viện Ðại Học Huế

TẠI VIỆT NAM, năm nay giới chức Ðại Học Huế cũng đã tổ chức kỷ niệm 60 năm, hôm nay chúng ta kỷ niệm 60 năm Ðại Học Huế trong tinh thần uống nước nhớ nguồn, tri ân thầy cô và trân quý tình đồng môn. Vì vậy, hôm nay nhân dịp kỷ niệm 60 ngày thành lập Ðại Học Huế, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại những bước tiên phong và thành quả rất đáng khích lệ mà trường đạt được trong thời gian 18 năm đầu ngắn ngủi, từ 1957 đến 1975.
            Trước hết và quan trọng nhất, Ðại Học Huế là đại học đầu tiên do người Việt Nam thành lập. Không những thế, đó là đại học tiên phong sử dụng tiếng Việt để giảng dạy. Trong khi đó, Ðại học Sài Gòn, hậu thân của Ðại học Hà Nội, do Pháp dựng lên nên chỉ có trường luật giảng dạy bằng tiếng Việt, còn các phân khoa khác vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên phải sử dụng nửa Việt nửa Pháp.
            Từ Tháng Hai 1958, Ðại Học Huế đã xuất bản tạp chí Ðại Học, cơ quan ngôn luận và nghiên cứu với sự cộng tác thường xuyên của nhiều giáo sư và trí thức tại Huế cũng như các nơi khác tại quốc nội và hải ngoại. Ðó là tạp chí cấp đại học đầu tiên tại Việt Nam.
            Ðại Học Huế là viện đại học duy nhất tại miền Nam có nhà in và nhà xuất bản riêng. Nhờ vậy, việc in ấn và xuất bản các tác phẩm và sách báo của viện thuận tiện và ít tốn kém hơn các đại học khác.
            Viện Hán Học được thành lập do nghị định số 389-GD của tổng thống ban hành ngày 8 Tháng Mười 1959, trực thuộc Ðại Học Huế, nhằm đào tạo các chuyên viên Hán văn và chữ Nôm để phục vụ nhu cầu tại vài cơ quan chính phủ, đồng thời để giảng dạy, nghiên cứu và dịch thuật kho tài liệu cổ văn bằng chữ Hán và chữ Nôm. Ðây là một kế hoạch quan trọng nhằm bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc.
            Ngoài sứ mạng giáo dục, Ðại Học Huế còn là một định chế bảo tồn và phát huy văn hóa qua việc thành lập Ủy Ban Phiên Dịch Sử Liệu. Ủy ban quy tụ được nhiều học giả lỗi lạc của hai ngành Hán văn và Sử học. Dự án quan trọng đầu tiên là sắp xếp lại để làm mục lục và phiên dịch châu bản triều Nguyễn từ Hán tự sang Việt ngữ. Tiếp đến là nỗ lực phiên dịch tài liệu Hải Ngoại Ký Sự của Thích Ðại Sán và bộ An Nam Chí Lược của Lê Tắc.
            Từ năm 1957, Ðại Học Huế từng bước cải tiến học trình và phương pháp giảng dạy, điển hình nhất là các nỗ lực sau đây:
            Tại Ðại Học Khoa Học, năm 1957, môn Tân Ðại Số được giảng dạy lần đầu tiên trong chương trình Cử Nhân Toán. Năm 1969, chương trình Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng ra đời gồm các ngành Tạo Tác, Thủy Lợi, và Sinh Hóa. Năm 1971, chương trình Cao Học Thống Kê và Nhân Chủng Học được tiên phong tổ chức tại Việt Nam.
            Tại Ðại Học Sư Phạm, năm 1965 trường Trung Học Kiểu Mẫu được tiên phong thành lập tại Việt Nam để trắc nghiệm và thực hành các phương pháp sư phạm tân tiến và hữu hiệu để giảng dạy tại bậc trung học.
            Tại Ðại Học Luật Khoa, từ năm 1966, nhiều môn học mới đã được đưa vào chương trình Cử Nhân Luật 4 Năm, gồm có: Cổ Luật Việt Nam, Pháp Y Học, Phiên Tòa Giả Ðịnh, Báo Chí Học, Kỹ Thuật Ngân Hàng, Quản Trị Xí Nghiệp, Kế Toán, và Doanh Thương. Trường luật cũng thiết lập Hệ Thống Văn Khố Âm Thanh để các sinh viên vắng mặt vì nghề nghiệp cũng như các sinh viên có mặt nhưng chưa hiểu rõ có thể nghe lại các bài giảng của giáo sư.
            Tại Ðại Học Y Khoa, hai ngành Y Tế Cộng Ðồng và Y Khoa Cổ Truyền được đưa vào học trình để đào tạo các bác sĩ chuyên khoa đa năng và dồi dào kiến thức chữa trị bệnh nhân theo cả hai truyền thống Tây Y và Ðông Y.
            Năm 1970, chương trình liên khoa lần đầu tiên được thiết lập tại một đại học Việt Nam nhằm mục đích mở mang kiến thức của sinh viên qua nhiều bộ môn khác nhau và tạo cơ hội cho sinh viên của các phân khoa có dịp học tập chung để có thể quen biết nhau, nhờ đó hun đúc tinh thần đoàn kết tập thể.
            Sau ngày phái đoàn Ðại Học Huế viếng thăm trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt năm 1971, vì nhận thấy thư viện đầy đủ sách báo chuyên môn và các phòng thí nghiệm trang bị máy móc tối tân, cũng như chương trình giảng dạy và đặc biệt thành phần ban giảng huấn có bằng cấp và học vị chẳng khác gì các đại học dân sự, Ðại Học Huế tiên phong đề nghị Bộ Giáo Dục thừa nhận văn bằng tốt nghiệp trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt, chương trình 4 năm, có giá trị tương đương với Cử Nhân Khoa Học Ứng Dụng. Ðề nghị nầy được Bộ Giáo Dục chuẩn thuận năm 1972, nâng cao giá trị của trường Võ Bị Ðà Lạt tương tự như trường West Point của Mỹ.
            Năm 1971, Ðại Học Huế bắt đầu thực hiện việc ghi danh và ghi điểm các môn thi bằng điện toán, và năm 1972, tiên phong áp dụng giảng dạy theo tín chỉ.
            Tóm lại, Ðại Học Huế ra đời trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn vì chiến tranh và thiếu thốn mọi bề, nhưng nhờ sự quyết tâm và tài lãnh đạo của Linh Mục Cao văn Luận và các vị viện trưởng kế tiếp, chỉ trong vòng 18 năm đầu ngắn ngủi, Ðại Học Huế tiên phong thực hiện nhiều cải cách tiến bộ và đã đào tạo được hàng trăm luật sư, cử nhân khoa học, cử nhân văn khoa, 1.256 giáo sư trung học, và khoảng 400 bác sĩ y khoa. Lực lượng chuyên viên trẻ trung và đầy nhiệt huyết đó đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển và hưng thịnh của Việt Nam.


Giáo Sư NGUYỄN THANH TRANG
(cựu Phụ tá Viện trưởng Ðại Học Huế)
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/dien-dan-nhung-buoc-tien-phong-va-thanh-qua-cua-dai-hoc-hue-1957-1975/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #128 vào: 19/06/2018, 21:55:35 »
Thần tượng văn học: “Ngôi sao dẫn đường” cho trẻ nhỏ

Trẻ em cần có những thần tượng văn học để noi theo. Những nhân vật đó dù là thật hay là tưởng tượng sẽ chỉ cho các em thấy cuộc sống là một cuộc phiêu lưu đầy thú vị chứ không phải là một vốn sống cần quản lý. Thiếu những mô hình ngang tầm với khát vọng của mình, các em có nguy cơ lầm đường lạc lối trong những cuộc chiến chết người hay trong những mơ ước vô bổ.

Bilbo và Gandalf, hai nhân vật chính trong tác phẩm Anh chàng Hobbit
của nhà văn người Anh, J. R. R. Tolkien

ĐÓ CHÍNH LÀ những gì nhà phân tâm học, ông Boris Cyrulnik trình bày trong tác phẩm “Ivres paradis, bonheurs heroiques” (tạm dịch là Say sưa thiên đường, thỏa chí cùng các thần tượng) được Le Figaro giới thiệu trong mục Văn học ngày 16/06/2016.
            Các em thiếu niên nhi đồng cần một tấm gương để noi theo và lớn lên. Nhu cầu này không phải là một ý tưởng ngông cuồng mà là một thực tế. Điều đó có thể quan sát được qua nỗi đam mê đối với các sử thi Star Wars hay như các bộ phim được chuyển thể từ các tiểu thuyết thần thoại của Tolkien.
            Đối với Boris Cyrulnik, “Nền văn hóa của chúng ta vô định hình và quá ư che chở đang tạo ra những đứa trẻ quá hiền lành. Nhưng một cuộc sống mà không có mơ ước là một sự mạt vận tinh thần”. Một người trẻ tuổi chết vì buồn chán trong sự tồn tại không định hướng và sợ hãi trước thử thách, thì lại rất cần đến một tấm gương và một bản trường ca về tấm gương ấy để hâm nóng tâm hồn nặng trĩu.
            Vì sao các em lại cần đến một nhân vật nào đó để tự xây dựng bản thân mình? Boris Cyrulnik cho rằng: “Nếu như các em không có một gương mặt nào tạo cảm giác yên tâm, thế giới này sẽ làm cho chúng khiếp hãi. Còn nếu như các em có được một hình tượng, thế giới sẽ làm cho các em thích thú và hưng phấn hơn. Ban đầu là mẹ rồi sau đó là cha, sẽ là những vị anh hùng đầu tiên của các em, cho dù họ có thể vắng mặt hay hiện diện không đầy đủ cũng được”.
            Khi đứa trẻ bị mất phương hướng, chúng đọc những cuộc phiêu lưu của một nhân vật nào đó mà các em cảm thấy hợp và rất giống mình, để rồi từ đó các em tự vạch cho mình một con đường đi trong thế giới mênh mông này. Điều đó sẽ trấn an được các em để rồi sau đó đến lượt mình các em cũng muốn liều lĩnh một chút. Đến lúc trưởng thành, các em lại tìm cho mình một hình mẫu khác ngoài bố mẹ ra. Các nhân vật mà các em chọn sẽ mở cho chúng một con đường bằng cách chỉ cho các em thấy những gì các em ao ước đều là có thể.


Cảnh cậu bé Rémi bị bố nuôi bán lại cho nghệ sĩ già Vitalis
trong tác phẩm Không gia đình (Sans famille của tác giả Hector Malot)

Đối phó với định mệnh
            Bản thân tác giả cũng đã trải qua những thử nghiệm này. Sinh ra tại Bordeaux (miền tây nước Pháp) năm 1937 và sớm trở thành mồ côi do cha mẹ đều bị bắt đưa vào trại tập trung thời Đức quốc xã, ông như đã tìm được bản sao của mình từ cậu bé Rémi, một nhân vật trong tác phẩm Không gia đình (Sans famille) của tác giả Hector Malot.
            Nhân vật này cũng bị mất cha mẹ, đã bị bố mẹ nuôi đem bán lại. Nhưng qua câu chuyện đó, nhà phân tâm học tương lai đã hiểu ra rằng không như vẻ bề ngoài cho thấy, không có chuyện định mệnh bất hạnh. Một sự thử thách nghiệt ngã có thể làm nảy sinh một điều tốt. Bởi vì Rémi sẽ cảm thấy hạnh phúc hơn bên cạnh Vitalis, nghệ sĩ làm trò mua vui già nua, người đã mua cậu bé về.
            Bên cạnh Rémi, Boris Cyrulnik còn tìm thấy cho mình nhiều người bạn đồng hành cùng cảnh ngộ khác như Tarzan, cũng là một đứa trẻ bị bỏ rơi hay như Oliver Twist, những gương mặt đã làm tràn đầy hy vọng chàng thanh niên Cyrulnik.
            Và chính niềm hy vọng đó đã mang đến cho ông lòng dũng cảm để đối mặt với thế gian đầy thù hằn, một thế giới mà chính bản thân ông cũng cảm thấy đã bị tước mất. “Những nhân vật đó đã mang đến cho tôi một sức mạnh và nhờ vào họ tôi biết nơi mà tôi mơ ước đến”. Sau này, khi lớn lên, đến tuổi ý thức được sự bất công, chính nhân vật trong tác phẩm “Người nổi dậy” (L’insurgé) của Jules Vallès đã làm cho ông cảm thấy thích thú.
            Nhưng một số trẻ lại có một thế giới tưởng tượng quá phong phú và điều này khiến các bậc cha mẹ cũng phải lo lắng. Chẳng phải là bọn trẻ con đang chạy trốn thực tế đó hay sao? Ồ không, ngược lại là khác.
            Đối với Cyrulnik, cuộc sống đầy trí tưởng tượng sẽ tác động đến thế giới thực tại khi mang đến cho các em sức mạnh biến giấc mơ thành hiện thực. “Khi chúng ta bị một câu chuyện hớp lấy hồn, đó là bởi vì câu chuyện đó đang nhào nặn nên hình dạng và ý nghĩa của chính cuộc đời chúng ta”.
            Do đó, nếu như con trẻ có nhìn thẳng vào mắt bạn mà nói rằng: “Cha, mẹ con muốn trở thành một Jedi trong Star Wars, một giải Nobel gì đó hay là một vị giáo hoàng tương lai” thì bạn cũng đừng nên lo lắng. “Khi chúng ta còn nhỏ và yếu ớt, cũng nên có chút hoang tưởng để hy vọng một ngày trở thành một con người mạnh mẽ”.
            Một thần tượng anh hùng, đó còn là một câu chuyện kể. Để cho sự tồn tại của các em có ý nghĩa, cho dù là đôi khi có khó khăn hay buồn tẻ, cũng nên cố gắng tạo nên một câu chuyện. Bởi vì chính trong lúc đọc những câu chuyện giả tưởng ấy, mà người ta học được cách viết nên một câu truyện dài của chính mình.
            Nhà phân tâm học trấn an là “Một liều nhỏ bịa đặt là cần thiết”: xây dựng một câu chuyện bằng chính cuộc đời mình cho phép phân biệt một hướng đi, cảm nhận được những vẻ đẹp ẩn giấu, và mở ra nhiều hứa hẹn.

Thần tượng văn học: Ngôi sao dẫn đường
            Nếu như các em thiếu niên nhi đồng chọn cho mình những tấm gương, những nhân vật mang đến cho các em nguồn cảm hứng, đó chính là xã hội đang đề xuất với các em những gương mặt có lợi mà Cyrulnik gọi đó là “ngôi sao dẫn đường”.

             “Nhiều thanh niên ra đi tham gia thánh chiến là vì họ không có “sao dẫn đường”. Điều đó đã biến họ thành những con mồi dễ dàng cho những giáo chủ, những người sử dụng đã sử dụng các em như là một công cụ theo nhu cầu của họ, để biến chúng thành những vị thánh, người bình thường hay là anh hùng”.

            Câu hỏi đặt ra: Đối mặt với sự thiếu vắng thần tượng anh hùng, liệu có nên hồi phục các gương mặt lịch sử (Pháp) hay không? Nhà phân tâm học cảnh cáo là những nhân vật anh hùng đó cũng có thể gây ra một sự mê muội phi lý, nhưng ông cũng nhìn nhận rằng để “cảm hóa một tâm hồn” điều đó có lẽ cũng tốt khi cho khơi dậy một chút sự ngưỡng mộ nào đó.


MINH ANH
Tháng 7/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160708-than-tuong-van-hoc-%C2%AB-ngoi-sao-dan-duong-%C2%BB-cho-tre-nho

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #129 vào: 26/06/2018, 23:19:46 »
Nguyễn Đình Toàn từ Đồng cỏ tới Áo mơ phai

Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai. (Nguyễn Đình Toàn)

Một sinh hoạt của Văn Bút trước 1975: bán tác phẩm để cứu trợ nạn nhân bão lụt miền Tây.
Từ trái qua: Phạm Việt Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Nhật Tiến, Minh Đức Hoài Trinh, Vũ Hoàng Chương

TIỂU SỬ:
            Nguyễn Đình Toàn có bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân nhưng thành danh với tên thật và cũng là bút hiệu chính thức sau này; sinh ngày 6 tháng 9 năm 1936 tại huyện Gia Lâm, bên bờ sông Hồng, ngoại thành Hà Nội. Di cư vào Nam 1954, Nguyễn Đình Toàn bắt đầu viết văn làm thơ, viết kịch, viết nhạc, cộng tác với các tạp chí Văn, Văn Học (trong nhiều năm, Nguyễn Đình Toàn phụ giúp Trần Phong Giao tuyển chọn thơ và truyện cho báo Văn); Nguyễn Đình Toàn cũng viết feuilleton cho các nhật báo Tự Do, Chính Luận, Xây Dựng, Tiền Tuyến; biên tập viên đài phát thanh Sài Gòn, nổi tiếng với chương trình Nhạc Chủ Đề trong những năm 1970s. Sang Mỹ định cư từ cuối năm 1998, Nguyễn Đình Toàn và vợ, chị Thu Hồng cùng phụ trách chương trình Đọc Sách cho đài phát thanh VOA, Nguyễn Đình Toàn còn viết cho tuần báo Việt Tide mục Văn Học Nghệ Thuật của nhà văn Nhật Tiến cho tới khi nghỉ hưu. Gia đình Nguyễn Đình Toàn hiện sống tại Nam California.
            Tác phẩm đã xuất bản:
            Văn: Chị Em Hải (truyện, Nxb Tự Do 1961); Những Kẻ Đứng Bên Lề (truyện, Nxb Giao Điểm 1974); Con Đường (truyện, Nxb Giao Điểm 1965); Ngày Tháng (truyện, Nxb An Tiêm 1968); Phía Ngoài (tập truyện, viết chung với Huỳnh Phan Anh, Nxb Hồng Đức 1969); Đêm Hè (truyện, Nxb Hiện Đại 1970); Giờ Ra Chơi (truyện, Nxb Khai Phóng 1970); Đêm Lãng Quên (Nxb Tân Văn 1970); Không Một Ai (truyện, Nxb Hiện Đại 1971); Thành Phố (truyện, Nxb Kẻ Sĩ 1971); Đám Cháy (tập truyện, Nxb Tân Văn 1971); Tro Than (truyện, Nxb Đồng Nai 1972); Áo Mơ Phai (truyện, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972); Đồng Cỏ (truyện, Nxb Đồng Dao/ Úc châu 1994).
            Thơ: Mật Đắng (thơ, Nxb Huyền Trân 1962).
            Kịch: các vở kịch Nguyễn Đình Toàn đều là kịch truyền thanh, trừ Cơn Mưa được trích đăng trong bộ môn Kịch Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, những bản thảo khác đều thất lạc.
            Nhạc: Hiên Cúc Vàng (tập nhạc, 1999); Tôi Muốn Nói Với Em (tập nhạc, 2001); Mưa Trên Cây Hoàng Lan (tập nhạc, 2002).
            Ký: Bông Hồng Tạ Ơn I & II (Nxb Đêm Trắng 2006, 2012).
            Áo Mơ Phai đoạt giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 1973.

CHỊ EM HẢI
            Có lẽ Nguyễn Đình Toàn viết khá sớm từ những ngày niên thiếu ở Hà Nội, cũng lập bút nhóm và chọn bút hiệu ban đầu là Tô Hà Vân. Khi di cư vào Nam, thời gian ban đầu, Nguyễn Đình Toàn sống chung với gia đình Nhật Tiến. Không có tiền mua giấy trắng, những trang bản thảo đầu tiên của Nguyễn Đình Toàn đã được viết trên mặt sau của các bản tin Việt Nam Thông Tấn Xã phế thải. Khi bắt đầu có tác phẩm xuất bản, Toàn quyết định lấy tên thật làm bút hiệu.
            Chị Em Hải là tác phẩm đầu tay của Nguyễn Đình Toàn, ít được nhắc tới nhưng đã mang ngay dấu ấn văn phong của Con Đường Nguyễn Đình Toàn xuyên suốt qua các tác phẩm văn học của Nguyễn Đình Toàn sau này. Bản thảo Chị Em Hải, được ký giả Lô Răng Phan Lạc Phúc chuyển tới nhà báo Phạm Xuân Ninh rồi tới tay nhà báo Như Phong Lê Văn Tiến, tác giả Khói Sóng, lúc đó đang là tổng thư ký nhật báo Tự Do. Như Phong nhìn ngay được viên ngọc ẩn thạch, nhận ra văn tài của Nguyễn Đình Toàn nên đã để cơ sở báo chí Tự Do xuất bản ngay cuốn sách này cùng với cuốn Thử Lửa của Thao Trường (tiền thân của bút danh Thảo Trường sau này). Cùng năm sinh 1936, với hai tác phẩm đầu tay, Nguyễn Đình Toàn và Thảo Trường đều mau chóng trở thành hai tên tuổi văn học của Miền Nam.

ÁO MƠ PHAI
            Vào thập niên 1960s, nhiều nhà văn Miền Nam, có số lượng sách khá đồ sộ một phần do lối viết feuilleton cho các nhật báo, bên cạnh đó là những truyện kiếm hiệp Kim Dung, truyện dịch Quỳnh Dao nhằm đáp ứng nhu cầu mọi thành phần độc giả thời bấy giờ. Viết feuilleton, Nguyễn Thị Thụy Vũ còn gọi viết truyện nhật trình; đó là những tiểu thuyết, truyện dài được các tác giả viết mỗi ngày và đăng từng kỳ báo. Điển hình là nhà văn Mai Thảo, cùng một lúc nhận viết truyện dài cho nhiều tờ báo, đôi khi tới ngồi viết ngay tại tòa soạn, đưa từng trang viết chưa ráo mực cho nhà in để kịp sắp chữ.
            Rồi cũng phải kể tới tình huống một feuilleton do nhiều người viết, điển hình là truyện dài “Một Triệu Đồng” của nhà báo Như Phong đăng trên nhật báo Tự Do, khi Như Phong bị lao phổi, do truyện đang ăn khách, tòa soạn quyết định tiếp tục. Trong hồi ký Tôi Làm Báo, nhà văn nhà giáo Tạ Quang Khôi kể lại: “Do, ông Nguyễn Hoạt yêu cầu mỗi người viết một đoạn để chờ ông Như Phong đi làm lại”. Và truyện dài của nhà báo Như Phong đã được nhà thơ Đinh Hùng, nhà báo Hiếu Chân Nguyễn Hoạt và sau đó là Tạ Quang Khôi viết thay cho tới khi nhà báo Như Phong trở lại tòa báo.
            Gần như một phong trào, không thiếu những nhà văn danh tiếng cũng tham dự vào phong trào viết tiểu thuyết feuilleton như Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Nguyễn Đình Toàn, Thảo Trường, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nhã Ca, Túy Hồng, Nguyễn Thị Thụy Vũ… nhiều người xem đó như thứ sản phẩm giải trí ngắn hạn đáp ứng nhu cầu của xã hội tiêu thụ. Nhà văn Sơn Nam cũng viết feuilleton nhưng chính Sơn Nam sau này lên tiếng phủ nhận, không coi đó là những tác phẩm văn học. Công bằng mà nói tiểu thuyết feuilleton không phải không có tác phẩm hay phải nói là rất hay. Chất lượng tác phẩm tùy theo thái độ chọn lựa và cách viết của mỗi tác giả.
            Nguyễn Đình Toàn cũng không là một ngoại lệ. Trừ Chị Em Hải là tác phẩm được viết xong rồi xuất bản, hầu hết các tác phẩm còn lại của Nguyễn Đình Toàn đều là tiểu thuyết feuilleton sau đó được in thành sách như Con Đường (nhật báo Tự Do), Đồng Cỏ (nhật báo Chính Luận), Áo Mơ Phai (nhật báo Xây Dựng), và những cuốn khác trên nhật báo Tiền Tuyến mà chính Nguyễn Đình Toàn cũng không còn nhớ. Nguyễn Đình Toàn có một đức tính là các trang bản thảo chỉ viết một lần, không sửa chữa và giao thẳng cho thợ nhà in sắp chữ. (Nguyễn Mộng Giác sau này là người thứ hai cũng viết bản thảo chỉ một lần không sửa chữa). Nguyễn Đình Toàn cho rằng chưa hề hy sinh tính văn chương khi chọn viết những truyện dài feuilleton như vậy.
            Nếu theo thứ tự xuất bản, thì Áo Mơ Phai là cuốn sách feuilleton thứ 13 của Nguyễn Đình Toàn, và cũng là tác phẩm được trao giải Văn Học Nghệ Thuật 1973.
            Khi viết bài điểm sách Áo Mơ Phai, Huỳnh Phan Anh, đã nhận định: “Phải nhìn nhận rằng yếu tố “truyện” là cái gì quá nghèo nàn trong Áo Mơ Phai, truyện dài. Một độc giả bình thường có thể thất vọng sau khi đọc Áo Mơ Phai. Người đọc có thể xếp cuốn sách lại với nỗi bàng hoàng nào đó, có lẽ người đọc sẽ khó thâu tóm “câu truyện” mà tác giả đã dùng trên 300 trang sách để kể. Có thể câu truyện thật sự của Áo Mơ Phai không thể tách rời khỏi từng trang Áo Mơ Phai, nghĩa là không thể giản lược tóm thâu mà không làm mất ý nghĩa của nó. Có thể vì câu truyện thực sự của Áo Mơ Phai là cái gì chưa hoàn tất, nói một cách nào đó, hãy còn vắng mặt, hãy còn hứa hẹn” (Văn Học 10/02/1974).
            Cũng trên tạp chí Văn Học 1974, Nguyễn Đình Toàn đã nói về kỹ thuật xây dựng Áo Mơ Phai như một tác phẩm tâm đắc của mình: “Mỗi tác phẩm đã viết ra như que diêm đã được đốt cháy, nhà văn có bổn phận phải sáng tạo, dù rằng toàn bộ tác phẩm chỉ là sự nối dài từ cuốn đầu tiên. Nhiều người đã nói tôi dùng lối viết quá dài, cả trang không chấm trong Áo Mơ Phai này mới mang đủ sắc thái không khí của Hà Nội. Nhân vật chính trong tác phẩm không phải là những nhân vật được nhắc tới trong sách mà chính là thành phố Hà Nội. Ai sống ở nơi này thường có cái cảm tưởng đang sống trong một giấc mơ, có lẽ là giấc mơ không bao giờ phai nhạt với sương mù cơn mưa sướt mướt hơi lạnh của mùa thu… Áo Mơ Phai thoát ra từ cơn mơ đó từ khi tôi xa Hà Nội mới 17 tuổi.”
            Ba mươi hai năm sau (9/10/2006) trong buổi mạn đàm với Hoàng Khởi Phong trên RFA, khi được hỏi về Áo Mơ Phai Nguyễn Đình Toàn bày tỏ:
           “Có những người thức thời, nhìn xa trông rộng, có thể tiên đoán dự liệu được những biến chuyển của thời cuộc, dĩ nhiên có những điều họ tiên đoán cũng có điều sai. Mà đúng hay sai thì chỉ khi nào sự việc xảy ra thì họ mới biết được. Tôi viết cuốn sách đó chỉ dựa trên những dự cảm đối với hoàn cảnh lịch sử cho một người chịu đựng hoàn cảnh lịch sử như chịu đựng sự đổi thay của thời tiết” (HKP mạn đàm với NĐT, RFA 9/10/2006).
            Phát biểu của Nguyễn Đình Toàn khiến người ta liên hệ tới bài diễn văn của Albert Camus khi dự lễ nhận giải Nobel văn chương 1957 tại Stockholm, Camus đưa ra nhận định rằng ngày nay nhân loại gồm số nhỏ người làm lịch sử và đông đảo những người phải gánh chịu những hậu quả do biến cố lịch sử. Và tác giả La Peste / Dịch Hạch cho rằng vị trí của những người làm văn học nghệ thuật là đứng về phía những người khổ vì lịch sử.
             (Le rôle de l'écrivain, du même coup, ne se sépare pas de devoirs difficiles. Par définition, il ne peut se mettre aujourd'hui au service de ceux qui font l'histoire: il est au service de ceux qui la subissent. – Albert Camus, Discours de Suède 1957)
            Áo Mơ Phai là dự cảm về một thành phố Hà Nội sắp mất, Đồng Cỏ là một tác phẩm khác dự báo một Sài Gòn sắp mất. Nguyễn Đình Toàn mẫn cảm với thay đổi thời tiết cũng như với những biến chuyển của lịch sử. Dự cảm hay trực giác của nhà văn đi trước tấn thảm kịch, đi trước những đổ vỡ chia ly đã mang tính tiên tri. Đọc văn Nguyễn Đình Toàn, để sống với Hà Nội những ngày sắp mất nhưng cũng không bao giờ mất qua hơn 300 trang sách Áo Mơ Phai:
           “Tháng bẩy rồi tháng tám (1954, ghi chú của người viết) qua mau lẹ như những trận mưa đổ xuống không giờ giấc trong những đêm khuya, những buổi chiều. Người Hà Nội bỏ đi và chỉ trong một thời gian ngắn, Hà Nội như một cơ thể mắc chứng hoại huyết. Từ những vùng quê xa, từng đoàn người lam lũ, lầm lũi, ngày ngày gồng gánh, lếch thếch đắt díu nhau về Hà Nội, nằm la liệt tại các công viên, xó xỉnh, vỉa hè, đầy ắp trong Tòa Thị Chính, chờ để được đưa đi tới các phi trường, bến tầu, di cư vào Nam.
            Chiều chiều Lan thường ngồi trên bao lơn nhìn xuống khu phố đôi lúc vắng vẻ, đôi lúc chen chúc những đám dân quê níu áo nhau đi như chạy, nhìn những tàn cây trước nhà, cây gần nhất có những cành xòe tới sát bao lơn như những cánh tay, những hàng cây xa dọc theo các khu phố, một ngày, một buổi chiều, bao nhiêu lá đều vàng hết, rồi cũng trong một ngày nữa, tất cả lá như tấm áo khoác của thành phố ấy phai thêm một lần nữa, trút khỏi cành như những giấc mơ rời khỏi vầng trán khô cằn, những sợi tóc rụng khỏi chiếc đầu đau ốm.
            Trong nhiều ngày, Lan có cảm tưởng cơn bệnh của thành phố, của những hàng cây lây sang nàng, Lan thấy chân tay nặng nề không muốn cử động, hơi thở khó khăn.
            Nàng mong đợi ngày đi để đi cho xong, cầu nguyện cho ngày khởi hành đừng đến vội, để còn được ở lại đây thêm nữa, ở lại Hà Nội, chia xẻ nỗi đau đớn của Hà Nội, sống với Hà Nội, chết với Hà Nội, rũ rượi với Hà Nội, rõ ràng là Hà Nội đang kiệt sức, những giọt mưa đọng trên các cành cây, những ngọn lá, chẳng khác Hà Nội khóc” (Áo Mơ Phai, Ch. 9, Nxb Nguyễn Đình Vượng 1972).


Nguyễn Đình Toàn, ký họa Tạ Tỵ

GIẢI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT LẦN HAI
            Sau 1975, những gì đốt được thì không còn, Nguyễn Đình Toàn cho biết: “không còn một tấm hình nào về cái ngày phát giải VHNT ấy cả. Nhưng cái huy chương thì lạ lắm. Có một người bạn trẻ, đã mua được tấm huy chương đó trên một vỉa hè ở Hà Nội, mang về đây tặng lại cho mình. Hắn nói “cháu trao tặng bác giải thưởng lần thứ hai”. Bữa hắn mang tới cho mình có mặt Cao Xuân Huy và bạn Huy là Trần Như Hùng, đài phát thanh Úc Châu. Sự việc, Cao Xuân Huy cho là quá hi hữu, có ý viết thành một truyện ngắn”. Toàn nói: đó là “cuộc phiêu lưu của con dế mèn” (tên một truyện nhi đồng của Tô Hoài). Cầm trên tay tấm huy chương bằng đồng mạ vàng đã hoen rỉ theo màu thời gian của 42 năm lưu lạc, tôi nói đùa với vợ chồng Nguyễn Đình Toàn: cũng may là không phải vàng ròng, nếu không thì cũng đã bị đốt chảy trong một tiệm kim hoàn nào đó ngoài Hà Nội.
            Sách Nguyễn Đình Toàn được xếp vào loại văn hoá đồi truỵ sau 1975; nên tất cả bị tịch thu và trở thành “Tro Than”, như tên một tác phẩm định mệnh Nguyễn Đình Toàn trong chiến dịch đốt sách lan rộng khắp Miền Nam thời bấy giờ.
            Giải Văn Học Nghệ Thuật 72-73 không phải chỉ có tấm huy chương, mà còn kèm theo số hiện kim 600.000 đồng tương đương với 40 lượng vàng theo thời giá bấy giờ. Tưởng cũng nên nói thêm về giải Văn Học Nghệ Thuật 1961, với số hiện kim 40.000 đồng lúc đó đủ cho nhà văn Nhật Tiến mua một xe hơi Renault 4CV còn chạy tốt cho tới những năm về sau này.
            Cho dù Nguyễn Vỹ có than thở “nhà văn An Nam khổ như chó” nhưng thực ra trong xã hội Việt Nam, họ vẫn là thành phần được quý trọng.


Trên là hai mặt của tấm huy chương Giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc.
Ông Nguyễn Đình Toàn giải chính thức tiểu thuyết (72-73) với tác phẩm Áo Mơ Phai.
Dưới là bìa tác phẩm Áo Mơ Phai

NHÓM ĐÊM TRẮNG
            Từ 1954, trong vòng 20 năm của Miền Nam, các phong trào văn học được tự do nở rộ. Tự Lực Văn Đoàn được tiếp nối với Văn Hoá Ngày Nay của Nhất Linh, nhóm Sáng Tạo của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền phủ nhận nền văn học tiền chiến với nỗ lực làm mới văn chương, nhóm Quan Điểm của Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Mặc Đỗ; rồi tới nhóm Đêm Trắng (cũng có thể gọi là nhóm La Pagode nơi họ tụ tập sinh hoạt) được xem như nhóm Tiểu Thuyết Mới của Sài Gòn. Nhóm 6 người ấy đa số xuất thân nhà giáo: Huỳnh Phan Anh, Đặng Phùng Quân, Nguyễn Nhật Duật, Nguyễn Xuân Hoàng, trừ Nguyễn Đình Toàn và Nguyễn Quốc Trụ. Ý kiến khởi đầu lập Nxb Đêm Trắng là từ Huỳnh Phan Anh, để chỉ xuất bản các sáng tác của nhóm. Tuy mang tên nhóm nhưng họ là những cây bút độc lập, có chung ý hướng là tự làm mới cách viết của mỗi người.
            Nổi bật trong nhóm này là Nguyễn Đình Toàn với kỹ thuật viết mới, viết truyện mà không có truyện, những trang chữ là một chuỗi những hình ảnh tạo cảm xúc và là một trải dài độc thoại nội tâm. Nguyễn Đình Toàn thành công trong nỗ lực tự làm mới văn chương nhưng không vì thế mà bảo ông chịu ảnh hưởng và chạy theo phong trào tiểu thuyết mới của Pháp. Thanh Tâm Tuyền và Dương Nghiễm Mậu là hai tên tuổi khác cũng được nhắc tới khi nói về khuynh hướng tiểu thuyết mới ở Sài Gòn lúc bấy giờ.
            Tưởng cũng nên nhắc tới ở đây, Hoàng Ngọc Biên không ở trong nhóm Đêm Trắng nhưng chính anh là người đầu tiên thực sự nghiên cứu về phong trào Nouveau Roman của Pháp, vào giữa thập niên 1950’s với các tên tuổi như Alain Roble-Grillet, Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon.
            Hoàng Ngọc Biên đã dịch một số tác phẩm của Alain Roble-Grillet và cũng thể hiện quan niệm tiểu thuyết mới ấy qua tập truyện Đêm Ngủ ở Tỉnh do Cảo Thơm xuất bản Sài Gòn, 1970. Cũng theo Hoàng Ngọc Biên, thì ngoài danh xưng, trong 20 năm Văn Học Miền Nam thực sự đã không có một phong trào Tiểu Thuyết Mới tại Sài Gòn “theo cái nghĩa thời thượng” của phong trào Tiểu Thuyết Mới xuất phát từ Tây Phương.

NHẠC THOẠI CỦA NHẠC CHỦ ĐỀ
            Vào thập niên 1960, có ba chương trình nhạc được thính giả yêu thích là chương trình Tiếng Tơ Đồng của nhạc sĩ Hoàng Trọng, Tiếng Nhạc Tâm Tình do ca sĩ Anh Ngọc và Mai Thảo phụ trách, và chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Mỗi chương trình có một sắc thái hay riêng, nhưng có lẽ “Nhạc chủ đề” trên đài phát thanh Sài Gòn ngày ấy vào mỗi tối thứ Năm được chờ đợi đón nghe nhiều nhất. Những lời dẫn quen thuộc với giọng đọc trầm ấm của Nguyễn Đình Toàn như nhập tâm vào mỗi thính giả:
            Tình ca – những tiếng nói thiết tha nhất của một đời người – bao giờ cũng bắt đầu từ một nơi chốn nào đó, một quê hương, một thành phố, nơi người ta đã yêu nhau… Tất cả mùa màng, thời tiết, hoa lá, cỏ cây của cái vùng đất thần tiên đó, kết hợp lại, làm nên hạnh phúc, làm nên nỗi tiếc thương của chúng ta…
            Không phải chỉ có nữ giới, mà cả phái nam cũng rất mê chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ở Sài Gòn là giới thanh niên sinh viên, nơi chiến trường xa là những người lính.
            Người lính, sau này trở thành thương phế binh, nhà thơ Phan Xuân Sinh hiện sống ở Houston Texas đã bồi hồi kể lại: “Cho đến bây giờ lớp tuổi trên dưới 60… tôi còn nhớ lúc đó ngoài chiến trường với chiếc radio transistor nhỏ bằng bao thuốc, một cái ecouteur gắn vào tai. Chúng tôi có những giây phút chìm vào chương trình Nhạc Chủ Đề của Nguyễn Đình Toàn. Ông đã mang lại cho chúng tôi những giờ nghỉ ngơi thật tuyệt vời khi đối đầu với chiến trường”.
            Gs Nguyễn Văn Tuấn từ Viện nghiên cứu Y khoa Garvan Úc Châu trước và sau 1975 là một “fan” của chương trình Nhạc Chủ Đề. Anh Nguyễn Văn Tuấn viết: “Tôi tưởng tượng rằng như có một phép màu nào, xoay ngược lại thời gian. Kìa tôi, trong một hình hài nào đó, giữa đêm lập loè ánh điện, đang ngồi áp tai vào radio, ngồi nuốt từng lời dẫn của Nguyễn Đình Toàn, thả hồn vào những giai điệu tuyệt đẹp tuyệt vời của những bản tình ca không bao giờ tàn lụi…” Rồi mới đây sau khi nghe lại CD Tình Ca Việt Nam
            Nguyễn Đình Toàn 1970, anh đã phải thốt lên: “mỗi lời dẫn cho một bản nhạc ở đây là một “nhạc thoại” một tác phẩm khác. Nó thể hiện tính thẩm văn và thẩm nhạc của người tuyển chọn là Nguyễn Đình Toàn”. Rồi cuối cùng, hai người bạn họ Nguyễn ấy như Bá Nha Tử Kỳ cùng một kiếp tha hương, họ cũng đã gặp nhau không phải trên “một quê hương Việt Nam sợ hãi – chữ của Nguyễn Đình Toàn trong Đồng Cỏ” mà trên lục địa Mỹ Châu thênh thang tự do nhưng vẫn là lưu đầy.
            Truyện Nguyễn Đình Toàn rất giàu hình ảnh và nhiều chất thơ có thể đọc như một bài thơ xuôi/ prose poem. Khi đặt lời cho một bản nhạc thì tự thân phần lời ấy đã là một bài thơ. Nguyễn Đình Toàn viết nhạc, nổi tiếng với một số nhạc khúc, nhưng có lẽ những nốt nhạc được cất cánh từ những ý thơ ban đầu của Nguyễn Đình Toàn. Lời bản Tình Khúc Thứ Nhất đã là một thi phẩm trước khi kết hợp với phần nhạc của Vũ Thành An.

                             TÌNH KHÚC THỨ NHẤT
                        Tình vui theo gió mây trôi
                        Ý sầu mưa xuống đời
                        Lệ rơi lấp mấy tuổi tôi
                        Mấy tuổi xa người
                        Ngày thần tiên em bước lên ngôi
                        Đã nghe son vàng tả tơi
                        Trầm mình trong hương đốt hơi bay
                        Mong tìm ra phút sum vầy
                        Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai
                        Những cánh dơi lẻ loi mù trong bóng đêm dài
                        Lời nào em không nói em ơi
                        Tình nào không gian dối
                        Xin yêu nhau như thời gian làm giông bão mê say
                        Lá thốt lên lời cây
                        Gió lú đưa đường mây
                        Có yêu nhau xin ngày thơ ngây
                        Lúc mắt chưa nhạt phai
                        Lúc tóc chưa đổi thay
                        Lúc môi chưa biết dối cho lời
                        Tình vui trong phút giây thôi
                        Ý sầu nuôi suốt đời
                        Thì xin giữ lấy niềm tin dẫu mộng không đền
                        Dù trời đem cay đắng gieo thêm
                        Cũng xin đón chờ bình yên
                        Vì còn đây câu nói yêu em
                        Âm thầm soi lối vui tìm đến
                        Thần tiên gẫy cánh đêm xuân
                        Bước lạc sa xuống trần
                        Thành tình nhân đứng giữa trời không
                        Khóc mộng thiên đường
                        Ngày về quê xa lắc lê thê
                        Trót nghe theo lời u mê
                        Làm tình yêu nuôi cánh bay đi
                        Nhưng còn dăm phút vui trần thế


Nguyễn Đình Toàn trái, photo by Trần Cao Lĩnh;
phải, photo by Nguyễn Ngọc Dung, con gái nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm

NƯỚC SÔNG MEKONG MÁU CỦA ĐẤT
            Các tác phẩm văn học lớn thường mang những dự cảm hay cả viễn kiến có thể liên hệ với cuộc sống. Truyện Kiều là một ví dụ: hoàn cảnh nào cũng có thể liên hệ với một câu thơ của Nguyễn Du.
            Tôi không nói rằng Nguyễn Đình Toàn đã sáng tác những tác phẩm lớn, nhưng từ các trang sách của anh, tôi đã tâm đắc tìm thấy ở đấy những dự cảm để dễ dàng đưa vào trích dẫn. Nguyễn Đình Toàn đã ví nước sông Mekong như “máu của đất” trước viễn tượng một Cửu Long Cạn Dòng.
            Và khi có tin cặp vợ chồng ngư dân Nguyễn Văn Chơn cư ngụ tại huyện Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp mười ngày trước Giáng Sinh đã rất đỗi vui mừng khi lưới được một con cá đuối khổng lồ trên sông Tiền, đoạn giữa hai xã Tân Mỹ và Tân Khánh Trung. Con cá đuối có chiều dài hơn 4 mét ngang 2 mét và nặng tới 270 k… Cá đuối hay Selachian, tên khoa học là chondrichthyes, thuộc loài cá sụn là giống cá nước mặn. Trong niềm vui lưới được con cá đuối nước mặn to khủng trên khúc sông Tiền cũng chính là tín hiệu của thảm hoạ: “Có biết đâu niềm vui đã nằm trong thiên tai” như lời thơ Nguyễn Đình Toàn, bởi vì nạn ngập mặn / salt intrusion đã càng ngày càng lấn vào rất sâu vào vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long, nơi vốn là vùng đất của “phù sa, lúa gạo, cây trái và tôm cá đầy đồng…” (CLCD BĐDS, Ch. XIV, Nxb Văn Nghệ 2000)

BÀ TÚ XƯƠNG THU HỒNG
            Tôi quen Nguyễn Đình Toàn có lẽ khởi đầu từ những trang sách Chị Em Hải, rất sớm khi còn là sinh viên Khoa học. Quán cà phê La Pagode thường là nơi có thể dễ dàng gặp Toàn và các bạn văn nghệ của anh, cũng là nơi hình thành nhóm Đêm Trắng sau này. Nguyễn Đình Toàn ngoài giờ làm ở đài phát thanh, hầu như thường ngày ra ngồi viết nơi quán Cái Chùa này.
            Chỉ được gặp chị Toàn khi tới thăm căn nhà rất nhỏ của anh chị, trước nhà có hàng cây trứng cá, trong một con hẻm cũng rất nhỏ phía sau đài phát thanh Sài Gòn. Chị Thu Hồng, tên người bạn đời tấm cám hơn 60 năm của Nguyễn Đình Toàn, chị nhỏ hơn Nguyễn Đình Toàn sáu tuổi, chị có vẻ đẹp với cá tính mà các hoạ sĩ rất muốn vẽ, một thứ người mẫu cho những bức tranh của Modigliani cộng thêm với cái trán cao bướng bỉnh khi chọn lựa và chấp nhận sự thách đố của số phận. Chị cũng là xướng ngôn viên cho một chương trình của đài phát thanh Sài Gòn. Thời kỳ ấy, Toàn thì bị lao phổi khá nặng, lại mới có một đứa con đầu lòng. Thuốc chữa bệnh lao lúc đó rất hiếm hầu như chỉ có hai thứ: thuốc viên Rimifon, và thuốc chích Streptomycin có thể gây điếc. Toàn thường ho ra máu, sức khoẻ suy kiệt và thường xuyên bị ám ảnh bởi cái chết giữa tuổi mới ngoài 20 ấy. Tập thơ Mật Đắng được sáng tác trong giai đoạn đen tối và gần như tuyệt vọng này. Võ Phiến khi viết về thi phẩm Mật Đắng của Nguyễn Đình Toàn, thay vì bốn cái khổ: sinh, bệnh, lão, tử “trong Mật Đắng không có cái lão, nhưng thay bằng cái ái, càng tệ hơn… Sinh, bệnh, ái, tử, nghe có hơi lạ tai một chút, dù sao cũng là chuyện của mọi nơi chốn, mọi thời đại”. (Văn Học Miền Nam, Thơ, Nxb Văn Nghệ 1999).
            Trong bài thơ Úp Mặt, Nguyễn Đình Toàn viết:

                        Bàn tay vuốt mặt xương lồi
                        Hai mươi tư tuổi một đời cũng xong


            Có lẽ sức sống toả sáng nơi căn nhà nhỏ chật của vợ chồng Nguyễn Đình Toàn lúc ấy là nụ cười luôn luôn rạng rỡ và cả ẩn nhẫn của chị Thu Hồng, vợ Toàn. Với tôi, chị là hình ảnh nguyên mẫu của một bà Tú Xương lúc ấy và cho tới suốt cả những năm về sau này, chị bền bỉ đảm đương một gia đình bốn con và cả thăm nuôi Nguyễn Đình Toàn trong suốt thời gian gian tù đầy.
           “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”, bà Tú Xương của thời hiện tại đã đảo nghịch lời tiên tri Mật Đắng, và Nguyễn Đình Toàn thì nay cũng đã vượt xa cái ngưỡng tuổi “cổ lai hy”, tới tháng Chín 2015 này, Nguyễn Đình Toàn tròn 80 tuổi.


Nhà văn Nguyễn Đình Toàn và bà Tú Xương Thu Hồng, 2014

            Rồi vợ chồng Nguyễn Đình Toàn cũng sang được Mỹ tuy khá trễ 1998. Và kể từ sau những năm 2000, sau bao tháng năm thăng trầm, chị Thu Hồng vẫn là hình ảnh một bà Tú Xương ngày nào, nhưng chị đã bắt đầu quên nhiều điều, quên những chuyện nhân sinh hiện tại. Nhưng mỗi khi khi phone tới nhà không gặp Toàn, xin nói chuyện với “bà Tú Xương” thì bên kia đầu dây là một giọng cười giòn rã, chị nhận ra ngay ai đang nói chuyện với chị và nhớ lại đủ mọi điều. Một hôm tới thăm anh chị cách đây không lâu, nửa buổi sáng câu chuyện rộn rã, khi ra về anh chị xuống thang đưa tiễn tôi ra xe, chị Toàn nói hồn nhiên: “hôm nào anh Vinh tới nhà tụi này chơi” Toàn nhắc chị, anh ấy vừa mới từ nhà mình xuống đây mà. Chị Toàn thì vẫn cười hồn nhiên. Tôi vẫn nghĩ nếu không có bà Tú Xương, có lẽ Toàn đã chẳng thể sống sót cho tới cái tuổi gần 80 như hôm nay. Toàn không phủ nhận điều ấy và dí dỏm nói, “cũng vì vậy mà bây giờ tôi đang trả nợ cho bà ấy”, Toàn nói tới vai trò không thể thiếu hàng ngày phải chăm sóc người bạn đời của mình.
            Hai vợ chồng sống như đôi chim liền cánh, từ bấy lâu nay, Toàn đã không thể để chị ở nhà một mình.
            Quanh năm buôn bán ở ven sông, Nuôi đủ năm con với một chồng.
            Nói tới thành tựu của một nền văn học, người ta chỉ nhắc tới những nhà văn, nhà thơ nhưng có lẽ không thể không nhắc tới những bà Tú Xương của mọi thời đại với bao nhiêu công khó hy sinh của họ.

MỘT CHÚT RIÊNG TƯ
            Ca sĩ Quỳnh Giao, trong bài viết về “Nguyễn Đình Toàn, Dẫn Em Vào Nhạc” đã cho rằng “Nguyễn Đình Toàn là nghệ sĩ không cần được giới thiệu” điều đó có lẽ đúng với các thế hệ sống ở Miền Nam trong giai đoạn 1954-1975. Nhưng với các thế hệ sinh ra và lớn lên sau 1975 ở trong nước cũng như ở hải ngoại, những bài viết giới thiệu một Nguyễn Đình Toàn tài năng trong nhiều lãnh vực văn, thơ, nhạc, kịch vẫn là điều cần thiết. Và đáng mừng là đã có rất nhiều bài viết về mọi khía cạnh của Nguyễn Đình Toàn, nghĩ tới một bài viết mới về Nguyễn Đình Toàn, câu hỏi được đặt ra là liệu còn gì để viết nữa nếu không phải là những chia xẻ chút riêng tư với một bạn văn và cũng là cố tri.
            Bài viết này gửi tới bà Tú Xương Thu Hồng và Nguyễn Đình Toàn tác giả Mật Đắng khi anh sắp bước vào tuổi 80 gần như một phép lạ.


NGÔ THẾ VINH
California 08/03/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/nguyendinhtoan-ngothevinh-08032015130726.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #130 vào: 03/07/2018, 23:24:09 »
Alexandre Dumas đã vào điện Panthéon

Mấy ai đã không từng say mê đọc truyện và đã không từng xem phim “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ” (Les trois Mousquetaires) hay “Bá Tước Monte Cristo” của nhà văn Alexandre Dumas-père (chữ “père”/cha thêm vào sau tên để phân biệt với con của ông, cũng là một nhà văn nổi tiếng thường được gọi là Alexandre Dumas-fils, tác giả của “Trà Hoa Nữ”/La Dame aux camélias).

Nhà văn Alexandre Dumas

NHƯNG CÓ LẼ không mấy ai biết rằng nhà văn này, lúc sinh thời cũng như sau khi mất, đã bị phân biệt đối xử một cách tệ hại. Lý do: ông là một người Pháp lai da đen.
            Ông nội của Dumas là một quý tộc Pháp, hầu tước Antoine-Alexandre Davy de la Pailleterie, đến định cư ở Saint-Domingue (nước Haiti bây giờ) từ thế kỷ 18. Ông có nuôi một người đàn bà nô lệ da đen tên là Marie-Céssette Dumas và dan díu với bà này sinh ra Thomas Alexandre (sau này ghép thêm họ mẹ vào, trở thành Thomas Alexandre Dumas). Khi gia đình trở về Paris, Thomas gia nhập quân đội, trở thành tướng lãnh trong quân đội cách mạng của Napoléon Đệ Nhất.
            Ngày 24 Tháng Bảy, 1802, nhà văn Alexandre Dumas ra đời. Đúng vào thời điểm đó, chính quyền Napoléon ra đạo luật tái lập chế độ nô lệ, vốn đã bị bãi bỏ từ năm 1794. Dưới đạo luật mới, tất cả những sĩ quan “lai”, nhất là lai da đen, đều bị cấm đoán gắt gao. Cha ông bị thất sủng hoàn toàn. Buồn bã, ông chết trong sự nghèo đói, khi Dumas vừa mới lên 4 tuổi.
            Dumas tự học và tìm cách về Paris kiếm sống. Trước năm 1843, ông chuyên viết kịch. Tính đến lúc đó, ông viết tất cả 15 vở kịch trước khi bắt đầu viết truyện dài nhiều kỳ đăng tải ở các báo định kỳ. Trước sau, ông xuất bản đến 250 tác phẩm đủ loại gồm cả 600 cuốn và tạo ra chừng 37.000 nhân vật.
            Ông nhận tất cả đơn đặt hàng và viết nhiều tác phẩm trong cùng một lúc. Ðể có thể viết cho kịp với nhu cầu đòi hỏi, ông phải thuê người viết phụ – có lúc con số này lên đến 75 người – trong đó có một giáo sư sử học nổi tiếng tên là August Maquet.
            Trung bình mỗi năm ông kiếm được khoảng 200.000 đồng quan Pháp. Kiếm được nhiều tiền nhưng tiêu tiền còn nhanh hơn, nên luôn luôn mắc nợ. Lại cắm cúi viết để trả nợ. Nhưng nợ nần cứ chồng chất đến nỗi có lúc ông phải trốn ra nước ngoài và chỉ dám trở về khi bạn bè giúp ông thanh toán một phần nợ nần. Thành công của ông khiến nhiều người ganh ghét. Người ta từ chối liệt ông vào hạng nhà văn chính thống. Họ gọi ông là một thứ “sous-écrivain” (nhà văn tầm thường).
            Đã thế, lúc sinh thời, gốc gác của ông thường bị đem ra bêu riếu. Một nhà văn cùng thời, Eugène de Mirecourt, nhận xét: “Thể hình của Dumas cũng đủ cho ta biết ngay ông ta là loại người nào: dáng dấp thì như tay đánh trống, tay chân thì vạm vỡ thô tháp, môi thì trề, tóc quăn, da ngăm. Lột cái vỏ của ông ta ra, ta sẽ thấy ông ta là một tay man dã. Ông ta vừa là da đen vừa là bá tước. Nhưng bá tước chỉ là cái vỏ bề ngoài. Xóa nó đi thì ông ta hoàn toàn là một thằng mọi”.
            Mãi đến 200 năm sau, Alexandre Dumas mới được vinh danh, một cuộc vinh danh vô cùng đặc biệt. Vào ngày 30 Tháng Mười Một, 2002, tại thủ đô Paris, nhúm tro tàn của ông đã được chuyển vào nghĩa trang dành cho những danh nhân nước Pháp: điện Panthéon.
            Buổi lễ vinh danh này đối với nước Pháp, là một “biến cố” văn chương nhưng cũng là một biến cố chính trị. Bài xã luận của nhật báo Le Monde (30 Tháng Mười Một, 2002) có tựa đề khá vui là “La France métisse” cho rằng đưa thi hài Dumas vào điện Panthéon là dấu hiệu cho thấy thái độ của nhà cầm quyền Pháp đương nhiệm “bài bác tất cả những kẻ cực đoan” chủng tộc.
            Người ta gọi đó là sự bù trừ mà nước Pháp dành cho đứa con lai, hậu duệ của một người nô lệ da đen, tuy thành công lúc sinh thời, nhưng phải chịu đựng không biết bao nhiều là dè bĩu, khinh khi vì gốc gác hèn mọn của mình. Thế là cuối cùng, ông được nằm bên cạnh những nhân vật kiệt xuất của nước Pháp từ cổ chí kim (mà danh sách không quá 60 người) về đủ mọi mặt, từ chính trị, kinh tế, khoa học cho đến văn chương nghệ thuật như Jean-Jacques Rousseau, Marie Curie, Victor Hugo, Émile Zola…
            Tổng thống Pháp lúc đó, Jacques Chirac, trong bài diễn văn đọc trong buổi lễ, thú nhận rằng: “Cùng với ông, chúng tôi trở thành những d’Artagnan, những Monte-Cristo hoặc Balsamo, cưỡi ngựa rong ruổi trên những con đường Pháp quốc, vượt qua những chiến trường, viếng thăm những cung điện và những pháo đài. Cùng với ông, với ngọn đuốc cầm tay, chúng tôi được đi vào những hành lang tối tăm, những địa đạo bí mật. Cùng với ông, chúng tôi mơ mộng. Và cùng với ông, chúng tôi vẫn còn mơ mộng. Có hai năm thuộc thế kỷ 19, người ta chứng kiến sự ra đời của hai đứa con mà về sau là hiện thân cho tinh thần của thời gian và mang lại cho nước Pháp hai tác phẩm tự hòa tan trong nó. Ðó là Victor Hugo và Alexandre Dumas”.
            Trong ngày lễ, trên đường về Paris, linh cữu dừng tại lâu đài Monte Cristo là lâu đài mà Dumas cho xây dựng lúc sinh thời để vinh danh chính nhân vật của ông trong truyện dài “Comte de Monte Cristo” (Bá Tước Monte Cristo). Quan tài được phủ một lá cờ màu xanh đậm có ghi lại dòng chữ trích từ trong truyện “Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ”: Tous pour un et un pour tous. Hai bên quan tài có bốn người đàn ông ăn mặc theo kiểu mấy chàng ngự lâm hộ tống trong khi một số người khác ăn mặc áo quần cổ truyền. Linh cữu được tổng thống Pháp đón tiếp vào điện Panthéon, một tòa nhà có mái vòm nằm trên tả ngạn sông Seine.
            Buổi lễ vinh danh này là thành quả của một cuộc vận động lâu dài và tích cực của “Hiệp Hội Những Người Bạn của Alexandre Dumas” bao gồm nhiều khuôn mặt hàn lâm và văn chương nổi tiếng Pháp. Họ cho rằng Dumas có thể không phải là người viết văn xuôi vĩ đại nhất, nhưng với các tác phẩm được dịch ra cả 100 thứ tiếng và được quay thành 200 phim, ông là người, hơn bất cứ nhà văn Pháp nào khác, mang lịch sử và văn hóa Pháp đến với toàn thế giới. Dù cuộc sống của Dumas đầy tranh cãi, Dumas là hiện thân của một sự thành công mà nước Pháp phải lấy làm vinh hạnh. Hơn nữa, nước Pháp phải sửa chữa lại một bất công mà ông đã từng chịu đựng và phải dành cho ông một vị trí mà ông xứng đáng được hưởng.
            Alain Decaux, sử gia thuộc loại hàng đầu của Pháp hiện nay, phát biểu: “Ông là một nhà văn được ngưỡng mộ trên toàn thế giới, nhà văn Pháp được đọc nhiều nhất, được yêu mến nhất và ngưỡng mộ nhất bởi hàng triệu người”.
            Ông được đánh giá cao khi làm sống lại tiểu thuyết lãng mạn Pháp xuyên qua nhiều truyện nhiều kỳ và có một tài kể chuyện độc đáo pha lẫn giữa thực và hư cho đến độ người ta không còn phân biệt nổi đâu là thật lịch sử và đâu là hư cấu. Nhiều nhà phê bình cho rằng, truyện của ông lấy cảm hứng từ những sự liều lĩnh mang nặng dấu vết di truyền da đen của tổ tiên bên ngoại ở vùng biển Ca-ri-bê.
            Cuộc vận động không phải dễ dàng gì. Vì vấp phải sự chống đối – cũng tích cực không kém – của một số nhà văn, sử gia, nhà trí thức khác cũng như của các hội phụ nữ. Họ tố cáo Dumas là dâm đãng vì quan hệ tình ái bừa bãi, cử chỉ phóng đãng, ngông nghênh. Còn tài năng thì rất đáng ngờ vực vì ông thuê cả một đạo quân viết thuê.
            Vả lại, tự bản chất, ông là một người viết feilleton chỉ nhằm mục đích thương mại, hoàn toàn không có một chút văn chương nào. Một người như thế, theo họ, mà đưa vào điện Panthéon nằm bên cạnh những danh nhân nước Pháp thì thật là một điều sỉ nhục. Ðã vậy, trong lúc cho Dumas vào điện Panthéon thì những nhà văn kiệt xuất khác của nước Pháp lại nằm ngoài như Proust, Flaubert hay Stendhal chẳng hạn.
            Nhưng bất chấp mọi chống đối, chính phủ Pháp quyết định tiến hành việc đưa nhà văn vào điện Panthéon bằng một sắc lệnh được Tổng Thống Jacques Chirac ký vào Tháng Ba, 2002.
            Trong buổi lễ vinh danh Dumas, sử gia Alain Decaux nhắc lại lời của đứa con trai của Dumas là Alexandre Dumas-fils: “Cha tôi giống như một dòng sông và là một dòng sông thì ai cũng có thể đái vào đó được”.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/alexandre-dumas-da-vao-dien-pantheon/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #131 vào: 11/07/2018, 23:15:02 »
Mai Lệ Huyền, một “đệ nhất sexy” và một người phụ nữ bình thường

Nghệ danh là một tấm thẻ bài được các nghệ sĩ mang theo mình trong suốt mặt trận nghệ thuật. Hầu hết mỗi nghệ danh khi nghe đến đều có thể hình dung ngay phong cách trình diễn và nét riêng của người nghệ sĩ đó. Tuy nhiên, trong làng nhạc trẻ của thập niên 60, 70, có một ca sĩ với nghệ danh hoàn toàn đối lập với hình ảnh trên sân khấu của cô. Tên gọi ấy, và những ca khúc cô trình diễn đã từng đốt cháy sân khấu, tụ điểm, đại nhạc hội bấy giờ. Đó là Đệ nhất sexy búp bê lửa Mai Lệ Huyền.

Lễ phát giải Kim Khánh 1973 do nhật báo Trắng Đen tổ chức. Từ trái sang phải:
Bạch Tuyết, bầu Xuân (Dạ Lý Hương), Mai Lệ Huyền, Trần Quang, Thẩm Thúy Hằng…

THẾ NHƯNG, bên trong những điệu nhảy bốc lửa ấy, là một người phụ nữ bình thường, rất bình thường như bao người phụ nữ khác. Cát Linh mời quí vị cùng trò chuyện với Mai Lệ Huyền.

Từ cô học trò hát thế…
            Tại ngôi trường tỉnh nhỏ của tỉnh Bình Long, Hớn Quản, có cô học trò tên Nguyễn Kim Cúc thích ca hát và đoạt giải Tiếng hát hay nhất của trường Bình Long với ca khúc Duyên quê của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Đây cũng là bài hát đầu tiên trong cuộc đời ca hát của ca sĩ Mai Lệ Huyền, nghệ danh sau này của cô học trò ấy.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Lần đầu tiên được hát ca là trong trường, bài hát đầu tiên là bài hát Duyên quê. Một duyên may, một dịp để có tên Mai Lệ Huyền là vì Ban Tân Dân Nam ngày xưa là của bà Túy Hoa, có người con là ca sĩ Túy Phượng, rất nổi tiếng. Ban Tân Dân Nam lên trình diễn ở một tỉnh nhỏ ở Bình Long, thì ngày đó người ca sĩ chính để mở màn bị bệnh, không lên được. Ban đó hỏi là trong trường này có ai dám lên hát mở màn giùm để Ban Tân Dân Nam diễn không, thì tôi bằng lòng lên hát mở màn. Từ đó ban nhạc Tân Dân Nam mời tôi, và vài nhạc sĩ nói rằng nếu có dịp về Sài Gòn thì liên lạc, nếu muốn làm ca sĩ thì sẽ có người dìu dắt”.

            Ca khúc Duyên quê trữ tình, nhẹ nhàng lại là ca khúc bắt đầu đưa Mai Lệ Huyền, người sau này “đóng đinh” với dòng nhạc sôi động và cả phong cách trình diễn đầy chất lửa trên sân khấu. Điều này theo lời của Mai Lệ Huyền, đó là do buổi ban đầu chưa xác định được phong cách mình sẽ theo đuổi, vì cô không nghĩ rằng mình sẽ là ca sĩ.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Thời đó là thời học sinh. thời đó tôi chưa có rõ ràng loại nhạc nào mình sẽ diễn sau này. Nhưng mà thật sự cái thích của mình là được hát những loại nhạc tươi trẻ, nhảy nhót. Sau này về Sài Gòn, khi được khi hát và được những người nhạc sĩ coi được cái khiếu của mình là gì thì đã thể hiện ra cái mình có bây giờ”.

            Từ lúc đó, niềm đam mê và ý định trở thành ca sĩ mới thực sự bắt đầu hình thành trong tâm tưởng cô học trò Nguyễn Kim Cúc. Ngôi trường trung học Bình Long bé nhỏ không giữ chân được cô, không giữ được tiếng hát khỏe, trong vắt hoang sơ và đầy chất lửa. Cho nên, cô quyết định rời Bình Long để về Sài Gòn.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Bắt đầu liên lạc được với những người nhạc sĩ mà mình đã biết một lần hát ở Bình Long, có đến nói chuyện thì họ thấy mình có khiếu, hồi đó chưa có tên Mai Lệ Huyền thì họ quyết định nếu muốn đi hát thì đến tập thường xuyên và sẽ được hướng dẫn đi hát và đặt cho cái tên”.


Một trong những đĩa nhạc của Ca sĩ Mai Lệ Huyền và Hùng Cường trước năm 1975

Cho đến nghệ danh “Đệ nhất sexy” búp bê lửa Mai Lệ Huyền
            Nghệ danh là cái tên gắn liền với cuộc đời của một người nghệ sĩ, phần nhiều nói lên tính cách hoặc mang một ý nghĩa đặc biệt nào đó. Cái tên Mai Lệ Huyền buồn và nhẹ nhàng như vậy lại được gắn với một giọng hát và phong cách trình diễn được gọi là “búp bê lửa” thời đó. Nhắc lại lời nói của những người nhạc sĩ đặt cho cô nghệ danh này rằng, trên núi rừng Bình Long lúc đó, lại có một cô gái da ngăm đen, nghe nói là từ bên Lào về, mang dáng vẻ của một người Thượng.
 
Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Họ nói là cái tính rất là lý lắc. Trong trường lúc nào cũng quậy phá, ca hát. Da thì ngăm đen. Mà hễ nói cái gì đụng tới là rơi lệ, dễ khóc. Thành ra họ nói thôi nếu đi hát thì đặt cho tôi cái tên hợp nhất Mai là con khỉ, hay nhảy nhót, Lệ là nước mắt, đụng đến là hay khóc, Huyền là người có nước da nâu đen”.

            Từ đó cái tên Mai Lệ Huyền ra đời. Từ đó, khán thính giả được biết đến một ca sĩ Mai Lệ Huyền với những bài hát sôi động, những điệu nhảy có thể thiêu đốt những phòng trà, tựu điểm của thập niên 70.

                        “Từ ngày hai đứa yêu nhau mộng ước thật nhiều!
                        Từ ngày hai đứa yêu nhau lòng ước bao nhiêu!
                        Mộng vàng hai đứa có chi là quá xa xôi:
                        Ta mơ một mái nhà tranh
                        Ta mơ một túp lều tình
                        Đời mình đẹp mãi với Em và Anh…

                        (Túp lều lý tưởng)

            Sự tương phản rõ rệt giữa nghệ danh và phong cách trình diễn. Chính người đặt cho cô cái nghệ danh Mai Lệ Huyền là nhạc sĩ Trần Trịnh và Đinh Việt Lang đã nhìn thấy hai sự đối lập trong một con người của cô học trò Nguyễn Kim Cúc.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Lần đầu tiên họ không biết mình nhiều. Khi mà gặp nhau để chuẩn bị cho một cuộc hành trình bắt đầu đi hát thì họ đã cho mình một nghệ danh như vậy. Khi Mai Lệ Huyền kể với họ là khi đi học trong trường, phá phách như một cậu tomboy, leo lên cây mít cây xoài, phá phách như con khỉ, lúc nào cũng lăng xăng, lí lắc. Họ nhìn thấy được cái đó. Trong niềm đam mê nhạc quậy khi đứng trên sân khấu thì thích quậy tới bến. Họ nhìn thấy được cái đó. Nhưng bên cạnh đó, họ cũng nhìn thấy được dòng lệ của mình lúc nào cũng rơi, mà dễ rơi. Lúc nào cũng có thể khóc được”.

            Mai Lệ Huyền cho biết cô rất thích “nhạc quậy”. Kể lại thời điểm đó, cái thời có ca sĩ Túy Phượng, Băng Tâm, thời của nhạc 60, nhạc ngoại quốc, mà người ta gọi chung là nhạc trẻ, những nơi đầu tiên cô đi diễn là club Mỹ.
            Và chính những người nhạc sĩ Việt Nam trình diễn trong club Mỹ thời đó đã nhìn thấy phong cách rất riêng của Mai Lệ Huyền, mời cô về Đại nhạc hội Quốc Thanh hát chung với Hùng Cường, bắt đầu với ban nhạc Khánh Băng, Phùng Trọng.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Cái chính là Mai Lệ Huyền đi hát ở club Mỹ, do ông Trần Văn Trạch, là người nhìn thấy Mai Lệ Huyền nhìn thấy mình hát nhạc quậy thời đó, cũng là cái thời tập tành hát nhạc Mỹ, vì thời đó người Mỹ qua Việt Nam nhiều lắm, mình cũng là người thích hát nhạc đó, nên đi hát ở club Mỹ rất nhiều trước khi ra hát nhạc Việt Nam với Hùng Cường, để có cái tên chính thức là Mai Lệ Huyền”.

            Sau khi từ những club Mỹ ở Bình Long về Sài Gòn hát cho phòng trà Tự Do, Văn Cảnh, và gần như là cái tên thiêu cháy phòng vé thời đó, Mai Lệ Huyền được nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân, nghệ danh của hai nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân “đo ni đóng giày” bằng những ca khúc.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Bắt đầu từ đó Mai Lệ Huyền hát rất nhiều đại nhạc hội mà nhạc sĩ Trần Trịnh và Nhật Ngân ráp vô đặt những bài ca như Hờn anh giận em, Hai trái tim vàng, 100 phần 100, Đám cưới nhà binh…

                        “Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm
                        Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm
                        Người yêu anh ơi giờ đây lại cấm trại rồi
                        Nào đâu nào biết tâm tư người lính
                        Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau
                        với em tâm tình…

                        (Một trăm phần trăm)

            Cái tên Mai Lệ Huyền – Hùng Cường bắt đầu gắn liền với những ca khúc lính. Thời gian đó, tiếng hát Mai Lệ Huyền như tiếng chuông báo thức trên đài phát thanh mỗi sáng.


Mai Lệ Huyền biểu diễn ở night club Mỹ Biên Hòa

Người phụ nữ bình thường sau sân khấu
            Tự nhận mình là người phụ nữ rất bình thường như bao người phụ nữ khác. Ngoài những lần biểu diễn, những điệu nhảy sôi động trên sân khấu, thì cô không có thói quen đi khiêu vũ.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Hay là đi sòng bài, hát, diễn bao nhiêu nhưng vẫn không rờ đến một con bài, một ly rượu cũng không biết. Có thể nói là Mai Lệ Huyền là một người đàn bà rất simple và bình thường trong gia đình, một người vợ, một người mẹ”.

            Thời gian không thể dừng lại. Hào quang nào cũng phải trôi theo vòng quay đó. Như lời Mai Lệ Huyền nói rằng, tre già thì măng mọc. Cô cảm thấy vui và hài lòng với những gì mình đã tạo được và đã có, mà khán giả đã cho mình đến ngày nay. Không hối tiếc những gì đã qua, và khẳng định rằng, nếu có kiếp sau, cô vẫn mong mình lại là ca sĩ.

Ca sĩ Mai Lệ Huyền:Nhưng hẳn nhiên mình phải biết là không có gì tồn tại trên đời vĩnh cửu. Nếu mình bằng lòng với những gì mình có, số phận ông trời đã cho thì lúc nào mình cũng happy”.


CÁT LINH
Tháng 10/2015


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/sexy-singer-mai-le-huyen-10252015072200.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #132 vào: 17/07/2018, 23:51:58 »
Pháp: Điện Invalides, nơi yên nghỉ của hoàng đế Napoléon Đệ Nhất

Hoàng đế Pháp Napoléon I trút hơi thở cuối cùng ngày 05/05/1821 ở Longwood House, trên đảo Sainte-Hélène (ngoài khơi Đại Tây Dương, châu Phi) nơi ông bị lưu đày từ năm 1815. Dưới sự giám sát của người Anh, ngay hôm sau, thi hài hoàng đế Pháp được khám nghiệm và an táng bên một dòng sông, dưới bóng dương liễu, trong Thung lũng Géranium.

Mộ của hoàng đế Pháp Napoléon Đệ Nhất, điện Invalides, Paris

NAPOLÉON BONAPARTE yên nghỉ tại đó cho đến năm 1840 khi vua Louis-Philippe, với sự chấp thuận của nữ hoàng Anh Victoria, quyết định đưa di hài ông về Pháp trên con tầu Belle Poule do hoàng tử Joinville chỉ huy. Sau lễ an táng theo nghi thức quốc gia, di hài của hoàng đế Napoléon I được đặt tạm trong nhà nguyện Saint-Jérôme của điện Invalides ngày 15/12/1840 trong khi chờ xây xong mộ.
            Cho đến nay, hoàng đế Napoléon I vẫn được nhiều người quan tâm, như cảm nhận của một du khách Bỉ khi trả lời RFI tiếng Việt:

             “Trước hết đó là một nhà tổ chức tuyệt vời, một lãnh đạo quân sự lớn nhưng lại không đoán được thực tế về mùa đông nghiệt ngã tại Nga. Dân Pháp yêu quý ông. Thế nhưng, tôi nghĩ là nhiều dân tộc châu Âu khác vào thời kỳ đó không thích việc tất cả mọi người bị đăng lính để rồi bị đưa ra chiến trường dưới quân lệnh của Napoléon. Vào cuối đời ở Sainte-Hélène, tôi nghĩ là chính quyền Anh Quốc không “nâng niu” Napoléon cho lắm”.


Nhà Vòm điện Invalides, Paris

Nhà Vòm Invalides: Từ lăng danh nhân đến nơi an nghỉ của Napoléon I
            Được xây từ năm 1677 đến 1706 do Jules Hardouin Mansart chỉ đạo, Nhà Vòm Điện Quốc Gia Phế Binh (Le Dôme des Invalides), còn gọi là Nhà thờ Nhà Vòm (Eglise du Dôme), vẫn giữ những họa tiết nội thất được thực hiện vào thời kỳ đó để ca ngợi vinh quang của vua Louis XIV, nền quân chủ và quân đội.
            Dưới thời Napoléon I, Nhà Vòm trở thành lăng danh nhân quân sự, trong đó có di hài của Turenne (được đưa vào năm 1800) và mộ chứa trái tim của Vauban (26/05/1808). Ngoài ra còn có mộ phần của Aiglon, con trai của hoàng đế Pháp, hai người anh em Joseph và Jérôme Bonaparte, các tướng Bertrand và Duroc, sau này có thêm mộ của các thống chế lừng danh nửa đầu thế kỷ XX là Foch và Lyautey.
            Theo yêu cầu của vua Louis-Philippe, kiến trúc sư Louis Visconti (1791-1853) bắt đầu công trình trùng tu Nhà Vòm Điện Quốc Gia Phế Binh từ năm 1842 với nhiều thay đổi quan trọng như xây một hố lớn ở giữa vào năm 1847, ngay dưới mái vòm, để đặt quan tài hoàng đế Napoléon I. Đến ngày 02/04/1861, di hài của hoàng đế Pháp được an nghỉ vĩnh hằng tại đây, dưới sự chứng kiến của Napoléon III, cháu của Napoléon I.
            Lối xuống hầm mộ Napoléon được đặt gần dưới chân điện thờ cao trên có cây thánh giá lớn ở phía cuối Nhà Vòm. Phía trên hai cánh cửa bằng đồng sừng sững và oai nghiêm là những lời trăn trối bất hủ của Napoléon, được khắc trên đá cẩm thạch đen: “Tôi muốn tro của mình được đặt bên bờ sông Seine, giữa lòng dân tộc Pháp mà tôi vô cùng yêu mến”. Mỗi bên cửa là một bức tượng kiểu Ba Tư bằng đồng do Francisque Duret chạm khắc, một bên cầm quả địa cầu đại diện cho “Sức mạnh quân sự” (la Force militaire), bên kia cầm cây vương trượng đại diện cho “Sức mạnh dân sự” (la Force civile).
            Quan tài của hoàng đế Pháp được đặt chính giữa hầm mộ hình tròn, thẳng đứng với mái vòm. Trên tường của hành lanh chạy xung quanh quan tài là mười bức tranh khắc nổi được thực hiện dưới bàn tay tài hoa và sự chỉ đạo của Pierre-Charles Simart, thuật lại những chiến tích của hoàng đế Pháp, người luôn đứng ở vị trí trung tâm: Bình định các cuộc bạo loạn, Thỏa ước, Hành chính, Tham chính viện, Luật lệ, Đại học, Thẩm kế viện, Thương mại và công nghiệp, Công chính và Bắc đẩu bội tinh.
            Dài 4 mét, rộng 2 mét và cao 4,50 mét, quan tài của hoàng đế được làm từ bốn khối đá sa thạch đỏ (quaczit), đặt trên bệ làm từ đá granit xanh ngọc vùng Vosges. Trên nền đá cẩm thạch nhiều mầu là hình vòng nguyệt quế bao quanh quan tài với những hàng chữ ghi lại tám chiến thắng vẻ vang nhất gắn liền với tên tuổi của Napoléon I: Rivoli, Pyramides, Marengo, Austerlitz, Iéna, Friedland, Wagram, Moskova. Xung quanh mộ là tượng 12 nữ thần “Chiến Thắng”, biểu tượng cho những trận chiến của Napoléon, do Pradier tạc trên cột trụ của hành lang.
            Ở cuối hầm mộ, là bức tượng hoàng đế Napoléon II, trong trang phục hoàng gia. Bức tượng là một tác phẩm điêu khắc tuyệt vời của Simart, được làm từ đá cẩm thạch trắng và cao 2,66 mét. Bên tay phải, hoàng đế Pháp cầm vương trượng với một con đại bàng đậu ở phía trên và bên tay trái là quả địa cầu với vương miện được đặt ở trên, như muốn thâu tóm thế giới bằng sức mạnh và quyền lực.


Bên trong Nhà Vòm điện Invalides, Paris

Đúng di hài hoàng đế Napoléon I nằm trong quan tài?
            Trong mộ của hoàng đế Napoléon I có gì không? Và nếu có, liệu có phải là di hài thật của hoàng đế Pháp? Những thắc mắc này được đưa ra từ lâu, thậm chí có ý kiến đòi khai quật mộ của hoàng đế Napoléon để kiểm chứng.
            Thực vậy, khi đón phái đoàn Pháp đến đảo Sainte-Hélène vào năm 1840 để đưa di hài hoàng đế Napoléon I về nước, chính quyền Anh đã đưa ra những quân lệnh kỳ lạ: Tự tay người Anh khai quật mộ, trong đêm tối, dưới những ngọn đuốc le lói; Số người tham dự bị hạn chế, phải đứng cách quan tài 6 bước và chỉ có hai phút để quan sát thi thể. Ngay năm 1840, nhiều người có mặt trong buổi khai quật mộ hoàng đế Napoléon I đã thấy một số khác biệt với những gì họ đã chứng kiến trong lễ an táng năm 1821.
            Tham gia thảo luận quanh câu hỏi: Phải chăng mộ của Napoléon trống rỗng? Trong chương trình “Au coeur de l’histoire” (tạm dịch: Giữa dòng lịch sử, ngày 17/01/2012), nhà sử học Bruno Roy-Henry, tác giả cuốn Napoléon, l’énigme de l’exhumé de 1840 (tạm dịch: Napoléon, bí ẩn của người bị khai quật năm 1840, NXB L’Archipel), nhận xét:

            “Đúng vậy, người ta đã nhận ra khoảng 30 điểm bất thường, chủ yếu là vẻ bề ngoài của di cốt và trang phục vì có một vài chi tiết khác nhau về số lượng huân huy chương, vào năm 1840, họ thấy thiếu một chiếc. Hay bình đựng nội tạng của hoàng đế Napoléon không nằm cùng vị trí trong quan tài.
            Ngoài ra, còn có điều gì đó bí hiểm với bình đựng trái tim của hoàng đế mà phái đoàn Pháp có mặt lúc đó phải mang về. Đúng ra phải kiểm tra trái tim nằm trong một trong những chiếc bình để trong quan tài nhưng họ lại không động đến và để nguyên. Về những chi tiết khác, phải kể đến đôi hài bị há mõm với những ngón chân lòi ra ngoài, chứ không phải nằm trong đôi tất bằng lụa lúc hoàng đế được khâm liệm…
            Tóm lại, một số nhân chứng khác cũng có cùng nhận định, gần như đa số những người có mặt đều nhận thấy có nhiều điểm khác biệt lớn so với năm 1821. Chính vì thế mà nảy sinh hàng loạt thắc mắc
”.


Bên trong Nhà Vòm điện Invalides, Paris

            Georges Rétif de la Bretonne là người đầu tiên nêu lên những điểm khác biệt lớn này nhân kỷ niệm 200 năm ngày sinh của hoàng đế Napoléon vào năm 1969 trong cuốn sách rất nổi tiếng Anglais rendez-nous Napoléon… Napoléon n’est pas aux Invalides (tạm dịch: Người Anh, trả lại Napoléon cho chúng tôi… Napoléon không nằm trong điện Invalides).
            Trong cuốn sách, nhà văn, nhà báo kiêm nhà sử học giải thích những điểm khác biệt đó dựa trên những yếu tố có thật và rõ ràng. Ông còn đi xa hơn khi đưa ra giả thuyết xác của hoàng đế Napoléon đã bị đánh tráo và thay vào đó là thi thể của Cipriani, chủ nhà nơi Napoléon sống trên đảo Sainte-Hélène, vì mộ của Cipriani, chết tại Sainte-Hélène vào tháng 02/1818, đã biến mất và vẫn chưa được tìm thấy.
            Những bí mật, những khúc mắc sẽ còn ngủ yên trong lớp quan tài vững chắc dưới lớp bụi trắng mà du khách người Bỉ cho là sẽ tác động đến hình ảnh của điện Invalides và ngành du lịch Pháp.


THU HẰNG
Tháng 8/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170825-phap-dien-invalides-noi-yen-nghi-cua-hoang-de-napoleon-de-nhat

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #133 vào: 24/07/2018, 23:44:02 »
1960, một năm ba tạp chí văn học ra đời

Năm 1960 có tới ba tạp chí văn học nghệ thuật cùng xuất bản ở Sài Gòn, trong đó hai tờ mới ra lần đầu là Hiện Đại và Thế Kỷ Hai Mươi, còn tờ Sáng Tạo tục bản ra bộ mới số 1, sau khoảng chín tháng ngưng bặt không thông báo sau khi bộ cũ ra được liên tục 31 số.

Bìa tạp chí Sáng Tạo của Mai Thảo
và Thế Kỷ Hai Mươi của Trần Hồng Châu. (Hình: Nguyễn Khắc Hoạch)

TRONG MỘT NĂM 1960 có tới ba tạp chí xuất hiện, ba người chủ trương đều có tên tuổi: Hiện Đại của Nguyên Sa, Thế Kỷ Hai Mươi của Trần Hồng Châu tức Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch – khoa trưởng Văn Khoa Sài Gòn, và Sáng Tạo của Mai Thảo.
            Năm ấy hẳn có những điều đáng tìm hiểu. Hay ít nhất thử đặt ba tờ tạp chí ấy bên nhau, hay ít nhất so sánh ba tờ ấy ở địa hạt này hay ở phương diện nọ, người tò mò có thể tìm ra những điều đáng suy ngẫm.
                Tháng Tư, 1960: Hiện Đại ra mắt số 1.
                Tháng Bảy, 1960: Thế Kỷ Hai Mươi ra mắt số 1.
                Tháng Bảy, 1960: Sáng Tạo bộ mới ra mắt số 1.
            Ba tờ tạp chí xuất hiện cách nhau chỉ có ba tháng từ Tháng Tư đến Tháng Bảy trong cùng một năm! Nếu ta kể thêm tạp chí văn học thứ tư là tờ Văn Nghệ, ra mắt số 1 vào Tháng Hai, 1961, cách mấy tờ trên khoảng bảy tháng, ta có thể nói không sai: “Trong vòng bảy tám tháng, bốn tờ tạp chí văn học nghệ thuật tên tuổi của miền Nam Việt Nam đều cũng hiện diện”. Người chủ trương tờ tạp chí thư tư là nhà văn Lý Hoàng Phong. Sự việc trên như thế nào?
            Chúng ta bắt đầu tìm hiểu. Về năm 1960 và về Sài Gòn tôi đã viết:
            “1960 – Sài Gòn, thủ đô văn hóa miền Nam… nơi đó có đến ba bốn viện đại học lớn, những trường quốc gia âm nhạc và kịch nghệ, nơi đặt trụ sở các trung tâm văn hóa Đông Tây (Hoa Kỳ, Pháp, Đức…), nơi hằng tuần có những cuộc diễn thuyết và triển lãm nghệ thuật, nơi hằng ngày có trên 10 tờ nhật báo xuất bản.
            “Sài Gòn chính xác hơn là nơi đã xuất hiện những trào lưu học thuật chính dòng, nối nguồn từ di sản văn hóa dân tộc, tồn tại lâu dài, và xuất hiện hay du nhập những trường phái văn nghệ ảnh hưởng trong cả nước mãi mãi. Sài Gòn là thủ đô văn hóa Việt Nam nửa sau thế kỷ hai mươi, điểm cao nhất của văn chương báo chí là năm 1960, chính năm này có tới năm bảy tờ báo cùng xuất bản hay tục bản liên tiếp…”
            Về người chủ trương Hiện Đại và bộ biên tập: “Nguyên Sa có mặt trên Sáng Tạo bộ cũ từ cuối thập niên 1950 nhưng mãi đến 1960 mới đứng ra chủ trương tờ Hiện Đại, hai số đầu của Hiện Đại giống như Sáng Tạo bộ cũ, kể cả tên tuổi tác giả in ngoài bìa: dẫn đầu là Mai Thảo, Mặc Đỗ, Thanh Tâm Tuyền, chỉ khác ở chỗ có thêm nhóm các giáo sư Nguyễn Duy Diễn, Lữ Hồ, Lê Xuân Khoa, Lý Quốc Sỉnh, Thuần Phong, Lưu Trung Khảo… và phần trị sự có ít ra là hai người: Thanh Nam, Thái Thủy”.
            Người chủ trương Hiện Đại là một nhà giáo, một nhà thơ, người chủ trương Thế Kỷ Hai Mươi cũng thế, Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch khi làm thơ ký là Trần Hồng Châu.
            Tờ Thế Kỷ Hai Mươi xuất hiện từ Tháng Bảy, nổi bật về mặt vật chất: báo in khổ lớn, lại là tờ báo văn học có trả lương hằng tháng cho một họa sĩ kiêm thư ký tòa soạn. Báo này trả 500 đồng nhuận bút cho một bài thơ, 2.000 hoặc 3.000 cho một truyện ngắn. Thế Kỷ Hai Mươi tràn trề minh họa của Ngọc Dũng, văn và thơ đều có tranh vẽ kèm theo.
            Về mặt biên khảo, tờ báo quy tụ những tên tuổi trong giới khoa bảng, người ta thấy ngay trong số 1 có bài “Vụ Án Kiều” của Thanh Lãng, “Tìm Hiểu Tác Phẩm Văn Nghệ” của Nguyễn Văn Trung, “Đối Tượng của Văn Học Sử” của Nguyễn Sỹ Tế.
            Tới số 3 có bài “Sáng Tạo Văn Nghệ” của Giáo Sư Nguyễn Đăng Thục, thêm “Văn Nghệ Hiện Sinh” của Nguyễn Văn Trung. Phần sáng tác có đủ các tác giả của Sáng Tạo bộ cũ như Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Kiêm Minh, Trần Lê Nguyễn, Duy Thanh, và thêm Kiêm Minh, Phạm Duy…


Bìa tạp chí Hiện Đại. (Hình: Viên Linh cung cấp)

            Sáng Tạo số 1 bộ mới chấm dứt thời kỳ dung hòa của 31 số bộ cũ. Hai ba cuộc thảo luận bàn tròn của Sáng Tạo 1960 gây sôi nổi dư luận bởi những phát biểu gay gắt của Thanh Tâm Tuyền chẳng hạn.
            Cuộc thảo luận thứ nhất chủ đề là “Nhân Vật Trong Tiểu Thuyết”, các nhà văn tham dự hoàn toàn là các tác giả nòng cốt của Sáng tạo: Doãn Quốc Sỹ, Duy Thanh, Mai Thảo, Nguyễn Sỹ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Thái Tuấn. Tới số hai nhóm Sáng Tạo tổ chức nói chuyện về chủ đề “Nói Chuyện về Thơ Bây Giờ” với sự tham dự của bộ biên tập, chỉ thêm nhà biên khảo Lê Huy Oanh.
            Tới số ba cuộc thảo luận bàn tròn có chủ đề “Ngôn Ngữ Mới Trong Hội Họa”, nhưng tới cuộc thảo luận bàn tròn thứ tư chủ đề “Nhìn Lại Văn Nghệ Tiền Chiến ở Việt Nam” mới thực sự gây sôi nổi dư luận. Có những câu tuyên bố nảy lửa, dù muốn dù không đã gây xúc phạm tới một vài nhà văn nhà thơ trước 1945 lúc ấy đang còn hiện diện ở miền Nam, chẳng hạn Nhất Linh, Đỗ Đức Thu. Dưới đây là vài trích dẫn của người viết bài này:
            – Thanh Tâm Tuyền: “Nói ngay lập tức: Nghệ thuật tiền chiến ở Việt Nam là nghệ thuật thành hình bằng sự tiếp nhận ảnh hưởng Tây phương và chấm dứt ở biến cố lịch sử 1945… Riêng với tôi, tôi nói không ngượng ngập: số lớn những tác phẩm ấy tôi đều đọc hồi còn học tiểu học… Xét theo quan điểm người làm nghệ thuật hôm nay, nghệ thuật tiền chiến chỉ có giá trị của một thời kỳ tập sự làm quen với kỹ thuật mới du nhập từ Tây phương. Trong địa hạt văn chương thì là sự trau dồi từ ngữ và cú pháp mới. Nghĩa là hoàn toàn ngôn ngữ. Còn tất cả những gì thật là nghệ thuật thì đều ấu trĩ.”
            – Mai Thảo (chủ nhiệm Sáng Tạo): “Cái thiếu căn bản của nghệ thuật tiền chiến theo tôi, là nó không có được những công trình nghệ thuật đáng kể, những tác phẩm lớn. Lấy Tự Lực Văn Đoàn làm thí dụ: Ta có thể nhận rằng họ đã thực hiện được những tiến bộ ở phạm vi báo chí (Phong Hóa, Ngày Nay…) và chỉ ở phạm vi này mà thôi.”
            Sau bốn cuộc Thảo Luận Bàn Tròn, Sáng Tạo chỉ còn xuất bản thêm ba số nữa, tới số 7 là đóng cửa hẳn. Số 1 ra vào Tháng Bảy, 1960, nhưng số 7 chỉ xuất hiện vào Tháng Chín, 1961, nghĩa là phải hai tháng mới có một số. Nhưng tờ tạp chí đã thực hiện được những gì nhóm Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Duy Thanh, Thái Tuấn… muốn thực hiện: chuyển hướng văn học nghệ thuật từ tiền chiến qua hậu chiến, hướng về cuộc tân tạo nghệ thuật Việt Nam.
            Năm 1960 kết thúc được hai tháng thì tạp chí văn học nghệ thuật thứ tư xuất hiện, đó là tờ Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong. Tờ báo này sống tới năm 1963 với gần 30 số báo, quy tụ hầu hết những tác giả trẻ từng xuất hiện trên ba tờ Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi và Sáng Tạo. Đó là chuyện khác sẽ có dịp được nói đến.
            Để tìm một kết luận cho năm 1960 và ba tờ tạp chí nói ở trên, thật là khó, bởi kết luận, hay nhận định về sự phồn thịnh của sinh hoạt văn nghệ miền Nam, đặc biệt trong năm 1960, cần sự thảo luận của nhiều người và nhiều ngành khác nhau, mặc dù người viết bài này có bài vở đăng cả trên ba tạp chí đó, nội trong năm ấy.


VIÊN LINH
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/1960-mot-nam-ba-tap-chi-van-hoc-ra-doi/

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #134 vào: 31/07/2018, 23:40:06 »
Đi thăm nhà văn John Steinbeck

Trên đường lái xe trở về Little Saigon từ San Jose trong một ngày đẹp trời tháng 7/2016, thay vì đi đường số 5 như thường lệ, tôi và người bạn, anh Lê Chớ, theo đường 101 là con đường dọc theo bờ biển. Chỉ khoảng một giờ lái xe từ San Jose, quẹo vào exit 329 là đến thành phố Salinas. Đó là quê hương của một trong những nhà văn hàng đầu của Hoa Kỳ, John Steinbeck và cũng là nơi tọa lạc của viện bảo tàng John Steinbeck, The John Steinbeck Center.

Nhà văn John Steinbeck


THẾ MÀ cũng có ngày tôi đến thăm John Steinbeck!
            Với tôi, cư dân bờ biển phía Đông Hoa Kỳ, có dịp đặt chân đến đây là một kỷ niệm đáng nhớ. Salinas là một thành phố nhỏ, yên tĩnh, sạch sẽ.
            Đường thưa thớt người. Viện bảo tàng khá rộng rãi và khang trang, là nơi chứa đựng tất cả những gì liên hệ đến John Steinbeck, một con người và một nhà văn, một nhà văn tầm cỡ. Đồng thời đó cũng là nơi tái hiện rất sinh động lại cả một vùng đất, nơi nhà văn sống và sáng tác. Hư cấu lẫn trong hiện thực.
            Phần chính của bảo tàng bắt đầu với những năm đầu đời của nhà văn đi xuyên qua nhiều tác phẩm chính của ông. Sau đó là nhiều phần khác nhau, mỗi một phần tập trung chung quanh một tác phẩm đặc biệt của tác giả hay một phần đời sống của tác giả được mang vào trong truyện. Nhiều màn truyền hình lớn liên tục chiếu lại những phim tài liệu hay những đoạn phim được đóng, phỏng theo các tác phẩm của ông. Có chỗ trưng bày tác phẩm được dịch sang một số ngôn ngữ khác.
            Đó đây là thủ bút của nhà văn qua các thư từ, bản thảo. Nhiều vật dụng, áo quần mà người dân dùng trong thời gian đó như mũ, nịt, áo khoác, hộp thư, hàng rào gỗ, xe… cũng như nhiều tranh phong cảnh thuộc khu vực Salinas được trưng bày xen lẫn với tranh ảnh của những người thân trong gia đình và cả những cuốn sách mà nhà văn có trong tủ sách thời niên thiếu. Cũng có hình chụp lại những trang nhật báo viết về Steinbeck từ những năm thập niên 1930, 1940.
            Có rất nhiều hình ảnh và khá nhiều trích dẫn từ trong các tác phẩm, những trích dẫn nêu lên những nét chính trong các tác phẩm cũng như các chủ đề chính. Chẳng hạn như tập bút ký “Travels with Charley” (Du hành với chú chó Charley), ghi lại chuyến đi vòng quanh nước Mỹ 10 ngàn dặm với bạn đồng hành là chú chó Charley, tôi đọc thấy mấy trích dẫn với nét chữ khá lớn: “A journey is a person in itself; no two are alike”, hay “We find after years of struggle that we do not take a trip; a trip takes us”.
            Sau khi tham quan hết viện bảo tàng, chúng tôi đi bộ đến “The Steinbeck House” để ăn trưa. Đây chính là ngôi nhà của gia đình Steinbeck, nơi nhà văn sống thời nhỏ từ năm 1900, chỉ cách Viện Bảo Tàng chừng vài phút đi bộ. Vào năm 1973, ngôi nhà được tổ chức The Valley Guild mua lại và chuyển thành một tiệm ăn. Tất cả hiện vật trong căn nhà được giữ hầu như nguyên vẹn. Ăn xong, khách được các hướng dân viên dẫn đi từng phòng giới thiệu các kỷ vật cũng như những sinh hoạt của nhà văn và gia đình lúc sinh thời. Khách gần như được sống lại cuộc sống điển hình của một gia đình điển hình Hoa Kỳ vào những thập niên đầu của thế kỷ 20.



            John Steinbeck (1902-1968), giải Nobel văn chương năm 1962, là một trong những nhà văn hàng đầu của văn học Hoa Kỳ. Ông được xem như là nhà văn tạo nên một thời kỳ tiểu thuyết đặc trưng thập niên 1930-1940, phản ảnh một thời kỳ suy thoái trầm trọng của xã hội Hoa Kỳ, hậu quả của chế độ tư bản đang trong thời kỳ phát triển. Ông là tác giả của 27 tác phẩm gồm có 16 truyện dài, 6 cuốn biên khảo, ký sự và 5 tập truyện ngắn. Hầu hết tác phẩm của ông đều lấy khung cảnh của vùng nam và trung tiểu bang California, đặc biệt là thung lũng Salinas và vùng bờ biển. Hầu hết tác phẩm của ông thăm dò chủ đề về số phận và sự bất công.
            Các tác phẩm không chỉ phản ánh được những vấn đề nóng bỏng của hiện thực Hoa Kỳ khoảng thời gian 1930-1940 mà còn chuyển tải được những vấn đề có tính vĩnh cửu của con người. Nổi bật nhất là “The Grapes of Wrath” và “Of Mice and Men”. Cả hai tác phẩm này đã được dịch ra tiếng Việt trước năm 1975, một là “Chùm nho uất hận” do Võ Lang dịch, và hai là “Của chuột và người” do Hoàng Ngọc Khôi và Nguyễn Phúc Bửu Tập dịch.
            Sau 1975, hai cuốn đã được tái bản trong nước. Riêng The Grapes of Wrath có một bản dịch khác với tựa đề hơi khác, “Chùm nho phẫn nộ”, do Phạm Thủy Ba dịch. Có thể nói “Chùm nho uất hận” là tác phẩm lớn nhất trong sự nghiệp dài hơi của Steinbeck. Với một loại văn bình dị, hiện thực, tác phẩm dày cả 600 trang này đã dựng lại một giai đoạn đen tối nhất của xã hội Hoa Kỳ, thể hiện rõ nét cuộc đấu tranh giành giựt quyền sống quyết liệt và đầy cay đắng giữa những người lao động làm thuê và giới chủ nhân bóc lột. The Grapes of Wrath được đóng thành phim năm 1940 do John Ford đạo diễn, các diễn viên Henry Fonda, Jane Darwell, John Carradine. Phim giành hai giải Oscar, là một trong 100 phim hay nhất của điện ảnh Mỹ. Cũng cần ghi nhận, dù được xem là một nhà văn tả khuynh, ông và cả con trai của ông (cũng là một nhà văn) đã từng sang phục vụ tại Việt Nam và bản thân ông đã từng lên tiếng ủng hộ cuộc chiến.
            Vào năm 2002, kỷ niệm 100 năm ngày sinh của John Steinbeck và 40 năm ngày ông đoạt giải Nobel văn chương, đã có hơn 200 chương trình khác nhau dành cho Steinbeck, diễn ra trong tất cả 38 tiểu bang, rầm rộ nhất là tại California, tiểu bang nhà của ông. Nhân dịp này, sáu tác phẩm quan trọng nhất của nhà văn đã được tái bản, trong đó có hai tác phẩm nổi tiếng là “Of Mice and Men” và “The Grapes of Wrath”. Theo ước tính của các nhà xuất bản và các tạp chí văn học thì trong mấy chục năm qua, các tác phẩm của Steinbeck được bán ra khoảng hai triệu ấn bản/năm. Ðiều đó cho thấy ảnh hưởng của nhà văn không hề suy giảm trong công chúng thưởng ngoạn Hoa Kỳ mặc dù ông đã mất cách đây mấy chục năm rồi.
            Ấy thế mà, trong giới nghiên cứu văn chương đại học, Steinbeck mới được phục hồi chỉ mới vài năm gần đây. Nhưng điều đáng ghi nhận là, ông được lưu tâm không phải vì giá trị văn chương của các tác phẩm, mà là vì các giá trị lịch sử và xã hội của chúng. Theo Alan Trachtenberg, nguyên giáo sư đại học Yale, thì sở dĩ Steinbeck được lưu ý trở lại vì “một nhóm học giả trẻ đang cố gắng phục hồi sự khảo sát về xu hướng cấp tiến trong những năm thuộc thập niên 1930” và vì “có một quan tâm mới về mối liên hệ giữa xu hướng chính trị cấp tiến và một số tác phẩm hư cấu”. Có nhiều bằng chứng cho thấy các tác phẩm của ông chứa đựng nhiều thông tin về giai đoạn “Ðại Suy Thoái” (Great Depression) và cơn hạn hán và bão cát kéo dài cả chục năm ở các vùng đồng bằng rộng lớn ở các bang miền Nam Hoa Kỳ thường được gọi là “Dust Bowl” khiến cho kinh tế Mỹ đã tuột dốc lại càng bi đát thêm. Tác phẩm quan trọng nhất của Steinbeck là “The Grapes of Wrath” hiện đang được nghiên cứu như là cách suy nghĩ về văn hóa Hoa Kỳ trong giai đoạn đặc biệt này.
            So với những viện bảo tàng khác mà tôi có dịp đến, The John Steinbeck Center khiêm tốn và đơn giản, tuy nhiên đã để lại trong tôi những ấn tượng mạnh và sâu sắc. Nó cho thấy người Hoa Kỳ rất quý trọng và bảo tồn những giá trị nhân bản mà nhà văn để lại cho cuộc đời qua các tác phẩm của mình.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 01/2017


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/di-tham-nha-van-john-steinbeck/