Tác giả Chủ đề: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam  (Đã xem 6568 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi NL

Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« vào: 04/05/2010, 23:40:14 »
Thỉnh thoảng tôi tỉ mẩn ngồi đọc báo cũ và cũng viết ra vài điều thâu lượm được, bây giờ cho vào đây một ít coi như là dăm ba mẩu chuyện liên quan tới lịch sử báo chí.

Họ gọi nhau là bạn

Đó là một thời đã xa. Lúc đó, các tờ báo đầu tiên của lịch sử Việt Nam và lịch sử Quốc Ngữ khởi từ Gia Định báo cho tới Nam phong đã đi xong chặng đường với rất nhiều vẻ vang tri thức nhưng cũng không ít bê bối ở mối quan hệ khá nhập nhằng với người Pháp cai trị. Đầu những năm 1930, cả một trào lưu báo chí mới ra đời đầy sức sống và cũng đầy… cạnh tranh.

Sau một khởi đầu nhiều vất vả, Nhất Linh cùng tờ Phong hóa đã có chỗ đứng vững chắc cả trên làng báo lẫn trong tâm trí người đọc. Tự lực Văn đoàn hồi đó là cả một thế lực về văn chương và báo chí. Nhưng chỉ trong vài năm, mấy tờ báo mới ra đã tạo nên một không khí sôi động chưa từng có: cũng như khi Phong hóa xuất hiện ra sức chế giễu Nam phong, Tiểu thuyết thứ Bảy (ra số đầu năm 1934) và Hà Nội báo (ra số đầu năm 1936) đả kích Phong hóa thậm tệ. Bối cảnh này đã được ghi lại trong bộ sưu tập mang tên 13 năm tranh luận văn học của nhà văn học sử nổi tiếng, linh mục Thanh Lãng (trước đây được in ronéo lưu hành nội bộ ở Đại học Văn khoa Sài Gòn, sau được in thành sách vào năm 1995, NXB Văn học và Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh).

Xem các bài báo được Thanh Lãng sưu tầm cho vào sách, có thể thấy rằng chỉ hai năm sau khi ra đời, tờ báo trẻ Tiểu thuyết thứ Bảy thuộc hệ thống xuất bản của Tân Dân Vũ Đình Long đã dám lớn tiếng tuyên bố: “Phong hóa càng ngày càng xuống”, và tố cáo cơ quan ngôn luận của Tự lực Văn đoàn “lo Tiểu thuyết thứ BảyÍch hữu tuần báo “truy” mất hết độc giả của các ông, nên độ này các ông hoạt động dữ: Nào vẽ bìa, nào viết tự vị nhân vật, nào gièm Ích hữu, nào dìm Nguyễn Công Hoan.” Tờ Hà Nội báo của nhà Lê Cường cũng nhanh chóng nhảy vào trường văn trận bút xung quanh Nguyễn Công Hoan.

Khoảng giữa thập niên 1930, thế kiềng ba chân của báo chí văn chương Hà Nội đã rõ ràng, tới mức người quan sát cùng thời cũng dễ dàng nhận ra. Theo tài liệu mới sưu tầm được của nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, trong suốt nửa cuối của năm 1936, tờ Bắc Hà của quản lý tòa soạn Trần Huyền Trân liên tục đăng nhiều kỳ một câu chuyện mang tên Tam động kiếm tiên của tác giả Văn Việt Tử. Bằng phong cách kiếm hiệp, Tam động kiếm tiên miêu tả cuộc cạnh tranh giữa ba nhóm báo chí thật náo nhiệt và hoạt kê.

Nhưng ngay cả giữa khi “giao đấu” nặng nề nhất, những người trong cuộc vẫn luôn tôn kính nhau. Họ luôn gọi nhau là bạn. Như Hà Nội báo, ở thời điểm cao trào nhất, vẫn có thể viết: “Bọn Lý Toét, Xã Xệ là một bọn thất học của nước ta, thất học vì… nghèo đói. Nhưng bạn Phong hóa có nghĩ thế đâu, họ chỉ nghĩ đến cái nguồn lợi lớn để cho… họ làm giàu!”; lúc buộc tội Phong hóa gay gắt nhất, Hà Nội báo vẫn gọi Phong hóa là “bạn đồng nghiệp”.

Cái không khí đặc biệt đó được nhiều người đương thời ghi lại. Ở lần xuất hiện trở lại gần đây nhất của Ngọc Giao, một nhân vật của Tiểu thuyết thứ Bảy, tức là trong cuốn Hà Nội cũ nằm đây (NXB Phụ nữ, 2010 - sách in sau khi tác giả mất 13 năm), nhiều sự kiện đã được kể lại với nhiều chân dung nhân vật thời đó thật đẹp đầy cảm động. Là người thuộc “phái Tân Dân”, Ngọc Giao đã dùng từ “anh em” để nói về các đối thủ của mình hồi ấy: “anh em Tự lực Văn đoàn”.

Đó là một thời đã rất xa.
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #1 vào: 04/05/2010, 23:41:11 »
Thiếu giấy

Làm báo, một trong những điều đáng sợ hơn cả là thiếu giấy in. Cuộc khủng hoảng kinh tế nào cũng ảnh hưởng tới phần nguyên liệu của ngành in, và qua đó tác động đầy tai hại tới báo chí và xuất bản. Năm 2008 vừa rồi, do cuộc khủng hoảng kinh tế tồi tệ không thua kém gì cuộc khủng hoảng 1929, xuất bản của Việt Nam cũng điêu đứng vì thiếu giấy.

Trong lịch sử cũng đã từng xảy ra không ít vụ tương tự. Giở lại tạp chí Tri tân, ta có thể thấy vài lần biên tập bộ của tờ báo than phiền, ta thán về cái nạn này. Số 46 tháng Năm 1942 có bài xã thuyết mang cái nhan đề không thể rõ ràng hơn: “Lại thêm một lưỡi dao giết báo chí: nạn đầu cơ giấy nhật trình”. Chúng ta có thể hình dung còn một “lưỡi dao” khác thường trực kề cổ báo chí thời thuộc địa, là lưỡi dao của ty kiểm duyệt.

Bài báo cho biết vì tình hình chiến tranh (tức Thế chiến thứ hai đang hồi gay go bên Âu châu, có ảnh hưởng không hề gián tiếp lên đời sống kinh tế Việt Nam thời ấy), “sức sản xuất giấy báo sụt xuống một độ rất thấp, gây nên cái nạn giấy khan, giấy đắt vượt ngoài trí ta tưởng tượng”. Những con số mà bài báo đưa ra cho thấy trong vòng 10 năm, từ 1932 đến 1942, giá giấy đã tăng khoảng 7 lần.

Tri tân ai oán liệt kê những tờ báo “xanh cỏ” vì cái nạn này, kể cả vài tờ nổi tiếng như Annam Nouveau hay Hà Nội báo, còn ở Nam Kỳ, hầu như không còn tờ tuần báo nào tồn tại nổi.

Chưa hết, chỉ 6 số báo sau đó, cuối tháng Sáu 1942, số 52 của Tri tân đăng bài báo dài của học giả Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm, nhân vật chủ chốt của tờ tạp chí bên cạnh Ứng Hòe Nguyễn Văn Tố. Bài báo nói đến nhiều vấn đề khác rộng hơn liên quan tới báo chí nói chung, nhưng cũng tiếp tục phàn nàn về sự thiếu thốn. Ở đây, nhà báo kỳ cựu Hoa Bằng, tác giả Quang Trung, anh hùng dân tộc, còn nhắc tới sự thiếu hụt của một số “phụ liệu” ngành in rất khó tưởng tượng cho con người ngày nay. Ông nói đến chuyện “không có nhiều lối chữ để đặt đầu đề hoặc để xếp bài” (nhất là loại chữ lớn, cỡ “corps” 18 cho đến 36), và đặc biệt hơn, thiếu cả các dấu ngoặc đơn, làm cho “câu văn nhiều khi thành ra ngớ ngẩn hoặc nguy hiểm hơn, là vô nghĩa nữa”. Ngày nay với kỹ thuật mới, người ta không bao giờ còn phải lo thiếu dấu ngoặc đơn nữa, nhưng nghề báo vẫn hàm chứa nhiều mối nguy khôn lường, như mối nguy nảy sinh lỗi do khâu đánh máy chữ, khiến cho có tít bài rất lớn chạy rất rõ “Nóng nòng chờ hỗ trợ” trên một tờ báo đã in, câu chuyện gây cười cho cư dân Internet đã được một quãng thời gian.

Tình trạng thiếu thốn này lâu lâu lại tái diễn. Một số Văn năm 1970 kêu ca vì tình hình giấy in quá đắt đỏ, khiến tờ báo không thể giữ giá như trước được. Kể cả ngày nay, thời đại của sản xuất phát triển hết mức, thỉnh thoảng khi thấy giấy báo hoặc giấy in sách chất lượng tồi quá, ta liền có thể nghĩ đến một cuộc thiếu giấy mới mà xuất bản và báo chí đang âm thầm vấp phải.
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #2 vào: 05/05/2010, 13:00:36 »
Son phấn cũng xông pha

Ngày nay, khi các tờ báo cũ đã trở nên đặc biệt khó kiếm kể cả trong thư viện, những cuốn sách khảo cứu cộng với in lại bài vở của một thời xa xưa trở nên đặc biệt quan trọng và, đặc biệt lý thú. Phụ nữ tân văn, phấn son tô điểm sơn hà (Thiện Mộc Lan, Thời Đại & NXB Văn hóa Sài Gòn, 2010, 75.000 đ.) mới được xuất bản để bổ khuyết phần hiểu biết còn thiếu hụt của độc giả về một trong những tờ báo hay nhất của trước 1945. Cộng thêm với một cuốn sách đã in trước đây của linh mục Thanh Lãng, cuốn sách này góp thêm lời kể cho một câu chuyện rất cần được quan tâm: câu chuyện về đàn bà nước Nam.

Kể từ hai nhân vật Đạm Phương nữ sử và Manh Manh nữ sĩ (tức Nguyễn Thị Kiêm - Thiện Mộc Lan cũng từng là đồng tác giả một thiên khảo cứu về nhân vật này trước đây), vấn đề đàn bà đã không còn có thể bị xem thường ở nước Nam nữa. Họ đã tham gia chính các hoạt động trước đó vẫn ngầm được coi là đặc thù của đàn ông và có những thành công mà không phải đàn ông nào cũng đạt tới nổi. Trước Phụ nữ tân văn, tờ Nữ giới chung đã là một tờ báo dành riêng cho giới nữ, và sau Phụ nữ tân văn, những tờ như Phụ nữ thời đàm, Việt nữ, Đàn bà… tiếp tục một chặng đường xông pha không thể xem nhẹ: vài tờ của phụ nữ chiến đấu về chính trị mạnh mẽ đến mức đã bị nhà cầm quyền thực dân đóng cửa, như Nữ giới chung hay Phụ nữ thời đàm.

Tồn tại từ 1929 đến 1935 với 273 số báo, Phụ nữ tân văn có ba đặc điểm nổi bật: tờ báo in rất đẹp, có thể nói là đẹp nhất thời ấy; chỉ quãng một năm sau khi báo bắt đầu ra, “tia-ra” đạt tới 10.000, tờ báo chuyển đến in ở nhà in Albert Portail nơi sở hữu máy in trị giá tới ba vạn rưởi đồng tiền Đông Dương. Đặc điểm thứ hai là tờ báo chiêu mộ được tất cả những cây bút chuyên viết báo lừng danh nhất thời ấy, trong đó đặc biệt là có đủ “tứ đại” làng báo Sài Gòn là Đào Trinh Nhất, Phan Khôi, Diệp Văn Kỳ, Bùi Thế Mỹ (Đào Trinh Nhất làm chủ bút trong quãng thời gian khá dài và đã đóng một dấu ấn quyết định lên chất lượng cũng như đường lối của tờ báo).

Đặc điểm thứ ba quan trọng hơn cả: Phụ nữ tân văn thực sự là một tờ báo “dấn thân” với vô cùng nhiều hoạt động xã hội. Hai vợ chồng chủ nhiệm Nguyễn Đức Nhuận, nhất là bà vợ Cao Thị Khanh, đã liên tiếp tổ chức quyên góp tiền để đưa học sinh nghèo đi du học bên Pháp, lập “Hội Dục Anh”, lập “Nữ Lưu Học Hội”, tiến hành phong trào “Bữa cơm cho người nghèo”, tổ chức ra “Ban Ủy viên Phụ nữ cứu tế”… Cộng thêm vụ khủng hoảng kinh tế nặng nề, ông bà Nguyễn Đức Nhuận sau này sẽ tiêu tan cả gia tài.

Tuy ở ngoài bìa Phụ nữ tân văn số đầu tiên in hình ảnh ba cô gái rất mềm mại biểu trưng cho phụ nữ ba miền Bắc-Trung-Nam và “slogan” của tờ báo là hai câu thơ không thể dịu dàng hơn: “Phấn son tô điểm sơn hà/Làm cho rõ mặt đàn bà nước Nam”, nhưng Phụ nữ tân văn lại chính là một trong những tờ báo đưa nhiều tin và với cách thức mạnh mẽ nhất khi vụ khởi nghĩa Yên Bái nổ ra. Hồi đó, ngay cả độc giả miền Bắc cũng chờ đợi để đọc tin tức và bình luận của Phụ nữ tân văn về sự việc này. Phấn son không chỉ biết trang điểm hay tô điểm, mà còn biết hào hùng xông pha.

* Quyển sách này cần nhắc tới vì chủ đề và tính chất hiếm của nó, chứ chất lượng nghiên cứu thì không thực sự tốt, cách nghiên cứu cũng không có gì sáng tạo. Các bác nên đọc đoạn đầu nếu muốn phân biệt ba nhân vật cùng tên Nguyễn Đức Nhuận thời đó :d
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #3 vào: 21/06/2010, 11:45:19 »
Tìm lại Phan Khôi

Phan Khôi chỉ là một ông tú trong vô vàn ông tú của lịch sử khoa cử Việt Nam. Ông tú Phan Khôi làm rất nhiều việc, kinh qua mọi thể tài của văn chương Việt Nam thời kỳ đầu: ông làm thơ, viết văn xuôi, sưu tầm thơ, bình luận thơ, dịch thuật, viết bài giảng dạy “Hán văn độc tu”, sau này còn viết nghiên cứu ngôn ngữ (Việt ngữ nghiên cứu), nhưng trước sau ông vẫn là một nhà báo, một trong những nhà báo vĩ đại nhất của giai đoạn chừng 50 năm của báo chí Việt Nam, bắt đầu từ Nam phong (có thể là cả Đăng cổ tùng báo) cho tới Giai phẩm. Phan Khôi là một “người của các tạp chí” điển hình, một “nhà báo toàn tòng”.

Mấy đặc điểm trong sự nghiệp báo chí Phan Khôi: ông cộng tác với những tờ báo quan trọng nhất của mỗi thời kỳ, ông luôn luôn có một địa vị phải nói là “ngôi sao” trong làng báo Việt Nam, ông đặc biệt hay cãi, có mặt ở trong mọi cuộc tranh luận lớn nhất của báo chí (ngay cả khi không lên tiếng thì ông vẫn cứ là trung tâm của cuộc tranh cãi, như lần Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đòi “chém” Phan Khôi vì coi ông là một cái “tai nạn”, hồi đầu những năm 1930); ở khía cạnh này thái độ của ông nhiều khi đi đến mức cực đoan, thách thức: “Cái đời tôi, chẳng có làm gì hết, chỉ có chực chỉ trích mà thôi, - thì họ làm gì tôi?” (trích từ một bài báo năm 1932); nhưng đặc biệt nhất là lúc nào ông cũng có vị thế hết sức độc lập: từ báo Trung lập ông vẫn viết bài chỉ trích Phụ nữ tân văn là tờ báo vô cùng “sủng ái” ông, trả nhuận bút cho ông ở mức rất cao; Phan Khôi cũng luôn luôn tự nhận mình là một người học trò còn đang phải học hỏi: “Tôi tự phận tôi cũng như là một người thất học từ thuở nhỏ” (trích từ một bài báo năm 1932).

Phan Khôi tác phẩm đăng báo 1932 (Lại Nguyên Ân biên soạn, NXB Tri Thức) mới in tiếp tục cho chúng ta một hình dung về hành trình Phan Khôi độc đáo, sau các tập 1928, 1929, 1930, 1931 bắt đầu in từ 2003 cho tới nay, bộ sách quý giá ở nhiều phương diện nhưng gần như không có tiếng vang gì trên báo chí ngày nay; dường như người ta không còn mấy để ý tới lịch sử và sự lộ diện trở lại của các nhân vật bấy lâu nay bị chìm lấp đầy bất công nữa. Điều bất công này càng lớn hơn khi mà Phan Khôi là một trong những bộ óc độc đáo nhất, uyên bác nhất, tỉ mỉ nhất từng tồn tại trong lịch sử trí thức Việt Nam.

Trong rất nhiều năm, giới nghiên cứu miền Bắc gần như không quan tâm tới Phan Khôi (cũng như hàng loạt tác giả quan trọng khác), trong khi một số tờ tạp chí lớn của Sài Gòn trước 1975 từng dành các số chuyên đề để tưởng niệm Phan Khôi. Điều này, xét cho cùng, cũng có lý: Phan Khôi được xếp vào “tứ đại” làng báo Sài Gòn trước 1945 (xem thêm Phụ nữ tân văn, phấn son tô điểm sơn hà, Thiện Mộc Lan, Thời Đại & NXB Văn hóa Sài Gòn, 2010). Đặc biệt, đầu năm 1959 Phan Khôi qua đời ở miền Bắc thì chỉ vài tháng sau đó tại Sài Gòn tờ Giáo dục phổ thông (số 38) đã có một số “Đặc biệt về Phan Khôi” trong đó có bài viết quan trọng của Thiếu Sơn Lê Sĩ Quý mang tên “Ông Phan Khôi với nhân văn chủ nghĩa”.

Đặc điểm coi nhẹ báo chí mà chỉ trọng tài liệu sách là một nguyên do quan trọng khiến cho trong rất nhiều năm địa vị của Phan Khôi trong lịch sử văn học Việt Nam không thực sự tương xứng với tài năng và công trình học thuật của ông (bên cạnh một nguyên nhân nữa là sự cọ xát liên tục của ông với mọi ngọn gió trái chiều trong tư tưởng và sinh hoạt văn nghệ). Ở một nền nghiên cứu luôn luôn coi trọng sách in hơn báo chí, và cũng để bị mất mát quá nhiều di sản báo chí, như Việt Nam, công cuộc nhìn nhận Phan Khôi phải được tiến hành một cách vô cùng thận trọng và chậm chạp.

Tìm lại Phan Khôi, ngoài việc tìm lại trước tác (nhất là trên báo chí) của ông, còn là tìm lại một khí phách. Câu của Phan Khôi, “nhược bằng bắt mọi người viết phải viết theo một lối với mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết”, gần như đã trở thành một khẩu hiệu: với người trí thức, độc lập tư tưởng là quyền, nhưng đồng thời cũng là một nghĩa vụ.

Ngày nay, ngoài bộ Tác phẩm đăng báo đã ra được 5 tập, ta còn được đọc nhiều bài báo của Phan Khôi trong bộ 13 năm tranh luận văn học của linh mục Thanh Lãng (NXB Văn học và Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1995) và sưu tập Sông Hương tuần báo ra ngày thứ Bảy (1/8/1936-27/3/1937), Phạm Hồng Toàn sưu tầm, tuyển chọn, Đông Tây & NXB Lao động, 2009. Đây mới chỉ là một phần trong tổng số trước tác Phan Khôi; con người Phan Khôi còn đa dạng hơn thế nhiều; vả lại, Phan Khôi mới chỉ là một trong những gương mặt cần được tìm lại trong văn học sử, những người như Bùi Thế Mỹ, Đào Trinh Nhất hay Phùng Bảo Thạch, v.v…


* Cuốc tơ di: chi tiết "Giáo dục phổ thông" là nhờ tài liệu của bác Baothu, cám ơn bác Baothu ven sông :d
 

Ngủ rồi Bảo thư

  • Trầm tích thời gian, phát lộ tri thức...
  • *******
  • Bài viết: 3,797
  • Thanked: 10 times
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #4 vào: 21/06/2010, 11:57:52 »
Rất cảm ơn NL đã cung cấp nhiều thông tin quý. Tiện đây tư liệu về cụ Phan Khôi, còn một tranh cãi rất nảy lửa với cụ Trần Huy Liệu liên quan đến sự ra đời của cuốn: Bản dự thảo Sử cách mạng cận đại Việt Nam của Trần Huy Liệu năm 1950.
Sau khi hoàn thành cuốn bản dự thảo này, có khá nhiều ý kiến liên quan đến những tư liệu, quan điểm mà cụ Trần Huy Liệu đã nêu. Trong đó cụ Phan Khôi phê bình mạnh mẽ nhất. Cụ Trần Huy Liệu khi đó cũng công khai có bài " Về phê bình của Phan Khôi tiên sinh". Đúng là các cụ toàn nhà nho, việc phản pháo và phê bình cũng thâm thúy, sâu sắc kinh khủng. 
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #5 vào: 21/06/2010, 14:31:48 »
Hôm nào bác cho em liếc qua tài liệu đó nhé.

Phan Khôi-Trần Huy Liệu thì đã có mầm mống bất hòa từ xưa rồi: năm 1928 Phan Khôi viết trên "Đông Pháp thời báo" chê Trần Huy Liệu thậm tệ, khi ấy THL vẫn còn rất trẻ, hình như mới là một trong những bài đầu tiên về lịch sử của THL.

Ân oán kéo dài mãi về sau chăng? :d
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #6 vào: 21/06/2010, 14:45:43 »
Bác NL kiến thức thật là đa dạng trên mọi lĩnh vực của văn chương, đúng là 1 phó bảng của đại học Sorbonne Pháp.
 
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #7 vào: 21/06/2010, 18:33:33 »
Bác gọi "phó bảng" nghĩa là nắm rất chuẩn hệ thống khoa cử đối chiếu đấy :p mà làm sao "mọi lĩnh vực" được, một vài thôi.

Lần Phan Khôi mắng Trần Huy Liệu năm 1928 là khi THL viết một bài về mối quan hệ giữa nước Pháp và triều Nguyễn; ý Phan Khôi là không thể vì trong số những người theo Gia Long có một số người Pháp mà nói nước Pháp đã giúp Gia Long giành chính quyền.

Rất ít khi Phan Khôi cãi cọ với những người trẻ hơn, các đối thủ của PK luôn luôn là những người rất cân sức cân tài với PK, điển hình là Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Lê Dư (em rể PK luôn, nhưng khi tranh luận thì PK nói Lê Dư không phải em rể tôi, mà là nhân vật của Viễn Đông Bác cổ), nhưng cũng có vài lần, ngoài lần với Trần Huy Liệu này còn có lần mắng Nguyễn Tiến Lãng, với một câu mắng nổi tiếng, bảo cái học của Nguyễn Tiến Lãng là cái học "vào đằng tai ra đằng miệng" (hồi ấy Nguyễn Tiến Lãng là ngôi sao đang lên, được coi là người kế tục xứng đáng Nguyễn Phan Long).
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #8 vào: 21/06/2010, 20:58:54 »
Có mấy loại phê bình?

Phàm đã viết phê bình văn học, người ta không tránh được xu hướng, thậm chí là ham muốn, xếp loại các tác phẩm. Phê bình văn học gần như đồng nghĩa với sắp xếp, định giá, nhưng cũng có người nói rằng xét về từ nguyên, từ “phê bình” (critique) có chung gốc Latinh với từ “tội ác” (crime).

Albert Thibaudet (1874-1936), nhà phê bình Pháp nổi tiếng đầu thế kỷ 20, từng dùng từ “sinh lý học” khi phân loại phê bình văn học. Theo Thibaudet có tổng cộng ba loại: phê bình của nhà báo, phê bình chuyên nghiệp (hay phê bình của các giáo sư) và phê bình của nghệ sĩ (tức bản thân nhà văn viết phê bình văn học). Ngoài sự phân loại đã trở thành kinh điển (và rất thành công) này, trong lĩnh vực văn học sử Thibaudet còn có ý tưởng (không mấy thành công) là chia lịch sử văn học thành các giai đoạn theo thế hệ nhà văn, rất giống với cách làm của linh mục giáo sư Thanh Lãng (1924-1978), tác giả bộ Phê bình văn học thế hệ 1932 (1972) và có dự định viết cả một bộ sách đồ sộ trên chục cuốn về lịch sử văn học Việt Nam theo thế hệ, trong đó đã in được cuốn Văn học Việt Nam: thế hệ dấn thân yêu đời (1969).

Ngày nay, chúng ta chứng kiến và sống cùng nhiều loại phê bình văn học lừng danh, với những tên gọi gần như đã hóa ra thành ngữ hằng ngày trên báo chí; đó là trường hợp cụm từ “phê bình xu phụ” của Lại Nguyên Ân và “phê bình du kích” của Nguyễn Hoàng Văn. Gần đây hơn cả có người còn đề xuất cái tên “phê bình khảo cổ”, có lẽ vì quá hoảng sợ trước dung lượng lịch sử đang ngày một gia tăng trong phê bình văn học.

Nhìn ngược trở lại lịch sử, ngay trước 1945 đã có một nhà phê bình từng nảy ra ý tưởng xếp hạng, phân loại phê bình: Kiều Thanh Quế, trong cuốn Phê bình văn học (tủ sách Phê bình của NXB Tân Việt, 1942), khi đề cập tới các hiện tượng phê bình theo ông là không hay, không “sáng tạo”, những “hạng bình-giả tạp nạp”, đã gọi ra năm cái tên: Phê bình quảng cáo (“chỉ giá trị bằng những lời rao của bọn trẻ bán báo”; hạng phê bình “mỗi mỗi đều chỉ trích”; Phê bình vì hiềm riêng (ví dụ như Trương Tửu đối với Tự lực Văn đoàn); Phê bình “giễu cợt trò hề”; “hạng bình giả dung hòa”, không khen hẳn, cũng không chê hẳn.

Nhà phê bình miền Nam tài năng nhưng yểu mệnh Kiều Thanh Quế (sinh năm 1914, mất năm 1947) là một trong những tiếng nói sớm và mạnh mẽ ủng hộ dịch thuật (bản thân ông cũng bắt tay vào dịch một số tác phẩm), đồng thời góp lời phê phán những lối phê bình xấu xa “mang sự rầu lòng đến cho nồi canh”. Kiều Thanh Quế chủ yếu đăng bài trên tạp chí Tri tân. Với Kiều Thanh Quế, các nhà phê bình đáng khen của thời ấy phải kể tới Hải Triều (khi phê bình Nguyễn Công Hoan) hay Phan Văn Hùm (khi phê bình thơ của Xuân Diệu), còn các nhà phê bình “tạp nạp” bị ông chỉ đích danh có thể kể Trương Tửu, Lê Ta (tức Thế Lữ).

Các nhà phê bình chuyên đi phân loại, sắp xếp văn phẩm, nhưng chính bản thân họ cũng có lúc bị phân loại, định giá một cách nghiệt ngã.
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #9 vào: 22/12/2011, 08:27:41 »
Chép lại một bài trên báo cũ liên quan đến các tủ sách nổi tiếng:

Trích từ tạp chí Văn hữu, mục “Lượm lặt”

Vài tủ sách Việt-Nam nổi tiếng

Trong số các tay chơi sách nổi tiếng ở Việt-Nam gần đây, đáng kể có tủ sách của các học giả Phạm-Quỳnh, Đào-Duy-Anh, Vương-Hồng-Sển, Lê-ngọc-Trụ, tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu, bác sĩ Dương-Tấn-Tươi.

Cuộc chiến tranh vừa qua đã thiêu hủy một phần lớn các tủ sách quí giá trên đây. Cả tủ sách Phạm-Quỳnh tập trung ở biệt thự riêng trên bờ sông An-Cựu (Huế) đã bị đám cán bộ V. M. tịch thu phá tán. Hàng vạn pho sách cổ kim đông tây, đóng da, mạ vàng của ông cựu chủ nhiệm Nam Phong và thượng thư triều đình Huế, hồi 1945, có người đánh giá hàng mấy triệu bạc, sau ngày Phạm-Quỳnh bị bắt đã theo khói lửa chiến tranh mà tiêu tán.

Tủ sách của nhà soạn từ điển Đào-Duy-Anh chở tản cư trên ba va gông đôi từ Hà-nội chuyển vào Thanh-Hóa, trong đêm 19 tháng chạp năm 1946, đã dùng làm chiến lũy và mồi ngon cho lửa đạn. Sau đó người ta thấy dấu vết bao nhiêu sách quý của Đào-Quân như những xác người nằm đầy khắp cả Ga Hàng-Cỏ.

Tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu ở Quảng-Nam, công trình mấy mươi năm sưu tập sách, tạp chí giá trị đông tây, gồm hàng vạn quyển, sau thời kỳ khởi nghĩa, đều bị cán bộ V. M. địa phương ra lệnh thiêu đốt, cho sách chữ hán là tàn tích phong kiến, sách tây là sản phẩm của đế quốc thực dân!

Tủ sách của bác sĩ Dương-Tấn-Tươi, ở Mỹ-Tho phần nhiều gồm những sách quí lạ, đóng bìa bằng sừng ở ngoại quốc, cùng các bản thảo của văn thi sĩ Việt-Nam, trong đó có một bản chữ nôm Kiều của Nguyễn-Du, sau ngày kháng chiến ở miền Nam nổ bùng, đã bị quân viễn chinh Pháp đốt sạch. Lửa cháy tủ sách này luôn mấy ngày đêm, dâng khói khét lẹt mùi sừng và da bìa sách đen ngòm cả một góc châu thành Mỹ-Tho.

Tủ sách của nhà khảo cổ Vương-Hồng-Sển được chở cả xuống mấy chiếc ghe bầu lớn tản cư ở hậu giang, trôi nổi theo chủ nhân, sau bao phen hiểm nghèo, suýt tiêu ma giữa hai lằn đạn, may mắn được toàn vẹn với đầu óc bạc trắng vì ngày đêm lo mất sách của họ Vương. Vương quân vẫn thường cho là kiếp trước mình khéo tu và còn nặng nợ với sách nên chúng không nỡ lìa cố chủ. Tủ sách của vị phó giám đốc viện Bảo Tàng Quốc gia hiện ngự trị ở một ngôi nhà cổ kính tại ngoại ô Sàigòn, là nơi gặp gỡ của các tài tử chơi sách, các nhà nghiên cứu muốn tìm xem tài liệu cổ, tác phẩm hiếm quí.

Người chơi sách thứ hai được may mắn giữ gìn nguyên vẹn cả tủ sách đồ sộ qua khói lửa chiến tranh vừa rồi là học giả Lê-Ngọc-Trụ, hiện đang giảng dạy Việt ngữ ở Văn Khoa Đại Học và trông nom Thư Viện Quốc Gia. Lê Tiên Sinh nhờ ở một nơi yên tĩnh không xa Sàigòn mấy có thể đóng kín cửa nhà chứa gia tài tinh thần khổng lồ của mình mà không bị giặc cướp hay quân chê chữ nghĩa, ghét sách vở đến phá hoại. Có thể nói rằng trong bao nhiêu tủ sách, thư viện tan nát vì chiến tranh vừa qua, hai học giả họ Vương và họ Lê là thiểu số được diễm phúc lớn lao tránh khỏi cảnh “thử hận miên miên vô tuyệt kỳ” của hạng tài tử chơi sách ở đời, mình còn sống mà tủ sách của mình đã tiêu ma.

(Văn hữu, số 5, tháng Năm, 1960, tr. 55-56)
 

Ngủ rồi MERIT

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #10 vào: 22/12/2011, 09:42:49 »
Thế nên, các bác có tủ sách khủng nên xả hàng ngay đi thôi :d phòng tránh cảnh “thử hận miên miên vô tuyệt kỳ”.
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #11 vào: 22/12/2011, 09:55:38 »
Các cao nhân lịch duyệt giang hồ cho tôi hỏi bài trên đây có bao nhiêu phần trăm sự thật với, đoạn ga Hàng Cỏ thấy nghi lắm :d
 

Ngủ rồi ngocmai

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #12 vào: 22/12/2011, 16:41:44 »
Một nhà nghiên cứu người Mỹ là Smith R.B đã làm một khảo cứu về tàng thư của triều Nguyễn, xin tóm tắt vài nét chính của bài viết này

Nhà nghiên cứu Smith đã làm một cuộc khảo sát về các tư liệu Hán-Nôm và Quốc ngữ liên quan đến xã hội thời Nguyễn. Theo tác giả này, kho lưu trữ Hán-Nôm lớn nhất về xã hội triều Nguyễn nằm trong  triều đình Huế, bao gồm hầu hết các tài liệu sơ cấp bằng chữ Hán, trừ các tài liệu do khách Trung Quốc sang thăm triều đình viết ra đã được đưa về Trung Quốc (có thể còn lưu giữ đâu đó bên Trung Quốc). Năm 1942, một nhóm lưu trữ do Boudet và Ngô Đình Nhu (người tốt nghiệp đại học lưu trữ ở Pháp) chỉ đạo đã cố gắng lập ra một danh mục các sách do triều đình soạn thảo và có trong tàng thư của triều đình. Cũng trong thời gian này, tất cả các sách quý nhất của triều đình đều được chuyển vào Viện Văn Hóa ngay bên ngoài cổng phía đông của đại nội. Nhưng do những biến động lịch sử, công việc lưu trữ này chưa hoàn tất. Theo Smith, chính phủ Việt Minh phải giải quyết quá nhiều công việc nên đã không đủ sức quản lý tàng thư của triều đình và hậu quả là nhiều tài liệu đã bị mất mát, hư hỏng . Sau đó, một trận hỏa hoạn đã tàn phá kinh thành Huế và có đến ba phần tư thư tịch cũng theo đó bị phá hủy . Năm 1959, “Ủy ban dịch thuật các lưu trữ của Việt Nam” được lập ra, dưới sự bảo trợ của Đại học Huế khi đó do Linh mục Cao Văn Luận làm hiệu trưởng. Những tài liệu còn được lưu giữ đã được microfilm hóa và chuyển sang Pháp, theo Smith là có 800 cuộn phim và đa phần trong số đó liên quan đến xã hội Việt Nam triều Nguyễn. Ngoài việc giới thiệu khái quát về lịch sử các tư liệu Hán-Nôm và Quốc ngữ , Smith đã tóm lược  nội dung của những tư liệu này.
1)   Các bộ sử liệu. Quan trọng nhất là bộ Khâm định Việt sử thông giám cương
mục. Bộ sử này được Triều đình ban lệnh soạn thảo từ năm 1856 và hoàn tất trong 4 năm, nhưng phải tới năm 1871, Tự Đức mới viết lời bình cho bộ sử này. Bộ sử  đã được Viện Sử học Việt Nam dịch ra tiếng Việt từ năm 1957-1958.
Năm 1820 Minh Mạng cho lập Quốc sử quán và bổ 30 học giả làm nhiệm vụ
ghi chép sử nhà Nguyễn từ 1558 đến 1802. Smith cho rằng Minh Mạng không hài lòng với nhiều vấn đề mà các nhà ghi sử này chép lại nên bộ sử về nhà Nguyễn đã bị trì hoãn nhiều lần mà không được đưa ra công bố. Đến năm 1844  Thiệu Trị chấp nhận cho in bản Đại Nam thực lục tiền biên gồm 12 quyển mô tả giai đoạn từ 1558 đến 1778. Năm 1848, vị Vua này tiếp tục thông qua cho in bộ Thực lục chính biên đệ nhất kỷ gồm 60 quyển mô tả thời Tây Sơn và triều Gia Long, đồng thời bộ Đệ nhị kỷ đã được chuẩn bị đưa in gồm 200 quyển, mô tả thời đại Minh Mạng và sau đó là bộ đệ tam và đệ tứ. Viện Sử học Việt Nam đã cho dịch sang tiếng Việt bộ Đại Nam thực lục (do Nguyễn Ngọc Tinh và Đào Duy Anh dịch). Năm 1925 Khải Định cho soạn bộ sử tóm tắt Sử quốc triều, chính biên toát yếu, gồm giai đoạn 1779 đến 1888, do Cao Xuân Dục chủ soạn.
   Ngoài các bộ chính sử còn có các bộ liệt truyện. Song song với việc soạn bộ tiền biên, Quốc sử quán còn soạn Đại Nam liệt truyện (1841-1852). Bộ Liệt truyện đã được Phan Kế Bính dịch sang Quốc ngữ nhưng bản dịch của ông rất hiếm hoi, cũng như bản gốc của nó.
   Liên quan đến lịch sử thi cử triều Nguyễn có bộ Quốc triều đăng khoa lục ghi chép lại các sự kiện quan trường giai đoạn này.
2)   Những ghi chép về địa lý. Gồm có Đại Nam nhất thống chí I và II, Đồng Khánh địa dư chí, Nhất thống dư địa chí, Hoàng Triều Nam Việt địa dư chí, Gia Định thống chí..
3)   Các nguồn tài liệu về hành chính và luật pháp. Điển hình nhất là cuốn Đại Nam điển lệ toát yếu tân biên (in 1909), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (1842-1851), Đại Nam Hoàng Việt luật lệ (Luật Gia Long năm 1812), Minh Mạng chính yếu (in năm 1898).
4)   Thơ ca. Trong tàng thư chữ Nôm của triều Nguyễn có các tập thơ Kim Vân Kiều của Nguyễn Du với bản gốc chữ Nôm in năm 1813 và được Petrus Ký dịch ra Quốc ngữ năm 1875. Ngoài Kim Vân Kiều còn có Lục Tiên của Nguyễn Đình Chiểu, Sơ Kính tân trang (1804) của Phạm Thái, Truyện Tây sương của Lý Văn Phúc. Cấn Trai thi tập bằng chữ Hán của Trịnh Hoài Đức.
5)   Châu bản gồm các sắc lệnh, chỉ dụ của nhà Vua và tấu trình của các quan trong
triều. Ngoài ra còn có địa bạ (điền bạ), hương ước, thần tích, tộc phả, gia phả lưu giữ trong kho Hán-Nôm của triều Nguyễn.
Qua trình bày của Smith có thể thấy rằng các nhà nghiên cứu Mỹ rất quan tâm
đến nguồn tài liệu được hình thành và lưu giữ dưới triều Nguyễn. Theo đánh giá của các học giả, đây là nguồn sử liệu phong phú rất có giá trị cho công việc nghiên cứu mà không phải triều đại phong kiến Việt Nam nào cũng có được.
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #13 vào: 22/12/2011, 17:18:55 »
Các cao nhân lịch duyệt giang hồ cho tôi hỏi bài trên đây có bao nhiêu phần trăm sự thật



Tủ sách của bác sĩ Dương-Tấn-Tươi, ở Mỹ-Tho phần nhiều gồm những sách quí lạ, đóng bìa bằng sừng ở ngoại quốc, cùng các bản thảo của văn thi sĩ Việt-Nam, trong đó có một bản chữ nôm Kiều của Nguyễn-Du

Nếu như mình không hiểu nhầm ý tác giả, thì trong các bản thảo có bản thảo Kiều của Nguyễn Du. King
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #14 vào: 22/12/2011, 19:17:58 »
Xin bác ngocmai cho biết hiện nay châu bản triều Nguyễn nằm ở đâu? Hình như châu bản nằm trong tay khá nhiều cá nhân thì phải?