Tác giả Chủ đề: Thấy trên mạng 5  (Đã xem 14140 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Dongnat

« Sửa lần cuối: 23/07/2014, 11:08:06 gửi bởi Dongnat »
 
e-mail: dongnat09@yahoo.com.vn

Ngủ rồi thuyloidolong

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #16 vào: 23/07/2014, 10:57:57 »
Phí thế còn gì là: "SG đẹp lắm SG ơi" nữa
 
Thơ đã hóa tâm hồn
Sách đã thành tri kỷ

Ngủ rồi tunglavie

 

Ngủ rồi huhu

« Sửa lần cuối: 27/07/2014, 15:50:19 gửi bởi huhu »
 

Ngủ rồi choiwonback

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #19 vào: 31/07/2014, 15:54:22 »
Mai Thảo, bên này Bến Hải
Wednesday, July 30, 2014 3:33:47 PM


Viên Linh

Suốt một Tháng Bảy, mục Văn Học Nghệ Thuật đã đăng 5 bài về Ngày 20, về cầu Hiền Lương, về sự chia cắt đất nước và một cố đô đã mất: Hà Nội. Nhắc đến Hà Nội trong lòng người Việt là nhắc đến một khoảng đất đai không rộng lớn bao nhiêu, song trên khoảng đất đó, dưới mỗi bước chân ta đi, là ta đang đặt gót trên hàng ngàn năm lịch sử chồng chất trong lòng đất phía dưới. Có hàng trăm nhà văn đã viết về lòng đất ấy, không sao kể xiết - chỉ nhắc đến các cây bút nửa thế kỷ qua mà thôi - bàn viết này còn những cuốn sách kia, những nhà văn nọ, mỗi người yêu Hà Nội một cách:

 

Nhà văn Mai Thảo trên sân khấu trong đêm ra mắt tập thơ Thủy Mộ Quan của Viên Linh năm 1983 tại Quận Cam.

-Chu Thiên: Hùng Khí Thăng Long (chuyện cũ kinh thành), viết về Hà Nội “dựa theo những truyền thuyết, thần tích bút ký của người ngoại quốc” như thấy trong bài tựa , tr.8, NXB Văn Hóa Thông Tin, 2000, Hà Nội.

-Thạch Lam: Hà Nội Băm Sáu Phố Phường, bút ký, NXB Ðời Nay, 1943, Hà Nội.

-Triều Ðẩu: Trên Vỉa Hè Hà Nội, NXB Thế Kỷ, 1952, Hà Nội.

-Triều Ðẩu: Lá Thư Hà Nội, NXB Tân Quảng Lợi, 1953, Hà Nội.

-Vũ Bằng: Hà Nội Trong Cơn Lốc, NXB báo Mới, 1954, Sài Gòn.

-Vũ Bằng: Miếng Ngon Hà Nội, NXB Ðất Nước, 1957, Sài Gòn.

-Mai Thảo: Ðêm Giã Từ Hà Nội, 1956, Sài Gòn.

-Trần Quốc Vượng, Nguyễn Từ Chi: Nghìn Năm Văn Hiến, NXB Hà Nội, 2000, Hà Nội.

-Tô Hoài, Chuyện Cũ Hà Nội, 1986, 2003 tái bản, Hà Nội.

-Nguyễn Trương Quý: Tự Nhiên như Người Hà Nội, NXB Trẻ, 2004, Sài Gòn.

-Ngọc Giáo: Hà Nội Cũ Nằm Ðây, NXB Phụ Nữ, 2009, Hà Nội.

Trong các nhà văn ấy, Mai Thảo rất đằm thắm với Hà Nội, năm 1954 đã nhìn Hà Nội lần cuối cùng và viết: “Phượng nhìn xuống vực thẳm, Hà Nội ở dưới ấy.” (Ðêm Giã Từ Hà Nội). Thanh Tâm Tuyền viết về câu văn này của bạn như sau:

“Hai câu, mười tiếng của Mai Thảo bao giờ cũng khiến anh sững sờ bất giác. Có lúc điếng lặng, hun hút - như lúc này. Và lạnh khiếp. Tất nhiên buổi đầu, năm vừa rời bỏ thành phố kia - âm thầm biết mình xa lìa vĩnh viễn, anh nghe khác, Mai Thảo nghe khác? Mười tiếng lẫn với bao nhiêu tiếng trong một toàn thể, nhộn nhịp huyên náo một thời. Một thời đau đớn và hào hứng...” Thôi trở về một chút với Hà Nội. Vẫn từ hai câu, mười tiếng của Mai Thảo. Chúng được đặt riêng biệt trước/trên/ngoài một câu chuyện. Với Mai Thảo, đột ngột đêm trùm kín thành phố thân yêu của chàng. Chàng nhìn ngất, bỏ đi. Ném trở lại hai câu. Lạnh nhạt, dứt khoát. Chẳng còn gì cần nói nữa sau hai câu gọn gàng, khô khan. Thôi trở về một chút với Hà Nội. Trở về theo lối nào? ‘Hà Nội ở dưới ấy.’ Cách nào? Lối xưa đã bít. Chẳng bao giờ còn tới được chăng?... Phải, ‘Hà Nội ở dưới ấy, [...] từ buổi xa xưa, từ buổi Hà Nội được gọi là Hà Nội. Nói khác, Hà Nội chỉ là vang bóng của Thăng Long - chính nó - đích thực còn là gì đâu từ “thuở trời đất nổi cơn gió bụi. Thăng Long đã là phế tích, miền đất chết không không hồi phục hưng mấy trăm năm qua. Và Hà Nội là hồn ma được thờ phượng trong ngôi đền trí tưởng côi cút tuyệt vọng.” (Thanh Tâm Tuyền, Thời Tập, 1973).

Mai Thảo mất đã hơn 15 năm nay, và từ đó không thấy bao nhiêu người viết về ông như một người bạn, như Thanh Tâm Tuyền đã viết. Năm 1960-61 người viết bài này đã cùng Mai Thảo làm chung một tờ báo, tuần báo Kịch Ảnh chuyên về nghệ thuật trình diễn, cả tờ báo chỉ có 5 người làm: vợ chồng Chủ Nhiệm Quốc Phong Nguyễn Văn Hanh, bạn học với Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quý ở Nam Ðịnh khoảng cuối thập niên '40, Mai Thảo, Viên Linh và họa sĩ Ðằng Giao, sau chỉ còn bốn người vì tờ báo không cần họa sĩ nữa. Năm 1966, Mai Thảo làm chủ nhiệm chủ bút tuần báo Nghệ Thuật, tôi làm thư ký tòa soạn. Tòa báo đặt trong nhà in Thư Lâm 233 đường Phạm Ngũ Lão Sài Gòn, lúc đầu có 6 người: Mai Thảo, Anh Ngọc, Vũ Khắc Khoan, Thanh Nam, Viên Linh và Ðằng Giao - nhưng cho tới số 18, chỉ còn hai người ăn lương tháng. Trước khi làm một số báo mới, chúng tôi đều đưa ra ý kiến “số này làm gì nào,” tức là chủ đề chính là gì, và sau đó, cùng viết về chủ đề đó, và mời bằng hữu viết cho về chủ đề đó. Ðoạn sau đây do Mai Thảo viết về một tuần làm việc mới, tuần lễ 20 Tháng Bảy, 1966, viết qua hình thức nhật ký:

“Thứ Tư, 20-7

Viên Linh: Tuần này phải viết một cái gì về ngày 20 tháng 7 chứ! Chúng ta vẫn nhớ. Chúng ta không quên. Chúng ta nào có ở ngoài. Chúng ta ngập chìm tới cổ. Trong cái lưới dày đặc của thời thế và hiện tình đất nước chúng ta. Buổi chiều tôi gặp họ Vũ [Khắc Khoan]. Nói với anh tôi muốn viết được, dù chỉ được một vài dòng, về lần thứ 12 của ngày hai mươi Tháng Bảy. Một kỷ niệm? Nhưng kỷ niệm dùng làm gì? Về Hà Nội? Mười hai năm, Hà Nội đã mù sương. 

Lần thứ nhất ra Huế với Quốc Phong, cách đây bốn năm, Vũ Quang Ninh chở tôi từ Huế tới chân cầu Bến Hải. Chiều giới tuyến mưa phùn. Cây cầu hai màu sơn, tượng trưng cho ngăn chia kệch cỡm. Hiền Lương lạnh tanh. Chúng tôi kéo cao cổ áo đi xuống cái xóm ven bờ tôi quên mất tên, ở đó có một trạm phát thanh nhỏ, hướng những chùm loa sang bờ đối nghịch. Người trạm trưởng trẻ tuổi kể tôi nghe về công tác tuyên truyền địch vận, đôi khi biến thành hài kịch vì sự đổi chiều đột ngột của hướng gió Bến Hải. Gió thổi ngược lại. Ta nghe ta nói. Như bên kia cũng vậy. Gió vĩ tuyến có những buổi chiều đùa cợt thẳng thừng với cái công tác tuyên truyền của cán bộ hai bờ như vậy.

Một năm gần Nguyên Ðán, Kim Cương, Trần Văn Trạch đã tới cái trạm phát thanh địa đầu heo hút này. Kim Cương hát sang cho bên kia nghe. Một bài hát ướt đẫm tình yêu. Lần độc nhất ra thăm Bến Hải hình ảnh dội đập mạnh mẽ nhất vào trí nhớ tôi không phải là lá cờ ta trong mưa phùn, lá cờ địch trong sương mù, mà là những thửa ruộng của vùng phi quân sự. Lúa được mùa. Dào dạt xanh ngắt. Như thế liền ba năm, theo lời một ông già đứng bên bờ đường nói chuyện với Vũ Quang Ninh. Lúa Bến Hải được mùa ba năm liền. Nhưng người không được mùa người. Ðã liền mười hai năm như thế." (Mai Thảo, Văn Nghệ và Cuộc Sống, tuần báo Nghệ Thuật số 41, 23.7.1966).

Ðó là cầu Bến Hải, là sông Hiền Lương dưới mắt người tham quan vừa là nhà văn, vừa là nhà báo, ghi nhận lại sau khi cùng ông trưởng đài Tiếng Nói Tự Do Vũ Quang Ninh ra thăm ranh giới của cuộc “ngăn chia kệch cỡm.” Khi tôi nhắc anh vài ngày trước đó, ta phải làm cái gì về ngày 20 Tháng Bảy chứ, không thể quên, không thể không làm gì, anh đã viết ra trong bài là chúng ta không bao giờ quên, “chúng ta ngập chìm tới cổ” về cái ngày quái đản đó, về cái hiệp định mà Việt Nam Cộng Hòa không có phái đoàn đại diện ngồi họp, và cũng không hề đặt bút ký. Ðiều Mai Thảo nhấn mạnh trong bài là sự lố bịch của chuyện tuyên truyền và niềm vui của anh trong bài ở ngoài những sự việc ấy: đó là niềm vui Bến Hải được mùa lúa trong ba năm liền.

Niềm vui ấy hình như mang một chút mê tín ở ngoài thời thế chính sự: niềm vui ấy đến từ cuộc sống tốt đẹp hơn của đời sống bình thường.
« Sửa lần cuối: 31/07/2014, 15:56:14 gửi bởi choiwonback »
 

Ngủ rồi choiwonback

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #20 vào: 04/08/2014, 17:28:42 »
Bài viết về ca sĩ Quỳnh Giao
www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/viewarticlesNVO.aspx?articleid=192377&zoneid=16#.U99gCOOSy-Q

Quỳnh Giao - Lòng ta ở với người
Monday, July 28, 2014 1:57:04 PM


* Tiểu sử chính thức của nghệ sĩ Quỳnh Giao


Quỳnh Giao sinh tại Vỹ Dạ của cố đô Huế vào ngày 8 Tháng Mười Một năm 1946 với khuê danh là Nguyễn Phước Công Tằng Tôn Nữ Ðoan Trang.

Nói theo lối cổ điển về thân thế, Quỳnh Giao thuộc “Hoàng phái” từ song thân là cụ Ưng Quả và danh ca Minh Trang.




Di ảnh nghệ sĩ Quỳnh Giao. (Hình: Gia đình cung cấp)


Thân phụ là Nguyễn Phước Ưng Quả, hiệu Vân Hán (1905-1951), cháu nội Tuy Lý Vương Miên Trinh, tự Khôn Chương, hiệu Tĩnh Phố, người con thứ 11 của vua Minh Mạng và em vua Thiệu Trị. Nhà Giáo Ưng Quả là học giả uyên bác được giới khảo cứu Việt học của Pháp kính trọng và là bậc thầy của một thế hệ giáo sư, sau này có nhiều khoa trưởng của các đại học thời độc lập. Học Giả Ưng Quả từng là Thái Tử Thiếu bảo khi dạy học Thái Tử Bảo Long, Hiệu trưởng trường Quốc Học tại Huế, giám đốc Nha Học Chánh Trung Phần thuộc Bộ Học của nước Việt Nam thời Pháp và tác giả của nhiều công trình biên khảo về văn hóa và mỹ thuật Việt Nam, từng phiên dịch văn chương Pháp qua Việt ngữ và văn học Việt Nam Pháp ngữ... Ngoài ra, cụ còn là người thẩm âm sành nhạc và gẩy đàn nguyệt khi tiêu khiển.

Cụ Ưng Quả mất vào năm 1951 tại Bộ Học sau một cơn trụy tim, thọ 46 tuổi, khi Quỳnh Giao mới lên năm.
Thân mẫu Quỳnh Giao, nghệ sỹ Minh Trang, có khuê danh là Nguyễn Thị Ngọc Trâm, là con gái của Thượng Thư Nguyễn Hy. Bà là cháu ngoại của Công Chúa Công Tằng Tôn Nữ Tốn Tùy, tức Mỹ Lương Công Chúa. Công Chúa Mỹ Lương được người đương thời tôn xưng là “Ngài Chúa Nhất” vì là chị cả của vua Thành Thái. Bà Ngọc Trâm sinh năm 1921, tốt nghiệp Tú Tài Pháp, làm biên tập viên và xướng ngôn viên song ngữ Pháp-Việt trong lãnh vực phát thanh từ thời Pháp. Bà lấy nghệ danh Minh Trang từ khi hát cho đài Pháp Á vào buổi bình minh của nền tân nhạc Việt Nam.

Nghệ danh ấy là sự kết hợp tên của con trai và con gái của bà là hai nghệ sỹ Bửu Minh và Ðoan Trang. Bửu Minh là danh thủ violon, ngồi ghế concert master của dàn nhạc hòa tấu Stuttgard Symphony ở Ðức. Danh ca Minh Trang đã tạ thế vào Tháng Tám năm 2010 tại California Hoa Kỳ.

Ở tại Huế đến khi lên bảy Quỳnh Giao mới vào Sài Gòn sống với thân mẫu và kế phụ là Dương Thiệu Tước, một nghệ sĩ đã góp phần khai phá nền tân nhạc cải cách, nhạc sư đàn Tây Ban Cầm và là cháu nội của danh sĩ, Thượng thư Dương Khuê.

Do huyết thống và lại sống trong môi trường âm nhạc, Quỳnh Giao có năng khiếu về nhạc từ bé.

Khi danh ca Minh Trang lập ban hát thiếu nhi đầu tiên là Thiếu Sinh Nhi Ðồng thì Ðoan Trang đã cùng anh trai tham dự, với tiếng hát thiếu nhi của Mai Hương, Bích Chiêu, Bạch Tuyết, Kim Chi, Quốc Thắng và Tuấn Ngọc.... Sau năm 1953, khi hai kịch sĩ Kiều Hạnh và Phạm Ðình Sĩ (song thân của Mai Hương) vào Nam thì Minh Trang nhường cặp nghệ sĩ này điều hành ban hát Nhi Ðồng và đổi tên ra Ban Tuổi Xanh cho thích hợp với lứa tuổi của ca sĩ thiếu nhi. Ðấy là lúc xuất hiện những tiếng hát như Hoàng Oanh, Mai Hân, Phương Hoài Tâm, Xuân Thu....

Vừa cắp sách vào lớp trung tiểu học, Quỳnh Giao vừa học nhạc tại trường Quốc Gia Âm Nhạc (trường có thêm Ban Kịch Nghệ sau này) và được sự dìu dắt về dương cầm của danh sư Ðỗ Thế Phiệt (dì Ngọc Thuyền trong gia đình) và về nhạc lý từ nhạc sĩ Hùng Lân. Với Hùng Lân, Quỳnh Giao là một trong những học trò giỏi nhất của ông. Sau bảy năm học nhạc, năm 1963, Quỳnh Giao tốt nghiệp thủ khoa về dương cầm lẫn nhạc pháp, và sau này còn được sự dìu dắt về thanh nhạc của một giáo sư Pháp, cứ được gọi là Madame Robin.

Là dương cầm thủ xuất sắc, Quỳnh Giao đã trình tấu cùng nhiều danh cầm Việt Nam và ngoại quốc trong Dàn Nhạc Giao Hưởng của trường Quốc Gia Âm Nhạc dưới sự điều khiển của Nhạc Trưởng Ðỗ Thế Phiệt và nhiều lần xuất hiện trong các chương trình hòa nhạc tại Ðông Nam Á.

Do Minh Trang bị hen suyễn phải giải nghệ, ở tuổi 15, Quỳnh Giao chính thức hát thay mẹ và một cách thường xuyên trong nhiều ban nhạc lớn tại các đài phát thanh. Từ đó, với nghệ danh Quỳnh Giao do nhạc sĩ Hoàng Trọng đặt cho, Quỳnh Giao vừa đi học vừa đi hát tại các đài phát thanh Sài Gòn, Quân Ðội, Tiếng Nói Tự Do và đài Vô Tuyến Truyền Hình Việt Nam sau này, trong các ban nhạc của Vũ Thành, Hoàng Trọng, Hoàng Lang, Phạm Duy, Anh Ngọc, v.v....

Trong hoàn cảnh thân mẫu về hưu, kế phụ làm công chức, là một nhạc sĩ tài hoa có nhiều đam mê, Quỳnh Giao thực tế hỗ trợ gia đình và được năm em bên dòng họ Dương vô cùng yêu quý. Từ năm 1968, Quỳnh Giao còn dạy dương cầm tại gia về nhạc cổ điển Tây phương và lập gia đình, được một con gái là Dzương Ngọc Bảo Cơ sau này tốt nghiệp cử nhân về Giáo Dục tại Hoa Kỳ.

Trong lãnh vực phát thanh có đào tạo chuyên nghiệp thời trước, các ca sĩ không được chọn ca khúc mà phải trình bày những bản nhạc có hòa âm sẵn theo yêu cầu tại chỗ của nhạc trưởng. Ngoài giọng ca, họ phải biết ký âm pháp, giỏi nhạc, một ngày ứng khẩu hát nhiều bài khác nhau trước máy vi âm được phát thanh trực tiếp. Quỳnh Giao là một trường hợp tiêu biểu cho các ca sĩ đài phát thanh.

Khi biến cố 1975 bùng nổ, Quỳnh Giao cùng gia đình di tản vào Tháng Tư và được anh ruột đón về miền Ðông Hoa Kỳ. Bào huynh của Quỳnh Giao là Giáo Sư Nguyễn Phước Bửu Dương khi ấy dạy văn chương Pháp và Trung Hoa trong đại học Hoa Kỳ. Ông là một trong những người Việt đầu tiên tốt nghiệp tiến sĩ tại Ðại Học Harvard và nay sống tại miền Nam California với gia đình Quỳnh Giao.

Tại miền Ðông, Quỳnh Giao mở lại lớp dương cầm tại gia và yểm trợ rồi đón nhận thân mẫu cũng các em vượt biên qua Mỹ.

Trong thời gian này, Quỳnh Giao thực hiện lấy hai băng cassette có chủ đề “Hát Cho Kỷ Niệm” vào các năm 1983 và 1988. Tự đệm lấy dương cầm với phần phụ họa của Văn Phụng và vài nhạc sĩ, Quỳnh Giao trình bày lại những ca khúc đẹp nhất của tân nhạc với lời giới thiệu của các nghệ sĩ Vũ Thành, Phạm Duy, Phạm Ðình Chương, Cung Tiến, Thái Thanh, Kim Tước, Châu Hà, Mai Thảo, Lê Văn, Duyên Anh, Bùi Bảo Trúc, Phạm Văn Kỳ Thanh, v.v... Qua năm 1986, Quỳnh Giao cũng được nhà văn Duyên Anh mời trình bày đĩa nhạc “Còn Thoáng Chiêm Bao.”

Cùng giai đoạn ấy, Quỳnh Giao cộng tác và lưu diễn một số nơi với nhạc sĩ Phạm Ðình Chương, nhưng cơ hội không nhiều vì sinh hoạt văn nghệ chưa phát triển rực rỡ như sau này. Ðáng chú ý thì năm 1988 và 1989 đã cùng Kim Tước và Mai Hương trình bày nhạc Cung Tiến với dàn nhạc thính phòng của nhạc công người Mỹ tại miền Bắc, miền Nam California, Chicago và Minnesota.

Ðấy là lúc khán giả biết đến những ca khúc mới và thuộc loại khó diễn tả nhất của Cung Tiến, như 10 bài Vang Vang Trời Vào Xuân phổ thơ Thanh Tâm Tuyền. Và nhất là tác phẩm Hoàng Hạc Lâu, phổ thơ Thôi Hiệu qua phần cảm dịch của Vũ Hoàng Chương.

Sau khi tái giá với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa - sau này là nhà bình luận hợp tác với các đài phát thanh quốc tế và các tờ báo Việt ngữ tại Hoa Kỳ, Quỳnh Giao qua California sinh sống kể từ 1991. Trong môi trường sinh động và đông đảo người Việt tại miền Tây Hoa Kỳ, Quỳnh Giao có cơ hội mở rộng hoạt động tân nhạc.

Quỳnh Giao lần lượt thực hiện nhiều đĩa nhạc có giá trị nghệ thuật, đa số với hòa âm của Duy Cường, như Khúc Nguyệt Quỳnh (1992), Tiếng Chuông Chiều Thu (1996), Chiều Về Trên Sông (1997), Ngàn Thu Áo Tím (1998), Hành Trình Phạm Duy (1999), Hình Ảnh Một Buổi Chiều (2000), Tình Khúc Văn Phụng & Hoàng Trọng (2001), Thơ Tình Phổ Nhạc (2002), Hoa Xuân (2003), Trở Về Thôn Cũ (2005) và Tình Khúc Phạm Duy (2006).

Ngoài ra, Quỳnh Giao hợp tác với nhiều trung tâm để hoàn thành đĩa Ðêm Tàn Bến Ngự - Tình Khúc Dương Thiệu Tước (1995) với tiếng hát Kim Tước, đĩa Tình Khúc Văn Cao (1995) cùng tiếng hát Mai Hương và có những ca khúc ghi âm riêng lẻ trong nhiều đĩa phát hành từ 1993 đến 2006.

Trong giai đoạn này, Quỳnh Giao còn có hai cống hiến khác cho tân nhạc.

Nhờ sống gần Kim Tước và Mai Hương tại miền Nam California, ba chị em trình diễn với nhau nhiều hơn và khi hợp ca thì tự động chia bè rất ăn khớp với sự điêu luyện độc đáo. Từ đó, Ban tam ca Tiếng Tơ Ðồng Hải Ngoại ra đời để nhắc về ban nhạc Tiếng Tơ Ðồng nổi tiếng trước 75 của nhạc sĩ Hoàng Trọng khi ấy còn ở trong nước.

Ðáng kể hơn, là năm 1997 Quỳnh Giao thực hiện cho ban Việt ngữ đài BBC chương trình Suối Nguồn Tân Nhạc Việt Nam. Ðược phát thanh hàng tuần qua 20 buổi, chương trình thuộc loại “nhạc sử” vì nói về 60 năm tân nhạc cải cách Việt Nam từ thời phôi thai năm 1938 đến sau này.

Quỳnh Giao phân đoạn theo thời gian, theo thể tài và đọc lời giới thiệu với phần minh diễn của các ca sĩ và phần phát biểu của nhiều nhạc sĩ. Nhờ nội dung phong phú và nhạc hiệu là bản Bến Xuân của Văn Cao do chính Quỳnh Giao diễn tả, Suối Nguồn Tân Nhạc được thính giả yêu thích nên là một trường hợp hiếm hoi được BBC cho phát lại lần thứ hai.

Nguyên nhân sâu xa nữa sẽ được hiểu ra sau này là Quỳnh Giao có ký ức rất sâu, đã sống với tân nhạc từ bé, gần gũi với các nhạc sĩ và ca sĩ như trong một đại gia đình nên nắm vững hoàn cảnh ra đời của từng ca khúc.

Người ta thấy được điều này khi đọc Quỳnh Giao.

Các môn sinh của thầy Ưng Quả trong trường Quốc Học thì không ngạc nhiên khi thấy Quỳnh Giao cầm bút. Sinh thời, nhà giáo ngày xưa là người lịch lãm tài hoa với ngón đàn nguyệt mà cũng là một cây bút sắc xảo. Quỳnh Giao tiếp nhận được huyết thống ấy, mà có lẽ khi còn thiếu thời đã không tự biết.

Năm 1986, nhân dịp mừng sinh nhật thứ 65 của nhạc sĩ Phạm Duy, từ miền Ðông, Quỳnh Giao đã có bài viết được đăng trên tờ Văn Học xuất bản tại California. Sau đó là một bài về nhạc sĩ Vũ Thành vừa tạ thế vào năm 1987. Ðược sự khuyến khích của nhà văn Nguyễn Mộng Giác khi ấy phụ trách tờ Văn Học, Quỳnh Giao đã viết nhiều hơn từ tùy bút đến truyện ngắn cho Văn Học và các tờ báo định kỳ khác, kể cả Thế Kỷ 21. Khởi đầu là đề tài âm nhạc, gần như một loại tự truyện về thế giới tân nhạc Việt Nam, sau này, Quỳnh Giao mở tầm viết và gây thích thú cho người đọc...

Quỳnh Giao viết về nhạc thì cũng như kể chuyện về các nghệ sĩ bằng hữu của thân mẫu. Nhưng kiến thức sâu sắc về nhạc và về kỹ thuật trình bày còn giúp người đọc nhớ lại và có sự thưởng ngoạn cao hơn với từng tác phẩm, từng tác giả hay người trình diễn. Nhờ vậy, độc giả cảm nhận được giá trị đích thực của các ca khúc.

Khi mở ra loại đề tài như điện ảnh, văn chương hay mỹ thuật, Quỳnh Giao còn cho thấy sự am hiểu rộng lớn và thấu đáo. Với văn phong nhẹ nhàng, cái nhìn tinh tế và cách nói khiêm nhường dí dỏm về mình, Quỳnh Giao lôi cuốn bạn đọc và dần dần có một thành phần bạn đọc riêng.

Những điều ấy trở thành rõ rệt khi Quỳnh Giao cộng tác với giai phẩm Xuân của Việt Báo và nhật báo Người Việt trong mục “Tạp Ghi” với những bài định kỳ mỗi tuần. Tạp Ghi Quỳnh Giao là mục ăn khách trên Người Việt kể từ năm 2005. Cho đến nay thì đã có gần 500 bài.

Không chỉ đọc Quỳnh Giao, người ta còn nghe thấy tiếng nói thanh quý rất ăn micro của người nghệ sĩ. Những ai còn nhớ tới Quỳnh Giao trong chương trình Suối Nguồn Tân Nhạc năm xưa của BBC tìm lại được tiếng nói đó qua mục Vòng Chân Trời Văn Học Nghệ Thuật với nhà báo Lê Ðình Ðiểu của đài phát thanh VNCR. Sau này, khi Người Việt TV thành hình từ Người Việt Online, Quỳnh Giao xuất hiện trên màn ảnh trong chương trình “Câu Chuyện Văn Nghệ” cùng Nam Phương hay Lê Hồng Quang. Ðấy là lúc khán giả thấy ra “cây bút Quỳnh Giao” bằng xương thịt, với lối ứng khẩu tự nhiên và nhu mì để nói về đủ loại đề tài hấp dẫn.

Trong khi đó, ở nhà, Quỳnh Giao tiếp tục việc dạy đàn và mở lớp luyện giọng.

Tháng 10, năm 2011, tờ Người Việt cho xuất bản Tạp Ghi Quỳnh Giao, một cuốn sách thuộc loại ăn khách với 67 bài trên hơn 400 trang. Qua năm 2012, Quỳnh Giao chuẩn bị hoàn thành cuốn thứ hai thì ngã trong vườn và bị thương nặng. Sau một cuộc giải phẫu công phu vào Tháng Năm, việc sử dụng tay trái đã bị trở ngại. Lớp dạy đàn mở ra từ mấy chục năm trước coi như chấm dứt.

Mùa Xuân 2014, Quỳnh Giao tưởng mình ho vì bị cảm lạnh. Nhưng sau một tháng chữa trị bình thường mà bệnh không dứt. Vào một đêm của đầu Tháng Ba khi bị mất giọng, Quỳnh Giao mới được xe cấp cứu đưa nhà thương và hôm sau thì như bị sét đánh. Ung thư phổi. Ðiều này là bất ngờ vì trước đó không hề có triệu chứng gì, kể từ khi chiếu điện vì gãy cánh tay mặt.

Sau hơn bốn tháng giải quyết bằng hóa trị rồi xạ trị, Quỳnh Giao suy yếu dần về thể lực mà thần trí vẫn minh mẫn lạc quan. Cho tới khi phải thường xuyên dùng ống dưỡng khí và đối phó với nhiều biến chứng thì tình hình trở thành nguy kịch. Ðêm Thứ Ba rạng ngày Thứ Tư 23 Tháng Bảy, Quỳnh Giao lặng lẽ gỡ ống dưỡng khí và ra đi thanh thản trong giấc ngủ trước sự bàng hoàng ngơ ngác của chồng con.

Quỳnh Giao làm đẹp cho đời bằng tiếng hát tuyệt vời và những bài viết về nghệ thuật về mỹ thuật. Người ta thấy yêu đời và yêu người hơn khi nghe hay đọc Quỳnh Giao.

“Lòng Ta Ở Với Người” là tên một ca khúc của Trần Dạ Từ mới được Quỳnh Giao ghi âm mà chưa phổ biến. Có lẽ đấy cũng là lời ca rất đúng về tấm lòng của người nghệ sĩ vừa ra đi...
 

Ngủ rồi krazyvn

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #21 vào: 08/08/2014, 13:49:07 »
 
Contact - Hà nội
PS. Vết chân chim ở hình chụp là do ống kính hen, ko phải do bẩn của sách hen

Ngủ rồi hoaico

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #22 vào: 09/08/2014, 09:38:10 »
VÕ CỔ TRUYỀN VIETNAM CŨNG CÓ GIÁ QUÁ XÁ CHỨ

Môn sinh ngoại quốc diễn võ Việt Nam bên biển Quy Nhơn
Kết thúc Liên hoan quốc tế võ cổ truyền Việt Nam lần 5, các võ sư, võ sĩ diễn võ thuật độc đáo, lưu lại khoảnh khắc ấn tượng trên bãi biển Quy Nhơn (Bình Định).

XEM THÊM


Nàng: "Dzôôôô!!!"
Chàng: "Ối! Biểu diễn mà sung quá, toi bộ chỉ huy rồi. Tối nay hết mần ăn rồi nha cưng!"



Võ sư Đồng Văn Hùng học võ từ cổ truyền Tây Sơn Bình Định từ nhỏ, đến năm 18 tuổi ông Hùng sang Bỉ sinh sống, bắt đầu hành trình giới thiệu võ đạo Việt Nam. Hiện tại môn phái Tráng sĩ đạo của ông đã mở rộng 12 chi nhánh các nước Bỉ, Pháp, Hà Lan đào tạo hàng nghìn võ sư, võ sinh về môn võ cổ truyền Việt Nam. Hiện tại hai con trai của ông là Đồng Nam Linh (27 tuổi) và Đồng Minh Giang (24 tuổi) đã trở thành võ sư nối nghiệp truyền dạy võ cổ truyền dân tộc tại các trường đại học, trung tâm huấn luyện ở Bỉ. 
 
hoaico2009@gmail.com |  0946850701 - 01269838689

Ngủ rồi Dongnat

 
e-mail: dongnat09@yahoo.com.vn

Ngủ rồi vinhlongsach

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #24 vào: 10/08/2014, 15:43:00 »

Ngủ rồi huhu

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #25 vào: 12/08/2014, 19:48:22 »
Người Việt đang rất xấu - Kỳ 2: Thói xấu của du học sinh Việt
http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140812/nguoi-viet-dang-rat-xau-ky-2-thoi-xau-cua-du-hoc-sinh-viet.aspx
 

Ngủ rồi huhu

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #26 vào: 15/08/2014, 16:07:02 »
Dư luận dậy sóng vụ bài viết “Gái miền Tây...”
http://nld.com.vn/ban-doc/du-luan-day-song-vu-bai-viet-gai-mien-tay-2014081510314094.htm

 

Ngủ rồi hoaico

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #27 vào: 15/08/2014, 22:55:45 »
 
hoaico2009@gmail.com |  0946850701 - 01269838689

Ngủ rồi huhu

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #28 vào: 16/08/2014, 12:26:19 »

Trời ơi.. thương quá Trường Sa của ta !!!
 

Ngủ rồi hoaico

Re: Thấy trên mạng 5
« Trả lời #29 vào: 18/08/2014, 07:40:07 »
http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/ba-tam-tu-dau-ra-2014081621331717.htm

“Bà tám” từ đâu ra?
Thứ Bảy, 21:35  16/08/2014

Trong khẩu ngữ, gần đây người ta hay dùng từ “tám” hay hai tiếng “bà tám” để chỉ việc tán gẫu kéo dài; chỉ người nhiều chuyện, nhiều lời. Nguồn gốc từ “tám”, “bà tám” từ đâu?
“Bà tám” là một hình thức sao phỏng (loan translation), có lẽ bắt đầu ở tiếng Việt miền Nam. Mà ở miền Nam thì bắt nguồn từ tiếng Quảng Đông là “pát phò”

[八婆], đọc theo âm Hán Việt là “bát bà”, dịch đúng nghĩa gốc là “bà tám”. Đây là một đặc ngữ của tiếng Quảng Đông ở Hồng Kông, dùng để chỉ người phụ nữ hay để ý hoặc bàn tán đến chuyện của người khác; hiểu rộng ra, là người đàn bà nhiều chuyện. Ở những địa phương khác của Trung Quốc gọi hạng đàn bà này là “trường thiệt phụ” [長舌婦], nghĩa đen là “con mẹ lưỡi dài”.

Trực tiếp đóng góp vào sự ra đời của danh ngữ “bà tám” này trong tiếng Việt là dân làm ăn liên quan đến làng điện ảnh và truyền hình. Sau khi phim Tàu, đặc biệt là phim Hồng Kông nói tiếng Quảng Đông, được một vài đài truyền hình phát sóng thì phát sinh yêu cầu phải thuyết minh và lồng tiếng. Để làm vậy, trước hết phải dịch. Khốn khổ thay, người dịch có lẽ cũng chạy theo nhịp điệu hối hả của thị trường chứ nào thực sự yêu mến tiếng Việt, thực sự thấu hiểu từ nguyên. Chưa kể trong đó có thể có cả những tay người Việt gốc Hoa thì làm sao tránh khỏi chuyện “pát phò” trở thành “bà tám”! Trong khi đó, tiếng Việt đâu có thiếu từ, ngữ tương ứng với khái niệm “con mẹ Tám” của Tàu Quảng Đông!

“Bà tám” dần dần đưa đến từ “tám” phái sinh bằng cách ngắt bỏ từ “bà” đằng trước, nhiều phần cũng là do nhu cầu động từ hóa. Thế là có động từ “tám” và danh ngữ “bà tám” - mẹ đẻ của nó - tồn tại song song trong khẩu ngữ. “Bà tám” dùng để chỉ những người nhiều chuyện, còn “tám” thì dùng để chỉ hành động của những người này.

AN CHI
 
hoaico2009@gmail.com |  0946850701 - 01269838689