Tác giả Chủ đề: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam  (Đã xem 6799 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi ngocmai

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #15 vào: 22/12/2011, 21:32:47 »
Xin bác ngocmai cho biết hiện nay châu bản triều Nguyễn nằm ở đâu? Hình như châu bản nằm trong tay khá nhiều cá nhân thì phải?

Hình như trong TT Lưu trữ QG I (trước ở cạnh TVQG, nay chuyển về Nam Trung Yên) có đấy bác ạ
 

Ngủ rồi ngocmai

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #16 vào: 23/12/2011, 08:32:31 »
À, ông Smith ông ấy viết là có một giai đoạn kho lưu trữ của Huế không được bảo quản và cũng không ai biết điều gì đã xảy ra với tàng thư này là từ tháng 8/1945 đến tháng 2/1947. Rất nhiều tài liệu quý đã bị đưa ra chợ bán làm giấy gói đồ (trong đó có thể gói xôi) và làm giấy cuốn thuốc lá. Vậy rất có thể bác giaygoixoi có sở hữu nhiều tài liệu của kho lưu trữ này đấy ạ
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #17 vào: 23/12/2011, 09:06:41 »
À, ông Smith ông ấy viết là có một giai đoạn kho lưu trữ của Huế không được bảo quản và cũng không ai biết điều gì đã xảy ra với tàng thư này là từ tháng 8/1945 đến tháng 2/1947. Rất nhiều tài liệu quý đã bị đưa ra chợ bán làm giấy gói đồ (trong đó có thể gói xôi) và làm giấy cuốn thuốc lá. Vậy rất có thể bác giaygoixoi có sở hữu nhiều tài liệu của kho lưu trữ này đấy ạ

Những thứ đó viết bằng chữ Thánh hiền, không thể dùng để gói xôi ngocmai ơi
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #18 vào: 23/12/2011, 09:21:51 »
Mình đã nghi từ lâu rồi mà :d Bác Xôi show hàng đê.
 

Ngủ rồi ngocmai

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #19 vào: 23/12/2011, 20:29:03 »
Cụ Đào Duy Anh chẳng kể chuyện là có người bạn đi mua giấy cuốn thuốc lá, lại thấy trong thùng giấy bộ chữ Hán viết tay, hoá ra là bản gốc bộ điều trần của... Nguyễn Trường Tộ, hoặc có lần về quê thấy hàng xóm mang các mộc bản triều Nguyễn ra..chẻ làm củi. Các cụ tổ nước ta chắc viết ra khối ấy chứ mà con cháu các cụ cứ mải làm gì, để thất lạc hết cả. Các bác nhà sachxua mau chân mau tay tìm xem châu báu lạc ở đâu mà thu về.
 

Ngủ rồi thichchoisach

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #20 vào: 24/12/2011, 10:37:13 »
Trích dẫn
Trích từ tạp chí Văn hữu, mục “Lượm lặt”

Vài tủ sách Việt-Nam nổi tiếng

Trong số các tay chơi sách nổi tiếng ở Việt-Nam gần đây, đáng kể có tủ sách của các học giả Phạm-Quỳnh, Đào-Duy-Anh, Vương-Hồng-Sển, Lê-ngọc-Trụ, tủ sách của cựu thượng thư Phạm-Liệu, bác sĩ Dương-Tấn-Tươi.


Trích từ Nội san Sách Xưa mục lượm lặt :p
Ngày nay, những tủ sách quý hiếm trong đó có bản thảo Kiều của Nguyễn Du, Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu theo dòng đời xô đẩy, đã đi trọn 1 vòng của nó. Được sưu tầm bởi những học giả - cống hiến cho Nhà nước - Nhà nước đem bán ve chai, đã được thu gom, tập trung trong những tủ sách của những đại gia như Xôi, Tuệ, Phê, Thino... ko biết còn thiếu ai ko nhỉ #:-S :d
 
Bảo bối của chúng ta là chiến tranh, là chuyên chính

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #21 vào: 04/01/2012, 10:36:11 »
Bài "Lược khảo về thư viện" của Bửu Kế đăng trên tạp chí Đại Học số 1 (tháng Ba 1957). Đây là tờ tạp chí gắn liền với Viện Đại Học Huế, "chủ trương biên tập" là Nguyễn Văn Trung (một số bài ký tên Hoàng Thái Linh), với sự cộng tác chặt chẽ của những người như Lê Tuyên, Trần Văn Toàn, Nguyễn Nam Châu, Trương Văn Chình, Lê Ngọc Trụ... Tờ tạp chí ra được đến số 40.

Bài của Bửu Kế đăng từ tr. 101 đến tr. 111, ở đây tôi trích từ tr. 106 đến tr. 109, chủ yếu phần liên quan tới thư viện của Viện Văn Hóa Trung Việt (nơi chứa nhiều châu bản triều Nguyễn) và sự tan biến của nó; bài viết cũng nói đến một chi tiết là Viện Văn Hóa đã mua lại thư viện của Phạm Quỳnh, nhưng không rõ các chi tiết.

-----------

Vậy tại Việt-Nam, thư-viện đã xuất-hiện từ thời đại nào? Thật cũng khó kê cứu cho đích-xác được vì thiếu hẳn tài-liệu. Tuy thế, sách sử cũ cũng rọi cho chúng ta được ít nhiều tia sáng dẫu không nhờ đó mà nhìn thấy tất cả mọi sự vật, nhưng cũng giúp ta rõ được đôi phần về những điều ta muốn biết.

Năm 1078, vua Lý-Thái-Tổ sai hai quan Nguyễn-đạo-Thanh và Phạm-Hạc đi lấy sách tam tạng về bỏ vào thư-viện Đại-Hưng.

Dưới thời nhà Minh đô-hộ (1414-1427) người Tàu không những bắt đàn bà con gái mà còn cướp những kho sách của chúng ta đem về Trung-quốc.

Vua Lê-thánh-Tông (1460-1497), một ông vua nổi tiếng về văn học, đã mở rộng nhà Thái-học, làm nhà Văn-miếu, tổ chức nơi ăn chốn ở cho sinh-viên lưu-trú cùng là lập kho bí thư để chứa sách.

Đến đời nhà Nguyễn, vua Gia-Long cũng như vua Minh-Mạng đều ra lệnh sưu tầm sách cổ, ban thưởng cho những người đã sáng tác hoặc nạp vào kho những sách tự mình làm hoặc tìm kiếm được.

Tàng thư lâu hoặc những cái Các trong Đại-Nội đều là những nơi chứa sách để nhà vua hoặc Triều đình tra cứu. Các vị đại thần gặp phiên chầu phải ở lại túc trực trong Nội nhiều khi phải kiêm cả việc thủ thư nữa. Người ra [ta] đã từng kể chuyện vua Tự-Đức bảo một ông quan trực, lấy cho Ngài bộ Đông-châu liệt quốc. Nhưng vì tiếng nhà vua nói nhỏ, ông nọ nghe lầm là quyển “Ông Âu mụ Ốc” nên tìm suốt mấy tiếng đồng hồ, đến toát mồ hôi vẫn không thấy. Sau đánh bạo tâu lại mới hay mình đã nghe lầm.

Những loại sách có giá trị như Hội Điển, Liệt Truyện, Thiệt-lực, Chánh Yếu v.v… mỗi khi xuất bản, vua thường ban cho các ông hoàng hoặc các quan đại thần để bỏ vào thư-viện riêng của mình.

Tại Huế có nhiều ông hoàng, nhiều ông quan nổi tiếng có những viện sách khá dồi dào, tuy không mở cửa công khai cho công chúng đến đọc, nhưng những người quen biết thường hay lui tới để kê cứu hay mượn sách về nhà đọc.

Các sách trên này toàn là chữ Tàu hoặc chữ nôm. Còn về chữ Pháp và quốc ngữ thì mãi đến thời kỳ Pháp thuộc chúng ta mới có thư-viện công cộng.

Năm 1902 một thư-viện đầu tiên được mở cửa cho công chúng vào đọc. Ban đầu còn nhỏ hẹp vì số người thông thạo Pháp ngữ chưa được bao nhiêu. Cuối năm 1917, Trung ương thư-viện, một thư-viện khá đồ sộ ra đời, đặt trụ sở ngay chính giữa trung tâm thành phố Hà-nội. Thư-viện nầy bành trướng rất mau, chẳng bao lâu đã có được 155 ngàn quyển sách, hơn 1 ngàn thứ tạp chí, chưa kể nhật báo, phòng đọc sách có thể chưa được 120 khán giả và mở cửa từ 9 giờ mai đến 10 giờ tối.

Theo dư luận của mấy nhà quan sát ngoại quốc hồi bấy giờ thì Thư-viện Trung-Ương ở Hà-nội và Nha Viễn-Đông bác cổ, có thể xấp [sic] vào hàng thứ nhì ở Á Đông.

Ở Hà-nội lại còn có các thư-viện riêng cho các trường Đại-học như Luật-khoa, Y-khoa, Văn-khoa, Khoa-học v.v…

Tại Huế, Thư-viện công cộng ra đời chậm hơn Nam và Bắc. Tuy thế nó vẫn có giá trị riêng của nó, dồi dào nhất là những sách về lịch-sử.

Từ nhà Lê trở về trước sách sử, tài liệu, không đâu nhiều bằng Thư-viện Trung-Ương và trường Viễn-Đông Bác cổ Hà-nội. Nhưng trái lại, tại triều Nguyễn về sau thì Viện Văn-Hóa Trung-Việt ăn đứt tất cả các nơi. Quí nhất là những thứ Châu bản, những tài liệu đích xác, có chữ của vua phê và đóng dấu. Những quyển quốc-thư, sách do các văn thi-sĩ Việt-Nam trước tác.

Thư-viện Viện Văn-hóa đã từng có một thời toàn thịnh của nó. Tất cả vào lối trên 10 vạn quyển sách, tập họp nhiều thư-viện lại làm một: Thư-viện của vua Duy-Tân, Thư-viện của Nội-Các, Viện Cơ-mật, Tòa Khâm-sứ, Sở Mật Thám, Thư-viện Bảo-Đại, Thư-viện Câu lạc bộ sĩ quan Pháp. Có rất nhiều sách chưa bao giờ người ngoài được đọc, có những tài liệu về hạng tối mật, chỉ một số rất ít người được phép xem mà thôi. Như tập thơ nôm của vua Tự-Đức chẳng hạn, đến những 100 bài, mà chỉ lọt ra ngoài mới được vài bài. Tài liệu vua Duy-Tân khởi nghĩa rất đầy đủ lại có ngay cả cái cờ và thanh kiếm của Trần-cao-Vân dùng để điều khiển cuộc cách-mạng. Ba giãy [sic] nhà, hiện giờ là trường Hàm-Nghi, chất đầy cả sách trên những cái kệ cao 4 thước, thường phải dùng đến thang để lấy sách. Trước khi xảy ra cuộc chiến tranh Việt Pháp, bao nhiêu sách và tài liệu nói trên đều bỏ cả vào trong những cái bao bố, bao lát có đánh dấu, chỉ chờ có lệnh là chở về làng Hiền-Lương, cách thành phố 20 cây số. Tại đây, mấy cái nhà thờ họ và mấy cái đình đã được trưng dụng trước, dùng tre và lồ ô làm thành những cái sàn gác để chất sách.

Đến đây tưởng tôi nên nhắc lại một đoạn ký ức về việc tản cư sách để bạn đọc biết sơ qua về những bước thăng trầm của Viện Văn-Hóa Trung-Việt.

Sách và tài liệu đều nằm cả trong bao, giao cho mấy ông lao công và tùy phái giữ, còn công chức đều phải tản-cư đi ngoại tỉnh: người Thanh-hóa, kẻ Quảng-Bình, Hà-tịnh.

Tôi đang sống cuộc đời ăn không ngồi rồi ở Quảng-Bình đâu nửa tháng thì tiếp được điện tín ở Huế gọi về để điều khiển việc tản-cư sách của Viện Văn-hóa, về Hiền-lương. Đến Huế, tôi và vài người bạn nữa, trưng-dụng một số xe hàng, trên trần kết lá để che mắt phi-cơ, xông pha tên đạn để dời sách ra khỏi thành phố. Lúc bấy giờ cửa Thượng-tứ đóng bít và đắp đất, bên nầy sông Hương là phòng tuyến của ta, còn bên kia, phòng tuyến của Pháp. Trong lúc chúng tôi chở sách, đạn từ trên phi-cơ bắn xuống hoặc từ bên kia phòng-tuyến vèo vèo bắn sang, thỉnh thoảng lại một vài người vệ quốc quân đóng ở nhà bên cạnh hoặc gác trên cột cờ bị đạn chết. Chở luôn mấy ngày như thế vẫn không hết sách. Những thứ chẳng lấy gì làm quan hệ đều phải bỏ lại vì các cầu ở miền quê sắp bị phá, phương tiện giao thông không tiếp tục bằng xe ca-mi-ông được nữa.

Chúng tôi ở cả trong một cái đình Hiền-lương để giữ gìn sách và tài liệu. Một tấm bảng yết thị được dựng lên, trừng phạt nặng nề những kẻ xâm phạm vào kho tàng văn-hóa ấy.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu thì bộ đội Pháp tràn về. Chúng tôi phải chạy lên trên miền núi vì không ai muốn bị người Pháp bắt được làm gì. Binh sĩ Pháp chiếm kho sách. Họ vớ được mấy thùng địa đồ rất quí. (Bản đồ vẽ từng làng một. Cứ mỗi làng gồm có bốn bức rất rộng đâu lại một [sic], có ghi từng con đường, nhà thờ, trường học v.v…) Họ lấy những thứ gì cần thiết còn sách thì gọi dân chúng vào cho tha hồ muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Hồi ấy chắc nhiều bạn đọc cũng đã trông thấy những người gánh từng gánh sách đi bán, sách chữ nho thì dùng để bồi liễn, dùng làm giấy hút thuốc, làm giấy tiền, đánh thành con cúi để châm thuốc hút v.v… Ai đã từng trông thấy tòa nhà Hậu Bổ nguy nga và kiên cố thế mà chỉ có mấy ngày đã trở nên một nơi bình-địa thì chắc không lấy gì làm ngạc nhiên thấy kho sách của Viện Văn-Hóa bị bàn tay tham lam của quần chúng tàn phá.

Sau khi tình hình đã tạm yên. Hội đồng chấp chánh lâm thời thành lập, chúng tôi lại tìm cách thu thập lại những thứ đã mất, nhưng một trăm phần không còn được một. Nhưng về sau nhờ mua được thư-viện của ông Phạm-Quỳnh cùng góp nhặt lần hồi nên giờ đây thư-viện của Viện Văn-hóa nầy cũng đã có được một số sách khá khá.

Ngoài thư-viện của Viện Văn-Hóa ra, còn có thư-viện Accueil, thư-viện của hội Quảng trị, đều bị hao thất rất nhiều trong cuộc chiến tranh Pháp Việt. Bộ sách quí nhất mà hội Quảng-trị bị mất là Bộ Tứ khố toàn thư tính giá bây giờ hơn 1 triệu bạc.
 

Ngủ rồi vechaixuhue

  • ******
  • Bài viết: 1,584
  • Thanked: 5 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hà Nội hết hàng đành vào xứ Huế lượm ve chai
Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #22 vào: 04/01/2012, 12:38:19 »
Hình như trong TT Lưu trữ QG I (trước ở cạnh TVQG, nay chuyển về Nam Trung Yên) có đấy bác ạ
Đúng là Châu bản triều Nguyễn hiện đang được lưu trữ tại đây. Mùa hè rồi em đã đến đọc và đã copy được những Châu bản em cần.
Hiện nay Trung tâm lưu trữ 1 đã làm xong Mục lục Châu bản, có thể tra cứu rất tiện.
Em sẽ trở lại giới tjiệu cụ thể về Châu bản triều Nguyễn ở 1 bài riêng nếu có nhiều bác quan tâm đến điều này!
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #23 vào: 11/06/2012, 11:36:54 »
Trèo lên cây bưởi hái hoa

Thanh Tâm Tuyền

Tôi nhận được thư của một người bạn yêu thơ - vừa thương vừa giận tôi lắm - trách móc và đòi tôi ít nhất hãy tự giảng lấy một bài thơ của mình để độc giả có thể theo dõi nổi mình. Hằng ngày tôi bắt gặp những câu hỏi tương tự như: “Thơ viết cái gì? Đọc không làm sao hiểu nổi”, ở những người bạn mới gặp lần đầu, những học sinh rất thân của tôi.

Tất nhiên là tôi không thể nào chối một phần cái sự “tối tăm” của thơ tự do. Vì như tôi đã có dịp trình bày: bản vị của một bài thơ tự do không nằm trên mỗi câu như ở thơ cũ (chữ cũ gồm cả cho thơ mới) mà đặt trên mỗi từ khúc. Đừng tìm ý nghĩa và tiết điệu của bài thơ theo mỗi câu mà hãy nắm trọn từng từ khúc một. Mỗi từ khúc là một toàn thể về ý nghĩa cũng như tiết điệu ở đấy người làm thơ liên kết những lớp hình ảnh xô đến - để diễn một ý lớn và một điệu trọn vẹn. Chính ở chỗ này - người làm thơ mở cửa tâm hồn tiếp đón rất nhiều hình ảnh cho một từ khúc - khiến thoáng ngó người đọc cảm thấy ý tưởng bị ngắt quãng vì những hình ảnh đứng bên nhau với cái lướt mắt sơ sài tưởng không liên lạc gì với nhau. Cho nên người đọc phải tìm được sự thống nhất khăng khít của những hình ảnh ấy.

Nguyên tắc chính của thơ tự do là tránh giảng giải phân trần, bài thơ tự nói bằng hình ảnh.

Tôi nhớ rằng trong một buổi nói chuyện về thơ tự do tại Câu Lạc Bộ Văn Nghệ năm kia, tôi đã trình bày “sự khó hiểu” trong thi văn không có gì mới lạ và đặc sắc. Có những câu thơ cổ đã rất quen với mọi người - ai cũng tưởng hiểu - nhưng khi cần giảng rõ thì thật là vất vả. Thói quen đã làm cho những câu thơ ấy thâm nhập với chúng ta. Thơ tự do cũng đòi hỏi cái thời gian được làm quen cần thiết.

Cũng trong buổi nói chuyện ấy, tôi có nhắc đến những câu ca dao sau này:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!

để chứng tỏ trong vài trường hợp, ca dao cũng liên kết những hình ảnh theo cách “tự do”. Trong bốn câu thơ ấy, ý tưởng như đứt quãng chỉ câu thứ 4 rõ nghĩa còn ba câu trên mơ hồ gần như không liên lạc với câu dưới.

Tôi được một thính giả góp ý kiến rằng bài ca dao ấy chẳng có gì lạ, nó thuộc thể hứng. Hứng chỉ là một tên gọi không giảng được ý nghĩa nào. Ngoài hai thể phú và tỉ rõ ràng, người ta sẽ gọi là những những bài ca dao không tìm thấy sự liên lạc giữa các phần tử của bài. Phần thừa ấy gọi là hứng:

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng.
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây…

Hứng: câu trả lời thật tiện lợi và lười biếng.

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!
- Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thuở nào ra?

Tôi không chịu đứng lại ở chữ hứng vô nghĩa. Tôi tìm giải nghĩa cái hứng ấy của mọi bài ca dao - sự liên kết hình ảnh - cũng như mỗi bài thơ tự đo [sic] có ý nghĩa của nó không phải chắp nối bậy bạ tùy “hứng” mà thành.

*
*   *

Lần thứ nhất tôi mang bài ca dao này giảng ở một lớp học đông và ồn ào giữa đường phố Sài gòn - cái lớp học tôi đã gọi là “giấc mơ của tôi” vì mỗi lần bước ra khỏi lớp, tôi như vừa thoát khỏi giấc ngủ mệt nhọc và không ngó nhận được một khuôn mặt học sinh nào. Vận dụng hết sức cái trực giác sáng tạo, tôi chỉ mơ hồ cảm rằng hình như ba câu thơ đầu ám chỉ vẻ đẹp của người đàn bà:

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc…

Hoa bưởi trắng gợi đến mớ tóc xõa dài thơm đang hong nắng. Nụ tầm xuân đã nở còn xanh như duyên dáng người gái vừa trở thành thiếu phụ.

Rồi tôi mang bài ca dao ra khỏi thành phố, ở trong một căn lớp gỗ, cửa sổ mở dài trên con lạch đầy nước, bờ bên kia nhà ẩn sau những lớp cây hoang. Vào một buổi sáng mát, không khí êm tĩnh, tiếng nước đổ ào ào bên kia bờ - người ta tắm về sớm - tiếng búa gõ trên sắt của công việc, chỉ có tiếng nói của tôi, tôi khám phá được một bài thơ.

Trước hết trở về với ý toàn bài: câu chuyện trao đổi giữa một người con trai chưa vợ và một người con gái đã có chồng. Chúng ta hãy đặt câu hỏi này: câu chuyện như thế phải xảy ra ở chỗ nào? Ở nơi có mặt người thứ ba hẳn là không thể được. Bởi vậy không gian của câu chuyện tâm tình không thể là trên con đường làng hoặc ngoài đồng vắng, ý vị câu chuyện sẽ thô tục bao nhiêu.

Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Ấn định khung cảnh cho cuộc gặp gỡ thoáng qua này. Đó là hai người hàng xóm cạnh nhau hai khoảng vườn nhà cách nhau bằng hàng dậu thưa. Người con trai trèo lên cây để ngắt hoa bưởi - cử chỉ bâng quơ những trữ tình - để tiện ngó sang vườn bên ở đấy thoáng bóng người ao ước. Rồi chàng bước xuống tiến đến bên dậu hái nụ tầm xuân - cử chỉ bâng quơ thứ hai vẫn chẳng kém trữ tình - và cất tiếng:

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em đã có chồng anh tiếc lắm thay!

Người hàng xóm cũ đã lấy chồng, được ngày về thăm mẹ - phải hiểu như thế để giữ cái thanh sạch thơ mộng của mối tình - trả lời:

Ba đồng một mớ trầu cay,
Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?

Nghĩa là còn con gái, nàng cũng đã để mắt xanh vào người hàng xóm mà thuở ấy chàng vô tình. Bây giờ chàng biết đến thì đã muộn.

Nỗi trắc trở chua xót ngừng lại giữa chừng:

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra.

Hai câu bảy cuối cùng lửng lơ, câu chuyện bỏ dở. Có lẽ thoáng đâu nàng sợ bóng người thứ ba. Nàng trở vào nhà chưa kịp hết lời, nhưng mối tình ngang trái đã chấm hết. Vì chiều nay hay mai nàng đã quay về nhà mình - nhà chồng - ở làng xa, cách những “bốn quả đồi” những “ba ngọn suối” những “đôi cánh rừng” và biết bao nhiêu cánh đồng.

Bao giờ người con trai gặp được cô hàng xóm về thăm nhà lần nữa? Và rồi chàng quên dần câu chuyện cũ dù hoa bưởi thơm nở trắng và nụ tầm xuân xanh biếc còn kia.

*
*   *

Tôi muốn xin các bạn một thái độ thưởng ngoạn nghệ thuật cần thiết: tâm hồn mở rộng, hoàn toàn tự do, tránh bỏ mọi thiên kiến. Tôi muốn mời các bạn quay trở về với những gì quen thuộc nhất để tìm thấy những điều chứa dấu [sic] mới lạ và tìm vào những nơi lạ lùng để bắt gặp những điều gần gũi thân mật.

Trên trời có đám mây xanh
Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng.

Phải chăng người con trai đã nhìn vào đôi mắt trong suốt của người đẹp phân biệt mầu mây trời, để ao ước… có phải đôi mắt ấy đẹp quá - đẹp muốn chết người - không các bạn?

Chớ rửa lông mày chết cá ao anh

Mọi thế giới nghệ thuật đều mở cửa với các bạn những người đi vào bằng tất cả tâm hồn tự do trong sáng.

(tạp chí Sáng Tạo số 7, tháng Tư 1956, tr. 21-24)
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #24 vào: 11/06/2012, 11:39:26 »
Phạm Công Thiện trả lời loạt bài của ông Lê Hải Vân về Trường hợp Phạm Công Thiện đăng liên tục vô tận trong nhật báo Độc Lập từ hạ tuần tháng 5 năm 1970.

(Xin lỗi độc giả Tư Tưởng về bức thư nầy và xin hãy xem bức thư này như là một việc đáng lẽ không nên làm ở đây.)

P.C.T

Kính gởi thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan (tức Lê Hải Vân).

Phải chăng thi nhân không còn nói với nhau bằng tiếng nói của thi sĩ trong cơn lửa dậy? Tiếng chim đã bị những khẩu hiệu bóp nghẹn rồi sao và chỉ còn lại một thứ ngôn ngữ tối đen đọa đày trong sự rạn vỡ càng lúc càng rạn vỡ ở đất nước này? Tôi mong Ông có can đảm nhận thật tên của mình và nếu bút hiệu Lê hải Vân bị Ông chối bỏ thì tôi xin chịu lỗi và coi bức thư này gửi riêng cho Lê hải Vân để cho hình ảnh thi sĩ Nguyên Sa hãy còn là thi sĩ.

Bài Ông xuất phát từ sự xếp đặt lâu dài mang đầy “ẩn ý chính trị pha màu mật vụ” quá sôi nổi và cần phải được nghe lại cho đúng tiết nhịp của thời gian vượt ra ngoài mọi tư thế chính trị, bè nhóm, tập đoàn mà tôi thừa hiểu. Ông chỉ là kẻ thi hành hãnh tiến:

1) Tôi đã có bằng cấp tốt nghiệp trường đại học Yale ở Hoa kỳ, chứ không phải học hành “ngu dốt” và “bị thi rớt” ở Hoa kỳ như Ông đã công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể chịu khó tọc mạch đến tìm thăm tôi để nhìn bằng cấp ấy hay là Ông gửi thư hỏi thẳng Y.F.S.I ở đại học đường Yale tại New Haven (U.S.A) (nhưng tôi khó chịu: một người mang tâm hồn như tôi mà lại có bằng cấp thì đó quả là sự sỉ nhục quá lớn đối với tôi: chỉ có những kẻ không tự tin mới cần bằng cấp để chứng minh và “làm ăn”!)

2) Con người “nghệ sĩ điên gàn” trong tôi đã nổi loạn và khiến tôi tự ý bỏ học bổng ở tại Mỹ chứ không bị ai “cúp” học bổng vì “học dốt” như Ông đã công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể viết thư hỏi thẳng người trong cuộc, cô Cynthia Fish, địa chỉ: I.I.E. (Institute of International Education) ở United Nations Plazza tại New York City: chính cô Cynthia Fish là nhân viên phụ trách cấp học bổng cho tôi trong thời gian du học ở Hoa kỳ và cô Cynthia Fish đã ân cần mời tôi ăn cơm riêng với cô tại Broadway để tha thiết van xin năn nỉ tôi đừng bỏ học bổng, nhưng tôi trả lời: “Tôi không sống nổi ở nước Mỹ, vì nước Mỹ chỉ toàn là Coca Cola” và cô dịu dàng chăn sóc [sic] khuyên nhủ tôi nên nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ở một y viện phân tâm học tại New York, nhưng tôi từ chối và nhất quyết bỏ học bổng.

3) Lúc tôi học ở trường Đại học Columbia thì những bài vở của tôi thường vẫn được điểm A (tức là điểm cao nhất theo lối Mỹ), chứ không phải “học dốt”, “học không nổi” như Ông công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể biên thư hỏi lại giáo sư Faust tại trường đại học Columbia ở New York. Sở dĩ tôi bỏ học Columbia là vì tôi chịu không nổi cái thành phố New York và quá nhớ Paris và thích “làm thằng Clochard ở Paris hơn là triệu phú ở New York” (Tại sao lại phải cần nêu ra cái chuyện “học giỏi” của mình, khi tôi khinh bỉ hết tất cả học đường!)

4) Khi tôi nhất quyết bỏ Columbia và bỏ học bổng để đi qua Paris thì chính ông Donald Taylor, nhân viên cao cấp của đại học đường Columbia, đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp điện thoại đến Washington để can thiệp cho tôi qua Paris; trường Columbia thì bênh vực tôi (mà đại diện trường là ông Donald Taylor), còn Washington thì phản đối và cho rằng tôi “lợi dụng học bổng ở Mỹ” để đi Paris vì “những ẩn sự chính trị” (nguyên văn: Political implications) mà tôi thì có bao giờ thèm để ý đến chuyện chính trị. Chính ông Donald Taylor đã buồn rầu hỏi tôi: “Tại sao biết bao nhiêu sinh viên Mỹ muốn có được học bổng như anh mà còn anh thì lại bỏ học bổng?” Rồi ông hỏi tiếp: “Anh sẽ làm gì cho đời anh trong tương lai?” Tôi trả lời: “Thành Phật!” Câu chuyện xẩy ra một ngày trước lễ Thanksgiving tháng 11 năm 1965. Ông có thể viết thư hỏi thẳng ông Donald Taylor, assistant director F.S.C., Columbia University, New York City. Tôi muốn Ông hỏi thẳng một nhân viên cao cấp của Columbia để Ông đừng quá tin cậy qua tin tức theo lối “mật vụ” vu vơ.

5) Về câu “Tôi khinh bỉ tất cả các Thiền sư” chỉ là cách nói theo điệu Thiền sư “Phùng Phật sát Phật” (Gặp Phật thì giết Phật), chắc ông không hề biết rằng mấy Thiền sư gọi tổ sư Bồ Đề Đạt Ma là “tên rợ mắt xanh” (bích nhãn hồ), cái lối nói “ngạo mạn”, và “du côn” ấy nằm trong truyền thống ngôn ngữ Thiền tông, giống như cách nói “vô lễ” khác mà mấy Thiền sư nói với đức Phật; tôi không phải là một thiền sư, cho nên tôi không dám bắt chước Thiền sư Vân Môn gọi Phật là “đồ chùi cứt khô” (càn thỉ khuyết). Muốn hiểu được nghĩa sâu thẳm của những lời nói “thô tục” trên thì phải có tâm hồn bốc cháy với Lửa Tam Muội và mới đi vào được tinh thần “Thập Bát Không” của Bát Nhã (ô hay, ông Trần Bích Lan vốn là cựu sinh viên Phật học của Đại học Vạn Hạnh, không lẽ nào ông hiểu đạo Phật hơn tôi, giáo sư dạy về Phật giáo ở Viện Đại học Vạn Hạnh!)

6) Bây giờ tôi muốn đặt lên vài nhận xét về Ông:

a) Khi phê bình tôi, Ông nên có thái độ liêm sỉ tối thiểu; đừng xén từng câu riêng lẻ và bỏ mất ý nghĩa toàn thể, không có gì khôi hài cho bằng rút tỉa một vài câu lạc lỏng [sic] rồi tha hồ giải thích theo cái nhìn ngu xuẩn của mình;

b) Giá trị của tác phẩm tôi và của đời tôi có đứng vững hay không là do sức mạnh nội tại của chính tâm hồn tôi và do ngọn lửa trong tinh thần tôi điều động, chứ không phải chịu lệ thuộc vào những ý kiến của bất cứ ai;

c) Ông viết về tôi theo giọng điệu “trịch thượng” khôi hài và vô lễ một cách lố bịch, tất nhiên người nào có đọc sách Ông và đọc sách tôi đều thấy rằng Ông chưa đủ sức để nói chuyện đàng hoàng với tôi: sự trả thù của kẻ yếu tất nhiên là phải giống đàn bà (“xoi mói”, “tọc mạch”, “ba hoa nhảm nhí”, “ngồi lê đôi mách”), xin Ông hãy là kẻ trượng phu!

d) Tất nhiên hạng người tinh tế đều thấy rằng Ông ganh tài đố kỵ tôi đủ cách vì thua sút tôi ở quá nhiều lãnh vực (học thức, văn nghệ, tư tưởng, sáng tác) mai này thanh niên Việt nam sẽ nhớ đến tên Phạm Công Thiện, chứ khó có người còn nhớ đến tên Ông! Tôi mong Ông sống dai để nhìn thấy sự việc. (Tôi có “kiêu ngạo” lắm không? Thực ra, hãy còn rất khiêm tốn!)

7) Sau cùng tôi xin kêu gọi một chút “thơ mộng” trong tận đáy hồn ông: xin ông đừng đem chuyện riêng tư của đời một người cô độc để làm trò hề đám đông rẻ tiền, nếu ông đã đủ tư cách và đủ tâm hồn nhạy cảm thì chúng ta hãy nói chuyện nhau trong thế giới phiêu lãng của Tư tưởng. Chỉ khi nào chúng ta chịu đối mặt nhau trong nỗi cô độc của tư tưởng thì tiếng nói của thi nhân mới sống dậy được, chứ không còn những lời ba hoa “đôi co” nhảm nhí nhỏ mọn, hãy để yên cho mây trời muôn thuở vẫn còn lại tiếng vọng của thi nhân.

Đây là lời trả lời đầu tiên, duy nhất, cuối cùng. Còn lại chỉ là im lặng, im lặng, im lặng.

Phải chăng thi ca đã chết? Không còn gì thơ mộng nữa sao?

Kính chào,
Phạm Công Thiện

T.B. Xin Ông đừng nhắc đến tên Thích Nguyên Tánh, Ông hãy để cho tên ấy sống với khoảng trống câm lặng nào đó của đời hắn. Mong chờ sự lễ độ tối thiểu của Ông đối với thế giới riêng tư của người khác, nhất là của một kẻ chưa từng bao giờ chạm đến đời sống riêng tư của Ông. Và câu hỏi cuối cùng tôi muốn hỏi Ông: Tại sao Ông thù hằn tôi đến độ quá mức tưởng tượng như thế, đang khi đó tôi chưa từng bao giờ có ác cảm với Ông? Ông đang thực hiện một kế hoạch cho một thế lực chính trị nào đây? Người tinh ý sẽ hiểu ngay Ông thuộc khối nào, phái nào, nhóm nào, tập đoàn nào!

(tạp chí Tư Tưởng, Bộ Mới, năm thứ ba, số 2, 20/4/1970, tr. 123-127)
 

Ngủ rồi vechaixuhue

  • ******
  • Bài viết: 1,584
  • Thanked: 5 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hà Nội hết hàng đành vào xứ Huế lượm ve chai
Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #25 vào: 11/06/2012, 13:29:27 »
Xin bác ngocmai cho biết hiện nay châu bản triều Nguyễn nằm ở đâu? Hình như châu bản nằm trong tay khá nhiều cá nhân thì phải?
Hình như trong TT Lưu trữ QG I (trước ở cạnh TVQG, nay chuyển về Nam Trung Yên) có đấy bác ạ
Nhân đây em trả lời vấn đề trên luôn! Tại em đã mục sở thị rồi!
1. Châu Bản triều Nguyễn hiện lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ 1 (Trung Yên - Trung Hòa- Hà Nội)
2. Hiện nay Trung tâm lưu trữ 1 đã làm xong bản Mục lục Châu bản triều Nguyễn (khoảng 50 tập) và đã xuất bản 2 tập trong tổng số đó: Mục lục Châu bản triều Nguyễn: Triều Minh Mệnh 1825,1826. Tất nhiên bản này được kế thừa bản mục lục mà trước đó nhóm Trần Kinh Hòa đã thực hiện.
3. Châu Bản hiện nay được bảo quản tốt, đã thực hiện số hóa xong. Việc tiếp cận cũng tương đối dễ tuy nhiên mất hơi nhiều thời gian.
 

Ngủ rồi luulyvo

  • "bể khổ trầm luân"
  • *******
  • Bài viết: 4,861
  • Thanked: 33 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Thăng trầm tam giới
Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #26 vào: 11/06/2012, 19:25:07 »
Nhân đây em trả lời vấn đề trên luôn! Tại em đã mục sở thị rồi!
1. Châu Bản triều Nguyễn hiện lưu trữ tại Trung tâm lưu trữ 1 (Trung Yên - Trung Hòa- Hà Nội)
2. Hiện nay Trung tâm lưu trữ 1 đã làm xong bản Mục lục Châu bản triều Nguyễn (khoảng 50 tập) và đã xuất bản 2 tập trong tổng số đó: Mục lục Châu bản triều Nguyễn: Triều Minh Mệnh 1825,1826. Tất nhiên bản này được kế thừa bản mục lục mà trước đó nhóm Trần Kinh Hòa đã thực hiện.
3. Châu Bản hiện nay được bảo quản tốt, đã thực hiện số hóa xong. Việc tiếp cận cũng tương đối dễ tuy nhiên mất hơi nhiều thời gian.

chiến đấu mỏi mòn vì châu bản, giờ có đủ kinh nghiệm để...trả lời mọi câu hỏi chú nhỉ ;))
 
"Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
Đứa thì mua tước; đứa mua quan..."

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #27 vào: 10/07/2012, 15:50:09 »
Nhân đọc “Hoa Đăng” của Vũ Hoàng Chương (miền Nam)

Chế Lan Viên

Một tờ báo miền Nam gần đây viết:

“Về thơ, ngoại trừ Hoa Đăng của Vũ hoàng Chương đáng đánh dấu một sự chuyển hướng về sáng tác và của Đoàn Thêm một loại tiểu thuyết bằng thơ có tính cách một công trình dài hơi đề cập đến vấn đề nhân sinh xã hội, thì không còn thi phẩm nào có sự cố gắng đáng ta lưu ý”.

Vì lẽ ấy tôi đã tìm đọc Vũ hoàng Chương và Đoàn Thêm. Đoàn Thêm, thôi ta không bàn đến. Chẳng phải cái anh Đổng lý văn phòng của Ngô đình Diệm ấy đã bàn những chuyện chính trị phản động gì gì ở đây. Anh ta cũng khôn khéo lắm mà. Vào làm văn, anh ta cũng quên đi những giấy tờ vấy máu của tổng Ngô, để nói đến những chuyện thoát tục, nghìn đời, tập thơ anh tên là Từ Thức. Cái lẽ giản dị để ta không bàn đến vì anh ấy là một kẻ bất tài. Cái tài duy nhất có lẽ là sắp lại, nhai lại những ý, những lời đã mười lần sáo cũ.

Tôi muốn nói đến Vũ hoàng Chương với tập Hoa Đăng. Tôi vốn không yêu nhiều - nhưng vẫn là yêu - cái tài không lớn lắm nhưng vẫn là tài của nhà thi sĩ họ Vũ. Nước nhà đã độc lập, giải phóng trên một nửa, miền Bắc đang tiến vào cuộc sống xã hội chủ nghĩa huy hoàng, cuộc đời của dân tộc và của từng người đã có tự do, hạnh phúc. Nhưng (hoặc chính vì lẽ ấy) mỗi khi quay nhìn dĩ vãng, tôi vẫn thương cho những con người kiểu Vũ hoàng Chương:

… Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ
… Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
… Ngoài ba mươi tuổi duyên còn hết
Một ván cờ thua ngả bóng chiều…

Cũng có một lúc tôi đã từng quí nhà thơ ấy. Tôi biết anh theo kháng chiến với cả bàn đèn, dọc tẩu và những tâm tình hỗn độn của mình, nhưng nghĩ mà xem, ngày hôm qua, nhà thơ kia chỉ có những giấc mơ rất xoàng:

Mãi mê theo sự nghiệp
Quá trớn lỡ giàu sang…

Thế mà ngày hôm nay anh đã mang vào mình cái ước vọng một dân tộc:

Ba kỳ hỡi hỡi! người dân Việt
Mau võ trang cùng tiến bước lên
Cùng tiến bước mau! thề một chết
Đòi hoa Hà-nội sóng Long-Biên
(Nhớ về Hà-nội vàng son)

Làm sao lại không yêu mến một sự thay đổi bước đầu như vậy được.

Đá thử vàng, gian nan thử sức. Anh đã bỏ kháng chiến mà “về” thành, giữa lúc cuộc kháng chiến gian nan nhất, đang cần sức lực, tài năng của từng người một. Nhưng tôi vẫn thương anh, như thương những người đàn bà yếu đuối chạy Tây không nổi, phải bế con hồi cư, - mặc dầu cái ví von ấy thật là mỉa mai đối với anh là người đã hô:

… Bút cũng như gươm thề chẳng thẹn
Với lời hô Cách mạng thành công…
(Nhớ về Hà-nội vàng son)

Âu đó cũng là lời hô trên mặt giấy, trong một lúc.

Thực ra đó cũng là lúc đẹp nhất của đời anh, và trang giấy kia là trang giấy sạch sẽ nhất. Thỉnh thoảng ra chơi các cửa ô Hà-nội, tôi vẫn nhớ mấy câu thơ anh ấy viết:

Chói lọi sao vàng hoa vĩ đại
Năm cánh xòe trên năm cửa ô
(Nhớ về Hà-nội vàng son)

Và thật là bao dung thay tấm lòng của chúng ta, tấm lòng những người mang cái tình và cái chính sách nhân hậu của Đảng. Vũ hoàng Chương bỏ chúng ta mà đi. Nhưng chúng ta không nỡ bỏ Vũ hoàng Chương. Tôi nghĩ họ Vũ đang đau khổ, hối hận cho bước đường lầm lỡ của mình ở Sài-gòn. Tôi nghĩ anh Vũ nhớ mãi năm cửa ô trong cuộc đời, năm cửa ô trong thơ anh, năm cánh hoa trong tâm hồn dân tộc…

Cũng vì vậy, mà tôi vội vàng đọc Hoa Đăng.

*

Một tập thơ kém, hay là xoàng, cũng được. Nhưng thôi, chuyện kỹ thuật trái mùa, cổ lỗ của anh ta sẽ nói sau. Thực ra, báo chí miền Nam cũng có người không phải là khen Hoa Đăng như câu ở đầu bài tôi trích. Nguyễn văn Xuân viết ở Bách Khoa:

“Cái điều khiến ông thất bại trong mặt tâm tình, chính vì ông không quá thiết tha với những mối tình mà ông diễn tả. Nói cách khác, hình như ông không còn những tình cảm, cảm giác mà ông chỉ còn những ảo tưởng thuộc về nó mà thôi… Về mặt hình thức, người ta càng thấy rõ việc này. Ông chỉ dùng đa số từ ngữ, hình ảnh cũ, điệu quen thuộc, ước lệ diễn đạt tâm tình”.

Hoặc ở một đoạn khác:

“Ở đây nội dung đã không mới, mà câu thơ cũng không được mười lần gọt rũa như thói quen Vũ Quân - hay trái lại, dẫu có mười lần gọt rũa cũng chỉ cốt thu lượm những danh từ cho lạ, cho kêu, những hình ảnh đã thành ước lệ, những cú pháp cho êm tai, hơn là những tình cảm đặc sắc, rung động, ý tứ tân kỳ”.

Tôi trở về cái vấn đề “nội dung mới”…

Tập thơ làm xấu hổ cho Vũ hoàng Chương nhiều điều, làm đau xót cho chúng ta nhiều chỗ, nhưng theo tôi cái điều Vũ hoàng Chương đáng hổ thẹn nhất, và chúng ta đau xót căm giận nhất là bốn câu này:

Có nghĩa gì đâu một chữ “Về”
Nếu không ngàn dặm ngược sơn khê
Nếu không ngược cả mười năm ấy
Về tận kinh đô của ước thề
(Nửa đêm trừ tịch)

Chữ “về” tác giả tự gạch đít, cái việc “về thành” cái việc dinh tê về Hà-nội lúc ấy có đội quân chiếm đóng của Pháp đang làm hoen máu trên năm cửa ô, mà tác giả gọi là về “kinh đô của ước thề”, là “chẳng có nghĩa gì” cả, thế thì trong tâm hồn nhà thơ này không còn ranh giới giữa cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai, cái có nghĩa và cái không có nghĩa.

Người mẹ chạy Tây không nổi, bế con về Hà-nội là để nuôi con, nhưng thi sĩ họ Vũ về là với một nội dung không mới mẻ gì cho lắm đối với cuộc đời trụy lạc của anh ngày trước.

Mấy phen biếc đón hồng đưa
Dẫu rằng xong, vẫn là chưa thỏa nguyền…
(Nửa đêm trừ tịch)

Vũ hoàng Chương “về” thành chỉ vì biếc đón, hồng đưa! Thì Vũ hoàng Chương đi Nam, âu chỉ vì hồng đưa, biếc đón. Thực ra không phải chỉ có thay đổi địa dư. Mà so với tâm hồn anh hồi kháng chiến, so với cả tâm hồn anh trước Cách mạng, thì lần này anh thay đổi cả tâm hồn. Qua thơ anh, thấy không còn chỉ là biếc đón, hồng đưa, mà đã “ma dẫn lối, quỷ đưa đường”, bàn tay chính trị phản động của quỉ Diệm đã bắt đầu đưa anh đến gần miệng vực…

Vũ hoàng Chương vẫn vờ làm ra người cao đạo:

Mặc cho những kẻ mài gươm sắc
Ta chỉ mài riêng ngọn bút này

không biết gì đến những việc ở miền Nam hiện nay, không biết đến thuốc độc Phú-lợi, máy chém Mỹ lưu động từ Tây-ninh cho đến Cà-mau, không biết đến những trận càn, những luật 10-59…

Anh chỉ biết có Đạo:

Đời hiểu gì chăng hề chữ Đạo…

Chỉ biết có Thơ:

Ngòi Thơ một sớm cao vòi vọi
Nhân loại chầu quanh ngát khói hương…

Chỉ biết có vợ anh:

Ngọc nhã thành Chương, Oanh ríu rít…

Chỉ biết có con anh:

Hoa đến mùa trăng đã đến tuần
Ước mơ đã hiện Vũ hoàng Tuân
Đầy trời ánh sáng hương đầy đất
Lòng kết vàng son, hội mở xuân

Chỉ biết có người yêu của anh:

Khóe thu còn biếc trăng tâm sự…
Khanh của Hoàng ơi, mộng vẫn còn!

Chỉ còn biết có khoái lạc, vật dục:

Kề vai căn vặn nỗi niềm
Má người yêu có tỏ niềm tuyết nhung
Em rằng: một đóa phù dung
Mấy tang thương vẫn ngại ngùng gió mưa…

Nghĩa là không biết chính trị gì gì cả.

Nếu thật mà như thế? Nếu thật ở giữa miền Nam nước sôi lửa bỏng ngày nay mà có những người thành tâm chỉ biết đến Thơ, thành tâm chỉ biết đến Đạo, chí thú lo cho vợ con mình, hoặc tệ nữa, không dám đấu tranh, chỉ biết vùi đầu trong nhớ thương, quên mình trong khoái lạc đi nữa, thì ta cũng thương họ, trách họ mà thôi, chứ không giận họ. Trong khi chưa đòi được tất cả mọi người cái tối đa - là đứng lên đấu tranh với bọn cướp nước và bán nước Mỹ-Diệm -, thôi thì ta tạm bằng lòng với cái tối thiểu của họ, là họ hãy lo cái thú vui riêng dù trong dù sạch đó của họ, mà đừng đi với bọn khát máu, mà đừng làm hại đến sự việc của toàn dân. Thực ra cuộc đời không đơn giản, cắt ra từng việc, chia ra từng ô như thế được. Cái nọ xọ cái kia, cái dây đã giắt con bò, Vũ hoàng Chương sa đọa về sinh hoạt không xa mấy với Vũ hoàng Chương sa đọa về chính trị.

Vũ hoàng Chương sa đọa ư? Phải chăng trong tập này, Vũ hoàng Chương đã “vươn” mình dậy, nhà thơ ủy mị bên cái giây tơ đã mắc thêm một giây đàn thép, giọng nói trữ tình đã thêm giọng anh hùng ca. Vũ hoàng Chương đã nói đến Phạm hồng Thái, Trần Hưng Đạo, đã nói đến Bắc Bình Vương…

Chúng ta sẽ không hổ với người mà một trận Đống-đa nghìn thu oanh liệt
Vì ta sau trước lòng kiên quyết
Vàng chẳng hề sai đá chẳng sờn…

Thưa các bạn, biết làm sao được, khi nhiều việc bắt lòng tôi phải đa nghi. Lần đầu tiên, trở về Hà-nội bị chiếm bởi giặc Pháp, tôi thấy nhiều con đường Tây vẫn để là đường Nguyễn thái Học… Và một chiến dịch tàn sát những người kháng chiến của Mỹ-Diệm lại lấy tên những anh hùng dân tộc: Nguyễn Trãi, những nhà ái quốc: Phan chu Trinh…

Đối với một nhà thơ, biết yêu từ một ngọn cỏ, một con chim, yêu cái tiếng Việt mẹ đẻ này, cố nhiên là tôi tin anh Vũ hoàng Chương cũng có một lòng yêu nước chứ.

Cho nên tôi vẫn muốn tin ở lòng ngay thật của anh khi anh ca tụng cái hồn thiêng đất nước. Nhưng đi với ma thì mặc áo giấy. Và cái áo giấy của ma lâu ngày thành cái áo thật của anh cũng nên.

Trả ta sông núi là bài thơ anh viết về “nhân ngày kỷ niệm liệt sĩ”. Anh nói về hai bà Trưng, về Lý thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung… Và anh nói cả đến ngày nay: Phan đình Phùng, Nguyễn thái Học… Bài thơ gần như một bản tổng kết về lịch sử đấu tranh và cách mạng của dân ta:

Ôi Việt sử là tranh đấu sử
Trước đến sau cầm cự nào ngơi
Tinh thần cách mạng sáng ngời
Bao người ngã, lại bao người đứng lên

Thế nhưng anh không nói đến những người mà anh vừa kêu gọi họ đứng dậy:

Ba kỳ hỡi hỡi người dân Việt
Mau võ trang cùng tiến bước lên…
(Nhớ về Hà-nội vàng son)

Bao người đã ngã xuống vì:

Cùng tiến bước mau! Thề một chết
Đòi hoa Hà-nội sóng Long-biên
(Nhớ về Hà-nội vàng son)

Anh không dám nói đến cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, cuộc kháng [sic] còn nóng hổi hơi máu, hơi người! Kháng chiến, hai chữ ấy thiêng liêng, thần thánh bao nhiêu. Ngô đình Diệm muốn bôi xóa nó đi trong lịch sử, không được, lại quay ra muốn nhờ hơi nó. Tôi hiểu ra rồi: Vũ hoàng Chương viết bài thơ này giữa lúc Ngô đình Diệm còn đang chửi bới kháng chiến. Giá mà bài thơ được viết ra lúc tổng Ngô đang lợi dụng hai danh từ kháng chiến thì chắc Vũ hoàng Chương lại không quên cái thời kỳ lịch sử lớn lao, nhờ nó mà anh đã viết được những trang trong sạch nhất trong đời cầm bút của anh.

Đối với kháng chiến anh từng ca tụng, giờ anh bội bạc, mà đối với Hà-nội anh từng nhớ mong lúc kháng chiến, thì anh lại còn tệ hại hơn, anh vu cáo nó: liễu của Hà-nội do Tây chặt đi, giờ quanh các hồ ta đang bắt đầu trồng liễu. Nhưng anh vu cáo đó là tội ác của chúng ta:

Trông vời hỏa ngục giờ đây
Hàng mi liễu đôi bờ lửa xém

Hồ Kiếm đông đến nỗi từ tên Hoàn Kiếm có người gọi đùa là Hồ Tìm Kiếm. Hồ Tây là nơi rộn rịp mấy công trường, anh vẫn nói bằng cái giọng lưỡi của địch:

Nhưng năm cửa sao mà vắng ngắt
Mà rưng rưng Hồ Kiếm, Hồ Tây…

Tôi không muốn đem thực tế của Hà-nội ta đối chọi với những lời vu cáo trong thơ anh. Thực ra, anh đã tự thú nhận cái lối nhìn Hà-nội của anh là cái lối không phải mắt thấy, tai nghe, nghe cả hai tai, thấy bằng hai mắt, cái lối nghiên cứu, điều tra tìm hiểu gì gì! Nó là cái lỗi đoán mò! Cái lối nhờ “tiềm thức ban đêm”, cái lối “linh cảm” rất là thầy bói, cái lối nằm ở trên giường chiếu của phòng ngủ, mà nhắm mắt hay lim dim mở mắt nói mò:

Tiềm thức đêm đêm đời rộng mở
Ta chờ linh cảm ý quê hương.
Không gian từng kết hình trong mộng…
Và sắc thời gian ở chiếu giường.
Sông núi xa xưa về hiện bóng
Hồn say ta vượt hết biên cương…
(Tâm sự phố phường)

Đài địch nói: Hà-nội đói khổ, loạn lạc rồi, thế là anh lại viết:

Cố quận riêng mình xót nhiễu nhương

Đài địch gào: Dân Hà-nội khởi loạn rồi, thế là anh gào:

Là máu sôi thành lệ dựng đêm nay
Là xôn xao lửa bốc dựng đôi mày…

Anh đã thành cái loa cho địch.

Nhưng thôi, nhà thơ thì vốn tin ở cảm giác của mình. Cái loa của địch ở gần, mà Hà-nội của ta thì ở xa, một bên anh nghe được, mà một bên anh chưa thấy được. Ta có nói với anh cũng là vô ích.

Tôi mời Vũ hoàng Chương trở lại cuộc sống quanh anh. Đến đây thì tôi không muốn làm phiền độc giả của tôi bằng bắt họ [sic] nghe lại những chuyện họ đã đọc nghìn lần trên báo. Và tôi chỉ mời ông Chương đọc báo. Đọc báo Sài-gòn. Đọc ngay cái tờ Cách mạng quốc gia là cái tờ hàng ngày chửi chúng tôi, và chỉ có một lý tưởng là ca tụng đế quốc Mỹ và Ngô đình Diệm…

Ông Chương nghĩ gì về những vụ nông dân bị dồn làng làm khu trù mật, bỏ quê hương đi dinh điền nơi nước độc rừng sâu? Nghĩ gì về những người kháng chiến liên tiếp bị án tử hình? Nghĩ gì về cái máy chém đang lưu động? Nghĩ gì về việc mổ gan anh Út Lép, “một con người”? Nghĩ gì về việc giáo sư Thịnh và mấy sinh viên bị bắt vì vẽ một người mẫu? Việc học sinh các trường không có tiền may đồng phục, bị cảnh sát đến đuổi học, theo dõi điều tra? Việc những nghệ sĩ sân khấu chết không chiếc quan tài? Đến những người di cư sống bằng nghề làm pháo, mà pháo bị cấm. Đến hàng nghìn người bị bắt vì đốt pháo Tết vừa qua? Việc nhà thơ Dương tử Giang bị bắt? Việc cấm tờ báo Liên Á vừa rồi? Việc người ta giết người Việt-nam ở Biên-hòa để báo thù cho người Mỹ…

Tôi nhớ không có trật tự gì về cái xứ hỗn loạn “thế giới tự do” mà anh ca tụng. Nhưng chỉ cần anh đọc báo Sài-gòn. Đúng hơn, chỉ cần anh đọc xong và suy nghĩ. Đối chiếu với thơ anh mà suy nghĩ. Tôi chắc anh sẽ hối hận vì những câu ca tụng một cuộc “trưng cầu dân ý” mà ý dân được trưng bằng súng lục, nhà tù:

Lá phiếu trưng cầu một hiển linh
Xé tan bạo lực dưới muôn hình
Từ đây nước Việt dân làm chủ…

Anh sẽ ghê tởm những câu “làm đĩ” cho cái lưỡi và ngòi bút của mình:

Các bạn! Nào ta hãy đứng lên
Trái tim dân tộc đã xây nền
Tự do đã hiển linh thần tượng
Cánh vỗ hào quang tỏa bốn bên…

Anh sẽ xóa trong đời thơ anh những câu tương tự:

Gió nổi vần mây giục đấu tranh
Tâm tư lồng lộng kết nên thành
Thành ngăn sóng Đỏ, mây sừng sững
Nước Tổ về ngôi đẹp sử xanh…

Tôi biết có một số người không hiểu rõ miền Bắc. Có một số người không hiểu rõ chủ nghĩa cộng sản. Một bà má có con đi kháng chiến ở bưng biền, ra thăm con, hỏi nhỏ con: Này con, con lén chỉ cho mẹ xem vài người cộng sản xem sao.

Cô con bảo: Con đây. Con vào Đảng ba năm rồi.

Bà mẹ không tin: Con mình hiền lành vậy, “tốt” vậy sao mà cộng sản được.

Ta chỉ giận bọn giặc đầu độc, chớ ta thương, hết sức thương bà má hiểu nhầm.

Vũ hoàng Chương, dù anh là trí thức, là thi sĩ, là người ngạo mạn về giòng thơ của mình:

Từ hôm nay nhỉ, suối hào quang
Nối mãi giòng thơ họ Vũ hoàng…

Nhưng anh thật thua nhiều, không thể nào so sánh với bà má ấy được. Bà má ấy không biết thì bà má hỏi. Còn anh không biết thì anh lại chửi càn.

Gần đây, một hôm đi chơi bên các vườn hoa đẹp ở Hồ Kiếm, Hồ Tây, Hồ Bảy Mẫu, tôi bỗng sực nhớ một cái ý của thi sĩ Henri Heine cách đây trên 100 năm. Ông ta cũng là người không hiểu cộng sản. Ông nói đại khái:

“Sau này chủ nghĩa cộng sản lên, xé thơ tôi để gói lạp xường, nhổ hoa hồng để trồng bắp cải…”

Và ông tiếp:

“Ví dù như thế đi nữa, thì tôi vẫn tán thành chủ nghĩa cộng sản, bởi vì không có chủ nghĩa cộng sản, thì không thể đánh đổ các bọn vua quan áp bức hiện nay…”

Câu văn Heine hay và mãnh liệt hơn nhiều. Tôi ít thuộc sách nên nhớ tạm là như vậy…

Tôi mỉm cười vì chúng ta không những trồng thêm nhiều bắp cải, mà với Tết trồng cây năm nay, chúng ta trồng rất nhiều hoa hồng. Lạp xường thì Mậu dịch bán rẻ, gói bằng giấy bóng gói lạp xường, và thơ Henri Heine thì lại được ta kỷ niệm, in ra bằng giấy đẹp.

Anh Vũ hoàng Chương, nếu anh chê câu chuyện bà mẹ trên kia là dân giã [sic], thì tôi biếu anh mẩu chuyện này.

Tôi biết anh làm thơ trong một bầu nước đục.

Tôi biết anh làm thơ vì những lý do không phải lúc nào cũng vì Đạo, vì Thơ:

Báo chuông mấy độ vẽ bùa
Chắt chiu cũng đủ tiền mua trăng rằm…

Đồng tiền quả là đủ đem mua trăng, có thanh cao đấy, nhưng coi chừng, bàn tay đưa tiền cho anh là tay vấy máu. Văn chương anh chỉ xem như một thứ vẽ bùa lấy lệ cho có tiền, nhưng bùa của anh vẽ ra, có kẻ đem dùng để trấn áp những người yếu bóng vía, dễ lòng tin.

Cho nên, tôi chỉ xin nhắc anh cẩn thận. Thơ anh đã xuống lắm rồi. Và tâm hồn anh bầy quỉ đã dìm xuống những nơi anh không muốn. Anh không còn cái trong sạch hào hoa thời kháng chiến. Anh cũng không còn cái lỗi lầm vô tội và cũng hào hoa xưa kia. Anh đã đi vào con đường tâm lý chiến tranh, tác động tinh thần…! Anh đạp lên cái hồn thơ anh mà chúng tôi rất quí.

Những sách tốt, sách hay của chúng tôi làm tôi tin con đường tôi đi là đúng. Nhưng những sách xấu, dở của các anh càng làm cho tôi tin con đường chúng tôi đi là đúng hơn. Chưa bao giờ tôi biết ơn nhân dân tôi, Đảng tôi, bè bạn, đồng chí tôi bằng những lúc này. Cũng chính lúc này, tôi thương xót các anh hơn.

Chúng ta cùng ở một tầng lớp mà ra. Chúng ta cũng là những người ra từ một phong trào thơ mới. Chúng ta bắt đầu cùng có mặt trong cuộc Cách mạng tháng Tám. Ngày nay hầu hết những nhà thơ cũ thờ ấy đều đã sống lại, trưởng thành: Xuân Diệu, Tế Hanh, Huy Cận, Anh Thơ, Lưu trọng Lư, Nguyễn xuân Sanh, Huyền Kiêu. Ít nhiều chúng tôi đều có cái tự hào đã đóng góp gì cho thơ, cho dân tộc.

Còn anh? Và Đinh Hùng, bạn anh nữa, các anh đã làm gì? Đọc tập thơ Hoa Đăng, tôi rất giận anh, mà lại thương anh! Các anh ca tụng một bọn bán nước, bán máu người, đã làm tâm hồn và thơ ca anh xuống dốc. Các anh chửi một chính Đảng, một nền tư tưởng mà rồi đây cũng sẽ hết sức cứu lấy các anh.

Hãy làm lại cuộc đời mình đi Vũ hoàng Chương. Nghĩa là nếu không có thiện chí như Henri Heine thì cũng cần dè dặt như bà má.

(Nghiên cứu văn học, 4/1960, tr. 34-41)
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #28 vào: 13/08/2012, 11:29:23 »
Đọc “TÔI KHÔNG CÒN CÔ-ĐỘC” của Thanh-tâm-Tuyền

Lê-Huy-Oanh

Giữa lúc này, người ta khao khát một tập thơ hay, như những kẻ lạc lõng trên sa-mạc thèm muốn một gốc dừa xanh bên hồ nước. Thơ Thanh-Tâm-Tuyền ra đời trong khi bao người đang chờ đợi một thi nhân có tài. Chúng ta vui-vẻ đón con người đó, hy-vọng sẽ thấy trong thơ chàng một nguồn rung cảm mới, một nghệ-thuật cao đẹp.

Tôi không muốn đọc cuốn “Tôi không còn cô độc” quá trơ trẽn. Tôi thắp lên hai cây nến trắng. Chuông đồng-hồ thong thả điểm 2 tiếng. Ngoài cửa sổ, con đường vắng trải nhựa đen im lìm dưới ánh đèn đêm thấp-thoáng. Trời hơi lành lạnh.

Tôi ưa chọn giờ để đọc thơ - nhất là đọc một tác phẩm mà tôi trót gửi vào đấy biết bao nhiêu hy vọng. - Kể ra như thế cũng hơi cầu kỳ, cái cầu kỳ của những người yêu thơ.

Tôi bắt đầu lần giở những trang giấy thơm tho một cách thành kính. Một trang, hai trang, rồi chín, mười trang… Tội nghiệp chưa, đầu tôi nóng bừng; có lúc tôi bàng hoàng như vừa ngã từ mấy từng lầu cao xuống hố bùn đen: thật khó mà tìm thấy cái hay của thơ Tự-do - một thứ tự-do kiểu Thanh Tâm-Tuyền!

Lật về trang giấy sau bức chân dung tác giả, tôi đọc đi đọc lại mấy hàng chữ đầu tiên mà tôi bắt đầu e ngại rằng đây chỉ là những lời ngạo mạn:

………
Để cai trị tôi có những luật lệ tinh-thần mà người phải thần phục nếu người muốn nhập lãnh thổ
Người hoàn toàn tự do và có thể ném cuốn sách ra cửa sổ

Tôi định ném cuốn sách ra cửa sổ thật, vì lúc đó, tôi có cảm-tưởng đã gặp phải một người khùng. Kể cũng lạ. Độc giả, yêu thơ đi tìm thơ, nghệ-thuật không thấy, thấy một chiếc ngai lạ kiểu, trên đó sừng sững một quái thai: Ông Hoàng Thanh-Tâm-Tuyền. Ông kêu lên những câu nghe rất chối tai, có lúc lại hoàn toàn vô nghĩa và ông bảo đó là thơ: một thứ thơ không cần vần, không cần âm điệu và cũng chẳng cần để ai hiểu!

Có một lúc tôi không dám phán đoán thêm nữa. Tôi lặng-lẽ nhìn ngọn lửa nến đang leo lét cháy không sao thoát khỏi cái lưới thắc-mắc, tôi cho rằng chỉ đọc một lần thì chưa thể nhận thức nổi những tinh-hoa của lối thơ này. Tôi hơi hối-hận vì đã không kìm nổi giận-dữ. Lòng dịu lại đôi chút, tôi ép má vào song cửa sổ, mặc cho gió lạnh ùa vào mặt. Cuốn thơ mầu trắng oái oăm kia nằm lệch trên bàn. Tôi trân-trối nhìn nó và tự hỏi: “nó đã lừa cảm giác tôi hay chính tôi đã lừa cảm giác tôi?”

*

Suốt một tuần lễ sau tôi đọc lại cuốn thơ này. Một tuần lễ có bẩy ngày, tôi đọc lại nó tới hơn ba lần. Nghĩ mà thương cho tôi, có những đêm quá khuya, tôi vẫn còn cặm cụi trước những dòng chữ quái đản:

Tại sao em thích gọi tên hoa
Nào ngày mai của chúng ta buông từng cánh
Xuống vai trần
Viền cỏ
Bông tóc nâu
Em sẽ gọi tên anh
Mùa hoa hôm nay
Nhưng thời gian đã ngả vào lòng vô định
Chút sữa huệ ấm đời thiếu tiếng chim
Cánh hồng ngọt không gian tàn phá
Những thời gtan [sic] không rời nhau mang đến bao nhiêu mùa
Dạy em yêu phía sau cửa sổ
Thiếp điên trong chuỗi dài giấc ngủ
Rất vui
………
(Trang 32, HOA)

Tôi lật xuống những trang dưới, đọc tiếp.

………
Tôi ru chim ngủ trong cổ họng
Mặt trời kêu xuống thái dương những màu ánh sáng thơm
Tim kinh ngạc
Đời tạo câu cười thiên nhiên mãi
Hy vọng đứng ra ngoài ô ngục, ngực bâng khuâng
Lần gặp gỡ thứ nhất
Rồi kỷ niệm kim khí thủy tinh hành hạ
Đau xé trời đêm không sao bánh máy quay vũ khí
Tôi chối từ giam cầm chim đẹp trong rừng tóc
Dù tiếng hót đã chạm mấy hàm răng
Người bộ hành cô đơn chờ đêm để lên đường
Về quá khứ
Chim bay vào trận mưa sao
(Trang 46 - CHIM)

Trời ơi! đã trót yêu thơ thì tôi đành gian-díu [sic] với thơ chứ cứ đọc mãi cái điệu thơ này rồi cũng đến loạn óc mất thôi. Thi ca lập dĩ đến thế là cùng. Người ta bỏ hết dấu, người ta vứt vần xuống gót chân thô bạo, người ta cố tình ép uổng cho ý tứ thành bí hiểm: không phải người ta làm thơ mà định giết chết thơ. Hành hạ Nàng thơ đến như vậy thật dã man hết chỗ nói. Ấy thế mà Thanh Tâm Tuyền còn kêu là thơ anh bắt nguồn từ ca dao; ở trang 42 anh viết:

Không đa đa siêu thực
Thẳng thắn
Khởi từ ca dao sang tự do

Tôi ngờ rằng Thanh-Tâm-Tuyền nói dối. Âu cũng là một mánh-khóe lòe đời của những người cuồng chữ. Bảo rằng thơ anh chuyển từ ca-dao sang thì quả là định làm hại cái hay mộc mạc nhưng đầy vẻ quyến dũ [sic] của ca-dao. Ca-dao là một thứ văn chương bình-dân, đơn giản, phóng khoáng, sáng-sủa biết bao nhiêu, sao lại có thể chuyển nó sang một lối thơ “hũ nút” như vậy được.

*

Thật ra, tôi vẫn mến Thanh-Tâm-Tuyền vì anh là một thanh-niên tha-thiết với cách-mạng và anh đã muốn dùng thơ để ca-ngợi cách-mạng.

Nhưng nếu định dùng một lối thơ lập-dị để phát huy và truyền-bá tinh-thần cách-mạng, tôi e rằng khó mà thành-công. Tinh-thần cách-mạng cần được phát huy bằng những lời thơ sáng-sủa, nhịp-nhàng, giầu âm-điệu hơn.

Hình-thức của thơ càng linh-động, càng hấp dẫn, càng có năng lực làm người ta rung động; hình thức bí hiểm, tư tưởng cũng thành tối om, làm sao nó gây được ảnh-hưởng trong lòng người đọc.

Tôi không phủ nhận vai trò cần thiết của sự tự-do trong thơ, nhưng tôi chủ trương sự tự-do đó không tuyệt đối, nó phải được giới hạn trúng mức truyền cảm. Giới hạn đó không bắt buộc đứng yên một chỗ; nó có thể biến đổi, di-động tùy theo không gian và thời gian, tùy theo vài sáng-tạo của mỗi thi sĩ. Sự thực, chúng ta chẳng cần bàn nhiều về nó, ở đây, ta chỉ cần nêu ra một kết luận hết sức đơn giản:

“Thi sĩ có toàn quyền định giới hạn cho sự tự do trong thơ ca của mình miễn làm sao thơ của họ phải đạt được mục đích chính yếu là truyền cảm. Thiếu tính chất truyền cảm nó hết là thơ”.

Buồn thay, đọc thơ Thanh-tâm-Tuyền ta hầu như không thấy tính-chất truyền cảm có nghĩa là ít khi ta thấy rung động mà phần nhiều chỉ thấy bực mình vì thơ.

*

Tuy nhiên, nếu cố giữ bình thản để đọc thơ anh, ta cũng tìm thấy đôi chỗ tạm gọi là nghe được. Những giòng hiếm hoi đó nằm trong vài bài thơ tương đối đỡ kỳ-quặc hơn. Bài TRƯỜNG-THÀNH (trang 18) đã khiến ta súc cảm [sic] nhờ ý tưởng nồng nàn của tác giả:

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Khái-Hưng.
Mỗi lần hoàng hôn tôi bước cùng đám đông
Lòng khẫn cầu [sic] cách mạng

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Phan-văn-Hùm

Mỗi lần hoàng hôn chạm mặt từng người
Có phải chúng ta đang sửa soạn

Anh biết vì sao Cộng-Sản thủ tiêu Tạ-thu-Thâu

Mỗi lần hoàng hôn tôi cố thở cho nhiều
Các anh nhớ tôi còn sống
Quờ quạng tay dan díu
Cách-mạng nổi trong sự nín thinh.

………
Mỗi lần hoàng hôn tôi chỉ là người văn-nghệ bé nhỏ.
Hoặc tôi câm mồm hoặc tôi thét la.
Mặc chúng dụ-dỗ mặc chúng dọa-nạt
Chúng sợ cách mạng vô cùng.

………

Bài “MƯA NGỦ” (trang 48) gợi cho ta tính chất quyến dũ [sic] của một thứ “poème en prose” của Baudelaire (1).

Mấy bài thơ này khiến tôi nghĩ hoài về Thanh-tâm-Tuyền tuy tôi đã cất cuốn “TÔI KHÔNG CÒN CÔ ĐỘC” vào ngăn tủ. Tôi tin rằng, nếu anh chịu rời bỏ lối thơ kỳ-quái hiện nay của anh để nhận lấy một lối thơ hợp lý hơn, thơ anh sẽ có nhiều triển vọng. Anh là người giầu tình cảm, giầu lòng yêu nước, thèm khát TỰ-DO và có óc tưởng-tượng thật phong-phú. Tiếc thay, cái tính ưa lập-dị của anh đã phản anh đã bóp nghẹt mất cả một hồn thơ rộng mở trong anh.

Tháng giêng 1957

(1) Ngoài ra, trong tờ sáng tạo số 4 [sic], ra hồi đầu tháng giêng 1957, ta còn được thưởng thức một bài nhan đề:
HÃY CHO TA KHÓC BẰNG MẮT EM,
NHỮNG CUỘC TÌNH DUYÊN BUDAPEST.
Với ý tưởng tân kỳ, bài này cũng được một số người thích,

(trích nguyệt san Sinh Lực, số 9, 1/3/1957, tr. 78-82)
 

Ngủ rồi NL

Re: Dăm mẩu nhỏ lẻ về báo chí Việt Nam
« Trả lời #29 vào: 15/10/2012, 10:56:13 »
Một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình: Hàn-Mặc Tử

Trong tất cả những thi hào văn sĩ lừng danh của toàn thể văn chương Việt Nam từ mấy ngàn năm nay, tôi không tìm được một người nào đã tác động một mảy may nào đến tâm hồn tôi cả - trừ ra Hàn-Mặc Tử. Nguyễn Du là một thi hào vĩ đại, tôi đã đọc đi đọc lại Nguyễn Du và nhìn nhận Nguyễn Du là vĩ đại, nhưng tôi không cần thứ vĩ đại ấy. Cái thứ vĩ đại ấy chẳng tác động gì đến đời sống u mê của tôi cả. Quách Tấn cũng vĩ đại, tôi kính trọng sự vĩ đại ấy, nhưng sự vĩ đại ấy làm lịch sử, vì đi ngược lại lịch sử, đạp trên đầu lịch sử hiện đại. Tôi chẳng bận tâm đến lịch sử. Thỉnh thoảng cũng bận tâm để chợt nhớ rằng mình là người Việt Nam. Vì tin chắc rằng người Việt Nam sẽ thắng, sẽ tiêu diệt tất cả những gì không phải là Việt Nam, người Việt Nam sẽ thắng, cho nên tôi không cần bận tâm đến vận mệnh của Việt Nam. Tôi có vận mệnh của riêng tôi. Người nào muốn lo đến vận mệnh của Việt Nam, thì cứ lo đến vận mệnh của Việt Nam. Tôi không hề biết ái quốc là cái gì. Tôi chỉ biết đến tôi và chỉ có tôi mới hiểu thế nào là con đường của Việt Nam. Trong tôi ngưng tụ lại tất cả tàn khốc của Việt Nam, tất cả mâu thuẫn, ích kỷ, tàn phá, kiêu hãnh, ngang tàng, kiêu ngạo, từ tốn, khoan dung, khôn ngoan, yếu đuối và cô độc. Dù trận chiến tranh ở Việt Nam có chấm dứt đi nữa thì trận chiến tranh trong tôi vẫn tiếp tục. Giống như nó vẫn tiếp tục trong tâm hồn của những thanh niên Việt Nam ra đời lúc chiến tranh Việt Nam vừa khởi phát và được ba mươi tuổi lúc chiến tranh bùng phát dữ dội lan rộng từ Việt Nam đến Hạ Lào. Chỉ có thanh niên Việt Nam nào từ ba mươi tuổi trở xuống mới hiểu nổi thơ của Hàn-Mặc Tử. Trận chiến tranh Việt Nam hiện nay chính là sự phóng đại của cơn bịnh hủi của Hàn-Mặc Tử. Chỉ có thi sĩ mới sống trước, sống tận bản thân tất cả những khả tính sắp hiện của vận mệnh dân tộc mình. Vận mệnh của Hàn-Mặc Tử đã báo trước vận mệnh của Việt Nam. Thơ của Hàn-Mặc Tử đã báo động cái gì rạn vỡ trong không khí quê hương. Không phải chỉ làm thơ với những danh từ và động từ chính trị mới nói được con đường đi của dân tộc. Nhiều khi nói ngược lại hay nói những cái gì khác, như dùng những tiếng kỳ cục như thượng thanh khí, vỡ lở, trăng, châu lệ, đê mê, hoa bắp lay, cứng tợ si, chưa bưa, dại khờ, gánh máu đi trong tuyết, bời bời ruột gan, ớn lạnh, vân vân. Nhiều khi ăn nói thê thảm điên dại như Hàn-Mặc Tử mà lại trỏ ngón tay vào đúng tim đen của vận mệnh Việt Nam và mở ra một người đi khác cho “sử linh tư tưởng” (chữ của Hàn-Mặc Tử). Người hiểu được thì hiểu ngay lập tức, không hiểu được thì vẫn không hiểu được. Định mệnh tàn khốc, nhưng không có thực, giống như cơn bệnh hủi chỉ là cơn bệnh tưởng tượng của mặt trời, do mặt trăng lường gạt.

Phạm Công Thiện
(ngoại ô Paris, mùa đông năm 1971)

(tạp chí Văn số 179, 1/6/1971, chuyên đề "Viết về Hàn-Mặc Tử", tr. 52-54)