Tác giả Chủ đề: Ludwig Josef Johann Wittgenstein  (Đã xem 1938 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

nguyenhainamvn

  • bạn
Ludwig Josef Johann Wittgenstein
« vào: 07/06/2010, 01:12:55 »


Ludwig Josef Johann Wittgenstein (1889 - 1951) - "Cha tinh thần" của triết học phân tích
L.Wittgenstein - nhà triết học người Áo, sau đổi sang quốc tịch Anh, là một trong những triết gia đã để lại dấu ấn riêng trong thế kỷ XX, người đặt nền móng cho “bước ngoặt ngôn ngữ” trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại và giữ vai trò đặc biệt trong triết học phân tích và triết học ngôn ngữ. Mỗi chuyển biến trong tư tưởng của ông đều điển hình cho bước chuyển của chính các trào lưu triết học này. Điều đó làm cho Wittgenstein trở thành tấm gương độc nhất vô nhị trong việc tự vượt bỏ và phát triển tư tưởng của mình; và cũng lý giải – một phần – cho sức thu hút của ông đối với các nhà triết học trong trào lưu phân tích nói riêng, các nhà nghiên cứu hậu sinh nói chung.

L.Wittgenstein sinh ngày 26 tháng 4 năm 1889, tại Vienna, trong một gia đình thượng lưu người Áo – cha là người đứng đầu ngành công nghiệp luyện thép của đế quốc Áo - Hung, mẹ là một nghệ sĩ dương cầm có tiếng. Năm 1906, Wittgenstein bắt đầu học ngành kỹ sư cơ khí ở Berlin; năm 1908, đến Manchester tiếp tục theo học kỹ sư chuyên ngành hàng không. Tại đây, “ông bắt đầu chú ý đến những nguyên tắc triết học của toán học mà ngành học của ông phải dựa vào. Một người bạn cho ông mượn cuốn Những nguyên lý của toán học của B.Russell viết năm 1903 và tác phẩm này đã đưa ông vào sự nghiệp nghiên cứu triết học”(1). Từ những mô tả trong cuốn sách về những tư tưởng triết học và lôgíc học của Gottlob Frege, Wittgenstein đã tìm đến Frege ở Jena (Đức). Theo lời khuyên của Frege, ông quay lại Anh, đến Đại học Cambridge để theo học Russell. Rất nhanh chóng, Russell – lúc đó đã là nhà triết học nổi tiếng – nhận ra và hết sức đề cao khả năng của Wittgenstein trong lĩnh vực triết học: “Tôi chắc chắn sẽ khuyến khích anh ta. Có lẽ anh ta sẽ làm nên những điều vĩ đại… Tôi rất mến anh ta và cảm thấy anh ta sẽ giải quyết được những vấn đề mà tôi đã quá già để giải quyết”(2).

Trên thực tế, Wittgenstein không theo học triết học một cách có hệ thống. Thậm chí, ông còn cố gắng để không chịu tác động của những nhà triết học đi trước (tác phẩm lớn nhất của ông ở thời kỳ đầu - Chuyên luận lôgíc – triết học (Tractatus Logico-Philosophicus) đã thể hiện rất rõ điều ấy). Nhưng người ta vẫn có thể nói đến những tác gia - trong triết học và các lĩnh vực nhân văn khác - mà Wittgenstein đã tiếp nhận ảnh hưởng: Frege, Russell, Schopenhauer, Kierkegaard, Augustine, Dostoevsky, Tolstoi, Goethe, v.v..

Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Wittgenstein gia nhập quân đội Áo – Hung. Năm 1918, ông bị quân Ý bắt làm tù binh. Trước đó, ông đã hoàn thành Tractatus và đưa đến nhà xuất bản nhưng bị từ chối. Trong thời gian bị giam, ông gửi tác phẩm cho Russell. Russell nhận thấy đây là một tác phẩm triết học đặc biệt quan trọng và dưới sự giúp đỡ của ông, Tractatus đã được xuất bản vào năm 1921, sau đó bản dịch tiếng Anh cũng được xuất bản vào năm 1922, với lời giới thiệu của Russell.

Tractatus nhanh chóng trở nên nổi tiếng và cùng với nó là tên tuổi của tác giả. Được coi là tác phẩm đánh dấu một giai đoạn phát triển quan trọng của triết học phân tích, Tractatus đã nêu ra và giải quyết hàng loạt vấn đề triết học quan trọng – vấn đề quan hệ giữa thế gian và tư tưởng, vấn đề ngôn ngữ, vấn đề bản chất của chính triết học, v.v.. Tác phẩm này của Wittgenstein được nhóm Vienna (với các nhà triết học M.Schlick, G.Bergmann, R.Carnap, K.Godel, F.Waismann…) coi như “kinh thánh” và bản thân ông thì được xem như một trong những triết gia lỗi lạc đương thời.

Sau Tractatus, Wittgenstein từ bỏ triết học, vì tự cho rằng đã giải quyết triệt để tất cả các “vấn nạn triết học” trong tác phẩm của mình. Trong khoảng thời gian từ 1919 (khi được trả tự do) đến 1929, ông không quay lại Cambridge mà về nước Áo, làm nhiều nghề khác nhau: giáo viên tiểu học, người làm vườn. Sau đó, ông tham gia thiết kế nhà cho người chị gái và trong thời gian ấy đã có những tác động khiến ông thay đổi: ông gặp gỡ với những nhà triết học thuộc nhóm Vienna. Khi tham gia tranh luận với họ, hứng thú triết học dần quay trở lại với Wittgenstein, đồng thời với việc ông cảm thấy nhiều quan điểm của mình trước đây chưa đầy đủ và việc giải quyết các “vấn nạn triết học” là chưa triệt để.

Năm 1929, Wittgenstein trở lại Cambridge với ý định thực hiện tiếp tục công việc mà Tractatus chưa hoàn thành. Nhưng, rất nhanh sau đó, ông nhận thấy không phải những giải pháp của Tractatus chưa triệt để, mà bản thân nó là sai lầm. “Khi bắt đầu suy nghĩ lại về những vấn đề của Tractatus, Wittgenstein nhận ra mình buộc phải đánh đổ càng nhiều càng tốt những giả định triết học của nó. Chỉ trong vòng vài tháng [sau khi trở lại Cambridge], cái cấu trúc công phu của Tractatus đã sụp đổ như toà nhà bằng giấy. Nhưng sự sụp đổ đó không làm cho Wittgenstein rơi vào bi quan; ngược lại, dường như nó lại mở tung cửa cho những tư tưởng hoàn toàn mới. Có lẽ, không có giai đoạn nào trong đời Wittgenstein mà những ý tưởng đến với ông nhanh chóng và dồi dào đến thế. Khi từ bỏ những giả định trong Tractatus, ông thể nghiệm hàng loạt những đường lối triết học khác nhau”(3). Sau những thể nghiệm đó, Wittgenstein đi đến những quan niệm được coi là đánh dấu bước ngoặt cho triết học của ông nói riêng, trào lưu triết học phân tích nói chung. Những quan điểm ấy được thể hiện tập trung nhất trong Những nghiên cứu triết học mà do nhiều nguyên nhân khác nhau, đã chỉ được xuất bản sau khi ông qua đời.

Trên thực tế, Tractatus dường như là tác phẩm duy nhất được xuất bản khi Wittgenstein còn sống. Nhưng không phải qua những tác phẩm mà tiếng tăm của Wittgenstein được định hình: trở lại Cambridge, từ 1930 đến 1936, ông hướng dẫn các buổi seminar của sinh viên; 1939, ông được cử giữ chức giáo sư đại học. Ông hoạt động ở cương vị đó đến 1947, với một vài gián đoạn do Chiến tranh thế giới thứ II (1941 – 1945). Sau 1947, ông từ chức giáo sư và sống ở nhiều nơi – Ai len, Mỹ. Năm 1951, ông quay lại Cambridge và qua đời ở đó (ngày 29-4-1951). Trong suốt thời gian này, Wittgenstein đã nổi tiếng với tư cách nhà triết học hàng đầu của trào lưu phân tích. Các bài giảng và những cuộc tiếp xúc với các triết gia trong giới đại học đã đưa ảnh hưởng của Wittgenstein lan rộng mà không có các tác phẩm trực tiếp của ông. Chỉ đến năm 1953, Những nghiên cứu triết học mới được xuất bản; sau đó hàng loạt các tác phẩm khác trong di sản tư tưởng đồ sộ của Wittgenstein đã được công bố rộng rãi, góp phần khẳng định tầm quan trọng của ông trong lịch sử triết học phương Tây hiện đại.

Các tác phẩm chính của Wittgenstein: ngoài Tractatus (1921) và Những nghiên cứu triết học (1953), cho đến nay, đã có những tác phẩm quan trọng sau đây được xuất bản: Những nhận xét về nền tảng của toán học (1956); Sách xanh, Sách nâu (1958); Nhật ký 1914 – 1916 (1961); Những nhận xét triết học (1964); Bài giảng và đàm luận về mỹ học, tâm lý học và niềm tin tôn giáo (1966); Những nhận xét về nền tảng của toán học (1967); Về tính xác tín (1969); Ngữ pháp triết học (1969); Prototractatus (tiền Tractatus) (1971); Những nhận xét về màu sắc (1977); Những nhận xét về triết học của tâm lý học (1980).