Tác giả Chủ đề: Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam  (Đã xem 2148 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam

            Ngay năm 1886, khi vừa được bổ nhiệm làm tổng công sứ Trung-Bắc kỳ, Paul Bert đã có ý tưởng thành lập Bắc kỳ Hàn Lâm Viện (Académie tonkinoise) nhằm tạo bầu không khí hữu hảo và kiềm chế sự chống đối của người dân Bắc kỳ vừa bị đặt dưới chế độ bảo hộ Pháp.
            Dù bị thất bại “ngay trong trứng nước”, nhưng kế hoạch trên trở thành cơ sở cho các sáng lập viên của Viện Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d’Extrême-Orient, EFEO), thuộc Viện Hàn Lâm Văn Khắc và Văn Chương Pháp (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres).

Hơn một thế kỷ vì châu Á
            Ban tiếng Việt đài RFI đã có dịp trao đổi với chị Magali Morel, cán bộ thư viện phụ trách kho sách Đông Nam Á, về sự ra đời của Viện Viễn Đông Bác Cổ:

            “Ban đầu, người ta muốn lập một Hội Nghiên cứu Khảo cổ châu Á. Giám đốc đầu tiên của Viện Viễn Đông Bác Cổ, Louis Finot, muốn thành lập một ngôi trường Pháp, theo mẫu trường đã được thành lập ở Roma hay Athens. Thời gian đầu, ông muốn trường tập trung nghiên cứu về Ấn Độ, nhưng kế hoạch không thành. Lúc đó Paul Doumer đang làm toàn quyền Đông Dương lại bị dự án này cuốn hút và cuối cùng, Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập ở Hà Nội.”

            Tiền thân của Viện là Hội Nghiên cứu Khảo cổ Đông Dương (Mission archéologique d’Indo-Chine) được thành lập tại Sài Gòn năm 1898 với hai nhiệm vụ chính: khuyến khích các nhà nghiên cứu Pháp đến thực địa tại châu Á và phụ trách thống kê cũng như bảo quản di sản văn hóa Đông Dương.
            Năm 1900, theo quyết định của toàn quyền Paul Doumer, tên gọi và cơ cấu của hội được thay đổi, trở thành Viện Viễn Đông Bác Cổ. Theo nhận xét của bán nguyệt san La Quinzaine coloniale (n° 101, 10/03/1901), quyết định này đánh dấu tính thường trực và đề cao vai trò quan trọng của Viện trong việc “nghiên cứu và phổ biến kiến thức về lịch sử các công trình và chữ tượng hình của các dân tộc Đông Dương mà quá khứ còn xa xưa hơn lịch sử của chúng ta vẫn chưa tiết lộ hết những bí mật”.
            Từ năm 1902, trụ sở của Viện được chuyển ra Hà Nội với các nhiệm vụ chính: thăm dò khảo cổ học, sưu tập bản thảo, bảo tồn các công trình, thống kê nhân chủng học các tộc người, nghiên cứu di sản ngôn ngữ, lịch sử các nền văn minh phương Đông, từ Ấn Độ đến Nhật Bản.
            Để hỗ trợ cho kế hoạch nghiên cứu khoa học đầy tham vọng này, một thư viện và một viện bảo tàng (sau này trở thành Bảo tàng Lịch sử Việt Nam) được thành lập. Thư viện ở Hà Nội trở thành kho dữ liệu quan trọng của các nhà nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ.
            Ngày 27/11/1909, trong bài diễn văn nhân dịp khai mạc phiên họp của Hội đồng Tối cao, toàn quyền Đông Dương Antony Klobukowski đã cho biết về kho sách quý giá này: “Thư viện của Viện Viễn Đông Bác Cổ ngày càng phong phú hơn nhờ 100 tập sách do Quốc Sử Quán (triều Nguyễn) in ấn và được Hoàng đế An Nam trao tặng. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm đến từ Trung Quốc và các bản sao chép tác phẩm quý hiếm của Việt Nam nhờ các vị quan hay nho sĩ cho mượn. Vì vậy, có thể nói đây là thư viện về nghiên cứu Đông phương đầy đủ nhất thế giới”.
            Trong suốt thế kỷ XX, kho sách của thư viện ngày càng thêm phong phú về số lượng và chất lượng nhờ đặt mua, trao đổi và được di tặng. Trong cuốn Một thế kỷ vì châu Á. Viện Viễn Đông Bác Cổ, 1898-2000, tác giả Catherine Clémentin-Ojha Manguin cho biết, sau hiệp định Geneve 1954, một phần kho sách, được đóng thành 500 kiện, đã rời Hà Nội vào cuối tháng Bẩy cùng năm để sang Phnom Penh (Cam Bốt), Vientiane (Lào) và một chi nhánh mới của Viện Viễn Đông Bác Cổ ở Sài Gòn. Trung tâm tại Hà Nội tiếp tục hoạt động đến 1957 để sao chụp các bộ sưu tập sách của thư viện, chủ yếu là các bản viết tay, nhằm phục vụ cho các trung tâm khác và trụ sở ở Paris, như lời giải thích của chị Magali Morel:

            “Kho sách Việt Nam gốc hiện đang được bảo quản tại Nhà Châu Á (Maison de l’Asie) ở Paris đến từ thư viện được thành lập ở Hà Nội. Các bộ sưu tập được thu thập tại đó, liên quan rất nhiều đến Đông Dương. Sau đó, chúng được chuyển đi sau loạt sự kiện trong những năm 1950 tại Việt Nam.
            “Những bộ sưu tập này được phân chia sang các nước thuộc Đông Dương cũ là Việt Nam, Cam Bốt, Lào, nhưng cũng có cả Thái Lan. Rất nhiều kiện sách (318 kiện) được gửi từ Việt Nam đến Cam Bốt, rồi từ Cam Bốt đến Pondichéry và cuối cùng đến Paris trong những năm 1950.
            “Trung tâm của kho sách Đông Dương, đặc biệt là của Việt Nam, ban đầu chính là các bộ sưu tập tài liệu được hình thành ở Đông Dương vào đầu thế kỷ XX
”.

Kho sách cổ với tác phẩm có từ thế kỷ XVII
            Một trong những tài liệu quý hiếm giúp thư viện của Viện Viễn Đông Bác Cổ Paris trở thành một trong những trung tâm quan trọng trong giới nghiên cứu về Đông Dương và Việt Nam là bộ sưu tầm 20.000 ván khắc Hán Nôm. Đây là kho tài liệu quan trọng giúp tái dựng cổ sử Việt Nam.
            Ngoài ra, còn phải kể đến bộ sưu tập tranh dân gian Việt Nam với khoảng 400 bức tranh do nhà nghiên cứu Maurice Durand thu thập. Được bảo quản trong điều kiện tốt, bộ sưu tập đa dạng và phong phú về nhiều đề tài khác nhau: cuộc sống thường nhật, các ngành nghề nhỏ, chúc tụng và những tấm bùa hộ mệnh, tôn giáo và tín ngưỡng, lịch sử, văn học, giáo dục, tục ngữ, ngạn ngữ…
            Cuối cùng, còn có hơn 3.000 đầu sách về Việt Nam, trong đó có rất nhiều sách cổ, trên tổng số gần 33.000 tác phẩm thuộc kho Đông Nam Á. RFI đã có dịp được ngắm hai tác phẩm cổ liên quan đến Việt Nam, được in năm 1631 và 1646, hiện không còn phục vụ độc giả.

            “Tôi mang ra đây mấy cuốn sách cổ để giới thiệu. Cuốn sách nhỏ này có từ thế kỷ XVII, có tựa đề Relations de la nouvelle mission des Pères de la Compagnie de Jésus au Royaume de la Cochinchine (tạm dịch: Mối quan hệ của phái đoàn các Cha dòng Tên với Vương quốc Nam kỳ). Tác phẩm được dịch từ tiếng Ý và là một trong số những cuốn sách cổ nhất của bộ sưu tập được thu thập ở Hà Nội. Hầu hết bộ sưu tầm được hình thành từ những cuốn hồi ký du lịch hay những cuốn sách của các nhà truyền đạo miêu tả Nam kỳ thời kỳ đó.
            “Còn đây là một cuốn khác, Histoire du Royaume de Tonquin (Lịch sử Vương quốc Bắc kỳ), cũng là một tác phẩm có từ thế kỷ XVII. Chúng tôi có nhiều tác phẩm về những tiếp xúc đầu tiên của phương Tây với Đông Dương và Việt Nam. Tiếp theo, còn có những kho sách liên quan đến nghiên cứu Đông Dương từ lúc Viện Viễn Đông Bác Cổ được thành lập ở châu Á, trong đó có rất nhiều nghiên cứu khảo cổ, nhân chủng học và triết học đáng quý”.

            Viện Viễn Đông Bác Cổ nằm trong quần thể Nhà Châu Á (Maison de l’Asie), tọa lạc trong quận 16 nổi tiếng của Paris, ngay gần Trocadéro và quảng trường Nhân Quyền (Parvis des droits de l’homme) nhìn ra tháp Eiffel. Đây cũng là trụ sở của nhiều trung tâm nghiên cứu về châu Á khác thuộc các trường Nghiên cứu nâng cao về Khoa học Xã hội (EHESS) và trường Cao Đẳng Thực Hành (EPHE), như trung tâm nghiên cứu Ấn Độ, Trung Hoa hiện đại và đương đại, Đông Nam Á (CASE) và Tây Tạng, cũng như thư viện của những cơ sở này.
            Dù độc giả đến đây có thể tra cứu được các kho sách của cả ba trường trên (EFEO, EPHE và EHESS), nhưng số lượng người đọc không nhiều so với các thư viện khác. Chị Magali Morel giải thích:

            “Vì Viện Viễn Đông Bác Cổ là một cơ quan chuyên biệt. Chúng tôi đón sinh viên cao học, các nhà nghiên cứu trong nhiều lĩnh vực trọng điểm, rất đặc biệt. Hiện chúng tôi đang cố trao đổi nhiều hơn nữa với bên ngoài vì cần phải tiếp nhận những công nghệ mới và trao đổi với mạng xã hội… Đây cũng là dự án mà chúng tôi đang làm để mở rộng hơn một chút và có thể để lập một địa điểm năng động hơn. Đúng là chúng tôi là một cơ quan chuyên biệt, nhưng dù sao cũng mở rộng với tất cả”.

            Ngoài trụ sở tại Paris, Viện Viễn Đông Bác Cổ có mặt tại Pondichéry, Ấn Độ. Trong khu vực Đông Nam Á có các trung tâm hoặc chi nhánh ở Lào, Việt Nam, Cam Bốt, Thái Lan và Indonesia. Riêng Miến Điện mới chỉ có một đại diện. Cuối cùng, Viện Viễn Đông Bác Cổ cũng có mặt ở Nhật Bản và mới đây một văn phòng đã được mở ở Trung Quốc.



 
The following users thanked this post: Mua về để đấy, vinh bo cap, ĐồNghệ, tranhai74, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Lục Vân Tiên có tranh minh họa, 120 năm bị bỏ quên tại Pháp

            Từ năm 1895 đến 1897, đại úy pháo binh Hải Quân Pháp Eugène Gibert giữ chức phó đô đốc pháo binh tại Huế, “trung tâm chính trị và tri thức của người An Nam”. Tại đây, vị sĩ quan Pháp được tiếp xúc trực tiếp và rất ấn tượng với truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), một tác phẩm ca ngợi phẩm chất đạo đức và nét đẹp của Khổng giáo cũng như văn hóa dân gian Nam Bộ.
            Vừa là một tác phẩm văn học uyên bác, vừa là một câu chuyện dân gian truyền miệng được viết theo lối thơ lục bát, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu từ lâu đã được xếp vào hàng tuyệt tác văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học chữ Nôm. Ngay từ năm 1864, Lục Vân Tiên đã được dịch sang tiếng Pháp. Đến năm 1883, dịch giả Abel des Michels chuyển ngữ sang tiếng Pháp với tên gọi Lục Vân Tiên cổ tích truyện (Histoire de Lục Vân Tiên). Chính bản dịch này đã khích lệ Eugène Gibert tìm cách minh họa cho chuyện tình bi tráng của chàng thư sinh Lục Vân Tiên với vị hôn thê chung tình Nguyệt Nga, cũng như tinh thần coi trọng tình nghĩa giữa người với người và tinh thần nghĩa hiệp.
            Được lưu trữ tại Viện Hàn Lâm Văn Khắc và Văn Chương thuộc Viện Pháp (Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, Institut de France), bản thảo Lục Vân Tiên cổ tích truyện có tranh minh họa (1889) là tác phẩm đầu tiên có tranh minh họa toàn bộ Lục Vân Tiên. Nổi bật với những nét vẽ tỉ mỉ, sống động và nhiều mầu sắc rực rỡ, mỗi bản vẽ được chia thành ba hàng với những hình ảnh miêu tả cảnh sinh hoạt đời thường. Khối chính giữa của hàng thứ hai là những câu thơ lục bát chữ Nôm, được viết từ trái sang phải, từ trên xuống dưới.
            Lục Vân Tiên cổ tích truyện có tranh minh họa đã được hai nhà nghiên cứu người Pháp Pascal Bourdeaux (trường Cao Đẳng Thực Hành, EPHE) và Olivier Tessier (Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO) biên tập và được Viện Viễn Đông Bác Cổ phát hành vào tháng 04/2016.(*)

            Ban tiếng Việt đài phát thanh quốc tế Pháp, RFI, đã có cơ hội trao đổi với nhà nghiên cứu Pascal Bourdeaux về sự kiện này.
            RFI: Thưa nhà nghiên cứu Pascal Bourdeaux, có thể nói Lục Vân Tiên cổ tích truyện có minh họa là bản thảo minh họa màu đẹp nhất và sống động nhất của tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu. Và cũng có thể nói là bản thân bản thảo này đã là một tác phẩm nghệ thuật thực sự. Vậy tại sao phải chờ đến gần 120 năm sau, độc giả mới được chiêm ngưỡng tác phẩm này?
            Pascal Bourdeaux: Để trả lời câu hỏi này, có thể nói là “Có trời mà biết!” Cũng phải nói là có một cơ hội rất đặc biệt khi một người Việt Nam đến Pháp, được mời đến Viện Hàn Lâm Văn Khắc và Văn Chương Pháp để có thể tìm lại bản thảo này, đúng là được “ngủ” khoảng 100 năm trong kho tài liệu cũ của Viện này. Người đó là giáo sư Phan Huy Lê, được mời đến Paris và đoàn đi theo giáo sư đã rất may mắn tìm được tài liệu này. Cô phụ trách thư viện của Viện đã mở “fond” và đã cho xem một số tài liệu rất quý và rất cũ của Việt Nam, và trong đó có bản thảo này mà chưa ai biết.
            Vì vậy, chúng tôi cho rằng cần phải công bố bản thảo này. Và vì đúng thời điểm đó, Viện Viễn Đông Bác Cổ mở văn phòng đại diện tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi quyết định biến công việc này thành biểu tượng cho hoạt động nghiên cứu và hợp tác trong ngành khoa học xã hội-nhân văn. Nói một cách khác, việc xuất bản và công bố tác phẩm này là bước đầu tiên của quá trình hợp tác và nghiên cứu, mà chúng tôi hy vọng là bền lâu, giữa Pháp và Việt Nam, đặc biệt là với miền nam Việt Nam.

            RFI: Ông có thể cho biết một chút về nguồn gốc tác phẩm minh họa Lục Vân Tiên này của tác giả Nguyễn Đình Chiểu?
            Pascal Bourdeaux: Vào khoảng năm 1895-1897, một nho sĩ của Triều đình Huế, tên là Lê Đúi (Đức) Trạch, còn gọi là Thó, đã minh họa Lục Vân Tiên cổ tích truyện theo yêu cầu của một người Pháp, một sĩ quan Hải Quân đang làm nhiệm vụ tại Huế. Ông khám phá ra Lục Vân Tiên nhờ bản dịch sang tiếng Pháp năm 1883 của Abel des Michels. Eugène Gibert rất mê truyện thơ này và đã đề xuất với “thư lại chế họa đồ thức” (một viên chức làm việc trong một cơ quan chuyên vẽ đồ bản trong cung đình Huế) tự do thể hiện tác phẩm theo cảm nhận của họa sĩ. Khi tác phẩm hoàn thành, những bức tranh mà chúng ta thấy là sự thể hiện theo đúng phong cách Việt Nam, một sáng tạo của một nghệ sĩ người Việt theo yêu cầu của một người Pháp.
            Một trong những điểm đặc biệt là không phải chỉ có một mà có hai họa sĩ vẽ minh họa tác phẩm này. Lo ngại họa sĩ đầu tiên, Lê Đức Trạch, không hoàn thành được toàn bộ khối lượng công việc, nên Eugène Gibert đã đề xuất một họa sĩ khác tiếp tục công việc. Có thể nói, đó là một kiểu cạnh tranh giữa hai họa sĩ. Thế nhưng, Lê Đức Trạch là người hoàn thành công việc. Trong tác phẩm, chúng ta có thể chiêm ngưỡng được 5 bản vẽ, xuất hiện ở phần cuối tác phẩm, do nghệ sĩ thứ hai thực hiện. Đây là yếu tố quan trọng cho phép so sánh công việc của hai họa sĩ.

            RFI: Xuất phát từ bản thảo bằng chữ Nôm, tác phẩm Lục Vân Tiên cổ tích truyện do Viện Viễn Đông Bác Cổ phát hành, lại được in thành ba thứ tiếng (Việt, Anh, Pháp), ông có thể giải thích một chút quá trình biên tập và phát hành tác phẩm đã được thực hiện như thế nào?
            Pascal Bourdeaux: Toàn bộ công việc mất khoảng 5 năm, tính từ lúc phát hiện ra bản thảo vào tháng 09/2011 đến lúc phát hành vào tháng 04/2016. Chúng tôi làm việc dựa trên bản chữ Nôm được chép trên các bản vẽ và bản dịch sang tiếng Pháp và chữ quốc ngữ mà Eugène Gibert đã sử dụng, có nghĩa là bản dịch của Abel des Michels năm 1883. Thực ra, trước bản dịch của Abel des Michels đã có hai bản dịch khác và tính đến nay có 8 bản dịch sang tiếng Pháp. Điều này thật đặc biệt!
            Chúng tôi cố gắng tôn trọng bản gốc của Abel des Michels nhưng có sửa một số lỗi vì chữ quốc ngữ trong bản dịch thời kỳ đó, lại có nhiều phương ngữ miền nam Việt Nam vào thế kỷ XIX, vẫn chưa đồng nhất như hiện nay.
            Nhận thấy giá trị thẩm mỹ và thị giác của bản thảo, chúng tôi quyết định dịch sang cả tiếng Anh để những người không biết tiếng Pháp hay tiếng Việt có thể thưởng thức. Việc dịch sang tiếng Anh được dựa trên văn bản tiếng Pháp. Dĩ nhiên, việc này sẽ đặt câu hỏi về tính khoa học, nhưng chúng tôi đã giải thích rõ nguyện vọng là đưa ra một bản tiếng Anh sát với bản gốc nhất. Vì vậy, chúng tôi chú giải các bản dịch tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Pháp, cũng như thêm vào các lời giải thích.

            RFI: Có thể nói là Viện Viễn Đông Bác Cổ luôn có những tiêu chí rất cao về chất lượng của một ấn phẩm, vừa về nội dung và kỹ thuật. Đây có phải là một trong số những lý do mà tác phẩm Lục Vân Tiên được xuất bản tại EFEO?
            Pascal Bourdeaux: Đúng vậy, điều mà chúng tôi muốn là làm chủ công việc nghiên cứu và quá trình kỹ thuật. Bản thảo đẹp đến nỗi buộc chúng tôi cố gắng làm mọi việc một cách chính xác, tỉ mỉ để sao phóng như bản gốc (fac-similé). Chúng tôi mong là khi cầm tác phẩm trong tay, độc giả tưởng như đang được cầm bản gốc. Chính vì vậy, kỹ thuật hiệu chỉnh mầu và tất cả công việc liên quan đến kỹ thuật chụp ảnh, khắc hình chuyên nghiệp đã cho phép chúng tôi gần như giữ nguyên mầu sắc của bản thảo.
            Phải nói đây là một điều may mắn, vì trong vòng một thế kỷ, không một ai động đến tác phẩm này. Vì thế, mọi sắc tố, mầu sắc vẫn còn nguyên vẹn. Sau đó, chúng tôi đã in theo gần đúng khổ của bản thảo, chỉ lệch 5%. Cuối cùng, chúng tôi đã làm việc với một nhà in chuyên về các loại tác phẩm như vậy để có được tác phẩm hoàn thiện nhất và giống với bản thảo gốc nhất.


***

            Để thay lời kết, trong lời nói đầu (tập II) của Lục Vân Tiên, giáo sư sử học Phan Huy Lê nhận xét: “Đây là truyện nôm đầu tiên của Việt Nam được minh họa đầy đủ đến như vậy (…) Tôi có cảm nhận bước đầu là những tranh vẽ này mang ảnh hưởng hay có nguồn gốc từ tranh dân gian Việt Nam, nhất là dòng tranh Đông Hồ (Thuận Thành, Bắc Ninh). Vấn đề cần nghiên cứu so sánh cụ thể nhưng rõ ràng đây là một nguồn tư liệu quý mở ra khả năng nghiên cứu nghệ thuật minh họa sách với nguồn gốc và phong cách nghệ thuật của nó (…)”.

____________________________________________
(*) Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên cổ tích truyện (có tranh minh họa) – Histoire de Lục Vân Tiên – The Story of Lục Vân Tiên, Paris, EFEO, 2016, 2 tập.


 

Ngủ rồi nduytai

Truyện tranh “Lục Vân Tiên” hồi hương sau 100 năm bị lãng quên

            Chuyến thăm Pháp năm 2011, Giáo sư Phan Huy Lê (Chủ tịch Hội khoa học Lịch sử Việt Nam) tiếp xúc với tác phẩm này tại Viện Pháp, Paris. Ông kể: “Giữa kho sách bạt ngàn, giám đốc thư viện đã chuẩn bị sẵn những tác phẩm liên quan tới Việt Nam để giới thiệu. Khi thấy Lục Vân Tiên, tôi giật mình vì không tưởng tượng nổi lại có ấn phẩm độc đáo như vậy…”

Ra đời cuối thế kỷ 19, bộ “truyện tranh” Lục Vân Tiên đã có hơn 100 năm bị lãng quên tại một
thư viện trên đất Pháp,trước khi được giới thiệu tại nơi khai sinh ra nó, vào năm 2016 này


Ấn phẩm “độc nhất vô nhị”
            Độc đáo, bởi bộ sách trên thuộc dạng bản thảo, nghĩa là không có phiên bản thứ hai. Phần nào, đó cũng là lý do khiến giới nghiên cứu Việt Nam và Pháp gần như chưa có thông tin rộng rãi về tác phẩm, trước khi nó được giới thiệu với giáo sư Lê. “Nhiều người nói rằng tôi có công phát hiện bộ sách. Nhưng sự thực, đó là cơ duyên đến từ sự nhiệt tình của các bạn người Pháp” – ông nói.
            Những dữ liệu liên quan tới bộ sách nhanh chóng được tìm hiểu. Đó là tác phẩm được đại úy pháo binh Eugene Gibert người Pháp tặng cho Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp vào năm 1899.
            Trước đó, Gibert đã có thời gian làm việc tại Huế từ 1895 đến 1897. Hào hứng với truyện thơ Lục Vân Tiên, viên sĩ quan này đã cho chép tay lại truyện thơ bằng tiếng Pháp, với bản dịch năm 1893 của học giả Abel des Michels.
            Công phu hơn, bên cạnh mỗi trang tiếng Pháp là một trang tiếng Nôm, kèm theo phần tranh minh họa được Gibert “đặt hàng” từ một họa sĩ có tên Lê Đức Trạch (hiện chưa tìm rõ được thân thế).
            Dày hơn 300 trang, bộ Lục Vân Tiên chép tay này có tới 139 tờ tranh minh họa đa màu sắc. Mỗi tờ tranh lại có nhiều bức tranh nhỏ, (tổng số lên tới gần 1.200 bức) trong đó một bức được đặt phía trên để tạo điểm nhấn, còn các bức khác được đặt bên lề, “bọc” lấy phần chữ Nôm. Tất cả tranh đều bám sát nội dung truyện, đều mang đậm phong cách dân gian, với nét vẽ vô cùng sinh động.

Các trang trong của sách “Lục Vân Tiên cổ tích truyện”

            “Những bức vẽ này vừa mang phong cách tranh Đông Hồ, vừa cho thấy ảnh hưởng của dòng tranh làng Sình lẫn mỹ thuật cung đình Huế. Nghĩa là rất đa dạng, độc đáo” – giáo sư Lê nói. Cũng theo ông, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một bộ truyện Nôm Việt Nam được vẽ minh họa toàn bộ các trang bằng tranh màu. Các tư liệu để lại cho thấy: Gibert cũng đã có ý tưởng thực hiện một “ấn phẩm” tương tự với Truyện Kiều, nhưng phải quay lại Pháp nên không kịp.

Ấn bản do NXB Văn hóa Văn nghệ TP.HCM phát hành vào tháng 5 vừa qua, bộ sách được in làm 2 tập
với đầy đủ tranh minh họa (có bổ sung thêm bản dịch tiếng Anh và bản bằng chữ quốc ngữ)


Dấu mốc kết nối văn hóa Pháp-Việt
            Theo đề nghị của giáo sư Lê, từ “bản thảo” đặc biệt này, Viện Viễn Đông Bác Cổ đã lên kế hoạch xuất bản tác phẩm và giới thiệu tại Việt Nam. 5 năm qua, các học giả Pháp đã khá công phu để tổ chức nghiên cứu, hiệu đính và chủ giải – trước khi chính thức xuất bản bộ sách dưới cái tên “Lục Vân Tiên cổ tích truyện”.
            Trong buổi tọa đàm tại Hà Nội tối 1/6, một câu hỏi được đặt ra: tại sao Eugene Gibert lại hứng thú với Lục Vân Tiên, thay vì Truyện Kiều? Và câu trả lời được đưa ra từ Phó giáo sư Olivier Tessier, Viện Viễn Đông Bác Cổ Pháp: không phải chỉ riêng Gibert, rất nhiều học giả Pháp cũng đã quan tâm tới truyện thơ này.
            Bằng chứng là vào giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, tác phẩm đã được nhiều lần dịch ra tiếng Pháp, bởi những dịch giả khác nhau.
            “Nam Bộ là mảnh đất đầu tiên người Pháp đặt chân đến Việt Nam. Và, họ sớm hiểu rằng, với người dân nơi đây, Lục Vân Tiên là tác phẩm có sức ảnh hưởng vô cùng lớn trên mọi phương diện của đời sống, cũng như nếp nghĩ” – Phó giáo sư Olivier Tessier nói. “Nói cách khác, Lục Vân Tiên khi ấy cũng là chìa khóa quan trọng để hiểu về văn hóa và con người Nam Bộ”.
            Nhưng, với trường hợp của Eugene Gibert, câu chuyện không chỉ đến ở sự tò mò. Những ghi chép được nhà nghiên cứu đưa ra cho thấy ông rất trân trọng và hào hứng với tác phẩm này, khi yêu cầu họa sĩ Lê Đức Trạch “thể hiện một cách trung thành nhất tất cả các nhân vật trong truyện, dưới diện mạo được truyền thuyết, thần thánh hóa; tất cả những động vật, thực vật và đồ vật được đề cập trong truyện, tất cả những nghi lễ của đời sống cá nhân hay cộng đồng…”


            “Cuốn sách này đánh dấu sự kết tinh sáng tạo của 4 gương mặt: nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, họa sĩ Lê Đức Trạch, Gibert và dịch giả Michels. Đó là một sự kết nối Pháp-Việt đầy thú vị từ hơn 100 năm trước, và lại càng có ý nghĩa khi bộ sách được xuất bản tại Việt Nam trong thời điểm bây giờ” – Giáo sư Phan Huy Lê khẳng định.

NHAN MINH
Tháng 06/2016



 
The following users thanked this post: Mua về để đấy, ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp hay ngành Đông phương học sôi động ở Pháp(1)

            Ngày nay thông tin về những tư liệu có liên quan tới châu Á trong những thư viện và Viện nghiên cứu ở Pháp không phải là một việc dễ dàng. Những thư mục dở dang, những lĩnh vực xác định chưa đúng, những thư viện không được nêu tên trong các danh mục hoặc trong các cuốn niên bạ thư viện và dù đấy chỉ là những thư viện dành riêng cho một số người, việc thông tin mang tính chất riêng tư v.v… những lý do thì có nhiều và đối lập nhau. Chúng ta hãy lưu ý ngay từ bây giờ hai quan niệm chủ yếu.
            1.– Sức nặng của lịch sử đã để lại dấu vết của nó trong những kho lớn truyền thống của thư viện. Sự phong phú về tư liệu, mà thường là những tư liệu hiếm, song sơ đồ phân loại lại quá cũ, tuy nhiên phải cố tránh đừng gạt bỏ nó. Tốt hơn hết là ta coi như không biết đến nó, hoặc ta bắt tay vào việc giải mã nó. Bởi vì chỉ khi nào người ta quan tâm đến những chi tiết của lịch sử trong các bộ sưu tập thì người ta mới hy vọng nắm được “tất cả” những tài liệu và nhất là những tài liệu còn được dấu kín dưới lớp bụi độ lượng đang bảo vệ chúng. Những gò bó mang tính chất bách khoa của các thư viện cổ, thư viện tổng hợp hay chuyên ngành tất nhiên đòi hỏi việc gộp các văn bản vào một khung chung bao gồm tất cả những hiểu biết của con người. Nguyên tắc này đã được áp dụng trên lý thuyết độc lập với những điều được đặt ra qua việc đọc bình thường những vấn đề của những văn bản được viết bằng các thứ tiếng hoặc chữ viết khó đọc. Do đó có hai trường hợp xẩy ra và đã loại cho bạn đọc ngày nay một mặt là những sách mà họ không thể đọc được, vì họ có chuyên gia, có thể là như vậy, và mặt khác là những sách đã cất vào nơi mà ngày nay người ta không còn muốn tìm lại nữa. Đôi khi cả hai tác động đó đều diễn ra một lúc. Chúng ta có thể điểm đến Thư viện Quốc gia hoặc Thư viện của Học viện Quốc gia nghiên cứu về các ngôn ngữ và các nền văn minh phương Đông (INAL-CO)(2) ở đấy đã từ lâu rồi, người ta đã tổ chức thành công những kho sách theo những tiếng khác nhau đối với một số lĩnh vực. Hai thư viện này có tiếng tăm rộng lớn và mở cửa cho công chúng đến đọc. Hai thư viện đó sẽ còn tiếp tục làm phong phú thêm bộ thư mục của mình bằng cách, ngoài việc bổ sung các tài liệu mới đến, họ còn đưa vào những tài liệu cũ “được phát hiện lại” tức những tài liệu cũ mà trước đó không ai lưu ý tới.(3) Do đó họ đã dần dần loại trừ được những tác động tiêu cực của một hệ thống đã thành công – nói một cách nghịch lý – trong việc gạt ra ngoài lề toàn bộ một phần tri thức của con người toàn năng…
            2.– Từ cuối thế kỷ XIX, nhiều thay đổi lớn đã diễn ra như: những phương tiện nghiên cứu mới, những cách tiếp cận mới có tính chất phương pháp luận đã cùng một lúc làm đổi mới hoàn toàn cách làm trước đây của công tác xử lý tư liệu có liên quan tới châu Á, những nơi tàng trữ chúng và phương pháp bảo quản chúng. Một mặt, việc khảo cứu các công trình kiến trúc, việc in rập các chữ khắc, việc điều tra về ngôn ngữ học hoặc về dân tộc học, những công trình nghiên cứu đầu tiên về địa lý nhân văn v.v… Tất cả những công việc đó đều đòi hỏi sự có mặt tại chỗ của các nhà nghiên cứu, nghĩa là lại chính ngay châu Á, và mặt khác những tư liệu tập hợp được thì đa dạng và bao gồm từ hiện vật đến ảnh chụp đến các bản rập, các bản thảo v.v… Còn việc chế tạo và tổ chức hợp lý của khối tư liệu này đúng ra là thuộc lĩnh vực hoạt động của phòng thí nghiệm hơn là thuộc lĩnh vực hoạt động của một thư viện truyền thống, bởi vì nó có các “xưởng” làm ảnh và in rập. Còn việc sưu tập thì cần phải đổi mới.


Viện Viễn Đông Bác Cổ, trung tâm nghiên cứu của Pháp về Đông Dương năm 1926


Việc sưu tập những tư liệu ở một học viện theo một phong cách mới: Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp
            Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (EFEO) một trường mà năm1898 mới chỉ có bản điều lệ của phái đoàn khảo cổ học thường trực tại Đông Dương, là trường đầu tiên hoạt động theo phong cách mới này.
            Những điều kiện thành lập Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã được ông Louis Finot Giám đốc đầu tiên của trường trình bày chi tiết trong số chuyên san của trường nhân dịp kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập trường.(4) Trong tập chuyên san này còn có cả những bản báo cáo về các công việc đã hoặc đang được thực hiện ở vào thời điểm lúc bấy giờ. Những học viện khác cũng đã được thành lập tại châu Á như: “Nhà Pháp-Nhật” ở Tokyo hoặc “Trung tâm nghiên cứu Hán học của trường Đại học Paris ở Bắc Kinh”, trung tâm này hoạt động tới năm 1953.(5) Nhưng không một viện nào phát triển được trên toàn địa bàn châu Á cả về mặt nghiên cứu phối hợp, cả về mặt xử lý tư liệu bằng những kỹ thuật cực kỳ hiện đại như Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã làm và đã được nơi khác học tập. “Những năm cuối thế kỷ XIX – Ông Louis Finot một nhà Ấn Độ học, đã nói khi bắt đầu kể về quá trình hoạt động chung của mình – là điểm xuất phát của các tư tưởng và phương pháp mới đối với việc nghiên cứu về Đông Á. Trước đấy, người ta thường bằng lòng với nhận thức của mình về những vùng này được rút ra qua các tài liệu thành văn. Người ta đã dần dần nhận thấy rằng phương pháp chắc chắn nhất để hiểu được quá khứ của một dân tộc nhất là bước đi ban đầu để đạt tới mục đích ấy là có được một sự hiểu biết sâu sắc về hiện tại của dân tộc ấy bởi vì chỉ có cái hiện tại đó mới – bằng tư duy hoặc tiếng vọng – trả lại mầu sắc – hoặc tiếng nói của quá khứ mà cái hiện tại đang tiếp nối”.
            Nghiên cứu con người hiện nay sống trong xã hội của họ đó chính là cái hướng phát triển của những tư tưởng trong việc tìm kiếm một giải pháp thiết thực.
            Chúng ta hãy tiếp tục dõi theo bài nói của ông Louis Finot, trong đó ông đã giải thích những quan niệm mới của những nhà Ấn Độ học người Pháp và các dự án của ông Paul Doumer đã gặp nhau như thế nào.

            “Sau những thất vọng do những hoạt động thái quá của môn thần thoại học so sánh và sự lạm dụng quá mức của môn chú giải Phạn ngữ gây nên, người ta đã theo bản năng quay trở về truyền thống để tìm ở đấy một sự chỉ dẫn ít tham vọng hơn và chắc chắn hơn. Song việc nghiên cứu thực tế cụ thể đòi hỏi một điều khác hẳn những sự tự biện liều lĩnh của tư duy: nó đòi hỏi sự quan sát kiên trì của nhà ngôn ngữ học và nhà dân tộc học đòi hỏi sự phân tích tỷ mỷ, những sự kiện tôn giáo và xã hội, đòi hỏi sự xem xét kỹ lưỡng những công trình kiến trúc có chạm hình; nó xem nhẹ việc coi lý thuyết như một công cụ để nghiên cứu mà nắm chắc trong tay “cái cuốc của nhà khảo cổ học, cái compa của nhà nhân chủng học, chiếc ống kính của nhà nhiếp ảnh và chiếc bàn chải của nhà in rập. Tất cả những công việc đó không phải là những công việc của một du khách thoảng qua. Những kết quả đó chỉ thu được trải qua quá trình lao động liên tục, có tổ chức, giống như một học viện nghiên cứu thường trực thì mới có thể có được”. Dựa trên những tình huống đã được đặt ra chung quanh việc thành lập một viện nghiên cứu thường trực như mong muốn, Louis Finot nói tiếp: “Chính là do ảnh hưởng của trào lưu tư tưởng này mà vào năm 1898 những vị đứng đầu nghành Ấn Độ học người Pháp như Auguste Barth, Michel Breal, Emile Senart đã dự kiến một đề án thiết lập ở Ấn Độ những trường giống như những trường đã phát triển rực rỡ ở Anthenes của Hy Lạp, ở Rôma của Ý hay Viện khảo cổ ở Caire của Ai Cập…”

            Vậy nhiệm vụ của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp phải được xác định một cách rất chính xác, nhằm cho phép nó theo đuổi công việc nghiên cứu bác học, đồng thời với việc đổi mới phương pháp luận trong nghiên cứu. Nhiệm vụ càng được đặt trong bối cảnh thuộc địa thời đó và điều đó không hề có ý gì làm giảm nhẹ nhiệm vụ đó cả. Ông Paul Doumer, toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ đang tổ chức một hệ thống hành chính cho những xứ được tập hợp lại dưới cái tên gọi “Đông Dương thuộc Pháp” nhằm xây dựng một Nhà nước có nguồn thu nhập và những cơ quan cần thiết cho sự sống của mình. Trong bối cảnh này, Sở địa chất cũng như Đoàn nghiên cứu khoa học về động vật và thực vật và Đài quan sát khí tượng được thành lập. Thật là một dịp may. Dự án ban đầu của các nhà Ấn Độ học là xây dựng ở cửa ngõ Calentia một “Trường Chamdernagor thuộc Pháp”, nhưng dự án này đã không tranh thủ được sự quan tâm của các giới có thẩm quyền đối với dự kiến ngân sách hoạt động của nó; dự án đó được ông Paul Doumer đặt lại và đề nghị cho Đông Dương. Nhiệm vụ của Trường Viễn Đông Bác Cổ được xác định theo hai loại công việc:
            1. Hoạt động nghiên cứu về khảo cổ học và ngữ văn học của bán đảo Đông Dương.
            2. Góp phần vào việc nghiên cứu bác học những vùng và những nền văn minh lân cận như Ấn Độ, Trung Quốc, Malaixia…
            Tuy được chính quyền thuộc địa tài trợ vào giao cho một số nhiệm vụ như lập danh sách và xếp hạng bảo tồn những di tích lịch sử, ra những quyết định có liên quan tới việc xuất khẩu các công trình nghệ thuật nhưng phần nghiên cứu khoa học thì Trường lại không được giao.(6) Chính ông Paul Doumer vì muốn bảo đảm sự vĩnh cửu cho “Nghiên cứu Văn khắc và Văn học” đảm nhận việc tổ chức và kiểm tra khoa học cho trường. Đề nghị đó đã được chấp nhận và Viện Hàn lâm đã giới thiệu người Giám đốc đầu tiên của trường là ông Louis Finot cùng ba uỷ viên đầu tiên, trong đó có Antoine Cabaton làm thư ký của thư viện và ông Paul Pelliet nhà Trung Quốc học rất nổi tiếng sau này vì những phát hiện của ông về những tư liệu Phật giáo trong các hang động ở Đôn Hoàng thuộc vùng Trung Á.
            Đến Sài Gòn năm 1899 phái đoàn nghiên cứu bắt tay ngay vào công việc, mặc dù có một sự phản ứng nào đó của những “Văn phòng” thuộc địa. “Công việc được bắt đầu từ Campuchia, Louis Finot nói: ông Giám đốc và ông Cabaton đã lưu lại đấy bốn tháng để nghiên cứu tiếng nói và nền văn học đồng thời cũng đi tham quan một số công trình kiến trúc và thu thập một số văn bản viết tay. Chuyến đi này đã có kết quả là xây dựng được một kho bản thảo viết tay bằng chữ Khơ-me đầu tiên, bao gồm 100 tác phẩm và 300 tập sách nhỏ…” Nhiệm vụ lớn phải hoàn thành là việc tổ chức mà trước hết là “xây dựng một thư viện, một nhà bảo tàng và một cơ quan bảo tồn, giữ gìn những di tích lịch sử”. Chẳng bao lâu những ấn phẩm của Trường ra đời và tập đầu tiên công bố vào năm 1900 là quyển “Tiền cổ học An Nam” mà tác giả là D. Lacroix, xuất bản tại Sài Gòn. Nhưng những tập tiếp theo nằm trong hệ ấn phẩm này được in tại Paris. Ngược lại, tờ Tập san của Trường ba tháng một kỳ vẫn được in tại Hà Nội. Bốn số của năm thứ nhất được hợp thành một tập dầy 431 trang, có kèm theo 75 bức ảnh minh họa và ba tấm bản đồ. Trong tập này có 10 bài chuyên luận thì 8 bài viết về ngữ văn học như: Tôn giáo, kiến trúc của người Chàm; Văn học dân gian Việt Nam và nghệ thuật “Bắc Kỳ”; Khảo cổ học ở Lào; Phong tục của người Campuchia và nghiên cứu các dân tộc miền núi… Còn hai chuyên luận kia thì “một bài chuyên về Trung Quốc học một bài chuyên về Ấn Độ học, cả hai bài đều nêu lên phần ảnh hưởng chính đáng của hai nền văn minh đó tới nền văn minh của Ấn Độ Chi Na (tức Đông Dương = Indochina) đúng như nó đã được gọi tên”. Những từ trích dẫn trên được rút từ bản báo cáo về hoạt động của trường, của Giám đốc thứ 2 – ông A. Foucher cũng là một nhà Ấn Độ học.
            Cũng cần phải trình bầy về những nhiệm vụ và nội dung công việc của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp để hiểu được loại hình tài liệu đã được Trường thu thập. Cần phải nói đến phương thức hoạt động của Trường mà qua đó người ta hiểu được thấu đáo những hoạt động của Trường trên lĩnh vực văn hóa cũng như nhân văn để thấy được đến nay Trường vẫn còn có uy tín đặc biệt ở châu Á, mặc dù phương tiện hoạt động của Trường còn thiếu thốn trong thời đại ngày nay khi mà các kỹ thuật hiện đại đã làm đổi mới phương tiện quản lý, giao thông và khai thác tư liệu. Chúng ta hãy xem một bài viết mới đây của bà Solange Thierry. Bà đã viết về Campuchia như sau:

            “Không một lúc nào trong quá trình lịch sử của mình, người Khơ-me lại không biết đến những công trình kiến trúc ở vùng Tây Bắc của Biển Hồ cũng như các công trình kiến trúc nằm rải rác trên khắp đất nước họ. Nhưng họ đã quên mất nguồn gốc chính xác, nếu không nói đến ngay cả ý nghĩa của các công trình đó. Đối với họ đấy là những công trình kiến trúc được xây dựng bởi những bậc Tevođa, những vị thần linh, hay những ông vua vĩ đại từ những thời xa xưa và đã ẩn mình trong đêm trường thời gian, và trong huyền thoại chắc chắn người dân Campuchia còn rất thân thuộc với những nhân vật vốn được chạm khắc trên các bức chân tường và trên các bức phù điêu của các công trình kiến trúc đó, tất nhiên là với điều kiện họ có thể đọc được chúng qua lớp rễ cây cuộn xoắn suýt và lớp cỏ dại mọc tràn lan từ nhiều thế kỷ nay. Đối với họ, những đấng thần linh và các vị vua với quá khứ oanh liệt của mình vẫn còn hay lui tới những nơi đây, những nơi chủ yếu mang tính chất triều đại và tôn nghiêm. Lễ hội hàng năm vào dịp năm mới, người ta thấy dân Campuchia từ mọi nẻo đường cái, đường mòn đổ về tận Ăng Co Vát và ở đó trong các hành lang, họ nhẩy múa và dâng lễ vật theo nghi thức của tổ tiên.
            Nhưng một lịch sử có thực của Campuchia như người phương Tây hiểu và yêu cầu được hiểu, một lịch sử được đánh dấu bằng các sự kiện và năm tháng, bằng các triều đại, bằng các cuộc chinh phạt được ghi nhận theo trình tự thời gian. Một lịch sử như vậy thì người Campuchia không biết đến bởi hai nguyên nhân rất rõ nét là: một mặt các văn bản viết tay không có khả năng cưỡng lại với thời gian, với các cuộc chiến tranh, với khí hậu và mặt khác những văn khắc trên đá đã khó có thể đọc được vì bị bào mòn, bị nấm rêu bao phủ, bị tan vỡ, sụp đổ. Nói cách khác người ta chưa có thể cho tiếp cận những tư liệu viết ở đất nước này, một đất nước vốn đã có một hệ thống chữ viết này từ trước thế kỷ thứ VI, thứ VII, mà dẫu có cho tự do đọc đi chăng nữa thì đối với người Campuchia vẫn còn có những khó khăn mà họ không thể vượt qua được. Những văn bản khắc trên đá đều bằng chữ Phạn, hay bằng chữ Khơ-me cổ, rất xa lạ với tiếng Khơ-me hiện đại. Chính là do muốn khôi phục lại lịch sử của người Campuchia, khôi phục lại nền văn minh trong tổng thể của nó của người Campuchia mà các nhà bác học, các kỹ thuật viên người Pháp đã phối hợp với người Campuchia. Công trình nghiên cứu trên “các công trình kiến trúc” đã được tiến hành song song với công trình nghiên cứu trên các văn bản”.

            Cần phải trình bầy lại toàn bộ sự đóng góp của bà Thierry vì đó là sự đóng góp minh bạch. Một bằng chứng khác đã nêu bật một dạng của “sự phân quyền” giữa khoa học và hành chính chính trị. Điều này đã được ông Maurice Durand Giám đốc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp ở Hà Nội lúc đó nêu lên trong bài diễn văn đọc tại Hội nghị ở Hồng Kông ngày 5 tháng 12 năm 1956. Tại Hội nghị này ông đã trình bầy những hoạt động của Trường và về sự tiến triển của Trường từ năm 1945, tức là từ sự rung động diễn ra sau cuộc đảo chính của Nhật ở Đông Dương. Cuộc chiến tranh ở Đông Dương, hiệp định Giơnevơ và sự chia cắt đất nước Việt Nam thành hai miền. Trong suốt thời kỳ ấy, Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã nhận thấy một thực tế mà từ trước chưa từng có. Trên thực tế thì năm 1949 toàn bộ tài sản quí giá của Trường như các bảo tàng, thư viện, các tòa nhà đều đã trở thành sở hữu không thể chia cắt của khối quốc gia liên hiệp (Việt Nam, Campuchia, Lào và Pháp). Tuy nhiên, quy chế khoa học không thay đổi: Viện Hàn lâm (Pháp) vẫn nắm quyền quyết định trong lĩnh vực này. Tình hình này vẫn còn diễn ra ngay cả sau khi Việt Nam đã bị chia cắt làm hai miền, bởi vì người ta đã công nhận việc duy trì những hoạt động của Trường và duy trì tài sản quí giá của Trường tại Hà Nội – do đó ông Maurice Durand trở thành người phụ trách “Trung tâm Hà Nội” từ sau những công văn trao đổi giữa thủ tướng Phạm Văn Đồng và ông P. Mendes France. Tuy nhiên tình hình này không thể kéo dài quá năm 1958.
            Trong số những ấn phẩm của Trường, người ta đã thấy bản tổng kết về những hoạt động ở thời kỳ đầu này của Trường, Louis Malleret viết năm 1956.(7) Đặc biệt ông viết: “Do việc thành lập các bảo tàng và các thư viện, do việc tập hợp được một kho ảnh, do việc sưu tập được các văn bản viết tay và những sách quí hiếm, Trường đã góp phần to lớn vào việc thiết bị văn hóa cho các nước Đông Dương. Bởi vậy, bằng những công trình nghiên cứu thận trọng của Trường, nhiều kho tư liệu đặc biệt quí giá đã có thể được thiết lập nếu như người ta nghĩ đến tất cả những gì mà khí hậu, sâu mọt hoặc sự thờ ơ của con người có thể phá hủy chúng hoặc để cho chúng tiêu tan đi”.
            Rõ ràng rằng chính do mối quan tâm nhằm tránh việc phân chia tài liệu khoa học vốn đã “được đánh giá một cách chính đáng là giá trị của toàn thế giới” mà vào năm 1949 người ta đã đề xuất công thức về chủ nghĩa bốn bên về văn hóa (quađripartime culturel). Bài học mà Louis Malleret rút ra sau 5 năm lãnh đạo một học viện hoạt động theo chế độ đó, thực đáng được dẫn chứng và ca ngợi: “Chế độ 4 bên theo quan điểm của người này thì đó là cái di sản của quá khứ để lại, theo quan điểm của người khác thì đó là một công thức kiểu mẫu quốc tế, được áp dụng trong thế giới hiện đại do tất cả những gì mà nó đã đưa thành cái chung và tạo khả năng để trở thành cái chung trên bình diện quốc tế. Tuy có phức tạp, nhưng phương thức này trải qua 5 năm, được thực hiện ở Trường đã chứng minh được toàn bộ tính hiệu quả của nó. Không những phương thức đó không đi sau những biến đổi chính trị mà nó còn vượt lên khỏi những biến đổi chính trị đó và chính vì thế mà đôi khi nó được coi là bất khả xâm phạm, nó đánh dấu một bước tiến đáng kể trên lĩnh vực khoa học và nó chưa được người ta hiểu một cách thấu đáo. Tuy nhiên vì hiệp định Pau ra đời sau nó đã mất uy tín nặng nên nó cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng và trở nên không thể thực hiện được do sự sụp đổ của những hệ thống liên kết thương chính, kinh tế và tiền tệ – những hệ thống mà trước đây đã tạo cho nó chỗ dựa về mặt vật chất. Lịch sử 5 năm này đáng được viết lên một cách khách quan, nó đã đánh dấu một cách đậm nét sự tồn tại của học viện và đã tạo ra cho những người chủ chốt của học viện một dịp thể nghiệm chưa từng thấy và say sưa thông qua tất cả những đề tài nghiên cứu mà học viện đã đề xuất…”
            Chủ nghĩa sở hữu 4 bên về văn hóa này có lợi là nó cho phép thành lập các đoàn nghiên cứu thường trực dài hạn, trước hết ở Gia Các Ta, rồi đến Băng Cốc, Hồng Công, Tôkyô v.v… cuối cùng tại Ấn Độ vào năm 1955 đã thành lập một Viện nghiên cứu Pháp ở Pogdiehéry mà viện này phải trực thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp về mặt khoa học.(8) Thời kỳ hoạt động thứ hai của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp như từ ngữ mà ông Francois Gros Giám đốc hiện nay của trường đã dùng là “tuyến châu Á” mà các trung tâm nghiên cứu đặt ở châu Á phải được phối hợp hoạt động dưới sự điều hành của trung tâm đặt tại Paris nơi có thư viện chính của Trường.

Phát hiện kịp thời và công bố vốn quí
            Năm 1959 tại cuộc hội thảo do cơ quan Singer Polignac tổ chức với sự có mặt của tất cả những nhân vật ở Pháp có quan tâm tới việc “nghiên cứu khoa học nhân văn ở châu Á” của các học viện Pháp, người ta nêu lên một dấu hiệu báo động rằng “Trước đây – như có người đã phát biểu tại hội thảo – do địa điểm đóng của Trường và nhất là do thư viện của Trường đã được các hội viên – mà tất cả đều là các chuyên gia về ngôn ngữ và về các vấn đề đang được đặt ra cung cấp tài liệu, sách báo nên trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp đã thu thập được hầu hết tất cả những gì đã có ở Viễn Đông… Giờ đây nó không còn được như thế nữa. Do đó trong các bộ sưu tập quốc gia đã bắt đầu có nhiều lỗ hổng và những lỗ hổng đó có nguy cơ nhanh chóng trở thành không thể bổ khuyết được”. Điều ghi nhận này do Pernard Groslier đưa ra giờ đây thực sự có tính thời sự hơn bao giờ hết. Đó là một vấn đề hiện đang được luận bàn không phải chỉ riêng đối với chúng tôi, mà còn được luận bàn rộng rãi ở nhiều nơi, ví như ở các nước châu Âu khác chẳng hạn. Trong số những mục tiêu của chúng tôi, người ta đã nhấn mạnh về tính hiện đại, tính xác thực mà thể thức hoạt động của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp là tiêu biểu trong bối cảnh lịch sử và khoa học lúc bấy giờ đã khiến dẫn tới việc thành lập trường vào đầu thế kỷ này, rồi làm cho nó phát triển và luôn luôn thích nghi với mọi hoàn cảnh cho mãi tới ngày nay. Người Anh người Đức, nhất là người Mỹ, đang tổ chức những mạng lưới trên qui mô lớn, nhưng thường chỉ để thu thập các sách vở, báo chí định kỳ và những ấn phẩm đã được chính thức công bố.
            Những hệ thống này hoạt động có hiệu quả một khi chúng được phát triển trên qui mô lớn và lại được thiết lập ngay trên nước sở tại.(9) Tương lai của chúng ta gắn liền với sự tham gia tích cực vào các mạng lưới hoạt động này nhằm thu thập được những công trình cụ thể, cũng như bảng danh mục về những công trình đó. Đấy là điều cốt tử theo thiển nghĩ của chúng tôi.
            Việc trao đổi tư liệu cũng là một hoạt động mà chúng ta cần phải cấp thiết đưa vào chương trình hoạt động hoặc phát triển nó: những thư viện trọn vẹn bằng microfilm hoặc liên lạc qua vệ tinh, như người ta hằng mong ước đều có thể được trao đổi. Khoa học không được có biên giới và việc sưu tầm tài liệu không được dẫn đến việc tích trữ tài liệu một cách vô ích.
            Với tinh thần ấy, tuy còn có những biện pháp thủ công, và ở một trình độ giới thiệu cũng như ở mức độ hiệu quả của nó như hiện nay, thư viện của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp vẫn cho phát hành một cách thường xuyên và biếu không bản danh mục tất cả những tài liệu gì mà Trường thu nhận được trong năm. Thư viện cũng phát hành những tập danh mục của các kho ấn phẩm, làm đến đâu cũng phát hành đến đấy.(10) Thư viện cũng đang hoạt động rất tích cực để chuẩn bị đưa ra những bộ thư mục chi tiết về các tư liệu quí nhất mà nó có.
            Hiện nay đang làm về: Các bản thảo chữ Khơ-me, bản in khắc gỗ chữ Tây Tạng. Bản thảo chữ Pali (viết theo các dạng chữ viết khác nhau), bản thảo và bản in khắc gỗ cổ của Việt Nam (nằm trong chương tình hợp tác Pháp-Việt) hiện đang được triển khai trong khuôn khổ hợp tác song phương giữa Pháp và Việt Nam). Kho lưu trữ ảnh hiện đang đứng trước nguy cơ bị hư hỏng trầm trọng, nhất là dối với các tấm ảnh cổ. Kho ảnh hiện nay là một mối lo đáng kể và các tài liệu lưu trữ viết tay cũng vậy. Chúng tôi đang dự kiến chương trình bảo vệ chúng trong những điều kiện thích đáng. Đồng thời chúng tôi cũng nghĩ đưa mảng tư liệu này ra phục vụ với chất lượng thẩm mỹ là lẽ đương nhiên, nhưng không phải đã tuyệt mỹ. Chúng tôi quan tâm tới ba mức độ: bảo vệ vốn quí, đưa vốn quí ra phục vụ và làm phong phú thêm vốn quí. Sự quan tâm này đã được các bạn thủ thư đồng nghiệp làm việc tại các học viện hoặc các nhà nghiên cứu thuộc các tổ chức khác hưởng ứng rộng rãi và chúng tôi phải tay nắm tay cùng nhau tiến bước.
            Nếu chúng tôi không thường xuyên làm được như vậy thì đó là do điều kiện vật chất và con người quá mỏng manh, không cho phép chúng tôi có được một hoạt động bình thường và ngày qua ngày, còn góp phần đặt ra ngoài lề và làm xuống cấp dần dần cái di sản của nước Pháp mà có lẽ đó là một trong số những di sản phong phú nhất của châu Âu. Và đâu có phải bằng các biện pháp kỳ diệu của ngành tin học mà người ta chưa hiểu được đúng hoặc không có sự phối hợp gì mà lại có thể nghĩ ra được một lối thoát. Cộng đồng các nhà khoa học đương nhiên hoàn toàn tán thành ý kiến này.

Kết luận
            Nếu như những trang trên nói nhiều đến Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp và ngành Đông phương học sôi động, thì chủ yếu là vì hai lý do sau đây:
            1.– Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp nắm bắt cái tổng thể – chứ không có ý đi vào nghiên cứu toàn bộ các vấn đề cũng như cái tính đặc thù của các nền văn hóa châu Á và cái xã hội con người châu Á, nên trường đã trở thành nơi gặp gỡ ưu việt và rộng mở đặc biệt đối với các viện nghiên cứu chuyên sâu về một địa bàn đặc biệt với tư cách là nơi gặp gỡ thì trên thực tế Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp có lẽ là nơi gặp gỡ hơn hẳn các nơi khác, bởi truyền thống lâu đời của nó, và bởi vì nó là cái lò đã đào tạo ra các nhà nghiên cứu bậc thầy người Pháp hiện nay đang hoạt động trong lĩnh vực nghiên cứu các khoa học nhân văn ở châu Á. Chính các bậc thầy này đã tích lũy nên khối tư liệu hiện có của Trường và họ còn tích lũy nữa thông qua các thế hệ mới các nhà nghiên cứu.
            2.– Trường luôn luôn có ý thức đổi mới và thích ứng thường xuyên với những điều kiện nghiên cứu về châu Á mà việc nghiên cứu này đã được coi như là một đóng góp vào công việc nghiên cứu về con người trên thế giới này. Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp luôn luôn đi trước sự vận động của lịch sử và sự tiến triển của thế giới hiện đại – điều này người ta có thể nhận thấy khi đọc đoạn viết rất sơ lược về lịch sử của Trường mà chúng tôi đã điểm ở đây – Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp ngày nay vẫn tiếp tục cơ nghiệp của mình như trước. Thừa hưởng một qui chế hành chính đã được sửa đổi năm 1988, nên vai trò của thư viện của Trường sẽ phải được tăng cường để thực hiện chức năng thông tin tốt hơn và cho phép người ta sử dụng được đầy đủ hơn những nguồn tài liệu đã được tích lũy ở đây kể cả những tài liệu ở dạng nguyên thủy cũng như những thư tịch có hoặc không mang tính chất trí tuệ, kể cả các nội dung của các bản báo cáo v.v… Năm 1906 người ta đã đề nghị thành lập một trung tâm về tư liệu ở Paris – nhưng như ông Louis Finot đã đề cập và đã giải thích rõ trong cuốn lịch sử đại cương năm 1920 rằng Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp cũng đã biết chuyển từ cái mà mình có thành một trung tâm về tư liệu.
            Để kết thúc bài này, tôi xin phép gọi ra đây cả những nỗ lực của các viện nghiên cứu hoặc các tổ chức nghiên cứu về Đông phương học ở Pháp mà người ta ít khi nhắc tới. Những bộ sách xuất bản phẩm định kỳ hoặc các tư liệu khác thường rất được chú ý, mặc dù các phương tiện để khai thác chúng còn quá thiếu thốn. Chỉ riêng việc tra cứu cuốn Niên giám năm 1988 của Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc gia, người ta cũng nhận thấy có khoảng 30 nhóm đơn vị hoặc “nhóm công ích” quan tâm nghiên cứu về châu Á. Song trong tổng số này chỉ có 18 tổ chức tự xét thấy là có ích khi tuyên bố mình có thư viện riêng với gần 30.000 đơn vị tài liệu. Còn về các Viện nghiên cứu với đúng nghĩa của nó thì người ta phân làm hai loại có quan hệ hành chính khác nhau. Trước hết là Viện nghiên cứu cao cấp về Trung Quốc từ năm 1926(11) hoạt động trong khuôn khổ của Trường Đại học Tổng hợp Paris nay sát nhập vào trường Trung học Pháp; Viện nghiên cứu nền văn minh Ấn Độ, thành lập năm 1929 và cũng hoạt động trong số các “Viện nghiên cứu châu Á” thuộc trường Trung học Pháp, y như Viện nghiên cứu cao cấp về Nhật bản, Viện nghiên cứu về Triều Tiên, Viện nghiên cứu về Tây Tạng hoặc Trung tâm nghiên cứu về Trung Á. Toàn bộ các học viện này, trong thời gian sắp tới sẽ được hoàn thiện hơn, khi mà các tòa nhà dự kiến xây dựng trong khu vực của trường Bách khoa xưa kia đã xây xong, sẵn sàng cho các học viện đó đến thuê làm trụ sở làm việc và đặt những thư viện đồ sộ của mình. Một khối học viện khác, với một qui chế tương đối phức tạp thì lại hoạt động trong khuôn khổ của trường Cao học khoa học xã hội (EHESS) [1] như: Trung tâm nghiên cứu về Ấn Độ và Nam Á (bản thân Trung tâm này không chỉ gắn bó với Trường Cao học khoa học xã hội mà còn gắn bó với cả Trung tâm nghiên cứu khoa học Quốc Gia, và với Phân hiệu V của Trường Cao học thực hành (EPHE) [2] Trung tâm tư liệu và nghiên cứu về Trung Quốc hiện đại; Trung tâm nghiên cứu về Nhật Bản hiện đại; Trung tâm nghiên cứu về quần đảo. Mỗi một tổ chức nghiên cứu này đều có thư viện chuyên ngành riêng, mà tầm cỡ cũng lớn. Đó là chưa kể thư viện của Trung tâm tư liệu và nghiên cứu về Đông Nam châu Á và về khu vực Nam Dương quần đảo trước đây (CEDRASEMI) [3] (một tổ chức được thiết lập và hoạt động trong thời gian đầu theo mô hình của các Trung tâm nghiên cứu thuộc trường Cao học khoa học xã hội) nay đã hoàn toàn bị sát nhập vào thư viện của Trường Đại học Tổng hợp Nice.(12) Về những chi tiết của các nguồn tài liệu này, chúng tôi chưa nắm được mấy. Một ngày nào đó có lẽ phải đề xuất vấn đề điều tra để ít nhất có được một danh mục các thư viện ở trên đất nước Pháp có các nguồn tài liệu liên quan tới châu Á.


RAGEAU, CHRISTIANE PASQUEL
Nguyễn Xuân Đồng và Phạm Văn Thắm dịch
Nguồn: Tạp chí Hán Nôm số 2 năm 1989
___________________________________________
(1) Bài đăng trên “Tập san thông tin của Hội các nhà thủ thư Pháp”, số 112 quí I, năm 1989 (Bulletin d’informations de I’Association des Bibliothé caires Francais – N0140. Icr Trime dre 1989). Tư liệu này do GS. Trần Nghĩa cung cấp.
(2) Tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (BEFEO) tập 21, H. 1922, tr. 271.
(3) Người ta có thể coi Phòng Đông Dương của Cục Ấn Phẩm thuộc thư viện Quốc gia là một trong số những cái “được phát hiện lại” đó mà Chính quyền hiện nay đã có ý tốt là đề cao giá trị của nó đúng như nó có.
(4) Tập san Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp (BEFEO) tập 21, H. 1922, tr. 271.
(5) Thư viện, các hộp phiếu tra cứu và các tài liệu đã được chuyển đến Paris với sự đồng ý của Chính phủ Trung Hoa và được lưu giữ tại Viện Cao học nghiên cứu về Trung Hoa (30.000 tập).
(6) Chúng ta gặp lại ở đây một cuộc thảo luận có tầm cỡ lớn nhưng chưa được cởi mở, về việc đánh giá công cuộc thực dân của người Pháp. Một thư mục ngày càng được làm cho phong phú sẽ phải được đưa ra đóng góp cho thời gian tới khi mà việc thống kê các vấn đề bao hàm trong nó đang được người ta tiến hành. Tác phẩm của ông P. R. Féray (Việt Nam ở thế kỷ XX) do P.U.F xuất bản năm 1979 là tác phẩm đầu tiên đề cập tới cuộc tranh luận như vậy, hoàn toàn đề cập dưới góc độ nền văn minh của Việt Nam. Sự mở cửa của Việt Nam với thế giới cận đại từ những năm 1850 và khả năng về mặt lý thuyết của họ để bước vào thế kỷ XX, đã là chủ đề của một cuộc thảo luận trong những năm gần đây của các nhà sử học chuyên về vùng Viễn Đông đã bị Trung Hoa hóa. Nhiều ấn phẩm xuất bản hiện nay và nhiều công trình đang được tiến hành đã nhấn mạnh đến tính chất đa văn hóa có thực không chỉ đối với ba xứ (hiện nay là nước Việt Nam) – trong số 5 xứ của Đông Dương thời xa, mà còn nhấn mạnh đến việc bảo hộ mang tính chất thực dân đã được thực hiện thông qua một hệ thống cai trị duy nhất đã từng quản lý không chỉ ba xứ đó mà còn quản lý cả Campuchia và Lào nữa. Chúng ta cũng cần nhớ rằng công việc nghiên cứu về xã hội Việt Nam truyền thống của các nhà nghiên cứu thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp “chỉ phát triển từ năm 1932-1933”. Việc kiểm kê các công trình kiến trúc hoặc các tài liệu thư tịch đã cho ra đời nhiều ấn phẩm như năm 1904 có công trình “Bước đầu nghiên cứu về các nguồn tài liệu hiện có ở Việt Nam về lịch sử Việt Nam” của các ông L. Cadière và P. Pelliot và năm 1909 có công trình “Những công trình kiến trúc Chàm ở xứ An Nam” đăng trong tập II bộ danh mục về khảo cổ và về xứ Đông Dương (tập I chuyên về xứ Campuchia). Phương pháp nghiên cứu – rõ ràng là theo phương pháp của người châu Âu và mang tính chất phổ biến, một phương pháp vốn đặc trưng cho những mối quan tâm của các nhà sáng lập ra Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, kể cả ông Paul Doumer – là kiên quyết nghiên cứu những vấn đề trong khuôn khổ của phương pháp so sánh, đặc biệt là đối với các xã hội châu Á.
(7) Điểm lại nửa thế kỷ hoạt động khoa học của Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp, Tạp chí Pháp-Á số 125, 126, 127, tr. 1-42.
(8) Những công việc và triển vọng của trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp nhân dịp 75 năm ngày thành lập Paris. 1976.
(9) Những chương trình của “Library of congress” là ví dụ mẫu mực. Ở Anh việc mua sách đặt dưới sự chỉ đạo của những trung tâm tập thể, thí dụ như tổ chức S.E.A.E.G. Trong khi đó thì Trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại các nơi mà Trường có những trung tâm do Trường quản lý, lại tham gia vào việc làm phong phú thêm những bộ sưu tập sách báo Mỹ hoặc các nước khác, thông qua những nhà nghiên cứu thường trực của mình tại các nước đó.
(10) Người ta đã hoàn thành các bản thư mục ấn phẩm của các kho sau: Kho sách Nam Dương quần đảo, kho sách Khơ-me, kho sách Việt Nam, kho sách Thái và ấn phẩm định kỳ về Nam Dương quần đảo.
(11) Xin xem bài của Paul Démielville nhan đề: Tin về tổ chức nghiên cứu Đông Á ở Pháp, in trong Tập san Nghiên cứu Á Châu, tập XVIII, N01, tháng 1-1958.
(12) Thêm vào đó là những bộ sưu tập ấn phẩm của các thư viện chuyên ngành như Thư viện Bảo tàng Guimet, hoặc các thư viện tổng hợp như Thư viện Viện Bảo tàng phân loại hoặc các thư viện của trường đại học cấp tỉnh.
[Trong khi dịch tài liệu này chúng tôi được sự giúp đỡ và góp ý kiến của ông Dương Kính Quốc – một chuyên gia có kinh nghiệm về tiếng Pháp. Nhân đây xin chân thành cảm ơn.]

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] EHESS: Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales.
[2] EPHE: Ecole Pratique des Hautes Etudes.
[3] CEDRASEMI: Centre de Documentations et de Techerches sur I’Asie du Sud – Est et le monde Insulindien.



 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Kho sách Việt Nam tại Thư viện Quốc gia Pháp – BNF

Thư Viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque nationale de France, BNF),
cơ sở François Mitterrand nằm bên bờ sông Seine,
quận 13 Paris, mở cửa đón độc giả ngày 20/12/1996.

Thư viện Quốc Gia Pháp, BNF, lối vào Ouest

            Với chức năng lưu trữ tất cả các ấn phẩm lưu chiểu tại Pháp (sách in, thư tịch viết tay, bản đồ, tranh ảnh…), BNF là thư viện lớn nhất nước Pháp với khoảng 14 triệu đầu sách, trong đó các tủ sách được phân thành các khoa theo chuyên ngành khác nhau: khoa học, lịch sử, văn học, xã hội, triết học, nghe nhìn…
            Thư Viện Quốc Gia Pháp có khối tài liệu về Việt Nam được cho là lớn nhất thế giới gồm nhiều lĩnh vực. Riêng về sách in (không tính tài liệu nghe nhìn, hình ảnh, bản đồ), có khoảng 90.000 đầu sách, được chia thành các tủ sách chuyên ngành của thư viện và được lưu tại hai khu vực chuyện biệt theo cấu trúc của BNF: Thư viện dành cho độc giả đại chúng (Haut-de-Jardin) và một thư viện dành cho độc giả nghiên cứu (Rez-de-Jardin).
            Tại thư viện dành cho đối tượng đại chúng và học sinh-sinh viên, 70% tác phẩm thuộc mảng văn học và ngôn ngữ là sách dịch từ văn học Việt Nam sang tiếng Pháp hoặc sang tiếng Anh, cùng với nhiều bản gốc để độc giả đối chiếu. Tủ sách này được lưu trữ tại phòng đọc G dành cho văn học nước ngoài.
            Ngoài ra, một tủ sách riêng dành cho người mới học tiếng Việt cũng được thành lập từ cách đây hai năm khi Thư Viện Quốc Gia Pháp mở thêm tủ sách học ngoại ngữ, trong đó có tiếng Việt. Độc giả Việt Nam cũng có thể học tiếng Pháp theo các giáo trình được BNF đặt mua ở Việt Nam.
            Về tủ sách dành cho đối tượng nghiên cứu (Rez-de-Jardin), một phần sách được đặt trên giá và độc giả có thể tự do tra cứu (phòng đọc W). Những cuốn sách này chủ yếu là tiếng Việt dành cho những nhà nghiên cứu chuyên sâu, cũng như là độc giả Việt Nam có tầm hiểu biết khá rõ về văn hóa-văn học Việt Nam, từ văn học cổ điển đến văn học hiện đại.
            Những đầu sách có trên giá chỉ chiếm 1% trên tổng số sách về Việt Nam trong thư viện quốc gia, vì phần lớn sách về Việt Nam được lưu trữ trong các kho lạnh chuyên biệt trên bốn tòa tháp của thư viện. Vì vậy, số sách trên giá không phản ánh hết lượng sách phong phú mà thư viện có.


Phòng đọc G, thư viện dành cho sinh viên-học sinh, BNF

            Trả lời đài RFI tiếng Việt, chị Nguyễn Giáng Hương, phụ trách kho sách Việt Nam và Đông Nam Á, giới thiệu về một số kho sách khác:

            “Về bên khoa sách cổ, các tư liệu liên quan đến Việt Nam gồm các văn tự Hán-Nôm từ đầu thế kỷ XVII cho đến đầu thế kỷ XX, những văn bản đầu tiên được viết tay bằng chữ quốc ngữ. Đặc biệt là có bản gốc của cuốn từ điển Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes. Đây là cuốn từ điển đánh dấu sự ra đời của chữ quốc ngữ, chữ viết hiện đại ngày nay.
            Về hiện vật, thư viện quốc gia Pháp cũng có một kho tiền cổ rất có giá trị. Thực ra kho tiền cổ này trước đây nằm trong kho tiền cổ của Trung Quốc. Bởi vì tiền cổ Việt Nam trước đây được viết bằng chữ Hán và nó được tặng hoặc được mua lại từ các nhà viễn chinh và các nhà nghiên cứu về Đông Phương học.
            Sau đó thư viện quốc gia sàng lọc lại và lọc ra được một kho tiền cổ của Việt Nam. Kho đó gồm 2.500 đồng tiền, chủ yếu là được mua hoặc được tặng, từ thế kỷ X cho đến thế kỷ XX, tức là có những đồng tiền in hiệu các đời vua, có cả những đồng tiền xu có chân dung Hồ Chí Minh”.

12.486 đầu sách trong “Kho Sách Đông Dương”

            “Đặc biệt, kho sách rất quan trọng và quý hiếm duy nhất trên thế giới là kho sách Đông Dương. Kho sách được đặt tên là “Kho sách Đông Dương” vì bao gồm toàn bộ các ấn phẩm được in ở Đông Dương, chủ yếu là ở Việt Nam từ năm 1922 đến năm 1954, theo luật lưu chiểu. Kho sách này gồm có 12.486 đầu sách, chưa kể các đầu báo.
            “Kho sách Đông Dương” này có vai trò lịch sử rất quan trọng bởi nó đánh dấu sự ra đời của rất nhiều lĩnh vực tại Việt Nam trong bước đầu giao thoa văn hóa với phương Tây. Ví dụ như các ngành báo chí, văn học viết bằng chữ quốc ngữ, những tiến bộ trong khoa học-kỹ thuật, trong các ngành khoa học tự nhiên, về kiến trúc, y học… Vì thế, kho sách Đông Dương này được các nhà nghiên cứu trên thế giới rất quan tâm và thường xuyên đến tra cứu.
            Về những tủ sách khác, như tranh ảnh thì phải kể tới ban bản đồ. Ban này có nhiều bản đồ rất quan trọng và có giá trị lịch sử rất lớn về Đông Dương gồm các nước Việt Nam, Lào và Cam Bốt. Hội Địa Lý (Société de la Géographie) đã tặng toàn bộ kho bản đồ về Đông Dương cho Khoa Bản Đồ (Département des Cartes) của Thư viện Quốc gia Pháp.
            Thư viện Quốc gia Pháp cũng có một kho tài liệu ảnh-bưu thiếp rất lớn và phần lớn đã được số hóa nên có thể tra cứu trực tuyến trên trang Gallica.fr. Nhiều bức ảnh có giá trị rất lớn, như ảnh về gia đình vua Bảo Đại hay những chuyến công du Pháp của ông vào năm 1922 và sự tiếp đón của chính quyền Pháp”.

            Độc giả còn có thể tham khảo tài liệu nghe-nhìn về Việt Nam, gồm chủ yếu là âm nhạc truyền thống (hát ru, cải lương, nhạc đàn chanh, đàn bầu…) cùng với nhiều bộ phim tài liệu về lịch sử và xã hội Việt Nam hiện đại. Đây là điểm mới của kho sách về Việt Nam từ khi chị Giáng Hương giữ vai trò phụ trách, nhờ đặt mua hay trao đổi với Thư Viện Quốc Gia Việt Nam.
            Trong số các tác phẩm nghe-nhìn được lưu trữ tại BNF, có một số tác phẩm điện ảnh Việt Nam, từ những ngày đầu thành lập như Con chim vành khuyên (năm 1962) của đạo diễn Nguyễn Văn Thông, đến những tác phẩm hiện đại như phim của Trần Anh Hùng, Đặng Nhật Minh. Những bộ phim gần đây gồm có những bộ phim Lọ Lem hè phố của Lê Hoàng, Chung cư (2012) của tác giả Việt Linh hay Bi đừng sợ (2013) của Phan Đăng Di.


Triển lãm sách của Xuân Diệu tại phòng đọc G, Thư viện Quốc Gia Pháp - BNF

Bảo quản và tra cứu tài liệu quý hiếm
            Thư viện quốc gia có một bộ phận riêng chuyên bảo quản và phục chế tư liệu. Rất nhiều sách tại BNF được số hóa và có thể tra cứu được trên trang Gallica và rất dễ tìm kiếm. Đây là một lợi thế của Thư Viện Quốc Gia Pháp. Và với kỹ thuật số hóa rất hiện đại, người đọc có thể phóng to thu nhỏ, thậm chí copy lại phần phóng to nào đó của tài liệu, ảnh hoặc bản đồ. Đây là một phương pháp hữu ích để tra cứu và nghiên cứu tài liệu về hình ảnh.
            Cùng với sự kiện liên quan đến tranh chấp tại Biển Đông giữa Trung Quốc và một số nước trong vùng Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, lượng yêu cầu truy cứu tài liệu, đặc biệt là bản đồ, tại Thư Viện Quốc Gia Pháp có vẻ tăng lên. Chị Giáng Hương cho biết, nhiều người quan tâm cũng đặt câu hỏi cho chị trong một số hội thảo về sách liên quan đến Việt Nam, Đông Dương và Đông Nam Á.

            “Chức năng của thư viện là đem tới người đọc công cụ tìm kiếm tốt nhất và chi tiết nhất. Vì vậy, thư viện mở cửa cho bạn đọc và chủ yếu ở bên này có nhiều bạn đọc quốc tế, từ Pháp và các nước khác trong châu Âu đến tìm hiểu. Ngoài ra còn có một số bạn đọc Việt Nam sống ở châu Âu cũng hỏi tra cứu bản đồ.
            Từ 1-2 năm nay, BNF đã có chính sách mở rộng đến bạn đọc và có những đường hướng cải cách hướng tới bạn đọc. Kho sách Việt Nam và Đông Nam Á cũng nằm trong hướng đi chung của thư viện. Đối với kho sách Việt Nam và Đông Nam Á cũng có nhiều độc giả thường xuyên đến. Thậm chí họ không ngại khi phải đi lại từ nước này sang nước khác để tra cứu những tài liệu quý và thậm chí yêu cầu in một bản riêng để tra cứu.
            Tuy nhiên, đây lại là một hạn chế lớn đối với các nhà nghiên cứu quốc tế và từ Việt Nam. Điều đầu tiên mà Thư Viện Quốc Gia hướng tới bạn đọc để họ có thể tra cứu dễ dàng là công nghệ số hóa. Chính vì vậy, tất cả tư liệu trên trang Gallica, người đọc có thể xem và tra cứu từ nhà.
            Ngoài ra, bộ phận tiếng Việt của thư viện cũng có những chương trình hợp tác với các cơ sở dạy tiếng Việt, cụ thể là trường Inalco và một số trường đại học khác. Năm 2014, Thư Viện Quốc Gia Pháp đã tổ chức một cuộc hội thảo lớn về Việt Nam. Đây là một hoạt động lớn để cho các nhà nghiên cứu về Việt Nam tại Pháp, cũng như ở châu Âu, biết nhiều hơn đến các giá trị lịch sử và tầm quan trọng của các tủ sách tiếng Việt ở Thư Viện Quốc Gia”.


THU HẰNG
Tháng 6/2016


http://vi.rfi.fr/phap/20160617-kho-sach-viet-nam-tai-thu-vien-quoc-gia-phap-bnf
 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Việt Nam đầu thế kỷ XX qua “ống kính” Viễn Đông Bác Cổ

Nhân dịp năm Việt-Pháp 2014, tại Paris đang diễn ra cuộc triển lãm ảnh đặc biệt mang tên “Objectif Việt Nam. Ảnh của Trường Viễn Đông Bác cổ”. Triển lãm được đặt tại Viện bảo tàng Cernuschi (bảo tàng ảnh Á châu của thành phố Paris), khai mạc ngày 14/03 và sẽ kéo dài đến ngày 29/06. Những bức ảnh trưng bày tại bảo tàng Cernuschi, rất hiếm khi được công chúng biết tới, ghi lại không chỉ hành trình khoa học và sứ mạng bảo tồn hơn nửa thế kỷ của EFEO tại Việt Nam, mà còn cả cuộc sống đời thường của xã hội Việt Nam cách đây cả thế kỷ qua ống kính của các nhà khoa học và nhiều tác giả vô danh khác.

Sĩ phu Bắc kỳ (Lettrés annamites) ảnh của bác sĩ quân y Charles-Édouard Hocquard. Tonkin 1883-1886.
Nguồn: Thư viện Quốc gia Pháp (Bibliothèque Nationale de France)

            Trường Viễn Đông Bác cổ, một tên tuổi hết sức quen thuộc với giới nghiên cứu về Việt Nam, một điểm đến bắt buộc đối với những ai muốn tìm hiểu về lịch sử và văn hóa Việt Nam, về những cộng đồng người trên báo đảo Đông Dương, và rộng hơn là ở Châu Á, có thể vẫn còn xa lạ với nhiều người không thuộc giới chuyên môn. “Objectif Việt Nam. Photographies de l’Ecole Français d’Extrême-Orient” (Objectif Việt Nam. Ảnh của Trường Viễn Đông Bác cổ) (Objectif trong tiếng Pháp có nghĩa là “ống kính”, đồng thời cũng có nghĩa là “mục tiêu”) có mục tiêu giới thiệu với công chúng rộng rãi, cũng như giới khoa học, về lịch sử hơn nửa thế kỷ hoạt động của một cơ sở nghiên cứu khoa học và bảo tồn hết sức đặc biệt, qua một loạt các bức ảnh đa dạng về thể loại, được lựa chọn hết sức công phu trong số kho lưu trữ cả trăm ngàn bức trong bảo tàng ảnh của EFEO.
            Được thành lập cuối thế kỷ XIX (năm 1898) theo sáng kiến của Viện Hàn lâm văn khắc và văn chương Pháp, được đặt dưới sự quản lý của Toàn quyền Đông Dương vào thời đó, EFEO – Trường Viễn Đông Bác cổ – đã tạo ra các cơ sở đầu tiên mang tính quyết định cho sự hình thành của nhiều chuyên ngành nghiên cứu về Việt Nam nói riêng, và khu vực Đông Dương thuộc Pháp (còn được biết đến với tên gọi “bán đảo Trung-Ấn”) nói chung, trước hết trong lĩnh vực khảo cổ học và ngữ văn học, thoạt tiên với sự thúc đẩy của các nhà Ấn Độ học nổi tiếng.


Triển lãm Objectif Vietnam

            Trải qua hơn nửa thế kỷ, với những biến động dữ dội của quá trình thực dân hóa, hiện đại hóa, cùng nhiều xung đột, chiến tranh khốc liệt, Trường Viễn Đông Bác cổ kiên trì theo đuổi các sứ mạng ban đầu với sự cộng tác chặt chẽ và hiệu quả của nhiều trí thức Việt Nam, mà phần lớn vốn trưởng thành trong nền giáo dục Nho học truyền thống. Sau khi rời khỏi Hà Nội năm 1959, EFEO quay trở lại mở cơ sở thường trực tại Việt Nam vào năm 1993, theo lời mời của chính quyền Việt Nam, từ đó mở ra các hợp tác với Viện khoa học Xã hội Việt Nam trong các lĩnh vực vốn là thế mạnh của Trường Viễn Đông Bác cổ, như khảo cổ, lịch sử hay nhân học. Cùng với nhiều cơ sở khoa học Pháp và quốc tế khác, Trường Viễn Đông Bác cổ “tham gia vào giúp cho những nghiên cứu về Việt Nam mang một tầm cỡ thế giới, tương xứng với tầm quan trọng và giá trị của nền văn hóa Việt Nam”, như lời ghi nhận của nhà Hán học Léon Vandermeersch, nguyên giám đốc EFEO (1989-1993), nguyên quản thủ (1951-1958) Bảo tàng Louis Finot (Hà Nội), sau này là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam.
            Về một số thông tin chính để hiểu cuộc triển lãm lần này, xin mời quý thính giả theo dõi cuộc trò chuyện với bà Isabelle Poujol, phụ trách thư viện ảnh của Trường Viễn Đông Bác cổ, người chịu trách nhiệm chính trong việc thiết lập cuộc trưng bày này, cùng với bà Christine Shimizu, quản thủ, kiêm giám đốc Bảo tàng Cernuschi.

Isabelle Poujol: Cuộc triển lãm này được lập ra dựa trên sứ mạng mà EFEO (Trường Viễn Đông Bác cổ), được xác định vào thời điểm thành lập năm 1898. EFEO có nhiệm vụ tiến hành các nghiên cứu khảo cổ và ngữ văn học tại bán đảo Đông Dương. Trường cũng đồng thời có nhiệm vụ, bằng tất cả mọi biện pháp có thể huy động được, tạo điều kiện cho việc hiểu biết về lịch sử, về các công trình kiến trúc, lời ăn tiếng nói của các cộng đồng… và đồng thời tiến hành các nghiên cứu khoa học về các đất nước, các nền văn minh xung quanh.
            Sứ mạng của Viễn Đông Bác cổ bắt đầu bằng công việc bảo vệ, bảo tồn và tìm hiểu các di sản Việt Nam. Ở đây chúng ta có các lĩnh vực chuyên ngành khác nhau tương ứng với các mục tiêu lớn khác nhau. Có nghiên cứu khảo cổ học, với hoạt động khai quật tại các khu di tích của người Chàm ở miền Trung, các di chỉ Óc Eo ở đồng bằng Cửu Long hay kinh thành nhà Hồ ở Bắc Trung Bộ… Ta cũng có một chuyên ngành liên quan đến việc bảo tồn kiến trúc, các công trình kiến trúc như các đình, đền, chùa… Và chúng ta cũng có một bộ phận làm công việc in rập lại các văn tự cổ, bởi vì rõ ràng là rất cần biết được nội dung của các văn bia, và việc in rập sẽ cho phải giải mã được chúng một cách dễ dàng hơn và cho phép lưu lại các dấu vết của các văn tự đó.
            Chúng ta cũng có các bảo tàng, Trường Viễn Đông Bác cổ đã thành lập ra 5 bảo tàng tại Việt Nam, như Bảo tàng Lịch sử tại Hà Nội, tức bảo tàng Louis Finot trước đây, Bảo tàng Đà Nẵng, Bảo tàng Blanchard-de-la-Brosse, tức Bảo tàng Lịch sử TP Hồ Chí Minh… Tiếp theo đó là một phân khoa thiên về dân tộc học, liên quan đến các truyền thống lớn ở Việt Nam, ví dụ như việc thờ cúng các linh hồn với trung gian là những ông bà đồng; nghi thức Nam Giao mà vua Bảo Đại thực hành lần cuối cùng; hay việc đúc các tượng Phật lớn, trong triển lãm này có các bức ảnh mô tả lại việc đúc một bức tượng đồng cao ba thước nặng nhiều tấn tại Hà Nội vào đầu những năm 1950… Có rất nhiều thứ liên quan đến cuộc sống hàng ngày, các truyền thống lớn của Việt Nam.
            Phần cuối cùng trong triển lãm này là các bức tranh màu nước của René Mercier, đào tạo theo ngành khắc chạm, giảng viên Mỹ thuật đại học Đông Dương, đồng thời từng là quản thủ bảo tàng, phụ trách khai quật của Trường Viễn Đông Bác cổ. René Mercier đã vẽ về những di chỉ nơi ông làm việc. Chính vì thế trong triển lãm này, chúng ta có các bức họa về các di tích Chăm Mỹ Sơn, di tích Phật giáo của người Chăm ở Đồng Dương (cũng ở tỉnh Quảng Nam), hay các đền chùa lớn ở Hà Nội.
            (…) Chúng tôi chưa dự kiến có một cuộc triển lãm nào tiếp theo. Nhưng chúng tôi đang hoàn thiện một cơ sở dữ liệu, sắp sửa được đưa lên mạng. Tôi hy vọng trong ít tháng nữa. Trong đó sẽ có tất cả các bức ảnh trong “kho lịch sử” chung của Viễn Đông Bác cổ. Các kho của các cá nhân thì sẽ được đưa lên sau. Trước hết cần phải số hóa các bức ảnh, để sau đó đưa vào một kho dữ liệu. Trong khi chờ đợi, những người quan tâm có thể tới Trường Viễn Đông Bác cổ tại Paris để xem các ảnh lưu trữ tại Trung tâm Châu Á. Nhưng sắp tới các ảnh đều sẽ được đưa lên mạng.


***

            Những bức ảnh đang được trưng bày tại Bảo tàng Cernuschi nhìn chung rất hiếm được công chúng rộng rãi biết tới. Trong phần cuối của cuốn catalogue, giới thiệu về triển lãm “Objectif Vietnam”, có một lời tựa của nhà khảo cổ học Henri Marchal cho một bộ sưu tập ảnh vào năm 1937 tại Siem Reap (Cam Bốt). Henri Marchal từng làm việc nhiều tại Việt Nam.
            “Xin đừng cho ai thấy những bức ảnh này!” là lời mở đầu album. Nhà khảo cổ học cho biết đã nhiều lần ông nhận thấy nỗi buồn chán, sự thờ ơ hoàn toàn của những người xem khi lật giở các bức ảnh. Nhà khảo cổ khẳng định chắc chắn là ảnh chỉ sống động đối với những ai hiểu biết, sẽ là vô ích khi trưng ra cho những người không biết đến Đông Dương. “Đối với tôi – ông thốt lên – các bức ảnh này là những gì gợi lên những ấn tượng và tình cảm sâu xa, làm thức dậy những giờ phút hạnh phúc trong cuộc đời, mà tôi muốn được chìm đắm trở lại”…
            Quý vị quan tâm có thêm tham khảo các thông tin về triển lãm và các hoạt động có liên quan trên trang mạng của bảo tàng Cernuschi, như các buổi nói chuyện về các nhà nhiếp ảnh Pháp ở Đông Dương (1850-1930), đời sống hàng ngày ở Việt Nam qua tranh dân gian, hay các bài giảng của chuyên gia về văn hóa Việt Nam.


TRỌNG THÀNH
Tháng 3/2014


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20140321-viet-nam-dau-the-ky-xx-qua-lang-kinh-vien-dong-bac-co


 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Cầu Long Biên qua hồi ký toàn quyền Paul Doumer

Trong những năm 1897-1898, chính quyền Pháp tại Đông Dương tìm cách phát triển cơ sở hạ tầng để “nâng giá trị các nguồn tài nguyên” thuộc địa. Nhiều công trình hạ tầng được thực hiện, trong đó phải kể đến tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn đang được thi công, nhưng chỉ dừng lại ở Gia Lâm, tả ngạn sông Hồng, cách trung tâm Hà Nội 3 km. Dòng sông rộng đến 1.700 mét là một trở ngại hàng ngày cho người dân hai bên bờ, đặc biệt vào mùa nước lũ.

Cầu Long Biên (pont Doumer) đầu thế kỷ XX

PAUL DOUMER, lúc đó là toàn quyền Đông Dương (1897-1902), cho rằng phải xây một cây cầu nối liền hai bờ sông và kéo dài tuyến đường sắt đến trung tâm Hà Nội. Cây cầu còn là một thách thức mang tính chiến lược: Nước Pháp phải chinh phục lại thị trường Trung Hoa nhờ tuyến đường sắt đến Vân Nam (Yunnan) để bắt kịp với Anh Quốc về mặt thương mại.

“Việc gì Tây muốn, họ đều làm được!”
            Trong cuốn hồi kí Xứ Đông Dương thuộc Pháp,(*) Paul Doumer cho biết rất nhiều quan chức, ngay tại Hà Nội và ở Paris, phản đối dự án đồ sộ ngoài sức tưởng tượng này, với tổng chi phí khi hoàn thiện có thể lên đến 6 triệu franc.
            Năm 1897, chính quyền thuộc địa Đông Dương mời thầu xây dựng, chủ yếu dành cho các tập đoàn Pháp. Cuối cùng, công ty Daydé & Pillé, ở thành phố Creil (tỉnh Oise) đã được lựa chọn. Toàn quyền Paul Doumer là người đặt viên đá đầu tiên khởi công công trình vào tháng 09/1898.
            Cây cầu là một trong những công trình lớn nhất thế giới vào đầu thế kỷ XX, đồ sộ nhất và chưa từng có ở vùng Viễn Đông. Khi được thông báo về công trình, quan lại và người dân địa phương cho đó là việc không tưởng. Xây một cây cầu bắc qua sông Hồng ư? Điên thật! Cứ như là xếp chồng các ngọn núi lên nhau để bắc lên trời.
            Dòng sông Hồng rộng như một cửa biển, sâu hơn 20 mét, với mực nước có thể dâng cao thêm 8 mét vào mùa mưa, lòng sông lại động và lồi lõm. Tóm lại, với người dân địa phương, đó là việc bất khả thi! Một số quan lại có đầu óc cởi mở hơn thì nghĩ là người Pháp làm liều: “Có phải các ông định căng một dây cáp từ bờ bên này sang bờ kia để dẫn đường cho tàu bè không?” Thế nhưng, khi nhìn cây cầu từ từ vươn ra sông, họ rỉ tai nhau: “Việc gì Tây muốn, họ đều làm được!
            Đúng là cây cầu trở thành phương tiện tuyên truyền cho chính quyền thuộc địa còn non trẻ, như nhận xét của nhà sử học Dương Trung Quốc với phóng viên báo Le Figaro: “Người Việt rất ấn tượng với công trình bằng thép này. Nó khơi lòng ngưỡng mộ của những người muốn hợp tác với Pháp và nỗi sợ trong những người muốn chống Pháp”.


Cầu Long Biên khoảng năm 1940

Công nhân làm việc dưới độ sâu 30 mét
            Công trình đồ sộ dài 1.680 mét tính từ hai mố biên bằng đá, gồm 19 nhịp chắc chắn (tổng cộng có 20 trụ cầu và mố biên) được dựng trên các dầm thép, kiểu Cantilever. Trụ cầu cao 43,5 mét: 30-32 mét trong lòng đất (dưới mực nước thấp nhất của sông Hồng vào mùa cạn) và 13,5 mét từ mặt nước. Vì lòng sông rộng nên móng được làm trong môi trường khí nén.
            Vị tổng thống Pháp tương lai (1931-1932) khâm phục những người thợ Việt Nam làm việc dưới độ sâu như vậy mà không sợ hãi, không một lời phàn nàn. Ông không quên đề cao cách tổ chức và đối xử với nhân công của nhà thầu Daydé & Pillé. Sau 4 giờ làm việc trong điều kiện khắc nghiệt dưới lòng sông, các tốp thợ từ từ lên mặt đất và được các nhóm khác xuống thay. Họ được đưa về lán trong công trường, được bồi dưỡng thuốc bổ và được xoa bóp, luôn có một bác sĩ theo dõi sức khỏe của họ. Nhờ cách đối đãi tốt với công nhân và lương bổng cao, tiếng tăm của công ty lan rộng nên luôn có nhiều người đến xin việc.
            Công việc lắp ráp cầu được tiến hành sau khi trụ cầu được xây xong và những thanh xà bằng thép được chuyển từ Pháp đến. Công việc này cũng do lực lượng lao động địa phương đảm nhiệm. Ban đầu số lao động người Hoa nhiều hơn người Việt, song dần dần, dù không khỏe mạnh bằng, nhưng năng động hơn, khéo tay hơn và làm được nhiều việc hơn, nên chủ thầu Pháp thích tuyển nhân công người Việt.
            Toàn quyền Paul Doumer nhớ lại trong cuốn hồi kí: “Đây là thành quả của đội ngũ kỹ sư, đốc công, tổ trưởng người Pháp và công nhân địa phương. Chính nhờ lực lượng lao động Á châu, gồm người Việt được một số người Hoa hỗ trợ, mà mọi việc, từ xây dựng đến lắp ráp phần sắt, đã được hoàn thành. Phần khó khăn nhất của công trình, chưa từng được thực hiện tại vùng đất Bắc Kỳ nơi vừa có khí hậu khắc nghiệt vừa có những đợt thay đổi thời tiết, là xây trụ đá, mố cầu và các trụ cầu bắc qua sông”.
            Sau ba năm đặt viên gạch đầu tiên, vào tháng 02/1902, cầu Paul Doumer được khánh thành cùng lúc với đoạn đường sắt đầu tiên trong mạng lưới tầu hỏa xuyên Đông Dương và dẫn đến trung tâm thủ đô. Tuyến đường Hải Phòng-Hà Nội dài 100 km, nối liền thủ đô với cảng biển lớn nhất Bắc Kỳ, đã được thông tuyến và đưa vào hoạt động ngay trong giai đoạn này.


Cầu Long Biên trong những năm 1930

            Nhìn từ xa, cầu Paul Doumer, như một dải đăng-ten, lịch lãm bắc qua dòng sông Hồng và gắn bó với cuộc sống hàng ngày của người Hà Nội. Khu vực giữa cầu, nằm dưới khung chính, được dành cho tuyến đường sắt. Bên phía thành phố Hà Nội, cây cầu còn được kéo dài bằng một cây cầu cạn dài hơn 800 mét, nâng tổng chiều dài toàn bộ công trình lên thành 2,5 km. Đến năm 1923, cầu được mở rộng hai bên đường sắt cho xe ô tô.
            Vị quan toàn quyền tỏ ra hân hoan vì “Kết quả thu được cho thấy sức mạnh của nền văn minh Pháp. Tiến bộ khoa học, sức mạnh công nghệ của chúng ta đã chinh phục được người dân địa phương, những người từng không khuất phục trước súng đạn (…)
            Tôi vui mừng chứng kiến Bắc Kỳ trước đó 5 năm còn nghèo khó, run rẩy và lo sợ, giờ trở thành một vùng bình yên, trù phú và tự tin. Được hưởng nhiều tiến bộ hơn những địa phương khác, Hà Nội đã trở thành một thủ đô to đẹp nơi người ta chứng kiến những công trình mới, những ngôi nhà theo kiến trúc Âu châu mọc lên từng ngày. Ngay cả người dân địa phương cũng tham gia vào quá trình thay đổi này với những ngôi nhà xây bằng gạch ngày càng nhiều hơn. Từ năm 1898 đến 1902, toàn Bắc Kỳ, đặc biệt là Hà Nội, vận động không ngừng nghỉ, dân số cũng tăng đáng kể. Nếu như năm 1897 có khoảng 30.000 người ở Hà Nội, thì đến năm 1902 đã có hơn 120.000 người
”.

            Năm 1897, cùng năm khởi công xây cầu ở Hà Nội, toàn quyền Paul Doumer cũng quyết định xây một cầu bắc qua dòng sông Hương (Huế) và một cây cầu khác bắc qua sông Sài Gòn, nối với Biên Hòa. Được công ty Creusot xây dựng và khánh thành vào năm 1900, cầu Thành Thái ở Huế (tên gọi cầu Trường Tiền lúc đó), dài 400 mét và không có đường sắt chạy qua, nối hai bờ sông: tả ngạn là Thành Nội cùng với làng Việt và hữu ngạn là khu Tây cùng với đường Tourane đi Đà Nẵng.
            Công ty Levallois-Perret trúng thầu thi công cây cầu bắc qua sông Sài Gòn. Được khánh thành vào tháng 02/1902, cầu Bình Lợi dài 276 mét với 6 nhịp được làm bằng sắt, trong đó có một nhịp cầu xoay dài 40 mét để cho tầu bè qua lại.


THU HẰNG
Tháng 12/2016
____________________________________
* Paul Doumer, L’Indo-Chine française (Xứ Đông Dương thuộc Pháp), Paris, Vuibert et Nony Editeurs, 1905.


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20161230-cau-long-bien-qua-hoi-ky-cua-toan-quyen-paul-doumer

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Hà Nội và tiếng leng keng tầu điện xưa

Trong suốt nhiệm kỳ toàn quyền (1897-1902), Paul Doumer bỏ nhiều công sức để cải tiến cấu trúc thuộc địa và phát triển cơ sở hạ tầng tại Đông Dương. Dù bị chỉ trích vì cách quản lý độc đoán và sau này bị triệu về Pháp để giảm bớt căng thẳng với Anh Quốc trong tranh chấp biên giới tại Vân Nam (Trung Quốc), Paul Doumer đã khởi xướng hay cho hoàn thiện rất nhiều công trình quan trọng làm thay đổi cảnh quan Việt Nam.


Tầu điện trên phố Đinh Tiên Hoàng năm 1979

CŨNG TRONG giai đoạn này, Hà Nội trở mình mạnh mẽ để đóng vai trò trung tâm hành chính của Đông Dương. Cũng nhờ Paul Doumer, lúc đó là một trong số nhà quản lý của Tổng Công ty Điện lực (Compagnie général d’électricité, trước đó là Công ty Điện lực Normandie (Société normande d’électricité), do Pierre Azaria thành lập tại Pháp), nên Hà Nội trở thành đô thị đầu tiên tại châu Á có điện thắp sáng. Năm 1897, công suất cơ học của nhà máy điện là 300 mã lực được nâng lên thành 850 mã lực để đáp ứng nhu cầu sử dụng của người đặt mua và của thành phố.
            Đây cũng là điều kiện tiên quyết để phát triển hệ thống xe điện nối trung tâm Hà Nội với các vùng lân cận. Chính quyền thuộc địa hy vọng phương tiện này đáp ứng được nhu cầu đi lại của dân cư mỗi ngày một đông. Hà Nội được mở rộng gấp 10 lần so với khu phố cũ và phát triển xứng tầm với một đô thị quan trọng cùng với hệ thống thoát nước, xe điện và nhiều công trình có quy mô lớn.
            Theo cuốn Thành phố Hà Nội (Ville de Hanoi) do Chính phủ Đông Dương phát hành năm 1905 (Hanoi, Imprimerie G. Taupin et Cie, 1905), một công ty vô danh có vốn 2.750.000 franc đã nhận được hợp đồng nhượng quyền xây dựng và khai thác một hệ thống xe điện dài 12 km nối trung tâm Hà Nội và vùng ngoại ô. Hợp đồng được ký ngày 02/05/1899 giữa chính quyền bảo hộ Bắc Kỳ, thành phố Hà Nội cùng với các ông Courret, Krug và anh em nhà Durant.
            Đến năm 1902, doanh nghiệp này thuộc quyền sở hữu của Công ty Điền địa Đông Dương (Société foncière de l’Indochine), trụ sở ở Paris, nhưng có chi nhánh kinh doanh và nhà máy sửa chữa đầu máy, đóng toa xe ở Thụy Khê (Hà Nội) từ năm 1901. Năm 1929, một lần nữa được đổi tên thành Công ty Xe điện Bắc Kỳ (Compagnie des Tramways du Tonkin) và trở thành Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) năm 1951 (L’Eveil économique de l’Indochine (Thức tỉnh kinh tế Đông Dương), 02/08/1931).


Tầu điện trên phố Hàng Đào năm 1940

            Trên dự án, thành phố Hà Nội có ba tuyến xe điện, xuất phát từ quảng trường Négrier (quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục ngày nay) với tổng chiều dài là 13.101,08 m, gồm: Tuyến A: Quảng trường Négrier (Bờ Hồ) – Bạch Mai (3.524,50 m); Tuyến B: Quảng trường Négrier – làng Giấy (5.433,67 m); Tuyến C: Quảng trường Négrier – Thái Hà Ấp (Kinh Lược) (4.131,91 m).
            Trong cuốn hồi ký Tình hình xứ Đông Dương thuộc Pháp (Situation de l’Indochine française, Paris, Vuibert et Nony, Editeurs, 1905), toàn quyền Paul Doumer cho biết ngay năm 1900, công việc xây dựng nhà máy, lắp đặt đường ray và máy móc nhanh chóng được tiến hành và một phần hệ thống đã được khai thác. Hợp đồng cuối cùng được toàn quyền Đông Dương ký trước khi trở về Pháp là tuyến Bờ Hồ – Cầu Giấy (đường Sơn Tây, route de Sontay) vào tháng 11/1901.
            Hợp đồng này nằm trong kế hoạch kéo dài thêm 8.100 m đường sắt, được thành phố Hà Nội lên kế hoạch vào năm 1905. Tuyến A được kéo dài từ Bạch Mai đến đường vành đai (route circulaire, ngã tư Đồng Lầm, nay là ngã tư Đại Cồ Việt-Lê Duẩn). Tuyến B được nối thêm từ Thụy Khuê lên chợ Bưởi. Tuyến C được kéo dài từ Thái Hà vào Hà Đông. Nhiệm vụ duy nhất của chính quyền là xây một cây cầu lớn bằng sắt bắc qua sông Nhuệ thay cho cây cầu gỗ cũ kĩ và không chịu được trọng tải của xe điện. Quá trình phôi thai đoạn kéo dài này mất tận 10 năm. Nhưng đến năm 1915, tuyến xe Hà Nội-Hà Đông vẫn nằm bên kia cầu mà không vào được trung tâm thị xã. Thay vì xây một cây cầu mới, Sở Công Chính lại chỉ cho gia cố bằng xi măng cây cầu cũ, thậm chí làm cả đường ray trên cầu.
            Năm 1930, thành phố Hà Nội thông qua dự án xây một tuyến đường mới, dài khoảng 5.500 m, nối hai đầu đường Quan Lộ (Route Mandarine, một đoạn của đường Lê Duẩn ngày nay) từ ngã tư Đại Cồ Việt ngày này đến Yên Phụ, đi qua các phố Thiên Tân (rue Tientsin, nay là phố Hàng Gà) và Hàng Than. Như vậy, tính đến thời điểm này, Hà Nội có 5 tuyến tầu điện, với khoảng 27 km đường sắt, nối từ trung tâm Bờ Hồ với vùng ngoại ô: Bờ Hồ – Cầu Giấy, Bờ Hồ – Hà Đông, Bờ Hồ – Chợ Bưởi, Bờ Hồ – Chợ Mơ và một tuyến không qua Bờ Hồ là Yên Phụ – Bạch Mai.

Tầu điện, từ xa xỉ đến thân quen
            Trong suốt 13 năm đầu khai thác, công ty luôn bị thua lỗ vì mua vé đi tầu điện vẫn là một điều xa xỉ với người dân nghèo. Họ thà đi bộ 2 km hơn là trả thêm 1 xu. Doanh thu từ xe điện chỉ tăng dần trong khoảng những năm 1920-1930, giữa hai cuộc Thế Chiến. Người dân dư giả hơn một chút và người nông dân sẵn sàng trả hai xu để tránh đi bộ 1 hoặc 2 km.
            Thời Pháp thuộc, mỗi đoàn tầu chỉ có hai hoặc ba toa. Theo thống kê năm 1905, có 22 toa lái và 15 toa xe moóc. Xe điện hoạt động được nhờ một chiếc cần sắt dài, trên đầu có một cái ròng rọc để tiếp xúc với đường dây dẫn điện mắc ở phía trên song song với đường tầu. Thiết bị điện ở mỗi toa gồm hai động cơ lớn, mỗi chiếc có công suất 25 sức ngựa.
            Đường sắt rộng một mét, giống hệ thống đường sắt Đông Dương. Mọi chi phí xây dựng và để tuyến đường đi vào hoạt động đều do nhà thầu chịu trách nhiệm. Hợp đồng nhượng quyền khai thác kéo dài 60 năm, sau đó sẽ thuộc về chính quyền thuộc địa, trừ thiết bị di động vẫn là tài sản của công ty. Chi phí và rủi ro trong quá trình khai thác hoàn toàn phụ thuộc vào nhà thầu, chính phủ không cấp bất kỳ khoản hỗ trợ nào.


Tầu điện và xe kéo, phố Hàng Bông (rue du Coton) và vườn hoa Cửa Nam (place Neyret), năm 1925

            Từ năm 1927, Công ty Tài Chính Pháp và Thuộc địa (Société financière française et coloniale, SFFC) của Octave Homberg sở hữu phần lớn cổ phiếu của Công ty Điền Địa, nhà thầu hệ thống xe điện Hà Nội, vì vậy vốn của công ty được tăng lên. Thương vụ này được công luận đánh giá cao vì cuối cùng, những toa tầu cũ từ gần 30 năm kêu ầm ĩ ngoài phố sẽ được tân trang và hiện đại hóa. Nhiều đường ray nhẹ được thay thế bằng đường ray nặng và các thiết bị cũ mòn được thay thế bằng thiết bị mới.
            Theo tài liệu lưu trữ quốc gia Pháp về thế giới lao động (tại Roubaix, Pháp), năm 1951, vốn của Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội (Transports en commun de la région de Hanoi) tăng lên thành 45,9 triệu franc và 114,7 triệu franc vào năm 1953. Đến ngày 01/06/1955, công ty ngừng hoạt động sau khi Pháp thất bại tại Đông Dương. Chính phủ nước Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam cam kết bồi thường cho công ty 300 triệu franc trong vòng 25 năm. Thế nhưng, ngay giữa năm 1959, các khoản nợ đã được thanh toán hết. Công ty Giao thông công cộng vùng Hà Nội giải thể vào năm 1962.
            Từ năm 1968, tầu điện được phục hồi và phát triển để trở thành phương tiện công cộng quan trọng của thành phố phục vụ hơn 30 triệu lượt khách mỗi năm. Cho đến cuối những năm 1980, xe đạp và tầu điện vẫn là những phương tiện quen thuộc của người dân thủ đô.
            Năm 1991, từ khi tuyến đường cuối cùng bị ngừng hoạt động, xe máy dần dần tràn ngập Hà Nội (chiếm 78% số lượng phương tiện giao thông) cùng với mức đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội cũng như dân số. “Hà Nội không vội được đâu” trở thành câu nói quen thuộc mỗi khi nhắc đến tình trạng tắc nghẽn giao thông.
            Theo Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tại Hà Nội, kể từ năm 2001, hệ thống xe buýt được tổ chức lại và được hy vọng là giải pháp thay thế cho phương tiện cá nhân, song vẫn không đáp ứng đủ nhu cầu ngày càng tăng của giao thông nội đô. Trước tính cấp bách của tình trạng “khủng hoảng giao thông đô thị”, năm 2008, thành phố Hà Nội đã thông qua một kế hoạch chỉ đạo, trong đó dự kiến thiết lập một mạng lưới 5 tuyến tàu điện ngầm (dự kiến hoàn thành vào năm 2030). Cơ quan Phát triển Pháp tham gia tài trợ cho tuyến tầu điện ngầm số 3 từ ga Hà Nội đi Nhổn và được đánh giá là tuyến thí điểm.


THU HẰNG
Tháng 11/2016


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20161125-ha-noi-va-noi-nho-tieng-leng-keng-tau-dien-xua

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Cuộc sống người An Nam trong con mắt Henri Oger

Trong khoảng thời gian ngắn ngủi, từ 1908 đến 1909, Henri Oger,
một công chức Pháp, rong ruổi khắp phố phường Hà Nội và vùng ngoại ô
để tìm hiểu sự đa dạng của các ngành công thương nghiệp tại đây.

Một bức tranh khắc gỗ mô tả hoạt động của Hà Nội đầu thế kỷ 20 do nhà nghiên cứu Henri Oger sưu tầm

CÙNG VỚI niềm đam mê và miệt mài, ông đã tổng hợp mọi khía cạnh của cuộc sống hàng ngày tại miền đất kinh kì trong bộ sách Kỹ thuật của người An Nam (Technique du peuple Annamite, 1909), gồm khoảng 4.000 tranh khắc gỗ, cùng các bài viết nghiên cứu của tác giả.
            Ngày nay, trong khi nhiều ngành nghề và phong tục dần bị phai nhạt và lãng quên, bộ sách giúp tái hiện phần nào cuộc sống với những sinh hoạt đời thường tại Bắc Kỳ trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Cũng vì mục đích này, từ nguyên bản tiếng Pháp, trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp tại Hà Nội, kết hợp với Thư viện Khoa học tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Thế Giới, Công ty Nhã Nam, tái bản và biên dịch thành ba ngoại ngữ, Pháp-Anh-Việt, để bộ sách trên có thể được công bố rộng rãi tới công chúng.

Henri Oger – nhà nghiên cứu ít được biết tới
            Cuộc đời và sự nghiệp của Henri Oger có lẽ không gặp nhiều thuận lợi như những viên chức Pháp đương thời. Sinh tại Montrevault (vùng Maine-et-Loire, Pháp) ngày 31/10/1885, ông có một quá trình đào tạo bài bản tại các trường nổi tiếng như trường Cao học Thực hành (Ecole Pratique des Hautes Etudes, khóa 4, năm 1906) dưới sự hướng dẫn của giáo sư nổi tiếng Louis Finot, tiếp theo là Trường Thuộc địa (Ecole coloniale, vào năm 1909) sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự hai năm tại Đông Dương (1907-1909).
            Đây cũng là lần đầu tiên ông sang vùng Viễn Đông. Ông quay lại lần thứ hai vào cuối năm 1910 và ở lại làm việc tới giữa năm 1914. Sau khi trở về Pháp, năm 1915, ông phải nhập ngũ tham gia Đệ nhất Thế chiến. Một năm sau ông được phục viên. Ngỡ rằng sẽ được bổ nhiệm một công việc hành chính tại Pháp, dù nhiều lần được nghị viện tiến cử, song ông vẫn bị điều sang Đông Dương lần thứ ba (1916-1919). Năm 1919, ông được hồi hương do bị bệnh, nhưng thực ra do không hoàn thành công việc hành chính được giao.
            Với sự nghiệp hai năm nghĩa vụ quân sự và mười năm công tác dân sự, ông được nghỉ hưu năm 1922. Cùng năm đó, ông lấy vợ nhưng không có con. Ông mất tích tại Tây Ban Nha năm 1936. Cho tới nay, không có tài liệu nào cho phép biết thêm chi tiết về đời tư của ông cho tới ngày ông được coi mất tích.
            Trong hai năm đầu tiên làm việc tại Bắc Kỳ (1907-1909), ông được giao tiến hành nghiên cứu về các thao tác nghề nghiệp thủ công của người Việt nhằm thống kê các thuật ngữ kỹ thuật và đời sống thường ngày của người dân. Chính nhiệm vụ được giao trên đã giúp Henri Oger thỏa mãn được trí tò mò vô bờ bến trong mọi lĩnh vực, từ ngôn ngữ đến văn học, và niềm đam mê nghiên cứu của mình vì ông luôn quan niệm rằng: “Nghiên cứu nghề của một dân tộc cũng chính là nghiên cứu nền văn minh vật chất của dân tộc đó”.
            Giáo sư Pierre Huard (1970) giải thích: “Niềm khao khát khoa học này được thể hiện rất đa dạng trong nhiều dự án nghiên cứu đã được khởi xướng nhưng rồi đều bị bỏ lỡ. Đề án quan trọng nhất (và cũng đủ để làm rõ cá tính của ông) là nghiên cứu, trên thực địa, về nền văn minh vật chất của người Việt Nam và các khía cạnh xã hội học của nó, một lĩnh vực còn rất ít được khai thác, đến nỗi Oger tự tin cho rằng công trình của mình chưa từng một ai tiến hành ở Đông Dương”.
            Đây chính là ấp ủ dự án của công trình sau này có tên gọi là Kỹ thuật của dân tộc An Nam. Thế nhưng, đam mê nghiên cứu đã khiến ông sao nhãng công việc quản lý hành chính. Sau đó, ông liên tục bị phê bình vì thiếu trách nhiệm, và thậm chí, ông còn bị khiển trách vì thái độ cao ngạo và kiến thức khoa học của viên chức dân sự hạng 5 này. Khác với người bạn đồng khóa tại trường Cao đẳng thực hành (EPHE), Henri Maspero (qua đời năm 2015), đã tạo được một vị trí vững chắc tại trường Viễn Đông Bác Cổ, Henri Oger, một công chức dân sự, không được chấp nhận như một nhà nghiên cứu.
            Thời gian tiếp theo, ông bỏ bê công việc chính khiến cấp trên khó chịu và mất lòng tin vào ông. Thậm chí, năm 1914, họ đánh giá ông là người vô dụng và cho hồi hương về Pháp với lý do sức khỏe. Ông còn quay lại Đông Dương vào năm 1916 và ở lại trong vòng ba năm. Thời gian này, ông vướng vào nhiều việc rắc rối do cổ vũ cho cải cách đạo đức và tri thức tại Đông Dương, dưới hình thức của phong trào “Ngôi nhà cho mọi người” được sáng lập tại Paris. Ông buộc phải về Pháp vào năm 1919 và nghỉ hưu năm 1920. Từ đó, ông không báo giờ quay lại Đông Dương.

Khó khăn
            Trong số những người ủng hộ hiếm hoi dự án của Henri Oger, Jean Ajalbert có lẽ là người tích cực nhất. Là biên tập viên của tờ Avenir du Tonkin thời kì đó, cứ hai ngày một lần, ông giành cho nhà nghiên cứu trẻ mục “Nghiên cứu Đông Dương” để đăng hình và chú giải một sản phẩm mới được hoàn thành. Sau này, ông còn giúp Oger vượt qua mọi chỉ trích từ phía các danh nhân khoa học và cán bộ hành chính thuộc địa.
            Trong lời tựa tái bản, Philippe le Failler và Olivier Tessier nhận xét: “Thực ra mà nói, những lời chú giải ở phía dưới mục: “Nghiên cứu Đông Dương” không có tính khoa học. Một bức vẽ rất đơn giản, thậm chí nghèo nàn với lời giải thích các đồ vật và bối cảnh cho thấy kiến thức còn quá sơ sài về chủ đề nghiên cứu. Tóm lại, có óc quan sát tốt, nhưng Henri Oger không biết cách miêu tả chúng, hoàn toàn trái ngược với công việc của bậc tiền bối Gustave Dumoutier cũng viết cho tờ báo cách đấy 10 năm”.
            Trong thời gian hợp tác với tờ Avenir du Tonkin (Tương lai Bắc Kỳ), Oger không có ý định làm một cuộc cải cách như các bậc tiền bối, Jean-Baptiste Luro, Gustave Dumoutier hay Louis Cadière. Ông chỉ muốn tập hợp kiến thức và xuất bản một bộ từ điển khoảng 10 tập. Tham vọng mà sau này ông phải trả giá vì ban biên tập tạp chí nổi tiếng la Revue indochinoise (Tạp chí Đông Dương) đánh giá tác giả không đủ tỉ mỉ, nhưng thực ra, do không nhận được sự ủng hộ của một trường nổi tiếng nào, như trường Viễn Đông Bác Cổ (Ecole française d’Extrême-Orient) hay trường Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông (les Langues’O, trường INALCO ngày nay). Tuy nhiên, không vì thế mà chàng thanh niên bỏ cuộc. Hai mươi nhà hảo tâm tin tưởng và quyên góp số tiền ít ỏi, 200 đồng bạc, để ủng hộ công trình của ông.
            Tuy nhiên, ông vẫn bị buộc tội đạo ý tưởng. Giới nghiên cứu khoa học đương thời luôn coi ông cố ý, thậm chí là thách thức, khi khăng khăng xuất bản tác phẩm này. Chính vì thế, các nhà phê bình đáp trả bằng thái độ im lặng khinh bỉ và các thư viện Đông Dương không đoái hoài đến sự tồn tại của tác phẩm này. Tất cả những lý do trên giải thích tại sao Henri Oger chỉ có thể in được 60 bản.
            Henri Oger cùng một họa sĩ đi khắp các xưởng, các cửa hàng ở Hà Nội và vùng ngoại thành. Ông hỏi họ một cách tỉ mỉ về cách làm ra một công cụ hay một đồ nghề. Người thợ diễn tả chầm chậm động tác, cử chỉ để người hoạ sĩ phác họa tỉ mỉ trên giấy mọi công đoạn. Trong vòng một năm, họ đã có những hình ảnh phong phú, phản ánh đời sống của người Bắc Kỳ, từ sản xuất, buôn bán đến vui chơi hay tập tục…
            Số tiền quyên góp ít ỏi không cho phép ông thuê xưởng in. Ông tự lập hai xưởng tại một ngôi đình ở phố Hàng Gai, sau đó là chùa Vũ Thạch (Hà Nội) và tuyển 30 thợ khắc. Họ là những nông dân thuần túy, được ông và người họa sĩ đồng hành, hướng dẫn khắc ván in. Hai tháng làm việc đằng đẵng đã cho ra đời hơn 4.000 bản khắc. Thế nhưng, các bản khắc này quá dầy để có thể cho vào giữa khe trục lăn của máy nên bị cong vênh. Henri Oger buộc phải dùng tới cách in mộc bản truyền thống của người Trung Quốc và Việt Nam, đòi hỏi sự tỉ mỉ và kiên nhẫn.
            Ông giải thích trong lời tựa cuốn sách, xuất bản vào năm 1909: “Kỹ thuật này là đặt giấy lên trên bản khắc để in; vả lại còn phải dùng giấy An Nam được sản xuất theo đúng kích thước bản khắc. Cách này rất chậm nhưng độ nét của bản in thật tuyệt vời. Công việc này khiến cuốn sách mang dấu ấn địa phương. Tất cả đều là của người An Nam. Khổ giấy cũng hết sức đặc biệt, giấy được làm từ vỏ cây thuỵ hương, việc này đảm bảo độ bền cho giấy. Những người làm giấy ở làng Bưởi gần Hà Nội, rất vất vả vì chưa bao giờ phải làm giấy khổ to như thế”.

Giá trị của công trình nghiên cứu
            Tràn đầy tự hào khi hoàn thành bộ sách, Henri Oger thổ lộ trong “Lời nói đầu”: “Công trình ấy đáng khen vì chưa ai ở Đông Dương từng làm một công trình như thế”. Vì theo tác giả, “từ khi chinh phục thuộc địa, người ta đã cho ra đời hết từ điển nọ đến từ điển kia. Còn các cuộc điều tra mang tính xã hội học, dân tộc học thật sự thì chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tác giả đã hoàn thành công trình nghiên cứu mà không có sự trợ giúp của các Cơ quan Khoa học được thành lập ở đây để tìm hiểu rõ hơn nước An Nam. Vì vậy đóng góp chủ yếu mà tác giả nhận thấy trong công trình nghiên cứu của mình chính là thái độ đầy thiện chí”.
            Cách thực hiện cũng thể hiện tính nghiêm túc, óc lý luận và cách tổ chức chặt chẽ của ông. Henri Oger đưa cho họa sĩ dàn ý ghi chép, được một số người Việt xem xét trước. Khi bức vẽ hoàn thành, ông lại đưa cho những người bản xứ “có đầu óc phê phán tốt” để thẩm định bình luận. Tác giả chia tác phẩm thành hai phần. Xuất phát từ nguyên tắc nghiên cứu nền văn minh kỹ thuật của một dân tộc chính là nghiên cứu nền văn minh vật chất, vì vậy, phần đầu miêu tả chi tiết từng động tác của hoạt động hay từng công đoạn chế biến một sản phẩm. Phần thứ hai chỉ gồm hình ảnh minh họa. Mỗi công đoạn sản xuất hay hoạt động được ông miêu tả tỉ mỉ qua một loạt hình ảnh. Tiếp đó là tiêu đề hoặc chú thích ngắn gọn nội dung được viết bằng chữ Hán, chữ Nôm.
            Có thể thấy phương pháp phân loại của Henri Oger khá sơ lược. Ông nhấn mạnh cần thiết phải sắp xếp theo bốn nhóm chính và theo trình tự thời gian nội dung phân tích các quy trình kỹ thuật. Tuy nhiên, tác phẩm lại cho kết quả ngược lại. Các tư liệu thu thập từ thực địa không hề được quan tâm trình bày theo trật tự. Chỉ cần ngẫu nhiên mở một trang, độc giả có thể nhận thấy điều này. Ví dụ, tờ 460, có tám hình ảnh gồm “đứa trẻ đun nước”, “cái nhà”, “người làm giấy”, “dọn cơm”, “hút thuốc lào” và “hộp khám thờ gia tiên”.
            Thế nhưng, nhờ bảng tổng hợp cuối sách, người đọc có thể tìm hiểu ngành nghề thủ công của người Việt qua số thứ tự của hình ảnh. Henri Oger chia thành bốn nhóm chính: Nghề lấy nguyên liệu từ thiên nhiên (nghề nông, đánh cá, săn bắn, hái lượm, vận tải); Nghề chế biến nguyên liệu lấy từ thiên nhiên (làm giấy, kim loại quý, gốm, sắt tây và thiếc, gỗ, vũ khí, tre, mây, vải sợi...); Nghề dùng nguyên liệu đã qua chế biến (buôn bán, điêu khắc và tạc tượng, đồ thờ, nấu ăn, may mặc, xây dựng...); Đời sống riêng và đời sống cộng đồng của người dân An Nam (đời sống cộng đồng, đời sống tình cảm, phép thuật bói và bói toán, nhạc cụ, tết và lễ, trò chơi và đồ chơi, nghề bán rong...).
            Dù nét vẽ đơn giản nhưng rắn chắc, sống động do đặc thù của tranh khắc gỗ (in mộc bản), đời sống tinh thần và văn hóa giàu bản sắc của người Việt cách đây hơn một thế kỷ được lưu lại qua từng tranh vẽ. Qua đó, độc giả có thể ngạc nhiên khám phá những nghề có một không hai, hoặc chưa bao giờ nghe nói tới. Đây cũng là ý kiến đánh giá của giáo sư Đinh Xuân Lâm, phó Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam: “Với tư cách là người nghiên cứu lịch sử, tôi đánh giá đây là cuốn sách rất có giá trị đối với việc nghiên cứu, tìm hiểu và hệ thống lại văn hóa, đời sống sinh hoạt của người Việt đầu thế kỷ XX. Đối với thế hệ trẻ, đây là dịp để hiểu biết về quá khứ, ông cha đã sống, làm việc như thế nào, biết được văn hóa Việt Nam, từ đó biết bảo tồn, gìn giữ”.
            Hai phó giáo sư trường Viễn đông Bác Cổ Olivier Tessier và Philippe Le Failler nhận xét Kỹ thuật của người An Nam không có nhiều giá trị về mặt khoa học nhưng về mặt lịch sử thì đây là một thư tịch quý về đời sống người dân Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.
            Từ lần in đầu tiên, năm 1909, tập sách chỉ còn hai bản gốc được lưu lại ở Việt Nam. Một bản không đầy đủ được lưu tại Thư viện quốc gia Hà Nội. Bản thứ hai, hoàn thiện hơn và được bảo quản tốt tại Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1970, Pierre Huard đã đánh giá cao công trình của ông trong bài tóm tắt tiểu sử đăng trên niên san của trường Viễn Đông Bác Cổ, đồng thời nhấn mạnh tính tiên phong của công trình đối với việc nghiên cứu các ngành nghề của Việt Nam. Ngoài ra, toàn bộ công trình của Oger đã được ra mắt trong một cuộc triển lãm tại Bourges (Pháp) dưới tên gọi “Peintres paysans du Việt Nam” (Các họa sĩ nông dân của Việt Nam) vào năm 1978.
            Tới năm 2004, chính phủ Pháp tài trợ dự án khôi phục kho tàng di sản văn hóa thời thuộc địa tại các nước Đông Dương. Bản gốc hoàn chỉnh duy nhất của cuốn Kỹ thuật của người An Nam tại Thư viện Khoa học tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh được chọn để tái bản. Dưới sự chỉ đạo của hai nhà nghiên cứu của trường Viễn Đông Bác Cổ, Olivier Tessier và Philippe Le Failler, sau bốn năm xử lý để xóa đi những vết ố của thời gian, đồng thời số hóa bộ sách, 700 bản tranh khắc được tác giả đánh số được tái bản và ra mắt công chúng vào năm 2009. Lần tái bản này khẳng định vai trò của cuốn sách quý hiếm được dịch thành ba ngoại ngữ để độc giả dễ tiếp cận hơn, góp phần quan trọng cho việc nghiên cứu đời sống văn hóa, nghề nghiệp của người Việt thời đầu thế kỷ XX.


THU HẰNG
Tháng/52015


http://vi.rfi.fr/phap/20150501-cuoc-song-nguoi-an-nam-trong-con-mat-henri-oger-0

 
The following users thanked this post: XuTramHuong, ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Nghề thủ công Việt Nam qua nhãn quan của toàn quyền Pháp De Lanessan

Jean-Louis de Lanessan (1843-1919) trở thành toàn quyền Đông Dương từ năm 1891 đến 1894. Trở về Pháp sau nhiệm kỳ, vị bộ trưởng Hải Quân tương lai xuất bản cuốn Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp tại Đông Dương vào năm 1895.

Phố Hàng Mắm, Hà Nội, khoảng năm 1905

CUỐN SÁCH nêu những số liệu cụ thể, những quan sát và đánh giá tỉ mỉ về tình hình chính trị tại Đông Dương cũng như những chính sách của Pháp ảnh hưởng tới công cuộc khai thác thuộc địa. Ngoài ra, cuốn sách còn là nguồn cung cấp thông tin chính xác và lý thú về những ngành nghề truyền thống tại Việt Nam lúc bấy giờ, cũng như những ngành công nghiệp mới được chính quyền Pháp đưa vào khai thác, như ngành in, sản xuất giấy, khai thác mỏ…
            Cuốn sách đã được Thư viện Quốc gia Pháp (BNF) số hóa và có thể truy cập trên thư viện trực tuyến Gallica. Với mục đích hồi sinh cuốn sách cũng như để độc giả có thể tiếp cận được những thông tin quý báu này, Thư viện Quốc gia Pháp đã kết hợp với nhà xuất bản nổi tiếng Hachette tái bản cuốn sách 369 trang vào năm 2012.
            Trong tạp chí Văn Hóa tuần này, ban Việt Ngữ đài RFI xin giới thiệu phần nói về nghề thủ công của người Việt trong chương VII của cuốn sách: “Tình hình công nghiệp của người dân địa phương, của người phương Tây tại Đông Dương từ đầu năm 1895 và những phương tiện để phát triển ngành công nghiệp”.


***

            Vào cuối thế kỷ thứ XIX, người phương Tây thường có xu hướng coi người Hoa và người Việt là những dân tộc chậm phát triển về mặt công nghiệp. Thế nhưng, sau nhiệm kỳ toàn quyền Pháp tại Đông Dương, ông de Lanessan nhận định thật sai lầm khi đánh giá như vậy. Ngược lại, họ rất cởi mở với mọi tư tưởng tân tiến hay thành tựu của các nền văn minh và công nghiệp phát triển nhất.
            Người Việt rất tò mò và chú ý tới những tinh hoa và việc làm của người phương Tây. Không chỉ quan sát và nghiên cứu, họ còn muốn bắt chước, thử sức trong hầu hết mọi lĩnh vực nghệ thuật-công nghiệp và áp dụng vào đời sống hàng ngày. Thêm vào đó là sự khéo léo bẩm sinh, trí thông minh, tính nhẫn nại và dẻo dai, nên họ dễ vượt qua mọi trở ngại.
            Trong số họ, có rất nhiều họa sĩ, nghệ sĩ tô mầu hay những nhà điêu khắc, tạc tượng, thợ cưa xẻ, thợ khảm, thợ thêu, kiến trúc sư, thợ đúc, thợ nguội, thợ kim hoàn, thợ dệt, thợ sơn, thợ xây, thợ mộc, thợ lợp mái nhà, thợ làm đồ sứ, thợ làm đồ gốm, thợ gạch… Đáng tiếc là nghệ thuật và các ngành công nghiệp này rất ít được phát triển, dù người thợ rất khéo tay và gu thẩm mỹ của người dân cao. Nguyên nhân chính là do người dân không giầu, số lượng người tiêu dùng không đủ để kích thích sản xuất. Thế nhưng, bất kỳ người phương Tây nào muốn phát triển một nghề thủ công địa phương hay một ngành nghề mới, đều có thể tìm thấy nguồn lao động cần thiết và không phải lo lắng về khả năng tiếp thu của họ.

Ngành nghề thủ công Việt Nam
            Nguồn lao động địa phương tại Trung Kỳ và Bắc Kỳ có thể tự sản xuất đồ dùng trong nhà, từ đồ gỗ, quần áo tới thực phẩm… Nhà ở của các gia đình khá giả đều được xây bằng gạch và lợp ngói sản xuất trong nước có chất lượng khá tốt, thường được tráng men với họa tiết trang trí nổi hoặc chìm. Khung cửa, các trụ cột của ngôi nhà hay dầm mái thường được kẻ chỉ và trang trí tinh vi mà không hề có một lỗi nhỏ nào. Những phần xà nhô ra ngoài, thậm chí là toàn bộ phần gỗ của ngôi nhà được khéo léo chạm trổ không chê vào đâu được.
            Đồ gỗ trong các gia đình khá giả người Việt thường là sản phẩm địa phương, được chạm khảm rất tinh vi, phản ánh rõ nguồn gốc thông qua hình dạng và cách lắp ráp vô cùng đặc biệt: không hề có bất kỳ một con ốc vít nào. Những chiếc chiếu, mành rèm làm từ cây bấc hay cây tre để trang trí những ngôi nhà đều là sản phẩm trong nước và có thể cạnh tranh được với đồ sản xuất tại Trung Quốc.
            Ngoài ra, các gia đình giàu có cũng rất thích trang trí nhà bằng những bức tranh sặc sỡ, đồ mỹ nghệ hay đồ thêu trên len hoặc lụa, được làm tại chỗ, trong đó có rất nhiều tác phẩm được đánh giá cao trên thế giới. Người Việt cũng rất khéo léo trong việc khắc đá và cẩm thạch. Họ có thể chạm trổ các tác phẩm từ những vỏ sò, vỏ ốc hoặc với san hô tảng hoặc với đá vôi.
            Tại các buổi lễ, các quan đều dùng sản phẩm do người Việt làm ra, như những chiếc lọng bằng giấy tẩm dầu được vẽ họa tiết và được quang dầu hay những chiếc quạt bằng lông vũ, hay những chiếc giáo có hình thù kì lạ và những chiếc bao đựng gươm được khâu vô cùng khéo léo. Ngoài ra, còn phải kể tới những chiếc cáng, biển hiệu được làm bằng gỗ sơn và dát vàng hay tay nắm cửa được đúc thành nhiều hình thù trang trí đẹp mắt.
            Trong các gia đình Việt Nam còn có những chiếc tách chén, chậu cây cảnh, bình lọ thường gắn trên đế đồng vô cùng đẹp. Đáng tiếc là nghệ thuật này đang bị phai một tại Việt Nam. Hiện người Việt chỉ còn làm lư hương, chân đèn hay các bình cắm hoa bằng đồng để trang trí bàn thờ tổ tiên. Các nghệ nhân đúc đồng Việt Nam cũng làm ra những quả chuông hay chuông nhỏ, những chiếc cồng và trống cho nhà chùa. Tại một vài tỉnh Trung Kỳ, người dân miền núi có thể sản xuất dụng cụ sinh hoạt bằng sắt hay đồng, nhờ khai thác được những mỏ quặng tại địa phương.
            Người dân Bắc Kỳ và Trung Kỳ dùng đất đỏ hoặc cao lanh để sản xuất đồ gốm dành cho những hoạt động đời thường nhất. Còn tại Nam Kỳ, rất nhiều nơi sản xuất các loại chum vại lớn bé có nắp đậy để chứa nước, đựng dầu hay nước mắm… Đồ trang sức, như vòng tay, vòng cổ, nhẫn, hoa tai bằng bạc hay bằng vàng, mà phụ nữ Việt Nam đeo đều do thợ thủ công địa phương làm ra; tuy mẫu mã không đa dạng, nhưng tay nghề của họ khá tốt.
            Phần lớn lương thực-thực phẩm đều là sản phẩm địa phương. Tại các vùng biển duyên hải, người Việt làm ra được muối với sản lượng khá lớn nên xuất sang cả Trung Quốc. Họ tự sấy khô cá và làm nước mắm. Ngoài ra, từ các loại rau củ quả, họ cũng tự làm các loại dưa muối. Họ còn chế biến thực phẩm khô từ thịt lợn và gia cầm.
            Rượu gạo được tiêu thụ nhiều và được nấu từ những công cụ rất thô sơ. Có thể nói rằng mỗi người Việt là một người thợ nấu rượu. Họ cũng chế biến được đường mía và đường mật và sử dụng với lượng khá lớn. Họ cũng biết chiết xuất dầu ăn từ lạc, vừng hay dùng để thắp sáng. Các loại dầu thắp sáng (dầu dừa, thầu dầu hay mù u) ngày càng bị dầu hỏa thay thế với số lượng nhập khẩu tăng rất nhanh. Trong khi đó, phần lớn đèn dầu có nguồn gốc châu Âu hoặc Trung Quốc, chỉ một phần nhỏ được sản xuất trong nước nhờ tái chế từ vỏ đồ hộp cũ. Sản xuất giấy, pháo và pháo hoa cũng không còn gì là bí mật đối với người Việt Nam.

Sản phẩm nhập ngoại
            Ngoài một số sản phẩm gốm, men và sành sứ phục vụ cuộc sống hàng ngày có nguồn gốc Quảng Châu (Trung Quốc), Việt Nam phải nhập những con rồng bằng sứ bóng được gắn trên mái đền chùa hay tại một số gia đình khá giả. Trước đó, người Việt đã làm ra được những đồ trang trí trên tại một vài ngôi làng ở Nam Kỳ, nhưng hầu hết thợ thủ công đều là người Trung Quốc.
            Vật dụng thủy tinh được nhập từ Trung Quốc hoặc từ châu Âu. Người Việt Nam hình như chưa bao giờ sản xuất đồ thủy tinh, còn người Trung Quốc cũng mới chỉ biết ngành công nghiệp này cách đây chưa lâu.
            Quần áo bằng vải bông mà người Việt thích mặc phần lớn được dệt tại châu Âu, Bombay (Ấn Độ) hay Trung Quốc. Một lượng lớn sợi bông dệt thủ công được nhập vào Việt Nam, sau đó người ta nhuộm vải bằng củ nâu, hay cây chàm… Người Việt cũng biết se và dệt lụa. Cách làm của họ rất thủ công nhưng tạo ra được vải có chất lượng tương đương với lụa châu Âu. Người Việt cũng đã biết sản xuất được dép quai hậu và giầy dành cho người giầu; phần lớn sản phẩm này được sản xuất trong nước, phần còn lại được nhập từ Trung Quốc.
            Nói tóm lại, người Việt không hề lạ lẫm với bất kì ngành nghề công nghiệp nào của châu Âu, nhưng họ chỉ làm những đồ dùng rất thô sơ và với số lượng có hạn vì người dân vẫn còn nghèo.


THU HẰNG
Tháng 5/2016


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160520-nghe-thu-cong-viet-nam-qua-nhan-quan-cua-toan-quyen-phap-de-lanessan

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Trang phục bình dân của người Việt vào cuối thế kỷ XIX

Trang phục bình dân của người Việt Nam rất đơn giản, cứ như chỉ cần tấm áo che thân. Sự cầu kỳ của người dân địa phương chỉ được thể hiện qua phụ kiện, đối với đàn ông là chiếc điếu cày, cơi trầu và ống nhổ. Đây là nhận xét của Camille Paris (1856-1908) trong chương VII của cuốn Chuyến thám hiểm Huế ở Nam Kỳ, bằng Đường Cái Quan (Voyage d’exploration de Huế en Cochinchine, par la route mandarine), được xuất bản năm 1889 tại Paris.

Trang phục trên phố tại Hà Nội, Bắc Kỳ, 1896. BNF/Firmin-André Salles

CUỐN SÁCH ghi chép lại những quan sát và nghiên cứu của tác giả, một công chức Pháp phụ trách việc xây dựng đường điện báo nối từ Nam Kỳ đến Huế và Bắc Kỳ, trong suốt thời gian chung sống từ năm 1885 đến năm 1889 với người dân bản địa trên dọc vùng đất dài 700 km thuộc An Nam (Trung Kỳ) ở phía nam thành Huế: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Phan Rang, Bình Thuận.

Sự đơn giản trong trang phục của người An Nam
            Những người địa phương mà Camille Paris tiếp xúc thường xuyên là các phiên dịch người Việt làm việc cho chính quyền Pháp. Dù ăn mặc theo kiểu Pháp song họ vẫn búi tóc và giữ dải băng cuốn tóc trên đầu. Những người giúp việc thì mặc quần áo đã sờn cũ, còn trẻ lang thang thì thùng thình trong những bộ đồ lính đã hỏng.
            Chiếc áo của phụ nữ và đàn ông Việt Nam rất giống nhau, chỉ khác một điểm là áo của nữ giới dài tới gót chân. Phụ nữ An Nam giấu kín bộ ngực của mình dưới chiếc áo yếm, thường có một mầu khác với tấm áo dài. Họ không thẹn thùng nếu như bộ ngực được che kín dù người khác có thể nhìn thấy chân của họ đến ngang hông. Vào những ngày hè nóng nực, khi ở trong nhà, phụ nữ bình dân cởi tấm áo ngoài và mặc chiếc quần cộc, để trần lưng và chân. Phụ nữ làm việc ngoài đồng thì xắn quần đến tận bẹn.
            Trong trang phục bình dân của cả phụ nữ lẫn đàn ông, chiếc quần được may khá rộng, thẳng thuỗn đến mắt cá chân mà không có bất kỳ chỗ xẻ nào, được làm từ cùng loại vải với áo, và được thắt ngang hông nhờ chiếc dải rút. Tất cả quần áo, bất kỳ là kiểu gì, đều không có túi. Người An Nam cất tất cả những gì cần thiết vào trong dải rút hay trong khăn đội đầu.
            Một người An Nam càng giầu, thì càng mặc nhiều lớp áo. Camille Paris từng chứng kiến một người khách quan trọng của mình ở Nam Định mặc đến bẩy lớp áo khi đến chơi. Chiếc đầu tiên mặc sát người được làm bằng lụa đen, tiếp theo là một cái mầu xanh dương, một mầu đỏ, một mầu tím, một mầu xanh lá cây, một mầu nâu khói và cuối cùng là cái áo mầu trắng mặc phủ bên ngoài.
            Người An Nam để tóc dài từ thời nhà Minh đô hộ. Tóc của đàn ông được búi lên cao, có một chiếc lược cài bên trong để giữ búi tóc. Họ thường cài thêm búi độn giả bên trong để làm cho búi tóc to hơn và cuốn một dải băng đen hay cái khăn bên ngoài để tránh búi tóc bị xộc xệch.
            Phụ nữ thì cuốn hết mái tóc vào một cái khăn, sau đó cuốn vòng lên đầu, cũng hơi giống kiểu tóc của đàn ông. Ở Bắc Kỳ, người ta cũng hay gặp một số người cắm thêm một chiếc lược đồi mồi trên búi tóc, đây là kiểu đặc trưng của người dân Nam Kỳ. Khi đi ngoài đường, đàn ông đội thêm chiếc nón và đi dép làm bằng da chó, còn phụ nữ đội nón quai thao.


Trang phục con nhà quan (Vi Van Dinh), Lạng Sơn, Bắc Kỳ, năm 1896. BNF/Firmin-André Salles

Phân biệt giới tính theo trang phục
            Đối với người nước ngoài, khó mà phân biệt được giới tính nếu như chỉ nhìn vào trang phục vì một nửa dân chúng để đầu trần và đi chân đất. Trước hết, người ta cứ nhầm những người đàn ông không có râu đều là phụ nữ. Nhìn trực diện, đàn ông và phụ nữ có cùng kiểu búi tóc. Khăn choàng đầu của họ cũng được làm từ một loại vải và có kiểu buộc như nhau. Quần áo của người phụ nữ chỉ dài hơn vài cm, nhưng sự khác biệt này không thể nhận ra được nếu như người nước ngoài chưa có kinh nghiệm.
            Tác giả Camille Paris nhận ra được một người phụ nữ nhờ ba điểm: nón quai thao của họ hình tròn, chứ không phải là nón nhọn như của đàn ông, áo yếm thường có mầu trắng hay đỏ và đầu mũi dép thường cong tròn lên trên. Nhưng phụ nữ tầng lớp bình dân thì lại đi dép xỏ ngón, cuốn chặt cái áo và không đội nón nên người ta chỉ có thể nhận ra đó là một phụ nữ nhờ bộ ngực nhô lên dưới lớp áo.
            Chiếc nón được làm từ lá nón. Nón nhọn của đàn ông rộng 52 cm, cao 23 cm. Nón tròn rộng 62 cm và chỉ cao có 9 cm. Một chiếc vòng nhỏ ở bên trong giúp giữ hình dạng của nón. Người ta giữ thăng bằng chiếc nón ở trên đầu nhờ quai nón bằng vải bông hoặc lụa và được buộc vào hai đầu bên phải và trái. Quai nón được buông lỏng ở giữa để người đội có thể lấy tay giữ chặt để nón không bị xộc xệch. Để làm điệu, các bà các cô thường cài thêm những quả tua ở hai bên đầu buộc quai nón. Nón của người đàn ông thường được phủ thêm một lớp sơn dầu đen hoặc vàng. Chóp nón được bọc bằng kim loại có mầu vàng hay đen, tùy theo mầu của nón.

Phụ kiện trang phục
            Dép của người An Nam rất đơn giản, đế dép làm từ da chó và có hai quai để giữ chân (giống dép tông ngày nay): một quai vòng qua ngón cái và quai còn lại vòng qua các ngón chân còn lại. Phụ nữ cũng đi dép nhưng nếu mặc đúng trang phục, họ phải đi dép quai hậu có mũi vòng lên cao. Mùa đông, họ đi guốc gỗ được sơn đen. Riêng một số nhà nho và quan lại chuộng tất cả những gì từ Trung Quốc thì đi giầy Tàu làm bằng vải đen điểm trắng, có đế làm từ thực vật và cao chưa đến 2 cm.
            Chỉ phụ nữ mới thích đồ trang sức, gồm nhẫn, vòng tay, hoa tai, phụ kiện cài cạp quần… Nhẫn và vòng tay không được làm trau chuốt, mà chỉ là những vòng tròn khoảng nửa cm, không hình chạm khắc hay được trang trí thêm móc cài. Hoa tai có kích thước nhỏ, hình tròn, hình bông hồng hoặc đơn giản chỉ là những nụ hoa tai. Nếu phụ nữ nghèo không có hoa tai bằng vàng thì họ chỉ gắn một hột cườm mầu vàng hay thậm chí chỉ cần một mẩu tre.


Camille Paris, tác giả cuốn “Voyage d’exploration de Huế en Cochinchine, par la route mandarine”. BNF

            Vòng cổ của họ thường được quấn thành nhiều vòng, đôi khi có đến 600 hạt lớn hơn hạt đậu Hà Lan. Những hạt này thường bằng vàng hay bằng bạc, hoặc một nửa là bạc, còn một nửa là hạt cườm. Thế nhưng, vì những đồ trang sức này không bị bắt buộc nên rất nhiều người không đeo.
            Phụ kiện được cài dọc lưng quần gồm một chiếc hộp nhỏ hình trụ rộng 3 cm để đựng vôi ăn trầu, một chiếc hộp lớn hơn đựng lá trầu và miếng cau, một que xiên để đơm trầu, một chiếc nhíp, một que ngoáy tai, một chùm chìa khóa. Riêng đàn ông khó lòng rời khỏi chiếc quạt được làm bằng tre và giấy thô nhuộm mầu.
            Tục nhuộm răng phổ biến rộng rãi với phụ nữ và được làm rất thủ công. Họ tước một lớp vỏ cọng lá chuối, đủ dài để cuốn quanh hàm răng. Sau đó họ phết một lớp sơn đỏ lên trên lớp đó và gắn chặt lên hàm răng cho tới hôm sau. Cứ 5 đến 6 ngày, họ lặp lại động tác này và cuối cùng họ lấy chổi vẽ phết hai đến ba lớp sơn đen lên hàm răng. Trong suốt thời gian nhuộm răng, các bà các cô chỉ có thể nuốt đồ ăn, chứ không được nhai. Thế nhưng, tác giả lại thấy hàm răng đen chẳng có gì là quyến rũ vì khi họ cười, người ta chỉ thấy một hố đen ngòm trong miệng. Riêng đàn ông hiếm khi nhuộm răng, nhưng răng của họ thường có mầu đỏ, trông không sạch, do ăn nhiều trầu cau.
            Người An Nam có tục để móng tay dài, có thể dài đến 4-5 cm và uốn cong vào trong. Móng tay càng dài thì người đó càng chứng tỏ mình tao nhã hơn. Còn móng tay ngắn là dấu hiệu của tầng lớp nghèo khổ, phải lao động tay chân.
            Người Việt vẫn chuộng xăm mình dù từng bị cấm tuyệt đối vào năm 1414 dưới thời cai trị của nhà Minh. Vị quan chức Pháp trích lời giải thích của Trương Vĩnh Ký về nguồn gốc của tục xăm mình như sau: “Người dân Giao Chỉ (An Nam), sống nhờ vào đánh bắt cá và thường xuyên bị quái vật biển tấn công và cắn, như rắn, cá sấu… Hùng Vương thứ nhất ra lệnh cho ngư dân xăm mình để đánh lừa các loài hải ngư nhờ vẻ bề ngoài giống chúng” (vào khoảng 2.600 năm trước Công Nguyên).
            Sau đó, tục xăm mình không chỉ trở thành một kiểu nghệ thuật làm đẹp, mà còn là dấu hiệu của một vài đặc ân, tùy theo loại hình được xăm. Chính vì thế, đến đời vua Trần Anh Tông (1293), mỗi nhà vua đều xăm lên đùi một mặt rồng, dấu hiệu dòng dõi quý tộc và lòng dũng cảm.


THU HẰNG
Tháng 7/2016


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160715-trang-phuc-binh-dan-cua-nguoi-viet-vao-cuoi-the-ky-xix

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

Phong cách “kiến trúc Đông Dương” tại Việt Nam đầu thế kỷ XX

Với những công trình như Nhà thờ Đức Bà, Bưu điện Trung tâm hay Dinh xã Tây – Hôtel de Ville (nay là trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh), Sài Gòn được mệnh danh là “Hòn Ngọc Viễn Đông”. Với Nhà hát lớn, phố Paul Bert (nay là Tràng Tiền), Nhà thờ lớn, Nhà thờ Cửa Bắc, Dinh Toàn quyền Đông Dương (nay là Phủ Chủ tịch), Hà Nội được ví như một Paris thu nhỏ.

Caroline Herbelin, Giảng viên đại học Toulouse II – Jean Jaurès tại phòng thu RFI

VIỆT NAM trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là “một công trường lớn” theo nhận định của nhà sử học Pháp Philippe Papin. Những công trình đồ sộ đậm nét phương Tây phục vụ bộ máy hành chính Pháp là “cách phô trương uy thế để duy trì sự kiểm soát người dân bị đô hộ”. Sau đó xuất hiện những ngôi nhà, biệt thự vẫn được xây theo kiến trúc phương Tây nhưng thích nghi với điều kiện khí hậu và truyền thống địa phương.
            Vậy cảnh quan kiến trúc Việt Nam thay đổi như thế nào trong suốt một thế kỷ Pháp thuộc? Ban tiếng Việt đài RFI đã đặt câu hỏi với Caroline Herbelin, giảng viên Lịch sử đại học Toulouse II – Jean Jaurès, kiêm chủ tịch hội Nghiên cứu Đông Nam Á (AFRASE), tác giả cuốn Kiến trúc của Việt Nam thời thuộc địa: Nhìn lại phong cách hỗn hợp.(*)


Bưu điện Sài Gòn. Ảnh chụp năm 1895

RFI: Xin chị cho biết sự có mặt của người Pháp ở Đông Dương đã làm thay đổi cảnh quan kiến trúc Việt Nam như thế nào?
Caroline Herbelin: Vừa thay đổi rất nhiều mà cũng không nhiều lắm vì còn tùy thuộc vào từng khoảng thời gian. Trong thời kỳ đầu Pháp xâm chiếm Việt Nam (những năm 1860) đến khi công cuộc bình định kết thúc (những năm 1880), chính người Pháp phải thích nghi với kiến trúc địa phương. Khi tới Việt Nam, người Pháp không mang theo thợ nề hay chủ thầu mà chỉ có vài kỹ sư quân sự và nhất là không hề có dụng cụ. Do thiếu nơi trú ngụ nên các toán quân Pháp tịch thu đền chùa hay nhà ở của dân địa phương.
            Cho đến đầu thế kỷ XX, vẫn còn rất nhiều quân nhân và người Pháp sống trong những ngôi nhà tranh, theo lời miêu tả trong các bức thư của công chức Pháp gửi về gia đình. Cũng có rất nhiều người Pháp sống trong những ngôi nhà ống nhiều gian. Năm 1932, ở Hà Nội, gần 35% người châu Âu sống trong những ngôi nhà như vậy.
            Thế nhưng, sau này, sự hiện diện của Pháp đã tác động mạnh đến quá trình đô thị hóa. Ví dụ, từ một trung tâm nhỏ, Hải Dương nhanh chóng phát triển nhờ vào Nhà máy Rượu Đông Dương. Ngoài quá trình đô thị hóa, cảnh quan kiến trúc cũng thay đổi nhờ chính quyền Pháp xóa bỏ nhiều đạo luật hạn chế chi tiêu mang tính bắt buộc (do triều Nguyễn ban hành). Kể từ đó, người dân có thể xây nhà tầng và được tự do trang trí. Điều này cũng giải thích tại sao mặt tiền nhiều ngôi nhà ống có họa tiết trang trí cầu kỳ với mầu sắc rực rỡ vào đầu thế kỷ XX. Điều đáng lưu ý là những họa tiết trang trí tân cổ điển này (néoclassique) không chỉ bị ảnh hưởng từ Pháp, mà còn chịu ảnh hưởng từ Trung Hoa nơi phong cách kiến trúc Đông-Tây phát triển mạnh tại các thương cảng như Thượng Hải, Giang Âm…


Dinh thự tại Hà Nội của Lucien Faure, chánh văn phòng toàn quyền Paul Doumer. Ảnh chụp năm 1898

RFI: Chị nói là kiến trúc Pháp ít thích ứng tại Việt Nam trong giai đoạn đầu thuộc địa. Vậy phải giải thích thế nào về một số công trình được xây vào thời kỳ đó, mà đến nay vẫn tồn tại, như Dinh xã Tây – Hôtel de Ville (nay là trụ sở UBND TP. Hồ Chí Minh) hay Nhà hát lớn Hà Nội?
Caroline Herbelin: Đúng vậy, những công trình này rất đồ sộ, được chính quyền thuộc địa cho xây dựng và chẳng giống kiến trúc Việt Nam chút nào. Chúng mang chuẩn phong cách Pháp, cứ như được bê thẳng từ bên đó sang vậy. Đó là những công trình phục vụ cho chính sách thị uy của chính quyền thuộc địa để “gây ấn tượng với người dân địa phương”, nhưng cũng có thể hiểu đơn giản là những công trình hành chính quan trọng cấp Nhà nước đều được xây như vậy ở Pháp. Nhiều kiến trúc sư sang Việt Nam nói là họ chẳng biết làm gì khác ngoài phong cách tân cổ điển. Tuy nhiên, điều này chỉ đúng vào thời kỳ đầu nhưng sau đó không còn như vậy. Hình ảnh thể hiện qua kiến trúc của chính quyền thuộc địa đã thay đổi.
            Ví dụ Dinh Toàn quyền năm 1873 là một tòa nhà rất lớn nằm giữa trung tâm Sài Gòn, trong khi Dinh Toàn quyền được xây ở Hà Nội sau này (từ 1900 đến 1907) lại đi theo một ý tưởng khác. Trên thực tế, tòa nhà ở Hà Nội bị thu nhỏ khoảng 1/3 so với thiết kế ban đầu. Vì lúc đó, chính quyền thuộc địa cho rằng hình ảnh uy quyền của Pháp cần được thể hiện qua đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, như hệ thống đường sắt, hơn là những tòa nhà công đồ sộ, sừng sững nhưng lại không vĩ đại. Hơn nữa, chính quyền thuộc địa cũng bị hạn chế về ngân sách nên không thể làm tất cả cùng một lúc.
            Cũng không nên nói quá về tác động của người Pháp đối với thành phố. Việc xây dựng thành phố, trong đó có những ngôi biệt thự xinh đẹp (như ở phía nam Hà Nội hay xung quanh hồ Thuyền Quang), còn được thực hiện nhờ người Việt. Kiểu kiến trúc được áp dụng không hẳn là phong cách tân cổ điển hay tân baroc của Pháp mà Nhà nước thuộc địa vẫn khuyến khích để thể hiện uy thế. Phong cách kiến trúc thay đổi tùy theo chính sách được tiến hành ở Đông Dương. Ví dụ toàn quyền Albert Sarraut (hai nhiệm kỳ 1911-1913 và 1916-1919) muốn áp dụng chính sách hợp tác, hứa để giới tinh hoa Việt Nam cùng tham gia chính quyền. Trong lĩnh vực văn hóa, ông muốn đề cao nền văn hóa của các nước Đông Dương. Vì thế, trong thời gian đương nhiệm, phủ toàn quyền ở Hà Nội và các căn hộ riêng, đặc biệt là phòng ngủ của Albert Sarraut được bài trí bằng những đồ vật và đồ gỗ chạm trổ họa tiết Việt Nam.


Phố Paul Bert năm 1920 (nay là phố Tràng Tiền)

RFI: Chị vừa đề cập đến một số đồ đạc trong nhà mang phong cách Việt Nam, nhân nói đến giao thoa Đông-Tây, liệu có một kiểu phong cách kết hợp như vậy trong kiến trúc không?
Caroline Herbelin: Có, người ta vẫn gọi là phong cách Đông Dương. Đó là phong cách hỗn hợp do Ernest Hébrard phát minh. Ông từng được trao giải thưởng lớn Roma và đến Đông Dương vào năm 1921, theo lời mời của một số người thân cận với toàn quyền Sarraut. Ông được giao nhiệm vụ thiết kế một công trình nhà nước vừa thể hiện được sự hiện diện của Pháp, vừa pha trộn được hai nền văn hóa Pháp-Việt. Rất tâm huyết với nhiệm vụ này, Hébrard tạo ra được một phong cách lấy cảm hứng từ những ngôi nhà Việt Nam, đặc biệt là cấu trúc của những ngôi này, vừa mang nét phương Tây, vừa thích nghi với khí hậu nhờ hiên nhà hay mái vươn dài.
            Tuy nhiên, phong cách Đông Dương không thành công lắm vì tốn kém. Chính quyền nhanh chóng muốn quay lại với phong cách cổ điển hơn, vì họ thích những tòa nhà công phải giống y chang những công trình bên Pháp. Có thể kể một vài công trình nổi tiếng nhất của Hébrard là Sở Tài chính Đông Dương (nay là trụ sở bộ Ngoại Giao Việt Nam), Nhà thờ Cửa Bắc…
            Bảo tàng Lịch sử (trước là bảo tàng Louis Finot) cũng mang phong cách kiến trúc Đông Dương và được hoàn thiện năm 1931, nhưng đó là tác phẩm của một kiến trúc sư của trường Viễn Đông Bác Cổ, Charles Batteur. Sự kết hợp giữa hai kiểu kiến trúc đã biến Bảo tàng Lịch sử thành công trình đẹp nhất mang phong cách Đông Dương.


Bảo tàng Louis Finot (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam)

RFI: Vậy phía Việt Nam có sử dụng kiểu kiến trúc hỗn hợp Đông-Tây không?
Caroline Herbelin: Có, ngay từ đầu thế kỷ XX, người Việt đã xây nhà theo kiến trúc Pháp. Trong những năm 1930 xuất hiện phản ứng từ phía các nhà trí thức và thành phần quan lại tiến bộ khi ngày càng có nhiều chủ nhà Việt Nam giầu có xây những ngôi nhà hoàn toàn theo phong cách Pháp.
            Hội Khai Trí Tiến Đức (Association pour la Formation Intellectuelle et Morale des Annamites, AFIMA), mang tư tưởng cải cách ôn hòa, cho rằng nên có một kiểu kiến trúc mới, hiện đại kết hợp với các họa tiết trang trí trong kiến trúc miền bắc Việt Nam. Để khuyến khích ý tưởng này, vào đầu những năm 1920, AFIMA tổ chức nhiều cuộc thi với quy định tìm được những mô hình vừa lấy cảm hứng từ kiến trúc miền bắc Việt Nam vừa có đủ tiện nghi hiện đại như nhà tắm, gara… Kết quả cuộc thi rất tốt nhưng trên thực tế, kiểu kiến trúc này lại không được áp dụng và không nổi tiếng lắm nên không tác động được đến cảnh quan kiến trúc Việt Nam. Chỉ có một vài quan lại giầu có mới có thể xây được nhà theo phong cách này.
            Bên cạnh kiểu kiến trúc kết hợp chính quy đó, còn có nhiều trường hợp tự phát hơn, như những ngôi nhà được xây trong thập kỷ 1930 ở Nam Kỳ của các địa chủ giầu có người Việt hay người Hoa, ví dụ đặc sắc nhất chính là hai ngôi nhà ở Bình Thủy (Cần Thơ) và Sa Đéc. Mặt tiền những ngôi nhà này kết hợp cả ba yếu tố Pháp, Việt và Hoa, nhưng bên trong giữ nhiều nét truyền thống.


Dinh Toàn quyền Đông Dương, Sài Gòn. Ảnh chụp năm 1896

RFI: Kiến trúc hiện đại đã có tác động đến người Việt như thế nào?
Caroline Herbelin: Kiểu kiến trúc hiện đại phát triển ở châu Âu từ đầu thế kỷ XX. Khi đi dọc Việt Nam, dù chúng ta không thấy nhiều ví dụ về kiểu kiến trúc này, nhưng khi tra cứu tài liệu thời kỳ đó, chúng ta nhận thấy là những nguyên tắc của kiến trúc hiện đại được tiếp nhận ở Việt Nam và thu hút sự quan tâm của giới quý tộc Việt Nam. Trong những năm 1930, nhiều tạp chí phổ biến khoa học viết bằng chữ quốc ngữ đăng rất nhiều bài báo về bê tông và giải thích cách sử dụng. Giới nhà giầu Việt Nam cho xây những ngôi biệt thự theo nghệ thuật trang trí và đổ trần bê tông.
            Một ví dụ khác thú vị hơn về phong cách hiện đại là các kiến trúc sư người Việt của trường Mỹ Thuật Đông Dương, trường nổi tiếng đào tạo ra thế hệ “nghệ sĩ Đông Dương”, cũng được học các nguyên tắc của Hébrard. Nhưng sau khi tốt nghiệp, rất nhiều người từ bỏ “mác” này và không muốn tác phẩm của mình mang tính “Đông Dương”. Với họ, phải có được một phong cách kiến trúc riêng do người Việt nghĩ ra và dành cho người Việt. Có nghĩa là những ngôi nhà phải đáp ứng được nhu cầu của người Việt về mặt thẩm mỹ, đồng thời phải tôn trọng các tiêu chí về kỹ thuật và khí hậu. Những công trình của họ còn mang tính xã hội, như trường hợp Nguyễn Cao Luyện và Hoàng Như Tiếp, cả hai thực hiện kiểu “Nhà ánh sáng” sử dụng nguyên vật liệu rẻ tiền và sẵn có ở địa phương để giúp người nghèo có chỗ ở.

RFI: Xin cám ơn chị Caroline Herbelin.


THU HẰNG
Tháng 3/2017

Bìa cuốn sách Kiến trúc của Việt Nam thuộc địa. Caroline Herbelin
__________________________________________________
(*) Caroline Herbelin, Architectures du Vietnam colonial: Repenser le métissage (Kiến trúc của Việt Nam thời thuộc địa: Nhìn lại phong cách hỗn hợp), Paris: INHA, 2016.



http://vi.rfi.fr/viet-nam/20170324-phong-cach-kien-truc-dong-duong-tai-viet-nam-dau-the-ky-xx

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Paris giới thiệu ảnh tư liệu Hà Nội 1945-1946 của sử gia Philippe Devillers

Ngày 03/09/2011, Trung tâm Văn hóa Việt Nam tại Paris (Centre culturel du Vietnam en France) sẽ khai mạc cuộc triển lãm ảnh “Những ngày độc lập đầu tiên của Việt Nam 1945-1946” (Les premiers jours de l’Indépendance du Vietnam – 1945-1946). Đây là những bức ảnh do một chứng nhân trực tiếp vào thời ấy – sử gia Pháp Philippe Devillers – sưu tầm được, và gần đây đã tặng lại cho Viện Sử học Việt Nam tại Hà Nội.

Một cuộc mít tinh ủng hộ nền Độc lập của dân chúng theo đạo trước Nhà thờ Lớn Hà Nội

PHILIPPE DEVILLERS là một chuyên gia kỳ cựu về Việt Nam. Ngay từ năm 1945, khi còn là thanh niên, ông đã được cử qua Đông Dương làm tùy viên báo chí cho tướng Leclerc, và được nhật báo uy tín tại Pháp là tờ Le Monde chọn làm thông tín viên tại Việt Nam. Ông đã được chứng kiến tận mắt các sự kiện sôi động vào thời điểm Việt Nam tuyên bố độc lập.
            Sau này, khi chuyển sang nghiên cứu, ông là một trong những người đầu tiên đã nêu bật trách nhiệm của chính quyền thuộc địa Pháp trong việc khởi động cuộc chiến tranh Đông Dương, với hệ quả mà ai cũng biết là trận đánh Điện Biên Phủ vào năm 1954, chấm dứt thời kỳ Pháp đô hộ Việt Nam.

Một số bức ảnh trong bộ sưu tập được sử gia Pháp Philippe Devillers tặng lại cho Việt Nam


Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Giỗ Tổ Hùng Vương tại khu Việt Nam Học Xá

Những nhà giàu có ở thủ đô xếp hàng góp Tuần Lễ Vàng ở Hà Nội

Công dân Vĩnh Thụy (cựu Hoàng Bảo Đại) đang đấu giá bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh để lấy tiền cứu đói

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào các dân tộc thiểu số về thăm Hà Nội

Những đoàn người mang lễ vật đến dâng Đức Thánh Trần nhân Ngày Giỗ Cha trước Nhà hát Lớn Hà Nội

Lần đầu Giỗ Trận hướng tới kỷ niệm Chiến thắng Đống Đa của Hoàng đế Quang Trung

Ông Võ Nguyên Giáp đang trả lời báo chí trước khi lên đường đi Đà Lạt hội nghị với Pháp

Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hà ngồi trong Nhà Thờ Lớn (Hà Nội) cầu nguyện cho các chiến sĩ trận vong

            Trong số những công trình ông đă xuất bản, đáng chú ý là tập “Paris Saigon Hanoi”, xuất bản lần đầu năm 1988, trong đó ông giới thiệu các tài liệu lưu trữ liên quan đến cuộc chiến tranh Đông Dương. Gần đây hơn là tập “Vingt ans, et plus, avec le Viet-Nam: Souvenirs et écrits 1945-1969” (Hai mươi năm và hơn thế nữa với Việt Nam: hồi ức và bài viết 1945-1969), xuất bản năm 2010, gồm hồi ký, nhật ký, bài báo của ông trải dài trong hơn ba thập niên.
            Phải nói ngay rằng Philippe Devillers không phải là tác giả mà chỉ là người sưu tầm được bộ ảnh được triển lãm. Đó là những tấm ảnh do các phóng viên Việt Nam của Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc ấy thực hiện. Bộ ảnh đã được dùng làm quà tặng cho khách nước ngoài để tuyên truyền về Việt Nam. Một người Pháp được tặng đã lưu giữ lại cẩn thận, rồi sau đó bộ ảnh đến tay giáo sư Devillers.
            Đây là một bộ ảnh quý giá vì ngay chính tại Việt Nam, phần lớn các tấm ảnh này, hoặc là đã bị thất lạc, hoặc là bị hư hại do bảo quản không kỹ.


TRỌNG NGHĨA
Tháng 9/2011


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20110902-paris-gioi-thieu-bo-suu-tap-anh-tu-lieu-ha-noi-1945-1946-cua-su-gia-phap-philippe-

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Giới thiệu sách “Những người lính thợ” của Liêm Khê Luguern

Quyển sách song ngữ Việt và Pháp “Những người lính thợ –  Les Travailleurs Indochinois Requis” nhường lời cho các bác lính thợ còn sống sót để tìm hiểu xem những người lính thợ Đông Dương là ai? Họ ra đi trong hoàn cảnh nào? Họ sống cơ cực ra sao trên đất Pháp? Ngày trở về của họ đã được thu xếp ra sao?


“NHỮNG NGƯỜI LÍNH THỢ” nằm trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu để chuẩn bị luận án tiến sĩ của Liêm Khê Luguern. Đây là một tác phẩm song ngữ, Việt và Pháp trong đó, tác giả đã phác họa lại hành trình của một vài nhân chứng còn sống sót trong số 90 ngàn lính thợ và lính chiến Đông Dương vào năm 1939 bị “trưng tập” sang Pháp trong chương trình “Kế hoạch Mandel” nhằm góp phần hỗ trợ cho cuộc Thế chiến thứ hai.
            Cuộc hành trình đó bắt đầu từ khi những thanh niên này có lệnh tập trung, họ đưa lên tàu sang thành phố cảng Marseille, cho đến khi họ phải bắt tay vào với một cuộc sống mới và đã được tận mắt trông thấy sự thất bại của nước Pháp trước sức mạnh của quân Đức Quốc Xã.
            Trong trên dưới 10 năm sống trên đất Pháp thành phần lính thợ Đông Dương đã được đưa vào các xưởng chế tạo vũ khí, đạn dược, làm đủ mọi ngành nghề tay chân, họ phải chịu nhiều tầng áp bức.
            Cuộc sống của họ thêm chật vật kể từ khi nước Pháp thất trận vào tháng 6/1940. Trong thời gian này nhiều người trong số họ đã tham gia vào một số các hoạt động chính trị và công đoàn. Đó cũng là lý do khiến nhiều người lính Đông Dương đã bị cưỡng bức hồi hương vào cuối thập niên 40, đầu những năm 50 thế kỷ trước.
            Trong gần 250 trang, bằng hai ngôn ngữ Việt và Pháp, tác giả đã nhường lời cho gần 20 chục bác lính thợ tất cả tuổi đã ngoài 90 để họ kể lại giai đoạn 10 năm ít được sử sách của Pháp cũng như của Việt Nam nhắc đến.
            Những người lính thợ Đông Dương là ai? Họ ra đi trong hoàn cảnh nào? Họ sống cơ cực ra sao trên đất Pháp? Ngày trở về của họ đã được thu xếp ra sao? Đó là một vài câu hỏi đã được Liêm Khê Luguern nêu lên trong cuốn “Những người lính thợ” vừa cho ra mắt công chúng mùa hè năm nay.
            Trả lời ban việt ngữ RFI, Liêm Khê Luguern nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc cuốn “Những người lính thợ” phải được in bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp:

            “Cuốn sách này năm trong khuôn khổ chương trình nghiên cứu, chuẩn bị luận án tiến sĩ tại Trường Cao đẳng Khoa học Xã hội Pháp, EHESS ở Paris với chủ đề chính liên quan đến các bác lính thợ bị trưng dụng trong thời kỳ chiến tranh thứ hai. Mới trong thời gian gần đây, tôi đã về nước tìm đến các nhân chứng để ghi lại những gì họ đã trải qua.
            Tôi cố ý muốn cuốn sách này phải được đăng bằng hai thứ tiếng, Việt và Pháp để muốn nói lên rằng, lịch sử không thuộc về ai, đó là một giai đoạn lịch sử chung, liên quan đến nước Pháp và đến Việt Nam. Những đóng góp của các thành phần lính thợ Đông Dương ít được biết đến ở Pháp và lại càng ít được nhắc tới hơn nữa tại Việt Nam. Thêm vào đó điều tôi quan tâm là số phận của những con người đã đi sang làm thuê cho Pháp trong thời kỳ chiến tranh cho dù là sau đó họ trở về quê quán sinh sống”.

            Tác giả nói tiếp về những khó khăn đã gặp phải để hoàn thành tác phẩm này và cho ấn bản trong một thời gian rất ngắn:

            “Tác phẩm này là sự tiếp nối trong công việc nghiên cứu của tôi, nhưng đồng thời tôi cũng muốn đối chiếu cuộc sống của những người lính thợ hồi hương, với những người ở lại Pháp, tức là những ai đã sống và gây dựng sự nghiệp trên đất Pháp.
            Tôi cũng xin lưu ý là lời kể, lời chứng của những bác lính thợ còn sống sót là một nguồn thông tin quý báu đối với công việc nghiên cứu của tôi. Chúng bổ sung cho các thông tin tôi có được qua những tài liệu tham khảo từ nhiều kho lưu trữ, nhưng đó là những văn bản, chứng từ, những tài liệu mang tính hành chính.
            Việc khó làm nhất là liên lạc với các bác. Nay họ đã rất cao niên, sức khỏe suy yếu. Có người còn nhớ được chút tiếng Pháp, có người đã quên nhiều. Kể từ khi các bác hồi hương, họ sống tản mạn không còn giữ liên lạc với nhau. Tìm lại được các bác thất là khó. Tôi đã gửi đi hơn 250 lá thư nhưng chỉ được khoảng độ hơn một chục người hồi âm, cho phép tôi đến hỏi chuyện các bác. Giờ đây hầu hết các bác sống ở nông thôn và khi tiếp tôi, các cụ đã trả lời một cách cởi mở. Điều khiến tôi rất ngạc nhiên là những bác còn minh mẫn, họ nhớ đầy đủ các chi tiết của thời kỳ sống tại Pháp: từ ngày tháng, tên người, tên đường, tên thành phố, những thị trấn họ đã đi qua
            Tiếp theo đó phần lớn các bác ở rất xa thành phố. Tìm được đến họ thật là khó vô cùng, chẳng hạn như phải mất công lắm tôi mới liên lạc được với một số bác ở Thanh Hóa”.

            Lời kể của các nhân chứng còn sống sót, cho phép tác giả đưa ra kết luận là sau thời gian trên dưới 10 năm lao động tại Pháp, hầu hết tất cả các bác lính thợ Đông Dương đã trở về quê cũ với “hai bàn tay trắng”:

            “Lời kể của các bác lính thợ không đi ngược lại với những tài liệu mà tôi đã có, tức là những tài liệu được lưu trữ của Pháp (lệnh đưa họ sang Pháp, tên tàu, cảng nơi họ rời khỏi Việt Nam…) Nhưng các cuộc nói chuyện đó cho phép tôi khẳng định một trong những giả thuyết đã nêu lên ban đầu: đó là sau 10 năm sống lưu lạc ở Pháp khi trở về Việt Nam, họ trở lại với đời sống y như trước khi ra đi. Tức là đời sống của họ không được cải thiện, không có gì thay đổi.
            Đa số về lại đúng quê quán, lại tiếp tục với công việc nhà nông như trước khi họ ra đi – sau 10 hay 15 năm sống lưu vong, đời sống của họ lại “đâu vào đấy”, từ mặt địa lý đến vật chất, nghề nghiệp… Khác hẳn với nhưng các lính thợ ở lại Pháp. Số này, đời sống của họ được cải thiện: họ có thêm bằng cấp, có chuyên môn, an cư lạc nghiệp trên đất Pháp và có thay đổi trên nấc thang xã hội. (…)
            Sở dĩ tôi cho in cuốn sách này nhanh như vậy là để các bác có thể đọc được, để cám ơn các bác lính thợ đã vui lòng mở lại một chương trong cuộc đời của họ cho tôi nhìn vào. “Những Người Lính Thợ” cũng là một hình thức để nhìn nhận vai trò, những đóng góp của họ cho lịch sử, cho sự phát triển kinh tế của Pháp ở vào một thời điểm nhất định. Đối với tôi lời chứng của các bác là những “vật liệu” quý giá đối với lịch sử đối với những người làm công việc nghiên cứu.”

            Trở lại với xuất xứ của thành phần lính thợ Đông Dương, hai cụ Đỗ Vị và Hà Mười hiện sinh sống tại Quảng Nam tâm sự với tác giả: “Xóm tôi có 120 gia đình và chúng tôi có đến 6 lính thợ. Chúng tôi bị lý trưởng cưỡng bức nhập ngũ. Tất cả chúng tôi đều là nông dân”.
            “Tôi không được đi học, không biết đọc, không biết viết. Tôi bị trưng tập năm 1939. Tất cả mọi gia đình phải có một người ra đi. Tôi đi thế cho các anh tôi vì họ đã có vợ con. Những người cùng lượt với tôi đều bị lý trưởng bắt buộc. Chúng tôi không thể trốn được. Nhóm tôi gồm 24 lính thợ, tất cả đều mù chữ” (tr. 44)

Cuộc sống trên đất Pháp:
            Nói về cuộc sống trên đất Pháp, Cụ Lê Hữu Đinh, quê Thanh Hóa từng được đưa đến Bergerac nhớ lại: “Tôi làm ở xưởng đúc đạn cho quân đội. Cuộc sống rất khó khăn. Chúng tội bị đói và rét. Từ năm 1940-1945 tôi làm việc cùng khắp trên lãnh thổ Pháp như đẵn gỗ, đào than đá… công việc rất nặng nhọc. Rất may giữa chúng tôi, những người xa xứ, chúng tôi rất đoàn kết và thường giúp đỡ lẫn nhau. (…) Chúng tôi muốn được hồi hương càng sớm càng tốt. Bởi vì chúng tôi cảm thấy đời sống ở Pháp không mang lại cho chúng tôi một chút an ninh nào”.

            Còn ông Nguyễn Đình Duyệt tại Nghệ An nói về cái nhìn của quân đội Đức, của người bản xứ đối với các lính thợ Đông Dương (tr. 77).

Ngày trở về:
            Trong thời gian tại Pháp nhiều bác lính thợ Đông Dương đã tham gia các phong trào đấu tranh, chẳng hạn như tham gia công đoàn CGT thân đảng cộng sản Pháp, tham gia các hoạt động chính trị để giành độc lập cho Việt Nam. Đó là lý do khiến những thành phần này bị cưỡng bức hồi hương như trường hợp của ông Đỗ Vị vĩnh viễn mất liên lạc với vợ và con trai còn ở lại nước Pháp:

            “Năm 1951, tôi xin trở về nước để thăm cha mẹ già yếu và bệnh tật. Lần này chỉ là một lần về tạm vì tôi để vợ con ở lại Marseille. Nhưng vì hộ chiếu của tôi hết hạn và vì chiến tranh, tôi vĩnh viễn không thể trở lại Pháp được. Tại quê nhà tôi lập gia đình (…) Tôi trở về làng làm ruộng và từ đó tôi chỉ là một nông dân thường (…) Hôm nay tôi chẳng muốn trở lại Pháp một tí nào cả” (tr. 43).

            Về phần ông Hà Văn Oanh, hiện sống tại tỉnh Hà Đông, đã tình nguyện ra đi. Rời Hải Phòng, ông đến Marseille vào tháng 2/1940 sau đó được đưa về làm việc tại một nhà máy sản xuất vũ khí tại Roanne. Mười năm sau ông trở lại quê nhà với hai bàn tay trắng. Ông nói: “Khi nghe lệnh tập trưng, tôi xung phong ra đi. Khi tôi trở lại quê hương thì chỉ có hai ban tay trắng. Tôi chưa bao giờ được lãnh tiền bồi thường. Tôi làm việc cho nước Pháp trong 10 năm (…), nhưng khi đến tòa đại sứ, họ chẳng cho tôi bước chân vào” (tr. 52).
            Mỗi người một hoàn cảnh, cụ Hoàng Công Cẩn sinh năm 1918, Quảng Trị trong tình trạng bị cưỡng bức hồi hương vì đã tham gia các hoạt động công đoàn kể lại: “Vào đầu năm 1948 tôi tìm được việc làm ở Grenoble, tôi về Lyon chuẩn bị sửa soạn đồ đạc để đì Grenoble thì tôi bị bắt tại nhà ga Lyon (…) Tháng 2/1948 tôi bị đưa đến cảng Port de Bouc lên tàu Lyberty Ship (…) khi ra khơi tôi mới hiểu rằng người ta đưa chúng tôi về Đông Dương (…) Tôi không hối tiếc gì về việc đã xung phong vào lính ONS ở Pháp. Tôi đi tham quan hầu hết miền Nam nước Pháp và thuộc nằm lòng thành phố Lyon. Tôi viếng Paris 2 lần và đã quen biết được nhiều người Pháp tốt và nhân đạo. Tôi ao uớc được quay lại nước Pháp để xem nước Pháp có thay đổi không (…) nhưng nay thì đã quá muộn” (tr. 65-66).
            Về phần mình cụ Lê xuân Thiểm, Quỳnh Lưu, Nghệ An (tr. 74) kết luận: “Tôi vẫn luôn luôn là nông dân nơi đồng ruộng. Rốt cuộc thì đời tôi chẳng có gì thay đổi. Tôi không hề nhận được tiền trợ cấp (…) Đời sống của tôi cực kỳ khó khăn”. Nhưng đôi khi nhưng kỷ niệm về nước Pháp đã quá xa rồi đối với những người lính thợ còn sống sót. Nguyện vọng của một vài người là mong lấy lại được phần lương đã bị giữ lại hàng tháng trong thời gian lao động tại Pháp nhưng cũng có người thì muốn vĩnh viễn chôn vùi 10 năm lưu lạc đó vào quá khứ.


THANH HÀ
Tháng 12/2010


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20101210-gioi-thieu-sach-nhung-nguoi-linh-tho-cua-liem-khe-luguern

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ

Ngủ rồi nduytai

“Đông Dương, những cái nhìn đa chiều – Một cuộc chiến rơi vào quên lãng?”

Đông Dương hiện lên trong kí ức của người Pháp như một vùng thuộc địa trù phú,
một miền đất hứa cho những người thích phiêu lưu. Chín năm chiến tranh Đông Dương
(1946-1954) chỉ còn là những mẩu kỉ niệm trong tâm trí của người Pháp.

Triển lãm “Indochine,regard croisés – une guerre oubliée?”

“ĐÔNG DƯƠNG, những cái nhìn đa chiều – Một cuộc chiến rơi vào quên lãng?” được thực hiện với mục đích nhắc lại vị trí của cuộc chiến Đông Dương trong lòng lịch sử Pháp. Đây là một cuộc triển lãm lưu động do Hội “Lịch sử qua video” (L’Histoire par la vidéo), gồm một nhóm sinh viên Pháp chuyên ngành lịch sử và nghe nhìn thực hiện, và đang lần lượt được trưng bày tại một số các trường đại học tại Paris.
            Bỏ qua những kiến thức, những nghiên cứu hàn lâm về kỉ niệm đau thương, “Đông Dương, những cái nhìn đa chiều”, như chủ đề đã gợi ý, phản ánh những cách nhìn khác nhau của một số người trong cuộc, những người đã chứng kiến, đã sống trong thời điểm lịch sử đó, hiện đang sống tại Pháp và Việt Nam.
            Năm khuôn mặt, năm nhân chứng là năm quan điểm khác nhau về diễn biến cuộc chiến Đông Dương. Qua kí ức của họ, người xem như sống lại từng thời khắc thăng trầm của chín năm chiến tranh với kết quả là người Pháp bại trận, từ bỏ Đông Dương và Việt Nam giành được độc lập. Sự kiện đó đồng thời mở đường cho các cuộc đấu tranh giành độc lập tại các nước châu Phi thuộc địa.

Nhật tràn vào Đông Dương
            Chính quyền Pháp “mở cửa” cho Nhật vào Đông Dương sau khi nước Pháp bị phát xít Đức chiếm đóng vào tháng 6/1940. Thời đó, Bắc Kỳ là cửa ngõ tiếp tế duy nhất của Hoa Kỳ, theo đường Hải Phòng-Vân Nam, cho quân kháng chiến chống Nhật do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo. Ngoài ra, Pháp buộc phải đặt nền kinh tế Đông Dương phục vụ cho guồng máy chiến tranh của Nhật, thông qua hiệp định chính trị Tokyo được kí ngày 30/08/1940.
            Ông Đặng Văn Việt, một cựu sĩ quan của Việt Minh, nhớ lại: “Người Nhật đã có mặt tại Đông Dương, vì với các điều khoản kí kết giữa hai bên, người Pháp cho phép người Nhật vào Đông Dương, dùng Việt Nam như điểm trung chuyển để gây chiến tại Thái Lan, chứ không phải tại Đông Dương. Đất nước của chúng tôi là điểm xuất phát thuận tiện như chiếc bàn đạp để tấn công các nước khác trong khu vực Đông Nam Á”.
            Song song với các cuộc tấn công vào chính quyền Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật Bản không ngừng tuyên truyền học thuyết “Đại Đông Á”. Tuy nhiên dưới vỏ bọc của tham vọng hình thành một khối các quốc gia Châu Á do Nhật Bản lãnh đạo mà không phụ thuộc vào phương Tây, thực chất, đây là một chính sách xâm lược, bành trướng sự thống trị của Đế quốc Nhật tại quốc gia bị chiếm đóng trong Đệ Nhị Thế Chiến.
            Vào Việt Nam, quân Nhật không ngừng tuyên truyền về việc xâm lược của mình. Ông Đặng Văn Việt hồi tưởng: “Họ nói rằng người Nhật là người châu Á, vì thế phải trả châu Á cho người châu Á và đuổi người nước ngoài ra khỏi lãnh thổ. Rất nhiều người Việt cho là đúng và người Nhật là những người giải phóng đất nước. Nhưng với thời gian, người Pháp sớm muộn cũng biết rằng người Nhật đang tìm cách đánh đuổi họ khỏi Đông Dương”.
            Bà Xuân Phương, lúc đó đang đi học ở Huế, nhớ lại người ta bắt học sinh trong trường học tiếng Nhật vì tin rằng người Nhật sẽ làm nên sự nghiệp lớn tại Đông Nam Á. Thế nhưng, bà khiếp sợ trước sự ác độc của sĩ quan Nhật. Bà tận mắt chứng kiến lính Nhật trừng phạt một kẻ trộm lỡ làm chết một con ngựa: “Tôi nhìn thấy trong phòng lễ tân của trường ở Huế, một người Nhật lấy lưỡi lê rạch bụng con ngựa chết. Người ta thấy ruột gan của nó lòi ra. Bỗng nhiên, tên lính Nhật tóm lấy người nông dân Việt và đẩy anh ta vào bụng con ngựa. Sau đó, họ khâu bụng con ngựa lại với người đàn ông vẫn còn sống bên trong. Chúng tôi gào khóc ầm ĩ”.
            Còn với công chức Pháp, sự có mặt của quân đội Nhật là mối đe dọa nặng nề, hiện hữu hơn khi màn đêm buông xuống. Bà Jacqueline Copin, vợ một công chức Pháp sống tại Hóc Môn năm 1946, nhớ lại người Pháp bị ảnh hưởng và phải chịu đựng rất nhiều. Dưới bầu không khí ngột ngạt và nguy hại, nhiều người muốn về Pháp để bảo đảm sức khỏe và tính mạng của họ.

Nhật đảo chính – Việt Minh giành độc lập
            Ngay khi tràn vào Đông Dương, người Nhật bắt nông dân Việt Nam “nhổ lúa trồng đay” để phục vụ chiến tranh. Cùng với thiên tai, lũ lụt liên tiếp xảy ra trong thời kì này khiến miền Bắc mất mùa và gây nên nạn đói tang thương nhất trong lịch sử Việt Nam (10/1944-05/1945). Trong khi đó, Nhật cấm vận chuyển lúa từ miền Nam ra Bắc. Pháp dự trữ lương thực phòng khi quân Đồng minh chưa tới, phải đánh Nhật hoặc dùng cho cuộc tái xâm lược Việt Nam. Quân Đồng minh cũng phá hủy các trục đường sắt từ Huế trở ra và phong tỏa đường biển khiến hàng hóa không lưu thông được.
            Điều kiện sống khó khăn càng thổi bùng lên tinh thần dân tộc và mong ước độc lập. Người dân tập hợp quanh Việt Minh, được đảng Cộng sản Đông Dương thành lập từ năm 1941. Ước mơ trông mong người Nhật chung tay cứu nước của người Việt lụi tàn ngay khi người Nhật đặt chân tới đây.
            Sau nhiều thất bại liên tiếp trong khu vực, và trước ý định lật lại thế cờ của chính Pháp tại Đông Dương, Nhật tiến hành đảo chính. Đêm ngày 09/03/1945, Nhật bất ngờ đồng loạt nổ súng trên toàn cõi Đông Dương và nhanh chóng khống chế sự kháng cự của quân đội Pháp. Sau cú đảo chính, người Nhật tước Đông Dương khỏi tay quân Pháp. Và sau Cách mạng Tháng Tám, cùng với sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 02/09/1945, người Nhật để chính phủ lâm thời toàn quyền hành động.
            Nhà văn Hữu Ngọc, lúc đó là ủy viên chính trị của Việt Minh, nhớ lại: “Nửa đêm hôm đó, người ta nghe thấy tiếng pháo, kéo dài khoảng 20 phút và sau đó hết. Sáng hôm sau, người ta thấy thành phố trưng cờ Nhật, vì thế mọi người hiểu rằng đảo chính đã xảy ra. Lúc đầu cuộc Thế Chiến, người ta cũng rất mong mỏi vào học thuyết “Đại Đông Á” và hy vọng người Nhật sẽ giúp chúng tôi chiến đấu chống thực dân. Nhưng thêm lần nữa, chúng tôi thất vọng và từ ngày 09/03/1945, chúng tôi hiểu ra bản chất của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản. Và Hồ Chí Minh, từ Trung Quốc về sau 30 sống lưu vong, đã thành lập Việt Minh. Nhiệm vụ của tổ chức này là đánh đuổi cả quân Nhật lẫn quân Pháp”.
            Mùa thu năm 1945, tướng Philippe Leclerc và đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu được cử sang Đông Dương để làm dịu tình hình. Tuy nhiên, căng thẳng càng lan rộng do các hành động chống Pháp bùng nổ khắp nơi. Cuối năm 1946, Việt Minh rút vào hoạt động bí mật.
            André Arnaud không có kỉ niệm ấn tượng về Việt Minh, về sức mạnh hay cách hoạt động của tổ chức này: “Việt Minh là gì với tôi à? Người ta không rõ nó như thế nào. Người ta nghĩ đó là một cuộc nổi dậy nhỏ tranh thủ thời điểm khó khăn của nước Pháp sau khi Nhật chiếm đóng để tiến hành cuộc chiến giành độc lập”.
            Từ năm 1946 đến 1949, Việt Minh tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống Pháp, mà Hồ Chí Minh gọi đó là “cuộc chiến giữa hổ và voi”. Con hổ Việt Nam liên tục di chuyển và xé lẻ thành nhóm đến quấy nhiễu con voi Pháp, ì ạch và nặng nề. Con hổ chính là Quân đội Nhân dân Việt Nam do tướng Võ Nguyên Giáp thành lập.
            Nhiều thanh niên trí thức thời đó sẵn sàng bỏ cuộc sống đầy đủ, chấp nhận khó khăn gian khổ, để gia nhập Việt Minh, như trường hợp của bà Xuân Phương, lúc đó đang học trường cấp II tại Huế: “Chúng tôi học ở trường Khải Định, một trường cấp II ở Huế. Hàng ngày, có rất nhiều người tới giải thích cho chúng tôi rằng sẽ có một sự thay đổi lớn, đuổi kẻ thù xâm lược đất nước. Ban đầu, chúng tôi nghĩ là giáo viên của trường, nhưng thực ra là người của Việt Minh. Họ tới giải thích: “chiến đấu giành độc lập của đất nước là gì”. Họ nói rất rành mạch và đã khơi dậy lòng yêu nước của chúng tôi”.
            Năm 1949, thời cuộc thay đổi với sự đi lên của cộng sản Trung Quốc hay cuộc chiến hai miền Nam Bắc Triều Tiên. Trung Quốc chính thức giúp đỡ Việt Minh đánh đuổi quân xâm lược Pháp, giờ đang được Mỹ tài trợ. Ông André Arnaud nhớ lại: “Vào lúc các nhóm quân đội của Mao tiến tới biên giới giữa Đông Dương và Trung Quốc, năm 1949, người ta biết Trung Quốc là cơ sở hậu cần vững chắc của Việt Minh. Và thời điểm đó là bước ngoặt điềm báo trước những thảm họa của Điện Biên Phủ diễn ra vào 4 năm sau”.

Chiến dịch Điện Biên Phủ
            Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra từ 20/11/1953 đến 07/05/1954. Bị quân đội Pháp chiếm từ năm 1953, Điện Biên Phủ và khu vực xung quanh trở thành một chiến trường khói lửa vào năm sau. Quân đội Việt Nam do tướng Giáp chỉ huy giành chiến thắng. Chiến bại tại Điện Biên Phủ gây sửng sốt nước Pháp. Thế nhưng, với người Pháp tại Đông Dương, họ đã lường trước được tình hình.
            Ông André Arnaud đã linh cảm trước được thất bại của quân đội Pháp: “Ngay năm 1953, khi theo dõi một chút các trận đánh, người ta có cảm giác mọi thứ đang diễn ra không ổn chút nào. Nhưng tôi đặc biệt cảm nhận được điều đó khi quân Pháp dấn thân vào trận Điện Biên Phủ. Người ta thường nói tướng Navarre đã tiến hành một trận đánh tuyệt vời ngăn Việt Minh tại cánh đồng Chum. Người ta đã từng được học khi mới làm chân chạy việc rằng không được phép ở dưới đáy vùng trũng. Người nào chiếm phía trên thì sẽ chiếm luôn được phía dưới. Đây là một công thức quân sự. Thế mà ở đây, họ tự giam dưới đáy. Biết rõ người Việt, tôi hiểu rằng,họ sẽ vây xung quanh và tấn công khi họ muốn. Bằng xe đạp, họ trèo lên cao. Họ còn kéo được cả pháo lên trên để bắn quân đội Pháp ở dưới. Lúc đó, tôi nghĩ thế là hết”.
            Phía Việt Nam, mọi người tin chắc sẽ giành thắng lợi. Theo bà Xuân Phương: “Người ta không thể thắng trận tại miền đất lạ. Điều này, chúng tôi đã tận mắt chứng kiến. Vì thế, chúng tôi không nghi ngờ về kết cục của cuộc chiến, nhưng chúng tôi không biết nó sẽ diễn biến ra sao.
            Về Điện Biên Phủ, tôi đang phát báo cho các nhà hậu cần, bỗng nhiên, tôi nghe thấy tiếng xe tải. Với chúng tôi, từ lâu quen đi bộ hoặc đi xe đạp, và đột nhiên chúng tôi thấy những chiếc xe tải lớn tiến tới. Chúng tôi nhảy lên vì vui mừng. Và chúng tôi cảm giác hòa bình đang lại gần. Và khắp nơi, mọi người ra khỏi nơi trú ẩn, chúng tôi xuống phố, chúng tôi ôm chầm lấy nhau dù chẳng quen biết, và hô vang: “Điện Biên Phủ, hết chiến tranh rồi! Hết chiến tranh rồi!” Có nhiều người đang chở gạo, quẳng luôn gạo lại, hô vang “Điện Biên Phủ” và trở về nhà. Cả đêm mồng 07/05, cả vùng không ngủ. Đêm hôm đó, mọi người đốt lửa và cùng nhau ca hát. Niềm vui tràn ngập khắp nơi”.
            Nhà văn Hữu Ngọc nhớ lại: “Quá bất ngờ, người ta không tin là có thể làm được. Vì 9 năm nằm rừng, người ta không nghĩ rằng chiến tranh có thể kết thúc. Tin tức đột ngột tới mức chúng tôi sửng sốt, rụng rời chân tay. Nhưng đó là niềm vui không bao giờ quên được”.

Hiệp định Genève
            Tại Pháp, tháng 06/1954, Pierre Mendès France trở thành thủ tướng và Ngoại trưởng. Với ông nước Pháp đang kiệt sức tại Đông Dương. Ngày 22/07/1954, hiệp định Genève được các bên tham gia kí kết: nước Pháp dời Đông Dương và lãnh thổ Việt Nam chia thành hai quốc gia: Cộng Hòa Dân Chủ Việt Nam ở phía Bắc do Việt Minh quản lý, và Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam.
            Ông André Arnaud nhận xét: “Tôi nghĩ rằng hiệp định Genève được cân nhắc và thảo luận rất kỹ, mở ra sáu năm hòa bình và có thể sau này, sẽ tìm ra những giải pháp khác, hay thành lập hai quốc gia. Nhưng nếu nhìn kỹ, đây chỉ là một giải pháp tạm thời. Người miền Bắc chấp nhận thời gian đình chiến để thở một chút. Nhưng nếu hiểu rõ Việt Minh, người ta biết rằng không bao giờ họ để miền Nam trở thành một quốc gia khác. Họ không chấp nhận cảnh hai Nhà nước, họ muốn chinh phục lại miền Nam, đó là việc sau này họ đã làm”.

Hội “Lịch sử qua video”
            RFI tiếng Việt có dịp gặp gỡ hai thành viên của hội “Lịch sử qua video” (L’Histoire par la vidéo), Aladin Farré và Louis de Coppet. Hội được thành lập vào năm 2011, quy tụ sinh viên các chuyên ngành nghe nhìn và lịch sử Châu Á, đặc biệt là Việt Nam, của đại học Paris 1 Panthéon-Sorbonne, đại học Paris Diderot-Paris 7 và trường Cao đẳng Lyon (ENS de Lyon), với mục đích thực hiện những phóng sự tài liệu lịch sử, dựa trên hồi ức của các nhân chứng.
            Tại sao lại làm chủ đề về Đông Dương? Louis de Coppet cho biết: “Với chúng tôi, chiến tranh Đông Dương như điểm kết của Đệ Nhị Thế Chiến, và là điểm khởi đầu của một Việt Nam độc lập. Cuộc chiến này cũng là một yếu tố trong lịch sử chiến tranh lạnh. Chính vì vậy, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau. Một số người ở Việt Nam cho rằng đây là cuộc chiến giành độc lập. Trong khi đó, lính Pháp lại coi là cuộc chiến chống chế độ Cộng sản. Chính vì thế, chúng tôi muốn nêu lên những quan điểm khác nhau về cuộc chiến này”.
            Aladin Farré cho biết: “Do làm về chủ đề Đông Dương trong thời gian khá lâu, vì thế rất khó có thể đưa ra một nhận định riêng về cuộc chiến này. Khi phỏng vấn các nhân chứng, một bên từng hoạt động trong Việt Minh, hay chỉ là dân thường thời đó, một bên là các cựu chiến binh Pháp, chúng tôi nhận thấy quan điểm của họ rất đa dạng. Đây cũng chính là một trong những lý do thúc giục chúng tôi thực hiện cuộc triển lãm này. Qua đó, chúng tôi muốn phản ánh những cách nhìn khác biệt về chiến tranh Đông Dương, một cuộc chiến hoàn toàn bị quên lãng tại Pháp”.
            Sau triển lãm tại đại học Paris 7, Hội sẽ tiếp tục mang triển lãm tới Maison des Initiatives Etudiantes, do thành phố Paris quản lý, bắt đầu từ ngày 29/4 tại quận 13 ở Paris và sau đó là tại đại học Paris 1. Họ cũng hy vọng có thể triển lãm tại tòa thị chính quận 13 ở Paris, và một ngày nào đó, có thể ở Việt Nam.


THU HẰNG
Tháng 4/2015


http://vi.rfi.fr/phap/20150410-%C2%AB-dong-duong-nhung-cai-nhin-da-chieu-%E2%80%93-mot-cuoc-chien-roi-vao-quen-lang-%C2%BB

 
The following users thanked this post: ĐồNghệ