Tác giả Chủ đề: Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam  (Đã xem 4467 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Nhà thờ Đức Bà, đặc trưng kiến trúc Pháp giữa lòng Sài Gòn

Nằm ở trung tâm thành phố Hồ Chí Minh, nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn là một địa điểm du lịch không thể bỏ qua, nổi bật với sắc đỏ tươi. Sau gần 140 năm chống chọi với nắng gió thời gian, mái ngói và một số hạng mục của công trình kiến trúc đặc sắc này bị xuống cấp một cách đáng ngại.

Nhà thờ chính tòa Đức Bà, Sài Gòn, Việt Nam

THEO DỰ ÁN của Sở Văn hóa và Thể thao thành phố Hồ Chí Minh trình lên UBND thành phố vào đầu tháng 12/2016, công trình biểu tượng của Sài Gòn sẽ có một đợt trùng tu mái ngói kéo dài từ năm 2017 đến 2019. Cụ thể là sẽ “gia cố, thay thế hệ thống vì kèo bằng tổ hợp thép hình, sơn bảo quản chống gỉ; gia cố, thay thế cầu phong, li tô bằng gỗ nhóm II, chống mối mọt, sơn bảo quản; thay thế bổ sung mái ngói tây, ngói vảy cá, ngói âm dương theo nguyên trạng; xây lại bờ mái bờ nóc, bờ chảy”. Nguồn vốn để sửa chữa do chủ đầu tư là Tòa tổng giám mục Sài Gòn vận động từ nguồn xã hội hóa.

Tuyệt tác kiến trúc gần 140 tuổi biểu tượng của Sài Gòn
            Nhìn lại 137 năm lịch sử của nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, có lẽ nên bắt đầu từ nguồn gốc nhà thờ đầu tiên được dựng lên ở Sài Gòn, trên nền một ngôi chùa bỏ hoang bên bờ Kinh Lớn (Grand Canal hay Canal Charner), nơi neo đậu của những con tàu gỗ lớn của người Hoa có mái bằng lá cọ và mũi tàu được sơn những cặp mắt dữ tợn.
            Tập san hành trình, địa lý, lịch sử và khảo cổ,(1) phát hành năm 1869, miêu tả: “Nhà thờ đầu tiên, với một tháp chuông bằng gỗ sơn mầu, được dựng lên ở Sài Gòn vào năm 1861 nhờ sự đóng góp của các công chức và sĩ quan đội quân viễn chinh Pháp. Nhiều khu nhà tạm được dựng lên dọc bờ kênh trở thành ngôi làng của Giám mục và cũng chính tại đây, Đức ông Lefebvre – Giám mục hiệu tòa Isauropolis và Khâm mạng tòa thánh Tây Nam Kỳ – đã trú ẩn trước khi quân Pháp chiếm được Sài Gòn”.
            Năm 1863, chuẩn đô đốc Bonnard cho xây một nhà thờ vững chắc hơn ở phía trên thành phố, nơi sau này trở thành địa điểm của Tòa Hòa Giải (Justice de paix, nơi ngày nay là cao ốc Sun Wah đường Nguyễn Huệ). Cách gọi “nhà thờ lớn” (cathédrale) có lẽ chỉ để nhấn mạnh đến chức năng của địa điểm thiêng liêng đó mà thôi, vì theo nhận xét của tác giả Raoul Postel trong cuốn Xứ Nam Kỳ thuộc Pháp,(2) “công trình thảm thương và tồi tàn này thực ra chẳng xứng với cách gọi đó. Bề ngoài hiu quạnh của nhà thờ càng nâng vẻ lộng lẫy của nhà thờ tu viện Sainte-Enfance”.
            Mười năm sau, thánh đường được làm gần như hoàn toàn bằng gỗ bị mối gặm nhấm nghiêm trọng đến mức phải đóng cửa vào năm 1874 và dùng tạm đại sảnh trong dinh thự của thống đốc Nam Kỳ để hành lễ.


Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn sau khi được hoàn thiện năm 1880 và chưa có hai mái chóp

            Nếu như trước năm 1869, nhà thờ Sài Gòn không có bất kỳ nguồn thu nhập nào trừ tiền quyên góp của giáo dân, thì trong khoảng thời gian giới quân sự nắm quyền và Giáo Hội chưa tách khỏi chính quyền, Giám mục Sài Gòn được trợ cấp khoảng 15.000 franc cùng với 5.000 franc công tác phí (Bulletin officiel de la Cochinchine, 16/05/1870) và giáo phận Nam Kỳ cũng nhận được một khoản trợ cấp cho đến năm 1880 khi chính quyền dân sự đầu tiên được hình thành tại Nam Kỳ.
            Cũng trong giai đoạn chính quyền quân sự, chính phủ thuộc địa đã nhượng cho các giáo phận Nam Kỳ nhiều khu đất để xây dựng các công trình dành cho con lai, đặc biệt là nhà thờ lớn Sài Gòn. Quyết định được chuẩn đô đốc-thống đốc Duperré (1874-1877) ký ngày 27/09/1876 (Bulletin officiel de l’Annam et du Tonkin, 1877) khi hoàn toàn tin chắc rằng Nam Kỳ đã được bình định. Ông cũng nhận thấy đã đến lúc phải khẳng định đức tin của người Pháp và rộng rãi truyền đức tin đó ở đất nước xa xôi này.
            Nhà thờ mới được chuyển về vị trí trung tâm, ở đầu phố Catinat (nay là Đồng Khởi). Cục công binh giao các khu đất (nay là quảng trường số 1 Công Xã Paris, quận 1, trước đây còn là quảng trường Pigneaux de Béhaine), lúc đó nằm dưới sự quản lý của quân đội, cho chính quyền địa phương. Đổi lại, cơ quan dân sự này hoàn toàn chịu trách nhiệm về nhà thờ mới, cũng như mọi việc bảo dưỡng trùng tu trong tương lai.
            Ngày 07/10/1877, trước sự chứng kiến của thống đốc Nam Kỳ và toàn bộ chính quyền Pháp tại Sài Gòn, Đức ông Colombert, Giám mục hiệu tòa Samosate, đã ban phước cho viên đá đầu tiên của công trình mang tính thiêng liêng với giáo dân. Sau hai năm rưỡi xây dựng, với tổng chi phí 2.500.000 franc, thánh đường do kiến trúc sư Bourard thiết kế được hoàn thiện ngày 11/04/1880 và được cung hiến lên Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và thánh François-Xavier.
            Tập san của Hội Thừa Sai Paris số ra tháng 07-08/1918(3) miêu tả nhà thờ Sài Gòn được xây theo kiến trúc Roman, dài 93 mét, rộng 35 mét, cao 57,3 mét. Hầu hết nguyên vật liệu, đặc biệt là gạch ngói đỏ, được chuyển từ Pháp sang. Hai tháp chuông có sáu quả chuông nặng tổng cộng 25.850 kg.
            Dự án ban đầu chỉ có hai tòa tháp chuông cao 36,60 mét. Đến năm 1895, hai mái chóp với Thập tự giá biểu tượng cho sự cứu rỗi cao 21 mét được dựng thêm để che tháp chuông. Theo tuần san Le Génie civil số ra ngày 02/05/1896, hai mái chóp được làm bằng sắt, do kỹ sư André Michelin thiết kế, có hình kim tự tháp tám góc, lần lượt được gắn trực tiếp bằng phương pháp tính khung công-xon trên mỗi tháp chuông. Khung mái được lợp bằng loại thép gân và có một cầu thang sắt gắn vào thành tường dẫn lên nóc. Trên nóc là hai cây thập tự cao 3,10 mét được làm bằng tôn và đinh tán. Toàn bộ công trình được thợ thuyền địa phương thực hiện dưới sự giám sát của một đốc công châu Âu.


Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, ảnh chụp năm 1895

            Bên trong công trình kiến trúc quy mô và đặc sắc được dát vàng rất thẩm mỹ. Phía trên hành lang gác trong nhà thờ là loạt cửa sổ bằng kính nhiều mầu ghép lại do xưởng Lorin de Chartres thực hiện. Mỗi tác phẩm trên cửa kính tái hiện đoàn rước các thánh từ Cựu Ước đến Tân Ước đến chào mừng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chủ nhân của nhà thờ.
            Bàn thờ chính được làm bằng đá cẩm thạch quý hiếm và được trang trí thêm ba bức phù điêu tuyệt đẹp được sáu thiên thần nâng đỡ, trong tay cầm những dụng cụ khổ nạn trong Cuộc Thương Khó của Chúa Giê-su. Lối đi bên trong nhà thờ làm theo hình thập tự, được lát bằng gạch ghép mảnh nghệ thuật và ở mỗi đầu là một bàn thờ của các nhà nguyện. Xung quanh chính điện là các nhà nguyện Đức Mẹ Đồng Trinh (Sainte-Vierge), Thánh Tâm (Sacré-Coeur), thánh Joseph, thánh Paul và thánh François-Xavier. Tất cả đều được trang trí bằng những bức tranh kính nhiều mầu ghép lại tượng trưng cho mỗi vị thánh của nhà nguyện.
            Ngoài ra còn phải kể đến 20 chiếc đèn chùm được gia công một cách tinh vi. Từ tháng 10/1913, cha Eugène Soullard cho lắp hàng nghìn bóng điện vào những chiếc đèn chùm và xung quanh các cột chính trong nhà thờ khiến các buổi lễ trở nên lung linh hơn trong ánh sáng hiện đại này. Đặc biệt là vào những buổi Thánh Lễ và lễ rửa tội cho trẻ nhỏ, giáo đường đẹp một cách huyền diệu với các sắc mầu và đồ trang trí.
            Năm 1902, tượng Đức ông Pigneaux de Béhaine (tiếng Việt là Bá Đa Lộc), Giám mục hiệu tòa Adran, được dựng lên giữa khu vực trồng hoa tô điểm cho quảng trường trước cửa nhà thờ lớn. Tác phẩm của nhà điêu khắc Lormier thể hiện Cha Cả tay trái nâng bàn tay của hoàng tử Cảnh (con trưởng của vua Gia Long), còn tay phải giương bản Hiệp ước Versailles ký ngày 21/11/1787 với chính phủ Pháp. Đức ông Lucien Mossard, quản lý nhà thờ từ năm 1898, cùng với đông đảo tu sĩ đã tổ chức một buổi lễ long trọng để ban phép lành cho công trình trên trước sự chứng kiến của toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, thống đốc Nam Kỳ Henri de Lamothe, các đô đốc Pottier và Bayle, cùng với toàn bộ công chức dân sự và quân sự cũng như giới thân hào Nam Kỳ.


Tan lễ ở Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, ảnh chụp khoảng sau năm 1880

Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn… người yêu kẻ ghét…
            Trong vòng 10 năm, từ 1908 đến 1918, số lượng giáo dân ở Sài Gòn không thay đổi với khoảng 5.530 người, trong đó có 4.000 người châu Âu, 800 người Ấn Độ, 700 người An Nam và khoảng 30 người Hoa. Số lượng giáo dân châu Âu có xu hướng giảm do đợt tổng động viên năm 1914.
            Giờ tan lễ sáng Chủ Nhật hay những dịp lễ trọng đại là cảnh tượng độc đáo khiến người qua đường phải tò mò chiêm ngưỡng, theo nhận xét của một cuốn hướng dẫn du lịch dành cho người mới đến thuộc địa xuất bản năm 1906(4): “Những bộ cánh quý phái tươi trẻ của các Quý bà, Quý cô phương Tây xen lẫn với những bộ cánh đầy mầu sắc của phụ nữ Ấn Độ cùng với những chiếc váy mầu sậm của phụ nữ An Nam hay những bộ vét trắng của cánh đàn ông”.
            Vẫn theo cuốn hướng dẫn du lịch, nhà thờ Đức Bà Sài Gòn là niềm tự hào của người dân công giáo địa phương. Thế nhưng, tác giả Arthur Delteil, trong cuốn Một năm lưu lại Nam Kỳ: Hướng dẫn cho du khách ở Sài Gòn,(5) lại tỏ ra không có chút thiện cảm nào với công trình kiến trúc này. Ông viết:

            “Nhà thờ hướng ra phố Catinat không có chút vẻ nào là một công trình xinh đẹp. Được xây bằng gạch, toàn bộ khối đồ sộ đó nằm trên nền móng bằng đá hoa cương khiến người ta liên tưởng đến những chiếc bánh ngọt béo ngậy được gọi một cách dân dã là “bánh pa-tê”. Công trình kiêu kỳ và xấu xí này đã tiêu tốn vài triệu franc của nhà nước. Nhìn từ bên ngoài, nhà thờ có hình chữ nhật dài, hai đầu là hai tháp chuông hình vuông và một chiếc cổng. Bên trong, gian giữa rộng và nóng, không khí không tuần hoàn được, cứ như đang xuyên qua một nốt phồng rộp trên da vậy.
            Thay vì xây một giáo đường nhẹ nhàng, lịch lãm, có hành lang đúp để không khí có thể tràn vào thì người ta xây một khối to uỳnh, thiếu thẩm mỹ, không có phong cách và quá rộng so với số giáo dân ít ỏi thường đi lễ. Người ta muốn đánh vào trí tưởng tượng của người dân bản xứ bằng sự hoành tráng và áp đặt một công trình tôn giáo thờ Chúa trời. Tôi không biết liệu họ làm được như thế không, nhưng theo tôi, nhà thờ này là một thất bại”.


THU HẰNG
Tháng 2/2017
_______________________________
(1) V. A. Malte Brun (chủ biên), Annales des Voyages, de la géographie, de l’histoire et de l’archéologie, Paris: Challamel Aîné, 1869, T. 1.
(2) Raoul Postel, La Cochinchine française, Paris: A. Degorce-Cadot, 1883.
(3) Missions étrangères de Paris, Annales des Missions étrangères de Paris, 1918/07-1918/08.
(4) Saigon-Souvenir, petit guide saigonnais à l’usage des passagers des débutants dans la colonie, Saigon: Coudurier et Montégout, 1906.
(5) Arthur Delteil, Un an de séjour en Cochinchine: guide du voyageur à Saïgon, Paris: Challamel Aîné, 1887.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170217-nha-tho-duc-ba-dac-trung-kien-truc-phap-giua-long-sai-gon

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Đang duyệt nduytai

Trương Vĩnh Ký: Chiếc cầu nối Đông-Tây

Nhà văn Việt Nam. Sáng lập ra ngành báo chí tại Việt Nam, ông cũng là tác giả của nhiều tác phẩm lịch sử, giảng dạy, ngôn ngữ và dịch thuật các tác phẩm Tàu”. Đây là lời giới thiệu về Jean-Baptiste Pétrus Trương Vĩnh Ký (06/12/1837-01/09/1898) của từ điển các danh nhân của Larousse. Ông cũng được giới học thuật châu Âu thế kỷ XIX liệt vào một trong “Thế giới Thập bát văn hào”, đồng thời đứng trong hàng những người biết nhiều ngoại ngữ bậc nhất trên thế giới nhờ thông thạo 10 ngoại ngữ và nắm sơ một số khác.

Pétrus Ký (1837-1898)

CUỘC ĐỜI và sự nghiệp của ông nhận nhiều ý kiến trái chiều. Một số người nhìn nhận ông như tay sai của thực dân Pháp. Một số khác thì ghi nhận ông như người đặt nền móng cho nhiều lĩnh vực chưa từng được biết đến tại Việt Nam trong giai đoạn đó, như dịch thuật, báo chí và viết văn.
            Sinh tại ấp Cái Mơn, huyện Vĩnh Thành, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre), Trương Vĩnh Ký, còn được biết tới dưới các bút hiệu “Sĩ Tải” hay “Nam Trung ân sĩ”, nổi tiếng với học thức uyên bác, am tường nhiều lĩnh vực và khả năng ngoại ngữ siêu phàm. Ngay từ nhỏ, nhờ trí thông minh, nhanh nhẹn, ông được linh mục Long đưa vào trường dòng học chữ la tinh ở Cái Nhum (thuộc tỉnh Vĩnh Long ngày nay). Từ đó, ông được bôn ba du học tại nhiều nước trong khu vực, từ Cam-bốt tới Cao Miên hay Pinang (Malaysia). Tại mỗi nơi, được gặp gỡ bạn đồng môn quốc tế, ông vận dụng khiếu ngoại ngữ để học tiếng nói của họ. Tới năm 1858, khi quay về quê chịu tang mẹ, ông đã thành thạo khoảng chục ngoại ngữ và am tường văn chương, khoa học, triết học. Năm đó, ông mới 21 tuổi.
            Năm 1860, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Bonard, người theo chủ trương tôn trọng ngôn ngữ và phong tục bản địa, quân đội Pháp chuẩn bị tấn công Sài Gòn và cần một thông dịch để tránh mắc sai lầm về chính trị. Linh mục Lefèbvre trông coi địa phận Nam Kỳ đã giới thiệu Trương Vĩnh Ký. Bắt đầu từ công việc thông dịch, dần dần ông tham gia nhiều lĩnh vực khác, đặc biệt phải kể đến báo chí và xuất bản, trước khi tham gia chính trị để rồi cuối đời gần như về ở ẩn và viết sách do bị cả chính phủ thuộc địa Pháp và triều đình nhà Nguyễn nghi kị.

Cầu nối Đông-Tây?
            Vai trò cầu nối Đông-Tây của Trương Vĩnh Ký có thể được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, trong đó phải kể tới dạy học, dịch thuật và làm báo.
            Theo nhận xét của Nguyễn Cao Kim trong bài “Thân thế và sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký”, “Ông giữ thái độ đặc biệt không đi quá trớn. Sau khi được đô đốc Bonard mời ra giúp việc, ông đã chấp thuận với ý định tạo nên bầu không khí giao hảo giữa Pháp và Việt Nam. Cũng vì nghĩ như vậy nên lúc làm thông ngôn (20-12-1860), hay lúc làm Đốc học trường thông ngôn Sài Gòn, ông vẫn chủ trương giúp cả hai nước mà chẳng nhị tâm”.
            Phải chăng, Trương Vĩnh Ký chỉ muốn tận dụng cơ hội và vị trí của mình để xoa dịu những mất mát của người dân do chiến tranh gây ra và sau đó là cổ xúy cho tân trào?
            Năm 1861, đô đốc Charner, người kế nhiệm và đi ngược với chính sách bị coi là “mị dân” của đô đốc Bonard, cho phá đồn Chí Hòa (Kỳ Hòa). Hiểu rõ nỗi thống khổ của người dân, Pétrus Ký muốn làm dịu vết thương chiến tranh bằng cách đứng ra làm gạch nối cho sự giao hảo Pháp-Việt. Có lẽ vừa do phẩm chất, vừa do trình độ, nên nhiều lần, ông được cử làm thông ngôn cho sứ bộ hai bên, trong đó phải kể tới chuyến sang châu Âu của phái đoàn Phan Thanh Giản (06/1863-03/1864) đàm phán với triều đình Pháp và Tây Ban Nha việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường).
            Trong thời gian lưu lại châu Âu, Trương Vĩnh Ký đã khám phá tinh hoa của nước Pháp và tìm hiểu tại sao người Pháp có thể tới đánh chiếm một nước xa xôi như Việt Nam. Ngược lại, ông cũng đã khiến triều đình Pháp thán phục trước sự thông tường chữ la tinh. Để thử tài của ông, một Bộ trưởng Pháp, trong lúc đón phái đoàn, đã để ông nói chuyện với một chuyên gia chữ la tinh hàng đầu của chính phủ.
            Trong cuốn Impressions d’un Japonais en France, suivies des impressions des Annamites en Europe (Ấn tượng của một người Nhật tại Pháp, tiếp theo là ấn tượng của người An Nam tại châu Âu, 1864), Richard Cortembert miêu tả cuộc đối thoại giữa Pétrus Ký và nhà la tinh học lỗi lạc của Pháp thời bấy giờ như sau:

            “… Đôi khi, nhà bác học Pháp phải chờ đợi vài giây trước khi kết thúc đoạn hội thoại của mình và dường như phải quanh co để không bị đuối. Trái lại, chàng phiên dịch An Nam lại cứ thoải mái nói hơn bao giờ hết; cứ như từng giây một, cậu ta lại có thêm sinh lực mới… Những lời giải thích của cậu trở nên chính xác, rõ ràng hơn, trong khi đó, đối thủ của cậu luẩn quẩn trong cách nói dài dòng và không chính xác. Có lúc, như đuối sức, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng phương Tây trả lời luôn bằng tiếng Pháp trước câu hỏi bằng tiếng la tinh của Pétrus; chàng thanh niên An Nam phản lại bằng tiếng la tinh, và người ta lại trả lời bằng tiếng Pháp…”

            Từ năm 1866 tới 1879, ông lần lượt được đề cử làm Giám đốc dạy tiếng Đông phương ở trường Thông ngôn (Collège des Interprètes (1866-1868)), rồi Giám đốc Trường sư phạm (Ecole normale, 01/01/1872-31/12/1873) và cuối cùng là Giáo sư sinh ngữ (tiếng Việt và Hán tự) tại trường Tham biện Hậu bổ (Ecole des Administrateurs stagiaires, 01/01/1874-1879).
            Đây là khoảng thời gian mà ông soạn nhiều sách và giáo trình để phục vụ cho công việc giảng dạy. Đối với người Pháp là giáo trình dạy chữ Hán và quốc ngữ, địa lý và lịch sử Việt Nam. Đối với người Việt, phần lớn cũng là sách dạy chữ quốc ngữ và tiếng Pháp. Ngoài ra, nhận thấy người Pháp mở trường tiểu học nhưng “quên” soạn và in sách, ông đã biên soạn nhiều sách giáo khoa, đồng thời luôn có những lời khuyên răn đạo đức cho trò nhỏ mà có thể thấy trong cuốn Sơ học vấn tân quốc ngữ diễn ca (1877):

            “Sách Sơ học vấn tân nghĩa là kẻ mới học hỏi bền là sách Annam làm cho con-nít học cũng như bên Tàu Tam-tự-kinh vậy. Sách nầy tóm cả truyện bên Trung-quốc cả truyện bên nước Nam ta nữa; lại có kể ra phép học, bài thi, khuyên gắng công học cho chuyên.
            Vậy nay âm ra ba thứ tiếng để cho con-trẻ học mà phá ngu, cùng tập lần cho biết cho dễ học sách cao đến sau; đã có chữ có nghĩa lại có tiếng phangsa một bên, học một mà biết ba thì cũng tiện lắm.
            Học thì chẳng phải là học cho biết viết chữ, cho thuộc tiếng nói mà-thôi, mà lại phải học nghĩa-lý phép-tắc, lễ-nghi, cang-thường luân-lý, là giềng-mối mà xử-trí trong việc ăn-ở trong đời với thiên-hạ. Ấy là lịch ấy là thanh. Nên phải do cựu tùng tân mới là phải, chẳng nên mới chuộng cũ vong mà mang lấy tiếng “yểm cựu nghinh tân”. Vì “vật hữu bổn mạt, sự hữu thỉ chung; tri sở tiên hậu tắc cận đạo hỉ”.”

            Tại thời điểm đó, tác giả không phải bận tâm việc phân phối sách nhờ trợ cấp của chính phủ và thường viết theo “đặt hàng”. Vì không phải lo lắng tới việc phân phối và nhuận bút, nên tác giả hoàn toàn có thể chuyên tâm vào việc nghiên cứu để tác phẩm có chất lượng tốt. Hoặc nếu nhận thấy một tác phẩm có ích, nhà nước sẽ xét duyệt ngân sách để mua và phân phối tới các trường học, thư viện hay các phòng ban hành chính.
            Cũng trong giai đoạn này, ngoài sách dạy học, ông cũng chuyên tâm dịch các bộ sách cổ của Tàu, như Tứ Thư (1876) (Đại học, Trung dung, Luận ngữ và Mạnh Tử). Một số ý kiến cho rằng, dù theo Công giáo, nhưng ông vẫn giữ truyền thống nho giáo phương Đông và muốn duy trì những tư tưởng này cho thế hệ sau.
            Tư tưởng này cũng nổi bật rõ nét trong những câu chuyện mà ông biên soạn sau khi từ giã quan trường lui về ở ẩn. Ông chuyển thể sang chữ Quốc ngữ những chuyện thơ dân gian, hay viết những câu chuyện đơn giản, dễ hiểu đầy ngôn từ địa phương. Ví dụ có thể kể đến các cuốn: Bất cượng chớ cượng làm chi (1882), Nữ tắc (1882), Thơ mẹ dạy con (1882), Thơ dạy làm dâu (1882), Thạnh suy bỉ thới phú (1883), Học trò khó phú (1883), Phú bần truyện diễn ca, Cờ bạc nha phiến (1884)… Trong lời tựa của mỗi cuốn sách, ông đều tìm cách giải thích cho người đọc ý nghĩa câu chuyện, bài học đạo đức và giải thích phong tục tập quán. Như trong cuốn Thạnh, suy, bỉ, thới có những dòng tâm sự sau:

            “Phú nầy nói về làm con người ở đời thì có sự thạnh, sự suy, sự bỉ, sự thới. Lúc thạnh thì khiến cho được giàu-có sang-trọng. Của-cải bạc-tiền, ngọc ngà châu báu chẳng thiếu vật chi. Đã giàu mà lại thêm sang, tôi-mọi hầu-hạ trong ngoài, khách kẻ tới người lui chật nhà chật cửa. Đến lúc suy cũng như hùm mạnh sa cơ, nhà-cửa xích-xác, trống trước trống sau, cũng như Vương-khải với Thạch-sùng khi nghiên-nghèo sánh lại với buổi giàu-sang, xa cách nhau biết là bao nhiêu? Khi bỉ thì khốn-khó lút đầu lút óc, trí phải khó-nhọc buồn-rầu, xác phải nhọc-nhằn công lên việc xuống; ăn bữa no bữa đói, đi thất-thơ thất-lạc. Đến khi gặp hồi thới lai, thì lại ra tử-tế, nên giàu nên sang, quan yêu dân chuộng kẻ đưa người rước; việc gì việc nấy đều may-mắn cả, phỉ-chí toại lòng.
            Vậy mới biết việc đời xây-vần dời-đổi. Nên dầu nghèo dầu giàu cũng chẳng nên lo; hễ hết thạnh thì tới suy, suy rồi lại thạnh; hễ có qua cực rối lại sướng, sướng rồi lại tới cực đắp-đổi nhau. Có vậy mới từng mùi đời, mới biết thạnh suy bỉ thới”.

            Nhìn vào danh sách tác phẩm của Trương Vĩnh Ký, có thể nhận thấy rằng ngoài kiến thức siêu phàm, phải có tâm huyết cao, ông mới có thể soạn ra các tác phẩm với những chủ đề đa dạng như vậy.

Nhà trí thức vì tân trào
            Mong muốn duy tân đất nước của ông được thể hiện rõ ràng ngay trong chuyến công du lần đầu tới nước Pháp. Cũng như nhiều quan lại trong phái bộ, ông ý thức rằng văn minh, nông nghiệp và công nghệ châu Âu đã tiến xa rất nhiều so với phương Đông. Ông nuối tiếc nêu những điểm yếu của Việt Nam trong bức thư gửi Richard Cortembert:

            “Ở An Nam, đất đai rất mầu mỡ; nhưng không được tiếp xúc với nhu cầu lao động nên tâm trí luôn trong trạng thái “ăn không ngồi rồi”… Đối với những người đứng đầu nhà nước, vấn đề không phải là phải thay đổi An Nam, mà là phải đấu tranh chống sự trây ì… Và có bao nhiêu điều mê tín phải loại bỏ, bao nhiều phong tục phải cải tổ lại, bao nhiêu định kiến phải tiêu diệt, bao nhiêu tính kiêu căng sẽ bị động chạm tới trong chiến dịch tổng cải tổ này!

            Ông chỉ trích quan lại Việt Nam quá cố hữu trong những chuẩn tắc của chính mình. Dù có trình lên những gì “mắt thấy tai nghe” tại châu Âu, hay có đưa ra những đề xuất gì, chưa chắc phái bộ Phan Thanh Giản đã thuyết phục được triều đình thay đổi ý kiến. Ông cũng lo lắng vì quan lại không nghĩ tới dân, mà chỉ muốn làm vui lòng vua nhà Nguyễn với những tin tức hay sự kiện vui vẻ. Trong khi đó, họ giấu nhẹm những tai ương, đói khổ mà người dân cam chịu.
            Ngoài ra, hơn ai hết, ông cũng hiểu được những khó khăn trong việc phổ biến học thuật mới bằng chữ Tàu. Ông băn khoăn tự hỏi: “Làm thế nào để có thể truyền bá kiến thức với loại chữ tượng hình với hàng loạt kí tự khó này? Tôi không phủ nhận rằng người ta có thể tiếp nhận khoa học với loại chữ này. Nhưng chỉ toàn bất tiện và khó khăn mà thôi. Để có thể đọc và hiểu được tốt những gì loại chữ này thể hiện, một người phải mất ít nhất cả tuổi thanh xuân của mình; anh ta chẳng bao giờ có đủ thời gian để bắt tay nghiên cứu những công trình khoa học.
            Đồng hương của tôi tạo thành một dân tộc dễ sai khiến, hay bắt chước, nhưng lại hoàn toàn trây ì; tôi thấy rằng, ở đây, lỗi chủ yếu là do nhà nước. Họ không chú tâm vào khích lệ hay thức tỉnh dân tộc”.
            Chính vì thế, ngoài viết sách, báo chí cũng là công cụ hữu hiệu để ông thử nghiệm việc truyền bá học thuật bằng chữ quốc ngữ. Trước khi ông được bổ nhiệm làm “chánh tổng tài” (rédacteur en chef), Gia-định báo chỉ đơn thuần là một tờ công báo của chính phủ Pháp tại Nam Kỳ. Tờ báo dịch đăng những thông tin bằng tiếng Pháp của tờ Le Courrier de Saigon. Tờ công báo này có nội dung nghèo nàn và ngôn từ khô khan với hai phần: “Phần Công vụ” với những thông tư, văn bản mới được công bố và “Phần Tạp vở” với những thông tin thuyên chuyển, bổ nhiệm hay giá cả một số mặt hàng.
            Làm chánh tổng tài từ số 20 (24/09/1869), ông đã biến tờ báo thành một cơ quan phong phú, đa dạng hơn. Ông khuyến khích viên chức nhà nước, giáo viên tham gia viết bài về bất kì chủ đề gì, từ cuộc sống đời thường tới những bài học khuyên răn đạo đức, từ dịch chuyện hay viết văn bằng chữ quốc ngữ… Ngoài các cơ quan nhà nước và địa phương, tờ báo cũng được “phát không tới các trường học để học sinh khá trong các làng mạc có thể đọc được” (Le Courrier de Saigon, số 7, 05/04/1865).
            Chính vì thế, Gia-định báo giữ hai chức năng chủ đạo. Thứ nhất, là chiếc cầu nối nhằm tránh những hiểu lầm giữa chính phủ và người dân. Mục đích này được ông viết trong lời tựa số 20:

            “Những thầy trường quốc ngữ thì trễ nải, hoặc chẳng đọc nhựt trình cho học trò hay là người làng nghe, hoặc có khi chẳng hiểu cho rõ, kẻ hay chữ thì chẳng hay cắt nghĩa cho người ta biết với. Quan Nguyên-Soái người muốn cho người ta đừng có làm như vậy nữa, thì người phú cho ta việc đặt nhựt trình nầy kẻo người ta nói đặng rằng không hiểu, cũng là cho người ta biết những điều viết trong nhựt trình là đều thật và có ích.
            Nhựt trình nầy có ích cho mọi người vì trong ấy có đủ mọi đều về dân sự, lịnh quan Nguyên Soái dạy, ý người về sau làm sao cùng là cách thế người làm. Trong ấy người ta biết được các tin tức buôn bán. Ở trên Châu-Đốc Hà-Tiên đều biết được giá hàng tại Saigon Chợ-Lớn. Mà ngồi một chỗ khỏi đi đâu, nên muốn mua muốn bán cũng gặp chầu, lại biết cho đến giá riêng đồ các chợ lớn ở các nơi” (Gia-định báo, số 20, 24/09/1869).

            Mặt khác, trong một thời gian dài, Gia-định báo được dùng làm sách dạy đọc chữ quốc ngữ tại các trường học ở nông thôn. Trên thực tế, chính phủ Pháp lập trường nhưng lại không tập trung soạn sách giáo khoa. Ông hiểu rằng nhắm tới học sinh nhỏ, sẽ tác động được tới cha mẹ của các em. Vì các em thường kể những gì mình học được và nghe được cho gia đình.
            Từ một tờ công báo đơn thuần, ông đã biến Gia-định báo thành một cơ quan truyền bá với ba mục đích chính: truyền bá chữ quốc ngữ, cổ động tân học và khuyến học trong dân. Các mục mới như khảo cứu, nghị luận, gồm các bài dịch thuật, sưu tầm, khảo cứu, sáng tác thơ, văn, lịch sử, truyện cổ tích lần lượt được mở với sự tham gia của các cộng tác viên là trí thức, giáo viên hay công chức… Gia-định báo đã mở đường cho các thể loại văn xuôi Việt Nam in bằng chữ Quốc ngữ, đặt nền móng cho sự hình thành báo chí Việt Nam.
            Dù cổ vũ tân trào, Trương Vĩnh Ký luôn giữ những giá trị truyền thống phương Đông, đặc biệt là trang phục áo dài, khăn xếp. Chính cách ăn mặc giản dị, cũng như thần thái khoan dung của một nhà nho học, lúc đó mới có 25 tuổi, đã khiến Richard Cortembert ngỡ ngàng khi tiếp xúc tại Paris. Ông viết: “Diện mạo của cậu ta (Trương Vĩnh Ký) khác hoàn toàn với những người khác cùng đoàn; – tuy sắc mặt có vẻ xanh xao hơn, mũi tẹt hơn; đôi môi thì dầy, còn gò má thì cao, nhưng vầng trán thì rất rộng làm nổi rõ tính cách quân tử. Trang phục của cậu ta, vô cùng giản dị, gồm một kiểu như váy đen khiến liên tưởng tới váy trùm của thầy tu. Một dải băng dài màu xám cuốn xung quanh đầu và để hé vài sợi tóc đen phía sau
            Tôi nhanh chóng nhận thấy sự thông minh nổi trội và những phẩm chất thanh cao của chàng phiên dịch trẻ, mà giọng nói nhẹ nhàng đầy thiện cảm đã cuốn hút tôi ngay lập tức… Rất dễ để nhận thấy rằng chuyên môn ưa thích của cậu ta là thần học. Cậu ta nói chuyện về chủ đề này, không hề tự phụ, với một cách dẫn giải khó lòng cưỡng lại được. Cậu ta ở đúng bộ môn mình ưa thích, lĩnh vực mà cậu đã trau dồi từ lâu và thấu hiểu tường tận: cậu ta mới chỉ có 25 tuổi!
            Chênh vênh ở thế giữa, ông chọn làm cầu nối trung gian giữa hai nền văn minh Đông và Tây: hai thái cực mà một bên ông ngưỡng mộ, còn bên kia, ông thương yêu gắn bó. Ông tìm cách phổ biến những gì tiên tiến tốt đẹp của phương Tây mà Việt Nam chưa có. Đồng thời, ông vẫn bảo tồn và quảng bá những truyền thống của người Á đông. Gần 200 tác phẩm ông để lại, gồm đủ các loại tiếng, giúp chúng ta phần nào đánh giá được sự nghiệp và lương tâm nghề nghiệp của ông.


THU HẰNG
Tháng 3/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150320-truong-vinh-ky-chiec-cau-noi-dong-tay

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Đang duyệt nduytai

Nam Kỳ, cái nôi của nền báo chí Việt Nam (giai đoạn cuối thế kỷ XIX)

Trương Vĩnh Ký được đánh giá là người sáng lập ra nền báo chí quốc ngữ và Gia-định báo được coi là tờ báo quốc ngữ đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên, trước những mốc lịch sử này, đã có nhiều tờ báo được viết bằng tiếng Pháp, được người Pháp sáng lập để phục vụ công cuộc chinh phục thuộc địa tại Nam Kỳ.

Trang bìa Công báo Nam Kỳ thời thuộc địa Pháp, năm 1881

ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH ngày 08/06/1861 thay thế phó đô đốc Léonard Charner, chuẩn đô đốc Louis-Adolphe Bonard đã thu thập mọi thông tin liên qua tới vùng đất Viễn Đông. Trước khi rời Paris, ngày 03/09/1861, ông giao cho thuyền trưởng Lavaissière de Lavergne, người xuất phát sau ông một tháng, chuẩn bị mọi thiết bị và phương tiện cần thiết để công cuộc bình định được thành công: “như máy điện báo, thợ vận hành, máy in và không quên chữ Nam Kỳ (chữ Nho) và nếu có thể, đào tạo thợ học việc…” Vì vậy, bốn người thợ vận hành máy in, cùng với các trang thiết bị cần thiết (như mực in, giấy, chữ cái…) tới Nam Kỳ trên con tàu của Lavaissière de Lavergne.
            Ngay cuối năm 1861, nhà máy in đầu tiên, Nhà in Hoàng gia (l’Imprimerie Impériale), được thành lập để đáp ứng mọi công việc in ấn và đặc biệt là in các công báo của chính quyền. Trừ Nhà in Nhà chung (l’Imprimerie de la Mission, 1865-1945), chính phủ giữ độc quyền trong lĩnh vực này cho tới khi ban hành sắc lệnh 10/09/1870 về quyền tự do hoạt động trong lĩnh vực in ấn và nghề bán sách. Nhờ đó, một số nhà in tư nhân đầu tiên xuất hiện tại Sài Gòn ngay từ năm 1873.
            Trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX, các ấn phẩm báo chí tại Nam Kỳ có thể được chia ra thành ba nhóm, gồm công báo được viết bằng tiếng Pháp, công báo được xuất bản bằng chữ viết địa phương và ấn phẩm khảo cứu. Tất cả đều nhằm phục vụ chính sách truyền bá của chính phủ thuộc địa.
            Trong tạp chí này, chúng tôi xin chỉ đề cập tới các tờ báo đầu tiên được viết bằng chữ Pháp. Riêng tờ Gia-định báo, một tờ báo được viết bằng chữ quốc ngữ, đã được đề cập nhiều qua hai bài viết về sự nghiệp của Trương Vĩnh Ký và quá trình ông phổ biến loại ký tự la tinh này, nên chúng tôi không đề cập trong tạp chí này.

Những tờ công báo bằng tiếng Pháp
            Ngay cuối năm 1861, tờ công báo đầu tiên tại Nam Kỳ, le Bulletin officiel de l’expédition française de la Cochinchine (tạm dịch, Bản tin chính thức của đoàn quân viễn chinh Pháp tại Nam Kỳ), được phát hành ngay sau khi chuẩn đô đốc Bonard đặt chân tới đây, lúc đó gồm ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường nằm dưới sự quản lý của người Pháp. Trái với người tiền nhiệm, ông cố gắng tránh mọi thay đổi quá lớn hay quá đột ngột đối với người dân địa phương. Chính vì vậy, tờ công báo là công cụ giúp truyền đạt tới những “vị quan cai trị” với người Pháp đường lối, chính sách của vị Thống đốc mới, được đánh giá là ôn hòa.
            Tờ le Bulletin officiel de l’expédition française de la Cochinchine ra khổ tương tự các tờ công báo của Pháp thời kỳ đó và cũng bao gồm “các nghị định, quyết định và thông báo có thể liên quan tới nhân viên hành chính hay binh lính và người nước ngoài sống tại các tỉnh Nam Kỳ nằm dưới sự quản lý của chính quyền Pháp”. Văn bản của các năm 1861 và 1862 được đóng chung thành một tập. Còn những văn bản của tháng 11 và tháng 12 của năm trước được in chung vào năm sau cho tới năm 1866. Tuy nhiên, vì chỉ in bằng chữ Pháp nên công báo chỉ được phổ biến trong giới sĩ quan người Pháp và một cộng đồng nhỏ người bản xứ biết loại tiếng này. Trong một xứ mà đa số người dân sử dụng chữ Hán, tờ công báo trên không phải là một công cụ tuyên truyền hiệu quả.
            Chính vì vậy, chỉ một năm sau đó, năm 1862, tờ le Bulletin des Communes (Cáo trình các Làng xã) ra đời vẫn theo lệnh của Bonard. Điều đáng tiếc là hiện nay, tờ công báo này bị thất lạc. Có cùng mục đích với tờ công báo tiếng Pháp, le Bulletin des Communes được giao tới tận tay quan lại địa phương “nhằm giúp dân chúng hiểu rõ quyền lợi, nghĩa vụ của họ, cũng như những biện pháp cai quản mà người đứng đầu xứ đưa ra nhằm ổn định và giúp đất nước phồn thịnh”. Có rất nhiều ý kiến cho rằng, tờ công báo viết bằng chữ Hán này có lẽ đã thực hiện chức vụ cung cấp thông tin cho quan lại địa phương tới khi tờ Gia-định báo được viết bằng chữ quốc ngữ ra đời (1865).
            Hai năm sau khi tờ le Bulletin des Communes ra đời, ngày 01/01/1864, bán nguyệt san le Courrier de Saigon (Thư tín Sài Gòn), cũng được viết bằng tiếng Pháp, phát hành số đầu tiên dưới sự điều hành của Gaston Amelot. Tờ báo này cũng chỉ đơn thuần là một tờ công báo, trích đăng những thông tin từ tờ Bulletin officiel. Một năm sau, năm 1865, khi công cuộc bình định kết thúc, cùng với việc sáp nhập thêm ba tỉnh Châu Đốc, Hà Tiên, Vĩnh Long, chuẩn đô đốc de la Grandière quyết định đổi tên tờ le Bulletin officiel de l’expédition de la Cochinchine, thành tờ le Bulletin officiel de la Cochinchine française (Bản tin chính thức của Nam Kỳ thuộc Pháp, 1865-1888).
            Thời gian sau đó, các ấn phẩm trên được đổi tên mỗi khi chính quyền thuộc địa mở rộng thêm lãnh thổ. Vì thế, trong khoảng thời gian từ 1889 đến 1901, khi Liên hiệp Đông Dương được thành lập, tờ le Bulletin officiel de la Cochinchine française trở thành “Phần Một” của tờ le Bulletin officiel de l’Indochine française (Bản tin chính thức Đông Dương). Còn “Phần Hai” giành cho Trung Kỳ và Bắc Kỳ, với các tên gọi le Bulletin officiel du Protectorat de l’Annam et du Tonkin (1883-1886), rồi le Moniteur du protectorat de l’Annam et du Tonkin (1886-1888) và cuối cùng, bắt đầu từ năm 1902, thành ba ấn bản độc lập giành cho ba miền: le Bulletin administratif de l’Annam (Công báo hành chính Trung Kỳ), le Bulletin administratif du Tonkin (Công báo hành chính Bắc Kỳ) và le Bulletin administratif de la Cochinchine (Công báo hành chính Nam Kỳ).
            Tương tự, tờ le Courrier de Saigon (1864-1879) được đổi tên thành le Journal officiel de la Cochinchine française (Công báo Nam Kỳ, 1879-1889), trước khi mang tên le Journal officiel de l’Indochine française từ năm 1889 và cũng được chia thành hai phần: Phần một: Cam-Bốt và Nam Kỳ; Phần hai: Trung Kỳ và Bắc Kỳ. Tờ công báo được phát hành một tuần hai lần, đăng tải mọi văn bản chính thức của chính quyền, cũng như biểu giá hàng hóa, quy đổi tiền bạc… Dĩ nhiên, các tổng biên tập (tổng-tài) đều là công chức người Pháp và mãi sau này mới là người bản xứ được chính quyền tin tưởng, như Trương Vĩnh Ký hay Huỳnh Tịnh Của.

Ấn phẩm khảo cứu
            Nhiều tập niên bạ cũng sớm được phát hành tại Sài Gòn ngay từ năm 1865, song tại Bắc Kỳ phải chờ tới năm 1887. Các kỷ yếu của các ban chuyên ngành được thành lập nhằm mục đích nghiên cứu mọi lĩnh vực và mọi mặt văn hóa-xã hội tại thuộc địa. Các ấn bản này nổi tiếng nhờ những khảo cứu, nghị luận mang tính khoa học và có hệ thống, thay vì các công báo với lời văn cụ thể và khô khan.
            Ngay từ năm 1865, tập kỷ yếu của Ủy ban nông nghiệp và công nghiệp Nam Kỳ, (le Bulletin du Comité agricole et industriel de la Cochinchine française) đã xuất hiện và tồn tại tới năm 1881. Mục đích của ấn bản trên là để đăng tải biên bản những cuộc họp, báo cáo của Ủy ban, được thành lập ngày 28/10/1865, cùng với những bài nghiên cứu liên quan tới nông nghiệp và công nghiệp. Đồng thời, đây cũng là nơi để các tác giả, thường là sĩ quan hải quân, các nhà nghiên cứu và một số chủ đồn điền, phản ánh sự đa dạng của các bài nghiên cứu về mọi lĩnh vực: từ khai đồn điền tới các phương pháp canh tác, từ nghiên cứu đất đai của từng vùng tới đặc tính của cây trồng, hay từ nghiên cứu các nguồn khoáng sản tới các phương tiện giao thông vận tải…
            Tập kỷ yếu không được ấn định ngày phát hành mà chỉ phát hành khi có đủ bài viết và được in tại Nhà in Hoàng gia (l’Imprimerie Impériale). Tới năm 1888, tập kỷ yếu này được tái bản khi Ủy ban trên được thành lập ở Bắc Kỳ vào năm 1885, nhằm giới thiệu những nguồn khoáng sản và sản vật của toàn cõi Đông Dương tới nước Pháp.
            Trong khoảng thời gian 1879-1890, một tờ tạp chí khác, Excursions et Reconnaissances, ra đời và được đánh giá là một ấn bản đáng chú ý, với kỹ thuật in ấn và minh họa nổi bật. Nhu cầu khám phá và khai thác vùng thuộc địa mới đã thúc đẩy Thống đốc Le Myre de Vilers cho phát hành tạp chí này nhằm công bố những thông tin có ích để tìm hiểu đất nước và người dân địa phương. Tạp chí này chỉ ngừng phát hành khi vùng đất Nam Kỳ đã trở nên thân thuộc và được nhiều người biết tới.
            Tuy nhiên, vào năm 1893, khi đã mở rộng lãnh thổ tới những vùng còn lại trên bán đảo Đông Dương, chính quyền thuộc địa lại nhận thấy cần quảng bá cho những vùng đất mới, đồng thời để thuyết phục chính phủ Pháp tiếp tục ủng hộ và chu cấp ngân sách cho công việc chinh phục và khai thác thuộc địa. Vì thế, tờ Revue indochinoise illustrée được ra đời tại Bắc Kỳ, tiếp tục mục tiêu của tạp chí Excursions et Reconnaissances.
            Tóm lại, các tạp chí bằng tiếng Pháp xuất bản tại Nam Kỳ trong nửa cuối thế kỷ XIX chỉ được phổ biến trong một cộng đồng thiểu số người Pháp và biết tiếng Pháp. Những ấn bản này nhằm phục vụ hai ý đồ của chính phủ thuộc địa: một mặt, giới thiệu, quảng bá Đông Dương và vùng Viễn Đông tới công chúng Pháp, mặt khác, cung cấp thông tin cho các cộng đồng bị trị.
            Sau thời kỳ độc tôn của báo chí bằng tiếng Pháp do chính phủ phát hành, lần lượt xuất hiện một số tờ báo tư nhân, dù thời gian tồn tại rất ngắn. Như, ngay từ năm 1868, đã xuất hiện tờ Phan Yên Báo của Diệp Văn Cương. Phát hành được 7 hay 8 số, tờ báo nhanh chóng bị đóng cửa sau loạt bài chỉ trích hệ thống khai thác thuộc địa của Pháp, dưới tựa đề: “Đòn cân Archimède” của tác giả Cuồng Sĩ. Ngoài ra, còn có thể kể thêm một vài tờ như Nam Kỳ nhựt trình (le Journal de Cochinchine, 1885) hay Miscellanées (Thông loại khóa trình, 1888) và tờ Nông-cổ mín-đàm (1900). Có thể nhận thấy, hầu hết các tờ báo đều xuất hiện sau năm 1881.
            Thực vậy, đạo luật về tự do báo chí 29/07/1881 được áp dụng tại Pháp và tại các thuộc địa, trong đó có Cam Bốt và Nam Kỳ. Song, theo quy định, chỉ những người mang quốc tịch Pháp và báo chí được viết bằng tiếng Pháp mới được hưởng chế độ tự do này. Mọi ấn phẩm viết bằng bất kỳ ngôn ngữ nào khác chữ Pháp vẫn phải xin phép phát hành và chịu chế độ kiểm duyệt trước. Tuy nhiên, dù tôn trọng những quy định trên, như về quốc tịch chủ sở hữu tờ báo và ngôn ngữ được dùng trong tờ báo, rất nhiều tờ báo vẫn bị trừng phạt và buộc phải giải tán. Song điều này không ngăn cản được họ tái bản ấn phẩm của mình dưới một tên gọi khác để… tiếp tục chỉ trích chính quyền thuộc địa.


THU HẰNG
Tháng 7/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150717-nam-ky-cai-noi-cua-nen-bao-chi-viet-nam-giai-doan-cuoi-the-ky-xix

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Đang duyệt nduytai

Trương Vĩnh Ký và những nỗ lực phổ biến chữ quốc ngữ cuối thế kỷ XIX

Trong suốt cuối thế kỷ XVI và nửa đầu thế kỷ XIX, chữ quốc chỉ được dùng trong mục đích truyền giáo. Đây là loại kí tự dùng chữ cái La tinh để ghi lại tiếng nói của người Việt. Công trình này lần lượt được các nhà truyền giáo dòng Tên khởi nguồn và hoàn thiện, từ Gaspard d’Amaral và Antonio Barbosa, hai giáo sĩ dòng Tên người Bồ Đào Nha, cho tới Alexandre de Rhodes (cha Đắc Lộ) hay Pigneaux de Béhaine (cha Bá Đa Lộc), người Pháp.

Pétrus Ký và các học trò

KHI MỚI đặt chân tới Tourane (Đà Nẵng) vào năm 1624, cha Đắc Lộ đã không khỏi ngạc nhiên khi nghe người bản địa, đặc biệt là phụ nữ, nói như “chim hót” và đã từng nghĩ không thể nào học được tiếng nói này. Sau này, chính ông là người đã hệ thống hóa và phổ biến loại chữ viết La tinh, vừa dễ học vừa nhanh hơn so với chữ Hán và chữ Nôm. Tuy nhiên, chữ quốc ngữ được hoàn thiện như ngày nay là nhờ vào công sức của cha Bá Đa Lộc trong khoảng cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX.
            Sau khi chiếm được Sài Gòn và bắt đầu công cuộc khai thác, chữ quốc ngữ trở thành công cụ hữu ích cho chính sách đô hộ. Chính quyền Pháp muốn sử dụng loại chữ viết này để cắt hẳn mọi liên hệ giữa người dân Nam Kỳ, giờ đây nằm dưới sự cai trị của người Pháp, với nền văn minh Trung Hoa, tiếp theo là phổ biến học thuật Pháp và đồng hóa dân bản địa.
            Trong thư văn đề ngày 15/01/1866 gởi cho thống đốc Sài Gòn, giám đốc nội vụ Paulin Vial có viết: “Từ những ngày đầu người ta (Pháp) đã hiểu rằng chữ Hán còn là một ngăn trở giữa chúng ta và người bản xứ; sự giáo dục bằng thứ chữ tượng hình khó hiểu làm chúng ta rơi tuột hoàn toàn; lối viết này chỉ tổ khó cho việc truyền đạt đến dân chúng những điều tạp sự cần thiết có liên quan tới khung cảnh của nền cai trị mới cũng như cho việc thương mại… Chúng ta bắt buộc phải theo truyền thống nền giáo dục riêng của chúng ta; đó là cách duy nhất khiến chúng ta có thể gần gũi người An Nam thuộc địa hơn, ghi vào tâm não họ những manh mối của nền văn minh Âu châu đồng thời cô lập họ khỏi ảnh hưởng đối nghịch của các lân quốc của chúng ta”.
            Tuy nhiên, các đô đốc Pháp nhanh chóng hiểu rằng rất khó thay đổi được một đất nước chịu ảnh hưởng của Khổng giáo và lòng trung thành sâu sắc của người dân đối với triều đình. Họ chú ý tăng cường ảnh hưởng của Pháp tới đời sống và phong tục của người Nam Kỳ. Để thực hiện thành công chính sách cai trị và “mị dân”, các “quan” Pháp được khuyến khích học chữ hán, chữ quốc ngữ, nghiên cứu phong tục tập quán, ngôn ngữ và lịch sử của Việt Nam. Chính vì thế, rất nhiều tài liệu bằng tiếng Pháp và tiếng Việt mang tính chuyên môn cao được các “học giả” quân sự dịch và soạn thảo trong giai đoạn này.
            Mặt khác, họ đưa chữ quốc ngữ ra khỏi khuôn khổ của Giáo Hội để phổ biến trong dân. Ngay từ năm 1864, các trường tiểu học quốc ngữ được thành lập tại các trung tâm quan trọng nhất và các làng công giáo. Mục đích chính là nhằm đào tạo một thế hệ công chức tương lai tận tâm với nước Pháp, đồng thời cắt đứt ảnh hưởng của Nho giáo. Bắt đầu từ năm 1882, chữ quốc ngữ được dùng là văn tự chính thức trong giao dịch, giấy tờ hành chính, tư pháp và thương mại của nhà cầm quyền thuộc địa. Các quan địa phương phải học chữ quốc ngữ và chỉ được thăng chức hay giảm thuế nếu biết đọc, biết viết loại văn tự này.

Biên soạn giáo trình dạy chữ quốc ngữ
            Về phần mình, từ khi được bổ nhiệm làm chánh tổng tài tờ Gia-định báo (16/09/1869), Trương Vĩnh Ký có cơ hội để phát triển sự nghiệp dịch thuật và viết văn. Đây cũng là vị trí và công cụ giúp ông phổ biến rộng rãi hơn chữ quốc ngữ. Thái độ ủng hộ việc truyền bá học thuật bằng kí tự La tinh này đã được ông thể hiện với Richard Cortembert ngay từ chuyến công du sang Pháp.
            Sau này, lợi ích và vai trò của nó còn được ông nhấn mạnh trong cuốn Manuel des écoles primaires (Giáo trình cho các trường tiểu học, 1876) như sau: “Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà. Cần phải nắm vững nó cho điều tốt đẹp và cho sự tiến bộ. Vì thế, chúng ta phải tìm mọi cách để phổ biến chữ viết này”. Ông cho rằng loại chữ viết đơn giản, dễ học này sẽ là phương tiện hiệu quả để tiếp thu những kiến thức mới vì ba lý do: Thứ nhất, do nạn mù chữ đại trà trong dân, tiếp theo là chữ Hán sẽ không còn có ích một khi người Pháp cai trị Nam Kỳ và cuối cùng, chỉ cần ba tháng là có thể biết đọc và viết chữ quốc ngữ.
            Ngoài ra, ông còn khuyên nhủ người học như sau:

            “Sách nầy là sách rút tóm lại những đều đại-cái người ta phải học, để cho con trẻ mới vô trường, học những đều đại lược mà phá ngu, cho đặng đến sau khi vào trường chung nghe dạy nghe giải rộng các đều ấy thì mau hiểu hơn là một; hai nữa là để mà tập coi, tập đọc tập viết tiếng Annam trong chữ quốc-ngữ cho trúng tiếng, cho nhằm giọng, phân biệt ra cho rõ-ràng.
            Khuyên các trò hãy bớt tính ham chơi, mà chuyên việc học-hành, chữ-nghĩa, văn-chương cho được vào đường công-danh với người-ta cho sớm, trước là cho đặng đẹp mặt nở mày cha mẹ, giúp đời dạy dân, sau là cho mình được công thành danh toại, thơm danh, tốt tiếng ở đời”.

            Dù tên sách viết bằng tiếng Pháp nhưng đây là bộ giáo án giành cho giáo viên, gồm hai phần, phần một là “phép học chữ quốc ngữ, lịch sử An Nam và Tàu”, và phần hai gồm “các khái niệm khoa học cơ bản”. Trong đó, Trương Vĩnh Ký giải thích cách tổ chức một buổi lên lớp, các hoạt động hay cách đánh giá học sinh.

            “Hễ trò nào mới vô thì phóng vở theo đã ra trước nầy, giao cho nó, cấp cho một trò cũ đã biết mà nhác-biểu chỉ-vẽ cho nó.
            Phân lớp ra mà dạy cho dễ: Như học-trò đã biết viết, biết đọc thì bát nó viết mò, bát đọc một đoạn sách cho lẹ cho xuôi. Viết mò thì lấy những tuồng, văn, thơ, phú, mà nói cho nó viết, viết rồi thì thầy coi mà sửa lại cho nó, cho chính câu chính chữ.
            Còn mỗi bữa học, bát nó kiếm câu hát, câu đối, lời phương ngôn tục ngữ, diêu ngôn vân vân, mà viết ra một đâu câu chẳng hạn, đem tới nộp cho thầy sửa, góp những cái ấy lại, để một nơi.
            Dạy toán thì trước hết dạy bốn phép, cộng, trừ, nhơn, chia, cho rõ. Rồi cứ ra bài đố cho nó mần cho quen. Dạy phép đo cũng vậy… Những tập nó học nó viết mỗi bữa học thì thầy sửa rồi đề ngày vô cho nó, cho dễ xét đứa nào trễ-nải, đặng như quan có đòi thì thầy có sẵn mà nộp cho quan”.

            Một giáo trình khác được Trương Vĩnh Ký biên soạn nhằm chủ yếu vào giới quan lại địa phương khi có nghị định bắt buộc dùng chữ quốc ngữ trong các văn bản hành chính. L’Alphabet quốc ngữ en treize tableaux avec des exercices de lecture (Vần quốc ngữ thông qua 13 bảng và các bài tập đọc, 1887) giúp các quan học loại chữ viết này trong một thời gian ngắn. Tám bảng đầu dạy học nguyên âm và phụ âm cùng với sáu thanh điệu và cách ghép vần. Các bảng còn lại gồm các bài tập đọc, từ đơn giản tới phức tạp.

Sưu tầm-chuyển ngữ
            Song song với việc soạn giáo trình, Trương Vĩnh Ký dùng chữ quốc ngữ ghi lại những cuốn sách Tàu và những tác phẩm được viết bằng chữ nôm. Trên thực tế, hai loại chữ tượng hình trên dần dần bị sao nhãng và ngày càng có ít người sử dụng. Chữ Hán chỉ giành cho một bộ phận nhỏ gồm các nhà nho và quan lại. Trong khi đó, chữ Nôm còn phức tạp hơn do mượn Hán tự. Vì vậy, cần phải biết chữ Hán mới có thể học được loại chữ này.
            Hơn nữa, Trương Vĩnh Ký cho rằng văn học Việt Nam mới chỉ có thơ ca với nhiều thể loại khác nhau, song không có văn xuôi và các loại khảo cứu, nghị luận. Dịch thuật là một cách giúp học làm văn và làm giàu từ vựng tiếng Việt. Chính vì thế, không có gì ngạc nhiên khi một phần ba trong tổng số 118 tác phẩm của ông là các công trình dịch thuật.
            Vấn đề phiên dịch các tác phẩm Tàu ra thể văn vần chữ quốc ngữ cũng đã được Luro, một thanh tra bản xứ sự vụ, trong bản báo cáo ngày 06/01/1873, đề xuất: “Từ lâu, tôi thỉnh cầu một cách vô hiệu rằng người ta phải phiên dịch, dưới sự chăm sóc của một hội đồng có đủ quyền hành, lịch sử nước An Nam và những sách cao quí triết lý của Trung Hoa. Người dân ít nghe tiếng Quan thoại, họ sẽ rất sung sướng có được những cuốn sách dịch bằng ngôn ngữ thường ngày của họ một cách thanh nhã. Họ sẽ mua, sẽ đọc những cuốn sách đó. Trong số các thừa sai và viên chức của chúng ta, chúng ta có nhiều người có đủ khả năng để hoàn thành những sách dịch thanh nhã từ tiếng Quan thoại ra tiếng nói hàng ngày”.
            Như vậy, cả chính phủ Pháp và Trương Vĩnh Ký đều tận dụng thời cơ để phổ biến chữ quốc ngữ. Chính quyền Pháp muốn “mượn tay” những công chức Pháp hóa để tách rời dân chúng khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Còn Trương Vĩnh Ký thì hoàn toàn tin vào chính sách khai hóa của nước Pháp. Và, theo ông, công cụ duy nhất để có thể đạt tới trình độ “Học thuật Châu Âu” là chữ quốc ngữ. Chính vì thế, ông tìm mọi cách để loại chữ viết La tinh này được phổ biến rộng rãi tới các tầng lớp dân chúng.
            Từ khi chữ quốc ngữ trở thành văn tự chính thức tại Nam Kỳ vào năm 1882, ông chuyển ngữ ngay nền văn chương truyền khẩu bình dân, gồm những áng văn vần và chuyện dân gian rất được ưa chuộng, như: Phép lịch sự Annam (1881), Thơ dạy làm dâu (1882), Thơ mẹ dạy con (1882), Nữ tắc (1882), Thạnh suy bỉ thới phú (1883), Cờ bạc nha phiến (1884), Ngư tiều trường điệu (1884)… Trong cuốn Nhà văn hiện đại, Vũ Ngọc Phan đã nhận định rất đúng khi viết: “Hồi đó, ông (Trương Vĩnh Ký) cần phải xuất bản như thế, cốt dùng những chuyện phổ thông làm cái lợi khí cho chữ quốc ngữ được lan rộng trong nhân gian…”
            Tất cả đều được bán với giá rất hợp lý. Thường những tập dày 7 đến 10 trang, được bán với giá từ 35 đến 50 xu franc và từ 1 đến 2 franc đối với những tập dày trên hai mươi trang.

Viết văn
            Thông qua những bản dịch, lần đầu tiên một loại hình văn học mới được đưa vào Việt Nam. Đó là văn xuôi, với nhiều thể loại khác nhau, như tiểu luận, kí sự hay tiểu thuyết. Tại thời kỳ đó, thể loại này còn chưa được ưa chuộng và không được coi là “văn học”, vì người ta cho rằng văn xuôi viết bằng chữ quốc ngữ ngang như lời nói. Công bằng mà nói, lời nhận xét khá đúng, vì ngôn từ và cách hành văn trong các tác phẩm thời đó thiếu trau chuốt và tự nhiên như văn của thế hệ sau này.
            Bài văn xuôi đầu tiên do Trương Vĩnh Ký biên soạn, dài khoảng bẩy trang, xuất hiện trên tờ Gia-định báo vào năm 1863, dưới tựa đề Ghi về vương quốc Khơ Me (1863). Phải chờ tới năm 1881, Trương Vĩnh Ký viết một tập bút kí khác, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi (1876), công phu hơn và trau chuốt hơn. Tuy nhiên, ông phải mượn rất nhiều từ Hán để có thể miêu tả tỉ mỉ chuyến đi này. Không bàn tới mục đích của chuyến công du Bắc Kỳ của Trương Vĩnh Ký, ở đây chúng ta chỉ quan tâm sau chuyến đi này, ông viết một bản hồi kí ghi lại những kỉ niệm, những điều “mắt thấy tai nghe”, vị trí địa lý, lịch sử, những phong tục tập quán của những địa phương nơi ông đi qua.
            Ví dụ văn phong trong một đoạn miêu tả “Chợ” ở Bắc Kỳ: “Chợ-búa nội cả tỉnh cũng nhiều lắm. Mà chợ lớn có tiếng và đủ đồ hơn hết tại Bắc-kỳ, thì là những chợ kể trong câu ví nầy: Xứ Nam là chợ Bằng Vồi; xứ bắc Giâu, Khám, xứ đoài Xuân Canh; nghĩa là tỉnh Hà-nội, Hưng-yên, Ninh-bình, Nam-định là phía nam, thì có chợ Bằng, chợ Vồi có tiếng hơn hết. Còn bắc là Bắc-ninh, thì có chợ Giâu, chợ Khám; xứ đoài là trên Sơn-tây thì là chợ Thâm-xuân-canh”.
            Một nhà nghiên cứu nhận xét đây là “một trong vài tác phẩm viết bằng chữ quốc ngữ sớm nhất của thế kỷ XIX, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi để lại nhiều dấu ấn ngôn ngữ với những phương ngữ, tiếng Việt cổ có giá trị về mặt ngôn ngữ. Câu văn khúc chiết, sinh động chứng tỏ năng lực viết văn xuôi quốc ngữ của tác giả trong buổi sơ khai của loại chữ mới mẻ này”.
            Tới năm 1918, quốc ngữ trở thành chữ viết bắt buộc tại Bắc Kỳ. Từ giai đoạn này trở đi, các nhà trí thức trẻ không ngừng trau dồi, phát triển và phổ biến nền văn học hiện đại Việt Nam. Năm 1954, quốc ngữ trở thành chữ chính thức của các cơ quan hành chính Việt Nam. Điều này đã khẳng định tiên đoán cũng như mong muốn của Trương Vĩnh Ký vào năm 1876: “Chữ quốc ngữ phải trở thành chữ viết của nước nhà”.


THU HẰNG
Tháng 3/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150327-truong-vinh-ky-vn

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Đang duyệt nduytai

Gian nan phổ biến chữ quốc ngữ tại Nam Kỳ (1862-1871)

Khi tới Nam Kỳ vào năm 1858, quân đội Pháp cần một số phiên dịch để phục vụ công việc hành chính hàng ngày và làm cầu nối giữa chính quyền với người dân địa phương. Tại thời điểm này, việc dạy và học chữ quốc ngữ chỉ phổ biến trong môi trường truyền đạo của các giáo sĩ phương Tây, đã có mặt tại vùng đất này từ thế kỷ thứ XVII. Hội Thừa Sai (Société des Missions étrangères) nắm rõ phong tục tập quán địa phương và quản lý hai chủng viện tại Sài Gòn. Đây là nguồn cung cấp phiên dịch đầu tiên cho các đô đốc Pháp và trong suốt quá trình bình định Nam Kỳ.

Một trường học sinh bản địa Việt Nam dưới thời thuộc địa Pháp

Chữ quốc ngữ và âm mưu đồng hóa
            Cho tới năm 1871, chính quyền Pháp và Giáo hội liên kết với nhau trong vấn đề giáo dục. Trường Thông ngôn đầu tiên (le Collège des Interprètes) được thành lập năm 1860 theo yêu cầu của Đô đốc Charner, trước cả khi ký kết Hòa ước Nhâm Tuất (05/06/1862) tại Sài Gòn, mục đích là đào tạo người giúp việc địa phương và trợ lý thông dịch qua các kỳ thi tuyển. Vì vậy, chương trình đào tạo này hoàn toàn mang tính hành chính, chứ không mang tính chất giáo dục. Tiếp theo, hai trường học khác cũng lần lượt ra đời, một trường thông ngôn giành cho người châu Âu (08/05/1862) và một trường dạy chữ Hán cho con em quan lại địa phương hoặc các gia đình giàu có trong vùng nhằm mục đích làm cầu nối giữa chính phủ và giới trí thức, quan lại địa phương.
            Giáo dục phổ thông tiếp tục được giao cho các nhà truyền giáo và tập trung tại ba trường thuộc sự quản lý của Giáo hội, là Chủng viện của Hội Thừa sai, tu viện Sainte-Enfance (l’Œuvre de la Sainte-Enfance) và trường Giám mục Adran (le Collège de l’Evêque d’Adran). Ba trường này được tổ chức lại để đáp ứng việc cung cấp nguồn viên chức tương lai tận tâm phục vụ nước Pháp, đồng thời nhằm cắt đứt ảnh hưởng của tầng lớp quan lại và văn sĩ để tạo điều kiện cho việc đồng hóa người Việt.
            Kế hoạch trên bị gián đoạn trong vòng ba năm khi Đô đốc Bonard làm thống đốc Nam Kỳ (1861-1864). Vị Đô đốc này cho rằng phải tiếp tục duy trì việc dạy chữ Nho và giáo dục truyền thống để người dân cảm thấy “thoải mái” một chút dưới sự cai quản của những “chủ nhân” mới. Ông quyết định tiếp tục dùng chữ Nho là kí tự chính tại Nam Kỳ. Ngoài ra, theo ông, chính quyền sẽ mắc sai lầm nếu để người Pháp thay thế quan lại bản địa. Việc này chỉ làm tăng thêm lòng căm phẫn của người dân và quan lại đối với chính quyền mới. Vì vậy, ông tiếp tục duy trì chế độ giáo dục và khoa cử truyền thống, không bắt buộc học chữ quốc ngữ, nhưng sẽ ưu tiên những người biết loại chữ viết này.
            Thế nhưng, tinh thần tôn trọng các truyền thống bản địa của Đô đốc Bonard không thuyết phục được Giáo hội. Các nhà truyền giáo luôn bảo vệ quan điểm phổ biến Thiên chúa giáo và chữ quốc ngữ là những biện pháp duy nhất để đồng hóa người Việt. Ngoài ra, “tính ưu việt về trí tuệ mà giáo dục mang lại cho những đứa trẻ, hay chức vụ mà sau này chúng sẽ đảm nhiệm trong xã hội, sẽ giúp việc xây dựng lòng kính trọng của học sinh đối với ảnh hưởng của nước Pháp. Mở trường học là biện pháp tốt nhất để khai thác thuộc địa và truyền bá tôn giáo”.(1)
            Từ năm 1864, chuẩn đô đốc La Grandière, thay người tiền nhiệm Bonard, cho dạy song song hai kiểu chữ viết: chữ Hán và chữ Quốc ngữ. Các trường dạy chữ Hán tiếp tục được duy trì một cách tự phát tại nông thôn. Mỗi làng có thể tự do mở trường và mời thầy về dạy cho con trẻ. Thầy có thể là một ông đồ già hoặc cũng có thể là một nhà nho không đỗ đạt thi cử. Một số làng cấp ruộng cho gia đình thầy giáo, coi như tiền thù lao. Ngoài ra, khi tới xin học, gia đình học trò thường chuẩn bị một chút lễ nhập môn, hay biếu quà tạ ơn vào các dịp lễ tết.
            Các trường tiểu học dạy chữ quốc ngữ được mở tại các trung tâm quan trọng hay tại các làng Công giáo và tiếp tục nằm dưới sự quản lý của Giáo hội. Học sinh được được ăn ở miễn phí và theo học chương trình giống phương Tây. Do giáo dục bắt buộc, nên số lượng trường học và học sinh tăng theo từng năm. Cuối năm 1864, có khoảng 20 trường với chừng 300 học sinh; năm 1865, số trường lên tới 30 với khoảng 1.000 học sinh theo học và tháng 03/1869, có tới 104 trường với 3.000 học sinh.

Những hạn chế của việc phổ cập chữ quốc ngữ
            Để tránh bị chỉ trích, quan lại địa phương tiến hành nhiều biện pháp “bắt buộc” theo đúng nghĩa đen, để đạt được những con số khả quan trên. Các làng tuyển học sinh như tuyển lính, bằng việc trợ cấp cho gia đình học sinh. Thực ra, khoản tiền này được trích từ nguồn thu thuế, như vậy, thay vì được hưởng lợi, người dân sẽ phải nộp thuế nhiều hơn để bù cho thâm hụt ngân sách của nhà nước.
            Cả chính phủ và Giáo hội đều băn khoăn về phương pháp giáo dục đang thực hiện, dẫu biết rằng mục đích chính là tách người Việt Nam khỏi những truyền thống và ảnh hưởng của nền Nho giáo có từ lâu đời. Tuy nhiên, chính quyền thuộc địa lại không thiết kế được một chương trình giáo dục đầy đủ, phù hợp với trình độ của người học và nhu cầu của địa phương.
            Ngoài ra, việc cả hai thể chế, chính phủ và tôn giáo, đồng quản lý cũng là một cản trở cho việc phát triển giáo dục và phổ biến chữ quốc ngữ. Thực vậy, chính sách giáo dục với mục đích tôn giáo được thể hiện rõ trong bức thư của cha Wibaux viết cho đô đốc Bonard (02/12/1863): “Trường học sẽ không chỉ là những cơ sở dạy tiếng Pháp và kiến thức thông thường, mà còn phải là nơi đào tạo tư tưởng tôn giáo”. Trong khi đó, chính quyền thuộc địa lại hấp tấp và nôn nóng muốn có ngay một đội ngũ giúp việc tận tình và Tây hóa. Không có kinh nghiệm và khả năng tổ chức giáo dục, chính phủ thuộc địa bị thụ động, gần như phụ thuộc hoàn toàn vào hoạt động của Giáo hội.
            Lý do thứ hai chính là chất lượng và số lượng giáo viên đứng lớp. Số lượng giáo viên không đủ đáp ứng số lượng học sinh ngày một tăng. Đô đốc La Grandière quyết định để học sinh các trường phiên dịch lên lớp hai giờ mỗi tuần. Những “giáo viên” trẻ này chỉ được đào tạo cấp tốc trong khoảng thời gian bình định Nam Kỳ, đủ trình độ đọc-viết và làm đủ bốn phép tính cơ bản. Họ thiếu kinh nghiệm và không nắm được các phương pháp giảng dạy truyền thống. Còn những giáo viên được tuyển từ trường dòng, thì chỉ tập trung một mục đích duy nhất, là truyền đạo.
            Có lẽ những giáo viên trẻ này chỉ đứng lớp vì nhận được số tiền trợ cấp hấp dẫn. Lương mỗi ngày đứng lớp là một franc, thêm vào đó là khoản tiền thưởng một franc cho mỗi học sinh biết đọc và viết, 50 xu nếu học sinh chỉ biết đọc. Về phía học sinh, những người biết đọc và viết nhận được một franc tiền thưởng, và khoản tiền này còn dao động tùy theo tâm huyết của học sinh.
            Thiếu sách giáo khoa là nguyên nhân thứ ba giải thích chương trình giảng dạy nghèo nàn. Chính phủ cho lập trường học nhưng lại không in sách giáo khoa do quá vội vàng trong khâu chuẩn bị, nhưng cũng có thể do “ỷ lại” vào Giáo hội. Học sinh học đọc thông qua tờ Gia-định báo, cũng nghèo nàn về thông tin và văn phong. Khi học xong, chúng không còn sách báo hay bất kì tài liệu nào để tiếp tục học tập.
            Trong một giáo trình dạy công chức Pháp, Eliacin Luro, một cựu quan chức Pháp tại Nam Kỳ, hồi tưởng: “Chúng ta đã phá hỏng tất cả… Sau một, hai năm, học sinh chỉ biết đọc và viết chữ quốc ngữ dưới sự hướng dẫn của các giáo viên chỉ ngang tuổi của chúng. Theo giáo dục truyền thống, học đọc và viết đồng nghĩa với việc học và tiếp thu được kiến thức đạo đức, lịch sử. Thế nhưng, với hệ thống của chúng ta, học trò học đọc và viết qua vài cuốn sách và truyện ngụ ngôn mà bản thân thầy giáo cũng không đủ khả năng rút ra bài học đạo đức để giảng giải cho chúng
            Trở về nhà, đứa trẻ khiến toàn bộ gia đình ngạc nhiên vì thiếu hiểu biết. Chúng vất hành trang vô ích đã học được vào góc vì những kiến thức này chẳng phục vụ cho cuộc sống hàng ngày. Đứa trẻ mất một khoảng thời gian quý hiếm vì giáo dục, nếu quay lại học chữ Nho, thì ở tuổi của chúng, đã quá trễ, vì còn phải làm việc đồng áng. Trên thực tế, các trường tiểu học của chúng ta gần như không đạt được kết quả gì”.

Phương hướng giải quyết
            Câu hỏi được đặt ra lúc đó là liệu có nên xóa bỏ việc dạy chữ quốc ngữ hay không? Dĩ nhiên là không. Tuy nhiên, cần phải có những giải pháp phù hợp với việc dạy và học loại chữ này để đạt được hiệu quả.
            Giải pháp thứ nhất là không mở thêm trường học mới, xóa bỏ các trường ít học sinh theo học, đồng thời nâng cao trình độ của giáo viên. Ngoài chữ quốc ngữ, giáo viên phải học thêm Hán tự để có thể dạy cả hai loại chữ viết này. Trên thực tế, chính phủ Pháp hiểu rằng không dễ gì loại bỏ ngay Hán tự khỏi các thủ tục hành chính và cuộc sống hàng ngày. Và loại chữ viết tượng hình này sẽ còn được dùng trong vòng vài chục năm nữa.
            Giải pháp thứ hai liên quan tới các trường tự do, giáo viên dạy chữ Hán phải thông thạo chữ quốc ngữ để dạy lại cho học sinh, song song với chương trình dạy học thông thường. Eliacin Luro viết, để đạt được kết quả mong đợi, “chỉ cần dụ dỗ họ bằng một khoản tiền thưởng chừng hai hoặc ba trăm franc hàng năm”.(2) Ông cho rằng việc yêu cầu các giáo viên trường làng học chữ quốc ngữ không có gì là khó. Vì họ chỉ cần hai đến ba tháng là có thể nắm vững loại chữ viết này, đến chừng sáu tháng, họ hoàn toàn có thể dạy lại được cho học sinh. Hơn nữa, chỉ cần dạy chữ quốc ngữ mỗi ngày một giờ mà nhận được tới hai hoặc ba trăm franc, thì ai cũng muốn quay sang dạy chữ quốc ngữ.
            Ý đồ này chỉ có lợi cho chính quyền thuộc địa. Thứ nhất, chính phủ sẽ tiết kiệm được một khoản tiền rất lớn. Thay vì phải đầu tư cho nền giáo dục, thực dân Pháp lợi dụng hệ thống trường làng do ngân quỹ của làng và gia đình học trò đóng góp. Ngoài ra, thay vì phải thưởng cho mỗi gia đình có con em đi học, nhà nước chỉ phải trả một khoản “lương” hàng năm không đáng kể cho thầy giáo.
            Thứ hai, khi việc dạy chữ quốc ngữ trở nên phổ biến tại các trường tự do, nhà nước sẽ áp dụng chính sách bắt buộc dạy và học chữ quốc ngữ, đồng thời dần xóa bỏ các trường học dưới sự quản lý của nhà nước để giảm bớt gánh nặng ngân sách. Như vậy, chính quyền thực dân gần như không phải đầu tư một khoản kinh phí nào cho nền giáo dục.
            Giải pháp thứ ba, đưa chữ quốc ngữ vào chương trình học và các kỳ thi tuyển. Các quan Đốc học cũng được yêu cầu học loại ký tự viết theo bảng chữ cái la tinh. Ở điểm này, người Pháp cũng rất tinh ý và tính toán kỹ lưỡng. Họ hiểu rằng, một khi đã nắm vững chữ viết này, nhà nho và quan lại sẽ là những người đóng góp rất nhiều vào việc chỉnh sửa và làm giàu vốn từ vựng của “tiếng nói nôm na” bình dân. Thực vậy, họ sẽ là những người dịch ra chữ quốc ngữ các tác phẩm lịch sử, đạo đức hay triết học được viết bằng chữ Hán. Người Việt nổi tiếng ham tìm tòi và học hỏi nên những cuốn sách được viết bằng chữ quốc ngữ sẽ thu hút được nhiều độc giả.
            Chỉ khi nào chữ quốc ngữ được phổ biến rộng rãi trong dân thì mới loại được chữ Hán khỏi cuộc sống hàng ngày. Chính quyền Pháp hiểu được vấn đề này và từng bước cải cách hệ thống giáo dục bắt đầu từ năm 1871. Tại Nam Kỳ, từ 1871 đến 1890 là khoảng thời gian để chính phủ thử nghiệm nhiều cải cách khác nhau, đặc biệt hình thành một nền giáo dục tự do, độc lập với Giáo hội, miễn phí và không bắt buộc. Các trường thuộc Giáo hội tiếp tục nhận được trợ cấp của chính phủ tới năm 1882.


THU HẰNG
Tháng 6/2015
____________________________________
(1) CAOM, GGI, hồ sơ 12203: Ghi chép về giáo dục tiểu học tại thuộc địa ngày 02/12/1863 của cha Wibaux gửi tới Đô đốc Bonard.
(2) E. Luro, Cours d’administration (Giáo trình hành chính), bản viết tay.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150605-gian-nan-pho-bien-chu-quoc-ngu-tai-nam-ky-1862-1871

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Đang duyệt nduytai

“Nông-cổ mín-đàm”, tờ báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam

Tại Nam Kỳ, trước năm 1881, các thể loại báo chí đều phải được chính quyền cho phép trước khi phát hành. Điều kiện tiếp theo là chủ tờ báo phải là người mang quốc tịch Pháp. Từ khi luật tự do báo chí 29/07/1881 được ban hành và áp dụng tại Nam Kỳ thuộc địa của Pháp, mọi công dân Pháp từ 18 tuổi có quyền tự do in ấn và phát hành báo chí bằng bất kỳ ngôn ngữ nào. Tuy nhiên, người Việt Nam, chiếm đa số tại Nam Kỳ không được hưởng quy chế này.
 
Nông-cổ mín-đàm (Causeries sur l’agriculture et le commerce), 01/08/1901-11/1924

THẾ NHƯNG, đạo luật tự do báo chí trên nhanh chóng bị hạn chế bởi sắc lệnh 30/12/1898. Theo đó, các tờ báo được in bằng bất kỳ ngôn ngữ nào ngoài tiếng Pháp phải được chính phủ cho phép trước. Giấy phép hoàn toàn có thể bị thu hồi trong trường hợp vi phạm những điều khoản quy định.
            Chính vì vậy, báo chí tiếng Việt gần như vắng bóng trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX. Ngoài những quy định hạn chế tự do báo chí, việc người Pháp nắm độc quyền trong lĩnh vực này cũng là một lý do quan trọng giải thích hiện tượng trên. In ấn, xuất bản và báo chí là các ngành được du nhập từ Pháp nên, ngoài kỹ thuật in mộc bản thủ công, người Việt không có một chút kinh nghiệm nào. Hơn nữa, chi phí thực hiện những công việc trên vô cùng tốn kém. Đây cũng là lý do giải thích tại sao chỉ có những nhà in và những tờ báo của Chính phủ mới tồn tại được sau khi công cuộc bình định Nam Kỳ kết thúc, trước khi một số tờ báo và nhà in tư nhân Pháp ra đời trong những năm tiếp theo.
            Trong suốt hơn 35 năm, làng báo chữ quốc ngữ chỉ biết đến tờ Gia-định báo (15/04/1865-31/12/1909), và sự tồn tại ngắn ngủi của hai tờ Phan Yên báoNhựt-trình Nam-Kỳ (có rất nhiều ý kiến khác nhau về ngày phát hành số đầu tiên của hai tờ báo này). Phải tới năm 1901, Sài Gòn mới có thêm một tờ báo viết bằng chữ quốc ngữ khác, tờ Nông-cổ mín-đàm (Causeries sur l’agriculture et le commerce, 08/1901-11/1924).

Nông-cổ mín-đàm: tờ báo kinh tế đầu tiên
            Tên của tờ Nông-cổ mín-đàm được in lớn trên trang nhất bằng ba loại chữ, Quốc ngữ, Hán và Pháp, với ý nghĩa: “uống trà bàn chuyện làm ruộng và đi buôn”. Đây được coi là tờ báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam.
            Mục đích của việc xuất bản tờ báo được nêu rõ ở lời tựa, trong số 1: “Hai mươi năm chẳng ở miền Nam thổ, nay đã tiêm thành cơ chỉ qui mô. Đường thiên lý lục tỉnh dẫu khác đạo cang thường lễ nghĩa như nhau, nơi nơi cũng “Tạo doan hồ phu phu”. Việc hiếu-sự nay đà rang rảnh tình thê nhi thêm lại rịch ràng. Vậy nên công sự từ hưu, vui theo thú thê trì nông-cổ. Thương Nam thổ dường như cố thổ, mến Nam nhơn quá bằng Tây nhơn, muốn sao cho nông-cổ phấn hành, sanh đại lợi cùng nhau cộng hưởng. Vậy ra sức lập nên nhựt báo thông tình nhau mà lại rộng chỗ kiến văn, lần lần liệu ta cử đồ đại sự.
            Trong Đông cảnh Cao-ly, Nhựt-bổn, nước Xiêm-la cùng nước Đại-thanh đâu đâu cũng đều có công văn nhựt báo. Há Lục tỉnh anh hùng trí dõng, lại khoanh tay ngồi vậy mà xem, không thi thố cùng người mà trục lợi.
            Nay nhờ lượng quan trên nghị chuẩn, cho ấn hành Nông-cổ mín-đàm. Vậy xin lục dịch lảm tàng, mà gắn sức giúp
”.
            Báo có tám trang, phát hành thứ Năm hàng tuần tại Sài Gòn, sau này được tăng lên mỗi tuần ba kỳ. Ban đầu, trụ sở của tòa soạn đặt ở số 84 đường La Grandière, Sài Gòn. Sau đó, trụ sở liên tục thay đổi trước khi tọa lạc tại số 12 đường Cap Saint-Jacques, Sài Gòn.
            Số đầu tiên được phát hành ngày 01/08/1901. Thế nhưng, theo sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer, ký ngày 14/02/1901, đơn yêu cầu xin “lập một tờ báo nông nghiệp bằng chữ quốc ngữ và chữ Hán” được Paul Canavaggio viết cách đó 10 năm, vào ngày 24/01/1891 (?). Tờ báo tồn tại tới tháng 11/1924, khoảng hơn 20 năm, với nhiều lần thay đổi tên gọi, như: Tân đời thời báo – Journal des jeunes générations và đăng lại một số bài viết của tờ Công luận báo. Nông-cổ mín-đàm được in tại Nhà in-Hiệu sách Claude & Cie (Imprimerie-Librairie Claude & Cie), lần lượt theo khổ in-folio (dưới 40 cm), sau đó in-4° (dưới 30 cm), in-8° (dưới 25 cm) và cuối cùng là Grand in-folio (hơn 40 cm).
            Chủ tờ báo, ông Paul Canavaggio, là một người Pháp, gốc đảo Corse, vừa là một chủ đồn điền, một nhà buôn muối và hội viên Hội đồng Thuộc địa Nam Kỳ. Ông chủ tờ báo tận dụng mục “Cáo thị” để quảng cáo hoạt động kinh doanh của mình như sau:

            “Ông Canavaggio, là chủ bán muối lục tỉnh rao cho những người hay dùng muối, hoặc người hạ bạc, hoặc người làm mắm đặng rõ trong hầm muối của ông Canavaggio tại Bắc-Liệu và tại Chợ-Lớn bán rẻ cứ mỗi một trăm kilo bán một đồng tám giác. Nếu người coi tiệm bán mắc hơn giá ấy, thì phải tỏ cùng ông phân cho. Hay người nào có muốn mua nhiều, thì phải gởi thơ cho ông bán cho.
            Và ông tỏ cho chư vị rõ giá của nhà quan thê ngoại ngạch, bán đến hai đồng ba cắc tư tại Chợ-Lớn, còn tại Bắc-Liệu 2 đồng bảy chiêm. Xem lại coi của ông Canavaggio, bán rẻ hơn nhiều lắm, tại Chợ-Lớn rẻ hơn năm cắc tư, tại Bắc-Liệu hai cắc bảy chiêm, mỗi trăm kilo.
            Như khách nào mà ngăn trở điều chi, hãy tỏ cho ông Canavaggio, tại đường La Grandière số 84, Sài Gòn” (Số 41, ngày 05/06/1942).
           
            Nông-cổ mín-đàm là một tuần báo kinh tế tư nhân nên không nhận được bất kỳ khoản tiền trợ cấp nào của chính phủ và buộc tự tìm cách phân phối và thu hút độc giả. Trong khi đó, các tờ công báo, như Gia-định báo, được in theo yêu cầu của chính phủ, được phát không tới các sở hành chính và trường học của Nhà nước, hay các địa phương được lệnh trích ngân sách đặt mua. Thế nhưng, dù phát hành rộng rãi khắp Lục tỉnh, số người đặt mua báo Nông-cổ mín-đàm vẫn không nhiều. Sau một năm phát hành, năm 1902, tờ báo mới có 325 người đặt mua. Điều này hoàn toàn có thể hiểu được vì người đặt mua báo phải là những người biết chữ và có điều kiện tài chính, nên danh sách độc giả của tờ báo chủ yếu là các quan chức và điền chủ địa phương, hay các công chức nhà nước.
            Một khó khăn khác mà Nông-cổ mín-đàm phải đối mặt là số người đặt mua chịu rất nhiều, tới mức tờ báo phải tha thiết năn nỉ những người còn nợ tiền thanh toán tiền báo trong mục “Bổn quán cẩn tín”:

            “Bổn quán kính ít lời với chư quí hữu, sau xin trân tình cho rõ lẽ đục trong: Nhựt trình Nông-cổ mín-đàm lập từ 1er aout 1901 đến nay, cũng gần giáp một năm, nhờ ơn của các quí-hữu mua mà xem đặng ba trăm hai mươi lăm vị. Xin chư quí hữu xét coi anh em chúng tôi, chẳng những lỗ công mà thôi, mà lại lỗ tiền nữa. Tuy vậy mà đều làm hữu ích cho người, thì anh em chúng tôi dầu lỗ công dầu lỗ tiền, cũng chẳng mỏi chí, nguyện làm sao cho đến thành sự cho người mới thôi. Thương ôi! Chẳng những là ít người muốn xem mà thôi, mà lại trong số ba trăm hai mươi lăm người mua, thì có hai trăm lẻ đã trả tiền. Xin coi như vậy thì hẹp cho chúng tôi lắm.
            Nay chúng tôi xin đăng trọn những chư vị chưa trả vô nhựt trình này, đặng nhắc cho nhớ rõ, ráng gởi bạc đến cho bổn quán, đặng mà xài kẻo lỗ nhiều lắm. Xin chớ phiền sao mà hỏi tiền, vì thiếu và lỗ nên phải hỏi” (Số 41, ngày 05/06/1902).

            Báo ra tám trang, song vào những lúc đỉnh điểm, ban biên tập phải giành tới hai trang để đăng danh sách những độc giả còn nợ tiền. Ngoài một số mục quảng cáo, tờ báo còn đăng hướng dẫn cách thức vệ sinh phòng bệnh hoặc trồng trọt chăn nuôi. Còn phần giá lúa gạo hay thông tin kinh tế không phong phú như tờ Gia-định báo.
            Một số ý kiến đánh giá “Thương cổ luận” là một mục quan trọng của tờ báo. Xuất hiện ngay trên trang nhất từ số đầu tiên, “tác giả Lương Khắc Ninh thẳng thắn tuyên chiến với tư tưởng tứ dân “sĩ, nông, công, thương” đã ăn sâu vào suy nghĩ của người Việt bằng lời khẳng định: “Sự đại thương là đệ nhứt cách giúp cho dân phú quốc cường”. Đồng thời, những bài viết nhằm mục đích hướng dẫn các thương nhân Việt Nam cách giao thương buôn bán và khuyến khích, kêu gọi học đoàn kết để cạnh tranh với các thương nhân Hoa kiều và Ấn kiều. Vì lẽ đó, đây được coi là tờ báo kinh tế đầu tiên bằng chữ quốc ngữ”. Tới năm 1906, “Thương cổ luận” chính thức giã từ Nông-cổ mín-đàm, sau hơn 100 số.

Phổ biến chữ quốc ngữ bằng… “truyện Tàu”
            Ngoài ý nghĩa là tờ báo kinh tế đầu tiên tại Việt Nam, Nông-cổ mín-đàm còn là một ấn bản giúp người đọc giải khuây lúc rảnh rỗi. Thực vậy, hơn một nửa số trang báo giành đăng các truyện dịch của Trung Quốc hay truyện ngắn của Anh, Pháp. Trước đó khi thể loại truyện này được đăng thường xuyên trên Nông-cổ mín-đàm, Huỳnh Tịnh Của đã dịch một số tác phẩm Trung Quốc như Cao Sĩ truyện, Trang Tử, Chiến quốc sách, Liêu Trai chí dị. Tuy nhiên, bản dịch hoàn chỉnh một bộ “truyện Tàu” sang tiếng Việt phải kể tới Tam Quốc chí tục dịch, được đăng ngay từ số đầu tiên, sau đó là các tác phẩm nổi tiếng khác như Liêu Trai chí dị, Kim cổ kỳ quan, Bao Công kỳ án
            Là một trong những ấn phẩm hiếm hoi trong giai đoạn này, Nông-cổ mín-đàm trở thành nơi thử nghiệm của một đội ngũ dịch “truyện Tàu”, vừa tinh thông Hán học và biết chữ quốc ngữ như, Nguyễn Chánh Sắc, Trần Phong Sắc, Nguyễn An Khương, Nguyễn An Cư, Đinh Văn Đẩu, Trần Hữu Quang, Huỳnh Trí Phú…
            Nhờ giữ các chức vụ chủ bút hay phụ bút cho tờ báo, họ khởi xướng phong trào dịch tiểu thuyết thần kỳ, anh hùng nghĩa hiệp của Trung Quốc trong những năm 1905-1910. Nguyễn An Khương, Nguyễn Chánh Sắc, Trần Phong Sắc đã được báo Phụ nữ tân văn đánh giá là “những tay dịch thuật trứ danh của Nam Kỳ”, riêng “Trần Phong Sắc là nhà dịch thuật trứ danh nhứt”, với 29 bộ truyện Tàu được dịch sang tiếng Việt.
            Ngoài mục truyện dịch, Nông-cổ mín-đàm còn có mục “Thi phổ” để đăng các sáng tác thi ca mới của độc giả hay văn học dân gian sưu tầm… Tờ báo cũng là đơn vị đầu tiên tổ chức cuộc thi truyện ngắn trong lịch sử Văn học Việt Nam hiện đại.
            Dù ra sau các tờ Thông loại khóa trình, Phan Yên báo, Nhựt-báo Nam-kỳ, nhưng Nông-cổ mín-đàm hội tụ đầy đủ yếu tố của một tờ báo và tồn tại trong một khoảng thời gian khá dài. Cách trình bày của tờ báo rất đơn giản, do hạn chế của kỹ thuật in ấn thời kỳ này. Ngoài tên báo trên trang nhất được in to và trình bày một cách cầu kỳ hơn, các bài viết bên trong được chia thành hai cột, không hình minh họa. Ngoài ra, các mục cách nhau bằng một dòng kẻ và tên tiêu đề được in to đậm hơn.
            Cách hành văn của tờ báo dài và lủng củng, thể hiện rõ đặc điểm của tiếng Việt thời kỳ này. Chính vì vậy, các tác phẩm dịch thuật được đăng trên báo đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện văn phong chữ quốc ngữ, cùng với việc bổ sung từ vựng chuyên môn và du nhập vốn từ mới. Cuối cùng, không chỉ phổ biến tư tưởng Đông phương, Nông-cổ mín-đàm còn phổ biến cả học thuật phương Tây, theo con đường mà Trương Vĩnh Ký đã làm từ trước.
            Theo nhận xét của một nhà nghiên cứu, “Nông-cổ mín-đàm ra đời trong thời buổi sơ khai của nền báo chí nước ta, lúc chữ quốc ngữ cũng còn ít người biết đọc. Cho nên, mặc dù nó đã đình bản chưa đầy một thế kỷ, mà có ít người biết đến tờ báo này”. Ngoài ra, cũng cần đề cập tới vấn đề nộp lưu chiểu. Do chính quyền thuộc địa còn phải đối mặt với những biến động chính trị-xã hội trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX nên không chú ý đến công việc lưu trữ. Cuối cùng, vì đây là tờ báo tư nhân nên chỉ được lưu giữ tại các gia đình và các cá nhân, do vậy không tránh khỏi bị tản mát và thất lạc.


THU HẰNG
Tháng 7/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150731-nong-co-min-dam-to-bao-kinh-te-dau-tien-cua-viet-nam

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Đang duyệt nduytai

François-Henri Schneider và tờ Lục-tỉnh Tân-văn

Gần bảy năm sau khi Nông-cổ mín-đàm, tờ báo kinh tế đầu tiên, ra đời, tại Nam Kỳ có thêm một tờ báo mới, Lục-tỉnh tân-văn. Đây là một tờ tuần báo được Pierre-Jeantet Sombsthay thành lập ngày 16/08/1907 và phát hành số đầu tiên ngày 14/11/1907. Thư viện Quốc gia Pháp lưu trữ bắt đầu từ số 4, ra ngày 05/12/1907, của tờ báo này, cho tới các số cuối phát hành vào tháng 09/1944.


TỚI CUỐI tháng 12/1909, tờ công báo bằng chữ quốc ngữ Gia-định báo ra số cuối cùng và bị đình bản vĩnh viễn (sắc lệnh ngày 21/11/1909). Công việc in ấn và phát hành Gia-định báo rất tốn kém cho ngân sách của chính quyền thuộc địa Nam Kỳ. Kể từ khi Nhà in Thuộc địa (Imprimerie coloniale) chính thức bị đóng cửa sáu năm trước đó theo sắc lệnh ngày 14/06/1904, thì mọi công việc in ấn được giao lại cho lĩnh vực tư nhân. Hơn nữa, do ngân sách hạn hẹp hơn, nên trong giai đoạn này, chính quyền thuộc địa Pháp buộc phải ngừng cấp miễn phí rất nhiều đầu báo cho các địa phương, cơ sở hành chính nhà nước hay công chức cao cấp người Pháp.
            Chưa đầy hai năm sau khi thành lập, người đứng đầu ngành in ấn-xuất bản thời đó tại Đông Dương, François-Henri Schneider, đã mua lại tờ báo Lục-tỉnh tân văn vào tháng 05/1909. Phải chăng đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên hay một thỏa thuận ngầm giữa hai bên? Vì ngay cuối năm đó, Gia-định báo, tờ công báo viết bằng chữ quốc ngữ đầu tiên, bị đình bản vĩnh viễn, Lục-tỉnh tân-văn tiếp tục chức năng công báo của tờ Gia-định báo.

François-Henri Schneider là ai?
            Lục-tỉnh tân-văn không phải là tờ báo đầu tiên do François-Henri Schneider xuất bản tại Đông Dương. Và Schneider cũng không phải là khuôn mặt xa lạ với chính quyền thuộc địa.
            Ông tới Nam Kỳ vào khoảng tháng 08/1882 theo hợp đồng ký ba năm với Hải quân Pháp mà ông hình dung sẽ là một quãng thời gian dài đày ải. Chính Schneider cũng không nghĩ sẽ ở lại mảnh đất vùng Viễn Đông lâu đến như vậy. Cho tới khi nghỉ hưu trở về Pháp, vào đầu những năm 1920, ông đã sống và làm việc tại Đông Dương gần 40 năm.
            Sau hơn một năm làm việc tại Nhà in Chính phủ (Imprimerie du Gouvernement), ông bị thuyên chuyển theo nhà in này ra Hà Nội để thành lập một nhà in mới vào cuối năm 1883, mang tên Nhà in Bảo hộ (Imprimerie du Protectorat). Hai năm sau, theo lời khuyên của chính quyền bảo hộ, Schneider xin thôi việc để ra mở nhà in thương mại riêng của mình và cũng là nhà in tư nhân đầu tiên ở Bắc Kỳ. Sự hợp tác này đặt ra câu hỏi về thoả thuận lợi ích giữa chính quyền và lĩnh vực tư nhân, cũng như chế độ đặc quyền ưu đãi đối với một số cá nhân hay doanh nghiệp tư nhân. Vì, chỉ hai năm sau khi khánh thành nhà in riêng của mình, Schneider mua lại Nhà in Bảo hộ với toàn bộ máy móc, cũng như phông chữ Hán vào năm 1886, với một giá khá hời 14.000 franc Pháp và được hưởng nhiều điều kiện ưu đãi khác, như thầu toàn bộ việc in ấn giấy tờ và công báo của chính phủ, những công việc mà Nhà in Bảo hộ đảm nhiệm trước đây. Cơ sở mới mở rộng của ông mang tên Nhà in typo F. H. Schneider (Imprimerie typographique de F. H. Schneider).
            Chưa chắc hợp đồng chuyển nhượng này có thể đã được thực hiện nếu như Toàn quyền Đông Dương, Paul Bert, không đột ngột qua đời vào năm 1886. Ông ấp ủ dự án xuất bản một tờ công báo bằng chữ Hán tại Bắc Kỳ, nơi truyền thống Trung Hoa vẫn còn giữ ảnh hưởng sâu đậm trong đời sống người dân, đồng thời giao cho Hàn lâm viện Bắc Kỳ (thành lập ngày 03/07/1886) dịch sang chữ quốc ngữ nhằm phổ biến loại chữ viết mới này. Chính vì mục đích trên, ông Paul Bert cử Trưởng ban Tài chính sang Thượng Hải để nghiên cứu công việc in ấn một tờ báo bằng chữ Hán. Sau khi ông qua đời, dự án này bị ngừng lại cho tới khi Jean-Marie de Lanessan, một người khá thân với Schneider, sang nhậm chức Toàn quyền Đông Dương.
            Với một bản thỏa thuận miệng với Toàn quyền de Lanessan, François-Henri Schneider cho xuất bản tờ công báo bằng chữ Hán đầu tiên tại Bắc Kỳ, tờ Đại-nam đồng-văn nhật-báo (cuối 1891-31/12/1907), để đăng các tin tức và bài viết do Phòng Sự vụ địa phương soạn thảo. Hợp đồng độc quyền của Schneider với chính quyền thuộc địa kéo dài tới năm 1905, khi một chủ nhà in khác yêu cầu đấu giá công việc xuất bản tờ công báo. Ernest Babut, chủ tờ báo Đại-Việt tân-báo (05/05/1905-25/05/1908), là người duy nhất giành được hợp đồng phát hành công báo từ tay Schneider. Đồng thời, cứ ba năm một lần, chính quyền thuộc địa buộc phải đưa ra đấu giá công việc in ấn công báo. Tuy nhiên, công việc trên chỉ mang tính hình thức và thủ tục vì với mối quan hệ mật thiết với chính quyền và trang thiết bị cơ sở mà Schneider có, ông dễ dàng vượt qua được các đối thủ để giành hợp đồng.
            Chính vì vậy, trong suốt thời gian làm việc tại Bắc Kỳ, Schneider có trong tay bảy đầu báo, trong đó có năm đầu báo (Đại-nam đồng-văn nhật-báo (cuối 1891-31/12/1907), Nam-Việt quan-báo 01/01/1908-1913), Nam-Việt công-báo (01/01/1911-31/12/1913), Pháp-Việt thông-báo (01/01/1914-31/12/1918), Công-thị báo (11/1914-cuối 1915)) được in một mặt, khổ lớn, để dán tại những nơi công cộng như đình đình làng, để phổ biến thông tin cho người dân; hai tờ báo khác được in dưới dạng báo thông thường là Tạp chí Đông Dương và tờ Trung Bắc tân văn.
            Tới năm 1909, trong tổng số bẩy nhà in tư nhân tại Bắc Kỳ, F. H. Schneider sở hữu hai nhà máy lớn nhất, tại Hà Nội và Hải Phòng và một nhà máy sản xuất giấy. Sau nhiều năm gây dựng cơ nghiệp tại Bắc Kỳ, Schneider có ý định mở rộng thị trường tại miền Nam. Được sự hậu thuẫn của chính quyền, ông mua lại tờ Lục-tỉnh tân-văn từ Pierre-Jeantet Sombsthay và nhận được một khoản trợ cấp hàng năm từ chính phủ, giống như những tờ báo ông xuất bản tại Bắc Kỳ.

Lục-tỉnh tân-văn: Từ một tờ báo tư nhân thành một tờ “công báo”
            Trong khoảng thời gian một năm rưỡi tồn tại, từ tháng 11/1907 tới tháng 05/1909, trước khi bị Schneider mua lại, chủ bút tờ báo là Trần Chánh Chiếu, còn gọi là Gilbert Trần Chánh Chiếu hay Gilbert Chiếu, với bút danh Trần Nhựt Thăng. Ông là một người cổ súy mạnh mẽ các phong trào duy tân yêu nước, cùng với các nhân sĩ yêu nước khác như Nguyễn An Khương, Lương Khắc Ninh, Đặng Thúc Liêng, Nguyễn Thần Hiến… Năm 1906, khi thay Lương Khắc Ninh làm chủ bút tờ Nông-cổ mín-đàm, ông bí mật sang gặp Phan Bội Châu tại Hương Cảng, Hồng Kông, sau đó sang Nhật Bản gặp Kỳ Ngoại hầu Cường Đề. Về hoàn cảnh gặp Phan Bội Châu, vẫn còn nhiều ý kiến và giải thích khác nhau.
            Trở về nước, Gilbert Chiếu khởi xướng phong trào Minh Tân để hưởng ứng lời kêu gọi của Phan Bội Châu. Cùng với nhiều thân sĩ yêu nước, ông chủ trương lập Nam Kỳ minh tân công nghệ xã (1908) và nhiều cơ sở kinh tài khác để giúp tiền bạc nhiều thanh niên ưu tú sang Nhật Bản học tập theo phong trào Đông Du. Trong khoảng thời gian này, Nam Kỳ có khoảng hơn 100 học sinh, con các điền chủ, được bí mật gửi sang Nhật Bản học tập, trong đó có người con trai Jules Tiết của Gilbert Chiếu.
            Ngoài ra, tận dụng vai trò là chủ bút tờ Lục-tỉnh tân-văn, ông công khai trên mặt báo hô hào duy tân cứu nước, chống hủ tục, tranh luận về lập trường dân tộc và đặc biệt là công kích chính quyền thuộc địa và phong kiến tay sai. Về mặt kinh tế, tờ báo kêu gọi đồng bào cạnh tranh với Hoa kiều và Ấn kiều đề giành quyền lợi. Mọi hành động, hay lời kêu gọi của ông đều nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của giới điền chủ và công chức.
            Cùng với các biến cố xảy ra dồn dập khắp đất nước: tại miền Trung là phong trào chống thuế năm 1908 hay vụ Hà thành đầu độc cũng xảy ra năm đó, chính quyền Nam Kỳ buộc phải cử mật thám theo dõi Gilbert Chiếu. Và cuối cùng, ông bị bắt vào tháng 10/1908 tại Sài Gòn vì tội ủng hộ và có quan hệ với phong trào Đông Du và đã viết báo công kích chế độ thuộc địa.
            Trong số 50, ra ngày 29/10/1908, tờ Lục-tỉnh tân-văn chỉ đưa tin chung chung như sau: “Chủ bút Lục tỉnh tân văn đã bị giam cầm vì tội đại ác. Vậy chủ nhơn kính tỏ cùng tôn bằng quý khách đặng rõ rằng bổn quán thiệt vô cùng không hay không biết những việc Chủ bút (Gibert Chiếu) phản bạn, giao thông với người ngoại quốc. Nhà nước cũng cho bổn quán biết nhà nước chẳng chút nào tin dạ trung nghĩa của Gibert Chiếu, cho nên đã có ra lịnh kiềm thúc thám sát quá đỗi ngặt nghiêm”.
            Sau khi Gilbert Chiếu bị bắt, tờ báo của Pierre-Jeantet Sombsthay có nguy cơ bị đóng cửa cho tới khi được Schneider mua lại vào tháng 05/1909, dưới sự chấp thuận của chính quyền Nam Kỳ. Vì vậy, ý đồ của nhà cầm quyền nhắm hai mục đích chính: thứ nhất, thay đổi hoàn toàn đường lối biên tập của tờ Lục-tỉnh tân-văn đặt dưới sự quản lý của một đối tác có uy tín; thứ hai là nhằm thay thế chức năng của tờ công báo của tờ Gia-định báo, bị đình bản vào cuối năm đó.
            Tờ báo là bản sao viết bằng chữ quốc ngữ của tờ Bulletin administratif de la Cochinchine (Kỷ yếu hành chính Nam Kỳ), phát hành thứ Năm hàng tuần với 32 trang. Vì vậy, thân hào tại mỗi làng xã phải đăng ký mua tờ báo này. Chớ trêu thay là từ giờ các địa phương phải tự bỏ tiền túi trả cho một cơ sở tư nhân để được cung cấp thông tin liên quan tới thay đổi hành chính hay các sắc lệnh, nghị định của chính phủ.
            François-Henri Schneider cử trí thức trẻ Nguyễn Văn Vĩnh, một người được ông nâng đỡ, tin tưởng và đã từng cộng tác, vào Sài Gòn làm công việc cố vấn cho tờ Lục-tỉnh tân-văn từ năm 1909 cho tới năm 1913. Sau đó, ông trở về Hà Nội để phụ trách tờ Đông Dương tạp chí, một ấn bản viết bằng chữ quốc ngữ, song không cần xin phép trước, nhờ trí thông minh và lanh lợi của ông chủ Schneider.
            Sự kiện đánh bom khách sạn Hà Nội (tại phố Paul Bert, nay là phố Tràng Tiền) ngày 27/04/1913 do Việt Nam Quang phục hội tiến hành đã giúp Schneider tận dụng được tình hình rối ren và bối rối của chính phủ để cho xuất bản ngày 15/05/1913, cùng ngày với thông tri cho phép phát hành, số đầu tiên của ấn bản đặc biệt của tờ Lục-tỉnh tân-văn, dưới tên gọi Đông Dương tạp chí. Tờ tạp chí văn hóa trở thành một ấn bản đặc biệt dưới sự điều khiển của Nguyễn Văn Vĩnh cùng với nhiều cây bút “tây học” (Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn) hay “hán học” (Phan Kế Bính, Nguyễn Đỗ Mục) nổi tiếng thời bấy giờ. Những trí thức vì tân trào trên biến tờ báo thành nơi thử nghiệm văn phong, cải tiến chữ quốc ngữ, du nhập những thể văn hiện đại và phổ biến học thuật phương Tây.
            Đầu những năm 1920, Schneider bán lại tất cả tài sản của mình tại Đông Dương để trở về nghỉ hưu tại Pháp. Ông nhượng lại tờ Lục-tỉnh tân-văn cho ông Nguyễn Văn Của, hay còn gọi là ông huyện Của. Từ ngày 03/10/1921, tờ báo hợp nhất với Nam-Trung nhật-báo và vẫn giữ nguyên tên Lục-Tỉnh tân-văn do Lê Hoàng Mưu làm chủ bút và chuyển thành nhật báo cho tới tháng 12/1944 thì đình bản. Những chủ bút cuối cùng là Nguyễn Văn Giàu và Diệp Văn Cương.
            Cùng với các tờ Gia-định báo, Nhựt trình Nam-Kỳ, Phan-yên báo, Thông-loại khóa-trình, Nông-cổ mín-đàm, Nhựt báo tỉnh, tờ Lục-tỉnh tân-văn là một trong những tờ báo đầu tiên xuất bản tại Nam Kỳ và viết bằng chữ quốc ngữ. Đây cũng là tờ báo uy tín nhất và tồn tại lâu nhất tại Việt Nam trong thời kỳ thuộc địa.


THU HẰNG
Tháng 8/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20150807-francois-henri-schneider-va-to-luc-tinh-tan-van

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Đại-Nam đồng-văn nhật-báo, tờ báo chữ Hán đầu tiên tại Bắc Kỳ

Sau cuộc viễn chinh Bắc Kỳ lần thứ hai (20/02/1884-13/02/1885), giai đoạn 1885-1897 được thực dân Pháp coi là cuộc chiến “bình định” Bắc Kỳ, dù vẫn dữ dội và gay cấn. Công cuộc “bình định” được tiến hành trên hai mặt trận. Một mặt, thực dân Pháp tiếp tục đưa quân đàn áp các cuộc nổi dậy, như cuộc khởi nghĩa Yên Thế của Đề Thám, và các băng cướp ẩn náu tại vùng núi phía bắc. Mặt khác, chính quyền tiến hành nhiều chính sách “ôn hòa” về mặt văn hóa-xã hội nhằm xoa dịu một phần nỗi đau của người dân địa phương.

Đại-Nam đồng-văn nhật-báo, quảng cáo trên tờ Annuaire administratif năm 1899

CÓ LẼ vì vậy, các quan Toàn quyền và Thống sứ Bắc Kỳ trong giai đoạn này thường cố thể hiện là người có tư tưởng tự do, là người bảo hộ các thể chế và phong tục địa phương còn chịu nhiều ảnh hưởng của Trung Quốc và tư tưởng Nho giáo.
            Trong giai đoạn này, nhiều nhà máy quan trọng được xây dựng để phục vụ bộ máy cai trị của chế độ thuộc địa. Giới doanh nghiệp tư nhân Pháp cũng nhanh chóng nhận thấy cơ hội vàng để đầu tư vào Bắc Kỳ. Năm 1888, thực dân Pháp xây dựng nhà máy xẻ gỗ đầu tiên và là tiền thân của nhà máy diêm ở Hà Nội được thành lập năm 1903.
            Năm 1892, ông Affred Hommel, một người Pháp xuất thân ở vùng Alsace nổi tiếng về sản xuất bia, mở xưởng nấu bia “Brasserie de Hanoi” trên đường đê Parreau, nay là Tổng công ty cổ phần Bia-Rượu-Nước giải khát Hà Nội (Habeco) trên đường Hoàng Hoa Thám. Nhiều lời đồn cho rằng bia Hommel nổi tiếng khắp Bắc Kỳ thời thuộc địa nhờ khoan được nguồn nước có chất lượng phù hợp với việc nấu bia. Chỉ một thời gian sau, bia Hommel gặp phải một đối thủ cạnh tranh mới. Anh em nhà Larue mở một chi nhánh sản xuất đá và nước uống có ga tại Hà Nội vào năm 1893, sau khi chinh phục được thị trường Sài Gòn, và dần lấn sang sản xuất và kinh doanh bia Larue.

Đại-Nam đồng-văn nhật-báo, công báo truyền bá của chính quyền thuộc địa
            Tính đến thời điểm này, nhà in của François-Henri Schneider đã hoạt động được 6 năm. Năm 1885, ông trở thành ông chủ nhà in thương mại tư nhân đầu tiên tại Bắc Kỳ, chỉ hai năm sau khi được thuyên chuyển cùng với Nhà in Chính phủ (Imprimerie du Gouvernement) từ Sài Gòn ra Hà Nội. Ông F. H. Schneider còn là nhà cung cấp giấy viết độc quyền và thầu in ấn mọi văn bản của bộ máy cai trị Bắc Kỳ.
            Việc phát hành một tờ báo bằng chữ Hán hiển nhiên phải nằm trong chương trình truyền bá của chính quyền thuộc địa. Trong một bức thư gửi Thống sứ Bắc Kỳ đề ngày 19/03/1891, ông chủ nhà in F. H. Schneider đã thông báo ý định thành lập một tờ báo và xin chính quyền thuộc địa hỗ trợ.
            Thực ra, kế hoạch xuất bản một tờ công báo bằng chữ Hán tại Bắc Kỳ đã được Toàn quyền Đông Dương Paul Bert (19/10/1883-11/11/1886) đề xuất và đã cho tiến hành. Ông còn dự định giao cho Hàn lâm viện Bắc Kỳ (Accadémie tonkinoise, thành lập ngày 03/07/1886) dịch tờ báo này sang chữ quốc ngữ nhằm phổ biến loại chữ viết mới này. Do đột ngột qua đời vào năm 1886, mọi hoạt động liên quan tới dự án đều bị ngừng lại.
            Nhận thấy cần phải có một cơ quan tuyên truyền bằng tiếng địa phương, nên đề xuất của Schneider nhận được sự chấp thuận có lẽ bằng miệng (vì không có bất kỳ tài liệu hay bản nháp nào liên quan) của Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan mới tới nhậm chức (1891-1894). Ngày 30/08/1891, ông chủ nhà in typo phát hành số thứ nhất của tờ Đại-nam đồng-văn nhật-báo. Đây cũng là tờ báo đầu tiên tại Bắc Kỳ và được viết bằng chữ Hán. Ngoài một số bản được in như báo thường, chính quyền Pháp còn in thành loại một mặt để dán lên tường.
            Có nhiều ý kiến cho rằng giữa người đứng đầu chính quyền thuộc địa và ông chủ nhà in phải có một mối quan hệ cá nhân thân mật thì bản thỏa thuận thương mại mới diễn ra một cách nhanh chóng, và đặc biệt, là không có giao kèo “giấy trắng mực đen”. Ngoài ra, cũng cần nói thêm là ngay với chính quyền thuộc địa và quan lại địa phương, F. H. Schneider luôn duy trì được mối quan hệ tin tưởng và tôn trọng cho tới khi ông rời Đông Dương về Pháp. Bắt đầu từ thời điểm này, sự nghiệp của ông thăng hoa và dần lấn sang nhiều lĩnh vực khác, như sản xuất giấy (ông là người thành lập nhà máy giấy đầu tiên tại Bắc Kỳ) hay khai thác mỏ…
            Vì là “hợp đồng miệng” nên ngay năm 1905, phủ Thống sứ Bắc Kỳ không tránh khỏi rắc rối và tốn giấy mực khi có soạn lại hợp đồng in Đại-nam đồng-văn nhật-báo với nhà in typo F. H. Schneider. Phủ Thống sứ Bắc Kỳ chỉ lưu lại các hợp đồng về sau này (19/08/1892, 24/04/1893, 01/09/1893, 06/01/1894) liên quan tới giá báo và số lượng đặt hàng của chính quyền. Trong giai đoạn này, các hợp đồng thường được ký với thời hạn ba năm, và có thể sửa đổi nếu cần.
            Cũng vì không có hợp đồng viết và do số đầu thất lạc nên có rất nhiều tranh luận về ngày phát hành số đầu tiên của tờ báo. Tuy nhiên, căn cứ vào quảng cáo của nhà in F. H. Schneider trong cuốn Annuaire administratif năm 1899, chúng tôi khẳng định chắc chắn là số đầu tiên của tờ báo được in ngày 30/08/1891 (xem hình minh họa). Dù tên báo ghi rõ là tờ nhật báo nhưng thực ra Đại-nam đồng-văn nhật-báo là một tờ tuần báo.
            Nhà in F. H. Schneider chỉ đảm trách công việc in ấn và phân phối tờ công báo tới các cơ quan, địa phương hay cá nhân mà phủ Thống sứ Bắc Kỳ đã liệt kê địa chỉ trước. Phòng Sự vụ địa phương chịu trách nhiệm soạn thảo mọi thông tin hành chính-chính trị và các bài báo liên quan đến tình hình nông nghiệp, thương mại và công nghiệp của Bắc Kỳ, sau đó gửi tới nhà in.

Mục đích truyền bá của tờ báo gặp thất bại
            Khi cho phát hành tờ báo, chính quyền thuộc địa Pháp nhằm một mục đích chính: phổ biến thông tin và chính sách truyền bá của nhà nước bảo hộ. Tuy nhiên, các “quan Tây” nhanh chóng thất vọng về hiệu quả truyền bá của tờ báo. Nguyên nhân thứ nhất là do “mánh” tham nhũng của quan lại địa phương người Việt. Trên lý thuyết, tờ báo được phát miễn phí tới các thôn xóm để dán tại nơi có nhiều người qua lại (như đình làng) nhằm truyền bá thông tin. Thế nhưng, khi báo về tới các tỉnh hay huyện, những người phụ trách công việc phân phát buộc các làng phải đóng một đồng tiền Đông Dương (piastre) để nhận báo.
            Nguyên nhân thứ hai là do phần lớn “dân đen” không biết đọc biết viết vì chữ Hán là chữ của thánh hiền và chỉ các nhà Nho hay quan lại mới biết. Và cuối cùng, chính là sự sao lãng của các công chức phụ trách bản tin. Các thông tin đăng trên báo ngày càng thưa dần và không có ích lợi đối với người dân.
            Chính vì vậy, năm 1900, chính quyền quyết định cải tổ tờ công báo để hình ảnh của người Pháp gắn chặt hơn vào mảnh đất Bắc Kỳ và để truyền tải một số tiến bộ kỹ thuật và nông nghiệp tới người dân. Tờ Đại-nam đồng-văn nhật-báo, phát hành vào thứ Bẩy hàng tuần, được chia thành hai phần riêng biệt, như các tờ công báo sau này, gồm: “Phần chính thức” (Partie officielle) gồm các thông tin hành chính và trích lược một số bản báo cáo kinh tế do các tỉnh cung cấp hay các bản thống kê nông nghiệp và thương mại…
            Phần thứ hai, được gọi là phần “Tạp sự” (Divers), giành đăng các vụ việc không mang tính chính trị. Mục đích chính là thu hút sự tò mò và tính hiếu kỳ của người dân bằng những tin “giật gân” (cháy nổ, tai nạn, trộm cắp…), một số chuyện khoa học hay những phát minh mới có ích và có thể áp dụng được vào các ngành nông nghiệp, thương mại và công nghiệp… Chính quyền thuộc địa quyết định tự lên danh sách những địa phương và đơn vị nhận báo. Nhà in F. H. Schneider trực tiếp gửi tới từng địa chỉ được giao.
            Lần cải cách này mang lại cho F. H. Schneider khá nhiều lợi nhuận. Vì năm 1903, chính quyền tăng số báo cần mua từ 5.000 bản với giá là 1 đồng Đông Dương (piastre) (theo các hợp đồng từ năm 1891 đến 1902) lên thành 10.000 bản với tổng số tiền là 40.000 franc (có nghĩa là 4 franc/số, tương đương với 1,6 đồng Đông Dương/số). Như vậy, mỗi năm F. H. Schneider thu về thêm được 6.000 đồng Đông Dương.
            Hợp đồng độc quyền của Schneider với chính quyền thuộc địa kéo dài tới năm 1905, khi một chủ nhà in khác yêu cầu đấu thầu công việc xuất bản tờ công báo. Ông Ernest Babut, chủ tờ Đại-Việt tân-báo (l’Annam, 05/05/1905-25/05/1908), là người duy nhất giành được hợp đồng phát hành công báo từ tay Schneider. Đại-Việt tân-báo được in cả bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ nên có thể thu hút được nhiều độc giả hơn nhờ chữ quốc ngữ đã được phổ biến khá rộng rãi trong giai đoạn này.
            Thành công của ông Ernest Babut cũng phá vỡ sự độc quyền của nhà in Schneider trong gần 15 năm. Đồng thời, cứ ba năm một lần, chính quyền Pháp buộc phải đưa ra đấu thầu công việc in ấn công báo. Tuy nhiên, quyết định trên chỉ mang tính hình thức và thủ tục vì với mối quan hệ mật thiết với chính quyền, cùng với trang thiết bị và cơ sở hạ tầng mà Schneider đã gây dựng được, ông dễ dàng vượt qua được các đối thủ để giành hợp đồng.
            Song song với tờ công báo chính thức, chính quyền Đông Dương tiếp tục đăng ký báo của Schneider cho tới ngày 28/03/1907. Sau đó, Đại-Nam đồng-văn nhật báo trở thành một tờ báo tư nhân, với tên gọi mới là Đăng-cổ tùng-báo, song vẫn tiếp tục đánh số thứ tự theo tờ Đại-Nam đồng-văn nhật báo (số đầu tiên là 793).
            Vì là tờ báo tư nhân, nên mỗi số phải chịu sự kiểm duyệt của chính quyền trước khi được phát hành. Chính F. H. Schneider cũng yêu cầu nhân viên không được tự động cho in một bài viết nếu không có sự kiểm tra và đồng ý của ông. Tuy nhiên, bất chấp mọi lời cảnh cáo, Đăng-cổ tùng-báo trở thành diễn đàn kêu gọi canh tân của biên tập viên trẻ Nguyễn Văn Vĩnh và cơ quan ngôn luận của hội “Đông Kinh nghĩa thục” (03-11/1907) cùng với nhiều bài báo mang tính chính trị và chống Pháp. Chính vì vậy, ban điều hành nhà in Viễn Đông (Imprimerie d’Extrême-Orient, tên mới thay cho nhà in typo F. H. Schneider) quyết định đình bản tờ báo chỉ sau vài tháng phát hành. Số cuối cùng (số 826) ra ngày 14/11/1907.


THU HẰNG
Tháng 11/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20151113-dai-nam-dong-van-nhat-bao-to-bao-chu-han-dau-tien-tai-bac-ky

 

Đang duyệt nduytai

Nguyễn Văn Vĩnh và tờ Đăng-cổ tùng-báo

Sau khi hết hạn hợp đồng với chính quyền Đông Dương, tờ Đại-Nam đồng-văn nhật-báo trở thành một tờ báo tư nhân, với tên gọi mới là Đăng-cổ tùng-báo, song vẫn tiếp tục đánh số thứ tự theo tờ Đại-Nam đồng-văn nhật-báo (số đầu tiên là 793).

Nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh

THEO Ý KIẾN của nhiều nhà nghiên cứu, từ thời điểm này, Đăng-cổ tùng-báo trở thành diễn đàn kêu gọi canh tân của biên tập viên trẻ Nguyễn Văn Vĩnh và cơ quan ngôn luận của hội “Đông Kinh Nghĩa Thục” (03-11/1907) với nhiều bài báo mang tính chính trị và chống Pháp.
            Ban Việt Ngữ đài RFI có dịp phỏng vấn ông Nguyễn Lân Bình, cháu nội của Nguyễn Văn Vĩnh. Cha ông là Nguyễn Dực và là người con thứ bẩy của nhà báo. Thường người cháu đích tôn là người tiếp nối công việc nghiên cứu lịch sử hay gia phả dòng họ, song ông Nguyễn Lân Bình là người tiếp tục truyền thống này. Ông cũng là người thành lập website tannamtu.com để đăng những tài liệu, bài báo và bài viết của Nguyễn Văn Vĩnh hay liên quan tới nhà báo nổi tiếng đầu thế kỷ XX này.

RFI: Xin ông cho biết cụ Nguyễn Văn Vĩnh tham gia tờ Đăng-cổ tùng-báo trong bối cảnh nào?
Nguyễn Lân Bình: Nói về sự xuất hiện của tờ Đăng-cổ tùng-báo thì bao giờ cũng gắn liền với tên tuổi và vai trò của nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh. Vào năm 1907, ở Việt Nam, người Việt vẫn còn sử dụng chữ Hán và chữ Nôm trong các văn bản, kể cả trong quan hệ hành chính lẫn trong sinh hoạt đời thường. Vì vậy, Đăng-cổ tùng-báo có một vai trò vô cùng đặc biệt và có thể nói rằng rất quan trọng.
            Việc Đăng-cổ tùng-báo ra đời, theo hiểu biết của cá nhân tôi, là hệ quả của rất nhiều biến động xã hội, đặc biệt là trong chính sách cai trị của người Pháp vào cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Lúc này, chính người Pháp cũng không quyết định được là sử dụng ngôn ngữ nào trong quan hệ hành chính ở Việt Nam. Trong các văn bản của người Pháp lúc bấy giờ, có một số văn bản bằng chữ Hán, một số khác lại bằng tiếng Pháp, chứ chưa có văn bản bằng chữ Quốc ngữ.
            Cuối thế kỷ XIX, tuy người Pháp có ra một số quyết định liên quan đến việc phải sử dụng chữ Quốc ngữ trong một số lĩnh vực. Nhưng điều đó chỉ xẩy ra ở Nam Kỳ, trong khi đó Nam Kỳ, Trung Kỳ và Bắc Kỳ là ba chế độ chính trị khác nhau. Chính vì sự khác biệt này nên việc sử dụng một ngôn ngữ thống nhất là điều rất cần thiết cho Việt Nam thời bấy giờ. Tờ Đăng-cổ tùng-báo ra đời vào đúng thời điểm người Pháp đang lúng túng lựa chọn một ngôn ngữ đặc trưng và đại diện cho đất nước An Nam.
            Một điều quan trọng nữa, vào năm 1906, khi nhà yêu nước Phan Chu Chinh viết một bản kiến nghị gửi Toàn quyền Đông Dương (“Đầu Pháp Chính phủ thư”) nói về việc phải cải cách xã hội, phải cải cách cuộc sống cho người dân An Nam để làm sao thay đổi và đạt tới sự tiến bộ trong quan hệ xã hội của người dân. Vì cụ Phan Chu Chinh viết bản kiến nghị đó bằng chữ Hán, mà gửi lên Toàn quyền Đông Dương là một người Pháp, thì rất là bất lợi.
            Vì vậy, có một người đã xuất hiện để thực hiện công việc này, đó là Nguyễn Văn Vĩnh. Đó là vào năm 1906 và Nguyễn Văn Vĩnh mới có 24 tuổi. Nguyễn Văn Vĩnh đã dịch toàn bộ bức thư đó từ chữ Hán sang tiếng Pháp. Việc dịch sang tiếng Pháp là một điều có thể nói là tác động đến tâm lý chung của người Việt lúc đó, rằng tại sao lại không thể dùng giữa tiếng Việt với tiếng Pháp mà phải dùng từ chữ Hán sang tiếng Pháp. Điều này cũng thể hiện một hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam về việc sử dụng ngôn ngữ.
            Thứ hai, theo hiểu biết của tôi, ở đây xuất hiện một nhân vật cực kỳ quan trọng và rất quyết định, đó là ông Schneider. Đến đầu thế kỷ XX, khi phát hiện ra Nguyễn Văn Vĩnh, ông Schneider đã tìm đến và dưới tác động của ngài Henri Hauser là Đốc lý Hà Nội, một người rất hiểu Nguyễn Văn Vĩnh. Những ảnh hưởng và mối quan hệ đó đã đặt Nguyễn Văn Vĩnh vào vị trí mà bản thân Nguyễn Văn Vĩnh rất quan tâm.
            Chúng tôi đã xem xét lại tất cả những suy nghĩ của cụ Vĩnh lúc bấy giờ thông qua thư từ, chữ viết khi cụ Vĩnh đi sang Marseille lần đầu tiên vào năm 1906 dự Đấu xảo Marseille. Nguyễn Văn Vĩnh viết bức thư tâm sự cho người em trai tên là Thọ và cho một người bạn thân tên là Phạm Duy Tốn, đồng thời cũng là người cùng làng với cụ Vĩnh, ở làng Phượng Dực, Thường Tín, Hà Đông thời xưa mà bây giờ gọi là Phú Xuyên, Hà Nội. Qua những bức thư đó, chúng ta thấy rằng Nguyễn Văn Vĩnh say sưa về ngôn ngữ, cùng với một tác động tâm lý rất mạnh của nước Pháp đối với nhận thức của Nguyễn Văn Vĩnh, đó là vấn đề báo chí mà ông được nhìn thấy tận mắt ở hội chợ đấu xảo đó.
            Những diễn biến vừa nêu trên tạo thành một cơ sở để năm 1907 khi có phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bản thân ông Schneider chủ trương phát triển ngành công nghiệp in ấn và phát hành báo chí, cộng với khát khao và thiết tha của Nguyễn Văn Vĩnh trong việc phát triển báo chí, cộng với khả năng ngôn ngữ của Nguyễn Văn Vĩnh lúc đó ở một mức độ rất cao, thì tờ báo Đăng-cổ tùng-báo ra đời.
            Tuy nhiên, do ảnh hưởng của phong kiến Trung Quốc, cùng với gần 10 thế kỷ đô hộ của Trung Quốc, cho nên mong muốn sử dụng chữ Quốc ngữ vào trong báo chí, đặc biệt là ở phía bắc Việt Nam, thì những người chủ trương mới nhận thấy rằng, nếu ra luôn một tờ báo hoàn toàn bằng chữ Quốc ngữ thì e rằng dư luận xã hội không hưởng ứng, do đa phần vẫn sử dụng chữ Hán.
            Chính vì lẽ đó, tờ Đại-Nam đồng-văn nhật-báo, khi được đổi thành Đăng-cổ tùng-báo (nói theo kiểu nôm na là “Khêu đèn giõng trống”) thì được xuất bản bằng cả hai thứ tiếng, một bên là Hán văn và một bên là Quốc ngữ. Tuy nhiên, cả hai phần không có cùng một nội dung, không mang tính chất dịch nội dung này sang nội dung kia bằng ngôn ngữ khác, mà hai nội dung đó khác nhau. Đó là bản chất của Đăng-cổ tùng-báo.

RFI: Ông từng viết rằng cụ Nguyễn Văn Vĩnh dùng Đăng-cổ tùng-báo làm cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục. Xin ông giải thích rõ hơn!
Nguyễn Lân Bình: Câu hỏi này cũng là một khía cạnh mà rất nhiều người đã đặt vấn đề, không hẳn là tranh cãi, nhưng theo tôi được biết thì đây là một chi tiết rất là quan trọng trong tiến trình tại Đông Kinh Nghĩa Thục vào đầu thế kỷ XX ở Việt Nam.
            Để nói là Đăng-cổ tùng-báo được nhìn nhận như là một cơ quan ngôn luận của Đông Kinh Nghĩa Thục là một điều còn phải xem xét thêm rất nhiều yếu tố khác. Tuy nhiên, ở góc độ của tôi, khi Đăng-cổ tùng-báo trở thành một nhu cầu của người đọc, đặc biệt là ở Đông Kinh (Hà Nội), thì nó chuyển hóa dần dần, đặc biệt trong nhiều bài viết, trong nội dung của các số báo Đăng-cổ tùng-báo.
            Có một bài viết không hoàn toàn mang tính tranh luận, nhưng rõ ràng đó là một mâu thuẫn giữa ông Ernest Babut (chủ tờ Đại-Việt tân-báo) và chủ bút của Đăng-cổ tùng-báo là Nguyễn Văn Vĩnh, đặc biệt là từ khi Nguyễn Văn Vĩnh nghĩ ra việc thành lập Hội Dịch sách, với mục đích là để tạo một cơ sở văn hóa. Lúc đó, chúng ta chưa có nền văn học chữ Quốc ngữ, chưa có những tác phẩm bằng tiếng Việt thuần túy như sau này. Vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh hy vọng là với phương pháp nếu như có nhiều quan tâm tới dịch tác phẩm tiến bộ, những tác phẩm tinh hoa của nhân loại ra tiếng Việt, thì đấy là một cơ sở giúp người Việt, giúp cho văn hóa cũng như làm cơ sở cho công cuộc làm cách mạnh duy tân theo chủ trương của Đông Kinh Nghĩa Thục.
            Lúc đó Đăng-cổ tùng-báo đã có nhiều chuyên mục hoàn toàn mang đúng bản chất của báo chí. Trong mục “Việc vặt ở Hà Nội”, Đăng-cổ tùng-báo ngày 03/10/1907, có một bài do Nguyễn Văn Vĩnh viết với thái độ bất bình với quan điểm của ông Babut vì Babut đã cho đăng trên tờ báo của mình một bài viết không dám phê phán nhưng có tính giễu cợt Hội Dịch sách được thành lập lúc đó và Hội Trí Tri ở Hà Nội. Ông Babut không tin là người Việt Nam có thể dịch được văn học nước ngoài ra tiếng Việt. Chính vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh mới cảm thấy bị “động chạm” và viết như sau:

            “Ở trong báo Đại-Việt kỳ trước có một bài không ký tên nhưng chúng tôi biết là của ông Babut viết ra bằng tiếng Pháp, rồi dịch ra chữ Quốc ngữ, bác Hội Dịch sách, nói rằng mấy người lập hội chẳng qua là chỉ để cầu danh cầu lợi”.

            Chính vì vậy, Nguyễn Văn Vĩnh rất bất bình, cho nên thấy cần phải giải thích lý do thành lập Hội Dịch sách. Sau đó, ông kết luận: “Ai mà chê chúng tôi thì cũng nên lấy làm lạ, chứ ông chủ Đại-Việt tân-báo mà chê, thì là phải lắm”. Câu kết của bài báo chỉ có hai câu thôi cũng đủ chứng tỏ lúc đó có một sự cạnh tranh đã đành, nhưng quả thật, cũng có sự thiếu lòng tin, nhất là đối với một người Pháp có chuyên môn như ông Babut về việc phát hành báo chí.
            Lúc đó, ngay cả khái niệm thế nào là một cơ quan ngôn luận đối với một tổ chức xã hội cũng là một điều gì đó rất xa lạ. Tuy nhiên, qua một thực tế là chúng ta có thể có cơ sở để nhìn nhận vấn đề này. Đó là trong số ngày 19/09/1907, trong mục “Việc vặt ở các tỉnh”, Nguyễn Văn Vĩnh nêu một sự kiện hết sức chính trị, và việc nêu một sự kiện chính trị trên một tờ báo là một điều rất liều lĩnh. Đó là việc nhà cầm quyền bắt ông Ngô Đức Kế.
            Đây là một vấn đề chính trị, nhưng để nêu lên trên mặt báo cùng với thái độ đòi hỏi nhà cầm quyền phải xem lại quyết định bắt của mình, thì là một quan điểm rõ ràng thể hiện tính chính trị trong một tờ báo. Nếu không phải là người đại diện phát ngôn cho Đông Kinh Nghĩa Thục, thì rõ ràng Nguyễn Văn Vĩnh không nhất thiết phải can dự đòi nhà cầm quyền xem lại lệnh bắt ông Ngô Đức Kế. Vì ông Ngô Đức Kế là một người có quan hệ gắn bó với cụ Phan Bội Châu, là một trong những người ủng hộ và muốn làm cách mạng duy tân. Vào năm 1907, sau khi bị bắt, ông Ngô Đức Kế bị đày ra đảo Côn Lôn cho tới năm 1921.
            Như vậy, rõ ràng là việc nêu quan điểm chính trị về một sự việc cụ thể của Nguyễn Văn Vĩnh trên tờ Đăng-cổ tùng-báo, cùng với nhiều bài báo khác nữa nêu quan điểm chính trị, chủ trương canh tân, chủ trương kêu gọi đổi mới, chủ trương thúc đẩy người dân bài trừ những tệ nạn và đồng thời can dự cả vào những hoạt động của hội đồng hành chính các cấp thời bấy giờ trong hệ thống cai trị. Nếu không phải là người trong Đông Kinh Nghĩa Thục, nếu không phải là người có cùng chí hướng đối với những nhà yêu nước lúc đó, thì Nguyễn Văn Vĩnh có lẽ không vô cớ can dự sâu như vậy vào các hoạt động xã hội và chính trị.
            Từ góc nhìn như vậy, chúng tôi nhận thức rằng vào hoàn cảnh khó khăn như thế, những quan điểm nêu trên một tờ báo bằng tiếng mẹ đẻ, thì đúng là nó phải mang tính đại diện rất lớn, thay mặt phong trào cách mạng lúc đó để canh tân đất nước và phản đối sự hà khắc của chế độ cai trị, cũng như là muốn bãi bỏ tất cả tệ nạn, những cái đã làm cho dân tộc, cho đất nước Việt Nam không phát triển được.

RFI: Vậy xin ông cho biết Đăng-cổ tùng-báo đóng vai trò như thế nào trong bối cảnh giới trí thức lúc bấy giờ kêu gọi canh tân và phổ biến tri thức mới?
Nguyễn Lân Bình: Ngay tờ đầu tiên, ra ngày 28/03/1907, Đăng-cổ tùng-báo đã có một bài rất hay. Nó đặc trưng rất rõ đòi hỏi bức thiết của xã hội cần phải được cải cách, đó là bài “Trường kỹ nghệ Hà Nội”. Nguyễn Văn Vĩnh nêu: Thế nào là kỹ nghệ? Người Pháp đã nghĩ ra chuyện mở trường kỹ nghệ, nhưng tại sao lại không thu hút học sinh?
            Nguyễn Văn Vĩnh nêu rằng “Việc buôn bán trong một nước mà rộng ra hay hẹp đi là ở bởi người có của. Mà trong nước Nam, những người có nhiều tiền bạc nhất là chỉ có những nhà quan”. Cụ Vĩnh giải thích rằng để có được nhiều người nhiều tiền và giầu có, thì phải có kỹ nghệ, khoa học và công nghiệp, chứ không phải nhờ vào những đồng tiền do làm quan mà có. Chỉ riêng bài này cũng cho thấy rằng mong muốn canh tân và thay đổi đất nước như thế nào.
            Đồng thời, còn có hàng loạt đề mục mà Nguyễn Văn Vĩnh đã đưa vào trong Đăng-cổ tùng-báo. Trong giai đoạn đầu, tháng 03-04/1907, nội dung báo chưa có nhiều điều sâu sắc lắm, nhưng trong những tháng về sau, trong 16 trang của tờ báo, có cả nghị luận, tin tức các tỉnh ở Bắc Kỳ, tin tức toàn cầu, các bài viết về khoa học, thi ca, kể cả hộp thư tòa soạn và quảng cáo.
            Những nội dung này là hoàn toàn mới với tri thức và mặt bằng hiểu biết của người Việt Nam lúc đó, vừa về vấn đề báo chí, vừa về cách nhìn xã hội một cách bao quát. Đăng-cổ tùng-báo đã làm được điều này.


THU HẰNG
Tháng 11/2015


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20151127-nguyen-van-vinh-va-to-dang-co-tung-bao-trong-boi-canh-xa-hoi-bac-ky-dau-the-ky-xx-0

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Kho lịch sử Việt Nam thời thuộc địa trong Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp

Vấn đề lưu trữ tài liệu của chính quyền Pháp tại các thuộc địa được đặt ra ngay những năm 1950, khi hàng loạt quốc gia nằm dưới sự bảo hộ của Pháp lần lượt giành được độc lập. Bắt đầu từ Việt Nam với các thỏa thuận ngày 08/03/1949, sau đó là quyết định trao trả các khu nhượng địa của Pháp cho Ấn Độ vào tháng 09/1954 và tại châu Phi là cuộc trưng cầu dân ý năm 1958.

Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp, Aix-en-Provence

NGAY NĂM 1959, Cơ quan Lưu trữ Pháp được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ lưu trữ và các bộ sưu tập từ bộ Hải Ngoại Pháp và cơ quan quản lý thuộc địa, bị xóa bỏ năm 1960. Khối lượng tài liệu rất lớn vì ngoài hồ sơ của riêng bộ Hải Ngoại Pháp, còn có kho lưu trữ thuộc địa ở các xứ Viễn Đông hay châu Phi, lúc đó bị phân tán khắp nước Pháp, ở Paris, Vincennes, Bordeaux, Marseille. Đến năm 1961, khối lượng tài liệu đồ sộ này còn tiếp nhận thêm lưu trữ được chuyển từ Algeria, sau khi quốc gia Bắc Phi giành được độc lập.
            Trước nhu cầu cấp bách này, giám đốc Lưu trữ Pháp thời kỳ đó quyết định xây dựng một trung tâm nghiên cứu nằm trong một quần thể đại học ở miền Nam Pháp để bảo quản và xử lý tài liệu lưu trữ của các chính quyền thuộc địa. Kết quả là năm 1966, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại (Archives nationales d’Outre-mer, ANOM) được khánh thành tại Aix-en-Provence, nằm trong dự án mở rộng chi nhánh của đại học Aix-en-Provence, trên đường Moulin de Testas.
            Giới thiệu với RFI tiếng Việt về ANOM, bà Olivia Pelletier, phụ trách kho “Đông Dương”, cho biết:

            “Ở đây, chúng tôi bảo quản hồ sơ lưu trữ của bộ Thuộc Địa và nhiều cơ cấu hành chính tiền thân của bộ này từ giữa thế kỷ XIX liên quan đến Đông Dương. Những kho đó chủ yếu là tài liệu hành chính, bổ sung cho những kho lưu lại ở Việt Nam, Cam Bốt, Lào và nhiều kho khác được lưu trữ tại Pháp trong bộ Quốc Phòng và bộ Ngoại Giao”.

            Toàn bộ kho liên quan đến chính quyền Nam Kỳ được lưu tại thành phố Hồ Chí Minh. Tài liệu lưu trữ Đông Dương được chính quyền thuộc địa thảo tại chỗ được chuyển về Pháp từ năm 1954, sau khi Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ. Thế nhưng, theo bà Olivia Pelletier, trước đó cả hai bên đã có một quá trình đàm phán dài để phân chia tài liệu:

            “Ngay năm 1950, các chuyên viên lưu trữ Pháp và Việt Nam, Lào, Cam Bốt, đã cùng ngồi đàm phán. Những tài liệu được cho là thuộc chủ quyền về đến Pháp ngay năm 1954, còn tài liệu mang tính kỹ thuật, cho phép các nước độc lập tiếp tục quản lý bộ máy hành chính, trong đó có các hồ sơ về công chính, địa bạ, y tế, cảnh sát, thì được để lại tại chỗ. Hiện nay, những tài liệu này có thể tra cứu được ở các trung tâm lưu trữ khác nhau ở Việt Nam, Lào và Cam Bốt”.


Chùa Một Cột, Hà Nội. Ảnh chụp khoảng năm 1895-1899

            Tài liệu lưu trữ liên quan đến Đông Dương tại ANOM được chia thành hai kho lớn: Kho lưu trữ của bộ Thuộc địa (Fonds ministériels) và Kho địa phương. Kho địa phương lại được chia thành ba kho nhỏ: Kho tài liệu đô đốc và toàn quyền (1858-1945), kho Cao ủy Pháp tại Sài Gòn (1946-1954) và kho thống sứ và ủy viên Cộng hòa Pháp. Bà Olivia Pelletier cho biết rõ hơn:

            “Tại ANOM, chúng tôi bảo quản số lượng hồ sơ lưu trữ liên quan đến Đông Dương dài khoảng 4 km. Những kho tài liệu này rất thú vị vì chúng vừa liên quan đến công văn trao đổi, hồ sơ giao dịch trong mọi lĩnh vực, từ đời sống kinh tế đến đời sống hành chính, xã hội trong giai đoạn Pháp. Ngoài các kho này, còn có kho bản đồ, một thư viện và kho tranh ảnh”.

            Theo đánh giá của chuyên gia phụ trách kho “Đông Dương”, trong khoảng 10 năm gần đây, số lượng các nhà nghiên cứu về Đông Dương ở mức ổn định. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới, từ châu Á đến châu Mỹ, và dĩ nhiên phải nhắc đến các nhà nghiên cứu châu Âu, từ sinh viên đến giáo sư, giảng viên đại học. Chủ đề nghiên cứu cũng rất đa dạng, như lịch sử xã hội, lịch sử kinh tế hay lịch sử văn hóa.
            Để giúp các nhà nghiên cứu có thể định hướng và theo dõi trình tự niên đại đề tài nghiên cứu, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải Ngoại xuất bản rất nhiều sách hướng dẫn, thống kê các tài liệu lưu trữ, đồng thời hợp tác chặt chẽ với các trung tâm lưu trữ ở ba nước Đông Dương cũ:

            “Chúng tôi có mối quan hệ chặt chẽ với các đồng nghiệp Việt Nam, vì từ vài năm nay, chúng tôi có một bản thỏa thuận được Cơ quan Lưu trữ liên bộ của Pháp và Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước Việt Nam ký kết. Thoả thuận này giúp thiết lập mối quan hệ chặt chẽ trong việc chia sẻ tài liệu được số hóa, tổ chức các triển lãm ảo, đặc biệt là trong một dự án chung sắp tới. Chúng tôi sẽ cung cấp các hình ảnh lưu trữ được bảo quản ở ANOM và sẽ tham gia vào triển lãm kỷ niệm 100 năm lưu trữ Đông Dương được tổ chức ở Hà Nội”.


Vịnh Hạ Long, Bắc Kỳ. Ảnh chụp năm 1928

ANOM, nơi chia sẻ lịch sử
            Các kho tài liệu được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp rất đa dạng về nguồn gốc và phân loại, từ lưu trữ chính quốc đến địa phương, lưu trữ chính thức về sự hiện diện và bành trướng của Pháp đến lưu trữ của các tham chánh biện, hay cá nhân và hồ sơ kinh tế.
            Sự đa dạng này phản ánh muôn mặt nước Pháp ở lãnh thổ hải ngoại trong suốt quá trình xâm chiếm đến thám hiểm và khẳng định vị trí, mối quan hệ giữa người Pháp với dân địa phương từ quần đảo Antilles (Trung Mỹ) đến Mascareignes (châu Phi, ngoài khơi Ấn Độ Dương), từ lục địa Mỹ đến châu Phi, từ châu Á đến châu Đại Dương.
            Ngoài khối lượng hồ sơ lưu trữ giấy dài khoảng 38 km, ANOM còn nổi tiếng với kho ảnh quan trọng, với nhiều tấm có thể tra cứu được dưới dạng album trên website, trong đó phải kể đến khối lượng ảnh lớn liên quan đến Đông Dương được tổng hợp trong một khối dữ liệu riêng.

            “Trung tâm Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp có một phòng đọc với 80 chỗ ngồi, mỗi năm đón hơn 2.000 độc giả. Chúng tôi có một phòng đọc vi phim (microfilm).
            Đặc biệt từ nhiều năm nay, ANOM chú trọng đến cổng thông tin điện tử, giúp độc giả truy cập vào các công cụ tìm kiếm về tình trạng các kho, tài liệu thống kê chung hoặc thống kê chi tiết, cho phép các nhà nghiên cứu nước ngoài, thậm chí độc giả Pháp không sống ở Aix-en-Provence có thể tham khảo được những bản thống kê. Có nghĩa là, họ có thể chuẩn bị từ nhà danh sách tài liệu cần tra cứu, chuẩn bị cho chuyến nghiên cứu và áng chừng thời gian lưu lại Aix.
            Chúng tôi cũng có một phòng thống kê gồm 15 máy tính để truy cập vào website của ANOM. Trang này thường xuyên được cập nhật những thống kê mới, rất chi tiết, và có thể tra cứu được từ bất kỳ máy tính nào”
.

            Ngoài chức năng một trung tâm lưu trữ, ANOM luôn tìm cách phổ biến thông tin và tài liệu trong khối lưu trữ quan trọng này. Tháng 06/2017, ANOM phối hợp với đại học Provence đón các nhà nghiên cứu và chuyên gia tham gia hội thảo thường niên của Hội Nghiên cứu Lịch sử Thuộc địa Pháp (French Colonial History Society, FCHS) với chủ đề chính là đề cao những gương mặt nổi tiếng và chưa được biết đến trong giai đoạn thuộc địa.
            Bà Olivia Pelletier cho biết ANOM và bộ Quốc Phòng Pháp sẽ kết hợp với nhau để tổ chức một cuộc triển lãm liên quan đến Đông Dương vào cuối năm 2017 tại Pháp.

            “Đó là một dự án tiếp nối nhau thành nhiều chặng. Vào cuối năm 2017, bộ phận lưu trữ ở Vincennes của bộ Quốc Phòng sẽ đón một cuộc triển lãm dưới dạng tấm panô và tài liệu gốc liên quan đến biển và thủy thủ ở Đông Dương. Còn ANOM sẽ trưng bầy triển lãm này vào đầu năm 2018 với hình thức có thay đổi chút ít, được bổ xung thêm, với 15 tấm panô giải thích vai trò hàng hải ngoài chức năng quân sự. Triển lãm này là cơ hội để chúng tôi giới thiệu nhiều tài liệu đẹp trong kho của mình cho độc giả và khách tham quan”.


THU HẰNG
Tháng 7/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170710-kho-lich-su-viet-nam-thoi-thuoc-dia-trong-luu-tru-quoc-gia-hai-ngoai-phap

 
The following users thanked this post: thoton

Đang duyệt nduytai

Sự phát triển của ngành Việt Nam học tại Pháp

Nghiên cứu về Việt Nam được người Pháp chú ý ngay từ thế kỷ XVII, bắt đầu từ các nhà truyền giáo dòng Tên để phục vụ công việc đến các nhà thực dân trong công cuộc xâm chiếm Việt Nam. Kể từ đầu thế kỷ XX, ngành Việt Nam học phát triển cùng với sự thành lập của trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d’Extrême-Orient, EFEO) nhằm mục đích nghiên cứu các nền văn minh phương Đông với các chủ đề chính là nghiên cứu văn khắc, khảo cổ học và ngôn ngữ. Ít nhiều đi theo hướng này còn phải kể đến Viện Quốc gia Ngôn ngữ và Văn minh Phương Đông (Inalco, trước là Langues’O).

Quân đội Pháp chiếm Lạng Sơn tháng 02/1885, dưới sự chỉ huy của tướng Oscar de Négrier,
trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung

SAU KHI Thế Chiến II kết thúc, một xu hướng mới được hình thành tại Pháp, thiên về nghiên cứu lịch sử Việt Nam thời kỳ cận đại, với một số tác phẩm tiêu biểu như Lịch sử Việt Nam từ 1940 đến 1952 (L’histoire du Vietnam de 1940 à 1952, 1952) của Philippe Devillers, Đóng góp vào sự hiểu biết về quốc gia Việt Nam (Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne, 1955) của Jean Chesneaux và Việt Nam, lịch sử và văn minh (Le Vietnam, histoire et civilisation, 1955) của giáo sư Lê Thành Khôi sống tại Pháp.
            Trả lời RFI tiếng Việt, giáo sư Trịnh Văn Thảo, từng giảng dạy tại đại học Provence, nhận xét giai đoạn này đánh dấu thời kỳ phát triển mạnh của ngành Việt Nam học tại Pháp, với những tên tuổi như Jean Chesneaux, Pierre Brocheux, Daniel Hémery hay Georges Boudarel.

            “Ba người này là học trò của một ông giáo sư sử học, chuyên về Đông Phương học, ở trường Sorbonne, đó là giáo sư Jean Chesneaux. Ông là người đóng vai trò trung gian giữa hai thế hệ. Thời trước đó, hàng ngũ những người viết lịch sử cận đại Việt Nam là rất ít. Những người viết với mục đích hoan nghênh chủ nghĩa thực dân lại còn ít hơn nữa. Chỉ bắt đầu từ Paul Mus với Chesneaux là chớm manh nở hai nhân tài viết để chống lại chủ nghĩa thực dân.
            Ông Paul Mus là một trong những giám đốc đầu tiên của trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEO). Ông có một quá trình đào tạo căn bản ghê lắm, ông nghiêm khắc nhưng những gì ông phân tích về Việt Nam trong cuốn
Vietnam: Sociologie d’une guerre (tạm dịch: Việt Nam: Xã hội học của một cuộc chiến, 1952), cho thấy rõ ông là người có cái nhìn về bề sâu chứ không đứng trên phương diện biến cố, sự kiện lịch sử. Ông phân tích những lý do văn hóa, lịch sử tại sao có cuộc cách mạng ở Việt Nam, bắt đầu từ năm 1952.
            Sau khi Paul Mus dẫn đường khai lối, ông Chesneaux là người thứ hai, bắt đầu công việc đó. Ông Chesneaux có lợi khí chuyên về sử Trung Quốc cận đại và Việt Nam cận đại, thì Chesneaux viết cuốn sách mà tôi cho là quan trọng lắm trong giai đoạn đó, tên là
Đóng góp vào sự hiểu biết lịch sử Việt Nam”.

            Vẫn theo giáo sư Trịnh Văn Thảo, chính Chesneaux là người đào tạo ba “đệ tử” xuất sắc, được cho là đánh dấu thời kỳ vàng son của ngành Việt học tại Pháp, theo thứ tự tuổi tác là Georges Boudarel, Daniel Hémery và Pierre Brocheux. Sau này, cả ba nhà sử học đứng đầu nhóm nghiên cứu lịch sử Việt Nam cận đại tại trường đại học Paris 7 – Diderot, lúc đó mới vừa thành lập.

            “Boudarel, hồi xưa, đi cộng tác trong khuôn khổ một chương trình huấn luyện. Ông đi Việt Nam khi vừa đỗ bằng cử nhân về Việt Nam và dạy học ở trường Chasseloup-Laubat. Ông dạy được vài tháng thì đi theo kháng chiến từ nam ra bắc nên biết rõ những nhân vật lịch sử của Việt Nam. Về bên Pháp, nhờ Boudarel mà nhiều sử gia sau này rút được kinh nghiệm và biết rõ hơn những nhân vật lịch sử của đảng Cộng Sản Việt Nam.
            Người thứ hai là Hémery, ông chuyên về những nhân vật thuộc đệ Tứ. Ông theo dõi, phân tích một cách rất tỉ mỉ và chính xác phong trào La Lutte (Tranh Đấu) ở Việt Nam, khởi sự từ 1933 đến 1937-1938 thì rã ra. Đó là thời lịch sử giao thời, với kinh nghiệm gần như duy nhất về sự hợp tác giữa những người Cộng sản đệ Tam và đệ Tứ. Người cha tinh thần của tờ
Tranh Đấu là ông Nguyễn An Ninh, một nhà lãnh tụ cấp tiến.
            Đó là lần đầu tiên có một sử gia hiện đại nghiên cứu về một hiện tượng hiện đại với những tài liệu đầy đủ. Vì thế, ông đã viết cuốn sách về phong trào La Lutte xuất sắc.
            Brocheux nhiều tuổi hơn Hémery một chút. Ông Brocheux dạy sử tại trường trung học Pháp Chasseloup-Laubat. Trong ba người, tôi cho rằng Daniel Hémery là người xuất sắc nhất, đứng về mặt học vị là đỗ thạc sĩ, và có cái nhìn rất sâu, tương đương với Paul Mus”
.

            Sau khi nhà sử học Jean Chesneaux rút lui, ba học trò tiếp tục kết hợp nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam với kết quả “ngoạn mục” của cặp bài trùng Brocheux và Hémery là cuốn Indochine: Une colonisation ambigue (tạm dịch: Đông Dương, nền thuộc địa mơ hồ), được đánh giá là đánh dấu cho cả một thế hệ các nhà nghiên cứu. Ngoài ra, còn phải kể đến hai giáo sư Nguyễn Thế Anh và Charles Fourniau trong môi trường nghiên cứu khoa học bên Pháp.

            “Giáo sư Nguyễn Thế Anh rất có nhiều uy tín, mặc dầu ông là một công chức cao cấp của chế độ miền nam, nhưng ông có bảo đảm đứng về mặt khoa học. Nguyễn Thế Anh là người ăn học rất xuất sắc, đỗ thạc sĩ, rồi làm một luận án rất xuất sắc về thư mục Việt Nam. Bây giờ người ta vẫn xem ông là người đáng tin cậy nhất. Một người khác thiên về đảng Cộng Sản Pháp hoàn toàn là ông Charles Fourniau.
            Có năm người tất cả, trong môi trường khoa học bên Pháp, những người đó có ảnh hưởng lớn. Vì lúc đó, những chuyên viên về Việt Nam rất ít mà thanh niên, trí thức bên đây “châu” vào Việt Nam thôi. Kinh nghiệm chính trị của họ là Việt Nam, thành ra, những gì các ông này viết về Việt Nam có ảnh hưởng đến họ ghê lắm. Việt Nam là xứ duy nhất đương đầu với đế quốc Mỹ, đánh bại Pháp mà không bị đè bẹp, nên họ phục ghê lắm”
.

Pháp có 70 luận án tiến sĩ về Việt Nam trong vòng 20 năm
            Trong gần hai thập kỷ (1991-2008), có ít nhất 70 luận văn tiến sĩ chuyên về Việt Nam (hoặc về xứ Đông Dương thuộc địa) được bảo vệ tại Pháp, trong đó có 16 luận văn được bảo vệ tại trường Paris 7 – Diderot (theo tạp chí khoa học Mousson, số 13-14 (2009) dành riêng về Việt Nam: Lịch sử và triển vọng đương đại (Vietnam: Histoire et perspectives contemporaines).
            Nghiên cứu và giảng dạy về Việt Nam tiếp tục được triển khai tại một số trường đại học Paris 1 Sorbonne-Panthéon, ở miền Nam phải kể đến đại học Provence (Aix-Marseille I), đại học Lyon 2, cũng như ở nhiều vùng trên khắp nước Pháp: đại học Montpellier III, Nantes, Reims, Toulouse II, Perpignan, Littoral…
            Theo đánh giá của giáo sư Trịnh Văn Thảo, các nhà nghiên cứu về Việt Nam tại Pháp hiện nay rất xuất sắc. Không đóng vai trò “diễn viên” trong những biến cố lịch sử như thế hệ trước đã trải qua, họ đánh giá sự kiện lịch sử từ bên ngoài:

            “Bởi vì, những nhà sử học trên có kinh nghiệm. Họ hiểu sự việc từ trong hiểu ra. Còn những người thuộc lớp trẻ về sau như David Mas hay Philippes Papin, họ cũng hiểu sự kiện nhưng hiểu từ ngoài vào trong. Vì vậy, họ vừa đóng vai trò sử gia, vừa đóng vai trò diễn viên.
            Chỉ có mấy người trẻ bên Pháp, như Andrew Hardy, như tôi đã nói, lại không có kinh nghiệm bản thân. Họ nghiên cứu Việt Nam như một đối tượng khoa học. Còn lớp Hémery, Brocheux, họ đóng vai trò tiền phong để tố cáo những xứ đã đè bẹp Việt Nam bằng bom đạn”
.

            Về nghiên cứu sinh Việt Nam tại Pháp, giáo sư Trịnh Văn Thảo nhận xét có rất nhiều luận văn xuất sắc được bảo vệ, song song đó vẫn còn một số nghiên cứu sinh thiếu sót về kiến thức:

            “Sử Việt Nam chỉ khởi sự từ năm 1925 khi Bác Hồ lập ra Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Chứ về trước đó, họ không biết gì cả: thời nhà Nguyễn không biết, thời Pháp thuộc không biết, không cần biết, chỉ biết giai đoạn sau thôi. Thành thử, sinh viên qua bên đây, người nào giỏi về ngôn ngữ thì lại “thất” về phần sử học. Còn người có kiến thức sử học thì sử học lại bị méo mó”.

            Vẫn theo giáo sư Trịnh Văn Thảo, cần hình thành được một đội ngũ cán bộ trẻ có nhiệt huyết, tin vào sử học và tin vào khoa học để ngành Việt Nam học có thể phát triển. Thế hệ sử gia tương lai của Việt Nam “cần phải được đào tạo lại hoặc phải cho họ ra xứ ngoài, chạm trán với những trường phái, nhờ thế họ mới tiến được”.
            Một lưu ý khác là cần phải lựa chọn kỹ giáo sư Pháp hướng dẫn làm luận văn tiến sĩ vì có một số người thiếu kiến thức lịch sử Việt Nam: “Họ tử tế lắm, dễ thương lắm, họ sẵn sàng giúp đỡ học sinh Việt Nam để ngành sử học Việt Nam tiến bộ nhưng mình phải có sự phối hợp nhiều tiêu chuẩn mà căn bản nhất là tiêu chuẩn khoa học sử”.
            Điểm cuối cùng mà nghiên cứu sinh Việt Nam tại Pháp chưa thực hiện được là nắm chắc ngôn ngữ để có thể đào sâu vấn đề, đọc được sách và truy cứu tư liệu một cách cẩn thận.


THU HẰNG
Tháng 6/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170626-su-phat-trien-cua-nganh-viet-nam-hoc-tai-phap
 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Đang duyệt nduytai

Ngành nghề Việt Nam tại Triển lãm Hoàn cầu Paris 1900

Năm 1900, Paris tổ chức Triển lãm Hoàn cầu lần thứ năm, từ ngày 15/04 đến 12/11, với quy mô lớn hơn nhờ những công trình hiện vẫn còn được lưu lại đến nay: Le Grand Palais (Cung điện lớn) và le Petit Palais (Cung điện nhỏ).


TRIỂN LÃM Hoàn cầu Paris 1900 là cơ hội để toàn quyền Paul Doumer chứng minh với Mẫu Quốc rằng Đông Dương, đặc biệt là vùng đất Bắc Kỳ mới được bình định, có thể tự lực cánh sinh để phát triển. Ngoài mục đích ca ngợi những phát triển kỳ diệu tại đây, cuốn Bắc Kỳ năm 1900 (Le Tonkin en 1900) với 172 hình ảnh minh họa của Robert Dubois còn muốn giới thiệu rộng rãi đến công chúng Pháp những ngành nghề và cuộc sống hàng ngày của người dân vùng đất mà tác giả đánh giá là “tuyệt vời” này.

* * *

            Với tác giả Robert Dubois, Bắc Kỳ phát triển hơn An Nam về các ngành công nghiệp và nghệ thuật. Ngoài khéo léo và tài hoa, người dân còn chăm chỉ và có tính kiên nhẫn trước mọi thử thách. Bằng chứng được tác giả đưa ra là ba nghề thêu, chạm khắc và sơn mài, người thợ tài tình tạo ra những tác phẩm nghệ thuật thực sự khiến người phương Tây phải trầm trồ.
            Người thợ thêu không chỉ làm theo những mẫu vẽ hoa, nhân vật hay những con chim có hình dáng kỳ lạ, mà phải nói là họ phủ mầu sắc rực rỡ, sống động trên nền lụa Tầu. Còn người thợ khảm chứng tỏ tài năng bằng những con rồng khảm trai trên nền gỗ cứng, phản chiếu những sắc thái yêu kiều và nhẹ nhàng khiến người mua phải hân hoan. Những họa tiết của họ đều mang một cốt chuyện thực sự, từ những trận chiến đến đôi bướm lượn trên hoa…
            Nghệ thuật khảm xà cừ (khảm trai, khảm ốc) nổi tiếng ở Bắc Kỳ và rất nhiều người cần cù theo đuổi nghề này. Giá trị của tác phẩm nằm ở chính sự kết hợp giữa hiệu ứng của nghệ thuật khảm, hình vẽ, chất gỗ và cách gắn những mẩu trai được cắt gọt và bào nhẵn khéo léo. Công việc này đòi hỏi gu thẩm mỹ, sự khéo léo, đều tay vì không được để những đường khắc bị sứt mẻ, nếu không các miếng ghép sẽ không được khít. Dù chỗ hở sẽ được phủ lớp sơn mài hoặc bôi sáp, nhưng những người am hiểu sẽ không chấp nhận một tác phẩm như vậy. Sau khi đã chọn mầu sắc tỉ mỉ, người thợ kiên nhẫn gắn từng miếng vỏ trai bé xíu lên gỗ.
            Chất liệu xà cừ thường được lấy từ vỏ ốc, vỏ trai bên bờ biển Việt Nam, hoặc mua từ các tỉnh Bắc Giang, Thanh Hóa. Vỏ trai vàng và bóng rất được ưa chuộng. Ngoài ra, các mầu xanh dương, xanh lá cây cũng được sử dụng rất nhiều và được chuộng hơn mầu trắng. Thế nhưng, việc xác định được mầu sắc của những mảnh trai cũng rất khó vì chỉ một mẩu trai cũng đã có đủ mầu sắc từ xanh lục nhạt, sắc hồng đến tím… tùy theo góc nhìn.
            Có thể nói, nếu muốn, người Việt Nam có thể làm được những tác phẩm tuyệt vời và cao cấp hơn nhiều so với sản phẩm từ các nước láng giềng Trung Quốc hay Nhật Bản.



            Đồ sơn mài cũng có một vị trí quan trọng trong ngành công nghiệp Bắc Kỳ. Chất liệu có thể tìm được từ khắp nơi, đặc biệt chất liệu sơn do tỉnh Sơn Tây cung cấp có thể so sánh được với những sản phẩm tốt nhất của Tầu hoặc Nhật. Cách làm tùy thuộc vào mỗi người thợ với những phương pháp riêng. Để có một sản phẩm tốt, lớp sơn phải được trộn kỹ, đồng nhất, không bị gồ ghề.
            Đầu ra cho sơn mài rất đa dạng. Từ đồ gỗ, bàn ghế, giường tủ đến xe hơi, xe kéo, đường sắt, tầu thủy… đều dùng đến sản phẩm sơn mài với mầu sắc đa dạng. Sơn mài trở nên cần thiết với một số vật dụng vì gỗ được phủ lớp sơn mài sẽ không bị hỏng, còn việc bảo quản lại vô cùng đơn giản. Khí hậu nóng ẩm, thời tiết xấu không hề gây tác động đến lớp sơn.
            Một trong những điểm bất lợi của sản phẩm sơn mài là cần vài tháng để theo dõi và thao tác, sau đó phải hong khô, đôi khi cũng cần đến vài tháng, trước khi có thể sử dụng được. Chính vì vậy, sơn công nghiệp dần được thay thế sơn mài (sơn ta) trong những công trình công cộng cần tiến độ nhanh.
            Ngoài ra, còn phải kể đến sản phẩm đủ chủng loại của thợ gốm phục vụ sinh hoạt hàng ngày, từ chum đựng nước đến dụng cụ nhà bếp, bát đĩa, liễn, bình… Đội ngũ thợ đóng gạch cũng rất đông và gạch làm ra có chất lượng cao. Thợ làm sắt tây thường cung cấp cho khách hàng những ý tưởng tài tình. Họ tái chế vỏ đồ hộp cũ hay thùng đựng dầu để tạo ra những chiếc đèn, đèn lồng, đèn măng sông, bình chứa…
            Riêng thợ kim hoàn và thợ đồng hồ hầu hết do người Hoa đảm nhiệm với kiến thức rất đa dạng. Tuy nhiên, cũng có một vài người Việt làm nghề vàng bạc. Họ khắc họa tiết trên nhẫn, vòng cổ, vòng tay… nhưng cũng làm ra những chiếc túi đựng thuốc lá, cán ô, hộp diêm, khuy cổ tay áo…
            Khá đông người làm nghề gò hàn và sản phẩm của họ đóng vai trò quan trọng trong đời thường, từ đơn giản như chậu đồng đến tinh xảo và cầu kỳ uốn lượn như chuông, lư hương, tượng Phật hay hình con diệc đứng trên rùa đá. Vì phải bỏ nhiều công sức nên đôi khi những sản phẩm này có giá rất cao.
            Nghề kinh doanh và dệt chiếu từ lá chuối cũng rất chạy vì đây là sản phẩm không thể thiếu của mỗi gia đình. Những chiếc chiếu có chất lượng cao, đẹp, rất bền chắc và còn được viền mép bằng vải để tránh bị xổ. Quạt giấy nan tre được bán chủ yếu cho dân địa phương, đặc biệt được bán rất chạy vào dịp nắng nóng. Nghề làm mũ cũng là một chuyên môn ở Bắc Kỳ. Một số loại mũ được làm đặc biệt hơn, dành cho giới nhà giầu Việt Nam và có giá đắt. Đôi khi đây là những tác phẩm nghệ thuật thực sự và cần sự kiên nhẫn.



            Dù phần lớn người Việt đi chân đất nhưng thợ sửa và đóng giầy vẫn làm ăn phát đạt ở thành phố. Một số thợ ở Hà Nội có tay nghề đóng giầy Pháp. Thợ ráp ô (dù) cũng tài hoa trong nghề này. Nếu như lọng vẫn chỉ được dành cho quan lại, thì nhờ tư tưởng tự do hơn của Pháp, người dân Bắc Kỳ được dùng ô có kiểu cách đơn giản. Với những người phiên dịch, thư lại, làm bếp…, chiếc ô là đồ vật thể hiện sự sang trọng và quyền quý hơn so với một bộ phận khác như culi, thợ thuyền… Những người này sẵn sàng che ô ngay cả lúc 9 giờ tối và nắng đã tắt từ lâu.
            Thợ mộc có nguồn thu dồi dào nhờ khách bản địa chuộng gu kiến trúc và đồ gỗ theo phong cách châu Âu. Dù chất lượng không thể so sánh được với nghề làm gỗ ở Pháp, nhưng có lợi cho người Việt muốn có sản phẩm tương tự mà không phải trả quá đắt. Gỗ được chuyển từ miền ngược, kết chặt thành bè, thả xuôi theo dòng sông. Đồ gỗ trang trí của Việt Nam được chạm khắc tao nhã, hài hòa giữa các đường nét chạm trổ. Thợ đóng quan tài cũng đông hơn người ta hình dung. Sản phẩm của họ là những chiếc hộp hình chữ nhật, thuôn dài, một đầu rộng hơn và dần thu hẹp đến đầu bên kia. Thường những chiếc quan tài được đóng và chạm trổ cũng rất khéo léo.
            Tại Triển lãm Hoàn cầu 1900, người ta có thể ngắm một số mẫu vải do thợ Việt thực hiện dưới sự chỉ đạo của ông Viterbo, nhưng chỉ có khổ 50cm. Nghề dệt lụa chưa đạt được sự tinh tế cần thiết, song thợ địa phương vẫn chưa biết cách cải thiện. Nghề may không chỉ thu hút mỗi phụ nữ, rất nhiều đàn ông cũng theo đuổi công việc cần tính kiên nhẫn và tỉ mẩn. Khách hàng của họ chủ yếu là người địa phương, nhưng tại các khu phố Pháp, nơi chủ yếu là thợ người Hoa, cũng may đo cho người Pháp.
            Nghề làm giấy ở Bắc Kỳ làm ra được loại giấy bền như giấy da, rất chắc, sờ khá mềm mại, mực không bị thấm sang mặt bên kia. Ở ngoại thành Hà Nội có Làng Giấy nổi tiếng về nghề này với cách sản xuất thủ công kỳ lạ, còn dụng cụ thì rất thô sơ. Trên loại giấy này, họa sĩ vẽ nhiều chủ đề khác nhau, đầy mầu sắc, để trang trí trong nhà. Một số họa sĩ đã đạt đến trình độ hoàn hảo và sao chép như thật những mẫu theo yêu cầu của người châu Âu.
            Ngoài ra, còn phải kể đến nghề làm muối có chất lượng tốt. Muối được dùng để làm nước mắm, nấu ăn, bảo quản thịt lợn và gia cầm, hai loại thịt được ưa chuộng. Người Việt nhuần nhuyễn trong việc nấu rượu vì loại nước uống có cồn này được dùng rất nhiều và phổ biến. Làm đường mật, dầu ăn và dầu thắp sáng cũng là những ngành mà người Việt nắm rõ.
            Cuối cùng, nghề tôi vôi cũng thu hút nhiều lao động với cách làm giống ở Pháp nhưng phương tiện thô sơ hơn. Nguyên liệu là đá vôi, đá cẩm thạch và cả vỏ sò biển… được nung trong lò đất đốt bằng củi.



Nghề dịch vụ ngoài chợ
            Bên cạnh những nghề thủ công, còn phải kể đến nghề dịch vụ như đấm bóp dạo, lấy ráy tai, đổi tiền, bán hàng rong ngang dọc khắp nơi để bán hàng cho phu kéo xe vài miếng bánh, một mẩu đường hoặc một miếng dồi lợn, thậm chí là dồi chó.
            Chợ ở Bắc Kỳ thường họp gần làng hay ngay trong làng và chỉ cần những chiếc lán bằng tre để tránh mưa gió. Người bán hàng, thường là dân quê đi chân đất, đến từ xa, kĩu kịt hàng hóa trên đôi quang gánh mang đến chợ bán. Họ ngồi trên chiếu hoặc ngồi phệt xuống đất, khoanh chân lại và bình tĩnh chờ người mua hoặc rao giá hời để thu hút khách. Quà rong có mặt khắp chợ. Khách hàng có thể ăn một bát phở, uống một tách trà ngay cạnh sạp bán vải, đồ sành sứ, đồ đồng, hay rau củ quả, trầu cau.
            Bên cạnh đó còn có nhiều nghề rất thú vị. Người Việt không đi giầy, nên không có thợ đánh giầy, nhưng lại có thợ làm tóc giả giữa chợ, thợ ngoáy tai và đấm bóp. Thợ làm tóc giả lúc ngồi xổm, lúc ngồi trên ghế đẩu, đối diện với khách hàng cũng ngồi xổm. Hai con người mảnh khảnh co người lại, rồi nghiêng đầu, căng cổ, trông rất nực cười. Cách xa đó một chút là thợ lấy ráy tai, cũng ngồi giống như thợ làm tóc hoặc để khách hàng ngồi trên ghế băng. Sau đó, ông ta lấy một cái nạo nhỏ và một miếng giẻ rồi tỉ mỉ ngoáy tai. Còn người được lấy ráy tai nhẫn nại ngồi im.
            Người đấm bóp cũng ngồi đối diện với khách hàng, đấm đấm vào phần cơ tay và cơ chân để bắt đầu. Khuôn mặt cũng không tha và đây mới là nơi ông thể hiện nghệ thuật của mình: ấn thái dương, nhấn má, lỗ mũi, rồi xoa bóp đến đê mê cho đến lúc khách hàng giật mình vì đã xong và phải trả tiền. Ở chợ, cũng có một vài người mù đi hát rong, kẻ trộm và những kẻ cờ bạc bịp khéo léo cuỗm tiền của những người nông dân khốn khổ.
            Có thể thấy chợ ở Bắc Kỳ có những điểm chung đáng ngạc nhiên với chợ ở Pháp. Sau buổi chợ, người bán hàng tụ tập ở một điểm quen thuộc và chỉ trong vòng vài giây, họ có thể nướng hết số tiền bán hàng trong mấy trò chơi may rủi. Vì chợ là một hoạt động kinh doanh quan trọng và ngày càng phát triển, nên thành phố Hà Nội đã cho xây 5 chợ có mái che để mua bán, trao đổi hàng hóa.
            Các ngành nghề thủ công ở Bắc Kỳ có sức hấp dẫn đặc biệt đối với chính phủ thuộc địa. Chính vì vậy, cuộc triển lãm đầu tiên về chủ đề này đã được tổ chức ở Hà Nội trong ba ngày 24, 25 và 26/12/1897. Cuộc triển lãm thứ hai diễn ra đúng một năm sau đó, vào tháng 12/1898.


THU HẰNG
Tháng 9/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170911-nganh-nghe-viet-nam-tai-trien-lam-hoan-cau-paris-1900
 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Đang duyệt nduytai

Việt Nam: Kiểm duyệt báo chí quốc ngữ trong thời kỳ Pháp thuộc

Trong giai đoạn thuộc Pháp, Việt Nam bị chia thành ba vùng tách biệt: Nam Kỳ trở thành thuộc địa và theo luật lệ của Pháp; Trung Kỳ và Bắc Kỳ nằm dưới chế độ bảo hộ, vẫn theo luật lệ của triều Nguyễn nhưng quyền hạn thật nằm trong tay chính phủ Đông Dương.

Trụ sở tòa soạn báo l’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ) bên Hồ Gươm, Hà Nội

TƯƠNG TỰ, báo chí tại Việt Nam cũng bị tách thành hai chế độ riêng biệt. Tại Nam Kỳ, nơi được coi là cái nôi của nền báo chí Việt Nam, báo tiếng Pháp được hưởng quyền tự do báo chí như tại “Mẫu Quốc” theo luật ngày 29/07/1881. Bất kỳ người nào mang quốc tịch Pháp đều có thể ra báo mà không cần xin phép trước. Tuy nhiên, đối với báo chí quốc ngữ hay bằng bất kỳ ngôn ngữ nào khác tiếng Pháp phát hành trên Đông Dương, cần có giấy phép của chính phủ.
            Sau giai đoạn “tập làm báo” dưới thời Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký), Huỳnh Tịnh Của (Paulus Của), báo chí Nam Kỳ bắt đầu đa dạng hơn với một số tờ chính luận của tư nhân phát hành bằng tiếng Pháp và chữ quốc ngữ, rồi dần lan rộng đến Bắc Kỳ sau Hòa ước Patenôtre 1884 với triều đình Huế công nhận quyền bảo hộ của Pháp.

Báo tiếng Pháp được tự do phát hành – Báo quốc ngữ phải xin phép
            Cũng từ giai đoạn này bắt đầu xuất hiện nhiều vụ xung đột lợi ích giữa chính quyền và giới thực dân (colons), hoặc giữa các nhà cầm quyền Pháp tại Đông Dương. Báo chí trở thành công cụ tấn công, bảo vệ quyền lợi mỗi bên. Trong những năm 1880-1890, toàn quyền Đông Dương bị tờ Courrier d’Haiphong tấn công, còn đốc lý Hải Phòng là đối tượng chỉ trích của tờ Le Cancrelatlibre penseur. Nghiêm trọng hơn là một vụ tung “tin giả” của tờ L’Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ), được nêu trong bức thư ngày 09/02/1889(1) của toàn quyền Đông Dương Richaud gửi bộ trưởng Hàng Hải và Thuộc Địa Pháp:

             “Nhà vua (Đồng Khánh) băng hà ngày 28/01/1889, lúc 8h30 tối và tin này được báo cho Toàn quyền qua điện tín sáng 29. Thế mà tờ L’Avenir du Tonkin đã dán trước cửa văn phòng hai tin nhanh như sau: “Huế, ngày 26/01/1889 – Hoàng đế An Nam bị đầu độc: người ta còn giữ hy vọng cứu được ngài” – “Huế, ngày 28/01/1889 – Hoàng đế An Nam đã băng hà”.”

            Theo báo cáo của toàn quyền Đông Dương, lý do là chủ báo De Saint Mathurin bất bình vì chính quyền ngừng đặt mua và tài trợ tờ L’Avenir du Tonkin để chuẩn bị thành lập Công báo Đông Dương Journal officiel de l’Indochine.
            Vẫn trong bức thư trên, toàn quyền Đông Dương Richaud nhấn mạnh:

             “Các cuộc tấn công dai dẳng và mãnh liệt (như của tờ Cancrelat) nhắm vào công chức đã hạ thấp nhân viên của chúng ta và gây tổn hại đến ảnh hưởng của Pháp tại một nước mà chúng ta vừa mới chỉ thiết lập được quyền lực…”

            Có lẽ những sự kiện này buộc chính quyền Đông Dương phải ban hành sắc lệnh ngày 04/10/1898 hạn chế một số quyền tự do báo chí và quy định nhiều hình phạt khác nhau, kể cả đối với báo bằng tiếng Pháp, công dân Pháp và dân địa phương, phạm các tội kích động dân địa phương nổi loạn, đăng tải, tuyên truyền tranh ảnh thiếu tôn trọng chính quyền Pháp tại Đông Dương...
            Kể cả báo chí quốc ngữ Nam Kỳ, thuộc địa của Pháp, cũng trở thành đối tượng nhắm đến của sắc luật này, như trường hợp được nhà sử học Pháp Pierre Brocheux nhắc lại là vụ bắt giữ Gilbert Chiếu (Trần Chánh Chiếu), chủ bút tờ Lục tỉnh tân văn của một người Pháp, vào tháng 10/1908 vì ông có quan hệ với phong trào Đông Du và viết báo chống chính quyền thuộc địa. Nhà sử học Pierre Brocheux đánh giá:

             “Báo chí quốc ngữ phát triển từ báo thông tin thành báo chí chính luận và cũng nhanh chóng biến thành báo chí tuyên truyền, thậm chí còn đăng những lời yêu sách. Nhiều bài viết còn kêu gọi độc giả biểu tình, làm việc này hay việc kia, ký kiến nghị… Dĩ nhiên, hiện tượng này cũng nhanh chóng lan ra miền Bắc. Điều đáng nói là miền Bắc không phải là Nam Kỳ, có nghĩa là không phải là một thuộc địa, nên hệ thống kiểm duyệt, cảnh sát theo dõi rất chặt chẽ và trấn áp cũng rất nhanh, vì vậy, báo chí không phát triển rộng được như ở Nam Kỳ”.

            Vẫn theo nhà sử học Brocheux, ở Nam Kỳ, nhiều người còn đặt mua được báo L’Humanité của đảng Cộng sản Pháp và nhận được qua đường bưu điện.

             “Người ta có thể thấy trong những tờ báo chính luận đầu tiên bằng chữ quốc ngữ một số bài viết dịch lại từ tờ L’Humanité. Đây là trường hợp của tờ Tiếng chuông rè (La Cloche fêlée) của Nguyễn An Ninh. Sau đó còn có bản dịch của luật sư Phan Văn Trường về “Tuyên ngôn đảng Cộng sản” và nhiều bài báo trên tờ L’Humanité. Chính vì thế, luật sư Phan Văn Trường bị bắt giam, dù ông có quốc tịch Pháp. Ông còn dịch “Lời kêu gọi Binh sĩ” (Appel aux soldats) đừng ra chiến trường, đừng sang các nước thuộc địa hoặc đào ngũ…”

            Điều này đã được làm và có thể làm ở Nam Kỳ, song kéo dài không lâu, vì chính quyền luôn tìm chứng cứ để đình bản hoặc tiến hành các vụ bắt giam. Ngay khoảng năm 1925, toàn quyền Đông Dương Alexandre Varenne, thuộc đảng Xã Hội, đã ban hành nhiều biện pháp chống lại báo chí Đông Dương. Sắc lệnh ngày 04/10/1927, còn được gọi là sắc lệnh Varenne, quy định lại chế độ báo chí ở các vùng bảo hộ của Pháp, áp đặt chế độ kiểm duyệt, đã bị bãi bỏ ở Pháp, đối với báo chí quốc ngữ.

Báo chí phát triển – Kiểm duyệt khắt khe
            Tuy nhiên, cũng từ năm 1927, báo chí Bắc Kỳ phát triển vượt bậc nhờ một tầng lớp trí thức trẻ người Việt, công nghệ in báo được cải tiến… Từ 9 đầu báo vào năm 1927 tăng thành 27 vào đầu năm 1933. Nhà sử học Brocheux cho biết thêm:

             “Tại Bắc Kỳ và Nam Kỳ, báo chí được tự do phát triển hơn một chút dưới thời Mặt Trận Bình Dân tại Pháp (Front Populaire) vào năm 1936. Đây là thời kỳ nở rộ, người ta thấy xuất hiện rất nhiều “báo lá cải” theo cách gọi “feuille de chou” trong tiếng Pháp, có nghĩa là báo chỉ có một tờ in hai mặt, vì giai đoạn này có chút tự do hơn, luật pháp không bị áp dụng chặt chẽ đối với báo chí. Nhờ đó, rất nhiều báo cộng sản, hoặc những tờ ngả theo cánh tả, thậm chí là cực tả, xuất hiện trong giai đoạn 1936-1937, ví dụ như tờ La Lutte (Tranh đấu)”.

            Chút tự do báo chí tại Đông Dương nhanh chóng bị hạn chế với một sắc lệnh mới 30/06/1935 và thực sự bị trấn áp từ năm 1939 khi Thế Chiến II sắp bùng nổ, đồng thời Mặt Trận Bình Dân Pháp bị tan rã. Tại Pháp, đảng Cộng sản bị giải tán theo sắc lệnh ngày 26/09/1939. Nhà sử học Brocheux giải thích:

             “Sắc lệnh này đặt đảng Cộng sản Pháp ngoài vòng luật pháp, cũng như mọi đảng Cộng sản hay chi nhánh của đảng này ở các xứ thuộc địa Pháp. Các báo cộng sản cũng bị cấm, như L’Humanité ở Pháp. Ở Việt Nam, chính quyền lục soát trụ sở tất cả các báo cộng sản, bắt giữ người theo cộng sản và đưa họ vào trại giám sát”.

            Một lần nữa, người Việt bị tước quyền tự do báo chí. Tuy nhiên, họ tìm cách lách luật bằng cách mượn tên của một người có quốc tịch Pháp để mở một tờ báo sau đó nhượng lại cho một người Việt khai thác, dễ như “thuê nhà mặt phố”. Tuy nhiên, các tờ báo quốc ngữ phải chịu kiểm duyệt trước. Bộ phận báo chí của chính quyền thuộc địa có quyền cắt hoặc xóa một khổ, một câu, thậm chí bỏ cả bài nếu nội dung đi ngược với lợi ích hoặc đe dọa chính quyền thuộc địa. Chính vì thế, từ năm 1940, độc giả không hề ngạc nhiên khi thấy nhiều chỗ bị bỏ trắng trong các nhật báo hoặc tạp chí (Tri Tân, Phong Hóa…) với hàng chữ “Kiểm duyệt bỏ”. Trong vòng ba năm, từ 1940-1943, 17 tờ báo bị rút giấy phép phát hành.
            Nhà trí thức Phạm Quỳnh, chủ bút tạp chí Nam Phong, từng biện minh cho chính sách kiểm duyệt của chính quyền Pháp tại Đông Dương, là “phòng ngừa tốt hơn là trấn áp. Chính xác hơn là nên ngăn chặn các bài viết có nguy cơ đẩy nhà văn đến các hậu quả đáng tiếc trước khi chúng được in. Chế độ báo chí, ngược lại, rất tự do đối với những gì được cho là thể hiện quan điểm và chỉ cấm những gì phạm pháp. Có nghĩa là, giấy cấp phép ra báo không phải là một trở ngại mà là sự bảo vệ cho những người liên quan”.(2)


THU HẰNG
Tháng 10/2017

________________________________
(1) CAOM, Gouvernement général de l’Indochine, dossier 9220.
(2) Phạm Quỳnh, “La presse annamite” (Báo chí An Nam), Nam Phong, n°107, tháng 07/1926.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171016-viet-nam-kiem-duyet-bao-chi-quoc-ngu-trong-giai-doan-thuoc-phap

 

Đang duyệt nduytai

Những chiếc xe hơi Pháp đầu tiên ở Việt Nam

Citroen, Peugeot và Renault, ba thương hiệu ô tô của Pháp, xuất hiện tại Việt Nam ngay từ đầu thế kỷ XX. Nhưng trước đó, Đông Dương từng là mảnh đất thử nghiệm cho các nhà sáng chế xe hơi Pháp đưa ra mẫu thiết kế dành riêng cho địa hình và điều kiện khí hậu nhiệt đới.

Nhà nghiên cứu lịch sử Đông Dương Stéphanie Ponsavady, đại học Wesleyan, Hoa Kỳ

TỪ SÁU CHIẾC xe hơi được công chức và giới nhà giàu phương Tây tại Đông Dương nhập nguyên chiếc từ “Mẫu quốc” vào khoảng năm 1905, thì 15 năm sau, con số này tăng lên hơn 1.000 lần, với khoảng 10.000 đến 15.000 xe, trong đó một nửa số xe thuộc về người Á châu (Việt, Lào, Cam Bốt và Hoa).
            Xe hơi trở thành phương tiện khẳng định địa vị, quyền lực và giàu sang trước ánh mắt vừa có chút thèm muốn, vừa có chút coi thường của người dân vì đó là biểu tượng của sự đô hộ Pháp. Ngoài ra còn có một số tiêu chí khác cho phép đoán được khả năng tài chính của chủ xe, hay thân thế địa vị của người trong xe qua vị trí ngồi của họ như, một quan chức của triều đình thường ngồi băng ghế sau và có tài xế riêng, một người giàu có cởi mở với hiện đại thường tự lái xe…
            Vậy những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam khi nào? Quá trình phát triển của xe hơi ở Đông Dương ra sao? RFI tiếng Việt đặt câu hỏi với nhà nghiên cứu Stéphanie Ponsavady, giảng viên đại học Wesleyan, Hoa Kỳ.

RFI: Xin chị cho biết những chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện tại Đông Dương vào thời điểm nào?
Stéphanie Ponsavady: Lần đầu tiên tôi nhìn thấy cụm từ “xe hơi” trong tài liệu lưu trữ là năm 1905. Đó là một bản thống kê, lập tại Sài Gòn vì thị trưởng Sài Gòn muốn lập danh sách số lượng xe hơi để đánh thuế. Nhờ đó, người ta biết là năm 1905 bắt đầu có xe hơi, còn trước đó thì khó tìm được dấu vết.

RFI: Theo tài liệu mà chị tìm được ở các viện lưu trữ, xe hơi được dành cho đối tượng nào tại Đông Dương?
Stéphanie Ponsavady: Vào thời kỳ đó, xe hơi chủ yếu được các cá nhân sử dụng, đa số là những người có danh vị, trong đó có luật sư, bác sĩ. Theo thống kê năm 1905 thì có khoảng 6 chiếc, phần lớn thuộc về người châu Âu và chỉ có một hoặc hai chiếc có lẽ thuộc về người Việt.
            Thời kỳ đó chủ yếu là xe hơi Pháp, đó là những chiếc Citroen, Peugeot và Renault, ba thương hiệu nổi trội hồi đầu thế kỷ XX. Những chiếc xe này được người châu Âu mang sang khi họ đến định cư ở Đông Dương. Chúng có dáng nhỏ, chưa mạnh lắm, chắc khoảng 2-4 mã lực.
            Sau đó, khi đến Đông Dương, chúng được cải tiến để thích nghi với khí hậu nhiệt đới, có nghĩa là thường được biến thành xe mui trần, vì bên trong những chiếc xe kín như bưng vô cùng nóng bức, ngột ngạt. Nhưng điều này lại gây ra một vấn đề khác vì ở Đông Dương, cũng như ở châu Âu, khá bụi bặm. Bụi dính vào trong xe và trong động cơ. Chính vì thế, khi đến xứ Đông Dương, vấn đề đặt ra là làm thế nào cải tiến xe để thích nghi với điều kiện khí hậu, đường xá.


Vợ chồng công tước Brabant thăm Hà Nội,
trước khi trở thành vua Bỉ Léopold III và hoàng hậu Astrid năm 1934

RFI: Chị từng nói là xe hơi được sản xuất tại Pháp sau đó được nhập sang Đông Dương, nhưng Đông Dương lại là một thị trường để ngành xe hơi Pháp thí điểm?
Stéphanie Ponsavady: Khi tôi nói đến những chiếc xe hơi đầu tiên được thống kê vào năm 1905, tôi muốn nói đến những chiếc xe nguyên dạng. Thế nhưng, ngay vào cuối thế kỷ XIX, đã có vài nhà sáng chế Pháp đề xuất những thiết kế xe hơi phù hợp với thị trường Đông Dương.
            Ví dụ, vào cuối thế kỷ XIX, xuất hiện loại phương tiện được gọi là “ô tô tầu hỏa” (train automobile). Các nhà sáng chế đưa ra ý tưởng làm đường ray và những chiếc xe hơi, thay vì dùng bánh bình thường, sẽ dùng bánh sắt như tầu hỏa. Đây là dự án của hai người Pháp vùng Lyon và họ đề xuất lên chính phủ thuộc địa dự án được cho là phù hợp với địa hình đồi núi Bắc Kỳ. Vì họ nghĩ rằng loại xe này có bánh xích nên sẽ không cần đến đường xá, vì xe của họ sẽ tự đi được. Thế nhưng, nha Tổng thanh tra Công Chính Đông Dương lại cho rằng ngoài chi phí đắt, xe bánh sắt có trọng lượng rất nặng nên sẽ không thể triển khai được vì nền đất ở Bắc Kỳ không ổn định và không chắc chắn cho loại xe này.
            Có thể nói trong khi ở Pháp và ở châu Âu còn chưa hình thành được mô hình xe hơi hiện đại, vậy mà ngay khi người Pháp ổn định tại Đông Dương, các nhà sáng chế Pháp đã nghĩ cách thử nghiệm kỹ thuật mới ngay tại chỗ.
            Sau này, Citroen lấy lại ý tưởng ban đầu đó để thử nghiệm những cuộc thám hiểm đầu tiên là ở châu Phi trong những năm 1920, sau đó là tại châu Á vào khoảng những năm 1930-1931. Cuộc thám hiểm mang tên “Croisière jaune” với mục đích đi xuyên châu Á bằng ô tô bánh sắt của Citroen vừa thành công, nhưng cũng thất bại. Thành công vì đã đi xuyên châu Á, còn thất bại là do một trong số người khởi xướng qua đời trước khi đến Đông Dương. Vì vậy, hành trình Đông Dương bị hủy, còn thi thể người quá cố được đưa về Pháp bằng tầu thủy. Nên có thể nói, Đông Dương vừa là vùng đất kích thích trí tưởng tượng, vừa là nơi thử nghiệm thật sự của các mẫu xe hơi Pháp.

RFI: Chính quyền thuộc địa Đông Dương có tiến hành xây dựng cơ sở hạ tầng để đáp ứng loại hình giao thông mới này không?
Stéphanie Ponsavady: Khi mới đến, người Pháp cố tìm cách sử dụng hệ thống đường thủy, nhưng sau đó không thành hiện thực vừa vì lý do chính trị, địa-chiến lược, vừa vì công nghệ. Vì thế, Nha Công Chính tập trung vào những phương tiện trên mặt đất. Từ những năm 1910-1920, các khoản đầu tư chủ yếu đổ vào phát triển hệ thống đường xá, đầu tiên là tuyến quốc lộ 1 xuyên suốt Việt Nam, sau đó là những tuyến đường khác bắt nguồn từ quốc lộ 1 tỏa đi khắp nơi.
            Trên thiết kế, mạng lưới này hoàn toàn sử dụng được cho xe hơi. Nhưng trên thực tế, nảy sinh rất nhiều vấn đề về kỹ thuật, công nghệ, mặt đường không hẳn phù hợp với khí hậu nhiệt đới, hay vấn đề bảo dưỡng… Vì đó là một mạng lưới lớn nên xảy ra rất nhiều cuộc tranh luận về ngân sách giữa chính quyền địa phương và bộ Thuộc Địa Pháp: Liệu chính quyền địa phương phải chịu trách nhiệm về hệ thống đường xá? Hay chính quyền trung ương Pháp lập hẳn một ngân sách cho việc trùng tu bảo dưỡng? Vì dù tốn kém, nhưng mạng lưới đường xá tại Đông Dương lại vô cùng quan trọng cho công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp.


Triển lãm Xe hơi tại Phòng Báo chí và Thông Tin Sài Gòn, ngày 29/09/1949

RFI: Những chiếc xe hơi này chạy bằng nguồn nhiên liệu nào?
Stéphanie Ponsavady: Khi những chiếc xe đầu tiên xuất hiện, vấn đề nhiên liệu cũng được đặt ra ngay. Ban đầu có rất nhiều loại xe hơi, trong đó có những chiếc chạy bằng động cơ nên cần xăng. Chính quyền Đông Dương nhập xăng dầu đã lọc hoặc thô chủ yếu từ các thuộc địa của Hà Lan trong khu vực, như Malaysia và Indonesia, hoặc nhập xăng từ Hoa Kỳ và Trung Quốc. Đó là ba nguồn cung cấp chính.
            Một số nghiên cứu lúc đó cũng cho thấy ở Đông Dương có những mỏ dầu trong lòng đất nhưng chính quyền thuộc địa vẫn ưu tiên nhập xăng dầu. Cũng vào giai đoạn này, một số khu vực phân phối và trạm xăng đã được xây dựng, dĩ nhiên là ở thành phố, và cũng được xây dọc theo trục quốc lộ 1. Đây là cơ sở hạ tầng cho loại xe chạy bằng xăng.
            Ngoài ra còn phải kể đến những loại phương tiện khác, được cải tiến tại chỗ, chạy bằng gazogène, có nghĩa là động cơ không chạy bằng xăng mà bằng than củi. Loại xe này khá phát triển tại Đông Dương, đặc biệt trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế và trong Thế Chiến II, sau khi quân Nhật đổ vào Việt Nam.
            Kiểu xe này có hình dạng khác với các mẫu ô tô thông thường vì có thêm một lò đốt than đằng sau, trong khi xe vẫn chạy. Vì thế, người ta thường thấy nô bộc ngồi ở sau xe cho củi vào lò. Chúng ta có thể thấy những chiếc Citroen, Renault được cải tiến để thích nghi với điều kiện địa phương. Thực ra, phát minh này đã được áp dụng ở châu Âu nhưng trong phạm vi nhỏ. Sau đó, người Pháp áp dụng ở Đông Dương, rồi về sau dần trở thành chuyên môn của người Việt, biến những chiếc xe hơi chạy xăng thành xe chạy gazogène.

RFI: Người Việt sở hữu xe hơi nhiều hơn từ khoảng thời gian nào?
Stéphanie Ponsavady: Trong những năm 1920, thị trường xe hơi Pháp mở rộng hơn ở Đông Dương. Thực ra là những chiếc xe hơi của người Pháp mua từ đầu những năm 1900-1910 được bán lại theo dạng xe đã qua sử dụng. Người châu Á địa phương thuộc tầng lớp khá giả mua lại để phục vụ mục đích cá nhân. Ngoài ra, một số người mua lại xe tải hoặc xe có kích thước lớn để biến thành xe chở khách. Cả một nền công nghiệp lớn được hình thành, bắt đầu từ những năm 1910 và phát triển mạnh trong những năm 1920.
            Theo tôi, có hơn 500 công ty vận tải như thế trên khắp lãnh thổ Đông Dương (Lào, Việt Nam, Cam Bốt), thường do người Việt và người Hoa quản lý. Họ đảm bảo phương tiện giao thông cho người dân địa phương là chủ yếu, vì người Pháp chỉ thích đi xe cá nhân.

RFI: Các nhà sản xuất xe hơi tung ra chiến dịch quảng cáo như thế nào để hút khách hàng ở Đông Dương?
Stéphanie Ponsavady: Quảng cáo xe hơi được trình bày tùy theo đối tượng. Với khách hàng Pháp, hình ảnh xe hơi thể hiện cuộc sống xã hội tại Pháp. Chiếc ô tô trở thành một thế giới thu nhỏ của tầng lớp tư sản Pháp ở Đông Dương được đặt trên bốn bánh. Người ta thường thấy phía sau xe là phong cảnh Đông Dương, còn trong xe là cảnh đang chuẩn bị một bữa pic-nic theo kiểu Pháp với một chiếc khăn trải và một chiếc làn đựng đồ ăn.
            Từ cuối những năm 1940 đầu 1950, khi quảng cáo xe hơi nhắm vào khách hàng Việt Nam thuộc tầng lớp trung lưu, quảng cáo lại được thiết kế hoàn toàn khác. Hình ảnh thường thấy là những phụ nữ Việt tạo dáng trước chiếc xe trong bộ áo dài. Người ta cố điểm thêm vài nét địa phương trong hình ảnh quảng cáo. Chiếc xe hơi tượng trưng cho sự hiện đại và tốc độ của châu Âu nhưng vẫn đậm bản sắc truyền thống.

RFI: Ban Việt ngữ đài RFI xin cảm ơn giảng viên Stéphanie Ponsavady.


THU HẰNG
Tháng 9/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170828-nhung-chiec-xe-hoi-phap-dau-tien-o-viet-nam

 

Đang duyệt nduytai

100 năm tạp chí Nam Phong: Khát vọng giáo dục quốc dân của lớp trí thức

Năm 2017 đánh dấu tròn 100 năm tạp chí Nam Phong ra mắt quốc dân. Số báo đầu tiên của Nam Phong được phát hành vào ngày 01/07/1917 và số cuối cùng vào ngày 16/12/1934, chấm dứt 210 số báo tiếng Việt, 210 phụ trương tiếng Pháp và 210 phụ trương tiếng Hán sau hơn 18 năm tồn tại.

Bìa của tạp chí Nam Phong năm 1917

VÀO NĂM cuối cùng này, tờ báo chuyển từ nguyệt san sang bán nguyệt san với một nỗ lực mạnh mẽ đổi mới, như Hán-Thu Nguyễn Tiến Lãng viết trong số báo 199 kỷ niệm mười tám năm ra số đầu: “Tôi muốn từ nay Nam Phong không phải là một bà lão, Nam Phong lại là một cô thiếu nữ hây hây”.
            Trả lời RFI tiếng Việt, nhà nghiên cứu Thủy Chi tại Hà Nội, nhận xét: Ám chỉ một bà lão ở tuổi 18 của một tờ báo mang nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó gắn với hiện tượng thường gặp trong làng báo chí đương thời: việc đình bản và tục bản của các tờ báo trong một thị trường báo chí thuộc địa rất hẹp và nhỏ. Thứ hai, báo chí Việt Nam cho tới những năm 1930 đã chứng kiến một sự lột xác ngoạn mục, mà ví dụ là việc Phong Hóa với khẩu hiệu trẻ trung đã thay thế “vị trí rất cao trong văn giới, chính giới” của Nam Phong.
            Dĩ nhiên Nam Phong sống thọ như thế một phần quan trọng là nhờ ở vai trò ở hậu trường của người Pháp với một ý định chính trị thực dân cáo già rất rõ ràng. Đó là nhằm loại trừ ảnh hưởng nước Đức, vốn được truyền bá gián tiếp qua phong trào Tân Thư, qua tên tuổi Lương Khải Siêu. Nam Phong không chỉ nhận được khoản trợ cấp để có thể ra báo một cách đầy đặn, mà còn được chính quyền thực dân hỗ trợ “tạo nên công chúng”.
            Hồi ký của Hồ Hữu Tường cho biết ông cậu bà con của mình làm Hội Đồng “bị nhà nước ép mua dài hạn tạp chí nầy”. Song mọi việc nhanh chóng vượt khỏi những điều mà Louis Marty dự tính ban đầu khiến ta phải thừa nhận rằng Nam Phong tồn tại thực sự trong làng báo chí Việt Nam với tư cách một tờ báo lớn không thể chỉ là nhờ ý định chủ quan của giới thực dân mà còn chính ở những người trực tiếp chèo lái nó. Một trong số những công trạng quan trọng nhất cần kể đến là khát vọng giáo dục quốc dân của lớp trí thức.
            Trong lời mở đầu cho số 1 Nam Phong, Phạm Quỳnh đã đặt ra một vấn đề quan trọng về vai trò học vấn: “Ông cha ta đã đề tạo ra cái tổ quốc ta, đã chung đúc thành cái quốc hồn ta, không ngờ rằng ngoài nước ta còn có nhiều nước khác, ngoài học vấn đạo đức của ta còn có nhiều học vấn đạo đức khác nữa mà có ngày ta không thể biết hết được. Ngày ấy nay đã đến. Người nước ta nay đã mở mắt tỉnh giấc mộng trăm năm, mở cái mắt mơ màng ra mà nhìn cái thế giới mới. Trông thấy những cảnh tượng lạ lùng mà kinh mà sợ […] Sống trong thời đại này tất phải có một phần trong sự hoạt động ấy”.
            Phạm Quỳnh như thế đã tóm tắt điểm chủ yếu nhất mà một trí thức Việt Nam đương thời phải đối mặt. Đó là tình thế “toàn cầu hóa” một cách bất đắc dĩ. Nhận thức của ông với tư cách một trí thức Tây học không chỉ bao gồm việc nhận ra “kẻ khác” mà còn hiểu rằng giờ đây ta phải sống cùng kẻ khác thì mới có cơ hội tồn tại trong thời mới.
            Để tồn tại được cùng kẻ khác, giáo dục là một trong những cách mà thế hệ trí thức 1907 thực hiện nhằm gìn giữ những giá trị quá khứ. Thế mà chi phí giáo dục theo lối mới rất đáng kể đối với một gia đình thường thường bậc trung ở ngay Hà Nội khi đó. Vào thời điểm này, từng có Đông Kinh Nghĩa Thục tham gia giáo dục quốc dân rồi nhanh chóng bị chính quyền thuộc địa đàn áp và giải tán. Đồng hành cùng với họ là Đông Dương tạp chí do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút với những bài viết về học vấn Tây phương, nhưng cuối cùng bị đình bản.


Bìa của tạp chí Nam Phong năm 1934

Giáo dục quốc dân qua tạp chí
            Với phụ đề “l’Information française” (Cơ quan thông tin của Pháp) trên măng séc, tạp chí Nam Phong lại có phụ đề khác bằng tiếng Việt Văn học Khoa học tạp chí. Các đề mục đặc biệt có liên quan tới giáo dục do các nhà tân nho như Phan Kế Bính và Nguyễn Đỗ Mục, hoặc các trí thức Tây học Phạm Quỳnh, Phạm Duy Tốn đảm trách và được duy trì suốt trong suốt thời kỳ ra báo: Luận thuyết, Văn học bình luận, triết học bình luận, Khoa học bình luận, Văn tuyển, Tạp trở, Thời đàm, tiểu thuyết.
            Bằng việc thiết kế như vậy, Nam Phong tự nhiệm về giáo dục như Đông Dương tạp chí từng làm. Cũng trong số đầu tiên, bức ảnh Albert Sarraut được chú thích là người thành lập Đại học Đông Dương chứ không phải bằng chức danh quan toàn quyền. Rõ ràng, tạp chí Nam Phong là một cách thức giáo dục dành cho quốc dân mà Phạm Quỳnh muốn theo đuổi. Với cách học qua tạp chí như thế, học không chỉ là lên lớp để lấy bằng, mà còn học để lấy tri thức như ông viết: “đương buổi bây giờ không cần cấp bằng gây lấy một cái cao đẳng học thức để thay cái học thức cũ đã gần mất”.
            Theo bà Phạm Thị Ngoạn, trong nghiên cứu của mình, hoàn toàn có lý khi gọi Phạm Quỳnh cùng các bạn đồng chí là những “giáo sư” trong một trường học mở theo lối mới để đáp ứng một nhu cầu học mới. Trong hoạt động của kiểu trường học không có trụ sở này, giáo sư không giao bài cho học sinh, không sửa bài, mà chỉ muốn “tâm tình với bạn đọc như với bạn cố tri”, nhận những câu trả lời từ bạn đọc để từ đó có những bài viết thể hiện được.
            Tính chất trường học góp phần tạo nên tính điển phạm ở cả khía cạnh kiến thức lẫn hành vi của cuộc đời. Điều ấy còn tương ứng với một kỳ vọng khác của Phạm Quỳnh khi ông viết: “Nước cốt ở dân, dân chủ ở một bọn người gọi là “thượng-lưu”, hay bọn “thức giả xã hội”, như nhà có nóc vậy. Nhà không có nóc thì ở sao. Nước không có một bọn thượng-lưu trí-thức để giữ-gìn cái cốt-cách trong nước, thì sao gọi là một nước được? Có nhà danh-sĩ Pháp đã nói rằng Nước Pháp sở-dĩ là nước Pháp, cũng chỉ nhờ bởi bốn năm mươi người đại-trí. Nếu không có bọn ấy thì nước Pháp không còn là nước Pháp nữa”.
            Chi tiết “bọn bốn mươi người đại trí” của Hàn Lâm Viện Pháp, mà Phạm Quỳnh thường xuyên cho in lại trên Nam Phong những bài viết của các thành viên hoặc của các giáo sư đại học Paris, hàm ý tham vọng xây dựng một lớp trí thức mới mẫu mực, tinh túy cho thời đại mới.
            Vậy ai là những thành viên có thể tham gia vào nhóm bốn mươi người Việt đó? Hẳn nhiên trước hết chính là những ai từng bỉnh bút cho Nam Phong giai đoạn đầu như Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Học, Nguyễn Đôn Phục và Nguyễn Mạnh Bổng. Họ tất thảy đều có hai yếu tố rất quan trọng đối với giới trí thức Việt Nam đương thời: uy tín và tuổi tác.
            Phạm Quỳnh cùng tờ báo của mình không chỉ hoàn thành một vai trò nhà báo đưa tin như cái măng-séc đã ghi ban đầu, mà còn có tham vọng giữ một tiếng nói chính thức về mặt học thuật đương thời trên trường trí thức mới đương thành lập. Dù tiếng nói đó đôi lúc trở nên học phiệt như Phan Khôi sau này từng lên tiếng, nhưng người ta không thể không ghi nhận một kỳ vọng lớn lao ấy của Phạm Quỳnh về lớp “thượng lưu trí thức để giữ gìn cốt cách trong nước, để bồi dưỡng cái quốc-túy”.
            Phong Hóa vào những năm 1930 sẽ chấm hết sự tồn tại Nam Phong bằng giọng hài hước khi nhại lại câu “Thứ nhất sừ Uỳnh thứ nhì sừ Ĩnh”. Nhưng chắc chắn lớp trí thức tư sản như Nhất Linh, Khái Hưng đã được thừa hưởng rất nhiều từ cái khát vọng thượng lưu trí thức của Phạm Quỳnh như một nền tảng của trường trí thức thời hiện đại.


THU HẰNG
Tháng 12/2017


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20171218-100-nam-tap-chi-nam-phong-khat-vong-giao-duc-quoc-dan