Tác giả Chủ đề: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam  (Đã xem 7653 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi hoangnguyen

Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« vào: 01/10/2012, 10:56:20 »
Được sự ủng hộ của quan bác Thoong, một chuyên gia nghiên cứu, sưu tập về các loại báo chí Phật giáo, nên tôi muốn mở 1 đề mục riêng về báo chí Phật giáo VN để các bác có tư liệu, sách vở , bài viết gì thì xin đăng lên, đây cũng là 1 mảng khá lý thú, và là 1 sân chơi bổ ích cho các bác thích sưu tập về mảng báo chí nói chung và báo PG nói riêng.

Các bác nào sưu tập được 2q tạp chí Pháp Âm, và Phật hóa Tân thanh niên- 2 số báo đầu tiên của Phật giáo Việt Nam chỉ ra 1 số rồi bị đình bản với những lí do khác nhau, hoặc những tờ báo Phật giáo trong thời kì đầu thì xin up giúp hình lên nhé.

Sơ lược về Báo chí PG Việt Nam 1920 -1951

Báo chí Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam, được gợi hứng từ phong trào chấn hưng Phật giáo thế giới và trong điều kiện nền văn học báo chí quốc ngữ đã có những phát triển nhất định. Vì báo chí Phật giáo là một trong những phương tiện quan trọng làm lan tỏa tư tưởng chấn hưng Phật giáo, do đó, sự phát triển báo chí Phật giáo Việt Nam gắn liền với diễn trình chấn hưng Phật giáo tại Việt Nam. Trong lúc phục vụ cho việc đẩy mạnh phong trào chấn hưng Phật giáo, báo chí Phật giáo Việt Nam còn thực hiện nhiệm vụ hoằng pháp, xây dựng nền văn học Phật giáo trong văn học chữ quốc ngữ, bảo tồn di sản văn hóa cổ Việt Nam vì phần lớn nền văn hóa đó mang nội dung Phật giáo.

I. Báo chí Phật giáo Việt Nam từ thập niên 1920 đến năm 1945

Vào năm 1920, hoạt động báo chí ở Việt Nam đã khởi sắc, Khắp Bắc Trung Nam đều đã có những tờ báo Việt ngữ được phổ biến rộng rãi; có những tờ báo gây ảnh hưởng đến cả nước như Đông Dương tạp chí và Nam Phong tạp chí. Trong thập niên này, nhiều tờ báo mới ra đời có sức lan tỏa mạnh mẽ như Đông Pháp thời báo và An Nam tạp chí ở miền Bắc hoặc Tiếng Dân ở miền Trung. Hoạt động báo chí giúp cho quần chúng nhân dân tiếp cận với tin tức bên ngoài. Tuy nhiên, đầu mối tiếp xúc với học thuật tư tưởng thế giới trong giai đoạn này vẫn là ở miền Nam, vì miền Nam là xứ thuộc địa, được hưởng nhiều quy chế rộng rãi về mọi mặt. Chính vì vậy, tác động của phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc do Đại sư Thái Hư vận động đã đến với miền Nam trước tiên.

Những tờ báo Phật giáo đầu tiên với Nam kỳ Nghiên cứu Phật học hội

1. Pháp Âm là tờ tạp chí Phật học đầu tiên được in ra ở nước ta, do sư Khánh Hòa ( quê ở Bến Tre) làm chủ nhiệm, có trụ sở ở chùa Xoài Hột Mỹ Tho, phát hành số đầu tiên ngày 31-8-1929. Pháp Âm chỉ ra được một số duy nhất thì đình bản. Ngay sau đó, Sư Thiện Chiếu vận động thành lập một tạp chí khác lấy tên là Phật hóa Tân Thanh niên nhắm tới giới thanh niên trí thức. Phật hóa Tân Thanh niên cũng chỉ ra được có một số, có lẽ phát hành trong khoảng tháng 9 hay tháng 10-1929.

Trong lúc xúc tiến xây dựng Thích Học đường và Phật học Thư xã thì Sư Khánh Hòa cùng các những người đồng tâm quyết định thành lập hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học. Giấy phép hoạt động của hội được chính quyền Nam kỳ ban hành tháng 8 năm 1931. Hội do Hòa thượng Từ Phong cùa Giác Hải làm Chánh Hội trưởng, Hòa thượng Khánh Hòa làm Phó nhất Hội trưởng và là Chủ nhiệm Tạp chí Từ Bi Âm, là cơ quan ngôn luận của Hội. Từ Bi Âm  là một bán nguyệt san, mỗi tháng ra hai kỳ vào ngày 1 và 15, có nội dung phong phú với nhiều người viết có uy tín như các Hòa thượng Bích Liên và Liên Tôn . Từ Bi Âm hoạt động đến tháng 8 năm 1945, phát hành được trên 200 số mới đình bản; tuy nhiên, từ khi một số cao tăng trong Hội Nam kỳ Nghiên cứu Phật học rút lui vào năm 1933 và Hòa thượng Khánh Hòa không còn làm chủ nhiệm nữa thì phẩm chất của Từ Bi Âm kém hẳn.

2. Nguyệt san Viên Âm với An Nam Phật học hội

Sự có mặt của nguyệt san Viên Âm gán với hoạt động chấn hưng Phật giáo ở Trung kỳ khởi phát từ những nỗ lực của Hòa thượng Thích Giác Tiên cùng với một vị tục gia đệ tử của ngài là cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám.

Viên Âm là một tạp chí ra hàng tháng do bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám làm chủ bút, số đầu tiên phát hành ngày 1-12-1933. Viên Âm phát hành liên tục đến số 36 ra ngày 1-11-1936 thì đình bản. Sau đó, Viên Âm đình bản và tục bản nhiều lần và số cuối cùng là số 63 phát hành vào tháng 8-1943.

Là cơ quan ngôn luận chính của chư sơn môn Trung kỳ và An Nam Phật học hội, Viên Âm quy tụ những cây bút sắc sảo sử dụng tiếng Việt nhuần nhuyễn đưa ra những luận cứ sắc bén và đặc biệt là có những chương trình thiết thực. Vì sơn môn Trung kỳ rất quan tâm đến việc đào tạo tăng tài nên trong các số báo phát hành vào tháng Bảy 1934, tháng giêng 1935 và tháng Ba 1935,  Viên Âm đã đăng tải chi tiết những chương trình Phật học đề nghị được áp dụng tại các trường đào tạo Tăng Ni thuộc chư sơn môn Trung kỳ. Bên cạnh đó, Viên Âm còn nêu lên nhu cầu chỉnh lý Tăng sĩ với  chương trình hai điểm:

 - Thành lập một hội đồng luật sư gồm có những bậc tăng già tinh thông giới luật để giám sát giới hạnh của tăng chúng.

 - Tổ chức những ban thầy cúng gồm có những người biết tán, tụng, cầu an, cầu siêu va hướng dẫn tang lễ. (Viên Âm số 14, tháng Ba 1935).

Từ đầu năm 1942, Bác sĩ Lê Đình Thám giao tờ Viên Âm lại cho đoàn Thanh niên Phật học Đức dục biên soạn. Viên Âm trở thành một tờ báo trẻ trung, thu hút giới thanh niên. Rất nhiều đoàn viên của Đoàn Phật Học Đức Dục đã đóng góp bài cho Viên Âm: Lê Hữu Hoài, Phạm Hữu Bình, Lê Bối, Trần Đỗ Cung, Ngô Điền, Nguyễn Năng Viên, Nguyễn Hữu Quán, Võ Đình Cường, Đinh Văn Vinh, Hoàng Kim Hải, Trực Hiên, Hà Thị Hoài, Nguyễn Khải, Ngô Đồi.

3. Đuốc Tuệ và Tiếng Chuông Sớm với Bắc kỳ Phật giáo hội

Sư Trí Hải biết một số cư sĩ hữu danh cũng đang quan tâm đến việc chấn hưng Phật học, ông tìm đến và kết giao với các vị như Lê Toại, Trần Văn Giác, Vũ Đình Chung và nhất là Nguyễn Hữu Kha tức Thiều Chửu. Cuối năm 1932, cùng với các sư Thích Thái Hòa, Thích Hải Châu và bốn vị cư sĩ nói trên, Sư Trí Hải mở một Phật học tùng thư với chủ trương dịch kinh sách Phật giáo bằng chữ Hán ra chữ quốc ngữ để dễ phổ biến tư tưởng nhà Phật. Phật học tùng thư phải đặt trụ sở ở chùa Mai Xá, Hà Nam, xa trung tâm văn hóa Bắc kỳ là Hà Nội, nhưng vẫn thu hút được một số học giả, nhà văn, nhà báo có quan tâm. Tháng 11 năm 1934, Bắc kỳ Phật giáo hội được thành lập; ông Nguyễn Năng Quốc nguyên là Tổng đốc Hà Nội làm Hội trưởng; Hội mời một vị Hội viên Thống sứ  Bắc kỳ là ông Auguste Tholance làm Hội trưởng danh dự, lại mời ông George Coedès, giám đốc trường Viễn đông Bác cổ  làm Hội viên danh dự. Sau đó, Hội cung thỉnh Hòa thượng Thích Thanh Hanh làm Thiền gia Pháp chủ.   

Sau khi Bắc kỳ Phật học hội chính thức thành lập, Hội mời ông Trần Trọng Kim làm Trưởng ban Khảo cứu Phật học với thành phần gồm toàn các học giả có tên tuổi. Hội cho xuất bản tập Kỷ yếu để ghi nhận các hoạt động và đến 10-12-1935 thì cho phát hành số đầu tiên của tuần báo Đuốc Tuệ, cơ quan ngôn luận chính thức của Hội, thay thế cho tờ Kỷ yếu đã ra được số thứ tư.

Trong lúc tuần báo Đuốc Tuệ còn đang chuẩn bị ra mắt thì Thiền sư Đỗ Văn Hỷ trú trì chùa Linh Quang đã cho phát hành số đầu tiên của tờ Tiếng Chuông Sớm vào ngày 15-6-1935 do chính ngài làm Chủ nhiệm, thiền sư Thanh Tường trú trì chùa Trầm ở Hà Đông  và chùa Vũ Thạch ở Hà Nội làm quản lý. Thiền sư Thanh Tường mời được nhiều vị cao tăng làm cố vấn và nhiều danh sĩ viết bài cho Tiếng Chuông Sớm. Số ra mắt của bán nguyệt san Tiếng Chuông Sớm đăng bài Tình Hình Phật Giáo Trong Nước của ký giả H.S. nhắc đến công trình chấn hưng Phật giáo ở Nam Kỳ và Trung Kỳ và sự thành lập hội Bắc Kỳ Phật Giáo tại chùa Quán Sứ có ý mỉa mai, "Hiện nay nhờ thế lực của các quan đại thần và của các bậc thượng lưu, hội đã lan ra hầu khắp Bắc Kỳ, đâu đâu cũng có chi bộ, lại được tổ Vĩnh Nghiêm, một vị trưởng lão trong Tùng Lâm Bắc Kỳ chủ trương mọi việc ở Hội Chính. Tiếng Chuông Sớm này do Cổ Sơn Môn HồngPhúc và Bà Đá cũng xin góp phần phục vụ..." đã gây được tiếng vang trong giới Phật học khiến Bắc kỳ Phật học hội không vui.

Tuy nhiên, ngài Thanh Hanh mặc dù tuổi đã rất cao, đã khéo léo hòa giải khiến các dị biệt lần lần được thay chỗ cho tinh thần cộng tác. Khi tuần báo Đuốc Tuệ phát hành số ra mắt vào ngày 10-12-1935 thì sau đó, Tiếng Chuông sớm số 14 ra ngày 26-12-1935 ngỏ lời chào mừng và đăng bài thể hiện sự hòa giải.  Do đó, khi Hòa thượng Thanh Hanh viên tịch, Bắc kỳ Phật giáo hội đã cung thỉnh Hòa thượng Thanh Tường làm đệ nhị Thiền gia Pháp chủ và được ngài vui vẻ nhận lời. Tiếng Chuông Sớm cũng chỉ phát hành được 24 số, đình bản vào cuối tháng 5-1936.

Tuy ra đời sau, nhưng Đuốc Tuệ được coi là tạp chí Phật giáo có những đóng góp lớn lao trong việc hoằng dương Phật pháp về nhiều mặt. Trước hết, Đuốc Tuệ có được sự trợ giúp từ ban Khảo cứu Phật học của Hội do Lệ Thần Trần Trọng Kim làm trưởng ban quy tụ được rất nhiều học giả có tên tuổi và có thực tài như Sở Cuồng Lê Dư, Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha…Thứ nữa, với uy tín của vị Tổng đốc đã trí sĩ làm Chủ nhiệm, tờ báo được mọi giới độc giả ủng hộ. Nhờ vậy, suốt 10 năm hoạt động, Đuốc Tuệ đã mang lại nhiều công trình có giá trị về các mặt khảo cứu, dịch thuật, sáng tác văn học . Mối quan hệ chặt chẽ giữa Đuốc Tuệ với Trường Viễn đông Bác cổ cũng giúp Đuốc Tuệ góp phần quan trọng trong việc đưa ra những tác phẩm văn học cổ của Phật giáo Việt Nam. Đuốc Tuệ xuất bản liên tục suốt từ khi phát hành số đầu tiên đến ngày 15-8-1945 mới đình bản, ra được 258 số. Trong số những người đóng góp tích cực cho giá trị của tuần báo Đuốc Tuệ, người ta phải luôn nhắc đến cư sĩ Thiều Chửu.  Khi Trần Trọng Kim được người Nhật đưa đi Singapore để chuẩn bị việc lật đổ Pháp ở Đông Dương,  cư sĩ Thiều Chửu. là người thay cụ Trần Trọng Kim làm Trưởng ban biên tập tuần báo Đuốc Tuệ.

Những tờ báo Phật giáo hưởng ứng phong trào

Ngoài những tờ báo mang tính là cơ quan ngôn luận chính thức của phong trào chấn hưng Phật giáo ở ba kỳ như đã duyệt qua ở các phần trên, trong thời gian từ lúc phong trào khởi phát đến ngày 19-8-1945, cũng đã có một số tạp chí xuất hiện, góp thêm tiếng nói vào việc vận động chấn hưng Phật giáo.

1. Tạp chí Duy Tâm Phật học với Lưỡng Xuyên Phật học hội

Ngài Khánh Hòa rút về chùa Long Hòa ở Tiều Cần, Trà Vinh và tổ chức một Phật học đường lưu động lấy tên là Liên đoàn Phật học xã, mời các ngài Huệ Quang, Khánh Anh, Chánh Tâm và Pháp Hải đảm nhận việc giảng dạy, Khóa đầu mở tại chùa Long Hòa thu nhận năm mươi học tăng, các khóa kế tiếp mở tại chùa Thiên Phước ở Trà Ôn và chùa Viên Giác ở Bến Tre. Sau đó, vì thiếu tài chánh, lớp Phật học này tan rã. Ngài Khánh Hòa bèn tổ chức Lưỡng Xuyên Phật học hội tại Trà Vinh, lưỡng xuyên là chỉ hai con sông, Tiền giang và Hậu giang. Cộng tác với ngài là những vị cư sĩ nhiều đạo tâm đã được chọn lọc kỹ càng. Lưỡng Xuyên Phật học hội ra đời ngày 13-8-1934 thì ngay cuối năm đó Phật học đường Lưỡng Xuyên đã khai giảng được khóa đầu tiên.

Tháng 10 năm 1935, hội cũng cho ra đời Tạp chí Duy Tâm Phật học đặt trụ sở tại Trà Vinh để làm cơ quan hoằng pháp, do Thiền sư Huệ Quang đứng làm chủ nhiệm và bác sĩ Nguyễn Văn Khỏe làm quản lý. Tạp chí Duy Tâm Phật học thường xuyên lên tiếng kêu gọi thành lập một Tổng hội Phật giáo chung cho cả nước. Lưỡng Xuyên Phật học hội có mối quan hệ chặt chẽ với An Nam Phật học hội và sơn môn Thừa Thiên-Huế. Lưỡng Xuyên có gửi các vị học tăng xuất sắc ra thọ học tại Huế; trong số đó có hai vị Thích Thiện Hoa và Thích Thiện Hòa sau này trở thành các nhà lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Duy Tâm Phật học là một tờ báo gây được nhiều uy tín trong giới Phật giáo miền Hậu Giang với các cây bút nổi tiếng như: quý Hòa thượng Lê Khánh Hòa, Huệ Quang, Võ Khánh Anh; các Tỳ kheo: Thích Mật Thể, Trần Huỳnh, Việt Liên Tử, Trần Văn Giác, Nguyễn Văn Khỏe… Duy Tâm Phật học số 53-54 là số cuối cũng ra ngày 6/7/1943 thì đình bản vì không có giấy in. Có thể nói Duy Tâm là tờ báo duy nhất của Phật giáo Nam kỳ đã có những đóng góp xứng đáng cho việc truyền bá Phật pháp.  Cụ thể là Duy Tâm đã hỗ trợ cho Lưỡng Xuyên Phật học hội đào tạo nhiều tăng tài cho các thế hệ sau.

2. Tạp chí Tiến Hóa với Phật giáo Kiêm tế hội

Về phần Sư Thiện Chiếu, sau khi Phật hóa Tân Thanh niên đình bản, ông về Rạch Giá tìm gặp Thiền sư Thích Trí Thiền là một vị cũng từng công tác với thiền sư Khánh Hòa, đề nghị thành lập một tổ chức Phật giáo tiến bộ hơn. Hai vị hô hào được một số người đồng tâm, lập ra Phật giáo Kiêm tế hội lấy chùa Tam Bảo ở làng Vĩnh Thanh Vân làm trụ sở. Hội được phép hoạt động vào năm 1936 và đến năm 1938 thì cho xuất bản Tạp chí Tiến Hóa để làm phương tiện tuyên truyền. Tạp chí Tiến Hóa là một bán nguyệt san do ông Đỗ Kiết Triệu làm chủ nhiệm và ông Phan Thanh Hà làm chủ bút, Sư Thiện Chiếu chỉ đứng sau điều hành. Báo ra số đầu tiên vào ngày 1-1-1938 đến tháng 7-1939 thì phải đình bản nhưng cũng chỉ phát hành được 15 số cho thấy Tiến Hóa có khó khăn trong hoạt động. Ngay từ đầu, Tiến Hóa tuyên bố không chỉ tuyên truyền cho nền giáo lý Phật học mà còn tuyên truyền cho “bất cứ học thuyết nào có đủ phương pháp làm cho chúng sanh hết khổ được vui,” cho thấy Tiến Hóa không phải là một tạp chí thuần túy Phật giáo. Quả nhiên, Tiến Hóa đưa ra nhiều quan niệm táo bạo về việc cải cách Phật giáo, phê bình lối “đầu tròn áo vuông” trong hình tướng của người xuất gia, nhận định rằng Đức Phật chỉ là bậc “sáng suốt hoàn toàn” trong thời đại của Ngài mà thôi; ngày nay, cái biết của nhân loại đã trở nên rộng lớn, phải nắm hết cái biết ngày nay mới có thể gọi là Phật. Tiến Hóa cũng ca ngợi tinh thần vô úy của các tăng sĩ Trung Quốc gia nhập quân đội kháng Nhật và kêu gọi Phật tử Việt Nam cũng phải hăng hái nhập thế trong tinh thần ấy. 

Các nhà nghiên cứu cho rằng nội dung Tiến Hóa phản ánh quan điểm của sư Thiện Chiếu là chính. Có lẽ sư Thiện Chiếu chịu ảnh hưởng tư tưởng ban đầu của Đại sư Thái Hư, và khi đã chấp nhận ảnh hưởng đó, ông vạch cho mình một con đường thẳng. Ông cũng không theo dõi để thấy rằng từ sau thập niên 1920, chính đại sư Thái Hư đã nhìn nhận có lúc mình quá cực đoan và đã trở lại với trung đạo của nhà Phật. Do gốc rễ Phật học của các nhà lý thuyết trong nhóm Phật giáo Kiêm tế chưa sâu vững, Tiến Hóa không đóng góp được bao nhiêu cho việc chấn hưng Phật giáo.

 3. Tạp chí Pháp Âm với Hội Tịnh độ Cư sĩ

Hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật học, ở Nam kỳ còn xuất hiện Hội Tịnh độ Cư sĩ là một tổ chức của các cư sĩ, tôn một vị tu sĩ là ngài Minh Trí làm Tông sư, được thành lập ở Chợ lớn vào năm 1934. Hội này chủ trương Phật giáo nhập thế, phước huệ song tu, sử dụng y thuật làm phương tiện cứu nhân độ thế, do đó, mọi tín đồ đều cần phải biết về đông y và cách sử dụng thuốc nam. Hội cho xuất bản một tạp chí là Pháp Âm làm phương tiện truyền bá. Tạp chí Pháp Âm cũng có tính cách cực đoan. Vì hội viên đều là cư sĩ nên Hội cũng đả phá hình tướng của giới tu sĩ. Về lý luận, Pháp Âm kêu gọi thủ tiêu hết các chế độ tài sản tư hữu mới có thể tạo được tinh thần vô ngã của nhà Phật một cách hữu hiệu. Tạp chí Pháp Âm là một nguyệt san, xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 1-1937 và đình bản vào tháng 9-1938,  phát hành được 16 số. 

Về phương diện Phật học, Pháp Âm không đóng góp được gì nhiều, nhưng Hội Tịnh độ Cư sĩ vẫn phát triển và các chùa Tịnh độ Cư sĩ đều có phòng thuốc nam miễn phí để giúp đỡ quần chúng.

Các Tạp chí và cơ sở xuất bản khác

Ngoài những tạp chí có gây được tiếng vang như trên,  tất cả đều là cơ quan ngôn luận của một hội đoàn Phật học, có mặt trong thời kỳ chấn hưng Phật giáo còn có một số tạp chí khác nhưng đều không tồn tại lâu dài và không tạo được ảnh hưởng gì đáng kể.

1 Tam Bảo tạp chí và Đà thành Phật học
Sau khi rời khỏi tạp chí Từ Bi Âm, hai vị Bích Liên và Liên Tôn trở về Bình định. Khoảng năm 1936, hội Đà thành Phật học ra đời ở Đà Nẵng, xuất bản tạp chí Tam Bảo, ngài Bích Liên có về đó làm chủ bút. Do văn tài và thực học của ngài Bích Liên, tạp chí Tam Bảo cũng được nhiều người nhắc đến, nhưng tiếc rằng tạp chí Tam Bảo chỉ phát hành được 8 số thì đình bản, từ 15-1-1937 đến 1-5-1939

2. Tạp chí Bát Nhã Âm và Thiên Thai Thiền Giáo tông   
Năm 1931, ngài Huệ Đăng chùa Thiên Thai ở Bà Rịa xướng lập Thiên Thai Thiền Giáo tông và một tổ chức cư sĩ gọi là Thiện hữu hội. Ngài cho ra đời tạp chí Bát Nhã Âm làm cơ quan ngôn luận. Bát Nhã Âm phát hành số đầu tiên ngày 15-3-1936 đến  tháng 5-1936 được 3 số thì tạm đình bản. Sau đó, trong các năm 1937 và 1943, mỗi năm có xuất bản một tập Bát Nhã Âm.

3. Niết Bàn Tạp chí và Hội Thông thiên học
Tại Sài Gòn, vào tháng 10-1933, có xuất hiện một tạp chí mỗi tháng ra hai kỳ gọi là Niết Bàn tạp chí do một cư sĩ là Nguyễn Văn Lượng quản lý. Đây là một tạp chí phổ biến giáo lý của Hội Thông thiên học, một tổ chức nghiên cứu về tộn giáo toàn cầu do Helena Blavatsky và Henry Steel Olcott thành lập ở Hoa Kỳ. Tạp chí này phát hành từ 1933 đến 1938 được 93 số. Tuy nhiên, đây không phải là một tạp chí Phật học thuần túy. Sau này, Cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền  từng làm Phó Hội trưởng Hội thông thiên học Sài Gòn trong thời gian từ 1951 đến 1955.

4. Bồ Đề Tạp chí và Hội Phật giáo Tương tế
Cũng khoảng năm 1934, tại chùa Thiên Phước ở Sóc Trăng, vị trụ trì là Lê Phước Chí xướng lập một hội Phật giáo Tương tế. Hội này cũng xuất bản một tạp chí lấy tên là Bồ Đề đặt trụ sở tại Sóc Trăng, số đầu tiên ra ngày 15-8-1936 và sau khi ra số kế tiếp ngày 15-9-1936 thì đình bản.


5. Phật học tùng thư
Khoảng 1932, tại Sài Gòn, có một nhà xuất bản chuyên ấn hành sách báo Phật giáo lấy tên là Phật học Tùng thư, do Đoàn Trung Còn sáng lập. Đoàn Trung Còn là một vị cư sĩ quê ở Vũng Tàu xuất thân trong một gia đình có truyền thống nho học và có tín ngưỡng Phật giáo, lên Sài Gòn học Trung học nên thông thạo chữ Pháp nhưng sau khi thôi học ông tự học chữ Hán chuyên tâm nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Ngoài việc nghiên cứu kinh điển để tự tu thân, ông nghĩ đến việc truyền bá kinh bằng quốc ngữ giúp mọi người biết điều hay lẽ thiệt. Do đó, ông đã dịch kinh, hoặc từ sách tiếng Pháp, hoặc từ sách chữ Hán, và thành lập Phật học tùng thư để tự phổ biến. Trong số hơn 40 tác phẩm đã phổ biến, ông có soạn bộ Phật học từ điển rất công phu. Về sau, ông cùng các sư trong phái Lục hòa tăng thành lập Tịnh độ tông Việt Nam.

II. Báo chí Phật giáo Việt Nam từ 1945 đến 1951

Sau cách mạng tháng Tám 1945, phong trào chấn hưng Phật giáo Việt Nam đi vào một bước ngoặt mới báo chí Phật giáo cũng đã có những chuyển biến mạnh mẽ. 

Từ Nam ra Bắc, Phật tử đủ các giới đều tham gia Cách Mạng. Các đoàn thể Tăng Già Cứu Quốc và Phật Giáo Cứu Quốc được thành lập khắp nơi. Báo Đuốc Tuệ kêu gọi “Tăng Ni các hạt mau mau lập đoàn Tăng-già Cứu Quốc, theo mục đích mà tham gia vào công cuộc cách mạng hiện thời”. Bìa sau tờ báo này đăng những khẩu hiệu và những lời kêu gọi như sau:

Ủng hộ chính quyền Nhân dân
Mau mau gia nhập Đội Quân Giải Phóng Việt Nam!
Chống mọi cuộc xâm lăng!
Việt Nam Độc Lập Hoàn Toàn!.....

Số báo nói trên là số báo cuối cùng của tạp chí Đuốc Tuệ, số 257-258 ra ngày 15.8.1945. những tạp chí khác ở Trung và ở Nam cũng đều nhất loạt đình bản. Quần chúng Phật tử trong nước chấp nhận sự đình trệ của công việc hoằng pháp để tham dự hết lòng vào việc nước. Guồng máy hoạt động của các Sơn Môn và các hội Phật giáo từ cấp trung ương đến cấp xã đều được coi như tạm thời ngưng hoạt động

Vào năm 1946,ở Huế, đoàn Phật Học Đức Dục, với sự giúp đỡ của thiền sư Mật Thể và một số các tăng sĩ và cư sĩ khác, quyết định cho ra một tạp chí Phật học lấy tên là Giải Thoát với chủ ý kêu gọi người Phật tử thích nghi với nếp sống cách mạng. Tiêu đề của báo ghi: Giải Thoát -  cơ quan nghiên cứu và áp dụng đạo Phật vào đời sống mới.

Tại Hà Nội, các thiền sư Trí Hải, Tố Liên và Thái Hòa cùng một số đồng chí cũng cho xuất bản tạp chí Tinh Tiến. Cũng như Giải Thoát, Tinh Tiến nỗ lực phục vụ cùng một lúc phong trào cách mạng và phong trào Phật giáo. Tuy vậy cả hai tờ đều chết yểu. Giải Thoát ra được chín số, còn Tinh Tiến ra được mười số.

Vào năm 1947, tại các vùng hồi cư,  điều kiện đã có đủ cho sự tạo dựng lại cơ sở Phật học. Khắp nơi tăng sĩ và cư sĩ tìm về với nhau để tổ chức lại sự tu học. Một số Phật học đường được mở cửa và các tổ chức tăng già và cư sĩ được tái lập. Công việc Phật sự tiến hành rất mau chóng bởi vì quần chúng Phật tử đi chùa và tham dự Phật sự rất đông đảo.

1. Nguyệt san Phương Tiện và tạp chí Bồ Đề Tân Thanh với Giáo hội Tăng già Bắc Việt và Hội Việt Nam Phật giáo Bắc Việt

Do tình thế đòi hỏi, cuối tháng 2-1947, Hoà thượng Tố Liên thành lập Liên đoàn Tăng Ni nội ngoại thành để giải quyết việc hồi cư Hà Nội của Tăng Ni. Sau đó, tổ chức này đổi thành Hội Chỉnh lý Tăng già Bắc Việt, chủ yếu để làm việc với chính quyền đòi lại chùa chiền và  những cơ sở của Phật giáo đã bị chiếm giữ trong lúc tản cư. Trụ sở của Hội đặt ở chùa Quán Sứ.

Hội cho xuất bản nguyệt san  Phương Tiện và tạp chí Bồ Đề Tân Thanh làm cơ quan hoằng pháp. Ngày 22-9-1949 Hội khai giảng trường Tăng ở chùa Quán Sứ rồi đến 26-9-1949 lại mở trường Ni ở chùa Vân Hồ. Cùng trong thời gian này, Hội Việt nam Phật giáo Bắc Việt ra đời, là một hội của cư sĩ.  Vào năm 1950, Hội Chỉnh lý Tăng già Bắc Việt đổi tên là Giáo hội Tăng già Bắc Việt, suy cử ngài Mật Ứng làm Thiền gia Pháp chủ.

2. Tạp chí Giác Ngộ với Sơn môn Tăng già Trung Việt và Hội Việt Nam Phật học

Trong năm 1947, Phật học đường Báo Quốc được mở cửa trở lại. Hội Việt Nam Phật học cũng được thành lập thay cho An Nam Phật học hội. Tổ chức “Sơn môn Tăng già Trung Việt” được thành lập trước hết tại Thừa Thiên rồi lan dần ra các tỉnh. Sơn môn cung thỉnh ngài Thích Tịnh Khiết làm Tùng lâm Pháp chủ.  Về phương diện báo chí, một tạp chí Phật học được xuất bản, lấy tên là Giác Ngộ, do một số thanh niên tăng sĩ và cư sĩ chủ trương, trong đó có Võ Đình Cường, Cao Khả Chính, Trương Tú, Trịnh Tiên, Phạm Đăng Trí và Trúc Diệp v.v… Sau đó, tờ Viên Âm được tục bản với sự chăm sóc của thiền sư Trí Quang, làm cơ quan ngôn luận chính thức của hội Việt Nam Phật Học.

3. Tạp chí Từ Quang với Giáo hội Tăng già Nam Việt và Hội Phật học Nam Việt
Tại Nam Phần, nhiều Phật học đường được lập lại ngay từ năm 1946. Đến năm 1950, các Phật học đường hợp nhất thành Phật học đường Nam Việt đặt trụ sở tại chùa Ứng Quang, sau đổi tên thành chùa Ấn Quang. Trong số những người ủng hộ việc thành lập Phật học đường Nam Việt, có cư sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền vận động thành lập hội Phật Học Nam Việt, ra đời ngày 25.2.1951 tại Sài Gòn. Hội cho xuất bản tạp chí Từ Quang làm cơ quan ngôn luận chính.

Ngày 5.6.1951 một cuộc đại hội của chư tăng tại chùa Hưng Long đã đi đến sự thành lập Giáo Hội Tăng Già Nam Việt, trụ sở đặt tại chùa Ấn Quang. Thiền sư Đạt Từ làm trị sự trưởng của Giáo Hội và thiền sư Nhật Liên đảm nhận trách vụ tổng thư ký. Thiền sư Đạt Thanh (chùa Giác Ngộ) được suy tôn làm pháp chủ lâm thời.

Nhận định về thành tưu bước đầu của báo chí PGVN


Hoạt động báo chí Phật giáo đã làm phong trào chấn hưng Phật giáo trở nên sôi nổi hơn và nung nấu trong tâm tưởng mọi Tăng Ni, cư sĩ và Phật tử một ý thức về sự thống nhất Phật giáo trên cả nước. Khi Phật Tăng Ni Phật tử của mỗi miền đã quy tụ vào một tổ chức Tăng-già và một tổ chức cư sĩ của miền đó thì cơ duyên của việc thống nhất Phật giáo toàn quốc đã tới. Đây chính là một thành quả của phong trào chấn hưng Phật giáo Việt nam mà báo chí Phật giáo Việt Nam có những đóng góp hết sức quan trọng.
 
Năm 1950, Hoà thượng Tố Liên được ủy nhiệm gặp chư tôn đức lãnh đạo các hiệp hội Phật giáo miền Trung và miền Nam để bàn chuyện thống nhất Phật giáo trong cả nước. Nhân đó, ngài được ủy nhiệm tham dự Đại hội Hội Phật giáo Liên hữu Thế giới tổ chức tại Colombo với tư cách đại diện Phật giáo Việt Nam. Phật giáo Việt Nam trở thành hội viên sáng lập của tổ chức Phật giáo quốc tế này. Trong đại hội đó, lá cờ năm màu do Henry Steel Olcott vẽ kiểu được công nhận là cờ Phật giáo.

Trong năm 1951, lá cờ Phật giáo đã tung bay trên nền trời Việt Nam lần đầu tiên tại chùa Từ Đàm ở Huế nhân dịp cuộc đại hội Phật giáo toàn quốc được triệu tập từ ngày 6 đến ngày 9-5-1951 (từ mùng 1 đến mùng 4 tháng Tư năm Tân Mão)

Đại hội toàn quốc Phật giáo Việt Nam quy tụ 51 đại biểu gồm Tăng sĩ và cư sĩ tiêu biểu đại diện cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam khắp ba miền Nam Trung Bắc, mỗi miền có một phái đoàn đại diện Tăng-già và một phái đoàn đại diện cư sĩ, đã nhiệt liệt tán thành việc thành lập Tổng Hội Phật giáo Việt Nam. Đại hội cung thỉnh hòa thượng Thích Tịnh Khiết làm Hội chủ và bầu ra một Ban Tổng Trị sự để điều hành Phật sự trên cả nước.     

Kết luận

Báo chí Phật giáo Việt Nam xuất hiện trong bối cảnh cả nước phát động và hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo. Ngoài nhiệm vụ làm công tác hoằng pháp, với sự tích cực của những người làm báo Phật giáo, cuối cùng vào năm 1951, Phật giáo Việt Nam đã thực sự có một bộ mặt thống nhất ban đầu. Có thể khẳng định phong trào chấn hưng Phật giáo với sự góp sức tích cực của báo chí Phật giáo Việt Nam đã hoàn thành được một phần nhiệm vụ tự đảm nhiệm. Tổng Hội Phật giáo Việt Nam sau khi thành lập đã có những hoạt động tích cực về  việc phát triển Phật giáo, lấy tờ nguyệt san Phật giáo Việt Nam làm cơ quan ngôn luận chính thức.

(hoangnguyen tóm tắt từ bài giảng của HT Thích Giác Toàn- Phó tổng biên tập báo Giác Ngộ)
« Sửa lần cuối: 02/10/2012, 07:32:21 gửi bởi hoangnguyen »
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi thichchoisach

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #1 vào: 01/10/2012, 11:05:03 »
Trích dẫn
1. Pháp Âm là tờ tạp chí Phật học đầu tiên được in ra ở nước ta, do sư Khánh Hòa ( quê ở Bến Tre) làm chủ nhiệm, có trụ sở ở chùa Xoài Hột Mỹ Tho, phát hành số đầu tiên ngày 13-8-2009.

Có nhầm lẫn gì ko bác? :d
 
Bảo bối của chúng ta là chiến tranh, là chuyên chính

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #2 vào: 01/10/2012, 11:11:50 »
Có nhầm lẫn gì ko bác? :d

Đúng là typing nhầm rồi Thích sư phụ ơi :d
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #3 vào: 02/10/2012, 08:05:23 »
Tóm tắt 2 tờ báo đầu tiên của PG

Nguyệt san Pháp Âm

1. Chủ nhiệm: HT Khánh Hòa
2. Địa điểm phát hành: Chùa Xoài Hột, còn có tên là Sắc Tứ hay Linh Thứu Mỹ Tho
3. Tôn chỉ: Cổ xúy cho 1 đạo Phật " Từ bi bác ái, tự giác giác tha"
4. Hình thức: 48 trang nội dung, ko tính bìa 1,2,4 khổ 14x20 cm, phát hành 1 tháng 1 lần.
5. Công tác: cây bút chủ lực là HT Khánh Hòa, có sự cộng tác của Sư THiện Chiếu, Nguyễn Khoa Tùng, TH Bích Liên ( Bình Định), Hoàng Phi Long
6. Chuẩn bị từ tháng 3/1929, xuất bản ngày 31/08/1929
7. Mã số lưu trữ VBC02001 ( Thư viện Huệ Quang HCM- 116 Hòa Bình, P.Hòa Thạnh, Q. Tân Phú, TP. HCM)
8. Nội dung: gồm 9 mục

- Mấy lời bày tỏ ( thư tòa soạn)
- Bàn về Phật học
- Phật giả
- Tự trần
- Những điều cần thiết cho người tại gia tín ngưỡng Phật giáo
- PG luân lý học
- Ai tri âm đó biết cho ai
- Văn uyễn (thi ca)
- Hành trình Nhật kí

9. Lý do đình bản: yếu tố chính trị liên quan đến tờ Dân Cày của  tiếng nói của Tỉnh Đảng bộ Mỹ Tho cũng đặt trụ sở tại chùa Sắc tứ Linh Thứu ( Xoài Hột)

Phật Hóa Tân Thanh niên

Là tờ báo tiếp sức cho nguyệt san Pháp Âm

1. Chủ nhiệm: Sư Thiện Chiếu
2. Địa điểm phát hành: Chùa Chúc Thọ, xóm Thuốc, xã Hạnh Thông, Gò Vấp (Gia Định)", in tại nhà in Thạnh Mậu
3. Tôn chỉ: Thể hiện tinh thần của giới tăng sĩ trẻ cấp tiến với phong trào chấn hưng Phật giáo, mục đích gây cái nền chánh tín cho dân tộc nào ưa cái chủ nghĩa hòa bình và muốn cái hạnh phúc sanh tồn trên thế giới.
4. Hình thức: 49 trang nội dung, ko tính bìa và trang yếu mục, khổ 14x20cm
5. Cộng tác: Chỉ có một người viết là Sư Thiện Chiếu
6. Chuẩn bị: xuất bản vào cuối năm 1929
7. Mã số lưu trữ: Không có
8. Nội dung

- Ai là người lo đời, thương đời, muốn làm việc cho đời?
- Nước ta ngày nay cần phải chấn hưng Phật giáo
- Kính cáo các Sư cụ, tín đồ
- Nhập học vấn đáp

9. Lí do đình bản: tài chính

Tôi sẽ cố gắng kiếm để up hình cho 2 tờ báo này, tờ Pháp Âm thì có lưu trữ tại thư viện Huệ Quang, nhưng tờ Phật hóa tân thanh niên thì biệt tích giang hồ??

*** Tham khảo bài giảng của Đại đức Thích Tâm Hải- Giảng viên môn LS BC PG VN tại HVPG TP. HCM
« Sửa lần cuối: 29/10/2012, 07:46:19 gửi bởi hoangnguyen »
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #4 vào: 05/10/2012, 09:13:26 »


Số đầu tiên và cũng là số cuối cùng, giống như tự do đầu tiên và cuối cùng của 1 tờ báo cũng như tâm huyết của 1 vị sư ( Khánh Hòa) khai sinh ra nó.

Tuy ra chỉ được một số, nhưng sự có mặt của nguyệt san Pháp Âm có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với phong trào chấn hưng Phật giáo, đối với Phật giáo Việt Nam và lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam.

Lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo VN tờ báo in (dùng chữ viết quốc ngữ latin), dành toàn nội dung thông tin về các vấn đề Phật học, tín ngưỡng; phê bình, bày tỏ thái độ về các vấn đề Phật giáo trước công luận; đề xuất hướng điều chỉnh nhận thức và hành động để xây dựng một nền Phật giáo phù hợp với nhân sinh, thời đại. Những nội dung về chấn hưng Phật giáo được đặt ra trong các bài viết của HT.Khánh Hoà là nền tảng, mục tiêu cho phong trào chấn hưng, cho sự điều chỉnh và phát triển Phật giáo, ảnh hưởng lâu dài sau đó.
Pháp Âm là cột mốc, là điểm khởi đầu của lịch sử báo chí Phật giáo Việt Nam.
« Sửa lần cuối: 05/10/2012, 09:17:04 gửi bởi hoangnguyen »
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #5 vào: 05/10/2012, 09:56:44 »
Hai nội dung của Pháp Âm

HT. Khánh Hòa và nội dung tờ Pháp Âm





« Sửa lần cuối: 05/10/2012, 17:40:20 gửi bởi hoangnguyen »
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #6 vào: 05/10/2012, 17:43:20 »
Các nội dung còn lại trên tờ Pháp Âm

 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi Cụ đồ

  • *******
  • Bài viết: 3,789
  • Đánh giá: +0/-0
  • Thà làm mọt sách chứ quyết không để mọt ăn sách
Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #7 vào: 05/10/2012, 18:04:16 »
Cảm ơn bác Hoàng về nội dung thông tin tạp chí PG. Nếu đc bản photo tờ Pháp Âm này thì hay quá. ^:)^
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #8 vào: 05/10/2012, 20:16:16 »
Cảm ơn bác Hoàng về nội dung thông tin tạp chí PG. Nếu đc bản photo tờ Pháp Âm này thì hay quá. ^:)^

Nó được lưu giữ tại thư viện Huệ Quang TP.HCM, chỉ cho chụp mà ko cho photo. Cụ chờ xem quan Thoong hoặc ai trên diễn đàn có thì xin photo lại, cũng hy vọng có người có.

Quan Thoong đang ở miền Bắc. Ngày 7 tháng này sẽ trở về Nha Trang, có hứa sẽ tập trung vào mục này, quan Thoong mới gửi cho tớ bản photo q. Lược khảo báo chí PG VN, in năm 2008 số lượng chỉ có 500 bản, xem cũng biết được rất nhiều thông tin Cụ à.

Có duyên thì trước sau cũng có, Cụ cứ yên tâm
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi Cụ đồ

  • *******
  • Bài viết: 3,789
  • Đánh giá: +0/-0
  • Thà làm mọt sách chứ quyết không để mọt ăn sách
Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #9 vào: 05/10/2012, 20:22:46 »
Nếu đc vậy thì cho tiểu đệ xin bản photo q. Lược khảo PG ( gởi chung với q. PG lúc trước luôn). Thanks :cf
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #10 vào: 05/10/2012, 20:33:12 »
Nếu đc vậy thì cho tiểu đệ xin bản photo q. Lược khảo PG ( gởi chung với q. PG lúc trước luôn). Thanks :cf

Ok Cụ :d
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #11 vào: 09/10/2012, 08:03:49 »
Bối cảnh ra đời của báo chí PG Việt Nam

Báo chí PG Việt Nam ra đời do chịu sự tác động của tình hình trong nước và phong trào chấn hưng PG thế giới.

1. Hoàn cảnh trong nước

Trước khi tiếp xúc với phương Tây, tín ngưỡng của người Việt chỉ gồm Nho, Phật, Đạo và các hình thức thờ phụng cầu cúng dân gian; mà do nhu cầu của việc trị nước kết hợp với cung cách truyền đạo đặc biệt của Phật giáo, Nho, Phật, Đạo cũng đã quyện vào nhau theo tư tưởng Tam giáo đồng nguyên. Vì thế, ngoại trừ một số rất ít những nhà nho cực đoan, có thể nói hầu hết người Việt thời phong kiến đều chịu ảnh hưởng Phật giáo một cách trực tiếp hay gián tiếp. Ngay cả trong những giai đoạn Nho học độc tôn, vua quan cũng vẫn đến chùa như thứ dân.

Dưới triều nhà Nguyễn, chính quyền phong kiến còn có một mối bận tâm mới là việc ngăn chận sự phát triển của Thiên chúa giáo. Do vậy, chẳng có gì lạ khi triều Nguyễn độc tôn Nho học nhưng dưới triều đại này vẫn có nhiều chùa chiền được xây dựng mới; chẳng những hàng quan lại, mà các đại thần, các bậc tôn thất, hoàng gia và ngay cả nhà vua cũng vẫn lui tới chùa chiền.

Vào đầu thế kỷ thứ 20 người Pháp đã đặt xong ách thống trị trên toàn cõi Việt Nam và tổ chức nền quản trị ở ba miền theo ba chế độ khác nhau. Miền Nam là thuộc địa, được đặt dưới sự cai trị trực tiếp của người Pháp. Miền Trung và miền Bắc là xứ bảo hộ, chính quyền người Việt vẫn được duy trì nhưng chỉ để thực thi chính sách của mẫu quốc. Những cuộc kháng chiến chống Pháp giành độc lập bằng vũ lực của các phong trào Cần vương và Văn thân đã bị dẹp tan vào năm 1913.

Bên cạnh việc cai trị hà khắc, người Pháp còn tích cực truyền bá Thiên chúa giáo với hy vọng dùng tôn giáo mới này xóa bỏ truyền thống văn hóa lâu đời của người Việt để duy trì mãi mãi sự thống trị của họ. Một trong những công cụ dùng truyền bá Thiên chúa giáo là chữ quốc ngữ, một cách ký âm tiếng Việt theo mẫu tự Latin mà các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã dày công chế tác suốt từ thế kỷ thứ 16, đến lúc ấy đã hoàn chỉnh. Với công cụ này, người Pháp xóa bỏ việc sử dụng chữ Hán trong hành chánh, mở rộng việc xuất bản báo chí để làm phương tiện tuyên truyền. Tờ báo quốc ngữ đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam là Gia Định báo được xuất bản vào năm 1865, không lâu sau khi người Pháp chiếm Nam kỳ.

Ban đầu, đa phần người Việt chống đối dùng chữ quốc ngữ, nhưng khi phải tìm phương kế khác sau sự thất bại trong việc giành độc lập bằng vũ lực, người Việt đã nhận thấy chữ quốc ngữ và báo chí quốc ngữ cũng là một phương tiện tuyên truyền lòng yêu nước để chống thực dân; vì thế, họ cũng đã cố gắng học hỏi và sử dụng được chữ quốc ngữ cũng như việc làm báo. Từ đó, báo chí Việt Nam ra đời.
Khi người Pháp đến, nhiều chùa chiền bị chiếm đóng, triệt hạ; tăng sĩ bị đuổi khỏi chùa, bị bắt đi lính. Trong phong trào Cần vương, một số chùa trở thành căn cứ kháng chiến chống Pháp khiến Pháp tiếp tục phá hủy chùa chiền và bắn giết tăng sĩ. Phật giáo Việt Nam bị áp bức nặng nề hơn lúc nào hết, khiến người Phật tử Việt Nam cũng phải băn khoăn về việc làm thế nào gìn giữ được mạng mạch Phật giáo trong lòng dân tộc.

Tình trạng Phật giáo Việt Nam đầu thế kỷ 20 không có gì sáng sủa. Tuy vậy, rải rác trên khắp nước vẫn có những sơn môn duy trì được sự đào tạo thế hệ kế thừa. Trong điều kiện bị cô lập, các vị cao tăng chỉ có thể nung đúc tinh thần cho lớp hậu tiến. Giáo sử ghi nhận nhiều nhân vật lỗi lạc của phong trào chấn hưng Phật giáo đã nhận được sự giáo hóa tích cực của các vị như Hòa thượng Thích Nguyên Biểu (1836-1906) chùa Bồ Đề  ở miền Bắc, các Hòa thượng Thích Vĩnh Gia (1840-1918) chùa Phước Lâm Hội An và Thích Tâm Tịnh (1868-1929) chùa Từ Hiếu Huế ở miền Trung, các Hòa thượng Minh Khiêm Hoằng Ân (1850-1914) chùa Giác Viên Gia Định và  Minh Lương Chánh Tâm chùa Kim Cang Long An ở miền Nam. Các vị này đã khai trường thuyết pháp, thu nạp đệ tử, tiếp chúng độ tăng, âm thầm trao truyền giáo pháp vô thượng của Đức Phật cho những người ưu tú mà các ngài có duyên gặp được, cung cấp cho các đệ tử phương tiện học tập thêm chữ quốc ngữ, rèn giũa ý thức thượng cầu Phật đạo hạ hóa quần sanh cho những người tiếp xúc với các ngài chứ không chỉ bình tâm hưởng sự cúng dường của bá tánh thông qua việc cầu cúng thông thường như đa số những vị ở chùa đương thời.
Trong điều kiện đó, người Việt từng bước tiếp nhận được những thông tin về phong trào chấn hưng Phật giáo cũng đang lan rộng trên thế giới.

2.  Phong trào chấn hưng Phật giáo trên thế giới

a. Tổng quan

Phật giáo là tôn giáo chính ở châu Á đã tồn tại trên hai ngàn năm. Ngay cả ở những xứ mà các tôn giáo khác, như Ấn giáo hay Hồi giáo,  đang thịnh hành,  thì không phải Phật giáo không có ảnh hưởng, mà thực ra là đã bị đè nén hoặc bị các thế lực đố kỵ tìm cách tận diệt, nhưng những hạt mầm Phật giáo vẫn còn đó. Vì Phật giáo thực ra là một lối sống đạo đức dựa trên sự phát triển trí tuệ tối thượng để nhận biết bản chất của đời sống. Một đặc điểm của việc truyền bá Phật giáo là khi đến với bất cứ một xã hội nào, Phật giáo cũng tìm cách thích nghi với nền văn hóa bản địa nhưng không đánh mất những điều chủ yếu trong giáo pháp của Đức Phật là các giáo lý về vô thường, vô ngã, khổ và niết-bàn.

Vào lúc người phương Tây xây dựng các đế quốc kỹ nghệ và thương mại ở thế kỷ thứ 16, họ phải xâm chiếm thuộc địa để vừa có thị trường, vừa có nguồn nhân công và nguyên liệu giá rẻ. Tận dụng lợi thế kỹ nghệ hóa sớm, họ đã có thể thi hành chính sách thuộc địa trên toàn thế giới. Vào giữa thế kỷ 19, với ưu thế quân sự nhờ tiến bộ kỹ thuật, họ đã đặt được sự cai trị trên hầu hết các quốc gia châu Á và tiến hành khai thác thuộc địa. Bên cạnh đó, họ rao giảng tư tưởng Thiên Chúa giáo với mục đích xóa bỏ mọi hệ thống tư tưởng và văn hóa truyền thống của các giống dân bản địa với hy vọng nhờ thế mà duy trì mãi mãi sự thống trị của họ. Tuy nhiên, giữa những kẻ thực dân, vẫn còn những người có nhận thức đúng đắn, biết tôn trọng văn hóa bản địa; và trong lúc tiếp xúc với người dân thuộc địa, họ đã ngạc nhiên nhận ra một hình thức tư tưởng liên quan đến tánh Không bàng bạc khắp châu lục rộng lớn này. Sự ngạc nhiên ấy đã khiến họ tìm hiểu và từng bước nhận biết sự minh triết trong giáo pháp của Đức Phật.

Vào thời điểm ấy, cũng có một sự thật là Phật giáo đã chịu đè nén nhiều và những điều tinh túy trong giáo pháp của Đức Phật hầu như chỉ còn được gìn giữ ở các tự viện hẻo lánh xa rời cuộc sống thế tục nơi có một số ít những bậc chân tu, những người vẫn nghiêm trì giới luật, đã may mắn thoát khỏi các cuộc bách hại. Tuy không dấn mình vào cuộc sống thế tục nhưng không phải không biết đến sự rên siết của quần chúng trước sự bóc lột của thực dân và cũng không bỏ qua hiện tượng những người phương Tây đã bắt đầu ý thức về sự minh triết của Phật giáo, các bậc chân tu ở khắp châu lục đã nhạy bén nắm bắt thời cơ cho việc chấn hưng Phật giáo. Cùng với một số học giả nhân bản của phương Tây, các nhà hoạt động Phật giáo, đệ tử của các bậc chân tu, đã tiến hành công cuộc vận động để làm sống lại giáo pháp của Đức Phật Thích-ca. Cuộc vận động này bắt đầu từ Tích Lan, có sự gợi hứng từ việc nghiên cứu đối chiếu tôn giáo do hiệp hội Theosophical Society chủ trương và những nghiên cứu Phật giáo của các học giả phương Tây.

b. Khởi phát việc chấn hưng Phật giáo ở Tích Lan


Năm 1875, một hiệp hội có tên là Theosophical Society được tổ chức tại New York do nữ học giả Helena Blavatsky và cựu Đại tá Henry Steel Olcott đồng sáng lập với mục đích nêu cao tình hữu ái nhân loại không phân biệt chủng tộc, tín ngưỡng, giới tính, giai cấp, màu da; khuyến khích việc nghiên cứu đối chiếu về tôn giáo, triết học, văn hóa, khoa học; tìm hiểu sâu về những định luật thiên nhiên chưa thể giải thích được và những năng lực tiềm ẩn của con người. Năm 1878, hội dời trụ sở sang Adyar, Madras (nay là Chennai thuộc bang Tamil Nadu), Ấn Độ, tại đó họ xây dựng một trung tâm phiên dịch các tác phẩm kinh điển của các tôn giáo Á Đông. Olcott chú trọng đến Phật giáo và đã cũng bà Blavatsky đi Tích Lan để tìm hiểu. Năm 1880, họ công khai quy y và thọ năm giới với một vị cao tăng tại một ngôi chùa thuộc một thành phố ở mỏm tây nam đảo Tích Lan. Tại đây, bà Blavatsky và Olcott gặp một cư sĩ Phật giáo Tích Lan tên là Don David Hewavitarane (1864-1933) đã nguyện trọn đời giữ tám giới (giết hại, lấy của không cho, quan hệ tình dục bất chính, nói sai sự thật, dùng chất gây nghiện, ăn quá ngọ, tham dự các hoạt động giải trí, hưởng thụ các phương tiện xa hoa) và sống đời độc thân, lúc ấy đã đổi tên là Anagarika Dharmapala, nghĩa là “người hộ pháp không nhà”. Năm 1884, Dharmapala được bà Blavatsky và ông Olcott mời đến trụ sở của Theosophical Society tại Adyar. Tại đây, ông biết đến cuộc vận động của Sir Edwin Arnold, tác giả quyển The Light of Asia, đòi hỏi trùng tu đền Mahabodhi gần thánh tích Bodh Gaya và trao trả ngôi đền này về cho Phật giáo. Năm 1891, ông hành hương đến ngôi đền Mahabodhi vừa trùng tu xong và sửng sốt thấy ngôi đền vẫn được một giáo phái của Ấn giáo quản lý. Ông vận động thành lập hiệp hội Mahabodhi rồi giao cho hội tiến hành cuộc tranh đấu đòi trao trả ngôi đền Mahabodhi cho người Phật giáo trông nom. Cuối cùng, đến năm 1949, một hội đồng quản lý đền Mahabodhi được thành lập có sự tham dự của đại diện Phật giáo; lúc ấy Dharmapala đã qua đời được 16 năm. Hiệp hội Mahabodhi thành lập nhiều chi nhánh trên khắp đất Ấn Độ để nâng cao sự quan tâm đến Phật giáo. Năm 1893, ông được mời tham dự Nghị viện Thế giới về Tôn giáo (Parliament of World’s Religions) với tư cách đại diện cho Phật giáo phương Nam, danh xưng lúc bấy giờ người phương Tây nói về giáo phái Theravada. Qua những hoạt động tích cực ấy, ông biết đến một vị cư sĩ Phật giáo Trung Quốc là Nhân Sơn Dương Văn Hội (1837-1911) cũng đã xây dựng ở Nam Kinh một cơ sở lấy tên là Kỳ-hoàn Tinh xá làm chỗ đào tạo Tăng sĩ cả về Phật học lẫn thế học hiện đại, đã tích cực in lại những kinh sách bị tiêu hủy trong thời có loạn Thái bình Thiên quốc. Năm 1908, ông viết thư mời Dương Nhân Sơn phối hợp hành động để chấn hưng Phật giáo. Nhờ những nỗ lực của Dharmapala, những thánh tích Phật giáo lần lần được phục hồi, trong đó có nơi Đức Phật nhập niết-bàn tại Kushinagar. Ông cũng hô hào xây dựng nhiều tự viện trên đất Ấn Độ và Tích Lan, trong đó có một ngôi chùa được xây lên tại Sarnath, nơi Đức Phật giảng bài pháp đầu tiên cho năm anh em Kiều-trần-như. Ông đi nhiều nơi, giảng thuyết và truyền nhiệt tình của mình qua những bài viết. Năm 1965, chính phủ Tích Lan sưu tầm những tác phẩm của ông in thành sách giao cho Bộ Giáo dục và Văn hóa xuất bản. 

c. Phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc

Thái Hư Đại sư (1890-1947) vốn là một Tăng sĩ có theo học tại Kỳ-hoàn tinh xá vào năm 1909, đã trở thành một vị lãnh đạo xuất sắc của phong trào chấn hưng Phật giáo thuộc thế hệ thứ hai. Năm 1912, Thái Hư xây dựng Phật học viện Vũ Xương. Ngài xướng xuất tư tưởng Nhân gian Phật giáo, Nhân sinh Phật giáo và Nhân gian tịnh độ, được các bạn đồng chí là Chương Thái Viêm, Lương Thấu Minh, Âu Dương Tiệm, Thái Nguyên Bồi…giúp sức, đã dấy lên một phong trào mạnh mẽ trong việc cổ xúy một nền Phật giáo đi sát với đời sống thế tục. Phong trào chấn hưng Phật giáo Trung Quốc do Thái Hư lãnh đạo đã đề cao vai trò của các cư sĩ; kêu gọi thành lập các tổ chức Phật giáo của hàng tại gia để phục vụ cho các hoạt động giáo dục, y tế, xã hội; vận động xây dựng trường học, nhà thương, viện dưỡng lão, viện dục anh… rồi giao cho các cư sĩ Phật giáo quản lý; đào tạo những vị cư sĩ giáo thọ…bên cạnh việc đào tạo Tăng tài. Hưởng ứng Thái Hư, nhiều Phật học viện khác ra đời; các tổ chức như Phật giáo hợp tiến, Phật giáo liên hiệp, Phật giáo Cư sĩ lâm…lần lượt góp mặt. Tạp chí Giác Xã xuất bản năm 1918 sau đó đổi thành Tạp chí Hải Triều Âm đã là cơ quan ngôn luận cổ võ mạnh mẽ cho tư tưởng của Thái Hư và phong trào chấn hưng Phật giáo Trung Quốc.  Trong giai đoạn đầu, tư tưởng của Thái Hư có phần thiên tả, nhưng từ giữa thập niên 1920 trở đi, ngài quay lại với thái độ trung đạo. Thái Hư phê phán văn minh phương Tây chủ trương túng ngã, chế vật nghĩa là tự mình thì buông lung mà tìm cách khống chế hoàn cảnh và người khác, tất nhiên sẽ dẫn đến chủ nghĩa đế quốc và chiến tranh. Ngài cho rằng chỉ có tư tưởng Phật giáo cùng với quan điểm cố hữu của người Trung Hoa là khắc kỷ sùng nhân (tự kiềm chế lấy mình và biết kính trọng người khác) mới là phương thuốc chữa trị căn bệnh của nền văn minh thời đại. Hoạt động của Thái Hư đại sư đã tác động mạnh đến phong trào chấn hưng Phật giáo ở Việt Nam.

Song song với phong trào từ Tích Lan và Trung Quốc, tại Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện và Thái Lan, một luồng gió mới cũng đã thổi vào sinh hoạt Phật giáo ở các xứ này.
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #12 vào: 15/10/2012, 12:40:03 »
Các giai đoạn phát triển của báo chí PG Việt Nam

Có thể chia thành 3 giai đoạn:

- Báo chí Phật giáo sau Pháp Âm cho đến sự kiện thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam (1929-1951)

- Báo chí Phật giáo từ sau khi Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời cho đến ngày thống nhất đất nước (1952 – 1975)

- Báo chí Phật giáo từ 1976 cho đến nay.

Xét về sự vận động và phát triển của Phật giáo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, nói như cụ Mai Thọ Truyền: Sự ra đời của Tổng hội Phật giáo Việt Nam đã đưa các hoạt động của Phật giáo lên một tầm cao mới, phát triển với một chiều rộng mới. “Từ Bắc chí Nam, phong trào chấn hưng được mọi nơi tiếp nhận nồng hậu, khiến cho phạm vi hoạt động ngày càng bành trướng, lấn áp một phần nào uy thế của những chi phái tạp nhạp.” (Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Phật giáo Việt Nam, Nxb Tôn giáo 2011, tr.25). Sau Tổng hội ra đời (1951), Phật giáo với đường hướng mới đã làm cho “người người đều bộc lộ một niềm tin chí thành” (sđd). Niềm tin ấy đã tạo nên động lực mới cho sự phát triển, và điều đó được biểu hiện rõ ở lĩnh vực truyền thống – báo chí Phật giáo.

Một số hình ảnh của tờ báo trong giai đoạn 1 ( Sau Pháp Âm - 1951)








Tạp chí Từ bi âm

- Cơ quan ngôn luận của “Hội Nam kỳ nghiên cứu Phật học” (thành lập: 26-8-1931, trụ sở chùa Linh Sơn, Sài gòn)

- Tạp chí được cấp giấy phép xuất bản ngày 31-4-1931 (thống đốc Nam kỳ Kreutreimer ký); Xuất bản số đầu tiên: 1-1-1932; Kỳ xuất bản: Bán nguyệt san

- Sáng lập: cư sĩ Phạm Ngọc Vinh – Thư ký ngân hàng Đông Pháp – Sài Gòn.

- Chủ nhiệm: HT.Lê Khánh Hoà (Chánh Hội trưởng của Hội)

- Chủ bút: HT.Bích Liên, Phó Chủ bút: Đại đức Liên Tôn. Chư tôn túc Trí Độ (Bình Định), Thiền Dung (Mỹ Tho), Giác Nhựt (Cần Thơ),  Nhựt Chánh… làm trợ bút (cộng tác viên thân thiết).

- Trụ sở toà soạn: chùa Linh Sơn, in tại nhà in Nguyễn Văn Của.

- Dung lượng: 3 số đầu 60 trang, từ số 4 trở đi còn 53 trang, sau đó tiếp tục giảm xuống nữa.

- Nội dung: nhấn mạnh phương diện hoằng pháp – truyền bá Phật học, ban đầu với các (07) chuyên mục: Luận về triết lý nhà Phật,  Luân lý nhà Phật, Phiên dịch kinh Phật, Lịch sử nhà Phật, Thời sự nhà Phật, Tiểu thuyết nhà Phật, Văn uyển.

Lần đầu tiên ở một cơ quan báo chí, Ni giới đã có tiếng nói của mình, nổi bật nhất là cây bút Ni sư Diệu Tịnh (1910-1942, người Gò Công, Tiền Giang)

- Chủ trương: Là cơ quan ngôn luận của Hội. Người có ảnh hưởng nhất đối với tạp chí Từ Bi Âm là HT.Khánh Hoà.

Tháng 11-1933, HT.Khánh Hoà từ chức Phó Hội trưởng và Chủ bút Từ Bi Âm (do Hội không thực hiện được các mục tiêu như tôn chỉ đã đặt ra, trong đó quan trọng là mở các Phật học đường (Thích Học đường). HT.Khánh Hoà về Trà Vinh, kết hợp với quý HT.Khánh Anh, Huệ Quang để tìm hướng đi mới.

Sau đó, các vị trợ bút cũng tan rã dần, người thì về Bình Định, vị thì ra Huế, người thì đi thành lập tờ báo khác…

Từ số 46, nội dung Từ Bi Âm sa sút, bị một số cá nhân thao túng (Commis Trần Nguyên Chấn) làm diễn đàn bút chiến với các tổ chức (Hội Phật học Kiêm Tế, Lưỡng Xuyên Phật học…) tờ báo Phật giáo khác (Duy Tâm của Lưỡng Xuyên Phật học), hay công kích các cá nhân (HT.Khánh Hoà, Sư Thiện Chiếu…)

- Từ 1942, nội dung nghèo nàn, giảm kỳ (2 tháng/kỳ).

- Đình bản: 8-1945.


Tạp chí Viên Âm

- Cơ quan hoằng pháp của Hội An Nam Phật học (Hội Phật học Trung kỳ);

- Tạp chí Viên Âm nguyệt san (xuất bản theo Nghị định ngày 30-6-1933 của Khâm sứ Trung Kỳ). Phong trào Phật giáo phát triển mạnh với việc thành lập các trường học, trung tâm thuyết pháp, các cuộc tranh luận về giáo lý đạo Phật trên báo chí...
Ra số đầu tiên: 1-12-1933.

- Chứng minh đạo sư ( Cố vấn) : HT.Giác Tiên (chùa Diệu Đế), HT.Giác Nhiên (chùa Tuý Ba, tức Tuý Vân ngày nay) và cư sĩ Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám kiêm Chủ bút.

- Chủ nhiệm: Chánh hội trưởng Nguyễn Đình Hoè

- Trụ sở trên đường Champeau (đường Hà Nội, TP.Huế ngày nay).
Khổ: 14,5x22cm, ban đầu 62-72 trang, sau đó (1939) còn 31-34 trang (có 4-5 trang quảng cáo).

- Nội dung: chuyên mục tương đối ít (số đầu tiên có 4): Như thị pháp (các bài giảng luận kinh điển), Biệt khai phương tiện (Nghị luận Phật học + truyện khôi hài của Cửu Giới), Sự tích Đức Phật (Đức Phật lịch sử, nhiều kỳ), và Tiêu tức (tin tức Phật sự).

 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #13 vào: 15/10/2012, 12:52:04 »



Tuần báo Đuốc Tuệ


- Cơ quan hoằng pháp của Hội Phật giáo Bắc Kỳ- Hà Nội thay thế cho Tập kỷ yếu của Hội đã ra được bốn số.

10-12-1935 tuần báo Đuốc tuệ đã ra số đầu tiên do hội trưởng Nguyễn Năng Quốc làm chủ nhiệm, ông Cung Đình Bính làm quản lý; sư cụ Phan Trung Thứ (chùa Bằng Sở ) làm chánh chủ bút, phó chủ bút là sư cụ Dương Văn Hiển (chùa Tế Cát). Ban biên tập gồm một số cư sĩ:  Dương Bá Trạc, Bùi Kỷ, Trần Văn Giáp, Nguyễn Can Mộng..., và các tăng sĩ: Thượng toạ Thái Hòa, Tố Liên, Trí Hải... ông Trần Trọng Kim làm trưởng ban biên tập, cư sĩ Nguyễn Trọng Thuật làm thư ký tòa soạn.

- Từ năm 1943, cư sĩ Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha làm trưởng ban biên tập.

- Trụ sở báo đặt tại chùa Quán Sứ, số 73 phố Richaud (sau 09.03.1945 đổi tên là phố Quán Sứ), Hà Nội.

- Khổ 14 x 22cm, 32 - 46 trang, phát hành ngày thứ ba, mỗi kỳ in 5.000 bản tại nhà in báo Trung Bắc Tân Văn. Tháng 8 năm 1936, nhà in Đuốc tuệ của Hội khai trương, đảm nhiệm việc in báo Đuốc Tuệ.

- Nội dung Đuốc Tuệ thường gồm các mục: 1.Bàn luận về Phật giáo; 2.Dịch thuật các kinh Phật; 3.Lịch sử chư Tăng, chư Bồ-tát; 4.Truyện các cao Tăng; 5. Ký những nơi danh lam thắng cảnh; 6. Văn thơ; 7.Giải đáp; 8.Chú thích; 9.Tin tức trong nước và thế giới.

-Nhờ báo có đội ngũ biên tập và cộng tác viên đông đảo gồm các nhân sĩ trí thức nổi tiếng như phó bảng Bùi Kỷ, các cử nhân Hán học Dương Bá Trạc, Nguyễn Thiện Chính... các nhà văn Đồ Nam Tử Nguyễn Trọng Thuật, Ôn Như­Nguyễn Văn Ngọc, Phó bảng Nguyễn Can Mộng, Lê Toại...; các học giả như Trần Trọng Kim, Trần Văn Giáp...; Hoà thượng Tế Cát, Trung Hậu, các Thượng toạ: Trí Hải, Thái Hòa, Tố Liên và các cây bút trẻ sau này như Trí Quang,Tâm Ấn, Thanh Đặc, v.v.

- Phát hành tới khắp ba miền và sang cả Phnom Penh (Campuchia) và Viên Chăn (Lào).

- Tháng 3-1942, Hoà thượng Phan Trung Thứ viên tịch, Hoà thượng Tế Cát, phó chủ bút lên làm chủ bút báo Đuốc Tuệ cho tới khi đình bản vào ngày 15-8-1945 (số báo cuối cùng là số ghép 257-258).

- Đuốc Tuệ là cơ quan báo chí thực hiện chủ trương chấn hưng Phật Phật một cách cụ thể, thực tiễn qua các nội dung trong từng số báo, góp phần rất lớn vào sự thành công của phong trào chấn hưng và xây dựng nền tảng cho Phật học, đặc biệt là Phật học Việt Nam thế kỷ XX.

 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi YV

  • Khiêm
  • *******
  • Bài viết: 2,715
  • Thanked: 2 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Mỉm cười đi em
Re: Chuyên đề về Báo chí Phật giáo Việt Nam
« Trả lời #14 vào: 15/10/2012, 13:32:42 »
tài liệu nằm tại Nam Định