Tác giả Chủ đề: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu  (Đã xem 2370 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi NL

Nguồn: http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/05/nghe-lam-bao-thua-ban-au.html

Thấy nhiều lỗi typo quá bực mình tôi tiện tay sửa lại, sửa cả chữ "thủa" sai thành "thuở" (ở nhan đề bài viết). Nhìn chung tôi thấy không đồng ý với cách nhìn của bác Vương.

----------

Về mặt số lượng mà xét, giờ đây không mấy ai còn phải tỏ ý phàn nàn: Báo ở ta đang ra nhiều đến mức cả những bạn đọc có nhiều thời giờ cũng than phiền là không sức đâu đọc hết. Thế nhưng cái sự đã như là thừa ấy một phần cũng lại là do chất lượng. Giả sử thế giới có một bảng xếp hạng, hẳn có thể đoán là tay nghề của các nhà báo ở ta, cũng như bóng đá mà hàng ngày chúng ta vẫn xem, chỉ chiếm một vị trí khiêm tốn.

Điều này hoàn toàn là có thể hiểu được nếu biết rằng nghề báo mới chỉ du nhập vào xã hội VN từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XIX sau đó trở thành một hoạt động bình thường trong xã hội từ nửa đầu thế kỷ XX, và ngay từ thời ấy nhiều người làm nghề đã tỏ ý chưa thoả mãn với trình độ của các đồng nghiệp. Trở lại với nghề làm báo thời tiền chiến có lẽ cũng là một dịp tốt để chúng ta nhận chân trình độ báo chí hôm nay.

Dẫu rằng nghề làm báo vốn từ Tây phương truyền sang, song những người đứng ra viết báo đầu tiên lại ở xứ ta (rõ nhất là ở Hà Nội) lại là các cụ đồ nho biết chữ Tàu. Nói gì thì nói các cụ cũng có một căn bản văn hoá nào đó. Chữ quốc ngữ lại dễ học với mọi người. Các cụ tìm thấy trong việc làm báo một điều kiện tốt để thực hiện cái chí đã hấp thụ từ đạo thánh hiền "nhất ngôn khả dĩ hưng bang", nói nôm na như con người ngày nay tức báo chí có thể là một công cụ tốt để đóng góp cho xã hội và trước tiên là giáo dục quần chúng.

Bên cạnh những tờ báo do chính quyền thuộc địa lập ra thì báo chí Việt Nam ban đầu chủ yếu đã là báo chí tư nhân hoặc mang danh những hội ái hữu nọ kia nhưng thực chất là do tư nhân thao túng. Người đứng ra xin phép mở tòa báo không chỉ muốn làm một công vịệc có tính cách khai hoá (tên một tờ báo do Bạch Thái Bưởi chủ trương), mà còn muốn xem báo chí là một cơ quan kinh doanh có lãi. Trong hoàn cảnh ấy, họ giữ tư cách những ông chủ, còn ký giả thì là kẻ làm thuê. "Chủ báo quan niệm rằng ký giả là người làm công, ngày hai buổi đến toà soạn để viết xã luận đưa tin tức trám cho đầy các cột báo". Đấy là ghi nhận của Hoàng Tích Chu, một người có công lớn trong việc hiện đại hoá báo chí. Nguyễn Công Hoan trong Đời viết văn của tôi kể lại một chuyện khá vui:

Những người thực thi việc làm báo cũng chẳng khá hơn bao nhiêu. Tiếp tục cái ý bảo họ là kẻ làm thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi, Hoàng Tích Chu nói thêm: "Những người làm công nói trên tìm ở đâu ra? Đa số là những nho sĩ nghèo và dốt, những người kiến thức nông cạn nhưng muốn loè thiên hạ với những câu văn hoa bóng bảy”. Câu khái quát xanh rờn ấy, như chúng ta nói bây giờ, có cái cơ sở thực tế của nó. Bởi sự thực là người có gan sang tận Pháp để học nghề như ký giả họ Hoàng, số đó đếm chưa đầy năm đầu ngón tay. Còn lại toàn vừa làm vừa học, đại khái trông vào các tờ báo viết bằng tiếng Pháp mà học theo. Tin thế giới thì dịch theo bản tin yết ở nhà bưu điện. Tin trong nước toàn việc vặt nào là quan chức thuyên chuyển, vợ chồng đánh ghen, toà án xử rượu lậu... Bên cạnh những tin tức hổ lốn ấy là những bài thơ phú cuối mùa đặc giọng thù tạc hoặc những bài xã luận đại cà sa, không ai muốn đọc.

Để hình dung ra công việc hàng ngày của một người làm báo, không gì bằng đọc lại các hồi ký viết về Tản Đà lúc làm An Nam tạp chí. Tạp chí lay lắt chết đi sống lại mấy lần. Mà ngay lúc đang sống nó cũng ốm rề ốm rệt. Toà soạn chỉ có một mình Tản Đà, ông vừa viết bài vừa đi nhà in vừa thu tiền bán báo. Mà lại rất thích tiếp khách. Gặp người tương đắc, ông có thể sai mấy cậu nhỏ đi mua đồ nhắm về khề khà chén rượu nói chuyện với khách hàng buổi. Cái cảm giác về thời gian đang trôi - điều cần nhất với nhà báo - thì Tản Đà chẳng coi ra gì. Chẳng bao lâu đã tới cái ngày Xuân Diệu về sau còn nhớ mãi: ở Quy Nhơn tác giả Thơ thơ mỏi mắt trông đợi mà mãi chẳng thấy báo ra và càng ngóng càng thấy vô vọng. An nam tạp chí cũng yểu mệnh như người chủ trì của nó vậy.

Hình ảnh nhà báo trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan

Trong khi hướng cặp mắt quan sát người đời tác giả Bước đường cùng không quên dừng lại ở giới báo chí. Ông có hai thiên truyện khá sắc sảo đó là Tôi chủ báo, anh chủ báo, nó chủ báoÔng chủ báo chẳng bằng lòng.

Truyện trên tố cáo cái lý do mỹ miều mà nhiều nhà giàu đương thời xông vào làm báo, đó là tính hiếu danh. Chẳng những không quan tâm tới sứ mệnh của ngòi bút mà cả đến cái thực chất của báo chí họ cũng không hiểu gì cả. Ngày họ đảm đương cái chức danh chủ báo là ngày họ nhận ra mình bị lừa: Bài vở kém cỏi, người viết xoàng xĩnh, báo ế. Cách duy nhất để họ thoát ra khỏi cảnh phá sản là đi lừa những anh háo danh và kém hiểu biết như mình hôm qua để thay mình chèo lái.

Còn truyện dưới thì tố cáo cái mánh khoé xoay tiền của giới làm báo. Họ sẵn sảng đánh quả tù mù đưa tin theo lối nhỏ giọt bôi ra trong nhiều số, cốt để câu khách. Ai không làm thế bị coi như tay nghề kém cỏi.
Trong khi công kích bọn người lừa đảo mọi kẻ giàu sang phú quý đang phất lên, một số ký giả lại biến thành một kẻ làm tiền, lo bán được báo với bất cứ giá nào, chứ chẳng có gì gọi là tâm huyết với trách nhiệm cả.

Và trong một mẩu chuyện vui của Vũ Trọng Phụng

Trong các tiểu thuyết của nhà văn này như Giông tố, Vỡ đê... người ta đã loáng thoáng nhận ra hình ảnh của kẻ làm báo với sứ mệnh điều tra sự thật từ đó đóng góp vào việc làm sáng rõ hình ảnh một xã hội vốn nhiều bóng tối. Song là một ngòi bút hoài nghi, Vũ Trọng Phụng không quên đặt một dấu hỏi khá to trước tư cách người làm nghề viết báo đương thời. "Sao mày không vỡ nắp ơi" là tên một bài viết trên báo Loa 1934 (mới được sưu tầm và in lại trong tập Vẽ nhọ bôi hề in ra năm 2000). Để nói về tài đổi trắng thay đen của người cầm bút, họ Vũ dùng bút pháp thậm xưng kể chuyện một nhà báo kiếm ăn quanh một người chết. Ban đầu anh ta dựng chuyện người kia bị bức tử để tống tiền. Không được anh ta đánh bài chuồn bằng cách kể rằng hồn người chết vừa báo mộng cho biết người ấy tự tử vì một cớ vớ vẩn khác. Mọi chuyện được giải quyết gọn ghẽ tới mức viên tri huyện có liên quan xem xong phải thì thào "Này, sang năm về hưu tôi cũng muốn mở báo. Vậy thế nào ngài cũng về giúp việc cho tôi nhé!".

Trên cái nền chung của một nghề nghiệp

Trước 1945, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa, ở VN đã có đại học, song các trí thức trẻ sau khi học xong mấy trường như trường luật trường thuốc phần nhiều gia nhập vào đội ngũ quan lại hoặc công chức cao cấp lương cao bổng hậu, nhường việc làm văn làm báo cho các loại trí thức lớp dưới. Nhà văn đồng thời là nhà báo Vũ Bằng có lần nhận xét báo chí thời ông là một thứ nghề không thày không trường, cốt biết học lỏm bắt chước là được. Thành thử, nếu như số phận của những người làm nghề ở đây có phần giống với số phận những người làm ở các ngành nghề thủ công như làm tranh dân gian, thêu ren, in ấn, làm đồ gốm, hoặc các đèo kép trong mấy gánh hát rong... thì cũng là chuyện tự nhiên. Còn cần cho mọi người thì còn tồn tại. Rất nhiều người có tài có năng khiếu. Song nhìn chung thì vẫn là cách làm cách nghĩ manh mún luộm thuộm và không ai đủ khả năng đưa nghề nghiệp lên mức hoàn thiện của một ngành công nghiệp hiện đại như người ta vẫn thấy ở các nước phát triển.
 

Ngủ rồi Binh

Re: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu
« Trả lời #1 vào: 11/05/2010, 01:04:46 »
Bác Vương Trí Nhàn viết bài này "lẩm cẩm" thật. Chỉ kể vài chuyện làm báo "kinh doanh" của ông Bạch Thái Bưởi, chuyện làm báo của cụ "ngàn năm thi sĩ tửu đồ là ai"....rồi coi người làm nghề báo lúc đó cũng chỉ như những người làm các nghề như "nghề thủ công như làm tranh dân gian, thêu ren, in ấn, làm đồ gốm, hoặc các đèo kép trong mấy gánh hát rong... thì cũng là chuyện tự nhiên." thì thật là oan cho giới báo chí Việt Nam ta dù là vào thời còn rất sơ khai!
 

Ngủ rồi NL

Re: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu
« Trả lời #2 vào: 11/05/2010, 09:59:38 »
Nhất trí với bác Binh, báo chí VN thời kỳ đầu đó có những cái mà báo chí hiện nay không thể có nổi, chỉ nói riêng về trình độ và tầm vóc văn hóa đã thế rồi. Bác Vương định dùng báo chí ngày xưa để giải thích tại sao báo chí ngày nay lại tệ thế, nhưng ngay chính đó đã là một sai lầm rồi.

Dùng "An Nam tạp chí" để chứng minh báo chí thiếu chuyên nghiệp thì nhảm thật. Cái đó nó là sự phóng túng và tự do của Tản Đà, với cả ngay khi nó phập phù sống lên chết xuống thì ít nhất trên đó cũng từng có vụ tranh cãi về Nho giáo cực kỳ quan trọng giữa Tản Đà, Nguyễn Tiến Lãng một phe, Phan Khôi ở phe còn lại. Còn chuyên nghiệp thì cứ kể "Phụ nữ tân văn" ra là đã thấy bác Vương sai lè rồi.
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu
« Trả lời #3 vào: 11/05/2010, 10:07:01 »
Đọc bài này thấy thất vọng bác Nhàn quá
 

Ngủ rồi quan mac co

  • ******
  • Bài viết: 2,208
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu
« Trả lời #4 vào: 11/05/2010, 10:13:59 »
Hôm nào sachxua.net có làm triển lãm báo chí thì BTC nhớ mời bác VTN đến đọc tham luận, chắc chắn là nổi đình nổi đám đấy! :d
 
con người là loài cực kì vô ơn đến mức không tài nào tìm ra một loài khác vô ơn hơn - Dostoevsky

Ngủ rồi buongchuoi

  • Thương nhớ 12
  • ****
  • Bài viết: 490
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Tôi yêu Việt Nam – “đồng”
Re: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu
« Trả lời #5 vào: 16/05/2010, 22:39:49 »
Nói chung là " nhà văn nói láo( % ) nhà báo nói (%) phét. Chắc  chắn chẳng sai, ai đã đọc "Dân trí" hay báo điện tử nào đấy. Chắc ko lạ vụ học sinh cấp 2 say rượu, đốt nhà Rông xưa nhất(tính đến nay) ở Tây Nguyên. Em gõ bài này cũng đang phê và vừa tranh luận với cơ sở uy tín tại đó, về vụ này. Nhưng cái sai của nhà báo là lấy hình ảnh minh họa của nhà Rông ở (Bảo tàng Dân tộc học VN) và bảo rằng đây là nhà Rông trước khi bị cháy ở Tây Nguyên. Em cam đoan nhà báo ta nói cực phét (dựa) hay cực vô trách nhiệm với bạn đọc. Em cũng có đọc đủ vỡ lòng về những gì bác "VTN" viết, nhưng em cũng cảm thông đôi phần. Em chỉ hiểu đơn giản như ở ta "cây tre" chỉ mọc thẳng và đếch có nhánh, mặc cho nó có bao nhiêu đốt. Em cũng phê và có vài lời ngu muội góp ý kiến chung với anh em thôi. Anh em nghe cho vui lỗ tai nhé, đừng mắng em mà phải tội. Đa tạ !
 
 
Ai có đầu xe lửa, cốt giữa xe tăng, bánh răng xe b

Ngủ rồi NL

Re: Vương Trí Nhàn - Nghề làm báo thuở ban đầu
« Trả lời #6 vào: 22/06/2010, 08:59:57 »
Thêm một bài về báo chí của Vương Trí Nhàn:

Báo chí - nơi lưu giữ những thể nghiệm của văn học

Từ  những đoạn văn bị bỏ  quên của Xuân Diệu...

Là một hồn thơ tinh tế, biết ghi lại từng chút phân vân thấp thoáng trong lòng người, song Xuân Diệu cũng là một người lao động miệt mài, cả đời lo "mài sắt nên kim". Có một nguyên tắc chi phối cách sống làm việc của Xuân Diệu, nhiều người quen ông đã được chứng kiến - ấy là: đã viết ra cái gì, ông đều mong thu góp nó lại để từ những bài báo nhỏ gom thành sách.

Cũng bởi vậy, nên bản thân tôi không khỏi cảm thấy thú vị, khi thỉnh thoảng bắt gặp ở tác giả Thơ thơ cái hành động ngược chiều . Là tự tước bỏ những gì đã viết, tóm lại là một sự cố ý tự bỏ quên, có vẻ "không Xuân Diệu" chút nào hết. Sau đây là hai ví dụ:

Sau Đại hội thành lập Hội văn nghệ Việt Nam (7-1948), Xuân Diệu có viết một bài tường thuật rất hóm, điểm mặt đủ loại anh tài có mặt ở Việt Bắc lúc ấy: "ngành nhạc có Nguyễn Xuân Khoát (Con voi hay Thằng Bờm?)... "Đỗ Nhuận như bẻ cong được những song sắt". "Bạn Nguyễn Tuân cái đầu to tát". "Văn Cao vóc người không cao"…

Bài báo tuy ngắn song sinh động tới mức gần ba chục năm sau, năm 1977, Xuân Diệu còn lấy ra in lại vào tập Mài sắt nên kim. Và sau khi Xuân Diệu qua đời, bài viết lại được chọn in vào Tuyển tập Xuân Diệu, tập II. Có điều nếu so sánh bài in báo 1948 với bài lấy vào sách hồi sau, thì thấy có chút sai khác nho nhỏ: Trong bản gốc, đến phần các đại biểu thảo luận về tính dân tộc trong văn học, sau mấy câu "anh em đều đồng ý: nghệ thuật phải dân tộc hoá, nhưng đều nhận rằng: tính cách dân tộc không phải là cái khung chết, mà luôn luôn tiến hoá thay đổi", còn có một đoạn sau này Xuân Diệu bỏ đi. 

Đoạn ấy có liên quan đến Phan Khôi:

“Nhân vấn đề dân tộc, cụ Phan Khôi lấy ca dao, dẫn chứng cho hai dân tộc tính Việt Nam: phản kháng và trào phúng. Giọng Quảng Nam rắn rỏi của cụ thêm ý vị cho những câu hát bình dân kỳ thú. Có mấy câu này, ít ai được nghe (có lẽ là tính đến thời điểm 1948 - V.T.N, chú), và tỏ tính cách hay sinh sự của vua quan:

Ngồi buồn  đốt một đống rơm
Khói bay nghi ngút chẳng thơm chút nào
Khói lên  đến tận Thiên tào
Ngọc Hoàng phán hỏi: Đứa nào đốt rơm?”

Cũng trên Văn nghệ, trong mục Tiếng thơ đăng ở số Văn nghệ bộ đội (ra các tháng 4-5/1949), Xuân Diệu điểm qua những bài thơ hay viết về bộ đội cho đến lúc ấy: Bức tranh sinh hoạt (Minh Tiệp), Đội biệt động (Hồng Chương) Viếng bạn (Hoàng Lộc). Và đây là đoạn viết về Nhớ Tây tiến của Quang Dũng mà khi in vào tập Tiếng thơ (1951), Xuân Diệu tước đi, nên sau này ít người biết:

"Đến đây, tôi nói tới bài Nhớ Tây tiến của Quang Dũng. Bài thơ hơi buồn, có đoạn buồn lắm; tứ thơ không mới, có những câu văn hoa. Nhưng toàn bài rung rung như những giây đồng. Đọc lên trong miệng còn ngân âm nhạc. Cái cảnh miền Tây gian nan đặc biệt: bộ đội Tây tiến là một trong những bộ đội nhiều hy sinh. Đánh giặc đã đành, mà người với rừng núi còn tranh nhau ai thua ai được. Một bạn tôi lên thăm bộ đội qua thượng du Thanh Hoá, trên biên giới Lào Việt, kể rằng: "Núi giăng màn trùng điệp; một anh đội viên chỉ quãng chập chùng trước mặt, nói: - Một mình tôi phụ trách năm cây số núi”. Lên đến nguồn sông Mã, còn đâu là gần đồng bằng. Lúc mới đầu chưa quen thổ ngơi, nhiều chiến sĩ chết. Có lẽ cái rùng rợn buổi đầu ấp sâu vào tâm hồn tác giả. Những chiến sĩ lưa thưa giữa nghìn trùng rừng núi chắc cảm thấy mình "cheo leo chòi biên cương" cảm thấy mình lạc đời. Những anh con trai Hà Nội lên đến đây cạo trọc đầu, hay là sốt rụng cả tóc, người mặc áo chàm hay là mặt lây sắc lá, hay là ốm tái màu da; giặc sợ các anh như sợ hùm; nhưng các anh dù thế nào cũng nhớ Hà Nội cho được:

Tây tiến  đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh mầu lá  dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Bài thơ chỗ thì đẹp, chỗ thì ghê, man rợ rồi lại êm ái: đoạn sau cùng đầy những tiếng từ ly.(*) Những tên đất Sài Khao, Mường Lai, Pha Lương... ngân động. Đến cái tên Sầm Nưa thì câu thơ buồn mà hay quá: hồn đây là tâm hồn người sống nghĩ chuyện bên Lào:

Tây tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây tiến mùa xuân  ấy
Hồn về  Sầm Nưa chẳng về xuôi. "

... tới vai trò  "vào sổ" của báo chí

Nói cho đúng ra, những đoạn Xuân Diệu bỏ quên như trên là có cân nhắc. Khi ông làm sách, đời sống văn nghệ đang có những điểm gọi là “nhạy cảm”, đưa các đoạn ấy là "không có lợi". Phải rứt ruột mà bỏ đi những đoạn đã viết, ông có tiếc. Nhưng nhu cầu an toàn lại là cần hơn. Và Xuân Diệu vẫn là Xuân Diệu, như chúng ta biết.

Nhưng như thế không có  nghĩa là Xuân Diệu chưa bao giờ viết ra  hai đoạn văn trên. Ngược lại, tôi cho rằng trong những toàn tập tuyển tập Xuân Diệu làm hôm nay,  hai đoạn văn trên lẽ ra phải được lấy lại đầy đủ, hoặc ít nhất cũng phải ghi vào phụ lục. Chẳng những mang những ý tưởng từng thực sự là của Xuân Diệu, chúng còn cho thấy sự vận động  sự thích nghi của tác giả với hoàn cảnh. 

Chính nhìn vào những đứa con  đã bị  từ bỏ , người ta càng hiểu thêm  cái ông bố đã sinh ra chúng.   

Mọi cái nhất thời đều có khả năng gia nhập vào cái vĩnh viễn.

Chẳng những thế, có thể xem đây chính là những ví dụ cho thấy một vai trò của báo chí mà người ta hay quên: vai trò lưu trữ.

Khi cầm trên tay tờ báo, nhiều người thường chỉ nghĩ thứ hàng tươi sống này sẽ nhanh chóng "bị vượt qua". Hôm nay tôi cầm số báo này, thì mai tôi cầm số khác. Và khi các số báo sau xuất hiện, nó sẽ làm cho số báo tôi đang cầm trên tay  chả còn ý nghĩa gì nữa. Báo chí, ấy là một cái gì phù du, sớm nở tối tàn.

Cảm giác đó là đúng, có điều, không phải là phương diện duy nhất của báo chí. Trong khi phần chủ yếu trong số lượng in một tờ báo được mang bán lẻ - và sau khi đọc xong, người ta dùng làm giấy gói hoặc mang bán cân - thì một số nhỏ được dồn lại mang đóng thành những bộ sưu tập. Và từ nay, báo mới thật sống cái kiếp kỳ lạ của nó - những chứng nhân vĩnh cửu của lịch sử. Đó  là một cách để đời sống vào sổ những việc mình đã làm. Một ý tưởng cũng như một sự việc đã một lần được ghi trong một cột báo nào đó, tức là đã tồn tại vĩnh viễn. Có thể bị vùi trong quên lãng, nhưng không bao giờ nó chịu mất hẳn.

Một  “trường” thể nghiệm             

Hoặc dưới hình thức sách in, hoặc dưới hình thức sách trên mạng, thời gian gần  đây các nhà nghiên cứu trong ngoài nước đã công bố  các bộ sưu tập lớn, từ Tao đàn, Thanh Nghị, Tri Tân tới tạp chí Tiên Phong, tạp chí Văn Nghệ ra trong kháng chiến chống Pháp. 

Nếu chịu khó phiêu lưu trong thế giới của các bộ sưu tập báo chí đó, người ta sẽ có thể làm được cái công việc rất khó khăn, là dựng lại bộ mặt lịch sử - lịch sử từng vấn đề cụ  thể cũng như lịch sử nói chung.

Riêng đối với các sáng tác văn học, việc nghiên cứu các dạng tồn tại lần đầu  của nó trên mặt báo rồi đối chiếu với bản cuối cùng, lại càng hứa hẹn nhiều thú vị.  Nhiều khi ở đây có sự sai lệch, và tạo nên những dị bản mà sự so sánh chúng với nhau có thể khiến ta biết thêm nhiều điều thuộc về sự thay đổi của bản thân tác giả cũng như mối quan hệ giữa tác giả và hoàn cảnh. 

Trước khi in sách các nhà  văn các thời trước thường cho tác phẩm của mình xuất hiện trên một tờ báo, để giúp cho tác giả lắng nghe dư luận và có quãng lùi để khách quan đánh giá lại “ đứa con tinh thần “ của mình. Lúc này báo chí không chỉ có vai trò một thứ bà đỡ với văn học mà còn đóng vai một trường thể nghiệm( chữ “trường” ở đây không phải nhà trường, mà ý nói một không gian được mở ra để dành cho một công việc mới mẻ nào đó).  Đó là một thứ phong tục tốt mà ngày nay có nhiều phần bị xao lãng.

(*) Cách nói “bài thơ viết về chiến tranh có một vẻ đẹp làm người ta ghê ghê , đẹp một cách man rợ…” là cách nói chỉ thịnh hành trước 1950, về sau không được phép dùng nữa. Từ ly là gì, chúng tôi sơ bộ tra một số từ điển cũ chưa thấy. Tạm đoán là từ giã và ly biệt, nhưng cũng thấy chưa thật ổn.
Bài đã đăng báo  Văn nghệ 19-6-10, riêng chú thích (*) chỉ mới đưa vào blog. 

nguồn: http://vuongtrinhan.blogspot.com/2010/06/bao-chi-noi-luu-giu-nhung-nghiem-cua.html

-----------------

Bài này hình như nội dung rất ít ăn nhập với tên bài :d

Mà đã có sưu tập Thanh Nghị rồi thật không hả các bác?